1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu và đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường sử dụng công cụ kinh tế trong bảo vệ môi trường làng nghề truyền thống

22 389 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 674,71 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN --- --- NGUYỄN ĐÌNH QUANG KHẢI NGHIÊN CỨU VÀ ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP NHẰM TĂNG CƯỜNG SỬ DỤNG CÔNG CỤ KINH TẾ TRONG BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG LÀNG NGHỀ TRUYỀ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN

-  -

NGUYỄN ĐÌNH QUANG KHẢI

NGHIÊN CỨU VÀ ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP NHẰM TĂNG CƯỜNG SỬ DỤNG CÔNG CỤ KINH TẾ TRONG BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG

LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG

CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG

TÓM TẮT LUẬN VĂN

Trang 2

TÓM TẮ LUẬN VĂN

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Các làng nghề truyền thống ở Việt Nam đã và đang có nhiều đóng góp cho sự phát triển của đất nước nói chung và đối với nền kinh tế nông thôn nói riêng Nhiều làng nghề truyền thống hiện nay đã được khôi phục, đầu tư phát triển với quy mô và kỹ thuật cao hơn, hàng hóa không những phục vụ nhu cầu trong nước mà còn cho xuất khẩu với giá trị lớn Tuy nhiên, một trong những thách thức đang đặt ra đối với các làng nghề là vấn đề môi trường và sức khỏe của người lao động, của cộng đồng dân cư đang bị ảnh hưởng nghiêm trọng từ hoạt động sản xuất của các làng nghề Những năm gần đây, vấn đề này đang thu hút sự quan tâm của Đảng, Nhà nước cũng như các nhà khoa học nhằm tìm ra các giải pháp hữu hiệu cho sự phát triển bền vững các làng nghề Đã có nhiều làng nghề thay đổi phương thức sản xuất cũng như quản lý môi trường và thu được hiệu quả đáng kể Song, đối với không ít làng nghề, sản xuất vẫn đang tăng về quy mô, còn môi trường ngày

càng ô nhiễm trầm trọng

Rất nhiều biện pháp khắc phục cũng như hạn chế tình hình ô nhiễm hiện nay ở các làng nghề đã được Đảng và Nhà nước quan tâm chỉ đạo song kết quả thu được không đem lại nhiều khả quan.Cũng như nhiều nước trên thế giới, công tác bảo vệ môi trường ở Việt Nam cho đến nay chủ yếu được thực hiện theo cơ chế mệnh lệnh và kiểm soát ( Command and Control – CAC) Theo đó các cộng đồng cũng như các doanh nghiệp phải tuân thủ các tiêu chuẩn môi trường cụ thể Vai trò của nhà nước là đảm bảo sự tuân thủ

về môi trường thông qua các chương trình quan trắc và cưỡng chế nghiêm ngặt Tuy nhiên hiệu quả của những chính sách quản lý môi trường này không thực sự thỏa mãn: thành công trong một số trường hợp nhưng cũng gây thất vọng trong rất nhiều trường hợp khác Mặc dù có vai trò quan trọng trong hệ thống quản lý môi trường, phương pháp CAC trên thực tế cần được bổ sung bằng các công cụ khuyến khích cần thiết để xúc tiến việc kiểm soát ô nhiễm và bảo vệ môi trường

Trang 3

Do vậy song song với việc ban hành và áp dụng các chính sách quản lý môi trường CAC, ngay từ những năm 1960 đã có nhiều công trình nghiên cứu tập trung vào việc thiết

kế và phân tích những chính sách quản lý môi trường nhằm tạo ra các khuyến khích ( incentive-based policies) kinh tế Những chính sách này được coi là linh hoạt hơn so với các chính sách quản lý môi trường CAC mang tính truyền thống.Cho tới nay đã có những bước tiến đáng kể trong sự hiểu biết về cả hai dạng chính sách quản lý môi trường này, đặc biệt thông qua thực tế áp dụng ở các nước trên thế giới trong đó có Việt Nam Công

