Mục đích nghiên cứu của luận án Đánh giá được trữ lượng và đặc điểm hình thành trữ lượng nước dưới đất tại các lưu vực sông ven biển tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận, từ đó đề xuất các giả
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỎ ĐỊA CHẤT
NGUYỄN MINH KHUYẾN
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÀNH TRỮ LƯỢNG NƯỚC DƯỚI ĐẤT LƯU VỰC SÔNG VEN BIỂN TỈNH BÌNH THUẬN VÀ NINH THUẬN
Ngành: Kỹ thuật địa chất
Mã số: 62.52.05.01
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ ĐỊA CHẤT
Hà Nội - 2015
Trang 2Công trình được hoàn thành tại: bộ môn Địa chất thủy văn,
Trường Đại học Mỏ- Địa chất Hà Nội
Người hướng dẫn khoa học: 1 PGS.TS Nguyễn Văn Lâm
2 TS Hoàng Văn Hưng
Phản biện 1: PGS.TS Phạm Quý Nhân
Phản biện 2: PGS.TS Nguyễn Xuân Tặng
Phản biện 3: TS Đỗ Trọng Sự
Luận án được bảo vệ tại Hội đồng đánh giá luận án cấp Nhà
nước họp tại Trường Đại học Mỏ - Địa chất Hà Nội, vào hồi giờ ngày tháng năm 2015
Có thể tìm hiểu luận án tại Thư viện Quốc gia Việt Nam
hoặc Thư viện Trường Đại học Mỏ - Địa chất Hà Nội
Trang 3Mở đầu
1 Tính cấp thiết của đề tài
Tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận nằm ở vùng Cực Nam Trung
bộ, là vùng đặc biệt khan hiếm về nguồn nước Vùng nghiên cứu có
4 vùng lưu vực sông (LVS) chính ven biển, gồm: LVS Cái Phan Rang và phụ cận; LVS Lũy và phụ cận; LVS Cái Phan Thiết-sông Cà Ty; LVS Phan-sông Dinh, có diện tích khoảng 4,2 nghìn km2 Nếu tính lượng sinh thủy hàng năm do mưa trong vùng khoảng 4,8 tỷ m3
Về nguồn nước dưới đất (NDĐ) trong vùng nghiên cứu tồn tại chủ yếu trong tầng chứa nước trầm tích Đệ tứ không phân chia, Holocen, Pleistocen Mặc dù, có nguồn sinh thủy và có các tầng chứa nước, nhưng vùng nghiên cứu thường xuyên thiếu nước vào mùa khô Do
đó, việc tìm lời giải cho các vấn đề nêu trên là cần thiết
2 Mục đích nghiên cứu của luận án
Đánh giá được trữ lượng và đặc điểm hình thành trữ lượng nước dưới đất tại các lưu vực sông ven biển tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận, từ đó đề xuất các giải pháp khai thác sử dụng và bảo vệ hợp
lý nguồn tài nguyên nước phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội của lưu vực
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Trữ lượng NDĐ trong các thành tạo đất
đá bở rời có khả năng chứa nước
Phạm vi nghiên cứu: 4 vùng LVS chính ven biển thuộc địa bàn tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận, gồm: LVS Cái Phan Rang và phụ cận, Lũy và phụ cận, Cái Phan Thiết- sông Cà Ty, Phan-sông Dinh
4 Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp nghiên cứu chủ yếu được sử dụng, gồm: Phương pháp thu thập xử lý và tổng hợp tài liệu; Phương pháp
Trang 4nghiên cứu thực địa; Phương pháp phân tích thống kê; Phương pháp tương tự ĐCTV; Phương pháp GIS; Phương pháp mô hình; Các phương pháp đánh giá trữ lượng NDĐ; Phương pháp chuyên gia
