Với việc phát triển hoạt động tín dụng bán lẻ, các Ngân hàng không chỉ có thị trường lớn hơn mà hiệu quả kinh tế cũng cao hơn nhờ các sản phẩm được đa dạng hoá và cung cấp với khối lượng
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
- -
VƯƠNG HỒNG HÀ
PHÁT TRIỂN TÍN DỤNG BÁN LẺ TẠI NGÂN HÀNG
Trang 2Chuyên ngành : QUẢN TRỊ KINH DOANH
Mã số : 60.34.05
Người hướng dẫn khoa học: TS ĐỖ QUANG GIÁM
HÀ NỘI - 201 3
Trang 32
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu luận văn thạc
sỹ chuyên ngành QTKD của tôi Các phân tích, số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và chưa được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu khoa học nào Mọi thông tin thứ cấp sử dụng trong đề tài đã được trích dẫn đầy đủ
Hà Nội, ngày tháng 04 năm 2013
Tác giả luận văn
VƯƠNG HỒNG HÀ
Trang 5LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập và nghiên cứu, tôi nhận được sự giúp đỡ tận tình chỉ bảo của tập thể và cá nhân, các cơ quan trong và ngoài Trường ĐH Nông nghiệp Hà Nội
Tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc nhất đến thầy giáo TS
Đỗ Quang Giám – Bộ môn Kế toán Quản trị & Kiểm toán, Khoa Kế toán và Quản trị Kinh doanh - Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo tôi trong suốt quá trình nghiên cứu đề tài này
Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của các phòng ban tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Bắc Giang, Phòng Tổng hợp - Chi cục Thống
kê tỉnh Bắc Giang, Sở Công thương tỉnh Bắc Giang, Trung tâm Công nghệ Thông tin và Truyền thông tỉnh Bắc Giang đã giúp tôi thu thập số liệu, nghiên cứu hoàn thiện luận văn
Bên cạnh sự hợp tác giúp đỡ trong công việc tôi không thể quên sự động viên của gia đình và bạn bè trong quá trình học tập và nghiên cứu thực tế
Dù đã cố gắng nhưng trình độ bản thân còn hạn chế, trong báo cáo của tôi sẽ không tránh khỏi thiếu sót, kính mong các thầy, cô giáo, các bạn sinh viên đóng góp ý kiến để nội dung nghiên cứu này hoàn thiện hơn
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng 04 năm 2013
Tác giả luận văn
VƯƠNG HỒNG HÀ
Trang 7MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iviii
DANH MỤC BẢNG viivi
DANH MỤC BIỂU ĐỒ viiivii
1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu của để tài 3
1.2.1 Mục tiêu chung 3
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 3
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 3
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 4
2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 5
2.1 Cơ sở lý luận 5
2.1.1 Khái niệm, đặc điểm của ngân hàng thương mại 5
2.1.2 Các chức năng(theo chỉnh sửa của thầy Đoàn) chủ yếu của ngân hàng thương mại 9
2.1.3 Tín dụng ngân hàng và các vấn đề có liên quan 141213
2.1.4 Tín dụng bán lẻ và các vấn đề liên quan 2018
2.1.5 Nhân tố ảnh hưởng đến phát triển tín dụng bán lẻ 2724
2.2 Cơ sở thực tiễn 3431
2.2.1 Sự cần thiết phải phát triển tín dụng bán lẻ của ngân hàng ở nước ta 3431
2.2.2 Kinh nghiệm phát triển các sản phẩm tín dụng bán lẻ ngân hàng của một số nước trên thế giới 363334
Trang 82.2.3 Kinh nghiệm phát triển hoạt động tín dụng bán lẻ tại Ngân hàng Nông
nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam 4137
3 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 4339
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 4339
3.1.1 Vài nét khái quát về tỉnh Bắc Giang 4339
3.1.2 Khái quát về Chi nhánh BIDV Bắc Giang 4541
3.2 Phương pháp nghiên cứu 6052
3.2.1 Phương pháp thu thập số liệu 6052
3.2.2 Phương pháp phân tích số liệu 6052
4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 6153
4.1 Thực trạng hoạt động tín dụng tại Chi nhánh BIDV Bắc Giang 6153
4.1.1 Thực trạng công tác huy động vốn 6153
4.1.2 Thực trạng hoạt động cho vay 6355
4.2 Thực trạng phát triển sản phẩm tín dụng bán lẻ của Chi nhánh 6859
4.2.1 Khái quát hoạt động tín dụng bán lẻ của Chi nhánh 6859
4.2.2 Kết quả cung cấp các sản phẩm tín dụng bán lẻ của Chi nhánh 7364
4.3 Đánh giá thực trạng tín dụng bán lẻ của chi nhánh BIDV Bắc Giang 173 4.3.1 Những thành tựu đạt được 173
4.3.2 Những hạn chế và nguyên nhân 577
4.4 Giải pháp phát triển sản phẩm tín dụng bán lẻ tại Chi nhánh BIDV Bắc Giang 1284
4.4.1 Xác định mục tiêu kinh doanh mang tính chiến lược 1284
4.4.12 Tăng cường thu hút khách hàng tiềm năng 1284
4.4.32 Đẩy mạnh các hoạt động MarketingNgân hàng 1385
Trang 94.4.43 Cải tiến, đa dạng hóa dịch vụ, sản phẩm tín dụng bán lẻ
158687
4.4.54 Phát triển, mở rộng mạng lưới hoạt động của Ngân hàng 178889
4.4.65 Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quan hệ khách hàng cá nhân 1889
4.4.76 Nâng cao hình ảnh, vị thế của Ngân hàng 199091
4.4.87 Tiếp tục tăng cường năng lực quản lý rủi ro 2091
5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 239392
5.1 Kết luận 239392
5.2 Kiến nghị 2595
TÀI LIỆU THAM KHẢO 3099
PHỤ LỤC 32101
Trang 10DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Tốc độ tăng trưởng GDP và cơ cấu kinh tế Việt Nam 3431
Bảng 3.1: Tăng trưởng GDP và cơ cấu kinh tế tỉnh Bắc Giang 454140
Bảng 3.2: Những kết quả đạt được của Chi nhánh BIDV Bắc Giang giai đoạn 2009-2011 5145
Bảng 3.3: Kết quả hoạt động dịch vụ của Chi nhánh BIDV Bắc Giang giai đoạn 2009 – 2011 5750
Bảng 4.1: Kết quả huy động vốn của Chi nhánh BIDV Bắc Giang giai đoạn 2009 - 2011 6153
Bảng 4.2: Kết quả cho vay của Chi nhánh BIDV Bắc Giang giai đoạn 2009-2011 6556
Bảng 4.3: So sánh số lượng sản phẩm tín dụng bán lẻ với một số ngân hàng trên địa bàn đến 31/12/2011 6960
Bảng 4.4: Kết quả hoạt động tín dụng bán lẻ tại Chi nhánh BIDV Bắc Giang giai đoạn 2009 – 2011 7162
Bảng 4.5: Kết quả hoạt động cho vay hỗ trợ nhu cầu nhà ở 7465
Bảng 4.6: Kết quả hoạt động cho vay cá nhân, hộ gia đình sản xuất
kinh doanh 167
Bảng 4.7: Kết quả hoạt động cho vay đảm bảo bằng GTCG/TTK 269
Bảng 4.8: Kết quả hoạt động cho vay tiêu dùng tín chấp 470
Bảng 4.9: Kết quả hoạt động cho vay mua ô tô 272
Trang 11DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 4.1 Kết quả huy động vốn của chi nhánh giai đoạn 2009 – 2011 6254 Biểu đồ 4.2 Kết quả cho vay của Chi nhánh BIDV Bắc Giang theo kỳ hạn
giai đoạn 2009-2011 6556
Biểu đồ 4.3 Kết quả cho vay của Chi nhánh BIDV Bắc Giang theo đối tượng khách hàng giai đoạn 2009-2011 6657
Biểu đồ 4.4 Dư nợ tín dụng bán lẻ tại Chi nhánh BIDV Bắc Giang giai đoạn 2009 - 2011 7262
Biểu đồ 4.5 Dư nợ các sản phẩm tín dụng bán lẻ tại Chi nhánh BIDV Bắc Giang giai đoạn 2009 - 2011 7263
Biểu đồ 4.6 Dư nợ cho vay hỗ trợ nhu cầu nhà ở 7666
Biểu đồ 4.7 Dư nợ cho vay cá nhân hộ gia đình SXKD 267
Biểu đồ 4.8 Dư nợ cho vay đảm bảo bằng GTCG/TTK 269
Biểu đồ 4.9 Dư nợ cho vay tiêu dùng tín chấp 470
Biểu đồ 4.10 Dư nợ cho vay mua ô tô 273