cụ kinh tế là một trong những công cụ quan trọng để bảo vệ môi trường, đã và đang được ứng dụng rộng rãi trên thế giới, đặc biệt là trong các nước công nghiệp phát triển Tính ưu việt của các công cụ kinh tế là chúng không những đưa ra được con số giới hạn tổ chức cho các quyết định về môi trường, mà còn cho phép định lượng riêng biệt từng trường hợp một cách linh hoạt, trong khi vẫn đảm bảo được yêu cầu chung về chất lượng môi trường trong toàn khu vực Bên cạnh đó các công cụ kinh tế còn mang lại các lợi ích tiềm tàng như: Nâng cao thu nhập cho người dân, thúc đẩy sự đổi mới trong công nghệ kiểm soát ô nhiễm

và giảm bớt chi phí trong kiểm soát ô nhiễm Tuy nhiên việc áp dụng công cụ kinh tế tại các làng nghề truyền thống còn tương đối hạn chế.Do vậy việc phân tích, đánh giá và đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường sử dụng công cụ kinh tế trong bảo vệ môi trường làng nghề truyền thống là một trong những yêu cầu cấp thiết Do vậy vậy với mong muốn nghiên cứu và sử dụng các công cụ kinh tế vào việc bảo vệ môi trường tại các làng nghề

được nhiều hơn tôi đã lựa chọn đề tài:” Nghiên cứu và đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường sử dụng công cụ kinh tế trong bảo vệ môi trường làng nghề truyền thống”làm

đề tài luận văn cao học

Trang 4

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC SỬ DỤNG CÔNG CỤ KINH TẾ TRONG QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG

1.1 Khái niệm chung về quản lý môi trường, sự cần thiết phải quản lý môi trường

1.1.1 Khái niệm chung về quản lý môi trường

Trước tiên chúng ta hiểu quản lý là sự tác động của chủ thể quản lý lên đối tượng

quản lý và khách thể quản lý nhằm đạt được mục tiêu đề ra trong điều kiện biến động của môi trường ngoài

Quản lý môi trường là một dạng của quản lý Đó là sự tác động liên tục, có tổ chức và hướng đích của chủ thể quản lý môi trường nên cá nhân hoặc cộng đồng người tiến hành các hoạt động phát triển trong hệ thống môi trường và khách thể quản lý môi trường, sử dụng một cách tốt nhất mọi tiềm năng và cơ hội nhằm đạt được mục tiêu quản lý môi trường đã đề

ra, phù hợp với luật pháp và thông lệ hiện hành

Sự tác động liên tục, có tổ chức và hướng đích của chủ thể quản lý môi trường chính là việc tổ chức thực hiện các chức năng của quản lý môi trường nhằm phối hợp mục tiêu và các động lực hoạt động của mội người nằm trong hệ thống môi trường để đạt tới mục tiêu chung của hệ thống môi trường

1.1.2 Sự cần thiết phải quản lý môi trường

Xét về mặt tổ chức kỹ thuật của hoạt động quản lý, quản lý môi trường chính là sự

kết hợp mọi sự lỗ lực chung của con người hoạt động trong hệ thống môi trường và việc

sử dụng tốt các cơ sở vật chất kỹ thuật thuộc phạm vi sở hữu của hệ thống môi trường để đạt tới mục tiêu chung của toàn hệ thống và mục tiêu riêng của cá nhân hoặc nhóm người một cánh khôn khéo và có hiệu quả nhất Quản lý môi trường phải trả lời các câu hỏi “ Phải tiến hành các hoạt động phát triển nào, để làm gì?”, “Phải tiến hành hoạt động phát triển đó như thế nào, bằng cách nào?”, “Tác động tích cực và tiêu cực nào có thể xảy ra?”, “ Rủi ro nào có thể gánh chịu và cách xử lý ra sao?”