5 Cơ sở tài liệu của luận án
Ngoài các số liệu thu thập từ các kết quả nghiên cứu trước đây, các tài liệu tác giả đã tiến hành thí nghiệm hiện trường để phục vụ nghiên cứu, các kết quả hiện trường như: kết quả đo sâu đối xứng ở
520 điểm trong vùng đất đá bở rời thuộc LVS Cái Phan Rang; kết quả xác định hệ số thấm bề mặt tại 92 điểm đổ nước thí nghiệm; kết quả khoan, thí nghiệm ĐCTV tại 26 lỗ khoan,
6 Các luận điểm bảo vệ
Kết quả nghiên cứu của luận án đã chứng minh được 2 luận điểm sau:
Luận điểm 1: NDĐ trong vùng nghiên cứu được hình thành
chủ yếu từ sự cung cấp của nước mưa chiếm 42,3%, nước sông 34,9%, dòng chảy từ bên sườn 2,6% và hao hụt trữ lượng tĩnh 20,3%
Sự hình thành này chịu ảnh hưởng lớn của các yếu tố địa hình, bề mặt đá gốc, mưa, bốc hơi
Luận điểm 2: trữ lượng khai thác tiềm năng NDĐ LVS ven
biển tỉnh Bình Thuận và Ninh Thuận 844.192m3/ngày, tập trung chủ yếu trong trầm tích bở rời tuổi Đệ tứ, ở các cồn cát ven biển NDĐ có trữ lượng lớn hơn nhiều so với vùng rìa Trữ lượng khai thác dự báo trong vùng nghiên cứu 229.783m3/ngày, trong đó nhỏ nhất ở LVS Cái Phan Rang và phụ cận 27.669m3/ngày, lớn nhất ở LVS Lũy và phụ cận 81.349m3/ngày
7 Điểm mới của luận án
- Vận dụng các kiến thức lý thuyết xây dựng sân cân bằng áp dụng thực nghiệm ngoài hiện trường, kết hợp với kết quả quan trắc
Trang 5liên tục trong thời gian 01 năm, tác giả đã tính toán được lượng bổ cập của nước mưa cho NDĐ trên LVS ven biển tỉnh Ninh Thuận
- Thông qua các lời giải bài toán thuận, nghịch trên mô hình Modflow kết hợp kết quả tính toán lượng bổ cập của nước mưa cho NDĐ ở sân cân bằng, tác giả đã xác định được các thành phần hình thành trữ lượng khai thác tiềm năng, trữ lượng khai thác dự báo NDĐ vùng nghiên cứu Kết quả này có ý nghĩa lớn trong việc định hướng quản lý khai thác, sử dụng và bảo vệ tài nguyên NDĐ phục vụ phát triển kinh tế - xã hội cho các địa phương trong trong vùng nghiên cứu
8 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án
Ý nghĩa khoa học:
Bằng phương pháp phân tích, thống kê đã xác định được địa hình bề mặt đá gốc vùng nghiên cứu có ảnh hưởng đến khả năng trữ thoát nước trong tầng chứa nước bở rời nằm trên đá gốc Dùng lý thuyết cân bằng nước kết quả quan trắc và khảo sát thực nghiệm đã tính toán lượng bổ cập của nước mưa cho nước dưới đất ở LVS ven biển Ninh Thuận và Bình Thuận Sử dụng mô hình số để xác định chính xác các nguồn hình thành trữ lượng nước dưới đất trên cơ sở số liệu đầu vào là kết quả khảo sát tính toán thực tế Kết quả đã xác định được các nguồn hình thành nước dưới đất làm cơ sở khoa học cho những nghiên cứu về NDĐ vùng ven biển Ninh Thuận – Bình Thuận
Ý nghĩa thực tiễn:
Từ việc xác định các nguồn hình thành trữ lượng NDĐ làm cơ
sở định hướng các phương án khai thác sử dụng hợp lý tài nguyên nước dưới đất ở vùng ven biển
Các giải pháp đề ra có thể ứng dụng vào thực tiễn nhằm khai
