Và được triển khai thực hiện bằng 7 chương trình hành động đó là: 1- Đổi mới công tác xây dựng, ban hành và nâng cao chất lượng văn bản quy phạm pháp luật; 2- Nghiên cứu xác định vai t
Trang 1i
MỞ ĐẦU
1 Giới thiệu về đề tài: Chương tình tổng thể cải cách hành chính nhà
nước giai đoạn 2001-2010 được thực hiện trên 4 lĩnh vực chính là: 1- Cải cách thể chế, 2- Cải cách tổ chức bộ máy, 3- Đổi mới nâng cao chất lượng cán
bộ, công chức, 4- Cải cách tài chính công Và được triển khai thực hiện bằng
7 chương trình hành động đó là: 1- Đổi mới công tác xây dựng, ban hành và
nâng cao chất lượng văn bản quy phạm pháp luật; 2- Nghiên cứu xác định vai
trò, chức năng và cơ cấu tổ chức của các cơ quan trong hệ thống hành chính
nhà nước; 3- Chương trình tinh giản biên chế; 4- Xây dựng, nâng cao chất
lượng đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước; 5- Chương trình cải cách tiền lương; 6- Đổi mới cơ chế quản lý tài chính đối với các cơ quan hành chính,
đơn vị sự nghiệp công; 7- Hiện đại hoá hành chính
Nhận thức thấy tầm quan trọng của cải cách phương thức quản lý đối với các cơ quan nhà nước trong công cuộc cải cách hành chính nhà nước riêng
và quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước nói chung, đặc biệt trong
tình hình thực tế của tỉnh Bắc Giang, tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài “Tăng cường thực hiện chế độ tự chủ về biên chế và kinh phí quản lý hành chính đối với cơ quan nhà nước ở tỉnh Bắc Giang” làm đề tài luận văn Thạc sĩ
“Cơ chế khoán biên chế và kinh phí quản lý hành chính” thực hiện theo Quyết định 192/2001/QĐ-TTg và “Chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm về sử dụng biên chế và kinh phí quản lý hành chính đối với các cơ quan nhà nước” thực hiện theo Nghị định 130/2005/NĐ-CP là 2 giai đoạn tiếp nối nhau của cùng một chính sách, đó là đổi mới phương thức quản lý đối với các cơ quan nhà nước
Tính thực tiễn của đề tài thể hiện ở những yêu cầu, đòi hỏi phải tăng
cường cải cách hành chính nói chung và áp dụng chế độ tự chủ nói riêng đối với cơ quan hành chính nhà nước ở tỉnh Bắc Giang, đó là:
Trang 2i- Nằm trong sự chỉ đạo chung của chính phủ đối với chương trình tổng thể cải cách hành nhà nước, việc thực hiện ở Bắc Giang thời gian qua còn chậm, kết quả thu được còn hạn chế, chưa tạo ra được những chuyển biến tích cực và động lực mạnh mẽ đối với quá trình phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh
ii- Bắc Giang vẫn là một tỉnh nghèo, mặt bằng phát triển kinh tế - xã hội còn thấp so với cả nước, do vậy đòi hỏi cần phải tăng cường cải cách hành chính để tạo động lực phát triển mạnh mẽ trong thời gian tới với mục tiêu bắt kịp nhịp phát triển chung của cả nước
2 Mục đích nghiên cứu của đề tài là làm rõ cơ sở khoa học của việc
áp dụng chế độ tự chủ đối với cơ quan nhà nước đang được thực hiện ở Việt Nam, tìm hiểu những nội dung cơ bản của chế độ tự chủ và quá trình thực hiện chế độ tự chủ theo nội dung Quyết định 192/2001/QĐ-TTg và Nghị định 130/2005/NĐ-CP, lấy đó làm cơ sở để phân tích, đánh giá quá trình triển khai thực hiện chế độ tự chủ đối với các cơ quan nhà nước ở tỉnh Bắc Giang, chỉ ra những kết quả ưu điểm cùng những hạn chế, vướng mắc cần tháo gỡ và đề xuất giải pháp nhằm tăng cường thực hiện chế độ tự chủ ở tỉnh Bắc Giang