Trang 5

Quản lý môi trường được tiến hành chính là để tạo ra một hiệu quả hoạt động phát triển cao hơn, bền vững hơn so với hoạt động của từng cá nhân riêng rẽ hay của một nhóm người.Nói một cách khác, thực chất của quản lý môi trường là quản lý con người trong các hoạt động phát triển và thông qua đó sử dụng có hiệu quả nhất mọi tiềm năng

và cơ hội của hệ thống môi trường

1.2 Đối tượng, mục tiêu, nội dung và các nguyên tắc của quản lý nhà nước về môi trường

1.2.1 Đối tượng,mục tiêu của quản lý môi trường

Quản lý môi trường, trước hết là quản lý một hệ thống bao gồm các phần tử (yếu

tố) tự nhiên và nhân tạo có quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và tự nhiên Đó là một

hệ thống bao gồm các phần tử của thế giới vô sinh và hữu sinh hoạt động theo những qui

luật khác nhau và có con người tham dự

Mục tiêu của quản lý môi trường

Mục tiêu chung, lâu dài và nhất quán của quản lý môi trường là nhằm góp phần

tạo lập sự phát triển bền vững Đó là cách phát triển bền vững Và được xem là một tiến trình đòi hỏi sự tiến triển đồng thời của cả bốn lĩnh vực: Kinh tế, xã hội nhân văn, môi trường và kỹ thuật với những mục tiêu cụ thể của từng lĩnh vực Giữa bốn lĩnh vực này

có mối quan hệ tương tác rất chặt chẽ và hành động trong lĩnh vực này có thể thúc đẩy các lĩnh vực khác phát triển

1.2.2 Nội dung của quản lý môi trường

Quản lý môi trường được cần tiến hành ở các cấp,ở mọi quy mô: toàn cầu, khu vực, quốc gia, tỉnh, huyện, cơ sở sản xuất, hộ gia đình, bao gồm các nội dung sau đây:

+ Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản pháp luật về bảo vệ môi trường, ban hành hệ thống tiêu chuẩn môi trường

+ Xây dựng,chỉ đạo thực hiện chiến lược, chính sách bảo vệ môi trường, kế hoạch phòng – chống, khắc phục suy thoái môi trường, ô nhiễm môi trường, sự cố môi trường

Trang 6

+ Xây dựng, quản lý các công trình bảo vệ môi trường, công trình có liên quan đến bảo vệ môi trường…

1.2.3 Các nguyên tắc quản lý môi trường

- Khái niệm

Các nguyên tắc quản lý môi trường là các qui tắc chỉ đạo những tiêu chuẩn hành vi mà các chủ thể quản lý phải tuân thủ trong suốt quá trình quản lý môi trường

1.3 Các công cụ kinh tế trong quản lý môi trường

1.3.1 Khái niệm

Công cụ kinh tế là những chính sách nhằm thay đổi chi phí và lợi ích của những hành động của hoạt động kinh tế thường xuyên xảy ra tác động tới môi trường, tăng cường ý thức trách nhiệm trước việc gây ra huỷ hoại môi trường.Công cụ kinh tế sử dụng sức mạnh thị trường để đề ra các quyết định nhằm đạt tới mục tiêu môi trường, từ đó sẽ

có cách ứng xử hiệu quả chi phí cho bảo vệ môi trường

1.3.2 Các nguyên tắc

1.3.2.1 Nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền (PPP)

Nguyên tắc PPP có nguồn gốc từ sáng kiến của tổ chức hợp tác kinh tế và phát triển (OEDC) đề ra năm 1972 và 1974 PPP tiêu chuẩn năm 1972 cho rằng, những tác nhân gây ô nhiễm phải trả mọi chi phí cho hoạt động kiểm soát và phòng chống ô nhiễm.PPP “Mở rộng” năm 1974 chủ trương rằng, các tác nhân gây ra ô nhiễm thì ngoài việc phải tuân thủ các chi phí khắc phục ô nhiễm gây ra còn phải chịu mọi khoản chi phí

để thực hiện các biện pháp làm giảm ô nhiễm do chính quyền tổ chức thực hiện, nhằm khắc phục và hoàn trả