Trang 6thác sử dụng hợp lý NDĐ, giảm thiếu sự thất thoát cũng như nguy cơ cạn kiệt, ô nhiễm, xâm nhập mặn vùng nghiên cứu
Thuật ngữ quá trình hình thành "tài nguyên tự nhiên" được sử dụng để mô tả quá trình thấm của nước từ bề mặt, từ các tầng chứa nước trên xuống tầng chứa nước nằm dưới ảnh hưởng của trọng lực,
áp lực thông qua một môi trường xốp của tầng chứa nước, lớp thấm nước yếu hoặc thoát vào môi trường không khí, vào dòng mặt và vào đới thông khí hoặc thoát do khai thác [57] Khái niệm “trữ lượng” và
“tài nguyên tự nhiên” NDĐ được sử dụng trong các tài liệu đánh giá NDĐ ở Nga, các nước thuộc Liên Xô cũ, Hoa Kỳ và một số quốc gia khác Có một số cách biểu thị số lượng NDĐ, nhưng hầu hết các nhà nghiên cứu đều chung quan điểm là có khái niệm “trữ lượng” và “tài nguyên tự nhiên” NDĐ Savarensky Viện hàn lâm và khoa học của Liên Xô đã chứng minh được rằng “tài nguyên tự nhiên” NDĐ không duy trì ổn định “trữ lượng” như các khoáng sản khác, “tài nguyên tự nhiên” ở đây được gọi là “trữ lượng động” [49] Khi đánh giá trữ lượng phải nghiên cứu mối quan hệ qua lại của NDĐ và nước mặt, nước mưa và các tầng chứa nước khác với các yếu tố tác động đến trữ lượng
Hiện nay, trên thế giới đã có rất nhiều nghiên cứu về sự hình thành trữ lượng NDĐ và để xác định các nguồn hình thành trữ lượng các tác giả đã đưa ra các khái niệm cũng như phương pháp xác định các thành phần tham gia trữ lượng NDĐ, gồm: trữ lượng khai thác tiềm năng; trữ lượng khai thác dự báo; trữ lượng tĩnh; trữ lượng động
Trang 71.2 Tổng quan nghiên cứu về sự hình thành trữ lượng NDĐ ở Việt Nam
Một số đề tài, dự án, luận án có nội dung nghiên cứu sự hình thành trữ lượng ở Việt Nam tiêu biểu như sau: Trần Hồng Phú (1982), Nguyễn Trường Giang (1992), Vũ Ngọc Kỷ (1994), Trần Minh (1994), Nguyễn Văn Lâm, nnk (1995), Phạm Quí Nhân (1997), Phạm Văn Năm (1998), Đoàn Văn Cánh (2005)
Tình hình nghiên cứu vùng ven biển Ninh Thuận, Bình Thuận: hiện nay có một số công trình nghiên cứu khoa học, cũng
như các đề án, dự án nghiên cứu, đánh giá nguồn nước nói chung, nguồn nước dưới đất nói riêng phục vụ phát triển kinh tế - xã hội cho các vùng Nhìn chung các đề tài, dự án đã phần nào làm sáng tỏ điều kiện địa chất, ĐCTV trong vùng và đã đánh giá được trữ lượng NDĐ trong mỗi vùng cụ thể Tuy nhiên, các kết quả nghiên cứu trước đây mới chỉ đánh giá mang tính chất cục bộ trong các vùng nhỏ, chưa có đánh giá tổng thể toàn vùng Ngoài ra, các kết quả nghiên cứu trước đây chưa đánh giá được trữ lượng khai thác tiềm năng NDĐ, trữ lượng khai thác NDĐ dự báo cho toàn vùng cũng như các nguồn hình thành trữ lượng NDĐ trong vùng nghiên cứu
Chương 2::
Những nhân tố ảnh hưởng đến sự hình thành trữ lượng nước
dưới đất vùng nghiên cứu 2.1 Vị trí vùng nghiên cứu