3 Đóng góp của đề tài: Đề tài đưa ra cái nhìn tổng thể về quá trình
triển khai thực hiện chế độ tự chủ đối với các cơ quan nhà nước ở tỉnh Bắc Giang trong bối cảnh công cuộc cải cách hành chính nhà nước nói chung Qua nghiên cứu, làm rõ cơ sở khoa học của việc áp dụng chế độ tự chủ đối với các
cơ quan nhà nước Cùng với việc tìm hiểu, phân tích các nội dung cơ bản của chế độ tự chủ thực hiện theo Nghị định 130, tác giả nêu ra gợi ý một quy trình gồm các bước cơ bản hướng dẫn cho việc triển khai thực hiện chế độ tự chủ nhằm khắc phục những vướng mắc trong thực hiện với mục đích phát huy tối
đa tác dụng của chính sách
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: Đề tài giới hạn phạm vi nghiên
cứu là các cơ quan hành chính nhà nước cấp tỉnh ở Bắc Giang (các sở, ban chuyên môn trực thuộc UBND tỉnh) Đối tượng nghiên cứu của đề tài là quá
Trang 3iii trình triển khai thực hện Nghị định 130 và có sử dụng các kết quả của quá trình thực hiện Quyết định 192 để phân tích tình hình thực tiễn
5 Phương pháp nghiên cứu của đề tài dựa trên quan điểm duy vật
biện chứng và phép biện chứng duy vật, kết hợp với nghiên cứu thực chứng
và các phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp; một số nhận định, đánh giá được dựa trên kết quả khảo sát thực tế thông qua phương pháp phỏng vấn trực tiếp phi cấu trúc đối với các đối tượng trong phạm vi nghiên cứu của đề tài
6 Bố cục của luận văn: Ngoài phần mở đầu và kết luận, phần nội
dung chính của luận văn được bố cục thành 4 chương là:
Chương 1: Cơ sở khoa học của việc áp dụng chế độ tự chủ đối với cơ
quan nhà nước
Chương 2: Chế độ tự chủ đối với cơ quan nhà nước và quy trình, điều
kiện thực hiện
Chương 3: Tình hình thực hiện chế độ tự chủ đối với cơ quan nhà nước
ở tỉnh Bắc Giang
Chương 4: Kiến nghị tăng cường thực hiện chế độ tự chủ đối với cơ
quan nhà nước ở tỉnh Bắc Giang
Trang 4Chương 1: Cơ sở khoa học của việc áp dụng chế độ tự chủ đối với
cơ quan nhà nước
Trong chương này, luận văn chỉ ra cơ khoa học của việc áp dụng chế độ
tự chủ trên hai nội dung, đó là: Nhà nước với vai trò cung cấp dịch vụ hành chính công cho xã hội và Sự cần thiết phải đổi mới phương thức quản lý đối với cơ quan nhà nước
Chế độ tự chủ đối với các cơ quan hành chính nhà nước thực chất là việc áp dụng một phương thức quản lý mới đối với các cơ quan hành chính nhà nước nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực và chất lượng hoạt động của các các cơ quan nhà nước Để nâng cao được chất lượng hoạt động của các cơ quan nhà nước cần xác định rõ vai trò của các cơ quan nhà nước trong thực tiễn hiện nay, chỉ ra những nguồn lực đảm bảo cho sự hoạt động của các cơ quan nhà nước Bên cạnh đó, chỉ ra yêu cầu cần thiết phải tiến hành đổi mới phương thức quản lý đối với các cơ quan nhà nước bằng một phương thức quản lý mới ưu việt hơn, phù hợp hơn với vai trò hiện nay của nhà nước
Trong phần “1.1 Nhà nước với vai trò cung cấp dịch vụ công cho xã hội”, luận văn khái quát về tổ chức bộ máy và hoạt động của cơ quan nhà
