TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN * * * Phạm Thị Thu Hương TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ TÀI SẢN NỢ - CÓ ALM TẠI CÔNG TY TNHH BẢO HIỂM NHÂN THỌ PREVOIR VIỆT NAM Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàn
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
* * *
Phạm Thị Thu Hương
TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ TÀI SẢN NỢ -
CÓ (ALM) TẠI CÔNG TY TNHH BẢO HIỂM NHÂN THỌ PREVOIR VIỆT NAM
Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SỸ
Hà Nội, 2009
Trang 2CHƯƠNG 1: CÁC VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ TÀI SẢN
NỢ - CÓ CỦA CÁC DOANH NGHIỆP BẢO HIỂM
NHÂN THỌ
1.1 Khái quát về doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ a) Khái niệm doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ
Doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ là doanh nghiệp hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ, được thành lập, tổ chức và hoạt động theo quy định của pháp luật như Luật doanh nghiệp, Luật kinh doanh bảo hiểm và các quy định khác của pháp luật có liên quan đến loại hình kinh doanh này
b) Đặc điểm của doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ
Doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ là doanh nghiệp kinh doanh đặc thù
Sản phẩm bảo hiểm là hàng hóa đặc biệt, mang tính vô hình và là sản phẩm “không mong đợi” Tuy bỏ tiền ra mua nhưng người mua lại không muốn phải sử dụng đến loại hàng hoá này Còn phí bảo hiểm được xác định dựa trên những số liệu ước tính về chi phí trong tương lai
Doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ là một trung gian tài chính
Thông qua hoạt động kinh doanh bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ huy động được một lượng tiền nhàn rỗi trong dân cư, từ đó trích lập thành những quỹ dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm dùng để tái đầu tư vào nền kinh tế
Trang 3Hoạt động của các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc
Hoạt động của các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ góp phần đảm bảo
sự ổn định về kinh tế cho người tham gia bảo hiểm và gia đình họ khi rủi ro xảy ra, góp phần ổn định xã hội, đem lại hạnh phúc cho mọi người
Doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ được Nhà nước kiểm soát chặt chẽ
Hoạt động của các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ ảnh hưởng tới quyền lợi của rất nhiều người, tới thị trường tài chính và nền kinh tế Vì vậy, loại hình doanh nghiệp này được Nhà nước được kiểm soát rất chặt thông qua các Luật, Nghị định và Thông tư quy định riêng cho các doanh nghiệp bảo hiểm
1.1.2 Các hoạt động chủ yếu của doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ
Hoạt động kinh doanh bảo hiểm nhân thọ
Doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ chấp nhận rủi ro của người được bảo hiểm trên cơ sở người mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm cho doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm trả tiền bảo hiểm cho chủ hợp đồng bảo hiểm theo những quy định ghi trong hợp đồng bảo hiểm Kết quả của hoạt động kinh doanh bảo hiểm là tạo ra nguồn thu phí bảo hiểm để trang trải các chi phí và hình thành nên các quỹ dự phòng nghiệp vụ của doanh nghiệp