Vùng nghiên cứu có diện tích khoảng 4.200 km2 thuộc 4 vùng LVS chính ven biển tỉnh Bình Thuận và Ninh Thuận, gồm: LVS Cái Phan Rang và phụ cận (gồm LVS nhỏ, sông Trâu, Bà Râu, Vũng Sơn Hải và sông Bung); LVS Lũy và phụ cận (gồm LVS nhỏ, sông Bung
và sông Nước Mặn); LVS Cái Phan Thiết-sông Cà Ty; LVS sông Dinh
Phan-2.2 Các nhân tố hình thành và ảnh hưởng đến trữ lượng NDĐ
Trang 8Các nhân tố hình thành và ảnh hưởng đến trữ lượng nước dưới đất gồm: Nhân tố địa hình; Nhân tố bốc hơi; Nhân tố mưa; Nhân tố thủy văn; Nhân tố địa chất; Nhân tố cấu trúc ĐCTV; Nhân tố thảm thực vật; Nhân tố nhân tạo Trong các nhân tố này, thì nhân tố cấu trúc ĐCTV và nhân tố mưa là một trong những nhân tố quan trọng quyết định đến việc hình thành và ảnh hưởng đến trữ lượng NDĐ
Chương 3:
Đánh giá trữ lượng nước dưới đất vùng nghiên cứu 3.1 Sự hình thành trữ lượng NDĐ từ cung cấp thấm của nước mưa
3.1.1 Lựa chọn phương pháp, công trình nghiên cứu
Đánh giá sự hình thành trữ
lượng NDĐ từ cung cấp thấm
nước mưa, tác giả sử dụng
phương pháp dựa trên phương
trình sai phân hữu hạn của G N
để nghiên cứu tầng chứa nước lỗ hổng các trầm tích Pliestocen (qp); khu vực Mỹ Bình, phường Tấn Tài, TP Phan Rang, tỉnh Ninh Thuận
để nghiên cứu tầng chứa nước lỗ hổng các trầm tích Holocen (qh)
Hình 3.1 Kiểu sân cân bằng
Trang 9Hình 3.2 Sơ đồ bố trí sân cân bằng
2 Thời gian và phương pháp quan trắc: từ tháng 11/2012 - 10/2013, bằng thiết bị đo MN tự động
3 Chỉnh lý số liệu mực nước: Do điều kiện thực tế đã không
bố trí được vị trí giếng như lý thuyết, nên tác giả đã tiến hành chỉnh
lý số liệu để đạt được điều kiện theo lý thuyết
4 Phân chia bước thời gian (t) để tính toán: sân cân bằng Phước Thuận chia làm 8 bước thời gian; sân cân bằng Tấn Tài chia làm 6 bước thời gian
5 Kết quả tính toán lượng cung cấp thấm: lượng cung cấp thấm tại sân cân bằng Phước Thuận, Tấn Tài cho thấy lượng cung cấp của nước mưa trong thời gian từ tháng 11/2012 - 10/2013 biến đổi từ 228,68 - 235,74mm/năm, trung bình 232,21mm/năm
3.2 Trữ lượng nước dưới đất
3.2.1 Phân vùng đánh giá trữ lượng NDĐ và cơ sở tài liệu đánh giá
Tác giả đã phân chia vùng nghiên cứu ra 04 vùng để đánh giá
sự hình thành trữ lượng NDĐ, gồm: Vùng LVS Cái Phan Rang và phụ cận; Vùng LVS Cái Phan Rang và phụ cận; Vùng LVS Cái Phan Thiết - Cà Ty; Vùng LVS Phan - sông Dinh
Trang 103.2.2 Trữ lượng NDĐ trong trầm tích bở rời LVS Cái Phan Rang và phụ cận
Để đánh giá trữ lượng nước dưới đất tác giả đã tiến hành:
- Xác định giới hạn vùng mô hình và phân lớp mô hình
- Nhập các thông số đầu vào cho mô hình gồm: giá trị bổ cập; giá trị bốc hơi; hệ số thấm, hệ số nhả nước của các lớp đất đá; số liệu giếng khai thác; xây dựng các biên cho mô hình
- Chỉnh lý mô hình để phù hợp với thực tế
- Truy xuất kết quả của mô hình
3.2.2.1 Xây dựng mô hình đánh giá
- Vùng mô hình phân lớp mô hình thành 2 lớp: Lớp 1 ứng với tầng chứa nước trong trầm tích Holocen; Lớp 2 ứng với tầng chứa nước trong trầm tích Pleistocen Bước lưới được phân chia với khoảng cách ô lưới 200m x 200m
