1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

LUẬN văn THẠC sĩ LUẬT học HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT về QUYỀN CHÍNH TRỊ của PHỤ nữ ở VIỆT NAM HIỆN NAY

127 519 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 127
Dung lượng 819 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hiện nay, các tổ chức hội đã phát triển nhanh với số lượng lớn và được tổ chức dưới nhiều hình thức đa dạng: hội, tổng hội, liên hiệp hội, hiệp hội... Hoạt động của hội ngày càng phong phú và có hiệu quả trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội như: xoá đói giảm nghèo, bảo vệ tài nguyên, môi trường, nâng cao dân trí, tham gia vào việc xã hội hoá các hoạt động y tế, văn hoá, giáo dục đào tạo, khoa học và công nghệ, thể dục thể thao, từ thiện nhân đạo. Nhiều hội đã và đang tham gia cung cấp dịch vụ công do Nhà nước chuyển giao, tham gia tư vấn, phản biện các đề án, chính sách, góp phần nâng cao vai trò quản lý và hoàn thiện về thể chế, chính sách của Nhà nước

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Danh ngôn Trung Quốc có câu: "Phụ nữ đỡ nửa bầu trời" Sự đúc kết

đó đã nói lên vai trò đặc biệt quan trọng, không thể thiếu của người phụ nữtrong xã hội Lẽ tất yếu, vai trò xã hội đòi hỏi vị trí xã hội tương ứng Tuynhiên, hàng ngàn năm nay, ở khắp nơi trên thế giới, phụ nữ vẫn phải chịunhững thiệt thòi về mặt vị trí xã hội so với nam giới Điều đó đặc biệt thể hiện

ở sự bất bình đẳng với phụ nữ trong việc hưởng thụ các quyền chính trị

Cuộc đấu tranh cho vị thế bình đẳng của phụ nữ so với nam giới xuấtphát từ nghịch lý kể trên, bắt đầu từ buổi bình minh của chế độ phụ quyền.Phát triển từ thấp đến cao, từ tự phát đến tự giác, cho đến ngày nay, đấu tranhcho vị thế bình đẳng của phụ nữ với nam giới, trong đó đặc biệt là quyềnchính trị của phụ nữ, đã không còn là vấn đề riêng biệt của mỗi quốc gia, mà

đã trở thành mối quan tâm chung của toàn nhân loại và được thể chế hóatrong nhiều công ước quốc tế về quyền con người

Ở Việt Nam hiện nay, phụ nữ chiếm 50,8% dân số và 48% lực lượnglao động xã hội Phụ nữ nước ta trước đây đã có những đóng góp hết sức tolớn vào công cuộc đấu tranh chống ngoại xâm giành và giữ gìn độc lập, xâydựng Tổ quốc Trong sự nghiệp Đổi mới hiện nay, phụ nữ Việt Nam vẫn luôn

sát cánh cùng nam giới phấn đấu vì mục tiêu "Dân giàu, nước mạnh, xã hội

công bằng, dân chủ, văn minh" và có những đóng góp đáng kể trong các lĩnh

vực xóa đói giảm nghèo, phát triển kinh tế, ổn định xã hội cũng như nhữngcống hiến xuất sắc trong việc chăm lo xây dựng gia đình, nuôi dưỡng các thế

hệ công dân tương lai của đất nước Không những vậy, nhiều phụ nữ cònmang lại những vinh quang lớn cho đất nước trong các lĩnh vực văn hóa, giáodục, khoa học, nghệ thuật, thể thao

Trang 2

Nhận thức rõ vị trí và vai trò quan trọng của người phụ nữ trong xãhội nên ngay từ khi nước nhà mới giành được độc lập, các quyền của côngdân nói chung và quyền của phụ nữ nói riêng đã được pháp luật Việt Nam ghinhận và khẳng định, trong đó có các quyền bình đẳng về chính trị của phụnữ Điều đó đã tạo điều kiện căn bản cho phụ nữ tham gia tích cực và hiệuquả vào các hoạt động kinh tế, xã hội và đóng góp vào sự nghiệp xây dựng vàbảo vệ Tổ quốc Từ khi đổi mới đến nay, Đảng và Nhà nước tiếp tục quan tâmtạo mọi điều kiện thuận lợi cho phụ nữ tham gia ngày càng nhiều và hiệu quảhơn vào lĩnh vực chính trị; nhờ vậy, phụ nữ Việt Nam ngày càng có nhiều cơhội và nhiều đại diện tham gia vào hệ thống chính trị, cũng như vào việc đềxuất, hoạch định, thực hiện và giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luậtcủa Nhà nước Xét chung trên toàn thế giới và khu vực, Việt Nam là quốc giađược đánh giá cao về mức độ bảo đảm quyền bình đẳng về chính trị của phụ

nữ, thể hiện ở tỷ lệ đại biểu nữ trong Quốc hội ở mức tương đối cao

Mặc dù vậy, trên thực tế ở Việt Nam, quyền bình đẳng về chính trị củaphụ nữ vẫn chưa được bảo đảm một cách tương xứng so với vai trò và khảnăng của phụ nữ trong xã hội Điều đó thể hiện ở chỗ vẫn còn khoảng cáchlớn giữa tỷ lệ đại biểu nữ và nam trong các cơ quan dân cử (Quốc hội, Hộiđồng nhân dân các cấp) và số lượng hạn chế phụ nữ nắm giữ các vị trí thenchốt có quyền ra quyết định trong các cơ quan của hệ thống chính trị (xemphụ lục 1 đến phụ lục 7) Đơn cử, mặc dù ở mức cao trên thế giới, song tỷ lệđại biểu Quốc hội nữ khóa XI mới chỉ đạt 27,3%, tỷ lệ đại biểu nữ ở Hội đồngnhân dân cấp xã nhiệm kỳ (2004-2007) là 20,1% [17, tr 3-5] Rõ ràng, tỷ lệđại biểu nữ hiện nay chưa thể đáp ứng đầy đủ yêu cầu là đại diện giới mìnhtrong việc xây dựng và hoạch định chính sách, pháp luật liên quan đến việcgiải quyết các quyền lợi chính đáng cho phụ nữ

Thực tế kể trên đặt ra nhu cầu cấp thiết phải nghiên cứu tìm ra cácgiải pháp tiếp tục thúc đẩy việc thực hiện quyền bình đẳng của phụ nữ trên

Trang 3

lĩnh vực chính trị, qua đó giúp phụ nữ tham gia và đóng góp ngày càng hiệuquả hơn vào sự nghiệp xây dựng và phát triển của đất nước, cũng như bảođảm thực hiện các cam kết quốc tế có liên quan của Nhà nước ta, mà mộttrong những hướng tiếp cận cơ bản là hoàn thiện hệ thống các quy định pháp

luật trên lĩnh vực này Vì vậy, tác giả chọn đề tài: "Hoàn thiện pháp luật về quyền chính trị của phụ nữ ở Việt Nam hiện nay" làm đề tài luận văn thạc sĩ

chuyên ngành lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật tại Học viện Chính trịquốc gia Hồ Chí Minh

2 Tình hình nghiên cứu của đề tài

Trong những năm gần đây, đã có nhiều bài viết, công trình nghiên cứuxoay quanh vấn đề quyền chính trị của phụ nữ ở Việt Nam, tiếp cận từ nhiềukhía cạnh như quyền bầu cử, ứng cử; quyền tham gia vào quản lý nhà nước và

các tổ chức xã hội của phụ nữ Tiêu biểu trong đó có thể kể như:"Quyền bầu

cử và ứng cử của công dân trong chế độ ta" của Đàm Văn Hiếu (Tạp chí Luật

học, số 3, 1975; "Công ước về việc loại bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử đối

với phụ nữ" của TS Ngô Bá Thành (Tạp chí Luật học, số 2, 1982); "Phụ nữ: những ưu ái và thiệt thòi- nhìn từ góc độ xã hội, pháp lý" của TS Hoàng Thị

Kim Quế (Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 9, 2003); "Về một số vấn đề công

tác cán bộ nữ trong tình hình mới (Báo cáo tổng kết 10 năm thực hiện Chỉ thị 37-CT/TƯ của Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa VII)" của Hà Thị Khiết (Tạp

chí Khoa học về phụ nữ, số 3, 2004); "Quyền chính trị của phụ nữ trong Công

ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ và trong pháp luật Việt Nam" của TS Nguyễn Văn Mạnh; "Công ước của Liên hợp quốc và pháp luật Việt Nam về xóa bỏ phân biệt đối xử với phụ nữ" của Viện Nghiên cứu

khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp Riêng cuốn sách: "Vai trò của nữ cán bộ quản

lý nhà nước trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa" của TS Võ Thị

Mai đề cập kỹ hơn, sâu hơn về một phần nội dung của đề tài đó là phụ nữtham gia vào quản lý nhà nước

Trang 4

Tuy các bài viết, công trình nghiên cứu trên đã đề cập đến một số nộidung liên quan đến đề tài luận văn, nhưng đều chưa nghiên cứu một cách hệthống cơ sở lý luận cũng như các quy phạm pháp luật và những giải pháp cụthể góp phần hoàn thiện pháp luật về quyền chính trị của phụ nữ Đề tài:

"Hoàn thiện pháp luật về quyền chính trị của phụ nữ ở Việt Nam hiện nay" là

công trình khoa học độc lập, không trùng lắp với các công trình nêu trên,nghiên cứu có hệ thống cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng pháp luật và thựchiện pháp luật về quyền chính trị của phụ nữ và đề xuất các giải pháp hoànthiện pháp luật về quyền chính trị của phụ nữ ở Việt Nam hiện nay Trong quátrình nghiên cứu những nội dung của đề tài, tác giả có kế thừa, tham khảo kếtquả nghiên cứu ở các công trình khoa học nêu trên

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn

- Mục đích của luận văn là đề xuất những phương hướng, giải pháphoàn thiện pháp luật về quyền chính trị của phụ nữ, phù hợp với hoàn cảnhthực tiễn của nước ta và các chuẩn mực quốc tế có liên quan mà Nhà nước ta

(2)Tập hợp và phân tích hệ thống các quy phạm pháp luật hiện hànhliên quan đến việc bảo đảm quyền chính trị của phụ nữ ở Việt Nam;

(3) Trên cơ sở những nhiệm vụ (1) và (2), chỉ ra những thành tựu vàhạn chế của pháp luật và thực hiện pháp luật về quyền chính trị của phụ nữ ởViệt Nam và đề xuất các phương hướng, giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật

về quyền chính trị của phụ nữ trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyềncũng như xu thế toàn cầu hóa hiện nay

Trang 5

4 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu của luận văn

Hoàn thiện pháp luật về quyền chính trị của phụ nữ ở Việt Nam là mộtvấn đề có phạm vi rộng, không chỉ liên quan đến pháp luật, mà còn gắn liềnvới nhiều lĩnh vực khác như kinh tế, xã hội và văn hóa Tuy nhiên, với khuônkhổ của một luận văn thạc sĩ, tác giả chỉ đi sâu nghiên cứu về hệ thống cácquy phạm pháp luật liên quan đến việc bảo đảm các quyền chính trị cơ bảncủa phụ nữ ở Việt Nam, trong đó tập trung vào các quyền bầu cử và ứng cửvào Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp; quyền tham gia quản lý nhànước, xã hội và quyền tham gia các tổ chức chính trị - xã hội

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn

- Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam

Mác-về Nhà nước và pháp luật trong sự nghiệp đổi mới, đặc biệt là đường lối, chủtrương đổi mới của Đảng về nhận thức chính trị, về quyền chính trị của phụ

nữ trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa

- Các phương pháp cụ thể mà tác giả sử dụng để nghiên cứu đề tài baogồm phương pháp phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa, so sánh, thống kê

6 Đóng góp mới về khoa học của luận văn

So sánh với các công trình khoa học khác trực tiếp hoặc gián tiếp liênquan đến vấn đề về quyền chính trị của phụ nữ ở Việt Nam, luận văn có một

số đóng góp mới về khoa học như sau:

- Về cách tiếp cận: Luận văn lần đầu tiên tiếp cận nghiên cứu về quyền

chính trị của phụ nữ ở Việt Nam thông qua việc gắn các quy định pháp luật cóliên quan với vấn đề bình đẳng giới và quyền của phụ nữ trong pháp luật quốc tế