Hoạt động đầu tư
Vốn đầu tư của doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ được hình thành từ nguồn vốn chủ sở hữu và quỹ dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm Do đặc điểm khác nhau của hai nguồn vốn này nên doanh nghiệp bảo hiểm phải tách bạch hoạt động đầu tư theo từng nguồn
Trang 4Ngoài ra, công ty bảo hiểm nhân thọ còn thực hiện những hoạt động khác mang tính chất hỗ trợ như giám định tổn thất, đề phòng hạn chế rủi ro
1.2 Quản lý tài sản nợ - có của doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ 1.2.1 Khái niệm quản lý tài sản nợ - có của doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ
Theo Hiệp hội các chuyên viên tính phí, quản lý tài sản nợ - có được định nghĩa như sau:
Quản lý tài sản nợ - có là hoạt động quản lý hoạt động kinh doanh, ở đó các quyết định về tài sản có và tài sản nợ được phối hợp chặt chẽ với nhau;
nó có thể được định nghĩa như quá trình không ngừng tính toán, triển khai, quản lý và sửa đổi các chiến lược liên quan tới tài sản có và tài sản nợ để đạt được các mục tiêu tài chính trong điều kiện có rất nhiều rủi ro Quản lý tài sản nợ - có liên quan và rất quan trọng đối với những công ty mà đầu tư để đáp ứng các nghĩa vụ nợ
1.2.2 Nội dung quản lý tài sản nợ - có của doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ
Quản lý tài sản nợ - có bao gồm quản lý quỹ dự phòng nghiệp vụ, quản
lý các khoản đầu tư và quản lý mối quan hệ giữa chúng nhằm đạt được các mục tiêu lợi nhuận và đảm bảo khả năng thanh toán cho doanh nghiệp
Quản lý quỹ dự phòng là việc quản lý hoạt động kinh doanh bảo hiểm nhằm tăng doanh thu phí từ đó tăng quy mô của quỹ dự phòng và duy trì trạng thái quỹ theo đúng quy định của Bộ Tài chính thông qua việc xây dựng hình ảnh công ty, xây dựng và mở rộng mạng lưới đại lý, thiết kế sản phẩm,
Trang 5đưa sản phẩm ra thị trường đến quản lý thông tin khách hàng, tính toán dự phòng
Quản lý các khoản đầu tư là việc quản lý danh mục đầu tư và quản lý rủi ro đầu tư nhằm xác định được một danh mục đầu tư hợp lý, với rủi ro và doanh lợi phù hợp
Quản lý mối quan hệ giữa tài sản nợ và tài sản có là việc phối hợp giữa dòng tiền thu được từ hoạt động đầu tư với dòng tiền ra theo các nghĩa vụ nợ
để đảm bảo khả năng thanh toán cũng như lợi nhuận của doanh nghiệp
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới quản lý tài sản nợ - có của doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ
1.3.1 Các nhân tố chủ quan
Thứ nhất, chiến lược phát triển của doanh nghiệp Đây là định hướng
quan trọng để ban lãnh đạo xây dựng, điều chỉnh kế hoạch hoạt động kinh doanh của mình
Thứ hai, quan điểm của các nhà lãnh đạo doanh nghiệp Với quan điểm
thận trọng, các nhà lãnh đạo sẽ đưa ra các quyết định quản lý thận trọng và ngược lại
Thứ ba, trình độ công nghệ của doanh nghiệp Trình độ công nghệ càng
cao, doanh nghiệp càng có điều kiện cung cấp những dịch vụ, tiện ích cho các đại lý bảo hiểm cũng như cho khách hàng, đồng thời tăng cường khả năng phân tích, xử lý thông tin từ đó đưa ra những đánh giá phục vụ cho việc ra quyết định quản lý của doanh nghiệp