Trang 121 MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong xu thế hội nhập và mở cửa thị trường tài chính như hiện nay, là một bộ phận có tầm quan trọng đặc biệt trong nền kinh tế, hệ thống Ngân hàng Việt Nam trong hơn 20 năm qua đã có sự phát triển toàn diện, bám sát mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ Bên cạnh việc phát triển những dịch vụ mới như: tư vấn tài chính, bảo hiểm , thì việc củng cố và phát triển hoạt động tín dụng Ngân hàng truyền thống vẫn là ưu tiên hàng đầu của nhiều Ngân hàng thương mại và được đầu tư có chiều sâu và rộng để các Ngân hàng tiếp tục giữ vững và mở rộng thị trường trong tương lai Hoạt động tín dụng Ngân hàng góp phần tạo lập nguồn vốn và thu nhập ổn định cho các ngân hàng, phân tán rủi ro và là lĩnh vực ít chịu ảnh hưởng của chu kỳ kinh tế Bên cạnh đó, hoạt động tín dụng Ngân hàng còn góp phần quan trọng trong việc mở rộng thị trường, nâng cao năng lực cạnh tranh, ổn định hoạt động cho ngân hàng Đến nay, hầu hết các Ngân hàng thương mại hoạt động tại Việt Nam đều có định hướng tập trung phát triển hoạt động tín dụng Ngân hàng Việc phát triển, đa dạng hoá hoạt động tín dụng Ngân hàng đã và đang trở thành một xu hướng tất yếu trong nền kinh tế thị trường tại Việt Nam và ngày càng chiếm vai trò quan trọng trong hoạt động kinh doanh của một ngân hàng Phát triển hoạt động tín dụng truyền thống lên một tầm cao mới chính là
sự tách bạch trong cách phân chia các loại hình tín dụng đó là tín dụng bán buôn và tín dụng bán lẻ Trong khi hoạt động tín dụng bán buôn vẫn được duy trì thì việc hoạt động tín dụng bán lẻ đang là một xu hướng mới, ngày càng nhận được nhiều sự quan tâm từ các Ngân hàng thương mại (NHTM) trong nước (NHTM cổ phần và NHTM quốc doanh) Thực tế cho thấy Ngân hàng
Trang 13nào nắm bắt được cơ hội trong việc mở rộng và phát triển tín dụng bán lẻ đến đông đảo đối tượng khách hàng là các cá nhân, các hộ gia đình đang rất thiếu các dịch vụ tài chính sẽ dễ dàng chiếm lĩnh thị trường Với việc phát triển hoạt động tín dụng bán lẻ, các Ngân hàng không chỉ có thị trường lớn hơn mà hiệu quả kinh tế cũng cao hơn nhờ các sản phẩm được đa dạng hoá và cung cấp với khối lượng lớn, doanh thu cao, phân tán được rủi ro kinh doanh, đồng thời mang lại cho Ngân hàng khả năng phát triển nhờ liên tục đổi mới và đa dạng hoá các sản phẩm của mình
Trong 3 năm vừa qua, mặc dù gặp không ít khó khăn do khủng hoảng kinh tế, thắt chặt tín dụng tiêu dùng cũng như sự cạnh tranh khốc liệt từ các ngân hàng đã có kinh nghiệm về hoạt động tín dụng bán lẻ đặc biệt là khối NHTM cổ phần và NHTM nước ngoài song với sự cố gắng và nỗ lực của toàn
hệ thống, sự tích cực triển khai nhiều giải pháp hoạt động tín dụng bán lẻ của BIDV vẫn đạt được mức tăng trưởng ổn định với 29.800 tỷ đồng dư nợ tín dụng bán lẻ năm 2010, tăng 46% so với năm 2009 Sang năm 2011, con số này đạt hơn 38.000 tỷ đồng, tăng trưởng 28% so với năm 2010, nâng tỷ trọng
dư nợ tín dụng bán lẻ trên tổng dư nợ lên 14% Hoạt động tín dụng bán lẻ được triển khai theo sát các chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước, theo đó tập trung cho vay phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh với tỷ trọng chiếm xấp xỉ 45% trên tổng dư nợ, cho vay phục vụ nhu cầu tiêu dùng thiết yếu (vay mua nhà khoảng 30%, cho vay tín chấp tiêu dùng chiếm 7% trong tổng dư nợ,…)
Nắm bắt được nhu cầu thực tế cũng như để đẩy mạnh sức cạnh tranh với các ngân hàng trên địa bàn, Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh tỉnh Bắc Giang đã triển khai các loại hình tín dụng bán lẻ đối với khách hàng là doanh nghiệp, cá nhân, hộ gia đình Tuy nhiên, dư nợ tín dụng bán lẻ của Chi nhánh còn thấp, việc phát triển tín dụng trên địa bàn còn gặp nhiều khó khăn, số lượng sản phẩm triển khai còn hạn chế, tỷ trọng tín dụng
Trang 14vẫn thấp so với tổng dư nợ của ngân hàng Mặt khác về công tác quảng cáo, marketing cũng như công tác phát triển mạng lưới tín dụng bán lẻ, nguồn nhân lực vẫn còn tồn tại những khó khăn, vướng mắc khách quan, chủ quan làm ảnh hưởng đến khả năng phát triển hoạt động tín dụng bán lẻ của Chi nhánh
Xuất phát từ những vấn đề nghiên cứu khoa học và thực tiễn hoạt động kinh doanh đang diễn ra tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh tỉnh Bắc Giang như đã trình bày ở trên, tôi đã tiến hành nghiên cứu đề
tài “Phát triển tín dụng bán lẻ tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh tỉnh Bắc Giang”
1.2 Mục tiêu nghiên cứu của để tài
1.2.1 Mục tiêu chung
Đề tài được chọn nhằm hướng đến phân tích để làm rõ những vấn đề đặt ra trong các hình thức tín dụng bán lẻ nhằm đề xuất các giải pháp góp phần phát triển tín dụng bán lẻ tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam -
Chi nhánh tỉnh Bắc Giang (từ đây gọi tắt là Chi nhánh BIDV Bắc GiangBIDV Bắc Giang ) một cách có hiệu quả
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hoạt động phát triển tín dụng bán lẻ tại Chi nhánh BIDV Bắc GiangBIDV Bắc Giang
Trang 151.3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung
Đề tài tập trung nghiên cứu một số nội dung chủ yếu sau:
+ Thực trạng hoat động phát triển tín dụng bán lẻ tại Chi nhánh BIDV Bắc GiangBIDV Bắc Giang ;
+ Những vấn đề đặt ra trong việc phát triển tín dụng bán lẻ của Chi nhánh với các sản phẩm chủ yếu: Cho vay cá nhân, hộ gia đình sản xuất kinh doanh, cho vay hỗ trợ nhu cầu nhà ở, cho vay tiêu dùng tín chấp, cho vay mua
ô tô,
- Về không gian và thời gian
Đề tài được tập trung nghiên cứu về phát triển tín dụng bán lẻ của Chi nhánh BIDV Bắc GiangBIDV Bắc Giang trên địa bàn tỉnh Bắc Giang
Số liệu được thu thập, phân tích và sử dụng trong 3 năm từ năm 2009 đến năm 2011
Trang 162 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
Ngân hàng là một trong những tổ chức trung gian tài chính quan trọng nhất Ngân hàng thực hiện các chính sách kinh tế, đặc biệt là chính sách tiền
tệ, vì vậy là một kênh quan trọng trong chính sách kinh tế của Chính phủ ổn định kinh tế
Các ngân hàng có thể được định nghĩa qua chức năng, các dịch vụ hoặc vai trò mà chúng thực hiện trong nền kinh tế Nhưng cách tiếp cận thận trọng nhất là có thể xem xét ngân hàng trên phương diện những loại hình dịch vụ
mà chúng cung cấp: “Ngân hàng là các tổ chức tài chính cung cấp một danh
mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất – đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm, dịch
vụ thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một
tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế”
Luật các tổ chức tín dụng của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam ghi (Sửa theo ý kiến góp ý của thầy Trung): “Hoạt động của ngân hàng
là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi và sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán” (Theo Luật các tổ chức tín dụng của nước Cộng hòa
Xã hội chủ nghĩa Việt Nam)
Trang 17Ngân hàng thương mại là tổ chức thu hút tiết kiệm lớn nhất trong hầu hết mọi nền kinh tế Hàng triệu cá nhân, hộ gia đình và các doanh nghiệp, các
tổ chức kinh tế - xã hội đều gửi tiền tại Ngân hàng Vốn vay từ Ngân hàng mang lại nguồn thu nhập quan trọng của nhiều hộ gia đình Đây là tổ chức cho vay chủ yếu đối với các doanh nghiệp, cá nhân, hộ gia đình Đối với các doanh nghiệp, ngân hàng thương mại thường là tổ chức cung cấp tín dụng để phục vụ cho việc mua hàng hóa dự trữ hoặc xây dựng nhà máy, mua sắm trang thiết bị kỹ thuật Khi doanh nghiệp và người tiêu dùng phải thanh toán cho các khoản mua hàng hóa và dịch vụ, họ thường sử dụng séc, ủy nhiệm chi, thẻ tín dụng hay tài khoản điện tử…Khi họ cần thông tin tài chính hay lập
kế hoạch tài chính, họ thường đến ngân hàng để nhận lời tư vấn Các khoản tín dụng của ngân hàng cho Chính phủ là nguồn tài chính quan trọng để đầu