- Về nội dung: Trên cơ sở so sánh, đối chiếu với các tiêu chuẩn pháp

lý có liên quan và các điều kiện tác động về chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa

ở Việt Nam, luận văn lần đầu tiên khái quát hóa, phân tích và đánh giá một

Trang 6

cách có hệ thống các quy phạm pháp luật hiện hành về quyền chính trị củaphụ nữ ở Việt Nam cũng như việc thực hiện những quy định này trong thựctế Luận văn cũng đề xuất các phương hướng và luận chứng những giải pháp

cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật về quyền chính trị của phụ nữ ở Việt Namhiện nay, nhất là sự cần thiết phải ban hành Luật Bình đẳng giới ở Việt Nam,trong đó có những quy định về sự bình đẳng trong lĩnh vực chính trị của phụnữ

7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Với kết quả luận văn đạt được, tác giả hy vọng sẽ góp phần làm sáng

tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn cho việc hoàn thiện pháp luật và tổ chứcthực hiện pháp luật về quyền chính trị của phụ nữ ở Việt Nam trong thời gian tới

Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu vàgiảng dạy về vấn đề liên quan đến quyền chính trị của phụ nữ trong các trườngđào tạo cán bộ nói chung và cán bộ nữ nói riêng của Đảng và Nhà nước

8 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,nội dung của luận văn gồm 3 chương, 8 tiết

Trang 7

quyền mà "tạo hóa đã ban cho họ" và quyền tham gia đời sống chính trị - xã

hội Nhưng tất cả những quyền đó chỉ thực sự có ý nghĩa và trở thành hiệnthực khi chúng được bảo đảm bằng pháp luật Nói cách khác, quyền chính trịcủa phụ nữ sẽ được hiện thực hóa khi chúng được thể chế hóa trong pháp luật

và bảo đảm cho các quy định của pháp luật về quyền chính trị của phụ nữđược thực hiện trong thực tế Như vậy, để nghiên cứu đề xuất các giải phápnhằm hoàn thiện pháp luật về quyền chính trị của phụ nữ trước hết phảinghiên cứu cơ sở lý luận về quyền chính trị và pháp luật về quyền chính trị củaphụ nữ

1.1.1 Khái niệm và đặc điểm quyền chính trị của phụ nữ

1.1.1.1 Khái niệm quyền chính trị và quyền chính trị của phụ nữ

Để làm rõ khái niệm về quyền chính trị của phụ nữ, trước hết cần phảilàm rõ các khái niệm chính trị, quyền chính trị

Chính trị là một khái niệm vừa phản ánh quy luật phát triển của lịch

sử, vừa mang tính triết học sâu sắc Xét từ góc độ khoa học lịch sử, chính trị

Trang 8

luôn là nội dung bao hàm trong mọi cuộc đấu tranh giai cấp, gắn liền với quátrình hình thành và phát triển của nhà nước và xã hội Cả C.Mác và Ph.Ăngghenđều cho rằng lịch sử tất cả các xã hội tồn tại từ trước đến nay chỉ là lịch sửđấu tranh giai cấp [21, tr 596-597] Do vậy, chính trị không tách rời khỏi lịch

sử phát triển của mọi xã hội và đấu tranh giai cấp Xét từ góc độ triết học,chính trị được cho là sự tham gia vào các công việc của Nhà nước, việc quyđịnh những hình thức, nhiệm vụ, nội dung hoạt động của Nhà nước Lĩnh vựcchính trị bao hàm các vấn đề chế độ nhà nước, quản lý đất nước, lãnh đạo cácgiai cấp, vấn đề đấu tranh đảng phái, v.v [35, tr 161] Nói cách khác, nói đếnchính trị là nói đến quyền lực nhà nước Từ phân tích trên, xét ở góc độ chungnhất, có thể thấy chính trị thực chất là quan hệ giữa các giai cấp, trong đó chủyếu là quan hệ giữa giai cấp cầm quyền với các giai cấp khác trong xã hội mànội dung của quan hệ đó là vấn đề chính quyền thuộc về ai, của ai và vì ai.Xét ở góc độ riêng, chính trị chỉ thực sự có nghĩa khi nó được hiện thực hóagắn với chủ thể là con người, là giai cấp cụ thể Và khi nói đến con người thìkhông thể không gắn đến quyền Quyền ở đây không mang nghĩa là vươngquyền hay thần quyền, mà là quyền vốn có và tự nhiên của mỗi con người,không phải do bất kỳ ai hoặc thế lực nào ban phát Sự kết hợp giữa nội dungcủa chính trị với bản chất của quyền con người chính là cơ sở dẫn đến sự thừanhận về quyền chính trị

Có nhiều định nghĩa khác nhau về quyền chính trị Trong giáo trình đạicương phục vụ công tác nghiên cứu và giảng dạy của trường Waynesboro ởbang Pennsylvania (Mỹ), quyền chính trị được định nghĩa một cách đơn giản: lànhững yêu cầu pháp lý của công dân được tham gia trong chính quyền và được

đối xử công bằng [53] Giáo trình này cũng chỉ rõ, quyền chính trị bao gồm quyền được bỏ phiếu, khởi kiện, họp và tham gia cơ quan nhà nước

Trang 9

Từ định nghĩa trên, có thể thấy quyền chính trị trước hết là một quyềnpháp lý, được thừa nhận và bảo vệ bằng pháp luật Bên cạnh đó, theo địnhnghĩa này, quyền chính trị gắn và chỉ gắn với những cá nhân có tư cách côngdân; những người không có quốc tịch, nhập cư bất hợp pháp, người nướcngoài cư trú và làm việc trên lãnh thổ nước khác, người tỵ nạn sẽ không cóhoặc chỉ được hưởng một cách hạn chế các quyền chính trị, đặc biệt là không

được hưởng "quyền được bỏ phiếu, khởi kiện, họp và tham gia cơ quan nhà

khẳng định chắc chắn thêm về mặt pháp lý đối với quyền chính trị, vì trước

tiên, nó là "quyền của công dân" và sau đó là, "được xác lập hoặc công nhận bởi

Hiến pháp" Tuy nhiên, phạm vi quyền chính trị ở đây lại tương đối hẹp, vì nó

chỉ bao gồm "quyền tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp trong việc thành lập

hoặc trong quản lý chính quyền"

Một định nghĩa khác trong Từ điển Luật học do Nhà xuất bản Từ điển

Bách khoa của Việt Nam ấn hành năm 1999 cho rằng, quyền chính trị là quyền

tham gia quản lý nhà nước của công dân Đó là quyền quan trọng nhất của công dân, bảo đảm cho công dân thực hiện quyền làm chủ nhà nước, làm chủ xã hội được thực hiện bằng nhiều hình thức khác nhau như công dân có quyền bầu

cử, quyền ứng cử vào các cơ quan quyền lực nhà nước Nhân dân có quyền đóng góp ý kiến vào việc xác định các chính sách để xây dựng và phát triển mọi mặt kinh tế, văn hóa xã hội, an ninh quốc phòng, đối nội, đối ngoại của đất nước Nhân dân có quyền tham gia xây dựng pháp luật, tham gia giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội, kiến nghị với cơ

Trang 10

quan nhà nước biểu quyết khi Nhà nước tổ chức trưng cầu dân ý [40, tr 415].

So với hai định nghĩa trên, định nghĩa này khá sâu sắc và toàn diện, thể hiệnđược vị trí quan trọng và nội dung cụ thể của quyền chính trị trong số cácquyền con người Tuy nhiên, nó lại "bỏ quên" một vấn đề có ý nghĩa thenchốt mà có thể bảo đảm cho quyền chính trị được thực hiện trong thực tiễn,

đó là vấn đề quyền chính trị phải được bảo đảm thực hiện bằng pháp luật Bất

kỳ quyền con người nào muốn được thực hiện phải được quy định trong phápluật và bảo đảm cho các quy định đó được thực hiện trên thực tế

Từ những định nghĩa trên đây, có thể rút ra một khái niệm chung vềquyền chính trị như sau:

Quyền chính trị là một trong những quyền quan trọng nhất của công dân, được Hiến pháp và pháp luật bảo vệ; nó xác lập năng lực pháp lý của công dân trong việc tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào quản lý nhà nước, quản lý xã hội

Như vậy, khái niệm này cho thấy, thực hiện quyền chính trị là phảibảo đảm được hai nội dung sau:

Thứ nhất, công dân tham gia trực tiếp vào quản lý nhà nước và quản

xử nào Trực tiếp tham gia quản lý nhà nước và xã hội là việc người dân trựctiếp đảm nhận các cương vị trong bộ máy chính quyền nhà nước, các tổ chức

xã hội, đồng thời cũng là người trực tiếp thực hiện các chính sách và pháp luậtcủa nhà nước Còn gián tiếp tham gia quản lý nhà nước và xã hội là việc

Trang 11

người dân thông qua các cơ quan đại diện của Nhà nước, tổ chức xã hội đểbày tỏ ý kiến, quan điểm vào việc xây dựng và hoạch định chính sách, phápluật.

Bảo đảm thực hiện quyền chính trị của công dân qua hai nội dung trên

cũng chính là thực hiện tốt phương thức: "dân biết, dân bàn, dân làm, dân

kiểm tra" Dân ở đây bao gồm cả nam và nữ Vì thế phụ nữ cũng là chủ thể của

phương thức trên và cũng có quyền chính trị

Vậy quyền chính trị của phụ nữ là gì? Thực tế, theo khái niệm quyền

chính trị nêu trên, đối tượng hưởng thụ quyền là công dân, tức bao gồm tất cả

những người có quốc tịch của một quốc gia, không phân biệt giới tính và tuổitác, thì nội hàm của quyền chính trị của phụ nữ cũng chính là nội hàm củakhái niệm quyền chính trị nói chung Tuy nhiên, xuất phát từ góc độ bìnhđẳng giới và quyền con người của phụ nữ, có thể rút ra một khái niệm vềquyền chính trị của phụ nữ như sau:

Quyền chính trị của phụ nữ là một trong những quyền con người quan trọng nhất của phụ nữ, được Hiến pháp và pháp luật bảo vệ; nó xác lập năng lực pháp lý bình đẳng của phụ nữ với nam giới trong việc tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào quản lý nhà nước, quản lý xã hội

1.1.1.2 Đặc điểm của quyền chính trị của phụ nữ

Xem xét quyền chính trị của phụ nữ trong mối tương quan với cácquyền khác trong hệ thống các quyền con người, cũng như trong sự phát triểnchung của mọi xã hội, có thể rút ra ba đặc điểm của quyền chính trị của phụ

nữ như sau:

- Quyền chính trị của phụ nữ là yếu tố xác lập vị thế pháp lý bình đẳng của phụ nữ với nam giới trong đời sống chính trị - xã hội.