Thứ tư, trình độ và phẩm chất đạo đức của đội ngũ cán bộ doanh
nghiệp Đây là yếu tố quyết định sự thành công của quá trình quản lý Thực
Trang 6tế cho thấy nhiều doanh nghiệp làm ăn kém hiệu quả là do trình độ chuyên môn yếu kém hoặc phẩm chất đạo đức xuống cấp của cán bộ trong doanh nghiệp
1.3.2 Các nhân tố khách quan
Thứ nhất, môi trường pháp lý Đây là một trong những điều kiện tiền đề
cho sự ra đời, hoạt động và phát triển của các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ, đồng thời cũng là công cụ để Nhà nước quản lý các doanh nghiệp này
Thứ hai, môi trường kinh tế Nền kinh tế phát triển ổn định, thu nhập
của người dân cao sẽ có điều kiện tham gia mua nhiều loại sản phẩm bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm có nhiều cơ hội để lựa chọn các hình thức đầu tư đồng thời thông qua đó có thể đáp ứng nhu cầu thanh khoản đột xuất của mình
Thứ ba, sự phát triển của khoa học công nghệ Công nghệ thông tin phát
triển, các doanh nghiệp có thể mua các chương trình phần mềm hiện đại để quản lý tốt hơn tài sản nợ - có của mình
Trang 7CHƯƠNG 2 : THỰC TRẠNG QUẢN LÝ TÀI SẢN NỢ - CÓ CỦA CÔNG TY TNHH BẢO HIỂM NHÂN THỌ PREVOIR
VIỆT NAM
2.1 Khái quát về công ty TNHH Bảo hiểm nhân thọ Prevoir Việt Nam
2.1.1 Sơ lược quá trình phát triển
Thành lập năm 2005, tính đến nay, Công ty TNHH Bảo hiểm nhân thọ Prevoir Việt Nam đã có hơn 4 năm hoạt động tại thị trường bảo hiểm nhân thọ Việt Nam Vốn điều lệ của Công ty hiện nay là 600 tỷ đồng Công ty có trụ sở tại Hà Nội và một số chi nhánh tại các tỉnh, thành phố lớn ở Việt Nam
2.1.2 Cơ cấu tổ chức nhân sự
Với việc sử dụng các kênh phân phối sẵn có của Tổng công ty Bưu chính Việt Nam (VNPost) và các ngân hàng, cơ cấu nhân sự của Prévoir rất nhỏ gọn Hiện nay, Công ty có đội ngũ hơn 50 nhân viên
2.1.3 Kết quả kinh doanh chủ yếu
Tính đến nay, công ty đã bán được là gần 60.000 hợp đồng qua kênh VNPost và gần 40.000 hợp đồng qua kênh ngân hàng Tỷ suất đầu tư năm
2006 và 2007 đạt 7%/năm, đặc biệt năm 2008 đạt 10,5%/năm
2.2 Thực trạng quản lý tài sản nợ - có của công ty TNHH Bảo hiểm nhân thọ Prevoir Việt Nam
2.2.1 Thực trạng quản lý tài sản nợ
Trang 8Hoạt động kinh doanh bảo hiểm của Công ty được chia thành ba kênh
là VNPost, ngân hàng và môi giới/nhóm do ba thành viên trong Ban giám đốc phụ trách quản lý
Hiện nay, mạng lưới đại lý gồm 246 bưu cục trên 64 tỉnh thành trên cả nước và tất cả các chi nhánh trên toàn quốc của 9 ngân hàng thương mại cổ phần như ngân hàng TMCP Á Châu, ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín Công ty cũng đã tiến hành ký kết với một số công ty môi giới bảo hiểm và tập đoàn lớn để phân phối sản phẩm bảo hiểm nhóm
Tính đến nay, công ty đưa ra thị trường hơn 10 sản phẩm
Phần mềm quản lý nghiệp vụ của Công ty được lắp đặt tại tất cả các bưu cục triển khai dịch vụ bán bảo hiểm nhưng chưa được cài đặt tại các ngân hàng Tuy nhiên, việc sử dụng phần mềm này ở các bưu cục rất chậm Việc tính toán các khoản dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm do chuyên viên tính toán làm thủ công và được chuyên gia tính phí chỉ định tại Pháp kiểm tra, phê duyệt theo quy định của Bộ Tài chính
