1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

TÀI LIỆU THAM KHẢO xây DỰNG mô HÌNH tổ CHỨC kế TOÁN QUẢN TRỊ ở các DOANH NGHIỆP sản XUẤT KINH DOANH nước TA TRONG điều KIỆN KINH tế THỊ TRƯỜNG

132 460 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 132
Dung lượng 753 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kế toán quản trị (KTQT) là một bộ phận của hệ thống kế toán, nó ra đời trong điều kiện nền kinh tế thị trường, KTQT được coi là loại kế toán dành riêng cho những người làm công tác quản lý kinh doanh, phục vụ cho các nhà quản trị ra các quyết định kinh doanh. Trong điều kiện kinh tế thị trường, để đưa ra quyết định kinh doanh, các nhà quản lý doanh nghiệp không thể chỉ dựa vào các thông tin quá khứ, mà còn phải dựa vào các thông tin liên quan đến tương lai, để phân tích các tình huống, các phương án kinh doanh và lựa chọn phương án kinh doanh có hiệu quả nhất. KTQT sẽ giúp cho các nhà quản trị trong doanh nghiệp thu thập và phân tích các thông tin cần thiết liên quan đến các tình huống, các phương án kinh doanh trong quá trình lựa chọn ra quyết định.

Trang 1

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu

- Kế toán quản trị (KTQT) là một bộ phận của hệ thống kế toán, nó rađời trong điều kiện nền kinh tế thị trường, KTQT được coi là loại kế toándành riêng cho những người làm công tác quản lý kinh doanh, phục vụ chocác nhà quản trị ra các quyết định kinh doanh

- Trong điều kiện kinh tế thị trường, để đưa ra quyết định kinh doanh,các nhà quản lý doanh nghiệp không thể chỉ dựa vào các thông tin quá khứ,

mà còn phải dựa vào các thông tin liên quan đến tương lai, để phân tích cáctình huống, các phương án kinh doanh và lựa chọn phương án kinh doanh cóhiệu quả nhất KTQT sẽ giúp cho các nhà quản trị trong doanh nghiệp thuthập và phân tích các thông tin cần thiết liên quan đến các tình huống, cácphương án kinh doanh trong quá trình lựa chọn ra quyết định

- KTQT rất phát triển ở các nước có nền kinh tế thị trường phát triển,

ở Việt Nam KTQT cũng đã được đề cập đến trong định hướng phát triển hệthống kế toán Việt Nam từ năm 1995, đặc biệt trong chiến lược phát triển hệthống kế toán Việt Nam 2000-2010 đã xây dựng cụ thể chương trình pháttriển công tác KTQT ở các doanh nghiệp

- Tuy nhiên sự quan tâm đến KTQT ở góc độ vĩ mô cũng mới là địnhhướng chiến lược; còn đối với các nhà nghiên cứu, các trường Đại học chuyênngành đã quan tâm rất nhiều về lý luận và tính ứng dụng KTQT đối với cácdoanh nghiệp Mặt khác thực tế các doanh nghiệp, nhất là các DNNN hiệnnay còn rất bỡ ngỡ và chưa thực sự quan tâm đến KTQT

- Do các lý do nêu trên, đề tài: "Xây dựng mô hình tổ chức KTQT ở các DNSXKD trong điều kiện kinh tế thị trường ở nước ta" là một đề tài

hết sức cần thiết hiện nay Đề tài góp phần bổ sung thêm những vấn đề lý luận

về KTQT, tăng cường tính ứng dụng của KTQT đối với các DN, góp phầnphát triển công tác KTQT ở Việt Nam

Trang 2

2 Mục đích nghiên cứu của đề tài

- Nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về nội dung KTQT và tổchức công tác KTQT trong doanh nghiệp, góp phần làm sáng tỏ hơn một sốvấn đề lý luận về nội dung KTQT và tổ chức công tác KTQT trong doanh nghiệp

- Tìm hiểu và đánh giá thực trạng về vận dụng và tổ chức KTQT ở các

DN hiện nay

- Đề xuất mô hình tổ chức KTQT ở doanh nghiệp SXKD

- Cung cấp thêm tài liệu phục vụ cho công tác nghiên cứu và học tậpcủa Trường

3 Đối tượng và phạm vi đề tài nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu các vấn đề chủ yếu sau:

- Nội dung tổ chức KTQT trong các doanh nghiệp SXKD

- Tổ chức bộ máy kế toán để thu nhập, xử lý và cung cấp thông tinKTQT trong các doanh nghiệp SXKD

4 Nội dung của đề tài

Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài gồm 3 chương

- Chương 1: Lý luận cơ bản về KTQT trong các doanh nghiệp

- Chương 2: Thực trạng về vận dụng và tổ chức KTQT ở các DN hiệnnay

- Chương 3: Phương hướng xây dựng mô hình tổ chức KTQT ở cácDNSXKD trong điều kiện kinh tế thị trường ở nước ta

Trang 3

Chương I

LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ VÀ TỔ CHỨC

KẾ TOÁN QUẢN TRỊ TRONG CÁC DOANH NGHIỆP

1.1 Khái quát chung về kế toán quản trị

1.1.1 Khái niệm kế toán quản trị (KTQT)

Kế toán là nhu cầu tất yếu khách quan, là công cụ không thể thiếuđược để phục vụ quản lý kinh tế, đặc biệt trong nền kinh tế sản xuất hàng hóa

Chức năng của kế toán là cung cấp thông tin cần thiết về tình hình và

sự vận động của tài sản trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của cácdoanh nghiệp (tổ chức) cho các đối tượng sử dụng thông tin với các mục đích

sử dụng khác nhau ra được các quyết định phù hợp

Đối tượng sử dụng thông tin kế toán của một doanh nghiệp rất đadạng: các nhà quản trị doanh nghiệp, các chủ đầu tư, các chủ nợ, các cơ quanquản lý chức năng của Nhà nước

Các nhà quản trị các cấp trong doanh nghiệp sử dụng thông tin kế toán

để điều hành, quản lý hoạt động của doanh nghiệp, đề ra được các quyết địnhquản lý phục vụ cho việc điều hành, quản lý hoạt động sản xuất kinh doanhcủa doanh nghiệp phù hợp với yêu cầu của các nhà quản trị doanh nghiệp

Các chủ đầu tư, chủ nợ sử dụng thông tin kế toán để ra được các quyếtđịnh đầu tư, quyết định cho vay một cách đúng đắn với mục đích đầu tư, chovay của họ

Các cơ quan quản lý chức năng của Nhà nước sử dụng thông tin kếtoán của doanh nghiệp để kiểm tra, giám sát hoạt động của các doanh nghiệp,việc thực hiện, chấp hành các chính sách chế độ quản lý kinh tế - tài chính nóichung, chế độ thể lệ, quy định về kế toán nói riêng, phục vụ cho việc điềuhành và quản lý nền kinh tế quốc dân

Trang 4

Như vậy do mục đích sử dụng thông tin của các đối tượng sử dụngkhác nhau, nên thông tin do kế toán cung cấp cũng rất đa dạng và khác nhau,khác nhau về nội dung, phạm vi, về mức độ, tính chất, thời gian cung cấp kể

cả về mặt giá trị pháp lý của thông tin Sự khác nhau đó là tiêu thức để chia kếtoán doanh nghiệp thành các loại kế toán khác nhau: kế toán tài chính, kế toánquản trị, kế toán tổng hợp, kế toán chi tiết

Hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp bao gồm nhiều quátrình, nhiều hoạt động khác nhau Đề điều hành và quản lý một cách có hiệuquả, các nhà quản trị các cấp trong doanh nghiệp phải có được thông tin vềtình hình và kết quả hoạt động của từng quá trình, từng hoạt động và toàn bộhoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Trên cơ sở thông tin do kếtoán cung cấp về tình hình và kết quả hoạt động các nhà quản trị doanhnghiệp tiến hành kiểm tra, phân tích thông tin để đánh giá hoạt động từ đó lập

kế hoạch cho kỳ hoạt động tiếp theo Qua đó ta thấy thông tin do kế toán cungcấp được các nhà quản trị doanh nghiệp sử dụng cho hoạt động quản lý, nóluôn gắn liền với việc ra quyết định quản lý, với các chức năng quản lý củadoanh nghiệp

Quá trình hoạt động của doanh nghiệp cũng chính là quá trình bỏ chiphí để tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh

Thông qua các chức năng quản lý mà các nhà quản trị doanh nghiệpkiểm tra, giám sát việc sử dụng chi phí (tiêu dùng nguồn lực), tính toán hiệuquả của việc bỏ chi phí - hiệu quả sản xuất kinh doanh Các doanh nghiệp cóthể hoạt động ở các phạm vi, lĩnh vực khác nhau, xong việc bỏ chi phí củadoanh nghiệp luôn luôn gắn liền với các quá trình cung ứng: mua sắm nguyênvật liệu, vật tư, hàng hóa, mua sắm, xây dựng tài sản cố định, tuyển dụng laođộng; quá trình sản xuất chế tạo sản phẩm, thực hiện lao vụ, dịch vụ; quá trìnhbán hàng, tiêu thụ sản phẩm, hàng hóa, lao vụ, dịch vụ; quá trình quản lý, cácnhà quản trị doanh nghiệp không chỉ cần những thông tin tổng hợp về tìnhhình tài sản, chi phí và kết quả toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh và cầnthiết hơn với họ là những thông tin về từng quá trình, từng loại hoạt động.Trong từng quá trình, từng hoạt động, các nhà quản trị các cấp khác nhau

Trang 5

trong doanh nghiệp lại cần có những thông tin cụ thể hơn, chi tiết hơn phùhợp với yêu cầu quản lý và việc ra quyết định Chẳng hạn như đối với quátrình sản xuất chế tạo sản phẩm các nhà quản trị doanh nghiệp cần có nhữngthông tin cụ thể, chi tiết liên quan đến nhiều quá trình nhiều hoạt động khác

để quyết định khối lượng sản phẩm sản xuất ra, để quyết định mở rộng haythu hẹp quy mô sản xuất, để tiếp tục ngừng hoạt động, để chuyển hướng sảnxuất kinh doanh Nói tóm lại, mục đích của việc điều hành, quản lý có hiệuquả sản xuất kinh doanh của các nhà quản trị doanh nghiệp là để đạt được lợinhuận tối đa với chi phí bỏ ra ít nhất Các nhà quản trị doanh nghiệp luôn nghĩrằng lợi nhuận thu được chính là kết quả của việc sử dụng hiệu quả các chiphí bỏ ra, cho nên họ luôn quan tâm đến việc kiểm soát chi phí, tính toán chiphí, lập dự toán, định mức chi phí, kiểm tra việc thực hiện các định mức, dựtoán chi phí Chính vì vậy một trong những nội dung quan trọng của quản trịdoanh nghiệp là quản lý, kiểm soát chi phí trong quá trình hoạt động sản xuấtkinh doanh Thông tin chính phục vụ cho các nhà quản trị doanh nghiệp để họ

có thể quản lý, kiểm soát được chi phí, đánh giá việc sử dụng chi phí là thôngtin do kế toán cung cấp Điều này được khẳng định là hoàn toàn đúng khinhiều người cho rằng kế toán chi phí và giá thành sản phẩm là xuất phát điểm,

là nội dung chính của kế toán quản trị Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng kế toánquản trị là một bộ phận của hệ thống kế toán doanh nghiệp, nhưng chỉ đượcthừa nhận một vài, ba thập kỷ nay, khi nền kinh tế thị trường đã thực sự pháttriển ở một số nước, khi mà yêu cầu quản lý đã cần thiết phải có sự phân chiathành yêu cầu quản lý vĩ mô và yêu cầu quản lý vi mô - yêu cầu quản trịdoanh nghiệp

Từ những điều phân tích trên có thể thấy kế toán quản trị là khoa học,

là công việc thu nhận, xử lý và cung cấp thông tin một cách chi tiết cụ thể vềtình hình và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp phù hợpvới yêu cầu quản lý của các nhà quản trị doanh nghiệp

1.1.2 Vai trò, chức năng và mục đích của kế toán quản trị

Trang 6

Kế toán quản trị là một bộ phận cấu thành của hệ thống kế toán trongdoanh nghiệp, là công cụ phục vụ cho quản trị doanh nghiệp và xuất phát từyêu cầu chất lượng của các nhà quản trị doanh nghiệp.

