Gắn kết sinh kế bền vững với biến đổi khí hậu BĐKH, có thể nhận thấy rằng, BĐKH là một yếu tố chủ chốt liên quan đến khả năng bị tổn thương của sinh kế, bởi vì BĐKH gây ảnh hưởng đến các
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu
Sinh kế bền vững từ lâu đã là chủ đề được quan tâm trong các tranh luận về phát triển, giảm nghèo và quản lý môi trường cả trên phương diện lý luận lẫn thực tiễn Gắn kết sinh kế bền vững với biến đổi khí hậu (BĐKH), có thể nhận thấy rằng, BĐKH là một yếu tố chủ chốt liên quan đến khả năng bị tổn thương của sinh kế, bởi
vì BĐKH gây ảnh hưởng đến các nguồn lực sinh kế, từ đó ảnh hưởng đến các hoạt động sinh kế và các kết quả sinh kế Trong bối cảnh BĐKH ngày càng trở nên phức tạp cả ở hiện tại và tương lai, các sinh kế được đánh giá không chỉ dựa vào việc các sinh kế này có bền vững trên 4 phương diện kinh tế, xã hội, môi trường và thể chế hay không mà còn dựa vào việc các sinh kế này có thể thích ứng với BĐKH hay không Chính vì vậy, gắn kết sinh kế bền vững với yếu tố BĐKH sẽ giúp xây dựng các sinh kế bền vững và thích ứng trong bối cảnh BĐKH
Đối với một quốc gia có đường bờ biển dài và hai đồng bằng châu thổ lớn thì mối đe doạ do BĐKH với các biểu hiện như mực nước biển dâng cao, bão, lũ lụt, và xâm nhập mặn… đối với Việt Nam là thực sự nghiêm trọng Vùng ven biển Đồng bằng sông Hồng (ĐBSH), với 4 tỉnh là Hải Phòng, Thái Bình, Nam Định và Ninh Bình, là khu vực có mật độ dân cư cao và hoạt động sản xuất nông nghiệp và ngư nghiệp phụ thuộc nhiều vào khí hậu và nguồn nước Các sinh kế chính tại các cộng đồng ven biển ĐBSH là sản xuất nông nghiệp (trồng trọt, chăn nuôi và làm muối) và thuỷ sản (đánh bắt và nuôi trồng) đang ngày càng bị đe doạ trước tác động của BĐKH bởi sự phụ thuộc vào các nguồn lực tự nhiên nhạy cảm với BĐKH Chính vì
vậy, xây dựng sinh kế ven biển bền vững và thích ứng với BĐKH là một nhu cấp cấp
bách hiện nay trong bối cảnh khí hậu ngày càng biến đổi bất thường và gây ảnh hưởng nghiêm trọng lên vùng ven biển nói chung và vùng ven biển ĐBSH nói riêng
2 Tổng quan nghiên cứu
Luận án đã tổng quan các nghiên cứu về sinh kế hộ gia đình trong bối cảnh BBKH theo 3 nhóm (i) các nghiên cứu về ảnh hưởng của BĐKH đối với các quốc gia
và vùng ven biển trên thế giới và ở Việt Nam; (ii) các nghiên cứu về khả năng bị tổn thương và năng lực thích ứng của sinh kế ven biển trước tác động của BĐKH trên thế giới và ở Việt Nam; và (iii) các nghiên cứu về sinh kế vùng ven biển ĐBSH trong bối cảnh BĐKH để rút ra hạn chế và khoảng trống cho nghiên cứu của Luận án, bao gồm:
- Về nội dung nghiên cứu:
Thực trạng sinh kế hộ gia đình chưa được phân tích một cách toàn diện trên
5 yếu tố cấu thành sinh kế hộ gia đình;
Khả năng bị tổn thương trước tác động của BĐKH đối với các nhóm sinh
kế khác nhau của hộ gia đình chưa được phân tích một cách cụ thể: tổn thương về nguồn lực sinh kế, hoạt động sinh kế và kết quả sinh kế và chỉ ra mối quan hệ giữa các yếu tố này
Năng lực thích ứng về sinh kế của các hộ gia đình chưa được đánh giá là thích ứng bị động hay thích ứng chủ động
Các sinh kế nào là bền vững và thích ứng với BĐKH chưa được phân tích một cách toàn diện
Trang 2 Đối với vùng ven biển ĐBSH nói chung và tỉnh Nam Định nói riêng, các vấn đề về: thực trạng sinh kế hộ gia đình, khả năng bị tổn thương và năng lực thích ứng về sinh kế của các hộ gia đình trước tác động của BĐKH, các hình thức hỗ trợ sinh kế của nhà nước, tính bền vững và thích ứng của các sinh kế hiện tại chưa được đề cập một cách toàn diện để làm cơ sở cho việc xây dựng các sinh kế bền vững và thích ứng với BĐKH
- Về cơ sở lý luận:
Các nghiên cứu chủ yếu sử dụng cách tiếp cận khung sinh kế bền vững (SLA) để phân tích sinh kế hộ gia đình trong bối cảnh BĐKH Rất ít nghiên cứu gắn kết khung sinh kế bền vững với yếu tố BĐKH để phân tích khả năng bị tổn thương của sinh kế, từ đó đề xuất các sinh kế bền vững và thích ứng với BĐKH
Tính bền vững và thích ứng của sinh kế chưa được phân tích cụ thể trên các khía cạnh bền vững về kinh tế, xã hội, môi trường, thể chế và có khả năng thích ứng trước tác động của BĐKH