Trang 7

1.3.2.2 Nguyên tắc người hưởng thụ phải trả tiền (BPP- Benefit pays principle )

Nguyên tắc này chủ trương tạo lập một cơ chế nhằm đạt được các mục tiêu về môi trường.Đối nghịch với việc trực tiếp gây ô nhiễm phải trả tiền, người hưởng thụ một môi trường đã được cải thiện cũng phải trả một khoản chi phí Nói cách khác là trong tất cả những ai hưởng lợi do có được môi trường trong lành, không bị ô nhiễm thì đều phải nộp phí

1.3.3 Các công cụ kinh tế thường được sử dụng

1.3.3.1 Thuế tài nguyên

Thuế tài nguyên là một khoản thu của ngân sách nhà nước đối với các doanh nghiệp về việc sử dụng các dạng tài nguyên thiên nhiên trong quá trình sản xuất

1.3.3.2 Côta gây ô nhiễm (Giấy phép xả thải có thể chuyển nhượng)

Côta gây ô nhiễm là một dạng giấy phép xả thải có thể chuyển nhượng mà thông qua đó, nhà nước công nhận quyền các nhà máy, xí ngiệp… Được phép thải các chất ô nhiễm vào môi trường

1.3.3.3 Phí dịch vụ môi trường

Đây là một dạng chi phí phải trả khi sử dụng một số dịch vụ môi trường, mức phí tương ứng với chi phí cho dịch vụ môi trường đó.Bên cạnh đó, chi phí dịch vụ môi trường còn có mục đích hạn chế sử dụng quá các dịch vụ môi trường Có hai dạng dịch

vụ môi trường chính và theo đó là 2 dạng phí phục vụ môi trường

Phí dịch vụ cung cấp nước sạch và xử lý nước thải

Phí dịch vụ thu gom chất thải rắn và rác thải

1.3.3.5 Phí môi trường

Phí môi trường được xem xét theo 2 nội dung: Phí đối với hoạt động khai thác thành phần môi trường và phí đối với hoạt động gây ô nhiễm môi trường

Trang 8

1.3.3.6 Một số công cụ khác:

Ký quỹ trong hoạt động khai thác khoáng sản theo Quyết định số TTg ngày 29/5/2008 của Thủ tướng Chính phủ Ký quỹ môi trường đã đem lại những kết quả bước đầu đáng khích lệ trong công tác kiểm soát ô nhiễm đối với các hoạt động khai thác khoáng sản Tuy nhiên, việc áp dụng công cụ này trên thực tế chỉ mới dừng lại các

71/2008/QĐ-dự án quy mô nhỏ hoặc còn ở giai đoạn thử nghiệm do công thức 71/2008/QĐ-dự toán chi phí cải tạo, phục hồi môi trường, chưa cụ thể, khó thực hiện

1.3.4 Thực tiễn sử dụng công cụ kinh tế của thế giới

- Kinh nghiệm từ các nước phát triển

- Kinh nghiệm từ các nước đang phát triển

1.4 Khái niệm làng nghề và phát triển làng nghề theo hướng bền vững

1.4.1 Khái niệm làng nghề truyền thống

Khái niệm làng nghề

Như vậy, có thể quan niệm rằng làng nghề là một cụm dân cư như làng, thôn, ấp, bản, buôn, phum, sóc, (gọi chung là làng) có sản xuất kinh doanh ngành nghề nông thôn mà số hộ làm nghề và thu nh ập từ các nghề đó chiếm tỷ trọng cao