tư phát triển
Ngân hàng thương mại là tổ chức tín dụng thể hiện nhiệm vụ cơ bản nhất của ngân hang đó là huy động vốn và cho vay vốn Ngân hàng thương mại là cầu nối giữa các cá nhân và tổ chức hút vốn từ nơi nhàn rỗi và bơm tiền vào nơi khan thiếu Hoạt động của ngân hang thương mại nhằm mục đích kinh doanh một hang hoá đặc biệt đó là "vốn- tiền", trả lãi suất huy động vốn thấp hơn lãi suất cho vay vốn, và phần chênh lệch lãi suất đó chính là lợi nhuận của ngân hàng thương mại Hoạt động của ngân hàng thương mại phục
vụ cho mọi nhu cầu về vốn của mọi tầng lớp dân chúng, loại hình doanh nghiệp và các tổ chức khác trong xã hội Khác hẳn với ngân hàng thương mại, ngân hàng Nhà nước (ngân hàng Trung ương) không hoạt động vì mục đích lợi nhuận và cũng không kinh doanh tiền tệ Mỗi một quốc gia chỉ có một ngân hàng Nhà nước duy nhất, có thể gọi là ngân hàng mẹ có chức năng phát hành tiền, quản lý, thực thi và giám sát các chính sách tiền tệ; và có rất nhiều ngân hàng thương mại, có thể coi là các ngân hàng con có chức năng thực hiện lưu chuyển tiền trong nền kinh tế Trong trường hợp ngân hàng thương
Trang 18mại đứng trên bờ vực phá sản, ngân hàng Trung ương sẽ là nguồn cấp vốn cuối cùng mà ngân hàng thương mại tìm đến.
Trong ngân hàng thương mại, tiền huy động được của người gửi gọi là tài sản "nợ", tiền cho công ty và các cá nhân vay cũng như tiền gửi ở các ngân hàng khác và số trái phiếu ngân hàng sở hữu gọi là tài sản "có" của ngân hàng Phần chênh lệch giữa số tiền huy động được và số tiền đem cho vay, gủi ngân hàng và mua trái phiếu gọi là vốn tự có Phần tài sản có tính thanh khoản cao được giữ để đề phòng trường hợp tiền gửi vào ngân hàng bị rút đột ngột gọi
là tỉ lệ dự trữ của ngân hàng Toàn bộ số vốn của ngân hàng được chia làm hai loại vốn cấp 1 và vốn cấp 2 Vốn cấp 1 còn gọi là vốn nòng cốt, về cơ bản bao gồm vốn điều lệ, lợi nhuận không chia và các quỹ dự trữ lập trên cơ sở trích
từ lợi nhuận của tổ chức như quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ, quỹ dự phòng tài chính và quỹ đầu tư phát triển Vốn cấp 2 bao gồm: phần giá trị tăng thêm
do định giá lại tài sản của tổ chức, nguồn vốn gia tăng hoặc bổ sung từ bên ngoài (như trái phiếu chuyển đổi, cổ phiếu ưu đãi và một số công cụ nợ khác)
Tại các nước đang phát triển như Việt Nam, ngân hàng thương mại thực sự đóng một vai trò rất quan trọng, vì nó đảm nhận vai trò giữ cho mạch máu (dòng vốn) của nền kinh tế được lưu thông và có vậy mới góp phần bôi trơn cho hoạt động của một nền kinh tế thị trường còn non yếu
2.1.1.2 Đặc điểm
Thứ nhất, ngân hàng thương mại trung gian là tài chính thực hiện kinh
doanh tiền tệ Ngân hàng thương mại là một tổ chức kinh doanh tài chính với hoạt động chủ yếu là chuyển tiết kiệm thành đầu tư, đòi hỏi sự tiếp xúc với hai loại cá nhân và tổ chức trong nền kinh tế: (1) các cá nhân và tổ chức tàm thời thâm hụt chi tiêu, tức là chi tiêu cho tiêu dùng và đầu tư vượt quá thu nhập và vì thế họ là những người bổ sung vốn; (2) các cá nhân và tổ chức thặng dư trong chi tiêu, tức là thu nhập hiện tại của họ lớn hơn các khoản chi tiêu cho hàng hóa, dịch vụ và do vậy họ có tiền để tiết kiệm
Trang 19Do tồn tại hai loại cá nhân và tổ chức trên hoàn toàn độc lập với ngân hàng thương mại Điều tất yếu là tiền sẽ chuyển từ nhóm thứ (2) sang nhóm thứ (1) nếu cả hai cùng có lợi Như vậy, thu nhập gia tăng là động lực tạo ra mối quan hệ tài chính giữa hai nhóm Nếu dòng tiền di chuyển với điều kiện phải quay trở lại với một lượng vốn lớn hơn trong một khoảng thời gian nhất định thì đó là quan hệ tín dụng Nếu không thì đó là quan hệ cấp phát hoặc hùn vốn Đây là quan hệ tài chính trực tiếp
Tuy nhiên, quan hệ tài chính trực tiếp bị nhiều giới hạn do sự không phù hợp về qui mô, thời gian, không gian Điều này cản trở quan hệ trực tiếp phát triển và là điều kiện nảy nở trung gian tài chính Trung gian tài chính đã làm tăng thu nhập cho người tiết kiệm, từ đó khuyến khích tiết kiệm, đồng thời giảm phí tổn tín dụng cho người đầu tư (tăng thu nhập cho người đầu tư) Trung gian tài chính đã tập hợp các người tiết kiệm và đầu tư Cơ chế hoạt động trung gian sẽ có hiệu quả khi nó gánh chịu rủi ro và sử dụng kỹ thuật nghiệp vụ để hạn chế, phân tán rủi ro và giảm chi phí giao dịch
Ngân hàng thương mại sẵn sàng chấp nhận các khoản cho vay nhiều rủi
ro trong khi lại phát hành các chứng khoán ít rủi ro cho người gửi tiền Thực
tế, các ngân hàng thương mại tham gia vào kinh doanh rủi ro Ngân hàng thương mại cũng thỏa mãn nhu cầu thanh khoản của nhiều khách hàng
Ngân hàng thương mại là một trung gian thanh toán Ngân hàng thay mặt khách hàng thực hiện thanh toán giá trị hàng hóa và dịch vụ với nhiều hình thức thanh toán như bằng séc, ủy nhiệm chi, nhờ thu, các loại thẻ cung cấp mạng lưới thanh toán điện tử, kết nối các quỹ và cung cấp tiền giấy khi khách hàng cần Các ngân hàng cũng thực hiện bù trừ lẫn nhau thông qua Ngân hàng Trung ương hoặc thông qua trung tâm thanh toán Hiện nay, ngân hàng trở thành trung gian thanh toán lớn nhất ở hầu hết các quốc gia
Một lý do để ngân hàng phát triển thịnh vượng là khả năng thẩm định thông tin Sự phân bổ không đều thông tin và năng lực phân tích thông tin
Trang 20được gọi là tình trạng “thông tin không cân xứng” làm giảm tính hiệu quả của thị trường nhưng tạo ra một khả năng sinh lợi cho ngân hàng, nơi có chuyên môn và kinh nghiệm đánh giá các công cụ tài chính và có khả năng lựa chọn những công cụ với các yếu tố rủi ro – lợi nhuận hấp dẫn nhất
Thứ hai, ngân hàng là tổ chức kinh doanh phải có điều kiện Ngân hàng
chịu sự điều hành chặt chẽ của Chính phủ hơn bất kỳ tổ chức nào trong nền kinh kế, bởi ngân hàng là thủ quỹ của cả nền kinh tế Ngân hàng muốn được cấp giấy phép hoạt động phải có một lượng vốn nhất định, cam kết thực hiện một số chính sách nhất định như cho vay, tài trợ cho một dự án hay một khoản chi tiêu nào đó, đồng thời trong quá trình hoạt động, ngân hàng chịu sự quản lý chặt chẽ của Nhà nước Muốn hoạt động tốt, ngân hàng không ngừng gia tăng nguồn vốn của mình, tuyển nhân sự có đủ số lượng và chất lượng, có mạng lưới chi nhánh rộng khắp để đáp ứng nhanh các nhu cầu của khách hàng
và thực hiện nhiều hoạt động khác, nhằm thu được lợi nhuận lớn, hạn chế rủi
ro cho cả người gửi tiền và ngân hàng
2.1.2 Các hoạt độngchức năn g g(theo chỉnh sửa của thầy Đoàn) chủ yếu của ngân hàng thương mại
2.1.2.1 Huy động vốn
♦ Huy động vốn chủ sở hữu:
Vốn chủ sở hữu của ngân hàng thường bao gồm: vốn tự có (vốn góp), thặng dư vốn và lợi nhuận tích lũy Để bắt đầu hoạt động ngân hàng (được pháp luật cho phép), chủ ngân hàng phải có một lượng vốn nhất định Tùy theo tính chất của mỗi ngân hàng mà nguồn hình thành vốn ban đầu khác nhau: ngân hàng nhà nước do ngân sách nhà nước cấp; Ngân hàng cổ phần do
cổ đông đóng góp; Ngân hàng liên doanh do các bên liên doanh đóng góp; ngân hàng tư nhân là vốn thuộc sở hữu của tư nhân Trong quá trình hoạt động, ngân hàng phải không ngừng gia tăng vốn chủ sở hữu của mình bằng: nguồn tích lũy từ lợi nhuận (chuyển một phần thu nhập ròng thành vốn đầu tư); nguồn thặng dư vốn cổ phần, nguồn bổ sung từ góp thêm, cấp thêm hoặc
Trang 21từ các quỹ và nguồn vay nợ có thể chuyển đổi thành cổ phần (các khoản cho vay trung và dài hạn).
