Tính cấp thiết của đề tài: Ngân sách Nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để bảo đảm th
Trang 1i
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài:
Ngân sách Nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã được
cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước
Trước khi có Luật NSNN, KBNN chỉ thực hiện xuất quỹ NSNN mà chưa thực hiện chức năng kiểm soát chi nên chưa góp phần khắc phục tình trạng nguồn lực tài chính bị phân tán; NSNN chưa thanh toán trực tiếp đến các đơn vị cung cấp hàng hoá dịch vụ mà thường được tạm ứng về quỹ của các đơn vị để chi tiêu, tạo nên bức tranh tài chính thiếu lành mạnh và dễ phát sinh tiêu cực trong quá trình quản lý Từ khi Luật NSNN có hiệu lực (năm 1997), vai trò của KBNN trong công tác kiểm soát chi đã được xác lập rõ và từng bước đưa nhiệm
vụ quản lý chi NSNN đi vào nền nếp Luật NSNN (sửa đổi năm 2002) với việc chuyển đổi hình thức cấp phát theo hạn mức kinh phí sang thanh toán theo dự toán đã cải cách công tác quản lý chi NSNN qua KBNN theo hướng giảm bớt thủ tục hành chính, tăng quyền chủ động và trách nhiệm cho các đơn vị sử dụng NSNN; giải phóng cơ quan tài chính và cơ quan chủ quản khỏi nhiều thủ tục hành chính không cần thiết Công tác quản lý chi NSNN qua KBNN những năm qua đã đạt được nhiều kết quả và có những chuyển biến tích cực; cơ chế quản lý chi NSNN ngày càng được hoàn thiện, rõ ràng và chặt chẽ hơn, công tác kiểm soát chi NSNN qua KBNN ngày một chặt chẽ và hiệu quả hơn Kết quả công tác quản lý của KBNN về chi NSNN đã góp phần quan trọng trong việc sử dụng vốn NSNN hiệu quả hơn thúc đẩy sự phát triển KT-XH của đất nước, đảm bảo an ninh - chính trị và trật tự xã hội
Bên cạnh những kết quả đã đạt được trong những năm qua, công tác quản
lý của KBNN về chi NSNN vẫn còn những tồn tại, hạn chế, bất cập như:
Trang 2Một là: Cơ chế chính sách còn một số bất cập: chưa thực hiện kiểm soát
cam kết chi, một mặt làm công tác quản lý chi NSNN chưa hiệu quả, mặt khác cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến nợ thanh toán xây dựng cơ bản còn lớn ở một số ngành, địa phương; vẫn thực hiện cơ chế kiểm soát chi NSNN theo yếu tố đầu vào, chưa thực hiện kiểm soát chi theo kết quả đầu ra
Hai là: Tổ chức quy trình kiểm soát chi NSNN chưa thống nhất, việc phân định trách nhiệm chưa thực sự chặt chẽ khi còn nhiều cơ quan, đơn vị tham gia vào quá trình kiểm soát chi NSNN; cải cách thủ tục hành chính và ứng dụng công nghệ tin học trong kiểm soát chi NSNN chưa đạt hiệu quả cao,…
Ba là: Công tác quản lý chi NSNN có khoản chi chưa thực sự tiết kiệm và
hiệu quả, dễ phát sinh tiêu cực Việc phân công nhiệm vụ kiểm soát chi trong hệ thống KBNN có lúc chưa thống nhất, chưa tạo điều kiện tốt nhất cho khách hàng Việc thực hiện chế độ công khai minh bạch trong chi tiêu ngân sách của những đơn vị thụ hưởng ngân sách còn hạn chế Do vậy, công tác quản lý và kiểm soát chi NSNN còn bộc lộ những hạn chế và tồn tại, ảnh hưởng đến chất lượng sử dụng ngân sách, chưa đáp ứng yêu cầu hiện đại hoá quy trình nghiệp vụ và cải cách thủ tục hành chính trong xu thế đẩy mạnh mở cửa và hội nhập quốc tế
Trong những năm qua đã có một số đề tài nghiên cứu về lĩnh vực này, song chưa đi sâu nghiên cứu tổng thể và làm rõ vai trò, trách nhiệm của cơ quan kiểm soát thanh toán, mà chủ yếu đề cập đến những cơ chế, chính sách, các chế
độ và quy trình nghiệp vụ có liên quan đến quản lý quỹ NSNN Mặt khác lý luận