- Về phương pháp nghiên cứu:
Chưa có nghiên cứu định lượng để chỉ ra mối quan hệ về khả năng bị tổn thương của các nhóm sinh kế khác nhau trước tác động của BĐKH
Phương pháp phân tích đa tiêu chí chưa được áp dụng để phân tích tính bền vững và thích ứng của sinh kế
Với những hạn chế trên, Luận án “Sinh kế bền vững vùng ven biển đồng bằng
sông Hồng trong bối cảnh biến đổi khí hậu: Nghiên cứu điển hình tại tỉnh Nam Định” kỳ vọng sẽ lấp được một phần khoảng trống này trong nghiên cứu
3 Mục đích nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu tổng quát của Luận án là đề xuất các sinh kế bền vững và thích ứng với BĐKH cho các huyện ven biển của tỉnh Nam Định dựa trên năng lực
của địa phương và định hướng chính sách của Nhà nước
Các mục đích nghiên cứu cụ thể bao gồm:
(i) Phân tích hiện trạng sinh kế hộ gia đình ven biển ĐBSH,
(ii) Nhận diện những ảnh hưởng của BĐKH đối với vùng ven biển ĐBSH, (iii) Phân tích nhận thức của các hộ gia đình ven biển về khả năng bị tổn thương trước tác động của BĐKH đối với các nhóm sinh kế khác nhau thông qua nghiên cứu điển hình tại tỉnh Nam Định,
(iv) Đánh giá năng lực thích ứng về sinh kế trước tác động của BĐKH đối với các nhóm sinh kế khác nhau của các hộ gia đình ven biển thông qua nghiên cứu điển hình tại tỉnh Nam Định,
(v) Xác định các chính sách hỗ trợ sinh kế của Nhà nước nhằm giúp các hộ gia đình ven biển ở tỉnh Nam Định thích ứng với BĐKH,
(vi) Đề xuất các sinh kế bền vững và thích ứng với BĐKH cho các huyện ven biển của tỉnh Nam Định và một số gợi ý chính sách cho vùng ven biển ĐBSH
Trang 33.2 Câu hỏi nghiên cứu
Để đạt được 06 mục tiêu nghiên cứu cụ thể nêu trên, Luận án tập trung trả lời
06 câu hỏi nghiên cứu chính sau đây:
(i) Các hộ gia đình ven biển ĐBSH đã sử dụng các nguồn lực sinh kế nào để thực hiện các hoạt động sinh kế và đạt được các kết quả sinh kế gì?
(ii) BĐKH gây ra những ảnh hưởng gì ở vùng ven biển ĐBSH?
(iii) Các hộ gia đình ven biển ở tỉnh Nam Định nhận thức như thế nào về khả năng bị tổn thương trước tác động của BĐKH đối với các nhóm sinh kế khác nhau, cụ thể là: BĐKH ảnh hưởng đến các nguồn lực sinh kế nào? Các nguồn lực sinh kế ảnh hưởng như thế nào đến các hoạt động sinh kế? Các hoạt động sinh kế ảnh hưởng như thế nào đến các kết quả sinh kế? (iv) Các hộ gia đình ven biển ở tỉnh Nam Định có năng lực thích ứng về sinh
kế như thế nào trước tác động của BĐKH?
(v) Nhà nước cần có những chính sách hỗ trợ sinh kế gì để giúp các hộ gia đình ven biển ở tỉnh Nam Định thích ứng với BĐKH?
(vi) Các sinh kế nào là bền vững và thích ứng với BĐKH đối với các huyện ven biển của tỉnh Nam Định và những gợi ý chính sách nào được rút ra cho các tỉnh vùng ven biển ĐBSH?
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu chính của Luận án là sinh kế hộ gia đình ở các cộng đồng ven biển trong bối cảnh BĐKH, bao gồm các vấn đề liên quan đến nguồn lực
sinh kế, hoạt động sinh kế, kết quả sinh kế, khả năng bị tổn thương và năng lực thích ứng về sinh kế trước tác động của BĐKH, và các chính sách hỗ trợ sinh kế
Số liệu thứ cấp sử dụng cho các phân tích và đánh giá về sự thay đổi về sinh
kế của hộ gia đình ven biển ĐBSH được thu thập cho giai đoạn 2000-2010
Số liệu sơ cấp đã được thu thập vào năm 2012 để phân tích những nội dung liên quan đến sinh kế hộ gia đình ven biển trong bối cảnh BĐKH
4.2.3 Về nội dung nghiên cứu
Biến đổi khí hậu: xem xét 5 biểu hiện chính của BĐKH đối với vùng ven
biển: hạn hán, bão lụt, nhiệt độ tăng, nước biển dâng, xâm nhập mặn
Sinh kế ven biển trong bối cảnh BĐKH: được giới hạn ở 2 nhóm sinh kế:
nông nghiệp và thủy sản vì đây là các sinh kế phụ thuộc rất lớn vào các nguồn lực tự nhiên chịu tác động mạnh nhất của BĐKH
Khung sinh kế hộ gia đình đề cập đến 5 nhóm yếu tố: (i) nguồn lực sinh kế,
Trang 4(ii) hoạt động sinh kế, (iii) kết quả sinh kế, (iv) thể chế và chính sách tại địa phương, và (v) bối cảnh bên ngoài