Khái niệm làng nghề truyền thống

Làng nghề truyền thống: là những thôn, làng làm nghề thủ công truyền thống có từ lâu đời, qua nhiều năm, nhiều thế kỷ và các bí quyết của nghề được giữ bí mật và lưu truyền từ đời này sang đời khác Làng nghề truyền thống phải có các yếu tố sau: hình thành và phát triển lâu đời; có nhiều nghệ nhân và đội ngũ thợ lành nghề đông đảo; sử dụng nguyên liệu trong nước là chủ yếu; sản phẩm mang tính truyền thống và độc đáo của Việt Nam, có giá trị chất lượng cao, vừa là hàng hoá tiêu dùng, vừa là sản phẩm văn hoá, nghệ thuật, mỹ thuật, thậm chí trở thành các di sản văn hoá của dân tộc, mang tính bản sắc văn hoá dân tộc Việt Nam; là nghề nuôi sống phần lớn bộ phận dân cư của làng Thông tư 116/2006/TT-BNN quy định làng nghề truyền thống có nghề đã xuất hiện trên

Trang 9

50 năm, tạo ra những sản phẩm mang bản sắc văn hoá dân tộc, nghềgắn với tên tuổi của một hay nhiều nghệ nhân hoặc tên tuổi của làng nghề

1.4.2 Sơ lược về đặc điểm, tình hình phát triển ở các làng nghề truyền thống hiện nay

- Nguyên liệu cho sản xuất:

Nguyên vật liệu cho các làng nghề chủ yếu được khai thác ở các địa phương trong nước.Nước ta có khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa, phong phú nông sản và thực vật, đồng thời có nguồn khoáng sản phong phú, đa dạng trong đó có các loại vật liệu xây dựng Do

đó, hầu hết các nguồn nguyên liệu vẫn lấy từ trực tiếp từ tự nhiên

- Công nghệ, thiết bị và cơ sở hạ tầng sản xuất

Hầu hết các cơ sở sản xuất nghề nông thôn, nhất là ở khu vực các hộ tư nhân vẫn còn sử dụng các loại công cụ thủ công truyền thống hoặc cải tiến một phần Trình độ công nghệ còn lạc hậu, cơ khí hóa thấp, các thiết bị phần lớn đã cũ, sử dụng lại của các

cơ sở sản xuất công nghiệp quy mô lớn không đảm bảo yêu cầu kỹ thuật, an toàn và vệ sinh môi trường

- Đặc điểm về lao động và tổ chức sản xuất

Với người lao động trực tiếp, thành phần đã tốt nghiệp phổ thông ở các cơ sở sản xuất và các hộ chuyên chiếm hơn 70%; còn đối với các hộ kiêm và các hộ thuần nông, lao động nghề chiếm từ 40 đến 70% mới tốt nghiệp cấp I và II, tỷ lệ hết cấp III chưa đến 20% Đối với các chủ hộ và chủ doanh nghiệp, nhìn chung trình độ học vấn, chuyên môn còn rất hạn chế

- Thị trường công nghệ

Mang một đặc tính riêng của các làng nghề Các thợ thủ công có khả năng tạo ra các công cụ sản xuất từ đơn giản đến phức tạp Quá trình chuyên môn hóa sản xuất là động lực cho ra đời các làng nghề chuyên chế tạo công cụ sản xuất cung ứng cho các làng nghề

- Thị trường tiêu thụ sản phẩm: Trước đây, về cơ bản thị trường này nhỏ hẹp, tiêu

thụ tại chỗ (các vùng nông thôn, các làng nghề) do đó giá thành cũng thấp Từ khi nền kinh tế chuyển sang cơ chế thị trường, cơ cấu kinh tế và quan hệ hệ sản xuất ở nông thôn

Trang 10

cũng dần thay đổi, điều này đã tác động mạnh mẽ đến tình hình sản xuất và kinh doanh của các làng nghề, chúng dần thích ứng, đáp ứng các nhu cầu của một nền kinh tế mới

- Giá trị sản lượng các làng nghề: Trong thời gian qua, các làng nghề Việt Nam đã

có nhiều bước tiến mới trong quá trình phát triển Các làng nghề đã tạo ra một khối lượng hàng hóa lớn đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu

- Một số thách thức chủ yếu đối với các làng nghề hiện nay

Sự phát triển làng nghề và các làng nghề truyền thống đã góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu nông thôn theo hướng giảm nhanh tỷ trong giá trị sản xuất nông nghiệp, tăng giá trị sản xuất công nghiệp và dịch vụ nông thôn, góp phần giải quyết việc làm cho nhiều người lao động Sản xuất tại các làng nghề đã tạo ra nhiều mặt hàng có giá trị kinh

tế cao, kim ngạch xuất khẩu liên tục tăng mỗi năm; nhiều cơ sở sản xuất tại một số làng nghề đã bước đầu khẳng định được uy tín chất lượng và thương hiệu hàng hoá của mình đối với khách hàng trong nước và quốc tế

Thứ nhất là nội lực của các làng nghề nói chung còn yếu, thể hiện:

Thứ hai là khả năng cạnh tranh trên thị trường

Ba là, phát triển các làng nghề hiện đang làm gia tăng ô nhiễm môi trường

- Hiện trạng quy hoạch :

Các làng nghề, đặc biệt là các làng nghề truyền thống hiện nay đang hết sức khó khăn trong quy hoạch

1.4.3 Khái quát về ô nhiễm môi trường làng nghề Việt Nam hiện nay

Vấn đề môi trường mà các làng nghề đang phải đối mặt không chỉ giới hạn ở trong phạm vi các làng nghề mà còn ảnh hưởng đến người dân ở vùng lân cận Theo Báo cáo môi trường quốc gia năm 2008 với chủ đề "Môi trường làng nghề Việt Nam", Hiện nay

“hầu hết các làng nghề ở Việt Nam đều bị ô nhiễm môi trường (trừ các làng nghề không sản xuất hoặc dùng các nguyên liêu không gây ô nhiễm như thêu, may )

CHƯƠNG 2

Trang 11

THỰC TRẠNG QUẢN LÝ,BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG LÀNG NGHỀ TRUYỀN

THỐNG VÀ VIỆC ÁP DỤNG CÔNG CỤ KINH TẾ HIỆN NAY

2.1 Thực trạng quản lý bảo vệ môi trường làng nghề hiện nay

2.1.1 Công tác quy hoạch, tập trung các làng nghề còn gặp nhiều khó khăn

Thực tế những năm qua đẵ chỉ rõ vai trò quan trọng của sự phát triển làng nghề góp phần vào quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá đang diễn ra mạnh mẽ nói riêng và sự nghiệp phát triển kinh tế - xă hội của đất nước nói chung Điều đó thể hiện chủ trương khôi phục và phát triển làng nghề truyền thống của Đảng và Nhà nước ta là một hương đi đúng đắn.Tuy nhiên chính sự phát triển của những làng nghề này cũng đă và đang phát sinh ra nhiều vấn đề bức xúc ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển bền vững của các làng nghề, cũng như sự phát triển kinh tế - xă hội của vùng nông thôn

2.1.2 Các văn bản quy phạm pháp luật bảo vệ môi trường làng nghề chưa đồng

bộ và cụ thể

2.1.2.1 Một số văn bản đã được ban hành

Đơn cử như nghị định số 66/2006/NĐ-CP ngày 07/07/2006 của thủ tướng chính phủ về phát triển ngành nghề nông thôn có quy định một số nội dung liên quan đến BVMT

- Một số địa phương cũng đã chú ý đến việc ban hành các văn bản liên quan nhằm

cụ thể hóa đường lối của Đảng và Nhà nước ở địa phương mình:

2.1.3 Tổ chức thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường còn yếu và chưa phát huy hiệu quả

Theo Tổng Cu ̣c môi trư ờng, sở dĩ nhiều cơ sở và cá nhân vi phạm, là do ý thức tuân thủ pháp luật về bảo vệ môi trường của nhiều cơ sở sản xuất, chủ đầu tư các khu

ngơ trước những sai phạm

2.1.4 Công tác phổ biến thông tin, nâng cao nhận thức bảo vệ môi trường cho cộng đồng làng nghề chưa được chú trọng

Ngày đăng: 05/11/2016, 08:51

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w