về chi NSNN và vai trò, trách nhiệm của cơ quan kiểm soát, thanh toán NSNN trong nền kinh tế thị trường chưa được nghiên cứu đầy đủ dưới giác độ kinh tế chính trị học để áp dụng Do vậy, việc kết hợp giữa lý luận và thực tiễn để nghiên cứu đưa ra các giải pháp hoàn thiện, nâng cao vai trò quản lý của KBNN
về chi NSNN trong giai đoạn hiện nay là hết sức cần thiết, có ý nghĩa cả về mặt
lý luận và thực tiễn
Trang 3iii
2 Tình hình nghiên cứu đề tài:
Việc nghiên cứu hoàn thiện và nâng cao vai trò, cơ chế quản lý của KBNN
về chi NSNN là vấn đề có tính cấp thiết đối với chi NSNN nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng NSNN Từ trước tới nay đã có nhiều đề tài nghiên cứu về quản lý chi NSNN, nhưng hầu hết đều nghiên cứu từ giác độ tài chính, về cơ chế, chế độ quy trình nghiệp vụ có liên quan đến quản lý quỹ NSNN; Vì vậy nghiên cứu dưới giác độ kinh tế chính trị, giác độ quản lý để có cách nhìn tổng thể, toàn diện hơn về vấn đề này Đặc biệt là dưới góc độ kinh tế chính trị học và nhất là khi chúng ta đang có sự chuyển biến mạnh về cơ chế, chính sách quản lý kinh tế để hội nhập kinh tế quốc tế
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu:
Trên cơ sở lý luận về quản lý quỹ NSNN nói chung và quản lý chi NSNN nói riêng Đề tài tập trung nghiên cứu, phân tích, đánh giá từ thực trạng công tác quản lý chi NSNN tại KBNN Thái Nguyên cả trong lĩnh vực chi thường xuyên
và chi đầu tư nhằm làm rõ những kết quả đã đạt được và những vấn đề còn tồn tại, nguyên nhân tồn tại, hạn chế từ đó đề ra các giải pháp khắc phục để nâng cao vai trò, hiệu quả công tác quản lý của KBNN về chi NSNN Việc nghiên cứu hoàn thiện cơ chế và nâng cao vai trò quản lý của KBNN về chi NSNN là vấn đề
có tính cấp thiết đối với chi NSNN nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng NSNN, đặc biệt là dưới góc độ kinh tế chính trị học gắn với việc chúng ta đang có sự chuyển biến mạnh về cơ chế, chính sách quản lý kinh tế để hội nhập kinh tế quốc tế
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu là các cơ chế, chính sách, chế độ, quy trình nghiệp
vụ và thực tế công tác quản lý, với mục tiêu là làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về hoàn thiện cơ chế và vai trò quản lý của KBNN về chi NSNN
Phần lý luận sẽ nghiên cứu tổng quát về quản lý quỹ NSNN và quản lý, kiểm soát chi NSNN qua KBNN trong cơ chế quản lý kinh tế của Nhà nước
Trang 4Phần thực trạng công tác quản lý của KBNN về chi NSNN sẽ lấy cơ chế, chế độ, chính sách, quy trình nghiệp vụ, số liệu và thực tế thực hiện trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên giới hạn trong khoảng thời gian từ năm 2005 đến năm 2008, trên cơ sở đó sẽ đề xuất ra các phương hướng, giải pháp, nhiệm vụ cụ thể nhằm hoàn thiện và nâng cao vai trò quản lý của KBNN về chi NSNN
5 Phương pháp nghiên cứu:
Luận văn sử dụng các phương pháp luận cơ bản của chủ nghĩa duy vật biện chứng trong học thuyết của chủ nghĩa Mác-Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, lý luận về kinh tế chính trị, kết hợp với việc sử dụng các phương pháp khác như: thống kê, khảo sát, đối chiếu, phân tích, so sánh, biểu đồ, tổng hợp …
6 Đóng góp của luận văn:
- Hệ thống hoá, phân tích và làm rõ thêm về cơ sở lý luận và thực tiễn về chi NSNN, cơ chế quản lý của KBNN về chi NSNN, trong quá trình xây dựng kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
- Đề xuất quan điểm, phương hướng và giải pháp nâng cao vai trò quản lý của KBNN về chi NSNN ở Việt Nam nhằm sử dụng NSNN có hiệu quả hơn, góp phần thúc đẩy sự phát triển KT-XH và tăng cường hội nhập quốc tế