Tính bền vững của sinh kế được đánh giá trên 4 khía cạnh: kinh tế, xã hội,
môi trường và thể chế
Khả năng bị tổn thương về sinh kế của hộ gia đình: được phân tích dựa trên
mối quan hệ: (i) BĐKH ảnh hưởng đến các nguồn lực sinh kế, (ii) các nguồn lực sinh kế ảnh hưởng đến các hoạt động sinh kế, (iii) các hoạt động sinh kế ảnh hưởng đến các kết quả sinh kế
Năng lực thích ứng về sinh kế của hộ gia đình: được đánh giá dựa trên những
sự điều chỉnh về sinh kế của các hộ gia đình trước tác động của BĐKH và được phân chia thành 2 cấp độ: thích ứng bị động và thích ứng chủ động
5 Cấu trúc của Luận án
Ngoài Phần mở đầu, Kết luận, Mục lục, Danh mục các từ viết tắt, Danh mục bảng biểu, Danh mục hình vẽ, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục, Luận án được cấu trúc thành 4 Chương
Chương I: Cơ sở lý luận về sinh kế bền vững vùng ven biển trong bối cảnh BĐKH Chương II: Phương pháp nghiên cứu
Chương III: Sinh kế hộ gia đình ven biển ĐBSH trong bối cảnh BĐKH: Nghiên cứu điển hình tại tỉnh Nam Định
Chương IV: Một số gợi ý chính sách
6 Những đóng góp mới của Luận án
Luận án đã có những đóng góp mới trên cả 2 phương diện: lý luận và thực tiễn
về chủ đề BĐKH và sinh kế ven biển, cụ thể là:
Về mặt lý luận:
Các nghiên cứu trước đây chủ yếu sử dụng cách tiếp cận khung sinh kế bền vững đơn lẻ để phân tích sinh kế hộ gia đình trong bối cảnh BĐKH Luận án đã tiếp cận theo hướng gắn kết khung sinh kế bền vững với yếu tố BĐKH để phân tích khả năng bị tổn thương của sinh kế ven biển trước tác động của BĐKH và chỉ ra cơ chế tác động: (i) BĐKH sẽ ảnh hưởng đến các nguồn lực sinh kế, (ii) các nguồn lực sinh kế sẽ ảnh hưởng đến các hoạt động sinh kế, và (iii) các hoạt động sinh kế sẽ ảnh hưởng đến các kết quả sinh kế đạt được
Luận án chỉ ra rằng, trong bối cảnh BĐKH, do bị tổn thương trước tác động của BĐKH nên sinh kế không chỉ cần bền vững mà còn phải thích ứng với BĐKH để giảm thiểu thiệt hại do BĐKH gây ra Sử dụng phương pháp phân tích đa tiêu chí, Luận án đã đưa ra bộ tiêu chí đánh giá tính bền vững về kinh tế-xã hội-môi trường-thể chế và thích ứng với BĐKH của sinh kế
- Bão lụt, hạn hán, xâm nhập mặn gây ảnh hưởng cùng chiều lên các nguồn lực
tự nhiên (đất trồng lúa, đất nuôi trồng thuỷ sản, đất làm muối) và nguồn lực vật
Trang 5chất (hệ thống đường giao thông, hệ thống thuỷ lợi) Đây cũng là những nguồn lực sinh kế rất nhạy cảm với sự biến đổi của khí hậu Ngoài ra, bão lụt, hạn hán,
và nhiệt độ tăng gây ảnh hưởng cùng chiều đến nguồn lực con người (sức khoẻ) Nguồn lực tài chính (tiếp cận vay vốn ngân hàng) và nguồn lực xã hội (tiếp cận thông tin) ít bị ảnh hưởng bởi BĐKH
- Khi các nguồn lực sinh kế chính (đất trồng lúa, chuồng trại chăn nuôi, tàu thuyền lưới đánh bắt, đất nuôi trồng thuỷ sản, đất làm muối) bị ảnh hưởng bởi BĐKH, các hoạt động sinh kế tương ứng cũng bị ảnh hưởng cùng chiều Ngoài
ra, nguồn lực vật chất (hệ thống thuỷ lợi) gây ảnh hưởng đến hoạt động trồng lúa; nguồn lực xã hội (tiếp cận thông tin) gây ảnh hưởng đến hoạt động đánh bắt; nguồn lực tài chính (tiếp cận vốn vay ngân hàng) gây ảnh hưởng đến hoạt động chăn nuôi, đánh bắt và nuôi trồng thuỷ sản
- Các kết quả sinh kế bị ảnh hưởng bởi BĐKH có mối quan hệ chặt chẽ và cùng chiều với các hoạt động sinh kế bị tác động bởi BĐKH; tức là khi hoạt động sinh
kế càng bị ảnh hưởng bởi BĐKH thì kết quả sinh kế cũng càng bị ảnh hưởng
Các hộ gia đình tại 3 huyện ven biển của tỉnh Nam Định đang thực hiện các hoạt động thích ứng về sinh kế một cách bị động, mang tính đối phó hơn là những hoạt động thích ứng chủ động, được lập kế hoạch trước các rủi ro về sinh kế do BĐKH gây ra
Để giúp các hộ gia đình chuyển từ thích ứng bị động sang thích ứng chủ động, nhà nước cần hỗ trợ để (i) tăng cường các nguồn lực sinh kế cho hộ gia đình, đặc biệt là các nguồn lực tự nhiên và nguồn lực vật chất và (ii) tăng cường thể chế và chính sách thích ứng với BĐKH ở cấp quốc gia và địa phương
Sử dụng phương pháp phân tích đa tiêu chí và phương pháp cho điểm, 5 sinh