Trang 12

Khi xem xét quyền chính trị của phụ nữ, không thể không nhìn từgóc độ bình đẳng giới và pháp luật Việc bảo đảm quyền chính trị là cơ sở đểxác lập địa vị pháp lý bình đẳng của người phụ nữ với nam giới, bởi chỉthông qua đó, phụ nữ mới được tham gia vào quá trình ra những quyết địnhgắn liền với các quyền, lợi ích của họ trên mọi lĩnh vực, từ đó hạn chế vàtiến tới xóa bỏ hoàn toàn những phân biệt đối xử về giới mà họ thường lànạn nhân Tuy nhiên, bình đẳng ở đây phải là bình đẳng về thực chất; và chỉ

có bình đẳng về thực chất mới là cơ sở để bảo đảm bền vững địa vị pháp lýbình đẳng của phụ nữ Đây là mối quan hệ biện chứng giữa bình đẳng vàpháp luật Biểu hiện của bình đẳng về thực chất là phụ nữ thực hiện đượcquyền chính trị và xác lập được địa vị pháp lý của mình, được tham gia mộtcách dân chủ vào mọi hoạt động của đời sống chính trị và đời sống côngcộng Ngược lại, pháp luật là công cụ để bảo đảm và bảo vệ quyền tham giabình đẳng của phụ nữ Trong mối quan hệ biện chứng này, phụ nữ vừa làngười hưởng thụ quyền, nhưng đồng thời cũng là chủ thể trực tiếp đấu tranhxóa bỏ định kiến, tham gia xây dựng pháp luật về quyền bình đẳng củamình Trong khi quyền chính trị của nam giới hầu như mặc nhiên được thừanhận thì quyền chính trị của phụ nữ phải trải qua quá trình đấu tranh mớiđược ghi nhận trong pháp luật, được thực hiện trong thực tế Xác lập và thựchiện được quyền chính trị của phụ nữ là yếu tố quyết định để xác lập và bảođảm thực hiện sự bình đẳng nam nữ

- Quyền chính trị của phụ nữ là hình thức pháp lý thể hiện bản chất dân chủ, bình đẳng của xã hội

Bảo đảm quyền chính trị của phụ nữ được thực thi trên cơ sở khôngphân biệt đối xử và bình đẳng thực chất chính là bảo đảm cho phụ nữ thamgia vào xây dựng và quản lý nhà nước và xã hội Sự tham gia của phụ nữ vàocác cấp ra quyết định chắc chắn sẽ giúp cho những chính sách của nhà nước,đặc biệt là những chính sách liên quan đến phúc lợi xã hội, mang tính cân

Trang 13

bằng về giới hơn Bên cạnh đó, nó còn là biểu hiện của việc tăng cường dânchủ trong xã hội

Quyền chính trị của phụ nữ bao gồm quyền bầu cử và ứng cử, quyềntham gia quản lý nhà nước và một số quyền khác Theo Công ước Liên hợpquốc về xoá bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ, việc bảo đảmthực thi quyền chính trị của phụ nữ phải dựa trên ba nguyên tắc, đó là: bìnhđẳng, không phân biệt đối xử và trách nhiệm quốc gia Bình đẳng và khôngphân biệt đối xử là yêu cầu khách quan; trong khi trách nhiệm quốc gia baohàm cả việc bảo đảm dân chủ xã hội Xét về mặt lịch sử, dân chủ và bìnhđẳng không chỉ là nhu cầu của con người mà còn là yêu cầu khách quan Haiphạm trù này không tách biệt, mà ngược lại, chúng hỗ trợ và bổ sung chonhau Dân chủ ở đây bao gồm dân chủ trực tiếp và dân chủ gián tiếp, trong

đó biểu hiện của dân chủ trực tiếp chính là sự tham gia của cả hai giới trongquản lý nhà nước, còn dân chủ gián tiếp là bầu cử và ứng cử vào các cơ quanđại diện quyền lực nhân dân Như vậy, thực thi dân chủ bao hàm cả yêu cầuthực thi một phần quyền chính trị của phụ nữ; và ngược lại, bảo đảm thực thiquyền chính trị của phụ nữ mới thực hiện được dân chủ, bình đẳng một cáchđầy đủ trong đời sống xã hội Nói cách khác, xã hội nào xác lập và thực hiệnđược quyền chính trị của phụ nữ mới là xã hội dân chủ, bình đẳng thực sự

- Quyền chính trị của phụ nữ là cơ sở và nền tảng để bảo đảm thực hiện các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa của phụ nữ.

Bảo đảm thực hiện quyền chính trị, hay quyền kinh tế, xã hội và vănhóa của phụ nữ là bảo đảm thực hiện các quyền con người của phụ nữ đãđược pháp luật quy định và bảo vệ Quyền con người là một hệ thống cácquyền thống nhất với nhau Vì vậy, có thể khẳng định cả hai nhóm quyền nàyđều quan trọng như nhau và có quan hệ mật thiết với nhau

Trong hệ thống quyền con người, quyền chính trị thường là nhữngquyền được đề cập đầu tiên trong số những quyền mà phụ nữ có Chính vì

Trang 14

vậy, để xác lập vị thế bình đẳng của phụ nữ trong xã hội, trước hết phải xétđến quyền chính trị.

Về cơ bản, phụ nữ cũng được hưởng các cơ hội bình đẳng như namgiới nhưng để có sự bình đẳng thực chất, phụ nữ phải được bảo đảm thực hiệncác quyền chính trị của họ Nói cách khác, họ phải được tham gia trực tiếp vàgián tiếp vào quản lý nhà nước, quản lý xã hội; tham gia vào quá trình pháttriển kinh tế, xã hội của đất nước Do đó, quyền chính trị của phụ nữ đóng vaitrò là nền tảng, có tính quyết định tới việc thực hiện các quyền kinh tế, xã hội

và văn hóa

1.1.2 Khái niệm, nội dung và đặc điểm của pháp luật về quyền chính trị của phụ nữ

1.1.2.1 Khái niệm pháp luật về quyền chính trị của phụ nữ

Phụ nữ với tư cách là công dân cũng có đầy đủ những quyền như mộtcông dân, trong đó có quyền chính trị Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân lịch

sử, xã hội và văn hóa, trên thực tế, những định kiến coi thường phụ nữ vẫncòn ảnh hưởng nặng nề trong đời sống chính trị - xã hội Hiến pháp và phápluật có thể ghi nhận quyền bình đẳng nam nữ và phụ nữ cũng có những quyềnnhư nam giới, nhưng do những định kiến về phụ nữ nên phụ nữ còn gặp nhiềutrở ngại, khó khăn khi tham gia vào đời sống chính trị, tham gia quản lý nhànước và hoạt động xã hội Chính vì vậy, ngoài những quy định chung vềquyền con người, quyền công dân, pháp luật còn có những quy định riêngdành cho phụ nữ, bảo đảm quyền chính trị của phụ nữ

Như vậy, phụ nữ hoàn toàn có quyền tự do thực hiện quyền chính trịcủa mình như bản chất của các quyền con người Nhưng việc thực hiện quyền

đó chỉ có hiệu lực và hiệu quả khi nó được đặt dưới sự bảo vệ của pháp luật

và phù hợp với pháp luật Do định kiến coi thường phụ nữ còn nặng nề nên đểbảo đảm cho phụ nữ thực hiện được những quyền chính trị của họ trong thực

Trang 15

tế, nhà nước phải ban hành nhiều quy định trong pháp luật, trong đó có cảnhững chế tài nghiêm khắc xử lý các hành vi vi phạm quyền chính trị của phụ

nữ Như vậy, pháp luật không chỉ ghi nhận, cụ thể hóa quyền chính trị củaphụ nữ mà còn quy định những thiết chế bảo đảm thực hiện những quyền đótrên thực tế

Từ những phân tích trên, có thể nêu khái niệm pháp luật về quyền

chính trị của phụ nữ như sau: Pháp luật về quyền chính trị của phụ nữ là tổng

thể các quy định trong hệ thống pháp luật nhằm bảo đảm việc thực hiện và bảo vệ quyền chính trị của phụ nữ trên cơ sở bình đẳng và không phân biệt đối xử.

1.1.2.2 Nội dung của pháp luật về quyền chính trị của phụ nữ

Nói đến nội dung của pháp luật về quyền chính trị của phụ nữ là đề

cập tới các quy phạm pháp luật cụ thể hướng đến mục tiêu xác lập và bảo vệ

năng lực và tư cách pháp lý bình đẳng của phụ nữ trong lĩnh vực chính trị

Dưới góc độ pháp luật quốc tế, những quy định liên quan trực tiếp vàgián tiếp đến quyền chính trị của phụ nữ có thể được tìm thấy trong nhiều vănkiện quốc tế về quyền con người, tiêu biểu như Tuyên ngôn thế giới về quyềncon người (UDHR) năm 1948, Công ước về các quyền chính trị của phụ nữnăm 1952, Công ước Quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (ICCPR) năm

1966 và Công ước Liên hợp quốc về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xửvới phụ nữ (CEDAW) năm 1979

Công ước CEDAW không phải là văn kiện pháp lý chuyên biệt quyđịnh về các quyền con người của phụ nữ, vì các quyền như vậy đã được thừanhận trong các điều ước quốc tế khác về nhân quyền đã được ban hành trước

đó, cụ thể như các điều ước kể trên Tuy nhiên, Công ước CEDAW có ý nghĩahết sức quan trọng đối với việc hiện thực hóa các quyền con người của phụ

nữ, trong đó có quyền chính trị, bởi lẽ công ước này xác định các cách thức,

Trang 16

biện pháp nhằm loại trừ những sự phân biệt đối xử với phụ nữ trong việc hưởng thụ các quyền con người Nói cách khác, mục đích của Công ước

CEDAW là trao cho phụ nữ những quyền con người đã được thừa nhậnnhưng trên thực tế họ chưa được hưởng, bởi có những sự phân biệt đối xử vớiphụ nữ [49, tr 64]

Trong số các điều khoản quan trong nhất của Công ước CEDAW,

Điều 7 xác lập phạm vi quyền chính trị của phụ nữ, bao gồm: quyền tham gia

bỏ phiếu trong mọi cuộc bầu cử, trưng cầu dân ý; quyền ứng cử; quyền tham gia xây dựng và thực hiện các chính sách của Chính phủ, tham gia các chức

vụ nhà nước; quyền tham gia các tổ chức và hiệp hội phi chính phủ liên quan đến đời sống công cộng và chính trị của đất nước Điều này cũng yêu cầu các

quốc gia thành viên phải tiến hành tất cả các biện pháp thích hợp để xóa bỏ sựphân biệt đối xử với phụ nữ trong đời sống chính trị, công cộng của đất nước,đặc biệt là trong việc hưởng thụ các quyền chính trị cụ thể nêu trên

Điều 8 Công ước CEDAW mở rộng phạm vi quyền chính trị của phụ

nữ ra ngoài biên giới quốc gia, bằng việc yêu cầu các quốc gia thành viên phảitiến hành tất cả các biện pháp thích hợp nhằm bảo đảm cho phụ nữ có cơ hộiđại diện cho Chính phủ họ ở cấp độ quốc tế và tham gia vào công việc của các

tổ chức quốc tế trên cơ sở bình đẳng với nam giới và không có bất kỳ sự phânbiệt đối xử nào

Theo tinh thần của Công ước CEDAW, có ba nguyên tắc pháp lý cầntuân thủ để bảo đảm việc thực thi các quyền con người của phụ nữ, trong đó

có quyền chính trị, đó là: nguyên tắc về trách nhiệm quốc gia; nguyên tắc

không phân biệt đối xử; và nguyên tắc bình đẳng về giới Cả ba nguyên tắc

này đều quan trọng, tuy nhiên, từ góc độ thực tiễn, hai nguyên tắc bình đẳng

và không phân biệt đối xử giữ vai trò chủ đạo và có tính xuyên suốt, bởi lẽ,

đây là những nguyên tắc được coi như là chuẩn mực khi xem xét việc bảo

Trang 17

đảm thực hiện bất cứ quyền nào của phụ nữ, trong bất cứ mối quan hệ nào(gia đình, cộng đồng, xã hội, quốc gia và quốc tế.)

Trên nguyên tắc bình đẳng và không phân biệt đối xử, thực hiệnquyền chính trị của phụ nữ là bảo đảm quyền dân chủ trong xã hội Dân chủ

về lý thuyết gồm dân chủ trực tiếp và dân chủ gián tiếp Biểu hiện của dânchủ trực tiếp là phụ nữ cũng như nam giới được trực tiếp tham gia vào toàn bộquá trình quản lý nhà nước, từ khâu xây dựng, hoạch định chính sách đếntriển khai công việc cụ thể, hoặc trực tiếp tham gia giám sát, kiểm tra hoạtđộng của các cơ quan công quyền thực hiện quyền lực được giao Đặc biệt,dân chủ ở cơ sở thể hiện ở chỗ phụ nữ được tham gia góp ý kiến bằng nhiềuhình thức vào các vấn đề liên quan đến đời sống cộng đồng trong đó có nhữngvấn đề liên quan đến lợi ích của họ Hình thức điển hình của dân chủ gián tiếp

là phụ nữ tham gia bầu cử người đại diện và ứng cử vào các cơ quan dân cử,

cơ quan đại diện quyền lực nhà nước

Ở Việt Nam, quyền chính trị của phụ nữ với tính cách là quyền công

dân sớm được xác lập bằng pháp luật cùng với sự ra đời của Hiến pháp đầu

tiên năm 1946 Ngay từ thời điểm này, phụ nữ đã được công nhận có địa vị

công dân bình đẳng so với đàn ông: "Đàn bà ngang quyền với đàn ông về mọi

phương diện" (Điều 9) Quyền bình đẳng nam nữ trong bầu cử và ứng cử trở

thành quy tắc xuyên suốt trong các Hiến pháp từ 1946 đến nay: Công dân,

không phân biệt dân tộc, nam, nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hóa, thời hạn cư trú, từ 18 tuổi trở lên đều có quyền bầu cử và từ

21 tuổi trở lên đều có thể được bầu vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp, trừ những người bị pháp luật hoặc tòa án nhân dân tước các quyền đó.