7 Kết cấu luận văn: Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục, tài
liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính luận văn được kết cấu gồm 3 chương là:
Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn về vai trò quản lý của KBNN về chi NSNN
Chương 2 Thực trạng quản lý của KBNN về chi NSNN (nghiên cứu, khảo sát thực tế tại KBNN tỉnh Thái Nguyên)
Chương 3 Phương hướng và giải pháp cơ bản nhằm hoàn thiện cơ chế và
nâng cao vai trò quản lý của KBNN về chi NSNN
Trang 5CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VAI TRÒ QUẢN LÝ CỦA KHO BẠC NHÀ NƯỚC VỀ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
LÝ CỦA KBNN VỀ CHI NSNN
1.1.1 Ngân sách nhà nước
- Khái niệm NSNN: NSNN là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước
- Vai trò của NSNN: NSNN là công cụ quan trọng của Nhà nước để điều chỉnh vĩ mô đối với toàn bộ đời sống kinh tế, xã hội, định hướng phát triển sản xuất điều tiết thị trường, bình ổn giá cả, điều chỉnh đời sống xã hội và đảm bảo
an ninh Quốc gia NSNN có vai trò đặc biệt quan trọng đối với nền tài chính quốc gia, nó tác động đến mọi hoạt động kinh tế - xã hội, là cân đối tài chính tiền
tệ quan trọng hàng đầu, quyết định sự phát triển kinh tế, công bằng xã hội và điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế
1.1.2 Chi ngân sách Nhà nước
- Khái niệm chi NSNN: Chi NSNN là quá trình phân phối và sử dụng quỹ NSNN theo nguyên tắc không hoàn trả trực tiếp nhằm trang trải cho chi phí bộ máy nhà nước và thực hiện các chức năng kinh tế - xã hội của Nhà nước
- Đặc điểm, phân loại và nguyên tắc chi NSNN: Chi NSNN bao gồm các khoản chi phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo đảm hoạt động của bộ máy Nhà nước; chi trả nợ của Nhà nước; chi viện trợ và các khoản chi khác theo quy định của pháp luật
1.1.3 Quản lý về chi ngân sách nhà nước
- Khái niệm, đối tượng quản lý chi NSNN: Quản lý NSNN là sự tác động của Nhà nước vào hoạt động của các đối tượng có thu nhập và các đối tượng sử
Trang 6dụng một phần thu nhập đó bằng các công cụ quản lý vĩ mô của mình để thực hiện các chức năng nhiệm vụ của Nhà nước Đối tượng tác động của quản lý chi NSNN là toàn bộ các khoản chi NSNN được bố trí để phục vụ cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước trong từng giai đoạn lịch sử nhất định
- Nguyên tắc quản lý chi NSNN: NSNN được quản lý thống nhất theo nguyên tắc tập trung dân chủ, công khai, minh bạch, có phân công, phân cấp quản lý, gắn quyền hạn với trách nhiệm Quốc hội quyết định dự toán NSNN, phân bổ ngân sách trung ương, phê chuẩn quyết toán NSNN Nhiệm vụ chi của ngân sách cấp nào do ngân sách cấp đó đảm bảo; việc ban hành và thực hiện chính sách, chế độ mới làm tăng chi ngân sách sau khi dự toán đã được cấp có thẩm quyền quyết định thì phải có giải pháp đảm bảo nguồn tài chính phù hợp với khả năng cân đối ngân sách của từng cấp; Trường hợp cơ quan quản lý Nhà nứơc cấp trên uỷ quyền cho cơ quan quản lý Nhà nước cấp dưới thực hiện nhiệm
vụ chi của mình, thì phải chuyển kinh phí từ ngân sách cấp trên cho cấp dưới thực hiện nhiệm vụ đó
- Điều kiện cấp phát, thanh toán các khoản chi NSNN:
Một là: Đã có trong dự toán chi NSNN hàng năm được giao
Hai là: Đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức do cơ quan Nhà nước có thẩm
quyền quy định
Ba là: Đã được thủ trưởng đơn vị sử dụng ngân sách hoặc người được uỷ
quyền quyết định chi