nước ở Việt Nam, trong đó nêu khái quát về tổ chức bộ máy cơ quan nhà nước ở Việt Nam, đưa ra cái nhìn tổng thể về tổ chức bộ máy cơ quan nhà nước từ trung ương tới địa phương, sự phân cấp và mối quan hệ phụ thuộc về nhiệm vụ giữa các cơ quan trong hệ thống ấy; các loại cơ quan và nhiệm vụ của cơ quan nhà nước ở mỗi cấp trong hệ thống cơ quan nhà nước ở Việt Nam; chỉ rõ hệ thống và các cơ quan hành chính nhà nước ở từng cấp cùng với nguồn lực về tài chính và con người để đảm bảo cho sự hoạt động của hệ thống cơ quan nhà nước nói chung và cơ quan hành chính nhà nước nói riêng Nguồn lực cho sự hoạt động của các cơ quan nhà nước bao gồm con người (biên chế) và kinh phí (ngân sách) Đổi mới phương thức quản lý đối với các
Trang 5v
cơ quan hành chính nhà nước là đổi mới phương thức quản lý các nguồn lực con người và kinh phí sao cho việc sử dụng chúng hiệu quả nhất với mục tiêu tạo ra chất lượng hoạt động của các cơ quan hành chính cao nhất Chất lượng hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước là quy trình giải quyết công việc và chất lượng hoàn thành công việc Kết quả hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước là các dịch vụ mà cơ quan hành chính cung cấp cho xã hội (cho người dân và các đối tượng thụ hưởng khác trong xã hội)
Tiếp theo, luận văn phân tích làm rõ vai trò của nhà nước trong việc cung cấp dịch vụ hành chính công Khái niệm dịch vụ công được nêu lên, phân tích và so sánh để thấy những sự tương đồng trong cách sử dụng của Việt Nam và quan niệm của thế giới Hiện ở Việt Nam đang sử dụng quan niệm hành chính - sự nghiệp một cách phổ biến hơn quan niệm dịch vụ công, tuy nhiên khi tiến hành so sánh, chúng ta đã thấy được những nét tương đồng,
từ đó hiểu rõ hơn khái niệm hành chính - sự nghiệp dưới góc độ học thuật, từ
đó có cơ sở để tiến hành cải cách đối với khu vực công ở Việt Nam Trước mắt, khu vực hành chính bao gồm các nhóm chức năng hành chính công quyền và dịch vụ hành chính công công phải do nhà nước đảm nhiệm; khu vực sự nghiệp bao gồm các nhóm dịch vụ công cộng và công ích cần phải tách ra khỏi chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan nhà nước, giao cho khu vực ngoài nhà nước đảm nhiệm Đặc điểm của dịch vụ hành chính công được nêu lên và phân tích giúp nhìn nhận rõ hơn sự phức tạp và khó khăn trong quản lý cũng như đánh giá kết quả hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước Qua khái quát đó về dịch vụ hành chính công, tiếp theo luận văn trình bày về vai trò của nhà nước mà đại diện là bộ máy hành chính nhà nước trong việc cung cấp dịch vụ hành chính công trong xã hội, phân tích vai trò này của nhà nước để thấy rõ nhiệm vụ và trách nhiệm của nhà nước trong việc đảm bảo cung cấp các dịch vụ hành chính công có chất lượng đáp ứng yêu cầu và đòi hỏi của xã hội
Trang 6Trong phần tiếp sau, luận văn trình bày về yêu cầu của xã hội đối với các cơ quan hành chính trong việc nâng cao chất lượng dịch vụ hành chính công Phần này nói lên những yêu cầu khách quan và chủ quan đối với chất lượng các dịch vụ hành chính công do nhà nước cung cấp: trước những bước phát triển về kinh tế - xã hội cùng với thực tiến hội nhập kinh tế của đất nước
và sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật hiện nay đã đòi hỏi bộ máy nhà nước phải nâng cao chất lượng dịch vụ hành chính công cung cấp cho xã hội để đáp ứng được các đòi hỏi khách quan của quá trình phát triển cũng như những bước phát triển trong nội tại bộ máy Do vậy đặt ra yêu cầu cấp bách phải đổi mới để nâng cao chất lượng dịch vụ hành chính công
Trong phần “1.2 Sự cần thiết phải đổi mới cơ chế quản lý đối với cơ quan nhà nước”, luận văn trình về thực trạng bộ máy cơ quan nhà nước ở
Việt Nam hiện nay, nêu ra những bất cập của bộ máy cơ quan hành chính đã ảnh hưởng tới quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Mặt khác, trước đòi hỏi mạnh mẽ của thực tiễn phát triển hiện nay càng đặt ra yêu cầu phải đổi mới Với những mục tiêu và nội dung yêu cầu đổi mới đã trình bày ở trên, luận văn nêu ra một gợi ý phương pháp có nhiều điểm phù hợp để áp dụng vào quá trình đổi mới đang thực hiện, đó là phương thức quản lý theo kết quả Sau đó, luận văn nêu lên thực tiến triển khai thực hiện một số chính sách cải cách hành chính đã được thực hiện ở Việt Nam thời gian qua
- Trước hết, về thực trạng bộ máy cơ quan nhà nước ở Việt Nam hiện nay bộc lộ nhiều điểm bất cập so với thực tiến phát triển của đất nước Khi nền kinh tế chuyển từ kế hoạch hoá tập trung sang phát triển theo cơ chế thị trường, vai trò của nhà nước đối với nền kinh tế đã có sự thay đổi rõ rệt Sự thay đổi đó đã ảnh hưởng đến sự can thiệp của nhà nước vào nền kinh tế cũng như chức năng, nhiệm vụ của hệ thống cơ quan nhà nước Trong nền kinh tế thị trường, vai trò nhà nước đã thay đổi theo hướng giảm sự can thiệp trực tiếp vào các hoạt động trong nền kinh tế, thay vào đó là tăng cường các hoạt
Trang 7vii động quản lý gián tiếp, thực hiện quản lý và điều hành nền kinh tế bằng các công cụ gián tiếp thông qua hệ thống cơ quan nhà nước đồng thời thực hiện tốt chức năng công quyền của bộ máy cơ quan nhà nước thông qua việc cung cấp các dịch vụ hành chính công cho xã hội Nhà nước giảm thiểu các hoạt động cung cấp dịch vụ công, chỉ những lĩnh vực nào mà tư nhân không thể đảm nhiệm thì nhà nước mới đứng ra đảm nhiệm, phân tách tối đa những lĩnh vực dịch vụ mà khu vực tư nhân có thể đảm nhiệm hoăc có thể chuyển đổi sang hình thức quản lý khác hiệu quả hơn, nâng cao chất lượng, giảm gánh nặng chi phí Những vai trò và nhiệm vụ mới của nhà nước đòi hỏi cần phải
có phương thức quản lý mới phù hợp hơn để nâng cao hiệu quả quản lý và chất lượng hoạt động của các cơ quan nhà nước Một trong những phương thức quản lý cho là phù hợp và được nêu ra là Phương thức quản lý theo kết quả
- Thứ hai, phương thức quản lý theo kết quả là phương thức quản lý dựa trên việc quản lý kết quả đầu ra của quá trình dựa trên nguồn lực đã được
cố định và các công việc đã được xác định, điều đó đảm bảo chất lượng đầu ra
có nhiều khả năng được đảm bảo theo các yêu cầu và mục tiêu đặt ra Phương thức quản lý theo kết quả được tiến hành bằng cách xác định các mục tiêu cần đạt được trên cơ sở cân đối các nguồn lực hiện có, không quan tâm nhiều đến việc quá trình tạo ra kết quả đó được tiến hành như thế nào do vậy tạo sự linh hoạt trong việc tiến hành thực hiện đề đạt tới các mục tiêu đã định, từ đó tạo