kế chính ở 3 huyện ven biển của tỉnh Nam Định trong bối cảnh BĐKH được sắp xếp theo thứ tự ưu tiên sau: nuôi trồng thủy sản, chăn nuôi, trồng lúa, làm muối và đánh bắt thủy sản Các sinh kế mới có thể khả thi trong bối cảnh BĐKH là: du lịch sinh thái và các nghề truyền thống
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SINH KẾ BỀN VỮNG VÙNG VEN BIỂN
TRONG BỐI CẢNH BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
1.1 Sinh kế bền vững
1.1.1 Khái niệm
Định nghĩa của Chambers và Conway (1992) về sinh kế cho rằng “sinh kế bao gồm khả năng, nguồn lực và các hoạt động cần thiết làm phương tiện sống của con người” Một sinh kế là bền vững “khi có thể giải quyết được hoặc có khả năng phục hồi từ những căng thẳng và đột biến, duy trì hoặc tăng cường khả năng và nguồn lực; tạo ra các cơ hội sinh kế bền vững cho thế hệ tương lai và mang lại lợi ích ròng cho các sinh kế khác ở cả cấp địa phương và cấp toàn cầu, trong ngắn hạn và dài hạn” Dựa trên khái niệm về sinh kế bền vững của Chambers và Conway (1992), Scoones (1998) định nghĩa sinh kế “bao gồm khả năng, nguồn lực (bao gồm các nguồn lực vật chất và nguồn lực xã hội) và các hoạt động cần thiết làm phương tiện sống của con
Trang 6người Một sinh kế được coi là bền vững khi nó có thể giải quyết được hoặc có khả năng phục hồi từ những căng thẳng; duy trì và tăng cường khả năng và nguồn lực hiện tại mà không làm tổn hại đến cơ sở tài nguyên thiên nhiên” Năm 2001, Cơ quan Phát triển Quốc tế Vương quốc Anh (DFID) đưa ra khái niệm về sinh kế để hướng dẫn cho các hoạt động hỗ trợ của mình, theo đó, sinh kế “bao gồm khả năng, nguồn lực cùng các hoạt động cần thiết làm phương tiện sống cho con người” Khái niệm này về cơ bản hoàn toàn giống với khái niệm về sinh kế của Chambers và Conway (1992) và Scoones (1998)
1.1.2 Tính bền vững của sinh kế
Tính bền vững của sinh kế được thể hiện trên 4 phương diện: kinh tế, xã hội, môi trường và thể chế
Một sinh kế được coi là bền vững về kinh tế khi nó đạt được và duy trì một
mức phúc lợi kinh tế cơ bản và mức phúc lợi kinh tế này có thể khác nhau giữa các khu vực
Tính bền vững về xã hội của sinh kế đạt được khi sự phân biệt xã hội được
giảm thiểu và công bằng xã hội được tối đa
Tính bền vững về môi trường đề cập đến việc duy trì hoặc tăng cường năng
suất của các nguồn tài nguyên thiên nhiên vì lợi ích của các thế hệ tương lai
Một sinh kế có tính bền vững về thể chế khi các cấu trúc hoặc qui trình hiện
hành có khả năng thực hiện chức năng của chúng một cách liên tục và ổn định theo thời gian để hỗ trợ cho việc thực hiện các hoạt động sinh kế
1.1.3 Tiêu chí đánh giá tính bền vững của sinh kế
Tiêu chí đánh giá tính bền vững của sinh kế được thể hiện trên 4 phương diện:
Bền vững về kinh tế: được đánh giá chủ yếu bằng chỉ tiêu gia tăng thu nhập của
hộ gia đình
Bền vững về xã hội: được đánh giá thông qua một số chỉ tiêu như: tạo thêm
việc làm, giảm nghèo đói, đảm bảo an ninh lương thực
Bền vững về môi trường: được đánh giá thông qua việc sử dụng bền vững hơn
các nguồn lực tự nhiên, không gây hủy hoại môi trường
Bền vững về thể chế: được đánh giá thông qua một số tiêu chí như: hệ thống
pháp lý được xây dựng đầy đủ và đồng bộ, qui trình hoạch định chính sách có
sự tham gia của người dân, các cơ quan/tổ chức ở khu vực công và khu vực tư hoạt động có hiệu quả; từ đó tạo ra một môi trường thuận lợi về thể chế và chính sách để giúp các sinh kế được cải thiện liên tục theo thời gian
1.1.4 Khung sinh kế bền vững
Về cơ bản, các khung sinh kế bền vững đều phân tích sự tác động qua lại của 5 nhóm yếu tố ảnh hưởng đến sinh kế là: (i) nguồn lực sinh kế; (ii) hoạt động sinh kế, (iii) kết quả sinh kế, (iv) thể chế và chính sách, và (v) bối cảnh bên ngoài Ý tưởng
chung của các khung sinh kế bền vững là: các hộ gia đình, dựa vào các nguồn lực sinh kế hiện có (bao gồm nguồn lực con người, tự nhiên, tài chính, vật chất, xã hội) trong bối cảnh thể chế và chính sách nhất định ở địa phương, sẽ thực hiện các hoạt động sinh kế (như sản xuất nông nghiệp, đánh bắt, nuôi trồng, du lịch, đa dạng hóa các loại hình sinh kế, di dân ) nhằm đạt được các kết quả sinh kế bền vững (như tạo