Phù hợp với tinh thần của Công ước CEDAW, Hiến pháp và pháp luậtViệt Nam cũng có những quy định xác lập quyền bình đẳng của phụ nữ thamgia xây dựng và thực hiện các chính sách của Chính phủ, tham gia các chức

Trang 18

vụ nhà nước và thực hiện chức năng công cộng ở mọi cấp Cụ thể, Điều 53

Hiến pháp năm 1992 (đã sửa đổi) quy định rõ: "Công dân có quyền tham gia

quản lý nhà nước và xã hội, tham gia thảo luận các vấn đề chung của cả nước và địa phương, kiến nghị với cơ quan nhà nước " Để hiện thực hóa quy

định có tính định hướng này, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã ban hành nhiềuluật, văn bản dưới luật nhằm tạo điều kiện cho phụ nữ thực hiện quyền bìnhđẳng của họ tham gia vào quản lý nhà nước, quản lý kinh tế và xã hội Nhờchính sách pháp luật như vậy mà trong những năm qua, nhất là trong thời kỳđổi mới đất nước, phụ nữ đã được giải phóng sức lao động và sáng tạo của họ,phát huy hết tiềm năng, có những đóng góp nhất định vào những thành tựutrong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Ngoài những quy định xác lập ngày càng rõ ràng và cụ thể hơn về

quyền chính trị của phụ nữ trong Hiến pháp, quyền chính trị của phụ nữ cũngđược cụ thể hóa trong nhiều văn bản pháp luật khác Đặc biệt, phù hợp vớitinh thần của Công ước CEDAW, trong số những văn bản pháp luật như vậy

có những văn bản chứa đựng những quy định với những thiết chế nghiêm

minh nhằm bảo vệ quyền chính trị của phụ nữ, bao gồm việc bảo đảm thực

hiện, chống các hành vi xâm phạm quyền chính trị của phụ nữ đã được xáclập trong pháp luật và biện pháp xử lý tương ứng, như Bộ luật Hình sự, Bộluật Tố tụng Hình sự, Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính Chẳng hạn, đểbảo đảm thực hiện quyền bình đẳng của phụ nữ trong bầu cử và ứng cử, Bộluật Hình sự hiện hành của Việt Nam quy định những chế tài đối với tội xâmphạm quyền bầu cử và ứng cử của công dân, và tội xâm phạm quyền bìnhđẳng của phụ nữ (Điều 126 và 130) Những quy định này của Bộ luật Hình sựhay các quy định tại Luật Bầu cử sửa đổi năm 2001 là cơ sở bảo vệ về mặtpháp lý nói chung đối với quyền bầu cử và ứng cử của phụ nữ, kể cả việcngăn ngừa sự phân biệt đối xử với phụ nữ trong đời sống chính trị và côngcộng của đất nước

Trang 19

Như vậy, quyền chính trị của phụ nữ đã có một cơ sở pháp lý khá đầy

đủ và toàn diện, từ việc xác lập đến bảo vệ bằng pháp luật Pháp luật của ViệtNam đã có những quy định riêng, nhưng đồng thời cũng rất hài hòa với phápluật quốc tế trong việc khẳng định quyền chính trị của phụ nữ - một trongnhững quyền quan trọng nhất của phụ nữ cần được bảo vệ, trên cơ sở bìnhđẳng, không phân biệt đối xử cùng với trách nhiệm quốc gia và cả cộng đồngquốc tế, vì dân chủ và sự tiến bộ của phụ nữ

1.1.2.3 Đặc điểm của pháp luật về quyền chính trị của phụ nữ

Từ phân tích về nội dung của pháp luật về quyền chính trị của phụ nữ

ở trên, có thể rút ra một số đặc điểm cơ bản của pháp luật về quyền chính trịcủa phụ nữ như sau:

- Thứ nhất, pháp luật về quyền chính trị của phụ nữ bao gồm các quy định của pháp luật về quyền chính trị của công dân nói chung và các quy định trực tiếp về quyền chính trị của phụ nữ nói riêng.

Quyền chính trị của phụ nữ ở Việt Nam được thể hiện và được phápluật bảo vệ với tư cách là các quyền công dân, Phụ nữ cũng là công dân vàphụ nữ có các quyền chính trị của một công dân, được tham gia vào mọi hoạtđộng trong đời sống chính trị và đời sống công cộng của đất nước Tuy vậy,

để khẳng định quyền chính trị và quyền bình đẳng của phụ nữ, Hiến pháp vànhững văn bản pháp luật liên quan cũng có những quy định riêng về nội dungquyền chính trị và quyền bình đẳng của phụ nữ Ví dụ, ngoài những quy địnhchung về quyền công dân được quy định trong chương về nghĩa vụ và quyềnlợi của công dân trong Hiến pháp, còn có những quy định riêng về quyền của

phụ nữ Điều 7 Hiến pháp 1946 xác định: "Tất cả công dân Việt Nam đều bình

đẳng trước pháp luật, đều được tham gia chính quyền và công cuộc kiến quốc tùy theo tài năng và đức hạnh của mình" Đồng thời, Điều 9 của Hiến pháp này

nhấn mạnh thêm: "Đàn bà ngang quyền với đàn ông về mọi phương diện".

Đồng thời, các chế tài nhằm bảo vệ các quyền tự do dân chủ của công dân

Trang 20

Chẳng hạn, ngoài những quy định về quyền lợi và nghĩa vụ cơ bản của côngdân ở Chương III Hiến pháp 1959 khẳng định:

Phụ nữ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa có quyền bình đẳngvới nam giới về các mặt sinh hoạt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội,gia đình Cùng làm việc như nhau, phụ nữ được hưởng lương ngangvới nam giới Nhà nước bảo đảm cho phụ nữ công nhân và phụ nữviên chức được nghỉ trước và sau khi đẻ mà vẫn hưởng nguyênlương

Những quy định như vậy đã hình thành nên một hệ thống các quyphạm pháp luật quy định trực tiếp đến quyền chính trị và các quyền khác củaphụ nữ

- Thứ hai, pháp luật về quyền chính trị của phụ nữ là tổng hợp nhiều quy phạm pháp luật thuộc các lĩnh vực khác nhau.

Nhiệm vụ của pháp luật là xác lập cơ sở pháp lý và tạo cơ sở để bảo

vệ quyền chính trị của phụ nữ Với nội dung rộng như đã đề cập ở trên, việcxác lập và bảo vệ quyền chính trị của phụ nữ không chỉ được quy định tạiHiến pháp, mà còn được quy định trong nhiều văn bản pháp luật khác như:Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội, Luật Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân, Bộluật Dân sự, Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự, Luật Khiếu nại, tố cáo,

Bộ luật Lao động… Đặc biệt, trong những văn bản pháp luật này đều cónhững quy định riêng về quyền của phụ nữ nhằm mục đích bảo vệ và bảo đảmviệc thực hiện quyền chính trị của phụ nữ Ngoài ra, hệ thống các quyền conngười là thống nhất, việc thực hiện quyền này là cơ sở và tiền đề cho việc bảođảm thực hiện các quyền khác Do đó, tuy không trực tiếp quy định về quyềnchính trị của công dân nói chung hay của phụ nữ nói riêng, song cũng không

vì thế mà bỏ qua những văn bản pháp luật quy định một cách gián tiếp vềquyền chính trị của phụ nữ hoặc các quyền liên quan, như Luật Giáo dục

Trang 21

Chính vì vậy, việc bảo đảm thực hiện quyền chính trị của phụ nữ không chỉcăn cứ vào những quy phạm pháp luật riêng quy định về quyền chính trị củaphụ nữ, mà còn liên quan đến nhiều quy phạm pháp luật thuộc các lĩnh vựckhác nhau Nói cách khác, pháp luật về quyền chính trị của phụ nữ là sự tổnghợp của nhiều quy phạm pháp luật thuộc các lĩnh vực khác nhau nhằm bảo vệ

và bảo đảm quyền chính trị của phụ nữ được thực hiện trên thực tế và hiệuquả

- Thứ ba, pháp luật về quyền chính trị của phụ nữ là sự kết hợp hài hòa giữa các quy định pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia, là biểu hiện của sự tiếp thu tư tưởng tiến bộ của pháp luật quốc tế về quyền chính trị của phụ nữ kết hợp với bản sắc văn hóa của Việt Nam.

Thúc đẩy và bảo vệ quyền chính trị của phụ nữ không chỉ là mối quantâm và trách nhiệm của riêng một quốc gia nào, mà nó đã trở thành nghĩa vụ vàtrách nhiệm chung của cả cộng đồng quốc tế Như trên đã đề cập, cộng đồngquốc tế đã thông qua nhiều văn kiện pháp lý quy định về quyền chính trị của phụ

nữ Những văn kiện pháp lý như vậy đều thể hiện tư tưởng tiến bộ của nhân loại

về giải phóng phụ nữ, bảo đảm sự bình đẳng và nâng cao địa vị của phụ nữ

Trong số những văn kiện pháp lý quốc tế quy định trực tiếp hoặc giántiếp về quyền chính trị của phụ nữ, Việt Nam đã gia nhập và phê chuẩn haicông ước quan trọng nhất có liên quan là: Công ước ICCPR và Công ướcCEDAW Trong quá trình xây dựng pháp luật, Nhà nước Việt Nam luôn xemxét khả năng thể chế hóa những quy định tiến bộ của pháp luật quốc tế vào hệthống pháp luật quốc gia Đây cũng là một phần trong trách nhiệm quốc gia(trách nhiệm lập pháp) khi Việt Nam gia nhập và phê chuẩn những công ướcnày Bên cạnh đó, khi xây dựng pháp luật, chúng ta cũng dựa trên truyền thốngvăn hóa và hoàn cảnh đặc thù của Việt Nam để có điều chỉnh và thông quanhững quy phạm pháp luật phù hợp Chính vì thế, pháp luật Việt Nam thểhiện tư tưởng tiến bộ, có tính thuyết phục, phù hợp với hoàn cảnh của Việt

Trang 22

Nam và mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc Các quy phạm pháp luật về quyềnchính trị của phụ nữ trong hệ thống pháp luật Việt Nam thể hiện rõ tư tưởngtrên, trong đó đặc biệt nhấn mạnh đến nguyên tắc bình đẳng và không phânbiệt đối xử.