ra khả năng sử dụng các nguồn lực một cách hiệu quả đồng thời vẫn đạt được các mục tiêu đã đề ra Phương thức quản lý theo kết quả trao quyền chủ động sắp xếp, bố trí và sử dụng nguồn lực cho người điều hành thực hiện, chỉ quản
lý kết quả cuối cùng Qua những phân tích đó có thể thấy, Phương thức quản
lý theo kết quả là phù hợp với đặc điểm hoạt động quản lý trong các cơ quan nhà nước và có thể là một gợi ý tốt cho sự đổi mới phương thức quản lý đối với các cơ quan nhà nước
Trang 8- Sau cùng, luận văn nêu lên một số chính sách cải cách hành chính đã được áp dụng có hiệu quả tốt tro thời gian qua đó là: chương trình tổng thể cái cách hành chính, áp dụng hệ thống ISO cho quản lý hoạt động của các cơ quan nhà nước, áp dụng cơ chế một cửa - một cửa liên thông để chỉ ra trong thực tiễn ở Việt Nam hiện nay đang diễn ra quá trình cải cách mạnh mẽ về nhiều mặt trong lĩnh vực hành chính nhà nước
Sau khi trình bày Cơ sở khoa học của việc áp dụng chế độ tự chủ đối
với các cơ quan nhà nước ở Chương 1, trong “Chương 2: Chế độ tự chủ đối
với cơ quan nhà nước và quy trình, điều kiện thực hiện” luận văn đi vào
phân tích chế độ tự chủ áp dụng đối với các cơ quan nhà nước thực hiện theo Nghị định 130/2005/NĐ-CP, làm rõ quá trình ra đời, nội dung, mục tiêu của chế độ tự chủ, phân tích sự khác nhau giữa chế độ tự chủ và cơ chế khoán đã được thực hiện trước đó trong mối quan hệ của sự tiếp nối chính sách để kế thừa kết quả cũng như các nội dung và mục tiêu chính sách Trên cơ sở văn bản chỉ đạo thực hiện chế độ tự chủ là Nghị định 130 và Thông tư 03 hướng dẫn thực hiện nghị định, luận văn đã nêu lên quy trình thực hiện gồm các bước cụ thể, tuần tự cùng với việc chỉ ra và phân tích các điều kiện đảm bảo cho việc thực hiện tốt chế độ tự chủ
Trong phần “2.1 Khái quát chung về chế độ tự chủ đối với cơ quan nhà nước” luận văn tập trung vào các nội dung sau:
- Trước tiên luận văn nêu lên quá trình ra đời của chế độ tự chủ và tiền thân của nó là cơ chế khoán Phần này nêu lên những bước đi và kết quả ban đầu thực hiện thí điểm cơ chế khoán biên chế và kinh phí quản lý hành chính ở một số cơ quan hành chính ở Thành phố Hồ Chí Minh, với những kết quả khả quan thu được, nhận thấy đây là một bước cải cách đúng đắn, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định 192 về tiếp tục thí điểm thực hiện
cơ chế khoán trên phạm vi cả nước Đến năm 2005, để tăng tính pháp lý của chính sách cải cách này, Chính phủ đã ban hành Nghị định 130 quy định về
Trang 9ix chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm về sử dụng biên chế và kinh phí quản lý hành chính đối với cơ quan nhà nước
- Tiếp theo, luận văn trình bày khái quát về nội dung cơ chế khoán và chế độ tự chủ Trong phần này, luận văn trình bày một cách khái quát về những nội dung chính của chính sách cải cách phương thức quản lý đối với các CQNN thông qua hai giai đoạn thực hiện là: giai đoạn thực hiện cơ chế khoán theo Quyết định 192 và giai đoạn thực hiện chế độ tự chủ theo Nghị định 130 Trước tiên về mục tiêu chính sách, luận văn làm rõ mục tiêu của chính sách là trao quyền tự chủ nhiều hơn cho CQNN, quyền tự chủ về các mặt là: biên chế, kinh phí và tổ chức thực hiện nhiệm vụ trên cơ sở hoàn thành tốt những nhiệm vụ được giao Như vậy có thể thấy hàm ý của chính sách là áp dụng phương thức quản lý theo kết quả đối với CQNN: trao quyền chủ động trong việc sử dụng các nguồn lực và bố trí công việc, chỉ quản lý kết quả công việc cuối cùng Qua phân tích đó để thấy rõ bản chất của chính sách,