thêm việc làm, tăng thu nhập, giảm rủi ro và khả năng bị tổn thương, cải thiện an ninh
Trang 7lương thực, sử dụng bền vững hơn các nguồn tài nguyên ) dưới sự tác động của bối cảnh bên ngoài (các cú sốc, các xu hướng và tính mùa vụ) Cụ thể hơn, việc phân tích
khung sinh kế bền vững sẽ giúp trả lời câu hỏi: nguồn lực sinh kế nào, hoạt động sinh
kế nào, thể chế-chính sách nào là quan trọng để đạt được sinh kế bền vững cho các nhóm đối tượng khác nhau
1.2 Sinh kế bền vững và biến đổi khí hậu
1.2.1 Tổng quan về biến đổi khí hậu
Theo Điều 1, điểm 2 của Công ước khung của Liên Hiệp Quốc về Biến đổi Khí hậu (UNFCCC) năm 1992, BĐKH là sự biến đổi của khí hậu do hoạt động của con người gây ra một cách trực tiếp hoặc gián tiếp làm thay đổi thành phần của khí quyển toàn cầu và do sự biến động tự nhiên của khí hậu quan sát được trong những thời kỳ có thể so sánh được Bộ Tài nguyên và Môi trường định nghĩa BĐKH “là sự biến đổi trạng thái của khí hậu so với trung bình và/hoặc sự dao động của khí hậu duy trì trong một khoảng thời gian dài, thường là vài thập kỷ hoặc dài hơn”
Các biểu hiện của BĐKH bao gồm:
Nhiệt độ trung bình toàn cầu tăng lên,
Sự dâng cao mực nước biển do giãn nở vì nhiệt và băng tan,
Sự thay đổi thành phần và chất lượng khí quyển,
Sự di chuyển của các đới khí hậu trên các vùng khác nhau của trái đất,
Sự thay đổi cường độ hoạt động của quá trình hoàn lưu khí quyển, chu trình tuần hoàn nước trong tự nhiên và các chu trình sinh địa hoá khác, và
Sự thay đổi năng suất sinh học của các hệ sinh thái, chất lượng và thành phần của thuỷ quyển, sinh quyển, và địa quyển
Khí hậu bị biến đổi do 2 nhóm nguyên nhân: Nhóm nguyên nhân khách quan (do sự biến đổi của tự nhiên) và Nhóm nguyên nhân chủ quan (do sự tác động của con người)
Cuộc chiến chống BĐKH toàn cầu đòi hỏi những hành động khẩn cấp trên phạm vi toàn cầu cả trên phương diện thích ứng với BĐKH lẫn giảm thiểu BĐKH Giảm thiểu BĐKH là các hoạt động nhằm làm giảm mức độ hoặc cường độ phát thải khí nhà kính Thích ứng với BĐKH là sự điều chỉnh hệ thống tự nhiên hoặc con người đối với hoàn cảnh hoặc môi trường thay đổi nhằm mục đích làm giảm khả năng bị tổn thương do dao động hoặc BĐKH hiện hữu hoặc tiềm tàng và tận dụng các
cơ hội do nó mang lại
1.2.2 Gắn kết khung sinh kế bền vững và biến đổi khí hậu
Khi xem xét các tác động hiện tại và tương lai của BĐKH, có thể nhận thấy,
BĐKH là một yếu tố chủ chốt liên quan đến khả năng bị tổn thương của sinh kế
Trước hết, BĐKH gây ảnh hưởng đến các nguồn lực sinh kế, đặc biệt là các nguồn lực tự nhiên (như đất, nước, tài nguyên thủy sản) và các nguồn lực vật chất (như đường sá, hệ thống thủy lợi, mạng lưới điện) nhạy cảm với sự biến đổi của khí hậu Khi các nguồn lực sinh kế bị tổn thương trước tác động của BĐKH, các hoạt động sinh kế được thực hiện sẽ bị ảnh hưởng Hoạt động sinh kế bị ảnh hưởng bởi BĐKH
sẽ ảnh hưởng đến các kết quả sinh kế đạt được Trong bối cảnh BĐKH ngày càng trở nên phức tạp cả ở hiện tại và tương lai, các sinh kế được đánh giá không chỉ dựa vào việc các sinh kế này có bền vững trên 4 phương diện: kinh tế, xã hội, môi trường và
Trang 8thể chế hay không mà còn dựa vào việc các sinh kế này có thể thích ứng với BĐKH hay không Chính vì vậy, gắn kết khung sinh kế bền vững với yếu tố BĐKH sẽ giúp
xây dựng các sinh kế bền vững và thích ứng với BĐKH Đây là một nhu cấp cấp bách
hiện nay trong bối cảnh khí hậu ngày càng biến đổi bất thường và gây ảnh hưởng
nghiêm trọng lên sinh kế của người dân, đặc biệt là người dân ven biển
1.3 Sinh kế bền vững vùng ven biển trong bối cảnh biến đổi khí hậu
1.3.1 Tác động của biến đổi khí hậu đối với vùng ven biển