Vai trò quan trọng của kế toán quản trị luôn xuất phát và gắn liền vớihoạt động quản lý từ khâu lập kế hoạch đến khâu thực hiện kế hoạch, kiểm tra

và phân tích đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch, rồi lại tiếp đến khâu lập kếhoạch cho kỳ hoạt động tiếp theo Cứ như vậy các khâu công việc của hoạtđộng quản lý tạo thành một quá trình liên tục, khép kín và luôn xoay quanhviệc ra các quyết định quản lý ở từng khâu Hoạt động quản lý doanh nghiệp

có hiệu quả chỉ khi ở từng khâu của hoạt động này, các nhà quản trị ra đượccác quyết định đúng đắn, phù hợp Vậy dựa vào đâu, mà các nhà quản trị cóthể đưa ra các quyết định đúng đắn? Nguồn số liệu thông tin cung cấp choviệc ra quyết định quản lý có thể đa dạng từ các nguồn khác nhau, song nguồn

số liệu thông tin quan trọng và hữu hiệu đó chính là thông tin chi tiết và cụ thể

do kế toán quản trị (KTQT) cung cấp theo yêu cầu của các nhà quản trịdoanh nghiệp

Chức năng quan trọng của kế toán là cung cấp thông tin KTQT cóchức năng cung cấp thông tin chi tiết, cụ thể về từng loại tài sản, vốn, vềdoanh thu, chi phí và kết quả từng loại hoạt động cho các nhà quản lý làm cơ

sở cho việc ra quyết định điều hành, quản lý một cách đúng đắn, hiệu quảhoạt động của doanh nghiệp hiện đại và tương lai

Cũng cần nhận thức rằng thông tin của KTQT là thông tin không chỉ

về quá khứ, hiện tại mà cả thông tin về tương lai hoạt động của doanh nghiệp

Chức năng cung cấp thông tin của kế toán quản trị xuất phát từ bảnchất và mục đích của kế toán quản trị Sản phẩm cuối cùng của KTQT là sốliệu thông tin rất chi tiết cụ thể mà các nhà quản trị doanh nghiệp yêu cầuphục vụ cho việc ra quyết định quản lý Như vậy mục đích của kế toán quảntrị là thu nhận, xử lý và cung cấp thông tin thích hợp cho việc ra quyết địnhquản trị doanh nghiệp

Trang 7

Tóm lại, vai trò, chức năng và mục đích của KTQT luôn thể hiện, gắnliền với việc thực hiện các chức năng và mục đích của hoạt động quản lýdoanh nghiệp.

1.1.3 Kế toán quản trị và kế toán tài chính; kế toán tổng hợp và kế toán chi tiết

1.1.3.1 Kế toán quản trị và kế toán tài chính (KTTC)

Cùng với sự phát triển của khoa học quản lý nói chung, kế toán nóiriêng để đáp ứng các yêu cầu quản lý hoạt động SXKD của các doanh nghiệptrong việc cung cấp thông tin cho việc ra quyết định của các nhà quản lý ở cáccấp độ khác nhau phù hợp với mục đích sử dụng thông tin, hệ thống kế toándoanh nghiệp đã chia tách thành KTQT và KTTC

Kế toán tài chính là khoa học, thu nhận xử lý, tổng hợp thông tin vềtình hình tài sản, sự vận động tài sản trong quá trình hoạt động SXKD củadoanh nghiệp phục vụ cho việc lập hệ thống báo cáo tài chính và cung cấpthông tin cho việc ra quyết định của các đối tượng sử dụng thông tin phù hợpvới yêu cầu, chức năng quản lý và mục đích sử dụng thông tin của các đốitượng sử dụng ngoài doanh nghiệp

Kế toán quản trị là khoa học, là công việc thu nhận, xử lý và cung cấpthông tin về tình hình tài sản, sự vận động tài sản trong quá trình hoạt độngSXKD một cách chi tiết, cụ thể theo yêu cầu quản lý phục vụ cho việc raquyết định quản lý của các nhà quản trị doanh nghiệp

* Kế toán với tư cách vừa là môn khoa học xã hội vừa là một nghề ngành kỹ thuật về tổ chức quản lý do vậy cũng cần có sự nhận thức một cáchđầy đủ đối với kế toán ở góc độ là một nghề

-Do vậy ngoài những khái niệm về kế toán đã nêu trên, với tư cách làmột nghề thì kế toán là công việc tổ chức thu nhận, xử lý, hệ thống hóa vàcung cấp thông tin về toàn bộ tình hình hoạt động kinh tế tài chính của cácđơn vị phục vụ cho việc ra quyết định kinh tế của các đối tượng sử dụngthông tin, đáp ứng yêu cầu quản lý, điều hành hoạt động SXKD của đơn vị,từng ngành cũng như toàn bộ nền KTQT

Trang 8

Là một nghề, kế toán đòi hỏi những người làm công việc kế toán phải

có những kiến thức lý luận cơ bản của khoa học kinh tế, phải có trình độ,năng lực thực hành, những kỹ năng, kỹ thuật tổ chức quản lý

* Là những bộ phận cấu thành hệ thống kế toán doanh nghiệp do vậyKTQT và KTTC đều là công cụ phục vụ quản lý, luôn gắn liền và xuất phát từchức năng, mục đích của hoạt động quản lý ở những mức độ, phạm vi khácnhau Tuy nhiên, giữa KTQT và KTTC có những điểm khác nhau nhất định

Sự khác nhau giữa KTQT và KTTC thể hiện ở những mặt sau:

- Mục đích

- Đối tượng sử dụng thông tin

- Đặc điểm, tính chất thông tin

- Giá trị pháp lý của thông tin

- Thời gian cung cấp thông tin

1.1.3.2 Kế toán tổng hợp và kế toán chi tiết

Tùy thuộc vào mức độ tổng hợp hay chi tiết của việc ghi chép, phảnánh các đối tượng kế toán vào các tài khoản, sổ kế toán và báo cáo kế toán,cũng như yêu cầu quản lý đối với từng đối tượng kế toán cụ thể, kế toán chiathành kế toán tổng hợp và kế toán chi tiết

Kế toán tổng hợp là việc ghi chép,phản ánh một cách tổng hợp, kháiquát trên các TK, sổ kế toán tổng hợp và báo cáo tài chính theo chỉ tiêu giá trị

Kế toán chi tiết là việc ghi chép, phản ánh một cách chi tiết, cụ thể cácđối tượng, các nghiệp vụ cần quản lý một cách chi tiết cụ thể trên các tảikhoản, sổ kế toán chi tiết Kế toán chi tiết có thể sử dụng các loại thước đohiện vật, thước đo lao động và thước đo giá trị tùy theo yêu cầu quản lý Vậyxuất phát từ yêu cầu quản lý, chỉ một số đối tượng kế toán mới cần thiết phảighi chép, phản ánh chi tiết Điều đáng lưu ý là số liệu chi tiết của đối tượng kếtoán phản ánh trên các tài khoản, sổ kế toán chi tiết phải khớp đúng với sốliệu của đối tượng kế toán đó trên tài khoản, sổ kế toán tổng hợp

Trang 9

Như vậy giữa kế toán tổng hợp và kế toán chi tiết có mối quan hệ chặtchẽ với nhau về thời gian ghi chép phản ánh, về tính thống nhất của số liệutrên cùng cơ sở nền tảng là các chứng từ ghi chép ban đầu.

Tuy nhiên cũng cần thấy sự khác biệt giữa kế toán tổng hợp và kế toánchi tiết với kế toán quản trị, đồng thời cũng nhận thức được mối quan hệ nhấtđịnh giữa kế toán chi tiết và kế toán quản trị ở những số liệu chi tiết về nhữngđối tượng tượng kế toán cụ thể

Kế toán tổng hợp là việc ghi chép, phản ánh một cách tổng hợp, kháiquát trên các TK, sổ kế toán tổng hợp và báo cáo tài chính theo chỉ tiêu giá trị

Kế toán chi tiết là việc ghi chép, phản ánh một cách chi tiết, cụ thể cácđối tượng, các nghiệp vụ cần quản lý một cách chi tiết cụ thể trên các tàikhoản, sổ kế toán chi tiết Kế toán chi tiết có thể sử dụng các loại thước đohiện vật, thước đo lao động và thước đo giá trị tùy theo yêu cầu quản lý Vậyxuất phát từ yêu cầu quản lý, chỉ một số đối tượng kế toán mới cần thiết phảighi chép, phản ánh chi tiết Điều đáng lưu ý là số liệu chi tiết của đối tượng kếtoán phản ánh trên các tài khoản, số kế toán chi tiết phải khớp đúng với sốliệu của đối tượng kế toán đó trên tài khoản, sổ kế toán tổng hợp

Như vậy giữa kế toán tổng hợp và kế toán chi tiết có mối quan hệ chặtchẽ với nhau về thời gian ghi chép phản ánh, về tính thống nhất của số liệutrên cùng cơ sở nền tảng là các chứng từ ghi chép ban đầu

Tuy nhiên cũng cần thấy sự khác biệt giữa kế toán tổng hợp và kế toánchi tiết với kế toán quản trị, đồng thời cũng nhận thức được mối quan hệ nhấtđịnh giữa kế toán chi tiết và kế toán quản trị ở những số liệu chi tiết về nhữngđối tượng kế toán cụ thể

Mặc dù kế toán quản trị và kế toán chi tiết đều thực hiện việc ghi chépphản ánh một cách chi tiết, cụ thể về đối tượng kế toán phù hợp với yêu cầuquản lý của doanh nghiệp những phạm vi của kế toán chi tiết giới hạn ở một

số đối tượng, còn phạm vi của kế toán quản trị lại rộng hơn Ngoài ra số liệucủa kế toán quản trị không nhất thiết phải hoàn toàn phù hợp, khớp đúng với

số liệu của kế toán chi tiết hoặc kế toán tài chính

Trang 10

Tóm lại: Kế toán tài chính, kế toán quản trị, kế toán tổng hợp và kếtoán chi tiết đều là những bộ phận cấu thành của hệ thống kế toán, chúng cónội dung, phạm vi khác nhau, xong giữa chúng có mối quan hệ mật thiết vớinhau và đều cung cấp thông tin thiết thực, hữu ích cho các đối tượng sử dụngthông tin được các quyết định phù hợp với mục đích sử dụng thông tin của mình.