từ đó chỉ ra chính xác các điều kiện để thực hiện tốt chính sách đó
Ở phần tiếp theo “2.2 Quy trình thực hiện chế độ tự chủ đối với cơ quan nhà nước” luận văn tập trung vào phân tích các nội dung liên quan đến
quy trình thực hiện chế độ tự chủ bao gồm: Nguyên tắc chung khi xây dựng quy trình và Đề xuất quy trình thực hiện chế độ tự chủ Trong phần này, sau
khi nêu ra các quy tắc trung khi xây dựng quy trình thực hiện chế độ tự chủ, luận văn đề xuất gợi ý một quy trình thực hiện chế độ tự chủ và nội dung các bước của quy trình đó, cụ thể là:
- Về nguyên tắc xây dựng quy trình thực hiện chế độ tự chủ, dựa trên mục đích yêu cầu của chính sách, luận văn nêu ra 3 nguyên tắc chung khi xây
dựng quy trình tự chủ đó là: Phải thực hiện đồng thời giao kinh phí tự chủ với giao quyền hạn và qui định rõ trách nhiệm đối với cơ quan thực hiện tự chủ; Phải có sự gắn kết chặt chẽ giữa cơ quan nội vụ, tài chính và đơn vị thực hiện chế độ tự chủ; Thường xuyên rà soát hoàn thiện dần chế độ tự chủ, không nên
Trang 10coi đây là việc làm một lần duy nhất Trong đó nguyên tắc thứ nhất đặc biệt
quan trọng, được đưa ra dựa trên mô hình mối quan hệ 3 chiều cần đảm bảo khi thực hiện chế độ tự chủ, nguyên tắc này đưa ra đòi hỏi tiên quyết khi thực hiện chế độ tự chủ là phải đảm bảo giao đủ quyền tự chủ cho các cơ quan thực hiện chế độ này Ngoài ra, nguyên tắc thứ 2 đặt ra yêu cầu trong quá trình thực hiện chính sách để đảm bảo cho chính sách được thực hiện tốt, đó là phải
có sự phối hợp chặt chẽ, thường xuyên giữa các cơ quan có liên quan trong quá trình triển khai thực hiện tự chủ; nguyên tắc thứ 3 nêu ra yêu cầu của việc thực hiện chế độ tự chủ phải được thường xuyên xem xét, sửa đổi, khắc phục những điểm hạn chế, dần hoàn chỉnh Thực hiện chế độ tự chủ là một quá trình liên tục, luôn có sự đổi mới để tiến tới sự hoàn thiện
- Sau khi nêu ra các nguyên tắc chung cho việc xây dựng quy trình, luận văn đưa ra đề xuất một quy trình thực hiện chế độ tự chủ gồm 4 bước với
các nội dung cụ thể theo trình tự đó là: Xác định mức biên chế hợp lý, Xác định mức kinh phí nhận giao tự chủ hợp lý; Xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ
và quản lý tài sản công và cuối cùng là Hoàn trỉnh quy trình giao tự chủ Quy
trình thực hiện chế độ tự chủ nêu trên đã chỉ rõ những nhóm công việc cần phải làm và cách thức thực hiện các công việc đó sao cho đạt kết quả cao nhất
và theo một trình tự đảm bảo chất lượng của việc thực hiện chế độ tự chủ; chỉ
ra cho thấy điểm bắt đầu và điểm kết thúc của một quy trình thực hiện chế độ
tự chủ hàm ý quy trình này thực hiện nhiều lần lặp lại trong suốt những năm sau đảm bảo thực hiện tốt mục tiêu của chế độ tự chủ nói riêng và cải cách
Tài chính (Ngân sách)
nhiệm Chế độ
tự chủ