BĐKH sẽ gây ảnh hưởng lên vùng ven biển trên 2 phương diện: hệ sinh thái ven biển và các hoạt động kinh tế-xã hội của con người Các hệ sinh thái ven biển là những hệ sinh thái có tính đa dạng sinh học cao và có những chức năng sinh thái quan trọng đối với con người BĐKH sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe, chức năng và năng suất của các hệ sinh thái ven biển Khi những chức năng sinh thái này bị suy giảm, các hệ sinh thái ven biển trở nên bị suy yếu và ít có khả năng phục hồi trước những tác động ngày càng tăng của BĐKH Sự suy giảm các chức năng sinh thái của các hệ sinh thái biển sẽ gây ra những ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe, các hoạt động kinh tế-xã hội và phúc lợi của hàng tỷ người dân ven biển sống phụ thuộc nhiều vào các hàng hóa và dịch vụ mà các hệ sinh thái này cung cấp Nhìn chung, hầu hết các hoạt động kinh tế-xã hội của con người đều chịu ảnh hưởng bởi BĐKH
1.3.2 Khả năng bị tổn thương của sinh kế ven biển trước tác động của biến đổi khí hậu
Trong bối cảnh BĐKH, khả năng bị tổn thương là “mức độ mà một hệ thống (tự nhiên, kinh tế, xã hội) có thể bị tổn thương do BĐKH, hoặc không có khả năng thích ứng trước những tác động bất lợi của BĐKH” Khả năng bị tổn thương của con người trước tác động của BĐKH phụ thuộc vào 4 yếu tố sau: (i) bản chất và độ lớn của BĐKH, (ii) mức độ phụ thuộc của con người vào các nguồn lực nhạy cảm với BĐKH, (iii) mức độ nhạy cảm của các nguồn lực này trước tác động của BĐKH, và (iv) năng lực thích ứng của con người trước những thay đổi của các nguồn lực nhạy cảm với BĐKH
BĐKH gây tổn thương lên các nguồn tài nguyên thiên nhiên nhạy cảm với khí hậu là đất và nguồn nước Ngoài ra, BĐKH cũng gây ra những ảnh hưởng lên nguồn lực vật chất như cơ sở hạ tầng Những tác động của BĐKH lên những nguồn lực sinh
kế này sẽ làm ảnh hưởng đến việc lựa chọn các hoạt động sinh kế và đạt được các kết quả sinh kế của các hộ gia đình Nhìn chung, BĐKH gây ảnh hưởng đến sinh kế vùng ven biển trên một số sinh kế chính như sản xuất nông nghiệp, đánh bắt và nuôi trồng thủy sản Khi các sinh kế hiện tại bị tổn thương trước tác động của BĐKH, người dân
sẽ phải nỗ lực tiến hành các hoạt động thích ứng trước sự thay đổi này Chính vì vậy, tăng cường năng lực của các cộng đồng ven biển bị tác động bởi BĐKH sẽ giúp họ thích ứng thành công với trước tác động của BĐKH
1.3.3 Năng lực thích ứng của sinh kế ven biển trước tác động của biến đổi khí hậu
IPCC định nghĩa năng lực thích ứng là “khả năng tự điều chỉnh của một hệ thống trước sự biến đổi của khí hậu để làm giảm nhẹ các thiệt hại tiềm tàng, tận dụng các cơ hội, hoặc đương đầu với các hậu quả” Theo Bộ Tài nguyên và Môi trường, năng lực thích ứng với BĐKH là “sự điều chỉnh của hệ thống tự nhiên hoặc con người đối với hoàn cảnh hoặc môi trường thay đổi nhằm làm giảm khả năng bị tổn thương do dao động và biến đổi của khí hậu hiện hữu hoặc tiềm tàng và tận dụng các
cơ hội do nó mang lại” USAID cho rằng năng lực thích ứng với BĐKH là “năng lực
Trang 9của xã hội để thay đổi theo cách làm cho xã hội được trang bị tốt hơn để có thể quản
lý những rủi ro hoặc nhạy cảm từ những ảnh hưởng của BĐKH”
Năng lực thích ứng được thể hiện thông qua các hoạt động thích ứng nhằm làm giảm khả năng bị tổn thương Nhìn chung, các hoạt động thích ứng được phân chia thành cấp độ sau:
Nếu dựa vào thời điểm thực hiện các hoạt động thích ứng: thích ứng mang tính phòng ngừa và thích ứng mang tính đối phó
Nếu dựa vào sự cân nhắc về chính sách khi thực hiện các hoạt động thích ứng: thích ứng bị động và thích ứng chủ động
Nếu dựa vào chủ thể thực hiện các hoạt động thích ứng: thích ứng của khu vực
tư nhân và thích ứng của khu vực công
Trong bối cảnh BĐKH, hoạt động thích ứng về sinh kế của các hộ gia đình được phân chia thành 2 cấp độ Thứ nhất là thích ứng bị động - là những sự điều chỉnh về sinh kế tạm thời và mang tính ngắn hạn Thứ hai là thích ứng chủ động - là những điều chỉnh về sinh kế được lập kế hoạch, có tính chiến lược và mang tính dài hạn với sự hỗ trợ về chính sách của chính quyền địa phương Các hoạt động thích ứng về sinh kế trước tác động của BĐKH bao gồm: (i) các hoạt động mà bản thân hộ gia đình thực hiện, (ii) các biện pháp được chính phủ lập kế hoạch và hỗ trợ, và (iii) các biện pháp hỗ trợ của các tổ chức khác