1.2 Sự cần thiết phải xây dựng mô hình tổ chức KTQT ở các doanh nghiệp

Từ những điều phân tích, khái quát chung về KTQT, chúng ta thấyviệc xây dựng mô hình tổ chức KTQT ở các doanh nghiệp là nhu cầu bứcbách hiện nay không chỉ ở góc độ thực tiễn mà cả về mặt lý luận Nhu cầu nàyxuất phát từ vai trò quan trọng của KTQT trong việc thu nhận, xử lý và cungcấp thông tin cho việc ra quyết định của các nhà quản trị doanh nghiệp

Về mặt lý luận, do chưa có sự khẳng định, nhận thức đúng về vai trò,bản chất, sự khác biệt giữa KTTC và KTQT, KTQT và kế toán chi tiết do vậychưa có một văn bản pháp lý nào về chế độ, thể lệ kế toán ghi nhận có mộtloại kế toán cần thiết cho quản trị doanh nghiệp - đó là KTQT

Mặc dù, thông tin KTQT cung cấp xuất phát từ yêu cầu quản lý củacác nhà quản trị doanh nghiệp và việc ghi chép kế toán quản trị có tính độclập và không hoàn toàn tuân thủ theo các nguyên tắc, chuẩn mực, văn bản quyđịnh của Nhà nước về kế toán, xong cần thiết phải có các tài liệu hướng dẫn

tổ chức KTQT cho các doanh nghiệp Hiện nay chúng ta cũng chưa có nhữngtài liệu hướng dẫn này

Cùng với sự nhận thức chưa đầy đủ ở góc độ lý luận về KTQT trênthực tế các nhà quản trị doanh nghiệp cũng không thấy rõ được vai trò củaKTQT trong công tác quản lý doanh nghiệp Có thể, có rất nhiều doanhnghiệp thực, chấp hành tốt các chính sách chế độ quản lý kinh tế tài chính nóichung, các chế độ, thể lệ kế toán do Nhà nước quy định nói riêng, thực hiệntốt các quy định về hệ thống báo cáo tài chính, xong họ không thấy được tácdụng to lớn của những thông tin phục vụ cho việc ra quyết định, để điều hành,quản lý hoạt động SXKD một cách kịp thời, hiệu quả, mà những thông tin đó

Trang 11

không phải là những thông tin trình bày trên các báo cáo tài chính Điều nàycũng có thể do sự nhận thức về yêu cầu quản lý, sự kết hợp hài hòa giữa yêucầu quản lý vĩ mô và vi mô của doanh nghiệp.

Một vấn đề quan trọng đặt ra đối với các nhà quản trị doanh nghiệp làphải xác định được mục tiêu,yêu cầu quản trị doanh nghiệp và từ mục tiêu,yêu cầu đó mà xác định những thông tin cần thiết phục vụ cho việc ra quyếtđịnh Nếu không xác định rõ được mục tiêu, yêu cầu quản trị doanh nghiệp thìviệc tổ chức KTQT để cung cấp thông tin sẽ không hiện thực ở các doanh nghiệp

Từ những vấn đề nêu trên khẳng định sự cần thiết phải xây dựng môhình tổ chức KTQT ở các doanh nghiệp với những nội dung cụ thể, để tổ chứcthu nhận, xử lý và cung cấp thông tin phục vụ cho việc ra quyết định của cácnhà quản trị doanh nghiệp

1.3 Nội dung và phạm vi của KTQT

Kế toán quản trị có nội dung và phạm vi khác với nội dung và phạm vicủa kế toán tài chính và kế toán chi tiết Xác định nội dung và phạm vi củaKTQT cần xuất phát từ mục tiêu và nhiệm vụ của kế toán quản trị ở từngdoanh nghiệp phù hợp với yêu cầu của các nhà quản trị doanh nghiệp Điềunày khẳng định nội dung cụ thể và phạm vi của KTQT ở các doanh nghiệpkhông hoàn toàn giống nhau Tuy vậy, có thể căn cứ vào yêu cầu kiểm soát,quản lý hoạt động SXKD và chức năng KTQT với quá trình và chức năng củahoạt động quản lý chúng ta có thể xác định được những nội dung khái quátcủa KTQT trong các doanh nghiệp

1.3.1 Căn cứ vào yêu cầu kiểm soát, quản lý chi phí trong các quá trình hoạt động SXKD, nội dung KTQT bao gồm

- KTQT quá trình cung ứng, sử dụng các yếu tố SXKD

+ Quá trình mua sắm, dự trữ, sử dụng đối tượng lao động

+ Quá trình mua sắm, trang bị và sử dụng tư liệu lao động

+ Quá trình tuyển dụng và sử dụng lao động

Trang 12

- KTQT quá trình sản xuất, chế tạo sản phẩm, thực hiện các công việc,lao vụ, dịch vụ.

- KTQT doanh thu bán hàng và kết quả kinh doanh

- KTQT quá trình và kết quả đầu tư tài chính

Nội dung cụ thể của KTQT đối với từng quá trình hoạt động KSKDđược các doanh nghiệp xác định thành các chỉ tiêu căn cứ vào yêu cầu quảntrị của mỗi doanh nghiệp, từ đó mà KTQT thực hiện việc thu nhận, xử lý vàcung cấp thông tin chi tiết, cụ thể theo từng chỉ tiêu phù hợp với mục đích sửdụng thông tin của các nhà quản trị doanh nghiệp

1.3.2 Căn cứ vào mối quan hệ giữa vai trò và chức năng của KTQT với quá trình và chức năng của hoạt động quản lý, nội dung của kế toán quản trị bao gồm:

- Phân loại chi phí và giá thành sản phẩm

- Thu nhận, xử lý và cung cấp thông tin phục vụ cho việc ra quyếtđịnh kinh doanh

- Phân tích thông tin, nêu ý kiến đề xuất, tư vấn cho các nhà quản trị

- Tham gia lập dự toán SXKD

1.4 Tổ chức công tác kế toán quản trị trong doanh nghiệp

1.4.1 Các nhân tố ảnh hưởng đến tổ chức công tác kế toán quản trị trong các doanh nghiệp

1.4.1.1 Ảnh hưởng của loại hình kế toán áp dụng: (Việc xây dựng các quy định kế toán nhằm đạt được mục đích xác định) đối với tổ chức công tác

Trang 13

- Kế toán kinh tế vĩ mô

- Kế toán hiện tại hóa

Trong 6 loại hình kế toán cơ bản trên, kế toán tĩnh và kế toán độngthường được coi là cốt lõi để xây dựng mô hình kế toán doanh nghiệp của cácQuốc gia trong quan hệ kết hợp với các đặc điểm của kế toán thuế và kế toán

vĩ mô

Kế toán tĩnh: Mục tiêu là kiểm tra xem tại một thời điểm nào đó việc

thực hiện các tài sản có cho phép trả nợ hay không, nguyên tắc nền tảng là

"giả thiết bị thanh lý định kỳ".

Kế toán động: Mục tiêu là đánh giá hiệu quả của một doanh nghiệp,

nguyên tắc nền tảng là đánh giá thường xuyên lợi nhuận sinh ra bởi nhữngnguồn vốn đầu tư trong doanh nghiệp trong khuôn khổ hoạt động của doanh

nghiệp, tức là: "Giả thiết doanh nghiệp hoạt động liên tục"

* Khối các nước kế toán ANGLOSAXON (Anh, Mỹ, Canada,Bulgari, Hà Lan, các nước thuộc địa cũ của Anh ở Châu Phi ) Xây dựng môhình kế toán gồm:

- Kế toán tài chính: Là kế toán động, lấy ra những dữ liệu "Đã lựachọn" để công bố công khai, tách hoàn toàn mối quan hệ giữa kế toán và thuế(Thái độ nhằm phá vỡ liên kết)

- Kế toán quản trị: là kế toán động, bí mật và tự do, thuộc nội bộdoanh nghiệp

Do đó tạo nên chế độ kế toán nhất nguyên (Nhất nguyên chính thống)

Ở đây kế toán chi phí không tách khỏi phần kế toán còn lại, kiểm soát toàn bộ

hệ thống kế toán bao gồm kế toán chi phí, tài khoản thường tổ chức theo cáchtheo dõi tiến hành sản xuất Trong trường hợp kết quả "Tài chính" (kết quảxác định theo kế toán quản trị) thì kế toán tài chính trở nên gần giống với kếtoán động (chỉ khác là kế toán tài chính tổng hợp hơn vì lý do bí mật kinhdoanh) Nếu kết quả "tài chính" không tương ứng hoàn toàn với kết quả kinhdoanh thì kế toán tài chính giống như một kiểu kế toán động pha tạp

Trang 14

* Khối các nước tổ chức kế toán theo mô hình truyền thống Pháp(Đức, Pháp, Ý, Rungri, Nhật, các nước thuộc địa Pháp ở Châu Phi ), xâydựng mô hình kế toán gồm:

- Kế toán tổng quát: Là kế toán pháp quy, chủ yếu là kế toán tĩnh, thái

độ này nhằm liên kết các quy định về kế toán và thuế (thái độ nhằm liên kết)

- Kế toán phân tích: Kế toán bí mật, phi pháp quy là kế toán động, sựđối lập giữa kế toán tổng quát và kế toán phân tích hầu như không được giải thích

Do đó tạo nên chế độ kế toán nhị nguyên (Nhị nguyên chính thống),chế độ này tách kế toán chi phí khỏi bộ phận kế toán còn lại, nếu chỉ có sốliệu của kế toán tổng quát (Kế toán tĩnh, phục vụ tính thuế) thì không thể có

số liệu về kết quả "động" của kế toán phân tích Người ta cho phép giữ bí mậtkinh doanh thể hiện ở tính "Tự do" của kế toán chi phí, còn các phần kế toáncòn lại được chuẩn hóa phục vụ cho mục đích kiểm soát thuế Công chúng chỉ

có thể biết được chi phí theo bản chất (Theo nội dung kinh tế) gắn liền kế toántổng quát, còn các chi phí theo chức năng và các loại chi phí khác gắn liền kếtoán phân tích (Kế toán động) thì không có được

Như vậy, cả kế toán quản trị của các nước kế toán ANGLOSAXON

và kế toán phân tích của khối theo kế toán truyền thống Pháp đều là kiểu kếtoán động và thuộc thẩm quyền của doanh nghiệp

Còn phần kế toán tài chính, hoặc kế toán tổng quát (Kế toán chínhthống, pháp quy) được lựa chọn theo loại hình kế toán nào là tùy thuộc vàocách thức điều tiết kinh tế mà chủ yếu là hình thức kiểm soát kinh tế của từngquốc gia Việc lựa chọn một loại hình kế toán chủ đạo sẽ ảnh hưởng đến tổchức kế toán và việc giảng dạy kế toán Việt Nam hiện nay tổ chức kế toán tàichính theo kiểu kế toán động sẽ tổ chức kế toán theo kiểu "Nhất nguyênchính thống"

1.4.1.2 Ảnh hưởng của tính chất loại hình kinh doanh, quy mô, phạm

vi hoạt động của từng doanh nghiệp đối với tổ chức công tác kế toán quản trị

- Tính chất loại hình kinh doanh là doanh nghiệp sản xuất hay doanhnghiệp thương mại, ảnh hưởng rất lớn đến tổ chức kế toán quản trị của doanh

Trang 15

nghiệp Kế toán quản trị phản ánh quá trình chi phí trong hoạt động của doanhnghiệp Do đặc điểm vận động, tuần hoàn và chu chuyển vốn của từng loạihình kinh doanh khác nhau, đối với doanh nghiệp thương mại chi phí và nhậndiện chi phí đơn giản, dễ dàng hơn, đối với doanh nghiệp sản xuất thì hoạtđộng diễn ra phức tạp hơn, phong phú hơn, lĩnh vực kế toán quản trị chi phígiá thành áp dụng cho loại hình doanh nghiệp sản xuất.