♦ Nhận tiền gửi:
Tiền gửi của khách hàng là nguồn tài nguyên quan trọng nhất và chiếm
tỷ trọng cao nhất trong tổng nguồn tiền của ngân hàng thương mại Để gia tăng tiền gửi trong môi trường cạnh tranh và để có được nguồn tiền có chất lượng ngày càng cao, các ngân hàng đã đưa ra và thực hiện nhiều hình thức huy động khác nhau như:
Tiền gửi thanh toán: là tiền gửi của cá nhân hoặc doanh nghiệp gửi
và nhờ ngân hàng giữ và thanh toán hộ trong phạm vi số dư cho phép với lãi suất rất thấp hoặc có thể bằng không;
Tiền gửi có kì hạn của doanh nghiệp và các tổ chức xã hội: là
khoản tiền của doanh nghiệp hoặc các tổ chức xã hội gửi vào ngân hàng với kì hạn nhất định (có thể là 1 tháng, 3 tháng, 6 tháng, 1 năm, 2 năm ) với lãi suất
kì hạn tương ứng Kì hạn càng cao thì lãi suất tiền gửi càng lớn Người gửi có thể đến ngân hàng rút tiền nếu có cần một khoản tiền chi tiêu, tuy nhiên chỉ được hưởng lãi suất thấp hơn do không rút đúng hạn
Tiền gửi tiết kiệm của dân cư: là khoản tiền tiết kiệm của dân cư
gửi vào ngân hàng với kì hạn nhất định Ngân hàng đưa ra nhiều hình thức huy động và lãi suất cạnh tranh hấp dẫn (ví dụ như tiền gửi với các kì hạn khác nhau, tiết kiệm bằng ngoại tệ hoặc bằng vàng )
Tiền gửi của các ngân hàng khác: nhằm mục đích thanh toán hộ và
một số mục đích khác ngân hàng thương mại này có thể gửi tiền tại ngân hàng khác Tuy nhiên, nguồn này thường không lớn
♦ Đi vay từ các tổ chức khác:
Trang 22Tiền gửi là nguồn quan trọng nhất của ngân hàng thương mại Tuy nhiên, khi cần, ngân hàng thường vay mượn thêm với các phương thức đi vay
đa dạng:
Vay ngân hàng Nhà Nước: đây là khoản vay nhằm giải quyết nhu
cầu cấp bách trong chi trả của ngân hàng thương mại Trong trường hợp thiếu hụt dự trữ (thiếu dự trữ bắt buộc hoặc dự trữ thanh toán), ngân hàng thương mại thường vay ngân hàng Nhà nước Hình thức cho vay chủ yếu là tái chiết khấu hoặc tái cấp vốn
Vay các tổ chức tín dụng khác: Đây là nguồn vay mượn lẫn nhau
giữa các ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác trên thị trường liên ngân hàng Nguồn này dùng để đáp ứng nhu cầu dự trữ và chi trả cấp bách và trong nhiều trường hợp nó bổ sụng và thay thế cho nguồn vay mượn từ ngân hàng Nhà nước
Vay trên thị trường vốn: đây là nguồn vay nợ nhằm bù đắp thiếu
hụt tiền cho vay trung và dài hạn Các ngân hàng vay bằng cách phát hành các giấy nợ (kì phiếu, tín phiếu, trái phiếu)
♦ Hoạt động ngân quỹ: Ngân hàng phải để một lượng tiền mặt trong két
nhất định nhằm để chỉ trả nhanh chóng khi có với các nhu cầu của khách hàng Tiền mặt không phát sinh, do vậy, để vừa đáp ứng thực hiện mục tiêu thanh khoản vừa tạo ra một khoản thu nhập cho ngân hàng, ngân hàng thường
có một khoản tiền gửi tại ngân hàng Nhà nước, tại các ngân hàng và các tổ
chức tín dụng khác
Trang 23♦ Hoạt động đầu tư chứng khoán: ngân hàng thương mại nắm giữ
chứng khoán vì mục tiêu thanh khoản và đa dạng hóa tài sản Các chứng khoán ngân hàng nắm giữ thường là: chứng khoán chính phủ; chứng khoán của các ngân hàng khác, các công ty tài chính và chứng khoán của các công
ty khác Ngân hàng nắm giữ chứng khoán vì chúng mang lại thu nhập cho ngân hàng (lớn hơn so với tiền gửi tại ngân hàng Nhà nước và các tổ chức tín dụng) và có thể bán đi để gia tăng ngân quỹ khi cần thiết Nhưng phải hiểu rằng đầu tư chứng khoán ở đây là đầu tư vào trái phiếu, tín phiếu chứ không phải là đầu tư vào cổ phiếu Đầu tư vào cổ phiếu thuộc hoạt động hùn vốn của ngân hàng
♦ Hoạt động tín dụng: là hoạt động đặc trưng của ngân hàng thương mại,
chiếm tỷ trọng lớn nhất và mang lại thu nhập lớn nhất cho ngân hàng Có nhiều cách phân loại hình thức tín dụng: theo thời gian (tín dụng ngắn, trung
và dài hạn), theo hình thức tài trợ (gồm cho vay, bảo lãnh, cho thuê, chiết khấu ), theo tài sản đảm bảo, theo rủi ro (gồm các khoản có độ an toàn cao, khá, trung bình và thấp), hay theo ngành kinh tế (công, nông nghiệp ), hay theo đối tượng tài trợ (hàng hóa, hoặc bất động sản ) hoặc theo mục đích (sản xuất, tiêu dùng )
♦ Các hoạt động sử dụng vốn khác: Các hoạt động khác là các hoạt
động như hoạt động thanh toán, hoạt động ủy thác, hoạt động hùn vốn (ngân hàng tham gia góp vốn với các tổ chức khác dưới hình thức nắm giữ cổ phiếu, góp vốn liên doanh, liên kết ), các hoạt động sử dụng vốn khác như mua sắm, nhà cửa trang thiết bị phục vụ cho quá trình kinh doanh của khác hàng
và cho thuê
2.1.2.3 Hoạt động khác
Bên cạnh các hoạt động mang tính truyền thống và đặc trưng, ngân hàng thương mại cũng tiến hành các hoạt động khác nhằm tìm kiếm lợi nhuận
Trang 24như: cung cấp dịch vụ ủy thác, dịch vụ tư vấn, dịch vụ môi giới đầu tư chứng khoán, dịch vụ bảo hiểm, dịch vụ đại lý
Trang 252.1.3 Tín dụng ngân hàng và các vấn đề có liên quan
2.1.3.1 Khái niệm tín dụng ngân hàng
Tín dụng là một phạm trù kinh tế khách quan, có quá trình ra đời, tồn tại
và phát triển cùng với sự phát triển của kinh tế hàng hóa Nó phản ánh mối quan hệ vay mượn giữa các chủ thể dựa trên nguyên tắc hoàn trả Theo đó, người cho vay sẽ chuyển giao quyền sử dụng của hàng hóa hoặc tiền tệ thuộc
sở hữu của mình sang người vay và người vay có nghĩa vụ hoàn trả lại người cho vay một lượng giá trị lớn hơn lượng giá trị ban đầu đã nhận
(1) Cho vay vốn
Chủ thể cho vay
(Lender)
Chủ thể đi vay (Borrower) Hoàn trả cả gốc lẫn lãi (2)
Tín dụng ngân hàng là quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ ngân hàng sang cho khách hàng (tổ chức, cá nhân) trong một thời gian nhất định với một khoản chi phí nhất định Nói cách khác, tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng giữa ngân hàng với các tổ chức, cá nhân được thực hiện dưới hình thức: ngân hàng đứng ra huy động vốn bằng tiền và cho vay với các đối tượng trên Tín dụng ngân hàng là một hình thức tín dụng chủ yếu trong 4 hình thức tín dụng trên Tín dụng ngân hàng giữ vị trí đặc biệt quan trọng trong nền kinh tế, hoạt động của nó hết sức đa dạng và phong phú
Tín dụng ngân hàng ra đời và phát triển gắn liền với sự ra đời và phát triển của hệ thống ngân hàng Đối tượng của tín dụng ngân hàng là vốn tiền