1.3.4 Hỗ trợ sinh kế để thích ứng với biến đổi khí hậu
1.3.4.1 Hỗ trợ nhằm cải thiện các nguồn lực sinh kế
Cải thiện nguồn lực tự nhiên
Cải thiện nguồn lực vật chất
Cải thiện nguồn lực tài chính
Cải thiện nguồn lực con người
Cải thiện nguồn lực xã hội
1.3.4.2 Tạo dựng môi trường thuận lợi về thể chế và chính sách: Lồng ghép thích ứng với BĐKH vào quá trình lập kế hoạch phát triển
Lồng ghép BĐKH vào các chính sách chung cấp quốc gia hoặc khu vực
Lồng ghép BĐKH vào các khoản đầu tư và dự án theo ngành
Lồng ghép BĐKH vào các sáng kiến cụ thể tại địa phương
CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Giả thuyết nghiên cứu
(1) BĐKH xảy ra càng thường xuyên thì nguồn lực sinh kế bị ảnh hưởng càng lớn (quan hệ cùng chiều)
(2) Khi nguồn lực sinh kế bị ảnh hưởng càng lớn thì hoạt động sinh kế bị ảnh hưởng càng lớn (quan hệ cùng chiều)
(3) Khi hoạt động sinh kế bị ảnh hưởng càng lớn thì thu nhập từ hoạt động sinh kế đó bị ảnh hưởng càng lớn (quan hệ cùng chiều)
Trang 10(4) Khi các sinh kế bị tổn thương trước tác động của BĐKH, các hộ gia đình thường có những điều chỉnh (thích ứng) đối với các hoạt động sinh kế phụ thuộc vào năng lực thích ứng của họ và có thể được phân chia thành 2 cấp độ: thích ứng bị động
và thích ứng chủ động
(5) Để tăng cường năng cường thích ứng về sinh kế của hộ gia đình trước tác động của BĐKH trong dài hạn, rất cần các biện pháp hỗ trợ của nhà nước nhằm giúp các hộ gia đình chuyển từ thích ứng bị động sang thích ứng chủ động
2.2 Khung phân tích
HIỆN TRẠNG SINH KẾ HỘ GIA ĐÌNH VEN BIỂN
Tác động lên các hệ sinh thái ven biển
Tác động lên các hoạt động kinh tế-xã hội của con người
KHẢ NĂNG BỊ TỔN THƯƠNG CỦA SINH KẾ HỘ GIA ĐÌNH VEN BIỂN TRƯỚC TÁC ĐỘNG CỦA BĐKH
BĐKH Nguồn lực sinh kế Hoạt động sinh kế Kết quả sinh kế
NĂNG LỰC THÍCH ỨNG CỦA SINH KẾ HỘ GIA ĐÌNH VEN BIỂN TRƯỚC TÁC ĐỘNG CỦA BĐKH
Nguồn dữ liệu này được thu thập từ 5 nguồn chính sau:
* Niên giám thống kê
Niên giám thống kê cấp tỉnh (bao gồm 4 tỉnh ven biển của vùng ĐBSH là Hải Phòng, Thái Bình, Nam Định và Ninh Bình)
Niên giám thống kê cấp huyện (bao gồm 3 huyện ven biển của tỉnh Nam Định
là Giao Thủy, Hải Hậu và Nghĩa Hưng)
Trang 11* Khảo sát mức sống dân cư Việt Nam (VHLSS)
Luận án khai thác số liệu thô về sinh kế hộ gia đình của 4 tỉnh ven biển ĐBSH: Hải Phòng, Thái Bình, Nam Định và Ninh Bình từ bộ số liệu khảo sát mức sống dân
cư Việt Nam của 5 cuộc điều tra vào các năm 2002, 2004, 2006, 2008, 2010 sử dụng phần mềm STATA
* Tổng điều tra nông nghiệp, nông thôn và thủy sản
Luận án sử dụng một số thông tin về hộ nông nghiệp, thuỷ sản từ Tổng điều tra năm 2006 (do các thông tin của Tổng điều tra năm 2011 chưa được công bố)
* Điều tra lao động và việc làm
Luận án khai thác số liệu từ các cuộc điều tra lao động và việc làm của Tổng cục thống kê trong 5 năm gần đây để thu thập thông tin về tình hình lao động và việc làm ở 4 tỉnh ven biển ĐBSH
* Các báo cáo, nghiên cứu của các tổ chức và cá nhân
Các nghiên cứu, báo cáo của các cá nhân và tổ chức (bao gồm Bộ Tài nguyên
và Môi trường, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Tài nguyên và Môi trường Nam Định) cũng được sử dụng để có góc nhìn đa chiều về vấn đề nghiên cứu
2.3.2 Dữ liệu sơ cấp
2.3.2.1 Lý do lựa chọn tỉnh Nam Định làm nghiên cứu điển hình
Thứ nhất, theo nghiên cứu của Jeremy Carew-Reid (2008), Nam Định là một
trong 4 tỉnh bị ảnh hưởng nhiều nhất bởi BĐKH tại vùng ven biển ĐBSH, đặc biệt về diện tích đất, số người bị ảnh hưởng và số người nghèo bị ảnh hưởng
Thứ hai, cơ cấu kinh tế ngành của tỉnh Nam Định mang đặc thù của sinh kế
ven biển với tỷ trọng của ngành nông-lâm-thuỷ sản tương đối cao trong GDP (chiếm bình quân 33% trong giai đoạn 2001-2011)
Thứ ba, lực lượng lao động hoạt động trong lĩnh vực nông-lâm-thuỷ sản - một
lĩnh vực nhạy cảm trước tác động của BĐKH - của tỉnh Nam Định là lớn nhất trong vùng ven biển ĐBSH (chiếm tỷ trọng 68,3% trong giai đoạn 2005- 2011)
Thứ tư, với 77% lực lượng lao động và đóng góp khoảng 60% vào giá trị GDP,