- Quy mô, phạm vi hoạt động của từng doanh nghiệp khác nhau:Những doanh nghiệp có quy mô lớn, phạm vi hoạt động rộng rãi thì toàn bộ

cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp sẽ phức tạp hơn, có thể tổ chức trên nhiềuđịa điểm ở nhiều vùng khác nhau Kế toán quản trị phản ánh mô tả hoạt độngcủa doanh nghiệp dựa trên cách thức huy động và tiêu dùng các nguồn lực.Trong trường hợp này, việc xác định các trung tâm chi phí có tính chất phứctạp khác nhau Đặc biệt trong điều kiện phân tích thông qua mô hình ABC -xác định giá chi phí trên cơ sở hoạt động Quy mô doanh nghiệp lớn, phạm vihoạt động rộng rãi đòi hỏi việc lập báo cáo bộ phận, phân tích báo cáo bộphận và đánh giá trách nhiệm của bộ phận sẽ phức tạp hơn

1.4.1.3 Ảnh hưởng của đặc điểm doanh nghiệp đối với tổ chức kế toán quản trị

Kế toán quản trị dựa trên việc mô tả cách thức hoạt động và tiêu dùngnguồn lực Như vậy, kế toán quản trị gắn liền với tổ chức và công nghệ củadoanh nghiệp Đặc biệt trong điều kiện kinh tế thị trường, thông tin kế toán lànguồn thông tin quan trọng cung cấp cho nhà quản lý, kênh thông tin đòi hỏiphải trải suốt trong nội bộ doanh nghiệp và do đó các cấp quản lý khác nhau

có thể liên lạc với nhau Kế toán quản trị cung cấp các thông tin cụ thể phục

vụ cho việc ra quyết định điều hành quá trình sản xuất kinh doanh của doanh

nghiệp, những đặc điểm sản xuất kinh doanh, tính chất của quy trình công nghệ, yêu cầu và trình độ quản lý của doanh nghiệp là những nhân tố ảnh hưởng đến tổ chức công tác kế toán quản trị trong doanh nghiệp.

a) Đặc điểm quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm

Trang 16

Nếu quy trình công nghệ sản xuất giản đơn thì toàn bộ quy trình sẽkhông thể chia nhỏ làm nhiều công đoạn, do đó chi phí sản xuất chỉ có thể tậphợp chung cho toàn bộ quy trình công nghệ sản phẩm và sẽ tính giá thành chosản phẩm đã hoàn thành ở cuối quy trình sản xuất đó.

Nếu quy trình công nghệ sản xuất phức tạp thì toàn bộ quy trình côngnghệ có thể chia nhỏ thành nhiều giai đoạn công nghệ

+ Trường hợp các giai đoạn công nghệ chế biến liên tiếp theo một quytrình nhất định, được gọi là quy trình công nghệ sản xuất phức tạp kiểu liêntục, kết thúc mỗi giai đoạn công nghệ tạo ra nửa thành phẩm, nửa thành phẩmtạo ra từ giai đoạn công nghệ trước chủ yếu chuyển giai đoạn sau tiếp tục chếbiến, tuần tự như vậy cho đến giai đoạn công nghệ cuối cùng mới tạo ra thànhphẩm Trong trường hợp này đòi hỏi phải thu nhận, xử lý và cung cấp thôngtin về chi phí sản xuất của từng giai đoạn công nghệ, ngoài chỉ tiêu giá thànhthành phẩm còn có thể cung cấp các chỉ tiêu giá thành nửa thành phẩm

+ Trường hợp các giai đoạn công nghệ được bố trí song song đồng bộvới nhau, mỗi giai đoạn công nghệ tạo ra một bộ phận, chi tiết của sản phẩm,cuối cùng mới thực hiện lắp ráp thành một sản phẩm hoàn chỉnh (thànhphẩm) Trong trường hợp này kế toán cần phải thu nhận, xử lý và cung cấpthông tin về chi phí sản xuất từng giai đoạn công nghệ, giá thành thành phẩm,ngoài ra còn có thể phải cung cấp cả chỉ tiêu giá thành của từng bộ phận, chitiết sản phẩm

Đặc điểm quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm chi phối rất lớn đếnđặc điểm và tổ chức sản xuất và quản lý kinh doanh của từng doanh nghiệp

b) Đặc điểm về tổ chức sản xuất và quản lý kinh doanh

- Về tổ chức sản xuất

Nếu địa bàn hoạt động của doanh nghiệp không phân tán thì tùy thuộcvào đặc điểm quy trình công nghệ sản xuất, có thể tổ chức sản xuất phù hợp,trường hợp quy trình công nghệ sản xuất phức tạp thì mỗi giai đoạn côngnghệ có thể được tổ chức thành một phân xưởng

Trang 17

Nếu do đặc điểm sản phẩm sản xuất, hoặc do quy mô doanh nghiệp,địa bàn hoạt động của doanh nghiệp phân tán, việc sản xuất có thể tổ chứcthành các tổ, đội, hoặc tổ chức thành các bộ phận sản xuất kinh doanh trựcthuộc.

- Trong thực tế sản xuất kinh doanh, một tổ chức doanh nghiệp có thểchia thành nhiều tổ, đội, phân xưởng sản xuất và nhiều bộ phận quản lý riêngbiệt với nhau Doanh nghiệp cần phải biết được chi phí theo từng địa điểmphát sinh Các bộ phận sản xuất và quản lý riêng biệt có quyền điều hành sựphát sinh của các chi phí, thu nhập, cũng như có quyền đánh giá kết quả trongphạm vi trách nhiệm của mình Các nhà quản trị doanh nghiệp cần dựa vào đó

áp dụng các kỹ thuật phân tích đối với từng bộ phận kế toán chịu trách nhiệm

ở mỗi trung tâm nhằm cung cấp thông tin có tác dụng giúp cho nhà quản lýkiểm soát các quá trình hoạt động

Dựa vào đặc điểm tổ chức sản xuất và quản lý kinh doanh, người taxác định chi phí, thu nhập bộ phận Theo đó cần phân tích chi phí của từng bộphận theo cách ứng xử chi phí, tách chi phí của bộ phận thành biến phí vàđịnh phí, và chúng được phân bổ riêng biệt khác nhau Đồng thời trên báo cáochi phí, thu nhập bộ phận thì định phí được chia là 2 phần: Định phí bộ phận

và định phí chung Định phí bộ phận là những khoản chi trong từng bộ phận,gắn liền với bộ phận, có thể ghi nhận và kiểm soát được, còn định phí chung

là chi phí không kiểm soát được của bộ phận Điều này nhằm tránh được sựbất hợp lý trong phân bố chi phí, cung cấp số liệu có giá trình hơn cho việclập kế hoạch và kiểm soát hoạt động của từng bộ phận, từ đó đánh giá tráchnhiệm của quản lý từng bộ phận

Hơn nữa, căn cứ vào đặc điểm tổ chức sản xuất kinh doanh và quản

lý, lập báo cáo chi phí thu nhập bộ phận, để đánh giá trách nhiệm thực hiệnlợi nhuận của từng trung tâm Đồng thời xác định chi phí và mức độ ảnhhưởng của chi phí tới các bộ phận, tùy theo yêu cầu quản lý mà xác định Giáphí theo phương pháp toàn bộ hay theo cách ứng xử của chi phí

c) Tính chất (loại hình) sản xuất sản phẩm

Trang 18

- Nếu sản xuất đơn chiếc, hoặc sản xuất hàng loạt với khối lượng nhỏtheo đơn đặt hàng của khách hàng: Loại sản phẩm này thường có giá trị cao,

có kích thước lớn, được đặt mua trước khi sản xuất Trong trường hợp nàycần thiết thu nhận, xử lý và cung cấp thông tin về chi phí sản xuất và giáthành sản phẩm của từng sản phẩm đơn chiếc, từng đơn đặt hàng đặc biệt

- Nếu sản xuất hàng loạt sản phẩm với khối lượng lớn, sản phẩm nàyđược sản xuất đại trà đồng loạt, đồng nhất, được đặt mua sau khi sản xuấttrong trường hợp này kế toán thu nhận, xử lý và cung cấp thông tin về chi phísản xuất và giá thành sản phẩm của từng công đoạn, từng bộ phận sản xuấtcũng như của toàn bộ quy trình công nghệ

Theo tính chất sản xuất sản phẩm để kế toán lựa chọn phương pháptập hợp, phân bố, phân tích chi phí và tính giá thành sản phẩm phù hợp Đốivới sản xuất đơn chiếc hoặc hàng loạt nhỏ theo đơn đặt hàng, kế toán sử dụngphương pháp tập hợp chi phí và tính giá thành theo công việc Đối với sảnxuất đại trà hàng loạt với khi lượng lớn, kế toán sử dụng phương pháp tập hợpchi phí và tính giá thành theo quá trình sản xuất

d) Yêu cầu và trình độ quản lý

Tùy thuộc vào yêu cầu hạch toán kinh tế, nhu cầu thông tin trong quản

lý cũng như trình độ hạch toán kinh tế và quản lý kinh tế của doanh nghiệp,phối hợp chuyên môn giữa các bộ phận khác nhau có liên quan cho công tácthu thập số liệu, sử dụng số liệu để cùng tham gia nhận định, đánh giá các kếtquả phân tích đạt được, từ đó làm cơ sở ra quyết định Thông tin của kế toáncần được cung cấp cho người sử dụng đúng mục đích và đối tượng, các đốitượng sử dụng thông tin theo các cấp độ quản trị khác nhau Yêu cầu và trình

độ quản lý càng cao, càng đòi hỏi phải tổ chức công tác kế toán quản trị đểcung cấp thông tin cho nhà quản trị nắm bắt kịp thời, đầy đủ mọi thông tin cụthể chi tiết, để cung cấp thông tin cho việc ra quyết định của nhà quản lý

Như vậy, xây dựng hệ thống kế toán quản trị phải phù hợp với đặcđiểm quy trình công nghệ sản xuất, đặc điểm tổ chức sản xuất và quản lý kinhdoanh, tính chất sản xuất, yêu cầu và trình độ quản lý Nhà quản trị doanh

Trang 19

nghiệp phải căn cứ vào những đặc điểm đó để xác định các thông tin cần thuthập, xử lý và cung cấp, cũng như lựa chọn phương án xây dựng hệ thống kếtoán quản trị hợp lý.

1.4.2 Nội dung tổ chức kế toán quản trị trong doanh nghiệp

1.4.2.1 Nội dung tổ chức kế toán quản trị trong nhân dân theo chức năng của kế toán quản trị

Theo chức năng của kế toán quản trị, kế toán quản trị trong doanhnghiệp được tổ chức theo các nội dung cụ thể:

- Tổ chức thu nhận thông tin

Kế toán doanh nghiệp Việt Nam từ lần cải cách 1995 đến nay cơ bảnđược thiết kế theo loại hình "Kế toán động", trong khi đó hệ thống kế toánquản trị cũng được tổ chức theo kiểu "kế toán động" Vì vậy, thu nhận thôngtin của kế toán quản trị gồm 2 bộ phận:

+ Thu nhận thông tin thực hiện quá khứ: Bộ phận thông tin này đượcthu nhận phù hợp với kế toán tài chính, thực chất được thực hiện thông qua kếtoán chi tiết, chi tiết hóa các chỉ tiêu kế toán tài chính Cho nên, khi thực hiệnnội dung này đòi hỏi phải tuân thủ những nguyên tắc, chuẩn mực cơ bản của

kế toán

+ Thu nhận thông tin tương lai: Kế toán quản trị thu nhận và cung cấpthông tin tương lai bằng cách xây dựng kế toán chi phí, giá thành, lợi nhuậnđồng thời xây dựng hệ thống định mức chi phí, dự toán chi phí sản xuất kinhdoanh, giúp cho khả năng dự toán tương lai và khả năng điều hành sản xuấtkinh doanh có hiệu quả cho nhà quản trị

- Tổ chức phân tích thông tin:

+ Tổ chức phân tích thông tin quá khứ: Căn cứ vào thông tin quá khứ

và thông tin tương lai đã thu nhập được, kế toán tiến hành so sánh phân tíchtình hình thực hiện kế hoạch, thực hiện dự toán chi phí sản xuất kinh doanh.Thông qua phân tích thông tin quá khứ, có thể xác định được từng nhân tố,nguyên nhân ảnh hưởng, từ đó nhà quản trị đưa ra những giải pháp khắc phục

Trang 20

những tồn tại, khai thác khả năng tiềm tàng để sử dụng các nguồn lực củadoanh nghiệp hiệu quả hơn.