1.1.3 Vai trò của pháp luật về quyền chính trị của phụ nữ

Vai trò của pháp luật về quyền chính trị của phụ nữ thể hiện ở nhữngđiểm cơ bản sau:

- Một là, pháp luật về quyền chính trị của phụ nữ thể chế hóa đường lối, chủ trương và chính sách của Đảng về quyền chính trị của phụ nữ

Trong bất kỳ giai đoạn lịch sử nào kể từ khi xuất hiện Nhà nước vàgiai cấp, pháp luật luôn luôn là công cụ để thể chế hóa đường lối, chủ trương

và chính sách của giai cấp cầm quyền Ở nước ta, Đảng là lực lượng lãnh đạoNhà nước và toàn xã hội

Đối với phụ nữ, từ khi ra đời cho đến nay, Đảng luôn dành sự quantâm đặc biệt cho phụ nữ, bảo vệ lợi ích chính đáng của phụ nữ trên mọi mặtcủa đời sống chính trị - xã hội Trong Luận cương Chính trị năm 1930 củaĐảng, tư tưởng giải phóng phụ nữ và tôn trọng quyền lợi của phụ nữ đã đượcghi nhận, trở thành tuyên ngôn đầu tiên về quyền bình đẳng nam nữ, phụ nữđược công nhận ngang hàng với nam giới về mặt chính trị Tiếp đó, Đảng cònban hành nhiều chỉ thị và nghị quyết có tính chất định hướng và chỉ đạo nhằmbảo đảm quyền chính trị của phụ nữ, ví dụ Nghị quyết số 153-NQ/TW, ngày 10tháng 01 năm 1967 về "Công tác cán bộ nữ", Chỉ thị số 44-CT/TW, ngày 07tháng 6 năm 1984, "Về một số vấn đề cấp bách trong công tác cán bộ nữ", v.v

Tư tưởng chỉ đạo nhất quán và xuyên suốt trong tất cả các văn bản trên của Đảng

là bảo đảm quyền bình đẳng và không phân biệt đối xử với phụ nữ Tư tưởngnày cũng trở thành nguyên tắc chung và được thể chế hóa trong Hiến pháp vàpháp luật của Nhà nước, biến nó trở thành chuẩn mực, quy tắc xử sự bắt buộc

Trang 23

chung đối với toàn xã hội Tuy nhiên, một thực tế cho đến nay là pháp luật củachúng ta chưa thể chế hóa đầy đủ, cụ thể và thiếu những thiết chế bảo đảmthực hiện trên thực tế đường lối, chủ trương và chính sách của Đảng về phụ

nữ nói chung và quyền chính trị của phụ nữ nói riêng Điều này đã ảnh hưởngkhông nhỏ đến quá trình thực hiện quyền chính trị của phụ nữ trên thực tế

- Hai là, pháp luật về quyền chính trị của phụ nữ tạo cơ sở pháp lý

vững chắc nhằm thực hiện và bảo vệ quyền chính trị của phụ nữ

Với chức năng là công cụ để Nhà nước quản lý, bảo vệ các giá trị vàbảo đảm công bằng xã hội, pháp luật có vai trò đặc biệt quan trọng trong việckhông chỉ xác lập, mà còn bảo vệ (bao gồm bảo đảm thực hiện, chống các viphạm liên quan) quyền chính trị của phụ nữ Pháp luật là tập hợp những quyđịnh trong đó nêu các quy tắc xử sự chung cho phép hoặc bắt buộc các chủthể pháp luật phải xử sự theo Nói cách khác, các chủ thể của pháp luật, từ các

cơ quan của Đảng, Nhà nước đến các đoàn thể và tổ chức xã hội, mọi cá nhâncông dân có trách nhiệm thực hiện các quy định của pháp luật Hiến pháp vàpháp luật của Việt Nam luôn nhất quán bảo vệ quyền chính trị của phụ nữ.Hiến pháp 1992 sửa đổi của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy

định rõ: "Công dân nam, nữ có quyền ngang nhau về mọi mặt, không ngừng

phát huy vai trò của mình trong xã hội"

Bên cạnh đó, pháp luật còn có những quy định về hình thức, biện pháp

xử lý hành vi vi phạm quyền chính trị của phụ nữ Ví dụ, Điều 126 Bộ luậtHình sự năm 1999 quy định về các biện pháp chế tài đối với tội xâm phạmquyền bầu cử, quyền ứng cử của công dân nói chung, trong đó có quyền bầu

cử, ứng cử của phụ nữ nói riêng: "Người nào lừa gạt, mua chuộc, cưỡng ép

hoặc dùng thủ đoạn khác cản trở việc thực hiện quyền bầu cử, quyền ứng cử của công dân thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến một năm" Như vậy, pháp luật đã có những quy định

Trang 24

xác lập và bảo vệ quyền chính trị của phụ nữ Nhờ đó, từ khi khai sinh nướcViệt Nam dân chủ cộng hòa, phụ nữ Việt Nam đã được giải phóng, đã cóquyền tham gia đời sống chính trị của xã hội

- Ba là, pháp luật về quyền chính trị của phụ nữ đã động viên, khuyến khích và tạo cơ sở pháp lý để phụ nữ đấu tranh thực hiện quyền chính trị của mình.

Pháp luật về quyền chính trị của phụ nữ không chỉ xác lập địa vị bìnhđẳng của phụ nữ trong đời sống chính trị mà là những quy tắc xử sự được sửdụng như thước đo chuẩn mực chung, đồng thời có tính chất bắt buộc đối vớimọi thành phần trong xã hội nhằm thực hiện bảo vệ quyền chính trị của phụ

nữ Chính vì vậy, pháp luật về quyền chính trị của phụ nữ được sử dụng như

cơ sở tham chiếu đối với những hành vi trái pháp luật vi phạm quyền chính trịcủa phụ nữ, đồng thời, những quy định của pháp luật về quyền chính trị củaphụ nữ còn có vai trò rất quan trọng trong việc động viên, khuyến khích phụ

nữ thực hiện quyền chính đáng mà đã được pháp luật ghi nhận Hơn nữa,những quy định đó còn là cơ sở pháp lý để phụ nữ đấu tranh với những hành

vi sai trái, những định kiến lạc hậu cản trở phụ nữ thực hiện quyền chính trịcủa mình Nếu không có những quy định của pháp luật về quyền bình đẳngnam nữ, về quyền chính trị của phụ nữ thì với quan điểm định kiến, hẹp hòi,trọng nam khinh nữ đang còn ảnh hưởng nặng nề trong xã hội, phụ nữ sẽ gặpnhiều trở ngại, khó khăn trong việc tham gia ứng cử hoặc được bổ nhiệm vàocác chức vụ lãnh đạo, quản lý cũng như tham gia quản lý nhà nước, quản lý

xã hội Vì vậy, pháp luật về quyền chính trị của phụ nữ đóng vai trò hết sứcquan trọng trong việc bảo đảm và thực hiện quyền chính trị của phụ nữ

1.2 CÁC TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ HOÀN THIỆN CỦA PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN CHÍNH TRỊ CỦA PHỤ NỮ

Trang 25

Trong gần 20 đổi mới, cải cách và mở cửa, đất nước ta đã đạt đượcnhững thành tựu to lớn trên tất cả các mặt của đời sống chính trị và xã hội Sựphát triển của đất nước cũng đặt ra yêu cầu phải hoàn thiện hệ thống pháp luật

để một mặt, có đầy đủ khung pháp lý điều chỉnh các hoạt động của đời sốngchính trị và đời sống công cộng; mặt khác, để hài hòa với pháp luật quốc tếtrong bối cảnh hội nhập

Quyền chính trị của phụ nữ là một vấn đề phức tạp và nhạy cảm Hoànthiện pháp luật về quyền chính trị của phụ nữ cũng có nghĩa là tăng cườngtính dân chủ trong xã hội, bảo đảm quyền bình đẳng giữa nam và nữ, khôngphân biệt đối xử với phụ nữ trong đời sống chính trị và đời sống công cộng.Theo Công ước CEDAW, điều này cũng chính là một phần trong trách nhiệmquốc gia nhằm bảo đảm thực thi quyền chính trị của phụ nữ

Cần thấy rằng, pháp luật về quyền chính trị của phụ nữ chỉ là một bộphận rất cụ thể và đặc thù trong toàn bộ hệ thống pháp luật Việt Nam Về lýthuyết, để đánh giá mức độ hoàn thiện của một hệ thống pháp luật, cần phảicăn cứ trên những tiêu chí xác định chung Đó là: tính toàn diện, tính đồng bộ,tính thống nhất; ngoài ra, do đặc thù của đối tượng hưởng thụ quyền, có thể

áp dụng một số tiêu chí khác như tính phù hợp, tính kế thừa và tính hiệu lực

- Ở cấp độ cụ thể hơn, ở từng lĩnh vực mà pháp luật điều chỉnh đòi hỏi mỗi ngành luật phải có đủ các chế định pháp luật và các quy phạm phápluật [33, tr 61]

Trang 26

- Ở mức độ cụ thể, quan hệ xã hội cụ thể hoặc chủ thể quan hệ phápluật cụ thể (chế định pháp luật) đòi hỏi các chế định pháp luật phải có đầy đủcác quy phạm pháp luật cần thiết Quyền chính trị của phụ nữ là một vấn đềđặc thù, chuyên biệt về đối tượng điều chỉnh, chủ thể quan hệ pháp luật vàliên quan đến nhiều văn bản pháp luật vì thế có thể xác định pháp luật vềquyền chính trị của phụ nữ là một chế định pháp luật để đánh giá mức độhoàn thiện của nó.

Quyền chính trị của phụ nữ là quyền bình đẳng của phụ nữ được thamgia vào tất cả các hoạt động của đời sống chính trị và đời sống công cộng trên

cơ sở không phân biệt đối xử Do vậy, tính toàn diện của pháp luật về quyềnchính trị của phụ nữ phải bảo đảm hai yêu cầu: Pháp luật về quyền chính trị

của phụ nữ phải có đầy đủ các quy phạm pháp luật nhằm xác lập quyền bình

đẳng nam nữ, vị trí và ý nghĩa quyền chính trị của phụ nữ; và đồng thời phảinhằm thực hiện và bảo vệ quyền chính trị của phụ nữ

Về yêu cầu thứ nhất, đối với phụ nữ quyền chính trị là một trong

những quyền quan trọng nhất, thường được đề cập đầu tiên trong hệ thống cácquyền con người mà họ có Ở nước ta, quyền chính trị của phụ nữ trước tiênđược khẳng định trong các văn kiện của Đảng, coi đó là một quyền bình đẳngcủa nam nữ, một tiêu chí để xác định tính dân chủ trong xã hội Pháp luật cónhiệm vụ thể chế hóa đường lối, chủ trương và chính sách của Đảng về quyềnchính trị của phụ nữ bằng những quy phạm pháp luật cụ thể, biến nó trở thànhquy tắc xử sự chung có tính bắt buộc với toàn xã hội Hơn nữa, từ nghĩa vụquốc tế khi Việt Nam gia nhập và phê chuẩn Công ước CEDAW, pháp luậtcủa chúng ta cũng tiếp thu và thể chế hóa toàn bộ phạm vi các quyền chính trịcủa phụ nữ được quy định trong công ước này

Về yêu cầu thứ hai, việc thực hiện và bảo vệ quyền chính trị của phụ

nữ, theo tinh thần của Công ước CEDAW, dựa trên ba nguyên tắc có tính chấtbắt buộc: bình đẳng, không phân biệt đối xử và trách nhiệm quốc gia Do vậy,

Trang 27

để xác định tính toàn diện của pháp luật trong việc thực hiện và bảo vệ quyềnchính trị của phụ nữ, cần phải xem xét liệu pháp luật về quyền chính trị củaphụ nữ có đầy đủ những quy phạm pháp luật thể hiện được ba nguyên tắc trênkhông Về lý thuyết, pháp luật của Việt Nam đã có khá đầy đủ những quyphạm pháp luật bảo vệ quyền chính trị của phụ nữ, thể hiện trong Hiến pháp,luật bầu cử, Không những thế, pháp luật về quyền chính trị của phụ nữ còn

có những quy phạm pháp luật chứa đựng các chế tài xử phạt nghiêm khắc đốivới những hành vi xâm phạm quyền chính trị của phụ nữ vì bất kỳ lý do gì vàdưới bất kỳ hình thức nào, thể hiện trong Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụnghình sự, Luật Khiếu nại và tố cáo, Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính

Như vậy, cơ sở pháp lý về quyền chính trị của phụ nữ là toàn diện, thểhiện được trách nhiệm quốc gia của Việt Nam trong vấn đề lập pháp, phù hợpvới những yêu cầu của các điều ước quốc tế và Công ước CEDAW

Tính đồng bộ, thống nhất của hệ thống pháp luật thể hiện trên nhữngđiểm sau đây:

- Một là, tính đồng bộ thể hiện ở sự đồng bộ giữa Hiến pháp với các

ngành luật và giữa các ngành luật với nhau Để đạt tới mục tiêu này, cần xácđịnh rõ ranh giới giữa các ngành luật và phải xây dựng được một hệ thốngquy phạm pháp luật căn bản trong Hiến pháp, hoàn thiện Hiến pháp nhằm tạo

cơ sở để củng cố tính thống nhất của toàn bộ hệ thống pháp luật

Trang 28

- Hai là, tính đồng bộ, thống nhất thể hiện sự thống nhất, không mâu

thuẫn, không xung đột, không trùng lặp, chồng chéo trong mỗi ngành luật,mỗi chế định pháp luật và giữa các quy phạm pháp luật trong ngành luật đóvới nhau

- Ba là, tính đồng bộ, thống nhất của hệ thống pháp luật thể hiện ở sự

đồng bộ, thống nhất giữa văn bản luật với các văn bản dưới luật

- Bốn là, trong điều kiện Đảng cầm quyền, còn phải bảo đảm tính

đồng bộ, thống nhất giữa các quy định của pháp luật với đường lối, chínhsách, quan điểm của Đảng