tệ, trong đó: ngân hàng là người cho vay còn tổ chức, cá nhân là người đi vay Tín dụng ngân hàng là hoạt động sinh lời lớn nhất cho NHTM song rủi
ro cao nhất Đây là hoạt động quan trọng nhất của các ngân hàng nói riêng và của các trung gian tài chính nói chung, chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng sổ tài sản và tạo thu nhập từ lãi lớn Tín dụng còn là hoạt động tài trợ của ngân
Trang 26hàng cho khách hàng
Quan hệ tín dụng phần lớn được xác định thông qua hợp đồng tín dụng với trọng tâm là xác định khả năng và ý muốn của người nhận tín dụng trong việc thực hiện hợp đồng
2.1.3 2 Các nguyên tắc tín dụng ngân hàng
Tín dụng ngân hàng vừa là tín dụng mang tính chất sản xuất kinh doanh
do gắn liền với hoạt động sản xuất kinh doanh vừa là tín dụng tiêu dùng, không gắn liền với hoạt động sản xuất kinh doanh Song, nghiệp vụ tín dụng ngân hàng luôn đảm bảo 3 nguyên tắc cơ bản:
Thứ nhất: Khách hàng phải cam kết hoàn trả vốn (gốc), lãi với thời gian xác định Các khoản tín dụng chủ yếu có nguồn gốc từ các khoản tiền gửi của khách hàng và các khoản vay mà ngân hàng đi vay Do vậy, ngân hàng luôn yêu cầu người nhận tín dụng phải thực hiện đúng cam kết này Đây là điều kiện để ngân hàng tồn tại và phát triển
Thứ hai: Khách hàng phải cam kết sử dụng tín dụng theo đúng mục đích được thoả thuận với ngân hàng, không trái với các quy định của pháp luật và các quy định khác của ngân hàng cấp trên Luật pháp quy định phạm
vi hoạt động cho các ngân hàng Bên cạnh đó mỗi ngân hàng có thể có mục đích và phạm vi hoạt động riêng Mục đích tài trợ được ghi trong hợp đồng tín dụng đảm bảo ngân hàng không tài trợ cho các hoạt động trái luật pháp và việc tài trợ đó không phù hợp với cương lĩnh của ngân hàng
Thứ ba: Tiền vay phải được bảo đảm bằng tài sản (trừ trường hợp cho vay tín chấp, không có tài sản đảm bảo Ngân hàng tài trợ dựa trên phương án (hoặc dự án) có hiệu quả Thực hiện nguyên tắc này là thực hiện nguyên tắc thứ nhất Phương án có hiệu quả của người vay minh chứng cho khả năng thu hồi được vốn đầu tư và có lãi để trả nợ cho ngân hàng, các khoản tài trợ của ngân hàng phải gắn liền với việc hình thành tài sản của người vay Trong trường hợp xét thấy kém an toàn, ngân hàng đòi hỏi người vay phải có tài sản
Trang 27đảm bảo khi vay
2.1.3 3 Bản chất của tín dụng ngân hàng
Bản chất của tín dụng nói chung là hệ thống các quan hệ kinh tế giữa người cho vay và người đi vay Qua đó, vốn được vận động từ chủ thể này sang chủ thể khác trên nguyên tắc có hoàn trả để đáp ứng cho các nhu cầu khác nhau trong nền kinh tế xã hội
2.1.3 4 Vai trò của tín dụng ngân hàng
Tín dụng ngân hàng có vai trò rất quan trọng đến sự tồn tại và phát triển của nền kinh tế - xã hội Song nội tại bên trong của tín dụng có tồn tại hai mặt đối lập nhau: tính tích cực và tiêu cực ảnh hưởng đến nền kinh tế - xã hội Nếu tín dụng phát triển một cách tràn lan, không kiểm soát được sẽ dẫn đến việc lượng tiền trong lưu thông quá lớn, cung vượt quá cầu sẽ dẫn đến lạm phát gây ảnh hưởng đến đời sống kinh tế - xã hội Do vậy, tín dụng thực sự phát triển với các vai trò tích cực sau:
Thúc đẩy sản xuất và lưu thông hàng hóa:
Tín dụng vừa là một công cụ huy động vốn vừa là công cụ cung ứng vốn rất hữu hiệu đối với nền kinh tế, đáp ứng kịp thời nhu cầu về vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh của các tổ chức, doanh nghiệp Tín dụng tập trung được lượng vốn từ nơi thừa, đang nhàn rỗi trong xã hội và phân phối lại cho các nơi cần vốn, như: doanh nghiệp, tổ chức kinh tế Thông qua hoạt động tín dụng, tiền tệ được sử dụng hiệu quả
Trong mọi thời đại kinh tế - xã hội, tín dụng đều có vai trò quan trọng nhất định đối với mọi thành phần trong xã hội:
- Đối với doanh nghiệp: với nguồn vốn huy động được, hoạt động tín dụng có thể cung ứng vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh, đáp ứng về nhu cầu vốn cố định (mua máy móc, thiết bị, xây dựng cơ sở hạ tầng,…), vốn lưu động (mua vật tư, nguyên vật liệu sản xuất hàng hóa) Mặt khác, tín dụng còn kiểm soát được sự vận động lưu thông hàng hóa trong nền kinh tế
Trang 28- Đối với người dân (người tiêu dùng): tín dụng huy động vốn nhàn rỗi
từ trong dân cư, tổ chức, doanh nghiệp Khuyến khích người dân tiết kiệm, tích lũy để đầu tư
Ổn định tiền tệ:
Với chức năng tập trung vốn, Tín dụng đã góp phần giảm đi một khối lượng tiền lưu thông trong kinh tế, đặc biệt là lượng tiền mặt trong dân cư, giảm đi áp lực lạm phát, góp phần ổn định tiền tệ trong nền kinh tế
Tín dụng cung ứng vốn cho nền kinh tế, góp phần mở rộng và phát triển sản xuất, tạo ra sản phẩm hàng hóa dịch vụ ngày càng nhiều, đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của xã hội, ổn định giá cả trên thị trường
Ổn định đời sống, trật tự xã hội và tạo công ăn việc làm:
Tín dụng cung ứng vốn tạo điều kiện cho hoạt động sản xuất được đảm bảo liên tục, tạo ra nhiều việc làm phong phú đa dạng, giải quyết công ăn việc làm cho người lao động, giảm tỷ lệ thất nghiệp, giúp ổn định trật tự xã hội, góp phần vào việc ổn định đời sống, nâng cao mức sống của người dân
Đóng vai trò tích cực trong mối quan hệ đối ngoại:
Sự phát triển của tín dụng không ngừng ở phạm vị một quốc gia mà mở rộng trên phạm vị quốc tế Việc cấp tín dụng giữa các quốc gia nhằm đáp ứng nhu cầu về vốn cho những quốc gia, góp phần rút ngắn khoảng cách giữa các nước, hỗ trợ vốn cho các phát triển hoặc tổ chức quốc tế (Ngân hàng thế giới -
WB, Tổ chức Liên Hiệp quốcQuỹ tiền tệ quốc tế – IMF,…) đối với những quốc gia nghèo, đang phát triển Việt Nam hiện là nước đang phát triển Tín dụng quốc tế tạo ra mối quan hệ hữu nghị giúp cho các nước xích lại gần nhau hơn và cùng nhau phát triển
2.1.3.5 Các hình thức tín dụng ngân hàng
Tín dụng ngân hàng có thể phân chia ra nhiều loại khác nhau tùy theo từng tiêu thức phân loại:
Trang 29 Căn cứ vào mục đích cấp tín dụng:
Theo tiêu thức này tín dụng có thể phân chia thành các loại sau:
- Cho vay phục vụ sản xuất kinh doanh công thương nghiệp;
- Cho vay tiêu dùng cá nhân;
- Cho vay mua bất động sản;
- Cho vay sản xuất nông nghiệp;