Bốn là: Các khoản chi phải có đủ hồ sơ, chứng từ hợp lệ
1.2 VAI TRÒ QUẢN LÝ CHI NSNN VÀ SỰ CẦN THIẾT NÂNG CAO VAI TRÒ QUẢN LÝ CHI NSNN CỦA KBNN
1.2.1 Vai trò quản lý của KBNN về chi ngân sách Nhà nước
KBNN và chức năng quản lý của KBNN về chi NSNN: KBNN là tổ chức thuộc Bộ tài chính, thực hiện chức năng quản lý nhà nước về quỹ NSNN, các
Trang 7vii
quỹ tài chính nhà nước và các quỹ khác của nhà nước; thực hiện huy động vốn cho NSNN, cho đầu tư phát triển qua hình thức phát hành công trái, trái phiếu theo quy định của pháp luật Quản lý chi NSNN là trách nhiệm của các ngành, các cấp, các cơ quan, đơn vị có liên quan đến việc quản lý và sử dụng kinh phí NSNN, trong đó hệ thống KBNN giữ vai trò đặc biệt quan trọng, trực tiếp kiểm soát và chịu trách nhiệm về kết quả kiểm soát của mình Luật NSNN đã quy định mọi khoản chi của NSNN chỉ được thực hiện khi có đủ điều kiện quy định, theo nguyên tắc thanh toán trực tiếp cho đơn vị sử dụng ngân sách và các tổ chức được NSNN hỗ trợ thường xuyên phải mở tài khoản tại KBNN, chịu sự kiểm tra của cơ quan tài chính và KBNN trong quá trình thanh toán và
sử dụng kinh phí KBNN có trách nhiệm kiểm soát các hồ sơ, chứng từ, điều kiện chi và thực hiện cấp phát, thanh toán kịp thời các khoản chi NSNN đủ điều kiện thanh toán theo quy định; KBNN có quyền yêu cầu các đơn vị sử dụng NSNN cung cấp đầy đủ các hồ sơ, chứng từ phù hợp với từng khoản chi theo quy định; KBNN có quyền tạm đình chỉ, từ chối chi trả, thanh toán và thông báo cho đơn vị sử dụng NSNN biết; chịu trách nhiệm về quyết định của mình
1.2.2 Sự cần thiết nâng cao vai trò quản lý của KBNN về chi NSNN
- Do yêu cầu phát triển cuả nền kinh tế và quản lý tài chính công
- Do yêu cầu của mở cửa hội nhập, quản lý của KBNN về chi NSNN phải phù hợp với thông lệ Quốc tế
- Do đòi hỏi thực hiện kịp thời và có hiệu quả mục tiêu phát triển KT-XH
- Do công tác quản lý chi NSNN còn bất cập, tồn tại và hạn chế
1.3 KINH NGHIỆM TRONG THỰC HIỆN VAI TRÒ QUẢN LÝ CỦA KBNN VỀ CHI NSNN CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA VÀ VIỆT NAM
1.3.1 Tổng quan kinh nghiệm của một số quốc gia: Kinh nghiệm của
Cộng hoà Pháp; Kinh nghiệm của Canada; Kinh nghiệm của Brazin; Kinh nghiệm của Singapore
1.3.2 Một số kinh nghiệm quản lý của KBNN về chi NSNN
Trang 8CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CỦA KBNN VỀ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TẠI TỈNH THÁI NGUYÊN
2.1 QÚA TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ HOÀN THIỆN QUẢN LÝ CỦA KBNN VỀ CHI NSNN
2.1.1 Sự hình thành và hoạt động của KBNN trong hệ thống tài chính Quốc gia
2.1.2 Quá trình hoạt động quản lý của KBNN về chi NSNN
Giai đoạn từ 1990 đến 1996
Nhìn chung trong giai đoạn này cơ chế quản lý cấp phát chi NSNN được thực hiện theo tinh thần Nghị định số 168/CP của Hội đồng Chính phủ được ban hành từ năm 1961- thời kỳ quản lý kinh tế theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp
Giai đoạn 1997-2003
Kỳ họp thứ 9 Quốc hội khoá IX đã thông qua Luật NSNN Kể từ năm
1945, đây là lần đầu tiên Việt Nam có được một bộ Luật điều chỉnh các mối quan hệ về việc phân cấp quản lý, lập, chấp hành và quyết toán NSNN; phân định trách nhiệm, quyền hạn của các Bộ, ngành, địa phương trong việc quản lý
và điều hành NSNN Luật NSNN có hiệu lực thi hành từ 01/01/1997
Thực hiện Luật NSNN sửa đổi từ năm ngân sách 2004 đến nay
Thực hiện Luật NSNN sửa đổi, Nghị định số 60/NĐ-CP của Chính phủ,
Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 59/2003/TT-BTC, Thông tư số 79/2003/TT-BTC hướng dẫn thực hiện Luật NSNN và kiểm soát chi NSNN qua KBNN So với cơ chế kiểm soát chi trong giai đoạn trước, thì cơ chế kiểm soát chi mới có một số điểm thay đổi cơ bản
Trang 9Thứ nhất, dự toán chi thường xuyên của các đơn vị sử dụng NSNN được
giao theo 4 nhóm mục chi chủ yếu là: chi thanh toán cho cá nhân; chi nghiệp vụ chuyên môn; chi mua sắm, sửa chữa và nhóm mục chi khác thay cho việc phải được quy định chi tiết theo các mục chi của mục lục NSNN như trước đây
Thứ hai, chuyển đổi hình thức cấp phát theo hạn mức kinh phí bằng hình
thức chi trả, thanh toán theo dự toán từ KBNN Đây là bước chuyển biến mang tính đột phá của Luật NSNN sửa đổi
Thứ ba, bổ sung phương thức tạm cấp kinh phí NSNN vào đầu năm ngân
sách khi dự toán NSNN và phương án phân bổ NSNN chưa được cơ quan có thẩm quyền quyết định hoặc phải điều chỉnh dự toán NSNN và chi ứng trước cho
dự toán năm sau
Thứ tư, đơn vị được KBNN cấp phát tạm ứng bằng tiền mặt thuộc nguồn
kinh phí năm sau để chi cho một số khoản như chi lương, chi nghiệp vụ, công vụ phí và một số khoản chi cần thiết khác để đảm bảo hoạt động của bộ máy
Thứ năm, đối với các khoản chi về mua sắm đồ dùng, trang thiết bị, sửa
chữa lớn tài sản cố định, ngoài việc tuân thủ theo nhu cầu chi quý và dự toán chi năm được duyệt, còn phải tuân thủ theo dự toán chi quý do cơ quan có thẩm quyền duyệt
Thứ sáu, các khoản tạm ứng đến hết ngày 31/12 chưa đủ thủ tục thanh
toán được phép tiếp tục thanh toán trong thời gian chỉnh lý quyết toán Trường hợp hết thời gian chỉnh lý quyết toán vẫn chưa đủ thủ tục thanh toán, thì đơn vị phải làm thủ tục cho phép chuyển tạm ứng sang năm sau
2.2 TÌNH HÌNH QUẢN LÝ CỦA KBNN VỀ CHI NSNN TẠI TỈNH THÁI NGUYÊN
2.2.1 Khái quát chung về tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Thái Nguyên 2.2.2 Quá trình thực hiện quản lý về chi NSNN của KBNN Thái Nguyên
Trang 10- Cơ cấu tổ chức bộ máy tại KBNN Thái Nguyên
- Phân công nhiệm vụ quản lý về chi NSNN tại KBNN Thái Nguyên
2.3 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CỦA KBNN VỀ CHI NSNN TẠI TỈNH THÁI NGUYÊN
2.3.1 Những thành tựu trong quản lý của KBNN về chi NSNN trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2005 - 2008
- Thực trạng về cơ chế quản lý chi NSNN
- Kết quả, vai trò và hiệu quả công tác quản lý của KBNN về chi NSNN
- Các nhân tố ảnh hưởng công tác quản lý của KBNN về chi NSNN
+ Cơ chế, chế độ chính sách và phân cấp quản lý, điều hành NSNN;
+ Đội ngũ cán bộ làm nhiệm vụ quản lý, kiểm soát và sử dụng NSNN; + Phân công nhiệm vụ trong quản lý chi NSNN;
+ Công tác kiểm tra, kiểm soát;
+ Hiện đại hóa trong quản lý, điều hành và chi tiêu NSNN
2.3.2 Những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân
- Những tồn tại, hạn chế
+ Việc phân bổ và duyệt dự toán chi tiết của các đơn vị thường rất chậm
so với quy định Bên cạnh đó, chất lượng dự toán cũng chưa cao;
+ Một số tiêu chuẩn định mức chi đã được sửa đổi, bổ sung, nhưng xét về tổng thể thì hệ thống tiêu chuẩn, định mức chi NSNN còn chưa đồng bộ, nhiều định mức đã quá lạc hậu và có lĩnh vực chi chưa xác định được mức chi tiêu;
+ Chi ngân sách nhất là trong lĩnh vực đầu tư XDCB còn dàn trải, chưa tập trung, hiệu quả một số dự án còn thấp, vai trò là công cụ điều tiết nền kinh tế - xã hội của NSNN còn hạn chế;
+ Công tác kiểm tra, thanh tra vẫn còn hạn chế, tình trạng thất thoát tiêu cực trong quản lý và sử dụng ngân sách chưa được khắc phục triệt để;