Pháp luật về quyền chính trị của phụ nữ tuy có đặc thù về đối tượngđiều chỉnh và chủ thể quan hệ pháp luật, nhưng đó là quyền Hiến định căn cứvào quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng đối với phụ nữ Vì vậy, tínhđồng bộ, thống nhất của pháp luật về quyền chính trị của phụ nữ cũng đượcxem xét theo bốn yêu cầu nêu trên Điều đó có nghĩa là pháp luật về quyền

chính trị của phụ nữ cần phải bảo đảm các yêu cầu sau đây: thứ nhất, phải bảo

đảm tính đồng bộ, thống nhất giữa Hiến pháp với các ngành luật và giữa các

ngành luật với nhau; thứ hai, phải bảo đảm được tính đồng bộ, thống nhất

trong mỗi ngành luật, mỗi chế định pháp luật và giữa các quy phạm pháp luật

trong ngành luật đó; và thứ ba, phải bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất giữa văn bản luật với các văn bản dưới luật; thứ tư, phải bảo đảm tính đồng bộ,

thống nhất giữa các quy định của pháp luật với chủ trương, chính sách củaĐảng về quyền chính trị của phụ nữ

Trước hết, mức độ hoàn thiện của pháp luật về quyền chính trị củaphụ nữ phải thể hiện tính đồng bộ, thống nhất giữa Hiến pháp và luật, giữaHiến pháp, luật với các văn bản dưới luật Hiến pháp là văn bản có tính pháp

lý cao nhất, là cơ sở để tạo khung xây dựng các luật nhằm cụ thể hóa từng nộidung, vấn đề được quy định trong Hiến pháp Hiến pháp 1992 sửa đổi khẳng

Trang 29

định nguyên tắc bình đẳng nam nữ về các quyền, không phân biệt đối xửtrong thực thi quyền chính trị của phụ nữ Theo đó, việc xây dựng các luậtnhằm cụ thể hóa nội dung các quyền đó cũng phải bảo đảm nguyên tắc bìnhđẳng và không phân biệt đối xử với phụ nữ khi tham gia vào đời sống chínhtrị và đời sống công cộng

Hơn nữa, pháp luật về quyền chính trị của phụ nữ là sự tổng hợp cácquy phạm pháp luật của nhiều ngành luật khác nhau trong hệ thống pháp luậtcủa Việt Nam Quyền chính trị của phụ nữ có phạm vi rộng, có những nội dungthuộc sự điều chỉnh của Luật Hành chính, Luật Bầu cử, Bộ luật Hình sự Chính vì vậy, mức độ hoàn thiện của pháp luật về quyền chính trị của phụ nữphải được thể hiện qua tính đồng bộ và thống nhất giữa các quy phạm của cácngành luật này với ngành luật khác trong một tổng thể hệ thống pháp luậtquốc gia Trong mối quan hệ phức tạp như vậy giữa các ngành luật với nhau,

tư tưởng xuyên suốt có tính nguyên tắc chi phối nội dung quy phạm pháp luậtcủa các ngành luật phải là: bình đẳng và không phân biệt đối xử Sở dĩ lấy cácnguyên tắc này làm tiêu chuẩn để xét tính đồng bộ giữa các quy phạm luậttrong các ngành luật là vì đồng bộ không có nghĩa là một quy phạm pháp luậttrong ngành luật này phải được lặp lại, hoặc nhắc lại trong ngành luật kia, màcái chính là làm thế nào nội dung của quy phạm pháp luật này không xung độtvới nội dung quy định trong các quy phạm pháp luật của ngành luật kia Dovậy, giữa các quy phạm pháp luật về quyền chính trị của phụ nữ vừa có cáiriêng - thuộc ngành luật khác nhau, song cũng vừa có cái chung - đó là thểhiện cho được tinh thần của các nguyên tắc bình đẳng và không phân biệt đối

xử, sự nhất quán về chủ trương và thống nhất về nội dung

Quyền chính trị của phụ nữ phải là quyền bình đẳng của phụ nữ thamgia trong tất cả các hoạt động của đời sống chính trị và đời sống công cộng.Quyền bình đẳng phải là tiêu chí đối với từng quy phạm pháp luật bảo đảmquyền chính trị của phụ nữ Chẳng hạn, Luật bầu cử khẳng định quyền bình

Trang 30

đẳng, không phân biệt đối xử với phụ nữ trong việc bầu cử và ứng cử Và nhưvậy, pháp luật hình sự phải khẳng định việc bảo vệ quyền bình đẳng của phụ

nữ bằng những chế tài nghiêm minh, nghiêm cấm mọi hành vi phân biệt đối

xử, gây tổn hại đến quyền bầu cử và ứng cử của phụ nữ

Tuy nhiên, trong quá trình phát triển cũng nảy sinh nhiều mối quan hệ,pháp luật vì thế cũng phải điều chỉnh theo Vì vậy, lẽ đương nhiên trong quátrình đó cũng sẽ khó tránh khỏi tình trạng có những quy định này trái với quyđịnh kia, và điều này vô hình chung đã tạo ra tình trạng quy phạm pháp luậtnày làm giảm hiệu lực hoặc thậm chí là triệt tiêu quy phạm pháp luật kia

Đồng thời, pháp luật về quyền chính trị của phụ nữ không có đạo luậtriêng quy định về các nội dung liên quan đến quyền chính trị của phụ nữ, màchỉ là tập hợp những quy phạm pháp luật thuộc các ngành luật khác nhau Ởcấp độ chung nhất, giữa các quy phạm pháp luật trong các văn bản luật có thểđồng bộ và thống nhất về nội dung quy định Song, ở cấp độ cụ thể, nghĩa làkhi cụ thể hóa các quy phạm trên bằng những văn bản hướng dẫn, giải thích-văn bản dưới luật-thì vấn đề hoàn toàn có thể khác, dễ xảy ra tình trạng quyđịnh cụ thể xung đột với quy định chung, văn bản dưới luật trái với văn bảnluật và thậm chí là vi hiến Chẳng hạn, trong vấn đề bầu cử và ứng cử Hiếnpháp 1992 sửa đổi quy định: Công dân không phân biệt dân tộc, nam nữ,thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hóa, thời hạn cư trú, từ

18 tuổi trở lên, đều có quyền bầu cử và từ 21 tuổi trở lên đều có thể được bầuvào Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp Như vậy, Hiến pháp đã mở rộngđến mức tối đa đối tượng hưởng và thực hiện quyền bầu cử và ứng cử, nam và

nữ đều có quyền ngang nhau Theo quy định này, với tỷ lệ chiếm hơn nửa dân

số, nữ giới có điều kiện khả năng chiếm tỷ lệ đại diện cao trong các cơ quandân cử từ trung ương đến địa phương Tuy nhiên, việc đặt ra hạn định, mứcphấn đấu về tỷ lệ đại biểu là nữ trong Quốc hội và Hội đồng nhân dân, mộtmặt, là tích cực nhằm nâng tỷ lệ nữ đại biểu vẫn còn rất thấp so với yêu cầu

Trang 31

giới và chưa tương xứng với tiềm năng và khả năng thực tế của phụ nữ; songmặt khác, nó đã vô hình chung trái với tinh thần quy định tại Hiến pháp vàluật bầu cử Rõ ràng, những quy định này xét trên một khía cạnh nhất định làkhông đồng bộ với nhau Tình trạng thiếu đồng bộ như vậy trong pháp luậtcủa nước ta chưa được khắc phục triệt để Thực trạng này trước mắt có thểchấp nhận được, nhưng về lâu dài cần được tháo gỡ, đây cũng là một phầntrách nhiệm quốc gia của Việt Nam theo tinh thần Công ước CEDAW

Ngoài ra, mức độ hoàn thiện pháp luật về quyền chính trị của phụ nữphải thể hiện tính đồng bộ, thống nhất giữa pháp luật với chủ trương, chínhsách của Đảng về quyền chính trị của phụ nữ Như đã đề cập ở trên, quyềnbình đẳng của phụ nữ tham gia trong đời sống chính trị và đời sống công cộngtrước hết là xuất phát từ đường lối, chủ trương và chính sách của Đảng về phụ

nữ Pháp luật với tính cách là công cụ của Nhà nước xác lập và bảo vệ quyềnchính trị của phụ nữ thì không được trái với đường lối, chủ trương và chínhsách của Đảng Phù hợp với quan điểm của Đảng thì nhiệm vụ cao nhất củapháp luật là bảo đảm được quyền bình đẳng, không phân biệt đối xử với phụ

nữ tham gia vào đời sống chính trị và đời sống công cộng

Sự đồng bộ, thống nhất giữa pháp luật với đường lối, chủ trương vàchính sách của Đảng về quyền chính trị của phụ nữ phải trải qua một bướcđệm là nhận thức, và từ nhận thức sâu sắc về nghĩa vụ và trách nhiệm phảibảo đảm quyền bình đẳng của phụ nữ tham gia vào đời sống chính trị và đờisống công cộng mới có thể xây dựng và thông qua những quy phạm pháp luậtphù hợp Nhận thức đó phải dựa trên kinh nghiệm thực tiễn và yêu cầu phảithực hiện trách nhiệm quốc gia theo quy định của Công ước CEDAW Nhưvậy, phải nhận thức sâu sắc quan điểm, đường lối, chủ trương và chính sáchcủa Đảng về quyền bình đẳng và không phân biệt đối xử với phụ nữ về quyềncủa phụ nữ tham gia vào đời sống chính trị và đời sống công cộng, trên cơ sở

đó thể chế hóa thành nội dung cụ thể của các quy định trong văn bản pháp

Trang 32

luật và thường xuyên tổng kết xem xét việc thực hiện trong thực tế như thếnào để điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung các quy định của pháp luật nhằm bảo đảmthực hiện quyền chính trị của phụ nữ trên thực tế.

Về lý thuyết, pháp luật về quyền chính trị của phụ nữ được hình thành

để điều chỉnh các quan hệ của phụ nữ trong đời sống chính trị và đời sốngcông cộng, trên cơ sở bình đẳng và không phân biệt đối xử Tuy nhiên, trongquá trình điều chỉnh này, pháp luật chịu sự tác động và phụ thuộc vào trình

độ phát triển kinh tế - xã hội, điều kiện chính trị của đất nước Chính vì vậy,pháp luật về quyền chính trị của phụ nữ phải luôn gắn liền và bám sát vớitrình độ phát triển kinh tế - xã hội và điều kiện chính trị Nếu trình độ pháttriển kinh tế - xã hội đi quá nhanh, đẩy nhanh sự phát triển về nhu cầu dânchủ và quyền bình đẳng, nhưng pháp luật về quyền chính trị của phụ nữ lạikhông bắt kịp thì sẽ càng dẫn đến tình trạng mất cân bằng giới, nhất là trongquản lý nhà nước và kinh tế Ngược lại, pháp luật về quyền chính trị của phụ

nữ không thể phát triển nhanh hơn trình độ phát triển kinh tế - xã hội, bởi chỉ

có thể là trình độ phát triển kinh tế - xã hội, điều kiện và hoàn cảnh yêu cầukhách quan cần có sự tham gia bình đẳng của phụ nữ trong đời sống chínhtrị và đời sống công cộng quy định và là cơ sở để phát triển pháp luật vềquyền chính trị của phụ nữ

Trang 33

Hiện nay, phụ nữ có điều kiện để phát triển toàn diện về mọi mặt, kể

cả vấn đề học thức Cùng với xu thế phát triển đó, Đảng và Nhà nước takhông chỉ quan tâm mà còn đặt yêu cầu đối với sự tham gia của phụ nữ vàocông việc xã hội và quản lý xã hội ở mức độ sâu hơn Chủ trương và chínhsách của Đảng để phụ nữ được hưởng đầy đủ quyền chính trị của họ là có,song điều đáng tiếc là pháp luật để bảo đảm cho họ được hưởng quyền này lạichưa theo kịp cả về chủ trương lẫn yêu cầu khách quan đặt ra từ sự phát triểncủa xã hội và của chính bản thân phụ nữ Bên cạnh đó, pháp luật về quyềnchính trị của phụ nữ phải phù hợp với thực tế lịch sử của đất nước; đồng thờikhi chúng ta hội nhập quốc tế ngày càng sâu, đòi hỏi chúng ta phải tiếp cận vàtuân thủ các quy định của pháp luật quốc tế Tính phù hợp của hoàn thiệnpháp luật về quyền chính trị của phụ nữ cũng thể hiện mối quan hệ không thểtách rời với nhiệm vụ xây dựng pháp chế dân chủ của đất nước, phù hợp với

chủ trương xây dựng nước ta theo định hướng "dân giàu, nước mạnh, xã hội

công bằng, dân chủ, văn minh"