- Cho vay kinh doanh xuất khẩu,…
Căn cứ vào thời hạn cấp tín dụng:
- Tín dụng ngắn hạn: Là hoạt động cấp tín dụng có thời hạn tối đa là 12 tháng, mục đích thông thường là tài trợ cho việc đầu tư vào tài sản lưu động;
- Tín dụng trung hạn: Là hoạt động cấp tín dụng có thời hạn từ 12 tháng đến
60 tháng; mục đích thông thường là tài trợ cho việc đầu tư vào tài sản cố định;
- Tín dụng dài hạn: Là hoạt động cấp tín dụng có thời hạn trên 60 tháng; mục đích thông thường là nhằm tài trợ các dự án đầu tư
Căn cứ vào mức độ tín nhiệm của khách hàng:
- Cho vay không có tài sản đảm bảo: Là loại vay không có tài sản thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh của bên thứ ba mà chỉ dựa vào uy tín của bản thân khách hàng để quyết định cho vay;
- Cho vay có đảm bảo: Là loại cho vay dựa trên cơ sở các đảm bảo cho tiền vay như thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh của một bên thứ ba nào khác
Căn cứ vào phương thức cho vay: Theo tiêu thức này tín dụng có thể
phân chia thành các loại sau:
- Cho vay theo món vay;
- Cho vay theo hạn mức tín dụng;
- Cho vay theo hạn mức thấu chi
Căn cứ vào phương thức hoàn trả nợ vay:
- Cho vay chỉ có một kì hạn trả nợ hay còn gọi là cho vay trả nợ một lần
Trang 30khi đáo hạn;
- Cho vay có nhiều kì hạn trả bợ hay còn gọi là cho vay trả góp;
- Cho vay trả nợ nhiều lần nhưng không có kì hạn trả nợ cụ thể mà tùy vào khả năng tài chính của người đi vay có thể trả nợ bất kì lúc nào
Trang 312.1.4 Tín dụng bán lẻ và các vấn đề liên quan
2.1.4.1 Khái niệm tín dụng bán lẻ :
Hiện nay ở nước ta vẫn chưa có một khái niệm thống nhất về tín dụng bán lẻ Trong Luật các tổ chức tín dụng, các loại hình cấp tín dụng được quy định chung, chưa có định nghĩa và giải thích rõ ràng Trong Khoản 2 Điều 50
Luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 ngày 16/6/2010 có ghi: “Tổ chức
tín dụng cho các tổ chức, cá nhân vay ngắn hạn, trung dài hạn nhằm đáp ứng nhu cấu vốn cho sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, đời sống” được bao hàm cả
hai nội dung: Tín dụng bán buôn và tín dụng bán lẻ
Xuất phát từ cách hiểu truyền thống trong lĩnh vực thương mại hàng hóa, bán buôn là hình thức mua bán hàng hóa thông qua các trung gian, đại lý, để bán với khối lượng lớn; ngược lại, bán lẻ là hình thức bán hàng mà người bán trực tiếp bán cho người mua là người sử dụng, tiêu dùng với khối lượng nhỏ,
lẻ Khi áp dụng trong hoạt động tín dụng, hiện nay trên Thế giới có hai cách hiểu khác nhau về tín dụng bán buôn và tín dụng bán lẻ như sau:
Thứ nhất: tín dụng bán buôn được hiểu là tất cả các khoản cho vay thông qua thị trường tài chính (thị trường tiền tệ liên ngân hàng) hoặc cho vay đối với các trung gian tài chính khác (các ngân hàng thương mại, quỹ, các tổ chức làm đại lý ủy thác), không tính đến quy mô giá trị các khoản vay Trong khi
đó, tín dụng bán lẻ bao gồm những khoản cho vay trực tiếp đến người vay cuối cùng với các khoản cho vay có quy mô giá trị khác nhau Người vay cuối cùng ở đây không phân biệt quy mô lớn hay nhỏ, mà chủ yếu được xác định
là người trực tiếp sử dụng vốn vay đưa vào đầu tư, không thực hiện việc cho vay tiếp với các đối tượng khác
Thứ hai: Tín dụng bán buôn được hiểu tương tự hình thức thứ nhất, cộng thêm những khoản cho vay công tư và doanh nghiệp lớn khác có giá trị lớn hơn một quy mô nào đó tùy theo quy định cụ thể của từng nước, ví dụ ở nước
Trang 32Anh những khoản cho vay có giá trị từ 50.000 bảng Anh trở lên được coi là khoản cho vay bán buôn Tín dụng bán lẻ bao gồm tất cả các khoản cho vay trực tiếp đến người vay cuối cùng là cá nhân, hộ gia đình, doanh nghiệp nhỏ
và vừa, cộng thêm các khoản cho vay với công ty, doanh nghiệp lớn những có quy mô nhỏ hơn một mức giá trị nào đấy, ví dụ như ở nước Anh là các khoản vay có giá trị dưới 50.000 bảng Anh
Trong thực tế, những tiêu chí phân định giữa bán buôn, bán lẻ nêu trên chỉ là tương đối và không mang tính phổ biến đối với mọi quốc gia và các ngân hàng, thay đổi theo thời gian tùy thuộc vào điều kiện thực tiễn cũng như mục đích quản lý ở từng nơi
Theo TS Lê Khắc Trí (đã từng viết), tín dụng bán lẻ là những hình thức cho vay trực tiếp đến các người vay cuối cùng, chủ yếu là các cá nhân hộ gia đình, các doanh nghiệp nhỏ và vừa
Theo các chuyên gia kinh tế của Học viện Công nghệ Châu Á – AIT, dịch
vụ ngân hàng bán lẻ là cung ứng sản phẩm, dịch vụ ngân hàng tới từng cá nhân riêng lẻ; các doanh nghiệp nhỏ và vừa thông qua mạng lưới chi nhánh, khách hàng có thể tiếp cận trực tiếp tới sản phẩm và dịch vụ ngân hàng thông qua các phương tiện điện tử viễn thông và công nghệ thông tin Theo định nghĩa trên, tín dụng bán lẻ được hiểu là những hình thức cho vay, những khoản vay trực tiếp từ khách hàng cá nhân riêng lẻ, các doanh nghiệp nhỏ và vừa thông qua các mạng lưới chi nhánh, được công nghệ thông tin hỗ trợ triển khai các sản phẩm, giao dịch trực tuyến, lưu giữ và xử lý cơ sở dữ liệu tập trung…
Theo Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam – BIDV, cấp tín dụng bán lẻ là việc cấp tín dụng cho khách hàng bán lẻ bằng các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, bảo lãnh và các nghiệp vụ khác Trong đó, khách hàng bán lẻ là cá nhân (cá nhân Việt Nam và cá nhân nước ngoài), hộ gia đình có nhu cầu sử dụng sản phẩm, dịch vụ của BIDV
Tóm lại, kết hợp các quan điểm trên cho thấy tín dụng bán lẻ là hình thức cung cấp trực tiếp các sản phẩm tín dụng, bảo lãnh có quy mô nhỏ cho các
Trang 33khách hàng là cá nhân, hộ gia đình và các doanh nghiệp nhỏ và vừa
2.1.4.2 Vai trò của tín dụng bán lẻ
Đối với nền kinh tế
Hoạt động tín dụng nói chung có vai trò quan trọng trong quá trình thúc đẩy kinh tế phát triển, bên cạnh đó hoạt động tín dụng bán lẻ có một số vai trò đặc thù như sau:
Góp phần đẩy nhanh quá trình luân chuyển tiền tệ, sử dụng hiệu quả nguồn vốn, để các doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ gia đình mở rộng sản xuất hàng hóa, dịch vụ, giải quyết khối lượng lớn công ăn việc làm, nâng cao vai trò của các thành phần kinh tế này trong nền kinh tế, đóng góp ngày càng tăng trong GDP