2.2.2 Thực trạng quản lý tài sản có
Việc quản lý hoạt động đầu tư do Phó Tổng Giám đốc thứ nhất kiêm trưởng phòng Đầu tư phụ trách Trưởng phòng Đầu tư xem xét và phê duyệt
đề xuất của nhân viên đầu tư Sau đó, đề xuất đầu tư phải được thông qua bởi Uỷ ban đầu tư
Công ty cũng đã xây dựng được các quy trình nghiệp vụ về đầu tư bao gồm quy trình đầu tư và quy trình quản lý rủi ro
Hoạt động đầu tư của Công ty mang tính thận trọng, chỉ đầu tư dưới hình thức tiền gửi ngân hàng, trái phiếu chính phủ và trái phiếu công ty
Trang 9Mỗi khoản đầu tư của công ty đều được hạch toán riêng theo từng nguồn vốn: quỹ dự phòng nghiệp vụ và vốn chủ sở hữu nhằm phục vụ cho việc quản lý và tính toán hiệu quả của từng quỹ
2.2.3 Quản lý mối quan hệ giữa tài sản nợ và tài sản có
Hàng quý, chuyên viên tính phí tính toán kỳ hạn hoàn trả bình quân của các hợp đồng bảo hiểm và gửi cho phòng Đầu tư Phòng Đầu tư lựa chọn các tài sản đầu tư sao cho chênh lệch giữa kỳ hạn hoàn vốn trung bình của các tài sản đầu tư và kỳ hạn hoàn trả bình quân của các hợp đồng bảo hiểm nằm trong giới hạn mà chuyên gia tính phí được chỉ định của Công ty tại Pháp đã đưa ra Hiện nay, mức chênh lệch này là hai năm
2.3 Đánh giá thực trạng quản lý tài sản nợ - có của công ty TNHH Bảo hiểm nhân thọ Prevoir Việt Nam
2.3.1 Kết quả
Quản lý tài sản nợ
Năm 2007, tốc độ tăng trưởng số lượng hợp đồng khai thác mới đạt 220% và tốc độ tăng trưởng doanh thu phí bảo hiểm đạt 67% Năm 2008, tỷ
lệ tương ứng là 16% và 8% Tổng quỹ dự phòng nghiệp vụ năm 2007 tăng trưởng 162%, năm 2008 tăng 47%
Hoạt động đầu tư
Tỷ suất lợi nhuận đầu tư của công ty năm 2006 và 2007 đạt 7%, đặc biệt năm 2008 đạt 10,5% Năm 2008, Prevoir Việt Nam được đánh giá là một trong những công ty bảo hiểm nhân thọ đạt kết quả cao nhất trong hoạt động đầu tư
Phối hợp công tác quản lý tài sản nợ và tài sản có
Trang 10Ban giám đốc công ty đã ý thức được tầm quan trọng của việc quản lý kết hợp giữa tài sản nợ và tài sản có và các chuyên gia tài chính của công ty
mẹ cũng đã nghiên cứu và đưa ra mức chênh lệch kỳ hạn của tài sản nợ và tài sản có để dựa vào đó tiến hành hoạt động đầu tư
2.3.2 Hạn chế và nguyên nhân của công tác quản lý tài sản nợ - có của công ty TNHH Bảo hiểm nhân thọ Prevoir Việt Nam
2.3.2.1 Hạn chế của công tác quản lý tài sản nợ - có của công ty TNHH Bảo hiểm nhân thọ Prevoir Việt Nam
Quản lý tài sản nợ
Thứ nhất, bảo hiểm nhân thọ chỉ là một loại hình dịch vụ rất nhỏ so với
các loại dịch vụ khác mà VNPost đang thực hiện, do đó chưa được VNPost tập trung quan tâm phát triển Kỹ năng bán hàng và hiểu biết của nhân viên bưu cục về bảo hiểm rất hạn chế Ngoài ra, cơ chế quản lý ở một tập đoàn Nhà nước lớn với bộ máy cồng kềnh cũng gây nhiều khó khăn cho việc bán bảo hiểm qua kênh phân phối chiến lược này
Đối với kênh ngân hàng, sản phẩm bảo hiểm của Prevoir Việt Nam được gắn với sản phẩm của ngân hàng như một giá trị gia tăng cho sản phẩm của ngân hàng Do vậy, nếu hoạt động kinh doanh của ngân hàng gặp khó khăn doanh thu phí bảo hiểm của công ty qua kênh này cũng giảm ngay