1.2.4 Tính hiệu lực

Hiệu lực của pháp luật về quyền chính trị của phụ nữ có nghĩa là phải

có các thiết chế bảo đảm thực hiện quyền chính trị của phụ nữ trên thực tế.Muốn vậy, pháp luật về quyền chính trị của phụ nữ phải bao gồm những quy

phạm pháp luật: thứ nhất, có tính giáo dục và thuyết phục cao nhằm nâng cao

nhận thức về quyền bình đẳng và không phân biệt đối xử với phụ nữ tham gia

vào đời sống chính trị và đời sống công cộng; thứ hai, quy định rõ ràng về

chức năng, nhiệm vụ của cơ quan, bộ máy thực thi và giám sát việc thực hiện

quyền chính trị của phụ nữ; và thứ ba, có những chế tài xử lý nghiêm minh

mọi hành vi vi phạm quyền chính trị của phụ nữ

Mặc dù pháp luật đã có nhiều quy định khá chặt chẽ và cụ thể vềquyền chính trị của phụ nữ nhưng hiệu lực của những quy phạm pháp luật về

Trang 34

quyền chính trị của phụ nữ lại tương đối thấp, trên thực tế có nơi này, nơi kia

tỉ lệ phụ nữ tham gia làm công tác quản lý còn thấp và phụ nữ vẫn còn bị coinhẹ trong khi có rất nhiều chị em đã khẳng định được năng lực, trình độ vàphẩm chất của mình Để xảy ra tình trạng này, không thể không xét đến tínhnghiêm minh của các quy phạm pháp luật Sự hoàn thiện của pháp luật vềquyền chính trị của phụ nữ chỉ có thể được xác định khi các quy phạm phápluật về quyền chính trị của phụ nữ có được đời sống thực tế, được xây dựngtheo đúng trình tự pháp luật Vì đã được coi là một tiêu chí để xác định sựhoàn thiện của pháp luật về quyền chính trị của phụ nữ, nên yêu cầu về tínhhiệu lực đòi hỏi phải được kết hợp hài hòa giữa các quy định mang tínhnguyên tắc, khuôn mẫu chung với các quy phạm nhằm bảo đảm thực hiện; sựđồng bộ từ quá trình xây dựng đến khi ban hành luật và các văn bản dưới luật

để hướng dẫn thực hiện; đồng thời xử lý nghiêm minh các trường hợp viphạm quy định pháp luật về việc bảo đảm thực hiện quyền chính trị của phụ

nữ Tính hiệu lực còn thể hiện trong việc thiết lập cơ chế áp dụng luật, hoànthiện tổ chức và hoạt động của các cơ quan thi hành luật và giám sát thực thipháp luật

1.2.5 Tính tương thích với các văn bản pháp luật quốc tế mà Việt Nam đã tham gia, ký kết và phê chuẩn

Trong một thời gian dài, trình độ xây dựng pháp luật và chất lượngpháp luật của chúng ta chưa theo kịp trình độ phát triển của đất nước và củathời đại Điều này, một mặt, là do chúng ta chịu hậu quả của chính sách baovây và cấm vận, không có điều kiện tiếp xúc với bên ngoài, hạn chế sự tiếpthu những tinh hoa và phát triển mới trong hệ thống pháp luật quốc tế; mặtkhác, về chủ quan, chúng ta cũng chưa quan tâm đúng mức đến công tác lậppháp, phát triển và xây dựng pháp luật nói chung và chuyển hóa pháp luậtquốc tế vào nội dung pháp luật trong nước nói riêng

Trang 35

Để hoàn thiện pháp luật về quyền chính trị của phụ nữ rất cần phảitham khảo quá trình xây dựng và phát triển pháp luật về phụ nữ của các nước,các điều ước quốc tế liên quan mà Việt Nam đã tham gia Xét về tổng quanpháp luật về quyền chính trị của phụ nữ ở nước ta, nhiều quy định đã đượcluật hóa trong Hiến pháp, trong nhiều luật và bộ luật Tuy nhiên, trong quátrình hội nhập, chúng ta còn cần phải thực hiện các nghĩa vụ quốc tế Nghĩa

là, có nhiều quy phạm pháp luật trong các điều ước quốc tế về quyền chính trịcủa phụ nữ thể hiện những mặt tiến bộ cần phải nội luật hóa hoặc làm cơ sở

để tham khảo Bên cạnh đó, chúng ta cũng có thể tham khảo các văn bản phápluật tiến bộ về quyền chính trị của phụ nữ của các nước Việc tham khảo, và nếutrong trường hợp áp dụng, không chỉ là sự kế thừa các thành tựu và sự tiến bộcủa hệ thống pháp lý văn minh nhân loại, mà còn thể hiện sự giao lưu và tiếpcận có kế thừa giữa các quy định pháp luật trong nước với pháp luật quốc tế.Như vậy, pháp luật của chúng ta sẽ hoàn thiện hơn cả trong bối cảnh quốc gia

và trong mối tương quan với pháp luật quốc tế về quyền chính trị của phụ nữ

1.3 HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN CHÍNH TRỊ CỦA PHỤ NỮ Ở VIỆT NAM LÀ YÊU CẦU KHÁCH QUAN, CẤP BÁCH HIỆN NAY

1.3.1 Xuất phát từ yêu cầu bảo đảm địa vị bình đẳng và phát huy vai trò, năng lực của phụ nữ

Phụ nữ luôn chiếm một vị trí quan trọng trong chủ trương và chínhsách phát triển vì con người của Đảng và Nhà nước xã hội chủ nghĩa ViệtNam Tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta so với chế độ tư bảnchủ nghĩa là mọi chủ trương, chính sách và pháp luật đều vì con người, trong

đó có phụ nữ, đồng thời bảo đảm điều kiện thuận lợi cho mọi người dân vàphụ nữ phát huy hết khả năng của mình trong xây dựng và bảo vệ đất nước

Có thể nói, trong chế độ mới và nhất là 20 năm đổi mới vừa qua, phụ nữ ViệtNam đã có nhiều cơ hội, điều kiện thực hiện quyền bình đẳng, phát huy vaitrò, năng lực của mình

Trang 36

Tuy nhiên, đi liền với cơ hội là những thách thức Một trong nhữngthách thức lớn đối với phụ nữ Việt Nam là phải vượt qua những định kiếnphân biệt đối xử từ ngàn xưa để lại Vì vậy, bảo đảm địa vị bình đẳng và pháthuy vai trò, năng lực của phụ nữ luôn luôn là vấn đề bức xúc nhất là trong quátrình đổi mới, mở cửa, hội nhập quốc tế hiện nay Trong quá trình đó, mỗingười phải tham gia ý kiến nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của quốc gia và củachính mình và phụ nữ không thể đứng ngoài yêu cầu đó Họ phải vào cuộc,phải tự mình nâng cao năng lực chuyên môn của mình, tự mình đề xuất nhữngtâm tư, nguyện vọng, nhu cầu của mình, tự mình khẳng định năng lực và vị trícủa mình ở quốc gia cũng như trên trường quốc tế Để làm được điều này, phụ

nữ phải nỗ lực rất nhiều, phải vượt qua chính mình, vượt qua những định kiếngiới; đồng thời, để phụ nữ thực sự vượt qua những định kiến giới góp phầnthúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội và phát triển con người, Đảng và Nhànước ta cần có những chính sách khuyến khích sự tham gia của họ, tăng vị trí

và vai trò của phụ nữ vào hệ thống quyền lực nhà nước hay nói cách khác làtrao quyền lực thực sự cho phụ nữ

1.3.2 Xuất phát từ yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và thực thi dân chủ

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: "Nước ta là một nước dân chủ, bao

nhiêu lợi ích là vì dân, bao nhiêu quyền hạn đều là của dân, chính quyền từ

xã đến Chính phủ Trung ương đều do dân cử ra" [25, tr 299] Quán triệt tư

tưởng của Người, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng Cộng sảnViệt Nam đã dành sự chú ý thích đáng cho nhiệm vụ đẩy mạnh cải cách tổchức và hoạt động của Nhà nước, phát huy dân chủ, tăng cường pháp chế,trong đó có nhiệm vụ xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa

Giải phóng phụ nữ và bảo đảm quyền bình đẳng, quyền chính trị củaphụ nữ cũng là những yêu cầu về nội dung cơ bản trong xây dựng Nhà nướcpháp quyền và thực thi dân chủ ở nước ta Chừng nào phụ nữ chưa thực sự

Trang 37

bình đẳng, chưa được giải phóng, chưa được tham gia đầy đủ các lĩnh vực củađời sống chính trị cũng như các quyền và lợi ích hợp pháp khác thì chưa thểnói là có Nhà nước pháp quyền, có dân chủ được Chủ tịch Hồ Chí Minh cònkhái quát cao hơn bằng cách coi việc giải phóng phụ nữ là bảo đảm quyền của

phụ nữ, là tiêu chuẩn của chế độ Xã hội chủ nghĩa: "Phụ nữ chiếm một nửa

tổng số nhân dân Để xây dựng chủ nghĩa xã hội thì phải thật sự giải phóng phụ nữ và tôn trọng quyền lợi của phụ nữ Hiến pháp và pháp luật của nước

ta đã quy định rõ điều đó" [28, tr 225].

Theo V.I Lênin, Nhà nước là hình thức cơ bản của dân chủ Vì vậy,xây dựng và hoàn thiện Nhà nước là cách cơ bản nhất của việc phát huyquyền làm chủ của nhân dân [41, tr 3] Phát huy dân chủ, như vậy, có nghĩa

là nâng cao quyền lực cho nhân dân Để phát huy được dân chủ hay nâng caoquyền lực cho nhân dân, cần phải có sự tham gia tích cực của tất cả mọingười, kể cả phụ nữ Nói cách khác, không thể có dân chủ thực sự khi không

có sự tham gia đầy đủ của cả hai giới

Để thực hiện dân chủ cũng như xây dựng Nhà nước pháp quyền, cầnphải xây dựng được đội ngũ cán bộ lãnh đạo có uy tín, có trình độ chuyênmôn cao ở cả hai giới Khi nói về công tác cán bộ, đặc biệt là cán bộ nữ, Chủtịch Hồ Chí Minh đã nói, muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội thì phải thực sựgiải phóng phụ nữ và tôn trọng quyền, lợi ích hợp pháp của họ

1.3.3 Xuất phát từ yêu cầu khắc phục những hạn chế, tồn tại trong pháp luật và thực hiện pháp luật về quyền chính trị của phụ nữ

Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã quan tâm đến cácquyền của phụ nữ nói chung và quyền chính trị của phụ nữ nói riêng bằngcách ban hành rất nhiều nghị quyết, chính sách, pháp luật về lĩnh vực này.Việt Nam đã trở thành một trong số ít các quốc gia ở châu Á sớm công nhậnquyền bình đẳng nam nữ trên tất cả các lĩnh vực bằng cách phê chuẩn Côngước CEDAW Sự quan tâm của Đảng còn được thể hiện ở việc Việt Nam luôn

Trang 38

coi công tác cán bộ nữ là nhiệm vụ có tính chiến lược trong công tác cán bộ.Việc nâng cao tỷ lệ cán bộ nữ tham gia quản lý kinh tế - xã hội là thực hiệnquyền bình đẳng, dân chủ, là điều kiện để phát huy tài năng, trí tuệ và nângcao địa vị xã hội của phụ nữ Vì vậy, đã có nhiều phụ nữ giữ các vị trí lãnhđạo cao trong các cơ quan Đảng, Nhà nước như Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Chủtịch nước, Phó Chủ tịch Quốc hội Tuy nhiên, cũng cần phải thừa nhận rằng,

tỷ lệ nữ làm công tác lãnh đạo quản lý ở các bộ, ngành Trung ương và địaphương còn rất thấp Những hạn chế này do rất nhiều nguyên nhân, trong đó

có nguyên nhân là do pháp luật và thực hiện pháp luật về quyền chính trị củaphụ nữ còn nhiều hạn chế, tồn tại Điều này dẫn đến việc khó thực thi cácquyền của phụ nữ nói chung và quyền chính trị của phụ nữ nói riêng trongthực tế