Góp phần kích cầu tiêu dùng: Với các sản phẩm cho vay mua nhà ở, ô tô, trang thiết bị phục vụ sinh hoạt gia đình,… phù hợp với khả năng chi trả của khách hàng, các sản phẩm tín dụng tiêu dùng thông qua các loại thẻ nội địa và quốc tế, kích thích người dân tăng cường chi tiêu, từ đó thúc đẩy các doanh nghiệp đầu tư gia tăng năng lực sản xuất, tăng trưởng kinh tế
Góp phần đẩy lùi tệ nạn tín dụng đen, cho vay nặng lãi ở nhiều nơi: kênh tín dụng bán lẻ được khai thông giúp khách hàng cá nhân, hộ gia đình, doanh nghiệp nhỏ…dễ dàng tiếp cận nguồn vốn ngân hàng có lãi suất hấp dẫn sẽ hạn chế nạn cho vay nặng lãi ở nhiều nơi
Đối với Ngân hàng
Phát triển tín dụng bán lẻ là xu thế tất yếu, phù hợp với xu hướng chung của các ngân hàng trong khu vực và trên thế giới, đảm bảo cho các ngân hàng đa dạng hóa kinh doanh, mở rộng các phân khúc khách hàng tiềm năng, mở rộng thị trường phân tán rủi ro, cung ứng dịch vụ chất lượng cao cho khách hàng
Trên giác độ tài chính, tín dụng bán lẻ đóng góp quan trọng vào việc tăng trưởng tín dụng và đem lại hiệu quả kinh doanh cao cho các ngân hàng Tín dụng bán lẻ là một trong hai bộ phận trong nghiệp vụ cho vay của ngân
Trang 34hàng bên cạnh cho vay bán buôn, tốc độ cho vay bán lẻ tăng nhanh sẽ góp phần đẩy nhanh dư nợ, đồng thời cho vay bán lẻ có lãi suất cao hơn, đồng nghĩa với tăng nguồn thu nhập cho ngân hàng
Phát triển sản phẩm, dịch vụ ngân hàng bán lẻ nói chung và tín dụng bán
lẻ nói riêng yêu cầu các ngân hàng đầu tư mạnh vào hạ tầng công nghệ thông tin, cải tiến chất lượng sản phẩm, xây dựng mạng lưới kênh phân phối đa dạng, rộng khắp làm nền tảng để phát triển các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng bán lẻ, phục vụ một lượng khách hàng bán lẻ đông đảo
Đối với khách hàng
Phát huy tối đa nội lực khách hàng cá nhân, hộ gia đình, doanh nghiệp nhỏ và vừa, khai thác hết tiềm năng về lao động đất đai, hàng hóa, máy móc, nhà xưởng,…một cách hợp lý và có hiệu quả nhất
Góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người dân, tạo điều kiện nâng cao dân trí, hình thành những thói quen sử dụng sản phẩm dịch vụ ngân hàng hiện đại, phù hợp với yêu cầu công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước
2.1.4.3 Đặc điểm của tín dụng bán lẻ
Đối tượng được cung cấp sản phẩm tín dụng bán lẻ rất rộng, số lượng khách hàng vô cùng lớn, bao gồm các cá nhân hộ gia đình, và các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nền kinh tế, nhưng giá trị của các khoản vay thông thường nhỏ
Chất lượng các thông tin tài chính của các khách hàng vay thông thường không cao, đối với các khách hàng cá nhân và hộ gia đình khó xác định, đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa các báo cáo tài chính thường không được kiểm toán
Tỷ trọng cho vay trung dài hạn đối với tín dụng bán lẻ có xu hướng cao hơn mức bình quân chung, do các nhu cầu cho vay trung dài hạn mua nhà ở đất ở, mua sắm tài sản cố định chiếm tỷ trọng lớn; bên cạnh đó khách hàng
Trang 35vay thường không chủ động kế hoạch hóa về dòng tiền, các nhu cầu vay tiêu dùng thông thường có thời hạn trên 12 tháng
Nhu cầu được cấp tín dụng bán lẻ của khách hàng chịu tác động mạnh và phục thuộc lớn vào chu kỳ kinh tế; tăng mạnh trong thời kì nền kinh tế tăng trưởng tốt, thu nhập cao, chi tiêu tăng, đầu tư cho sản xuất kinh doanh dịch vụ nhỏ lẻ sinh lời cao; ngược lại khi nền kinh tế suy thoái, thất nghiệp tăng rất nhiều cá nhân hộ gia đình, hạn chế chi tiêu vay mượn tiêu dùng, các doanh nghiệp nhỏ và vừa nhanh chóng thu hẹp sản xuất
Chi phí cho tín dụng bán lẻ lớn hơn mức bình quân chung, do các khoản vay nhỏ lẻ, lượng khách hàng lớn nên chi phí quản lý, chi phí hoạt động lớn;
do nhu cầu sử dụng nguồn trung dài hạn cao nên chi phí vốn cao
Tín dụng bán lẻ có khả năng phân tán rủi ro, do số lượng khách hàng lớn, các khoản vay có giá trị nhỏ
2.1.4.4 Phân loại sản phẩm dịch vụ tín dụng bán lẻ
Bên cạnh các hình thức phân loại chung, tín dụng bán lẻ có một số hình thức phân loại đặc thù như sau:
Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn vay:
- Tín dụng cho sản xuất, lưu thông hàng hóa;
- Tín dụng tiêu dùng
Căn cứ vào đối tượng cấp tín dụng:
- Cho vay cá nhân;
- Cho vay hộ gia đình;
- Cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa
Trang 362.1.4.5 Các sản phẩm tín dụng bán lẻ chủ yếu hiện nay
Trên cơ sở các hình thức cấp tín dụng cơ bản, cùng với sự phát triển của nền kinh tế, các ngân hàng hiện nay không ngừng nghiên cứu và đưa ra rất nhiều sản phẩm mới, để có thể đáp ứng nhu cầu đa dạng và ngày càng nâng cao của khách hàng Các sản phẩm được thiết kế trên cơ sở nghiên cứu kỹ nhu cầu khách hàng, căn cứ theo mục đích sử dụng vốn vay, một số sản phẩm phổ biến hiện nay gồm:
- Cho vay vốn sản xuất kinh doanh: Là sản phẩm tín dụng ngắn hạn nhằm đáp ứng vốn cho nhu cầu sản xuất kinh doanh trong nước như mua vật
tư hàng hóa, chi phí nhân công, nhiên liệu nộp thuế,…; xuất nhập khẩu nguyên vật liệu, hàng hóa,…; thông thường thông qua hình thức cho vay theo hạn mức tín dụng hoặc theo món
- Cho vay mua sắm đầu tư tài sản cố định: Là sản phẩm tín dụng trung dài hạn nhằm bổ sung vốn đầu tư mới hoặc sửa chữa, nâng cấp máy móc thiết
bị, phương tiện vận tải, văn phòng làm việc, nhà xưởng,…
- Cho vay kinh doanh chứng khoán: Là sản phẩm cho nhà đầu tư vay bằng tiền Việt Nam để kinh doanh chứng khoán và ứng trước tiền bàn chứng khoán đã được khớp lệnh công ty chứng khoán
- Cho vay tiêu dùng cá nhân: Là sản phẩm nhằm tài trợ cho nhu cầu chi tiêu của người tiêu dùng, đây là nguồn tài chính quan trọng để trang trải các nhu cầu sinh hoạt gia đình, mua sắm đồ dùng, chi tiêu cho y tế, giáo dục, du lịch,…
- Cho vay du học: Là sản phẩm nhằm cung cấp tài chính để hỗ trợ cho du học sinh tham dự các khóa đại học, sau đại học ở nước ngoài
- Cho vay học phí: Thông thường là sản phẩm cho vay tín dụng dưới hình thức trả định kì nhằm hỗ trợ người vay có đủ khả năng chi trả học phí khi bản thân người vay hoặc thân nhân của người vay theo học các khóa học ở Việt Nam