+ Tổ chức phân tích thông tin tương lai, cung cấp thông tin để tư vấncho nhà quản trị

Kế toán quản trị đặc biệt quan tâm tới phân tích mối quan hệ chi phí khối lượng - lợi nhuận, phân tích điểm hòa vốn, phục vụ cho ra quyết địnhngắn hạn như: Quyết định tiếp tục hay chấm dứt sản xuất kinh doanh một bộphận, quyết định tư sản xuất hay mua ngoài, quyết định bán ngay nửa thànhphẩm hay sản xuất thành phẩm rồi mới bán, quyết định trong điều kiện nănglực sản xuất kinh doanh bị giới hạn, quyết định chấp nhận một đơn đặt hànghay không

-Bên cạnh đó, kế toán còn cung cấp, phân tích thông tin bằng nhữngphương pháp nhất định để giúp nhà quản trị ra quyết định dài hạn, lựa chọn

vụ cho thu nhận, xử lý và cung cấp thông tin cho việc đánh giá tình hình thựchiện định mức, kế hoạch và dự toán cũng như phục vụ cho việc lập định mức,

kế hoạch và dự toán mới

- Tài khoản kế toán: Dựa trên hệ thống tài khoản kế toán Nhà nướcban hành, kế toán quản trị dựa trên cơ sở mục tiêu và yêu cầu quản lý chi tiếtvới từng đối tượng để mở các tài khoản chi tiết 2, cáp 3, cấp 4 để chi tiết

Trang 21

hóa các tài khoản của kế toán tài chính, từ đó tập hợp, xử lý, phân tích thôngtin một cách có hệ thống và khoa học Trên các tài khoản chi tiết phản ánh kếthợp thước đo giá trị với các thước đo khác.

- Sổ kế toán: hệ thống sổ kế toán, đặc biệt là các sổ chi tiết cần thiết kêmẫu sổ với số lượng, chủng loại, các chỉ tiêu cần phản ánh phù hợp theo yêucầu quản trị và trình độ trang bị công nghệ xử lý thông tin tại doanh nghiệp,các sổ kế toán cần phản ánh theo nhiều chỉ tiêu phù hợp với các yêu cầu quản

lý khác nhau để có thông tin hữu ích sử dụng trên báo cáo kế toán quản trị đặcthù để có thể tổng hợp theo nhiều yêu cầu khác nhau Ví dụ, các sổ kế toánphản ánh chi phí sản xuất kinh doanh vừa đảm bảo cung cấp thông tin về chiphí theo nội dung kinh tế của chi phí, hay theo công dụng của chi phí, haytheo mối quan hệ chi phí với khối lượng hoạt động, hay theo mối quan hệ chiphí với quy trình công nghệ đồng thời phục vụ cho việc lập các báo cáokiểm soát, đánh giá từng bộ phận

- Tính giá và lập báo cáo kế toán quản trị:

Kế toán quản trị cũng phải tuân thủ những nguyên tắc và trình tự tínhgiá các đối tượng trong quá trình thu nhận thông tin quá khứ như kế toán tàichính Tuy nhiên, do mục đích riêng của kế toán quản trị nên nguyên tắc vàtrình tự tính giá trong những trường hợp đặc biệt mang tính đặc thù, đặc biệtđối với chi phí - giá thành, dưới góc độ dự toán, quản lý và kiểm soát chi phíthì chi phí thường được chia thành biến phí và định phí để phân tích điểm hòavốn, phân tích mối quan hệ chi phí - khối lượng - lợi nhuận, phân tích đánhgiá báo cáo thu nhập bộ phận, đồng thời tùy theo yêu cầu và mức độ quản

lý để tính giá theo phương pháp định phí toàn bộ, hay theo biến phí, hay theobiến phí có phân bổ hợp lý định phí

Trên cơ sở toàn bộ thông tin đã tập hợp trong nội bộ doanh nghiệp,thiết lập hệ thống báo cáo kế toán nội bộ gồm các báo cáo nhanh, báo cáođịnh kỳ, báo cáo đột xuất, ngoài tổng hợp cân đối số liệu từ các sổ sách kếtoán, kế toán quản trị còn sử dụng kỹ thuật thống kê, phương pháp toán đểphân tích các chỉ tiêu thực hiện mục tiêu quản lý doanh nghiệp, giúp cho nhàquản trị ra quyết định đúng đắn, hiệu quả hơn

Trang 22

1.5 Tổ chức bộ máy kế toán

Giữa kế toán tài chính và kế toán quản trị có quan hệ chặt chẽ vớinhau Tuy nhiên, hai loại kế toán này cũng có tính độc lập tương đối Vì vậy,trong quá trình tổ chức bộ máy kế toán cần phải xuất phát từ đặc điểm cụ thểcủa doanh nghiệp để tổ chức hợp lý nắm đáp ứng được yêu cầu quản trị

Dưới đây nghiên cứu hai mô hình cụ thể

1.5.1 Mô hình kết hợp giữa kế toán tài chính và kế toán quản trị

Theo mô hình này, phòng kế toán của doanh nghiệp bao gồm các bộphận kế toán đảm nhiệm các phần hành kế toán tài chính cụ thể như:

- Bộ phận kế toán tài sản và thanh toán

- Bộ phận kế toán tiền và thanh toán

- Bộ phận kế toán chi phí và giá thành

- Bộ phận kế toán nguồn vốn, quỹ

- Bộ phận kế toán tổng hợp

Tương ứng với mỗi bộ phận của kế toán tài chính nói trên bao gồmcác phần hành kế toán quản trị Nhân viên kế toán thực hiện các công việc của

kế toán tài chính đồng thời được giao nhiệm vụ của kế toán quản trị

Công việc chủ yếu của kế toán quản trị ở các bộ phận này căn cứ vàoyêu cầu quản lý cụ thể đối với từng chỉ tiêu lựa chọn trong quản lý doanhnghiệp

Nhiệm vụ cụ thể của kế toán viên trong các bộ phận kế toán theo môhình kết hợp giữa kế toán tài chính và kế toán quản trị như sau:

a Bộ phận kế toán tài sản cố định và vật tư

- Kế toán tài chính ghi rổ kế toán tổng hợp và sổ kế toán chi tiết tàisản cố định và các loại vật tư Số liệu của kế toán tài chính cung cấp cho việclập báo cáo tài chính

- Kế toán quản trị, căn cứ vào yêu cầu quản trị doanh nghiệp, lựa chọncác chỉ tiêu chi tiết phục vụ cho yêu cầu kế toán quản trị

Trang 23

+ Mở sổ chi tiết theo dõi tài sản cố định, khấu hao tài sản cố định.

+ Lập dự toán tình hình tăng, giảm tài sản cố định theo từng nguồnvốn đầu tư, theo từng nơi sử dụng tài sản cố định

+ Lập dự toán đối với các chỉ tiêu hiệu quả sử dụng tài sản cố định,chỉ tiêu doanh thu trên tài sản cố định, chỉ tiêu lợi nhuận trên tài sản cố định

+ Phân tích tình hình thực hiện các chỉ tiêu liên quan đến TSCĐ đãđược dự toán

+ Cung cấp số liệu cho việc lập báo cáo quản trị

b) Bộ phận kế toán và thanh toán

- Kế toán tài chính ghi sổ kế toán tổng hợp và kế toán chi tiết các loạitiền, các khoản thanh toán với người bán, người mua, với NSNN, với các đơn

vị phụ thuộc

- Kế toán quản trị tiền và thanh toán căn cứ vào yêu cầu quản trị cụ thểđối với từng chỉ tiêu để mở sổ kế toán nhằm thu nhận được các thông tin phục

vụ cho kế toán quản trị và lập báo cáo quản trị

+ Lập dự toán thu, chi tiền cho mục đích khác nhau và theo từng bộphận sử dụng tiền

+ Lập kế toán dự toán tình hình công nợ đối với từng đối tượng theotừng khoản nợ, theo thời hạn nợ

- Ghi sổ chi tiết

- Lập các

dự toán

- Ghi chép

số liệu theo từng chỉ tiêu dự toán

- Phân tích

Lập báo cáo

t i chính ài (các chỉ tiêu liên quan)

Lập báo cáo quản trị (các chỉ tiêu liên quan)

Xử lý sốliệu tổng hợp

Xử lý sốliệu cụ thể

Trang 24

+ Tính toán so sánh các phương án, trả vay mua bán chịu hoặc trả tiềnngay để hưởng chiết khấu

+ Phân tích tình hình công nợ và khả năng thanh toán tiền thường xuyên.+ Cung cấp số liệu cho lập báo cáo quản trị về các chỉ tiêu công nợ vàthanh toán

c) Bộ phận kế toán chi phí và giá thành

- Kế toán tài chính ghi sổ kế toán tổng hợp và sổ kế toán chi tiết chiphí sản xuất, kinh doanh, tính giá thành sản phẩm theo loại sản phẩm Nhằmcung cấp cá số liệu tổng hợp phục vụ cho việc lập báo cáo tài chính và các chỉtiêu chi phí và giá thành

- Kế toán quản trị chi phí và giá thành căn cứ vào yêu cầu quản lý cụthể để thực hiện các công việc sau đây:

+ Lựa chọn phương pháp tập hợp chi phí, lập dự toán chi phí sản xuấtkinh doanh theo từng sản phẩm, chi tiết sản phẩm

+ Phân loại chi phí sản xuất theo tiêu chuẩn phân loại phù hợp với yêucầu quản trị

+ Lựa chọn tiêu chuẩn phân bố chi phí và tính toán phân bổ chi phícác đối tượng chịu chi phí

+ Lập kế hoạch giá thành theo công việc, theo địa điểm kinh doanh + Mở sổ kế toán thu thập, ghi chép cụ thể, chi tiết các số liệu liên quanđến tính toán giá thành sản phẩm theo yêu cầu quản trị

* Các bộ phận kế toán thuộc mô hình này có quan hệ chặt chẽ vớinhau trong việc cung cấp thông tin, số liệu phục vụ yêu cầu kế toán tài chính

và kế toán quản trị cũng như các yêu cầu quản trị của nhà quản lý Cụ thể là:

- Bộ phận kế toán vốn bằng tiền và thanh toán, cung cấp thông tin vềcác loại tiền hiện có và tình hình thanh toán công nợ theo từng chủ nợ, khảnăng thanh toán hiện hành và thanh toán nhanh Trên cơ sở đó nhà quản lýnắm chắc tình hình tài chính thực tế của doanh nghiệp Các thông tin này

Trang 25

được sử dụng để quyết định mua hàng, tài sản cố định và vật tư, đồng thờixem xét tình hình chi phí bởi các số liệu được cung cấp từ bộ phận kế toán tàisản cố định, vật tư, kế toán chi phí và giá thành sản phẩm.