Thứ hai, hiện có rất ít người biết đến tên tuổi của Prevoir Việt Nam
Trong khi đó, hình ảnh và uy tín của doanh nghiệp rất quan trọng, đặc biệt là đối với các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ khi họ cung cấp các sản phẩm
vô hình, đòi hỏi phải có khả năng thanh toán cao trong tương lai
Thứ ba, đến nay Công ty mới có hơn 10 sản phẩm được Bộ Tài chính
phê duyệt Mức phí bảo hiểm của một số sản phẩm đưa ra chưa hợp lý
Trang 11Thứ tư, phần mềm quản lý nghiệp vụ chậm
Thứ năm, việc tính toán dự phòng rất phức tạp nhưng đến nay, các
chuyên gia tính toán vẫn phải làm một cách thủ công, chưa có phần mềm hỗ trợ, do đó khả năng sai sót cao
Quản lý tài sản có
Thứ nhất, bộ máy đầu tư hiện nay chưa tương xứng với quy mô của
nguồn vốn đầu tư, chưa chuyên môn hoá sâu trong các lĩnh vực đầu tư
Thứ hai, danh mục đầu tư còn nghèo nàn, chỉ có tiền gửi ngân hàng, trái
phiếu chính phủ và trái phiếu công ty
Thứ ba, quy trình đầu tư chưa ghi rõ về hình thức xử lý kỷ luật khi có
sai phạm mới chỉ dừng lại ở mức nguyên tắc, chưa chi tiết, rõ ràng
Thứ tư, việc thu thập và xử lý thông tin đầu tư chưa tốt Do đó, Công ty
rất khó xác định rủi ro để ra quyết định đầu tư và không thể xác định được rủi ro của toàn bộ danh mục đầu tư
Phối hợp quản lý tài sản nợ - có
Sự phối hợp quản lý tài sản nợ - có giữa phòng Tính phí và phòng Đầu
tư chưa chặt chẽ và được thực hiện hàng quý Mức chênh lệch kỳ hạn bình quân là 2 năm không còn phù hợp với điều kiện có nhiều thay đổi như hiện nay
2.3.2.2 Nguyên nhân
a) Nguyên nhân chủ quan
Thứ nhất, Công ty không chú trọng quảng bá hình ảnh nên rất ít người
biết tới Prevoir Việt Nam, kể cả một số người đã là khách hàng của Công ty
Trang 12Thứ hai, phần mềm quản lý nghiệp vụ bảo hiểm mà công ty mẹ sử dụng
ở Pháp khi áp dụng cho Prevoir Việt Nam không thích hợp vì không phù hợp với cơ sở hạ tầng công nghệ của Việt Nam Phần mềm tính toán dự phòng nghiệp vụ, cũng như phần mềm quản lý đầu tư chưa được Công ty trang bị
Thứ ba, Công ty chưa quan tâm đúng mức tới hoạt động đầu tư Tổ
chức bộ máy hoạt động đầu tư chưa không tương xứng với quy mô của các nguồn vốn đầu tư
Thứ tư, đội ngũ cán bộ của Prevoir Việt Nam phần lớn có tuổi đời rất
trẻ, kinh nghiệm còn hạn chế và công tác đào tạo chưa được chú trọng đúng mức
b) Nguyên nhân khách quan
Thứ nhất, thu nhập của đại đa số người dân Việt Nam còn thấp Nhận
thức của người dân về bảo hiểm không cao
Thứ hai, thị trường bảo hiểm nhân thọ cạnh tranh quyết liệt Các biện
pháp cạnh tranh mà các doanh nghiệp áp dụng chủ yếu là giảm phí bảo hiểm, tăng hoa hồng cho nhà môi giới, cho đại lý… làm cho doanh thu phí bảo hiểm của các doanh nghiệp giảm đáng kể
Thứ ba, các khoản chi phí mua bảo hiểm nhân thọ cho nhân viên không
được tính vào chi phí hợp lý, hợp lệ khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp của doanh nghiệp
Thứ tư, thị trường tài chính, tiền tệ chưa phát triển và thị trường bất
động sản mang tính tự phát Thông tin thị trường không minh bạch gây khó
khăn trong việc xử lý thông tin và đánh giá mức độ rủi ro để đầu tư