Do đó, hoàn thiện pháp luật về quyền chính trị của phụ nữ và bảo đảmthực hiện trên thực tế sẽ góp phần khắc phục những hạn chế và bổ sung thêmquy định trong pháp luật hiện hành khắc phục những tồn tại trong việc thựchiện các quy định về quyền chính trị của phụ nữ, tạo điều kiện cho sự pháttriển của phụ nữ

1.3.4 Xuất phát từ yêu cầu bảo đảm sự tương thích với pháp luật quốc tế mà Việt Nam đã tham gia, ký kết và phê chuẩn

Trong quá trình hội nhập, Việt Nam không thể đứng biệt lập khỏicộng đồng quốc tế Muốn hòa nhập được với cộng đồng quốc tế thì Việt Namphải sẵn sàng là bạn với tất cả các nước, sẵn sàng thích nghi với môi trườngquốc tế Môi trường quốc tế ở đây không chỉ là môi trường xã hội mà còn làmôi trường pháp luật

Nhận thấy rõ tầm quan trọng của quá trình hội nhập, Nhà nước ta đãphê chuẩn rất nhiều công ước quốc tế trên tất cả các lĩnh vực, kể cả lĩnh vựcchính trị Như đã đề cập ở trên, một trong những công ước liên quan trực tiếp

Trang 39

đến quyền chính trị của phụ nữ mà Việt Nam phê chuẩn là Công ước CEDAWnăm 1981 Trong những năm qua, hệ thống pháp luật Việt Nam đã không ngừngđược bổ sung, sửa đổi và hoàn thiện theo hướng thể hiện ngày càng đầy đủ cácnguyên tắc và nội dung của Công ước CEDAW trên cơ sở phù hợp với điềukiện kinh tế, chính trị, xã hội và văn hóa trong từng giai đoạn phát triển củađất nước

Mặc dù vậy, để theo kịp dòng chảy hội nhập quốc tế, để phụ nữ ViệtNam ngày càng tự tin hơn trên trường quốc tế, cần có những quy định cụ thể,

rõ ràng hơn nữa về quyền của phụ nữ nói chung và quyền chính trị của phụ nữnói riêng dựa trên những nội dung và nguyên tắc của Công ước CEDAW

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Chính trị luôn luôn gắn với quyền lực và đấu tranh giai cấp Hai yếu

tố đó kết hợp và hòa quyện với nhau, không tách rời nhau tạo thành một phạmtrù-quyền chính trị-phản ánh quá trình phát triển của lịch sử nhân loại, cũngnhư nhu cầu tự nhiên của con người Quyền chính trị thuộc hệ thống cácquyền con người và là một trong những quyền quan trọng nhất của con người

Phụ nữ vốn sinh ra đã bị thành kiến là những người chỉ biết sinh đẻ,làm công việc nội trợ và là công dân hạng hai Nhưng, phụ nữ với tư cách làcông dân có quyền được hưởng các quyền con người - quyền công dân màpháp luật cho phép và bảo vệ, trong đó có quyền chính trị, trên cơ sở bìnhđẳng và không phân biệt đối xử Quyền chính trị là một trong những quyềnquan trọng nhất của phụ nữ và có những đặc điểm sau:

- Quyền chính trị của phụ nữ là yếu tố xác lập vị thế pháp lý của phụ

nữ trong đời sống chính trị - xã hội

- Quyền chính trị của phụ nữ là hình thức pháp lý thể hiện bản chấtdân chủ, bình đẳng của xã hội

Trang 40

- Quyền chính trị của phụ nữ là cơ sở và nền tảng để bảo đảm thựchiện các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa của phụ nữ.

Quyền đi đôi với pháp luật, quyền tự do và tự nhiên của con người chỉthực sự có nghĩa khi được pháp luật bảo vệ Quyền chính trị của phụ nữ ởViệt Nam được Hiến pháp và pháp luật bảo vệ Hơn thế, nó được xác lập vàbảo đảm được thực thi từ trong đường lối, chủ trương và chính sách của Đảng

- lực lượng duy nhất cầm quyền và lãnh đạo Nhà nước và xã hội ở Việt Nam:

Pháp luật về quyền chính trị của phụ nữ bao gồm các quy định củapháp luật về quyền chính trị của công dân nói chung và các quy định trực tiếp

về quyền chính trị của phụ nữ và là tổng hợp nhiều quy phạm pháp luật thuộccác lĩnh vực khác nhau, đồng thời, pháp luật về quyền chính trị của phụ nữ là

sự kết hợp hài hòa giữa các quy định pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia,

là biểu hiện của sự tiếp thu tư tưởng tiến bộ của pháp luật quốc tế về quyềnchính trị của phụ nữ kết hợp với bản sắc văn hóa của Việt Nam Chính vì vậy,hoàn thiện pháp luật về quyền chính trị của phụ nữ phải bảo đảm tính toàndiện, đồng bộ, phù hợp, khả thi và tương thích với các công ước quốc tế đãtham gia, ký kết của các quy phạm pháp luật trong hệ thống pháp luật

Phát triển là quá trình vận động không ngừng của xã hội Quá trìnhđổi mới của nước ta trong gần hai thập kỷ qua đã nâng trình độ phát triển kinh

tế - xã hội của nước ta lên một bước, đời sống và dân trí được nâng cao Theoquy luật, sự phát triển như vậy lẽ đương nhiên sẽ làm nảy sinh những mốiquan hệ xã hội mới, yêu cầu về dân chủ, bảo đảm các quyền con người trở nêncấp thiết hơn Trong quá trình đó, pháp luật với tư cách là công cụ quản lý vàbảo đảm trật tự, công bằng xã hội của Nhà nước không thể lạc hậu với trình độphát triển của xã hội, mà phải được tăng cường theo hướng ngày một hoànthiện hơn để phù hợp với yêu cầu xây dựng một nhà nước pháp quyền Cơ sởpháp lý về quyền chính trị của phụ nữ hiện nay ở Việt Nam có thể coi là

Ngày đăng: 05/11/2016, 14:16

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Vũ Hồng Anh (1997), Chế độ bầu cử của một số nước trên thế giới, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chế độ bầu cử của một số nước trên thế giới
Tác giả: Vũ Hồng Anh
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1997
2. Trần Thị Vân Anh, Lê Ngọc Hùng (1996), Phụ nữ, Giới và phát triển, Nxb Phụ nữ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phụ nữ, Giới và phát triển
Tác giả: Trần Thị Vân Anh, Lê Ngọc Hùng
Nhà XB: Nxb Phụ nữ
Năm: 1996
3. Bộ Ngoại giao và Ủy ban quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam (2005), Báo cáo quốc gia lần thứ 5 và 6 về tình hình thực hiện Công ước Liên hợp quốc về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (CEDAW), (Dự thảo năm 2005), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo quốc gia lần thứ 5 và 6 về tình hình thực hiện Côngước Liên hợp quốc về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụnữ (CEDAW)
Tác giả: Bộ Ngoại giao và Ủy ban quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam
Năm: 2005
4. Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (CEDAW) (1999), Nxb Phụ nữ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (CEDAW)
Tác giả: Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (CEDAW)
Nhà XB: Nxb Phụ nữ
Năm: 1999
5. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốclần thứ VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1996
6. Đảng Cộng sản Việt Nam (1997), Văn kiện hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện hội nghị lần thứ ba Ban Chấphành Trung ương khóa VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1997
7. Vũ Công Giao (2004), “Bình đẳng giới - cuộc đấu tranh lâu dài của nhân loại”, Tạp chí Cộng sản, (5), tr. 74-78 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình đẳng giới - cuộc đấu tranh lâu dài của nhânloại”, "Tạp chí Cộng sản
Tác giả: Vũ Công Giao
Năm: 2004
8. Hiến pháp nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1946, 1959, 1980, 1992 và 2001 (2001), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiến pháp nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1946, 1959,1980, 1992 và 2001
Tác giả: Hiến pháp nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1946, 1959, 1980, 1992 và 2001
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001
9. Học viện Hành chính Quốc gia (2001), Tài liệu Hội thảo Bác Hồ với phụ nữ và tăng cường năng lực quản lý của phụ nữ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu Hội thảo Bác Hồ với phụnữ và tăng cường năng lực quản lý của phụ nữ
Tác giả: Học viện Hành chính Quốc gia
Năm: 2001
10. Học viện Hành chính Quốc gia (2002), Tăng cường năng lực quản lý và vai trò của phụ nữ Việt Nam trong công vụ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tăng cường năng lực quản lý vàvai trò của phụ nữ Việt Nam trong công vụ
Tác giả: Học viện Hành chính Quốc gia
Năm: 2002
11. Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam (1997), Tăng cường sự tham gia của phụ nữ ASEAN vào các vị trí ra quyết định, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tăng cường sự tham gia của phụnữ ASEAN vào các vị trí ra quyết định
Tác giả: Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam
Năm: 1997
12. Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam (2001), Quyền bình đẳng của phụ nữ trong pháp luật Việt Nam, Nxb Phụ nữ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyền bình đẳng của phụ nữtrong pháp luật Việt Nam
Tác giả: Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam
Nhà XB: Nxb Phụ nữ
Năm: 2001
13. Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam (2002), Văn kiện Đại hội đại biểu phụ nữ toàn quốc lần thứ IX, Nxb Phụ nữ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu phụ nữtoàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam
Nhà XB: Nxb Phụ nữ
Năm: 2002
14. Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam (2004), Báo cáo tham luận Hội nghị tổng kết 10 năm thực hiện Chỉ thị 37-CT/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng về công tác cán bộ nữ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tham luận Hội nghị tổngkết 10 năm thực hiện Chỉ thị 37-CT/TW của Ban Bí thư Trung ươngĐảng về công tác cán bộ nữ
Tác giả: Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam
Năm: 2004
15. Nguyễn Thị Kim Huệ (2003), Địa vị pháp lý của phụ nữ trong pháp luật phong kiến và pháp luật hiện nay ở Việt Nam, Luận văn cử nhân Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa vị pháp lý của phụ nữ trong pháp luậtphong kiến và pháp luật hiện nay ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thị Kim Huệ
Năm: 2003
16. Phạm Khiêm Ích và Hoàng Văn Hảo (1995), Quyền con người trong thế giới hiện đại, Viện Thông tin khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyền con người trong thếgiới hiện đại
Tác giả: Phạm Khiêm Ích và Hoàng Văn Hảo
Năm: 1995
17. Hà Thị Khiết (2004), ”Về một số vấn đề công tác cán bộ nữ trong tình hình mới (Báo cáo tổng kết 10 năm thực hiện Chỉ thị 37-CT/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa VII)”, Khoa học về phụ nữ, (3), tr. 3- 6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khoa học về phụ nữ
Tác giả: Hà Thị Khiết
Năm: 2004
18. Nguyễn Linh Khiếu (2003), Nghiên cứu phụ nữ giới và gia đình, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu phụ nữ giới và gia đình
Tác giả: Nguyễn Linh Khiếu
Nhà XB: Nxb Khoahọc xã hội
Năm: 2003
19. Dương Thị Ngọc Lan (2001), Hoàn thiện pháp luật về quyền lao động nữ ở Việt Nam hiện nay, Luận văn thạc sĩ Luật học, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện pháp luật về quyền lao động nữở Việt Nam hiện na
Tác giả: Dương Thị Ngọc Lan
Năm: 2001
20. Võ Thị Hồng Loan và Đặng Ánh Tuyết (2005), “Bình đẳng nam nữ và thực hiện quyền bình đẳng nam nữ ở nước ta”, Tạp chí Cộng sản, (5), tr. 39-42 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình đẳng nam nữ vàthực hiện quyền bình đẳng nam nữ ở nước ta”, "Tạp chí Cộng sản
Tác giả: Võ Thị Hồng Loan và Đặng Ánh Tuyết
Năm: 2005

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w