- Giá trị bổ cập (Recharge): vùng LVS Cái Phan Rang và phụ cận phân vùng bổ cập của nước mưa cho NDĐ thành 3 vùng: vùng 1 (ven biển) có giá trị bổ cập biến đổi từ 6,0 - 464,3mm/năm; vùng 2 (chuyển tiếp giữa núi và đồng bằng) có giá trị biến đổi từ 7,0 - 542,5mm/năm; vùng 3 (giáp núi) có giá trị biến đổi từ 9,4 - 724,6mm/năm;
- Giá trị bốc hơi (Evapotranspition): tác giả phân chia phân vùng bốc hơi thành 3 vùng: vùng 1 (ven biển) có giá trị bốc hơi biến đổi từ 150,7 - 245,2mm/năm; vùng 2 (chuyển tiếp giữa núi và đồng bằng) từ 261,8 - 426,5mm/năm; vùng 3 (giáp núi) từ 236,0 - 384,7mm/năm;
- Hệ số thấm, hệ số nhả nước
Phân vùng hệ số thấm và nhả nước như sau: lớp 1 có hệ số thấm biến đổi từ 0,1 - 10,0 m/ngày, hệ số nhả nước Ss biến đổi từ 0,003 - 0,04, hệ số Sy biến đổi từ 0,15 - 0,2; lớp 2 có hệ số thấm biến đổi từ 3,0 - 40,0 m/ngày, hệ số nhả nước Ss biến đổi từ 0,001 - 0,08,
Trang 11hệ số Sy biến đổi từ 0,11 - 0,15
- Giếng khai thác (Wells): theo số liệu tổng hợp kết quả điều tra, thu thập về hiện trạng khai thác, địa tầng, chiều sâu khai thác của các cụm công trình khai thác hiện tại tập trung vào các tầng chứa nước Holocen, Pleistocen
- Biên biên tổng hợp (GHB): các sông được đặt biên GHB, gồm: sông Dinh; sông Lu; sông Lanh Ra; sông Bà Râu
- Biên vùng ven sườn: trong luận án này, với mục đích xác định lượng cung cấp của dòng ven sườn, vì vậy trong mô hình vùng LVS Cái Phan Rang và phụ cận tác giả không đặt biên cho vùng ven sườn mà coi vùng ven sườn là 1 Zone theo hình vành khăn xung quanh vùng phân bố trầm tích bở rời LVS Cái Phan Rang và phụ cận, nơi phân bố các đất đá phong hóa có thấm nước, bề rộng của hình vành khăn rộng 250m đến 500m tùy thuộc diện phân bố đất đá phong hóa
- Kết quả chỉnh lý mô hình: để chỉnh lý mô hình, tác giả đã tiến hành chỉnh lý ổn định và không ổn định Số liệu để chỉnh lý không ổn định là số liệu quan trắc tại các sân cân bằng, tuyến quan trắc từ tháng 11/2012 đến 10/2013 Kết quả chạy mô hình tương đối phù hợp với các giá trị thực tế, Nghiên cứu sinh sẽ sử dụng làm cơ sở
để đánh giá trữ lượng khai thác cho vùng
3.2.2.2 Trữ lượng tiềm năng và trữ lượng khai thác
Trữ lượng tiềm năng trung bình cả năm 134.374m3/ngày, mùa khô 114.792m3/ngày, mùa mưa 153.957m3/ngày Trữ lượng khai thác
dự báo 27.699m3/ngày
3.2.3 Trữ lượng NDĐ trong trầm tích bở rời LVS Lũy và phụ cận
- Phân lớp mô hình: Lớp 1 ứng với tầng chứa nước trong trầm tích Holocen; Lớp 2 ứng với tầng chứa nước trầm tích Pleistocen Bước lưới được phân chia với khoảng cách ô lưới 250m x 250m;
- Giá trị bổ cập của nước mưa cho NDĐ, phân chia thành 3
Trang 12vùng: vùng 1 (ven biển, ở khu vực phía Bắc) có giá trị bổ cập biến đổi
từ 0,8 - 1197,8mm/năm; vùng 2 (giữa đồng bằng sông Lũy) từ 0,6 - 791,6mm/năm; vùng 3 (giáp núi) từ 0,9 - 1348,4mm/năm