- Bộ phận kế toán nguồn vốn

+ Phân tích chi phí và giá thành

+ Cung cấp số liệu cho việc lập báo cáo quản trị về các chỉ tiêu liênquan đến chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm

d) Bộ phận kế toán nguồn vốn, quỹ

- Kế toán tài chính nguồn vốn, quỹ ghi sổ kế toán tổng hợp và sổ kếtoán chi tiết nguồn vốn, các quỹ của doanh nghiệp và cung cấp số liệu tổnghợp để lập báo cáo tài chính về các chỉ tiêu này

- Kế toán quản trị nguồn vốn, quỹ căn cứ yêu cầu cụ thể về quản lýcác nguồn vốn, quỹ để mở sổ thu nhận số liệu phục vụ cho quản trị các nguồnvốn và các quỹ của doanh nghiệp

+ Lập dự toán về khả năng khai thác và sử dụng nguồn vốn quỹ

+ Tính toán các chỉ tiêu quản trị như tỷ suất tự tài trợ, tỷ suất tài trợ,chỉ tiêu doanh thu trên nguồn vốn chủ sở hữu, lợi nhuận trên nguồn vốn chủ

- Kế toán tài chính trên cơ sở tổng hợp số liệu, tài liệu từ các bộ phận

kế toán có liên quan và thực hiện ghi chép kế toán tổng hợp và chi tiết cácphần hàng kế toán tài chính còn lại để lập báo cáo tài chính

- Kế toán quản trị ở bộ phận này có nhiệm vụ thực hiện các công việccòn lại theo yêu cầu quản lý của doanh nghiệp; căn cứ số liệu, tài liệu đã thu

Trang 26

nhận được của các bộ phận kế toán quản trị khác gửi đến để lập các báo cáo

kế toán quản trị

Trong mô hình tổ chức kết hợp này, kế toán trưởng còn phải dựa vàohình thức tổ chức công tác kế toán cụ thể để bố trí, phân công, phân nhiệm rõràng đối với từng bộ phận kế toán

Mô hình này được áp dụng thuận tiện khi doanh nghiệp sử dụng hệthống tải khoản kế toán tài chính và hệ thống tài khoản kế toán Kế toán tàichính và kế toán quản trị khác nhau ở cấp độ chi tiết hóa tài khoản

* Ưu điểm cơ bản của mô hình kết hợp

Một là, kết hợp chặt chẽ giữa quản lý tổng hợp và quản lý cụ thể theo

từng chỉ tiêu

Hai là, việc phân công, phân nhiệm trong phòng kế toán thuận lợi,

đơn giản, dễ làm, tạo điều kiện quản lý chặt chẽ khối lượng công việc củanhân viên kế toán

Ba là, việc thu nhận và xử lý thông tin nhanh từ khâu thu nhận, xử lý

chứng từ, ghi sổ kế toán đến việc cung cấp số liệu

Bốn là, thuận tiện cho việc cơ giới hóa công tác kế toán

Tuy nhiên, mô hình này có một số nhược điểm sau:

- Không tạo điều kiện thuận lợi cho chuyên mốn hóa theo hai loại kếtoán tài chính và kế toán quản trị từ đó hạn chế đến quá trình quản lý nội bộ

1.5.2 Mô hình tổ chức kế toán tài chính độc lập với tổ chức kế toán quản trị

Theo mô hình này, phòng kế toán của doanh nghiệp có bộ phận kếtoán quản trị riêng, độc lập với các bộ phận của phần hành kế toán tài chính

Mọi công việc của kế toán quản trị đều được thực hiện ở bộ phận kếtoán này bao gồm:

+ Mở hệ thống sổ kế toán quản trị theo yêu cầu quản lý cụ thể đối vớitất cả các chỉ tiêu cần quản lý chi tiết, cụ thể:

Trang 27

+ Lập dự toán các chỉ tiêu theo yêu cầu quản lý và theo dõi tình hìnhthực hiện dự toán đối với từng chỉ tiêu.

+ Phân loại chi phí lựa chọn tiêu chuẩn phân bổ chi phí tính toán phân

bổ chi phí cho từng đối tượng chịu chi phí, tính giá thành theo công việc, theođịa điểm hay theo từng sản phẩm cụ thể

+ Phân tích tình hình thực hiện dự toán chi phí và cung cấp số liệu, tàiliệu cho việc lập các dự toán mới, lập báo cáo kế toán quản trị

Mô hình này thường được áp dụng trong trường hợp doanh nghiệp sửdụng hai hệ thống tài khoản kế toán khác nhau:

Hệ thống tài khoản kế toán tài chính và hệ thống tài khoản quản trị

* Ưu điểm của mô hình này là:

+ Tạo điều kiện cho chuyên môn hóa theo hai loại kế toán tài chính và

kế toán quản trị

* Nhược điểm của mô hình này là:

+ Giữa quản lý tổng hợp và quản lý cụ thể không có sự kết hợp chặt chẽ + Việc thu nhận và xử lý thông tin kế toán chậm do phải tăng thêmtrong khâu thủ tục luân chuyển chứng từ kế toán

Như vậy từ nhận thức cơ bản về KTQT vừa là khoa học, vừa là công

cụ phục vụ quản lý nhằm cung cấp thông tin cần thiết cho việc ra quyết địnhphù hợp với yêu cầu quản lý trong nội bộ doanh nghiệp đã khẳng định sự cầnthiết khách quan phải xây dựng mô hình tổ chức kế toán quản trị ở các doanhnghiệp trong điều kiện nền kinh tế thị trường

Xuất phát từ bản chất, mục đích của kế toán quản trị đã xác định đượcnội dung, phạm vi của kế toán quản trị xuất phát từ vai trò của kế toán quảntrị trong hệ thống kế toán doanh nghiệp, từ chức năng của kế toán quản trị làcung cấp thông tin phục vụ cho việc kiểm soát quản lý và điều hành hoạtđộng SXKD

Trang 28

Từ những vấn đề đã phân tích về bản chất, mục đích, chức năng và nộidung, phạm vi của kế toán quản trị cần thiết phải xác định được những nộidung tổ chức công tác kế toán quản trị và các nhân tố ảnh hưởng đến việc tổchức công tác kế toán quản trị trong các doanh nghiệp.

Những vấn đề lý luận cơ bản về kế toán quản trị và tổ chức công tác

kế toán quản trị trình bày trong chương I là tiền đề cho việc nghiên cứu thựctrạng việc vận dụng và tổ chức kế toán quản trị ở các doanh nghiệp hiện naycũng như việc đề ra phương hướng xây dựng mô hình tổ chức kế toán quản trị

ở các doanh nghiệp trong điều kiện nền kinh tế thị trường

Trang 29

Chương 2

THỰC TRẠNG TỔ CHỨC KẾ TOÁN QUẢN TRỊ Ư

Ở CÁC DOANH NGHIỆP HIỆN NAY

2.1 Quá trình ra đời kế toán quản trị ở Việt Nam

2.1.1 Hệ thống kế toán Việt Nam trước năm 1996

Hạch toán kế toán là một bộ phận cấu thành quan trọng của hệ thốngcông cụ quản lý kinh tế, tài chính, có vai trò tích cực trong việc quản lý, điềuhành và kiểm soát các hoạt động kinh tế Với tư cách là công cụ quản lý kinh

tế, tài chính, kế toán là một lĩnh vực gắn liền với hoạt động kinh tế, tài chính,đảm nhận hệ thống tổ chức thu nhận, xử lý và cung cấp thông tin có ích chocác quyết định kinh tế, đặc biệt là các quyết định kinh tế của bản thân từngdoanh nghiệp

Những năm qua cùng với quá trình phát triển kinh tế, cùng với sự đổimới sâu sắc của cơ chế kinh tế, hệ thống kế toán Việt Nam có từng bước điphù hợp với cơ chế quản lý kinh tế, phù hợp với tiến trình cải cách và đổi mớikinh tế, góp phần tích cực vào việc tăng cường và nâng cao chất lượng quản

lý tài chính quốc gia, quản lý điều hành doanh nghiệp

Ngay sau khi giành được chính quyền, Nhà nước Việt Nam đã quantâm đến công tác kế toán, thống kê, thông qua các quy định về chế độ kế toán

đã ban hành:

- Cế độ kế toán đầu tiên của Việt Nam phải kể đến đó là: "Thể lệ thuchi và kế toán đại cương" được Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa banhành ngày 25/09/1948

- Năm 1957 lần đầu tiên Nhà nước ban hành chế độ kế toán, bao gồm

27 lệnh nhật ký dùng cho các đơn vị kinh tế thuộc sở hữu Nhà nước Trongmỗi nhật ký đã kết hợp cả yêu cầu thông tin cho quản lý và yêu cầu kiểm trahoạt động tài chính Đây là dấu mốc đầu tiên thể hiện sự thống nhất và tiêu

Trang 30

chuẩn hóa công tác kế toán, phục vụ yêu cầu quản lý của doanh nghiệp và củanhà nước.

- Năm 1961: Chính phủ ra Nghị định 175 CP, nhà nước Việt Nam banhành "Điều lệ tổ chức kế toán Nhà nước"

- Năm 1963-1967 Liên bộ Tài chính - Thống kê ban hành chế độ ghichép ban đầu, chế độ kế toán và hệ thống báo cáo kế toán thống kê áp dụngcho doanh nghiệp quốc doanh theo quyết định 583LB ngày 01/01/1967

- Năm 1970 với mục đích tăng cường tính pháp lý và quyền lực củanhà nước đối với hệ thống kế toán, đảm bảo nâng cao tính thống nhất, tiêuchuẩn hóa chế độ kế toán, Nhà nước tiếp tục ban hành chế độ kế toán sửa đổi,bằng quyết định 425TC/CĐKT ngày 01/12/1970

- Năm 1988 Hội đồng nhà nước ban hành pháp lệnh kế toán - thống kê

số 06 LTC - HĐNN ngày 20/05/1988, bao gồm các chế độ kế toán áp dụngthống nhất trong nền kinh tế quốc dân cho mọi lĩnh vực và thành phần kinh tế.Thông qua chế độ kế toán này tính thống, toàn diện và tiêu chuẩn hóa của kếtoán được nâng lên đáng kể

Thời kỳ này là thời kỳ nền kinh tế nước ta thực hiện cơ chế kế hoạchhóa tập trung Vì vậy các chế độ kế toán ban hành đều tập trung trước hếtphục vụ cho yêu cầu quản lý kế hoạch hóa tập trung, hệ thống chế độ kế toándoanh nghiệp chủ yếu chú trọng đến kế toán tài chính, phục vụ cho sự quản lýthống nhất, kiểm tra và giám sát của Nhà nước, kế toán quản trị chưa thực sựphát triển bởi nhiều lý do khác nhau: do cơ chế quản lý kinh tế quyết định,doanh nghiệp chưa có quyền tự chủ tài chính, nhu cầu sử dụng thông tin nội

bộ trong doanh nghiệp chưa cao và chưa cần thiết

- Từ năm 1989 - 1995 khi nền kinh tế nước ta chuyển sang nền kinh tếthị trường theo định hướng XHCN, cơ chế quản lý kinh tế có sự thay đổi cănbản, hệ thống kế toán Việt Nam cũng đã đổi mới, cải cách đề từng bước phùhợp với nền kinh tế thị trường

Trang 31

Đầu tiên là chế độ kế toán thống nhất ban hành theo quyết định212TC/CĐKT ngày 15/12/1989 Hệ thống kế toán này được quy định áp dụngrộng rãi cho tất cả các đơn vị sản xuất kinh doanh, các thành phần kinh tế,đơn vị hành chính sự nghiệp, tổ chức xã hội.