Trang 37- Cho vay mua nhà đất để ở: Là sản phẩm cho các khách hàng cá nhân vay vốn để thực hiện việc xây, mua, sửa chữa, chuyển quyền thuê lại nhà của nhà nước, chuyển quyền sử dụng đất,…
- Cho vay mua ô tô: Khách hàng vay vốn để có thể sở hữu và sử dụng một chiếc ô tô mới đẹp, hiện đại phục vụ nhu cầu tiêu dùng và kinh doanh
Trang 382.1.5 Nhân tố ảnh hưởng đến phát triển tín dụng bán lẻ
2.5.1.1 Nhân tố khách quan
Nhân tố xã hội
Những yếu tố xã hội ảnh hưởng trực tiếp đến phát triển tín dụng bán lẻ
là các nhân tố trực tiếp tham gia quan hệ tín dụng Những xu thế thay đổi về nhân khẩu học được nghiên cứu bao gồm tổng dân số, tỷ lệ tăng dân số, những thay đổi về cấu trúc dân số, xu thế di chuyển dân cư là nguồn số liệu quan trọng Từ những số liệu đó, ngân hàng xác định được thị trường tiềm năng của hoạt động tín dụng và năng lực của ngân hàng mình so với các đối thủ cạnh tranh để chiếm lĩnh từng phân đoạn thị trường
Đi cùng với việc tăng trưởng GDP là quá trình đô thị hóa Xu hướng đô thị hóa đang làm tăng dân số tại các thành phố lớn một cách nhanh chóng với tốc độ 1% mỗi năm Theo báo cáo đánh giá đô thị hóa ở Việt Nam do Ngân hàng Thế giới thực hiện cho biêt năm 2011 tốc độ đô thị hóa của Việt nam đạt 3,4%/năm, nếu như năm 2009 dân số tại đô thị chiếm tỷ trọng 29,6%, năm
2010 đã tăng lên 30,5% khoảng 26,3 triệu người Tỷ lệ người dân trong độ tuổi lao động khá lớn, chiếm 65% dân số Hiện có trên 70% các hộ gia đình ở thành thị Việt Nam có mức thu nhập bình quân hàng năm trên 57 triệu đồng Tốc độ tăng dân số và thu nhập cao kéo theo nhu cầu về tiêu dùng tăng cao
Môi trường chính trị - pháp luật
Kinh doanh ngân hàng là một trong những ngành chịu sự giám sát chặt chẽ của pháp luật, các quy định của NHNN Trước hết, có thể kể đến các chính sách của Nhà nước có ảnh hưởng mạnh mẽ đến lĩnh vực cho vay, đặc biệt là các chính sách và các chương trình liên quan đến kinh tế Chẳng hạn, khi Nhà nước tăng mức đầu tư cho nền kinh tế cũng như tăng thu hút đầu tư nước ngoài bằng các chính sách khuyến khích đầu tư (sự đơn giản về thủ tục giấy tờ, ưu đãi thuế…) tất cả những điều này sẽ tạo điều kiện cho sự phát triển chung của toàn bộ nền kinh tế, xã hội, GDP sẽ tăng, tỷ lệ thất nghiệp giảm,
Trang 39mức thu nhập cho người lao động tăng, qua đó làm tăng nhu cầu tiêu dùng và hoạt động kinh doanh
Trong nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của nhà nước như hiện nay Pháp luật đóng vai trò không thê thiếu Không có pháp luật hay pháp luật không phù hợp với những yêu cầu phát triển của nên kinh tế thị trường thì mọi hoạt động không thể trôi chảy được Với vai trò đảm bảo trong việc chuyển nền kinh tế thị trường tự phát, kém tổ chức sang một nền kinh tế thị trường văn minh hơn, pháp luật có một nhiệm vụ hết sức to lớn trong việc tạo
ra một hành lang pháp lý giúp cho hoạt động sản xuất kinh doanh được thuận lợi, mang lại hiệu quả kinh tế cao, giải quyết mâu thuẫn, tranh chấp, khiếu nại Do đó, pháp luật có vị trí hết sức quan trọng đối với hoạt động của ngân hàng nói chung và chất lượng tín dụng nói riêng Chỉ có trong điều kiện các chủ thể tham gia quan hệ tín dụng tuân thủ chấp hành pháp luật một cách nghiêm chỉnh thì quan hệ tín dụng mới mang lại hiệu quả, lợi ích cho cả hai bên và chất lượng tín dụng mới được bảo đảm
Môi trường kinh tế
Môi trường kinh tế bao gồm những yếu tố ảnh hưởng đến khả năng thu nhập, thanh toán, chi tiêu và nhu cầu về vốn của dân cư Khi nền kinh
tế suy thoái, thu nhập giảm sút, lạm phát và thất nghiệp tăng cao, môi trường kinh doanh không thuận lợi cũng làm ảnh hưởng tới các kế hoạch kinh doanh của ngân hàng Mặt khác khi nền kinh tế hưng thịnh, hoạt động sản xuất kinh doanh phát triển sẽ là cơ hội tốt để thực hiện các hoạt động kinh doanh ngân hàng
Xu hướng sử dụng dịch vụ ngân hàng ngày càng nhiều: Với 86 triệu dân nhưng mới có khoảng 17% mở tài khoản tại ngân hàng nhưng tốc độ phát triển dịch vụ ngân hàng trong vòng 3 năm qua đạt trên 30%/năm Các loại hình doanh nghiệp, sản phẩm dịch vụ hỗ trợ cho việc tiêu dùng của người dân gia tăng Các công ty tài chính, cho thuê tài chính, ngân hàng phối hợp với
Trang 40các nhà cung cấp, thương mại đẩy mạnh cung cấp các sản phẩm tín dụng Lãi suất sẽ quyết định mức cầu trong hoạt động cho vay, các NHTM thường đưa ra mức lãi suất hấp dẫn để thu hút khách vay Tất nhiên phải trên
cơ sở mức lãi suất cơ bản của NHNN nhằm kiểm soát thị trường
Lạm phát cao gây khó khăn cho hoạt động ngân hàng vì khó kiểm soát mức giá cả và lượng tiền Doanh nghiệp và cá nhân sẽ dè dặt gửi tiền vào ngân hàng, lãi suất huy động sẽ tăng Các doanh nghiệp hạn chế đầu tư vào các dự án sản xuất kinh doanh do bởi độ rủi ro trong thời điểm này là khá cao
Vì thế, để khuyến khích việc vay tiền, ngân hàng phải hạ lãi suất cho vay
Môi trường công nghệ
Sự ra đời và phát triển của công nghệ hiện đại đã làm thay đổi bộ mặt của ngành Ngân hàng Công nghệ mới cho phép Ngân hàng đổi mới không chỉ qui trình nghiệp vụ mà còn đổi mới cả cách thức phân phối, đặc biệt là phát triển sản phẩm dịch vụ mới như sự phát triển của mạng lưới máy tính cho phép Ngân hàng cung cấp dịch vụ ngân hàng
Theo xu hướng phát triển của thời đại thông tin số, các ngân hàng ngày càng chú trọng ứng dụng công nghệ thông tin vào đổi mới quy trình nghiệp vụ
và cách thức phân phối Đặc biệt là phát triển các sản phẩm dịch vụ mới, có thể kể đến các sản phẩm tín dụng bán lẻ ứng dụng nhiều kỹ thuật sẽ là xu hướng phát triển trong thời gian tới
Xu hướng tiêu dùng gắn với tiếp cận công nghệ: Tỷ lệ tiếp cận internet
là 77 thuê bao/1.000 dân, số người sử dụng internet 20,8 triệu người chiếm 25% dân số; Số lượng thuê bao điện thoại cố định và di động là 921/1.000 người dân, chỉ xếp sau Mỹ, Singapore về tốc độ phát triển
Môi trường văn hóa - xã hội
Hành vi của khách hàng và cả đối thủ cạnh tranh của ngân hàng bị chi phối khá nhiều bởi các yếu tố văn hóa Hành vi tiêu dùng cũng bị chi phối bởi các yếu tố văn hóa, do đó nó cũng ảnh hưởng đến nhu cầu về các sản phẩm cho vay tiêu dùng của ngân hàng Chính vì thế, trình độ văn hóa là một trong