- Giá trị bốc hơi, phân chia thành 3 vùng: vùng 1 (ven biển, ở khu vực phía Bắc) có giá trị bốc hơi biến đổi từ 441,8 - 674,2mm/năm; vùng 2 (giữa đồng bằng sông Lũy) từ 427,0 - 651,6mm/năm; vùng 3 (giáp núi) từ 441,9 - 674,3mm/năm;
- Hệ số thấm hệ số nhả nước: lớp 1 có hệ số thấm biến đổi từ 10,0 - 30,0 m/ngày, hệ số nhả nước Ss biến đổi từ 0,001 - 0,003, hệ
số Sy biến đổi từ 0,15 - 0,2; lớp 2 có hệ số thấm biến đổi từ 10,0 - 35,0 m/ngày, hệ số nhả nước Ss biến đổi từ 0,001 - 0,006, hệ số Sy biến đổi từ 0,15 - 0,2;
- Giếng khai thác: lưu lượng khai thác hiện tại 13.392m3/ngày;
- Biên GHB: đặt cho sông đặt cho sông Lũy; biên ven sườn cho vùng mô hình
Kết quả đánh giá trữ lượng tiềm năng trung bình năm 286.872m3/ngày, mùa khô 264.394m3/ngày, mùa mưa 302.927m3/ngày Trữ lượng khai thác dự báo 81.349m3/ngày
3.2.4 Trữ lượng NDĐ trong trầm tích bở rời LVS Cái Phan Thiết - sông Cà Ty
- Phân lớp mô hình: lớp 1 ứng với tầng chứa nước trong trầm tích Holocen; lớp 2 ứng với tầng chứa nước trầm tích Pleistocen Bước lưới được phân chia với khoảng cách ô lưới 250m x 250m;
- Giá trị bổ cập của nước mưa cho NDĐ: vùng 1 (ven biển) có giá trị bổ cập biến đổi từ 6,1 - 782,7mm/năm; vùng 2 (vùng chuyển tiếp đồng bằng và giáp núi) từ 6,5 - 832,5mm/năm; vùng 3 (giáp núi)
từ 5,7 - 736,1mm/năm
- Giá trị bốc hơi, phân chia thành 3 vùng: vùng 1 (ven biển) có giá trị bốc hơi biến đổi từ 260,5 - 399,4mm/năm; vùng 2 (vùng chuyển tiếp đồng bằng và giáp núi) từ 283,1 - 425,6mm/năm; vùng 3 (giáp
Trang 13- Giếng khai thác: lưu lượng hiện tại 11.970m3/ngày;
- Biên GHB: đặt cho sông đặt cho sông Cái Phan Thiết- sông
Cà Ty biên ven sườn cho vùng mô hình
Kết quả đánh giá trữ lượng tiềm năng trung bình năm 279.835m3/ngày, mùa khô 237.862m3/ngày, mùa mưa 309.817m3/ngày Trữ lượng khai thác dự báo 71.691m3/ngày
3.2.5 Trữ lượng NDĐ trong trầm tích bở rời LVS Phan - sông Dinh
- Phân lớp mô hình: lớp 1 ứng với tầng chứa nước trong trầm tích Holocen; lớp 2 ứng với tầng chứa nước trong trầm tích Pleistocen Bước lưới được phân chia với khoảng cách ô lưới 250m x 250m;
- Giá trị bổ cập của nước mưa cho NDĐ: vùng 1 (ven biển) có giá trị bổ cập biến đổi từ 2,3 - 1302,9mm/năm; vùng 2 (vùng phía Nam) từ 1,1 - 631,2mm/năm; vùng 3 (giáp núi) từ 1,9 - 1085,3mm/năm
- Giá trị bốc hơi: vùng 1 (giáp núi phía Tây) có giá trị bốc hơi biến đổi từ 235,5 - 401,7mm/năm; vùng 2 (vùng giữa sông Phan, sông Dinh) từ 256,2 - 437,6mm/năm; vùng 3 (ven biển phía Bắc, Đông Bắc) từ 214,9 - 366,5mm/năm
- Hệ số thấm, hệ số nhả nước: lớp 1 có hệ số thấm biến đổi từ 6,0
- 30,0 m/ngày, hệ số nhả nước Ss biến đổi từ 0,011 - 0,015, hệ số Sy biến đổi từ 0,15 - 0,25; lớp 2 có hệ số thấm biến đổi từ 10,0 - 22,0 m/ngày, hệ số nhả nước Ss biến đổi từ 0,01 - 0,09, hệ số Sy biến đổi 0,11 - 0,15;
- Giếng khai thác: lưu lượng khai thác hiện tại 1000m3/ngày;
- Biên GHB: đặt cho sông đặt cho sông Phan, sông Dinh biên