ngành nông-lâm-thuỷ sản đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế của 3 huyện ven biển của tỉnh Nam Định Tuy nhiên, đây lại là lĩnh vực dễ bị tổn thương
nhất trước tác động của BĐKH
Thứ năm, VGQ Xuân Thủy thuộc huyện Giao Thủy - với diện tích 15.000 ha
nằm ở khu vực nơi sông Hồng đổ ra biển tại cửa Ba Lạt - là nơi có hệ sinh thái rừng ngập mặn đặc thù của vùng ven biển ĐBSH với tính đa dạng sinh học cao và sinh kế của nhiều hộ gia đình phụ thuộc vào tính đa dạng sinh học của VQG này Tuy nhiên, đây cũng là khu vực có mức độ nhạy cảm cao trước tác động của BĐKH
2.3.2.2 Phương pháp thu thập thông tin
Điều tra khảo sát đã được thực hiện tại cả 3 huyện ven biển của tỉnh Nam Định
là Giao Thuỷ, Hải Hậu và Nghĩa Hưng Tại mỗi huyện, 2-3 xã ven biển được lựa chọn để điều tra dựa trên 2 tiêu chí sau: (i) là xã nông nghiệp ven biển có các sinh kế chính là nông nghiệp (trồng trọt, chăn nuôi, làm muối) và thuỷ sản (đánh bắt và nuôi trồng), (ii) là các xã đang phải hứng chịu những tác động ngày càng tăng của BĐKH
Trang 12gây ảnh hưởng đến các hoạt động nông nghiệp và thủy sản Dựa trên các tiêu chí trên,
7 xã đã được lựa chọn điều tra là: xã Giao Thiện và Giao Xuân (huyện Giao Thủy);
xã Hải Đông và Hải Lý (huyện Hải Hậu); xã Nghĩa Thắng, Nghĩa Phúc và Nam Điền (huyện Nghĩa Hưng)
Các thông tin sử dụng cho các phân tích và đánh giá được thu thập từ 2 nhóm đối tượng chính: (i) cán bộ lãnh đạo xã và cán bộ làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp và thuỷ sản của xã và (ii) các hộ gia đình đại diện cho các nhóm sinh kế chính
ở địa phương bị tác động bởi BĐKH, bao gồm các hộ trồng trọt, chăn nuôi, làm muối, đánh bắt thuỷ sản, và nuôi trồng thủy sản
Quá trình thu thập thông tin sơ cấp được thực hiện qua 2 bước:
* Bước 1: Thu thập thông tin định tính
- Phỏng vấn sâu cá nhân: tại mỗi xã, 05 cuộc phỏng vấn sâu cá nhân đã được thực hiện đại diện cho 5 nhóm sinh kế chính ở địa phương Đối với 7 xã được lựa chọn, đã có 35 cuộc phỏng vấn sâu cá nhân được thực hiện
- Thảo luận nhóm: tại mỗi xã, 02 cuộc thảo luận nhóm đã được thực hiện Như vậy, 14 cuộc thảo luận nhóm đã được thực hiện
* Bước 2: Thu thập thông tin định lượng
Dựa trên các thông tin định tính thu thập được, bảng hỏi hộ gia đình đã được xây dựng nhằm thu thập các thông tin định lượng ở cấp hộ gia đình Một cuộc khảo sát hộ gia đình tại 3 huyện ven biển của tỉnh Nam Định đã được thực hiện vào tháng
12/2012 Tổng số hộ gia đình được điều tra là 385 hộ, trong đó 298 hộ có ngành sản
xuất chính là nông nghiệp và 87 hộ có ngành sản xuất chính là thuỷ sản Tuy nhiên, sau khi kiểm tra thông tin thu thập được trên các phiếu điều tra và loại bỏ các phiếu điều tra chưa đầy đủ thông tin hoặc trùng lặp thông tin, số phiếu hợp lệ phục vụ cho
phân tích chỉ còn 286 phiếu
2.4 Phương pháp phân tích dữ liệu
2.4.1 Mục tiêu nghiên cứu 1: Phân tích hiện trạng sinh kế hộ gia đình ven biển ĐBSH
Sử dụng khung lý thuyết về sinh kế hộ gia đình, nguồn số liệu từ VHLSS (2002, 2004, 2006, 2008, 2010) của 4 tỉnh: Hải Phòng, Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình và áp dụng phương pháp phân tích thống kê, mô tả và so sánh, hiện trạng sinh
kế hộ gia đình được phân tích trên các nội dung chính sau: (i) Các nguồn lực sinh kế
cơ bản; (ii) Các hoạt động sinh kế cơ bản; (iii) Các kết quả sinh kế; (iv) Thể chế và chính sách phát triển kinh tế-xã hội, (v) Bối cảnh bên ngoài
2.4.2 Mục tiêu nghiên cứu 2: Nhận diện những ảnh hưởng của BĐKH đối với vùng ven biển ĐBSH
Sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp, chủ yếu từ các báo cáo và nghiên cứu đã có (của Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Lao động Thương Binh Xã hội, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, các tổ chức quốc tế, các cá nhân) và áp dụng phương pháp phân tích thống kê và mô tả, những ảnh hưởng chính của BĐKH đối với vùng ven biển ĐBSH được xem xét trên các khía cạnh: nước biển dâng, xâm nhập mặn, và các hiện tượng thời tiết cực đoan (bão, lũ lụt, hạn hán)