Năm 1994: hệ thống kế toán ban hành năm 1989 vẫn chưa đáp ứngđược sự đòi hỏi của cơ chế thị trường, đến thời điểm này không còn phù hợp.Tháng 12/1994 hệ thống kế toán mới lại được Bộ Tài chính ban hành, áp dụngthử nghiệm trong một số loại hình doanh nghiệp làm cơ sở để ban hành chínhthức vào cuối năm 1995

Cùng với quá trình phát triển và đổi mới của nền kinh tế đất nước, hệthống kế toán Việt Nam trong quá trình phát triển đổi mới đã từng bước hoànchỉnh về tính đồng bộ, toàn diện, phù hợp và ngày càng nâng cao tính pháp lý

2.1.2 Hệ thống kế toán Việt Nam từ năm 1996 đến nay và sự biểu hiện của kế toán quản trị

2.1.2.1 Hệ thống kế toán Việt Nam từ năm 1996 đến nay

Nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới sâu sắc của cơ chế quản lý kinh tế, saumột năm thực tế áp dụng thử nghiệm, Bộ tài chính đã ra quyết định1141TC/CĐKT ngày 01/11/1995 ban hành chính thức hệ thống chế độ kếtoán doanh nghiệp áp dụng thống nhất trong cả nước từ 01/01/1996 cho cácdoanh nghiệp thuộc mọi lĩnh vực hoạt động, mọi thành phần kinh tế

Trong quá trình thực hiện từ năm 1996 đến nay, để chế độ kế toán phùhợp với các chính sách tài chính và các luật thuế mới ban hành, đặc biệt là cácluật thuế giá trị gia tăng, luật, thuế thu nhập doanh nghiệp, luật doanhnghiệp Bộ tài chính đã ban hành trên 10 văn bản sửa đổi bổ sung về chế độ

kế toán doanh nghiệp

- Thông tư số 10 TC/CĐKT ngày 20/01/1997 "Hướng dẫn sửa đổi, bổsung chế độ kế toán doanh nghiệp

- Thông tư số 60 TC/CĐKT ngày 01/09/1997 "Hướng dẫn thực hiệncông tác kế toán, kiểm toán đối với doanh nghiệp, tổ chức có vốn đầu tư nướcngoài tại Việt Nam"

Trang 32

- Thông tư số 180 TT/BTC ngày 26/12/1998 "Hướng dẫn bổ sung kếtoán thuế giá trị gia tăng".

- Thông tư số 186 TT/BTC ngày 28/12/1998 "Hướng dẫn kế toán thuếxuất nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt"

- Thông tư 120 TT/BTC ngày 07/10/1999 "Hướng dẫn sửa đổi bổsung chế độ kế toán doanh nghiệp"

- Thông tư 54 TT/BTC ngày 07/06/2000 "Hướng dẫn kế toán hànghóa của các cơ sở kinh doanh bán tại các đơn vị trực thuộc và xuất bản quađại lý bán đúng giá hưởng hóa hồng"

- Quyết định số 167 QĐ BTC ngày 25/10/2000 ban hành "Chế độ báocáo tài chính doanh nghiệp"

Hệ thống chế độ kế toán doanh nghiệp nhà nước ban hành

- Chế độ chứng từ kế toán doanh nghiệp

Hệ thống tài khoản kế toán

Tài khoản kế toán được dùng để ghi chép, phản ánh thường xuyên,liên tục tình hình và sự biến động của chỉ tiêu mà tài khoản phản ánh nhằm hệthống hóa thông tin kế toán theo từng chỉ tiêu Các chỉ tiêu kinh tế tài chính

mà kế toán sử dụng để hệ thống hóa thông tin bao gồm các chỉ tiêu tổng hợp

và các chỉ tiêu chi tiết cụ thể hóa các chỉ tiêu tổng hợp Tài khoản kế toán baogồm các tài khoản cấp I, cấp II, cấp III để hệ thống hóa cả các chỉ tiêu kinh

tế, tài chính tổng hợp và các chỉ tiêu kinh tế tài chính chi tiết cụ thể

Trang 33

Hệ thống tài khoản của chế độ kế toán ban hành bao gồm 74 tài khoảncấp I, 105 tài khoản cấp II và 07 tài khoản ngoài bảng, được sử dụng thốngnhất cho từng lĩnh vực trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân Mỗi đơn vị phảicăn cứ vào nội dung hoạt động của đơn vị mình để vận dụng hệ thống tàikhoản tích ứng Song để có thông tin kế toán chi tiết phục vụ yêu cầu quản lýkinh tế tài chính nội bộ, mỗi doanh nghiệp còn cần phải xây dựng danh mụccác tài khoản kế toán chi tiết cấp III, cấp IV để hệ thống hóa các chỉ tiêukinh tế, tài chính chi tiết Khả năng mở tài khoản kế toán chi tiết là vô hạn vàtùy thuộc vào từng doanh nghiệp, song phải xem xét lợi ích thu được và chiphí hạch toán bỏ ra, để giới hạn phạm vi mở tài khoản kế toán chi tiết.

* Hệ thống báo cáo tài chính

Hệ thống báo cáo tài chính được quy định bắt buộc cho doanh nghiệpbao gồm 04 biểu:

- Bảng cân đối kế toán Mẫu số B 01 DN

- Kết quả hoạt động kinh doanh Mẫu số B 02 DN

- Lưu chuyển tiền tệ Mẫu số B 03 DN

- Thuyết minh báo cáo tài chính Mẫu số B 09 DN

Hệ thống báo cáo tài chính quy định về trách nhiệm thời gian lập vàgửi báo cáo cho những nơi nhận cụ thể theo từng loại hình doanh nghiệp Nộidung, phương pháp tính toán, hình thức trình bày các chỉ tiêu trong từng báocáo được quy định áp dụng thống nhất cho các doanh nghiệp Hệ thống báocáo tài chính của doanh nghiệp được lập với mục đích

- Tổng hợp và trình bày một cách tổng quát, toàn diện tình hình tàisản, nguồn vốn, công nợ, tình hình và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanhcủa doanh nghiệp trong một kỳ kế toán

- Cung cấp các thông tin kinh tế tài chính chủ yếu cho việc đánh giátình hình và kết quả hoạt động của doanh nghiệp, đánh giá thực trạng tìnhhình tài chính trong kỳ hoạt động đã qua và những dự đoán trong tương lai

Trang 34

Ngoài các báo cáo tài chính được quy định trong chế độ kế toán, đểphục vụ yêu cầu quản lý kinh tế tài chính, yêu cầu chỉ đạo, điều hành; cácngành, tổng công ty, công ty có thể quy định thêm các báo cáo tài chính chitiết khác (báo cáo kế toán nội bộ) Số lượng báo cáo kế toán nội bộ nhiều hay

ít tùy thuộc vào những yêu cầu quản lý nội bộ, yêu cầu cung cấp thông tin kếtoán nội bộ đặt ra Nội dung thông tin cần báo cáo và kết cấu mẫu biểu báocáo kế toán nội bộ cũng rất đa dạng: thông thường gồm các loại báo cáo kếtoán nội bộ sau:

- Báo cáo kế toán nội bộ phục vụ yêu cầu quản lý tài sản ở doanh nghiệp

- Báo cáo kế toán nội bộ phục vụ yêu cầu phân cấp quản lý kinh tế tàichính nội bộ

- Báo cáo kế toán nội bộ phục vụ yêu cầu quản trị kinh doanh

* Chế độ chứng từ kế toán

Chứng từ kế toán là bằng cứ xác định nội dung nghiệp vụ kinh tế, tàichính đã phát sinh và thực sự hoàn thành theo địa điểm và thời gian phát sinhcủa chúng Hệ thống chứng từ kế toán quy định trong chế độ kế toán bao gồm

02 hệ thống: bắt buộc và hướng dẫn

- Hệ thống chứng từ kế toán thống nhất bắt buộc được nhà nước tiêuchuẩn hóa về quy cách mẫu biểu, chỉ tiêu phản ánh, phương pháp lập và ápdụng thống nhất cho tất cả các lĩnh vực, các thành phần kinh tế

- Hệ thống chứng từ kế toán hướng dẫn là những chứng từ kế toán sửdụng trong nội bộ doanh nghiệp Nhà nước chỉ hướng dẫn các chỉ tiêu đặctrưng, các doanh nghiệp vận dụng vào từng trường hợp cụ thể, phù hợp vớiđặc điểm tổ chức sản xuất kinh doanh và yêu cầu quản lý của doanh nghiệp

Hệ thống chứng từ kế toán có thể khái quát như sau:

Khái quát h th ng ch ng t k toánệ thống chứng từ kế toán ống chứng từ kế toán ứng từ kế toán ừ kế toán ế toán

Trang 35

STT Tên chỉ tiêu chứngtừ Số lượngchứng từ

doanh nghiệp nhà nước Doanh nghiệp khác

Nhà nước quy định bắt buộc về mẫu sổ, nội dung và phương pháp ghichép đối với các sổ kế toán tổng hợp, quy định mang tính chất hướng dẫn đốivới các loại sổ kế toán chi tiết

Trang 36

Doanh nghiệp cần phải căn cứ vào quy mô, đặc điểm hoạt độngSXKD, yêu cầu quản lý lựa chọn một hình thức kế toán thích hợp - đồngthời phải tuân thủ các nguyên tắc chung về sổ kế toán, quy trình hệ thống hóathông tin kế toán đã quy định.

Điểm qua các mốc lịch sử trong quá trình phát triển của kế toán ViệtNam, để khẳng định kế toán Việt Nam đã ra đời ngay từ những ngày đầu đấtnước mới giành được chính quyền Kế toán Việt Nam không ngừng pháttriển, ngày càng góp phần quan trọng trong việc cung cấp thông tin phục vụcho việc quản lý của nhà nước và hoạt động sản xuất kinh doanh các doanhnghiệp

Đặc biệt hệ thống kế toán mới ban hành và chính thức áp dụng từ1/01/1996 Là quá trình kế thừa của hệ thống kế toán cũ, tôn trọng và vậndụng có chọn lọc các nguyên tắc, chuẩn mực và thông lệ của kế toán quốc tế,đảm bảo phù hợp với đặc thù của Việt Nam Đây là mốc lịch sử quan trọngđánh dấu sự cải tiến sâu sắc, toàn diện trong lĩnh vực kế toán - góp phần tíchcực vào công việc tăng cường quản lý và điều hành doanh nghiệp cũng nhưnâng cao vai trò quản lý vĩ mô của Nhà nước

2.1.2.2 Sự biểu hiện của kế toán quản trị trong chế độ kế toán

Kế toán quản trị là một vấn đề còn mới mẻ, có nhiều cách nghĩ, cáchhiểu và vận dụng và từng doanh nghiệp khác nhau Tuy vậy các quan điểm về

kế toán quản trị có thể khái quát gồm những loại sau:

- Loại quan điểm thứ nhất cho rằng:

Kế toán quản trị là một khoa học thu nhận, xử lý và cung cấp thông tin

về hoạt động của doanh nghiệp một cách cụ thể, phục vụ cho các nhà quản lýtrong việc lập kế hoạch tổ chức thực hiện, kiểm tra và đánh giá tình hình thựchiện kế hoạch các hoạt động của doanh nghiệp

Theo loại quan điểm này kế toán quản trị là loại kế toán dành chonhững người làm công tác quản lý Kế toán quản trị được coi như một hệthống trợ giúp cho các nhà quản lý ra quyết định, là phương tiện để thực hiệnkiểm soát quản lý trong doanh nghiệp và kế toán quản trị không chỉ là kế toán

Trang 37

chi tiết Phạm vi của kế toán quản trị khá rộng không chỉ bao gồm thông tincủa kế toán chi tiết mà còn bao gồm thông tin của hạch toán nghiệp vụ, lập kếhoạch, xây dựng dự toán chi phí, định giá sản phẩm, lựa chọn các phương ánđầu tư, hạch toán và phân tích kết quả kinh doanh của từng đơn vị, bộ phậntrong nội bộ doanh nghiệp.

- Loại quan điểm thứ hai cho rằng:

Kế toán quản trị là việc ghi chép kế toán nhằm thu nhập, xử lý, truyềnđạt các thông tin chi tiết cụ thể về hoạt động kinh tế, tài chính của doanhnghiệp để phục vụ yêu cầu quản lý và điều hành hoạt động ở doanh nghiệp

Theo quan điểm này kế toán quản trị trước hết phải là kế toán, có liên

hệ mật thiết với hệ thống kế toán tài chính, ghi chép phản ánh những số liệuchi tiết cả về chỉ tiêu số lượng và giá trị nhằm cung cấp những thông tin chitiết hơn cho quản lý mà kế toán tài chính chưa cung cấp được Kế toán quảntrị đồng nghĩa với kế toán chi tiết là một phần của kế toán chi tiết ở doanh nghiệp

Từ hai loại quan điểm trên ta thấy có sự khác nhau rõ rệt:

- Loại quan điểm thứ nhất: Cho rằng kế toán quản trị không phải là kếtoán chi tiết và cũng không phải là kế toán chi tiết cộng thêm với các phầnviệc cung cấp thông tin ngoài kế toán chi tiết - mà kế toán quản trị là hệ thốngcác phương pháp thu thập, xử lý nhằm cung cấp các thông tin hữu ích phục vụcho chức năng quản lý của các nhà quản trị doanh nghiệp Ngoài việc sử dụng

số hệ thống số liệu ban đầu các chứng từ kế toán, kế toán quản trị còn phải kếthợp và sử dụng nội dung của nhiều môn học khác như thống kê, kinh tế học,quản trị doanh nghiệp, toán, marketing

- Loại quan điểm thứ hai: Thừa nhận sự đồng nghĩa kế toán quản trị và

kế toán chi tiết Do vậy, ở Việt Nam từ trước đến nay đã có kết quả quản trị,

đó chính là hệ thống thông tin chi tiết của kế toán phục vụ cho việc quản lýdoanh nghiệp Kế toán quản trị không phải là vấn đề hoàn toàn mới mẻ

Dù đứng trên quan điểm nào để xem xét, nghiên cứu kế toán quản trịthì vẫn có thể khẳng định: Hệ thống kế toán Việt Nam là hệ thống kế toán hỗnhợp giữa kế toán tài chính và kế toán quản trị, trong đó chủ yếu là kế toán tài

Trang 38

chính Tuy vậy kế toán quản trị cũng đã có sự biểu hiện rõ ràng trong chế độ

kế toán và ở sự vận dụng của các doanh nghiệp trong quá trình thu nhận, xử

lý, hệ thống hóa, cung cấp thông tin cho các đối tượng sử dụng:

- Trong chế độ kế toán Nhà nước đã ban hành và đang áp dụng tại cácdoanh nghiệp, các nội dung cơ bản: Hệ thống tài khoản kế toán, chế độ chứng

từ kế toán, chế độ kế toán, chế độ báo cáo kế toán đều có chế độ hướng dẫn.Nhà nước chỉ hướng dẫn mang tính định hướng chung theo nguyên tắc kinh

tế, các doanh nghiệp căn cứ vào đó để vận dụng sao cho thích hợp với từngloại hình doanh nghiệp và điều kiện sản xuất kinh doanh, nhằm phục vụ cungcấp thông tin cho yêu cầu quản lý riêng ở từng doanh nghiệp cụ thể Đó chính

là những vấn đề hướng cho kế toán quản trị

- Trong kế toán chi tiết của hệ thống kế toán hiện hành biểu hiện mốiliên hệ giữa kế toán tài chính và kế toán quản trị: Căn cứ vào các tài khoản kếtoán chi tiết, sổ kế toán chi tiết, báo cáo kế toán chi tiết; kết quả quản trị thiết

kế lại theo nhu cầu quản trị và tổng hợp thành các báo cáo đặc thù, sử dụngcho từng mục tiêu quản trị khác nhau (Kế toán chi tiết tài sản cố định, vật tưhàng hóa, doanh thu, kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh )

- Kế toán chi phí sản xuất kinh doanh, tính giá thành sản phẩm là biểuhiện của kế toán quản trị Kế toán quản trị đặt trọng tâm chủ yếu vào việcquản lý và kiểm soát chi phí Tùy thuộc mục tiêu của các nhà quản trị, tùythuộc yêu cầu của các đối tượng sử dụng thông tin, mà chi phí được thiết kế,tổng hợp thành nhiều loại khác nhau; tương tự như vậy chỉ tiêu giá thành sảnphẩm cũng được kế toán quản trị xử lý một cách linh hoạt

- Các phương pháp tính giá trị vốn của hàng tồn kho, phương phápphân bổ chi phí trong hệ thống kế toán hiện hành cũng là những vấn đề rấtlinh hoạt, có thể thực hiện lựa chọn nhiều tiêu chuẩn phân bổ chi phí vàphương pháp tính giá vốn hàng tồn kho khác nhau, từ đó mà cung cấp nhữngthông tin cần thiết cho các quyết định trong điều hành sản xuất kinh doanh

Đó cũng chính là sự biểu hiện của kế toán quản trị

Trang 39

- Nghiên cứu mối quan hệ giữa quá trình kế toán và chức năng quản lýcũng cho phép chúng ta khẳng định một góc độ khác về sự biểu hiện của kếtoán quản trị trong chế độ kế toán hiện hành.

Đối với mỗi doanh nghiệp, các mục tiêu chung sau khi được xác định

sẽ được chính thức hóa bằng các chỉ tiêu kinh tế, các chỉ tiêu này sẽ trở thànhcăn cứ để lập kế hoạch sản xuất kinh doanh Trên cơ sở đó, mà xây dựng kếhoạch tài chính soạn thảo và triển khai thành các dự toán chung và các dựtoán chi tiết để làm căn cứ tổ chức thực hiện, theo dõi, và đánh giá quá trìnhthực hiện kế hoạch Sau đó kế toán thu thập kết quả thực hiện và soạn thảobáo cáo kế toán, cung cấp thông tin cho các nhà quản trị để đánh giá, kịp thờiphát hiện những mặt yếu kém và khả năng tiềm tàng để xác định mục tiêu cho

kỳ tiếp theo Nói cụ thể hơn thì các báo cáo kế toán vừa là nguyên nhân vừa làkết quả của kết quả quản trị Kế toán quản trị căn cứ vào các báo cáo tài chínhcùng các thông tin khác, tiến hành lập báo cáo dự toán cho năm kế hoạch.Quá trình sản xuất kinh doanh là quá trình thực hiện các mục tiêu đã dự kiến

đó Kế toán tài chính bằng các phương pháp của mình thực hiện thu nhận, xử

lý và hệ thống hóa thông tin kinh tế tài chính để lập ra các báo cáo tài chính.Chu trình này lặp đi lặp lại, vận động liên tục, chúng bổ sung, liên kết mậtthiết với nhau thành một quy trình, một hệ thống

2.1.2.3 Sự biểu hiện của kế toán quản trị trong sự vận dụng chế độ kế toán của các doanh nghiệp để thu nhận, xử lý, hệ thống hóa và cung cấp thông tin kế toán

Thông qua việc nghiên cứu, khảo sát công tác kế toán ở một số loại

hình doanh nghiệp, chúng tôi xin điểm lại một cách khái quát những nét đặctrưng về sự biểu hiện của kế toán quản trị trong quá trình vận dụng chế độ

kế toán:

* Tổ chức bộ máy kế toán doanh nghiệp

Thực hiện chế độ kế toán hiện hành, mỗi doanh nghiệp được thành lập

có tư cách pháp nhân đầy đủ, đều đã tổ chức bộ máy kế toán để thực hiện

Trang 40

công tác kế toán, thống kê và tài chính ở doanh nghiệp Theo cơ chế tổ chứcquản lý hiện hành, tổ chức thống nhất công tác tài chính, kế toán, thống kê ởcác đơn vị kinh tế cơ sở và do phòng kế toán thực hiện.

Việc tổ chức bộ máy kế toán của các doanh nghiệp Việt Nam đượcthiết kế để thu thập, xử lý, hệ thống hóa và cung cấp thông tin kế toán tươngứng với hệ thống kế toán do Nhà nước đã ban hành Bộ máy kế toán ở cácdoanh nghiệp được xây dựng khác nhau, phụ thuộc vào từng lĩnh vực hoạtđộng, quy mô, đặc điểm kinh doanh, trình độ và yêu cầu quản lý ở mỗidoanh nghiệp

Bộ máy kế toán của các doanh nghiệp được xây dựng mới chỉ tậptrung vào công tác thu nhận, xử lý và cung cấp thông tin của kế toán tài chính

là chủ yếu, chưa quan tâm đến việc tổ chức bộ máy để thu nhận, xử lý vàcung cấp thông tin cho yêu cầu quản trị doanh nghiệp cũng như yêu cầu phântích hoạt động kinh doanh

Vì vậy trong bộ máy kế toán của các doanh nghiệp chưa xây dựngriêng bộ phận kế toán quản trị, mặt khác nhiều doanh nghiệp việc quy địnhnhiệm vụ cung cấp thông tin trong nội bộ cũng chưa được chặt chẽ và rõ ràng

Song khi tổ chức bộ máy kế toán hầu hết các doanh nghiệp đều đã quyđịnh rõ nhiệm vụ tổ chức và thực hiện kế toán chi tiết các đối tượng cần thiếtcho các bộ phận kế toán có liên quan Đặc biệt các doanh nghiệp đều tổ chứcriêng bộ phận kế toán tập hợp chi phí sản xuất, tính giá thành sản phẩm và bộphận kế toán tổng hợp; đây là hai bộ phận có nhiệm vụ, chức năng thu nhận,

xử lý và cung cấp chủ yếu thông tin theo yêu cầu quản trị doanh nghiệp

Bộ phận kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm có nhiệmvụ: Tổ chức kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm nhằm cungcấp những thông tin về chi phí sản xuất, giá thành sản phẩm đáp ứng yêu cầucủa các đối tượng sử dụng thông tin

Bộ phận kế toán tổng hợp có nhiệm vụ:

Ngày đăng: 05/11/2016, 15:22

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ trên cho thấy, lập dự toán sản xuất kinh doanh trước hết phải  xuất phát từ đơn vị cơ sở - TÀI LIỆU THAM KHẢO   xây DỰNG mô HÌNH tổ CHỨC kế TOÁN QUẢN TRỊ ở các DOANH NGHIỆP sản XUẤT KINH DOANH nước TA TRONG điều KIỆN KINH tế THỊ TRƯỜNG
Sơ đồ tr ên cho thấy, lập dự toán sản xuất kinh doanh trước hết phải xuất phát từ đơn vị cơ sở (Trang 115)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w