Trong bối cảnh hiện nay của thị trường kỹ thuật công nghệ cũng như đòi hỏi của các DN về hỗ trợ kỹ thuật thì vấn đề về cách thức hỗ trợ, phương pháp hỗ trợ kỹ thuật của TAC có ý nghĩa qu
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Các hoạt động của các doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) đã và đang góp một phần không nhỏ vào sự phát triển của nền kinh tế quốc dân Tuy nhiên, các doanh nghiệp này lại gặp phải những khó khăn như thị trường, nguồn vốn, nhân lực, địa điểm hoạt động kinh doanh, hệ thống quản lý chất lượng Hiện nay phần lớn công nghệ do các DNNVV đang sử dụng đã lạc hậu hàng chục năm Thêm vào nữa, kỹ năng, nghiệp vụ quản lý cũng như tay nghề của lực lượng lao động trong các DNNVV của chúng ta hiện nay cũng được đánh giá là thấp so với nhu cầu, chứ không phải là ưu điểm như chúng ta vẫn tưởng Thực tiễn yêu cầu phải có sự tư vấn, hướng dẫn, tìm giải pháp hỗ trợ
kỹ thuật giúp các DNNVV tăng khả năng cạnh tranh, khả năng tiếp xúc thương mại, tiếp cận với thị trường quốc tế về tiến bộ công nghệ
Trung tâm Hỗ trợ kỹ thuật DNNVV (TAC) tại Hà Nội là đầu mối tư vấn
về công nghệ và kỹ thuật, cải tiến trang thiết bị, hướng dẫn quản lý kỹ thuật
và bảo dưỡng trang thiết bị, tạo điều kiện tiếp cận công nghệ trang thiết bị mới cho DNNVV Trong bối cảnh hiện nay của thị trường kỹ thuật công nghệ cũng như đòi hỏi của các DN về hỗ trợ kỹ thuật thì vấn đề về cách thức hỗ trợ, phương pháp hỗ trợ kỹ thuật của TAC có ý nghĩa quan trọng, quyết định tính thực thi và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, đặc biệt là nhu cầu áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật phải phù hợp với từng yêu cầu cụ thể của
DN Do vậy việc nghiên cứu một cách nghiêm túc thực trạng vấn đề xác định cách thức hỗ trợ kỹ thuật cho DNNVV để có thể đưa ra các kiến nghị và giải pháp là một vấn đề hết sức cần thiết
Xuất phát từ suy nghĩ đó, tôi đã chọn đề tài “NÂNG CAO NĂNG LỰC
HỖ TRỢ KỸ THUẬT CỦA TAC ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP NHỎ
VÀ VỪA TẠI HÀ NỘI” để nghiên cứu
Trang 2CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HỖ TRỢ KỸ THUẬT DNNVV 1.1 Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam trong nền kinh tế thị trường:
1.1.1 Khái niệm DNNVV:
Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở sản xuất, kinh doanh độc lập, đã đăng
ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 300 người Căn cứ vào tình hình kinh tế - xã hội cụ thể của ngành, địa phương, trong quá trình thực hiện các biện pháp, chương trình trợ giúp có thể linh hoạt áp dụng đồng thời cả hai chỉ tiêu vốn và lao động hoặc một trong hai chỉ tiêu nói trên
1.1.2 Vị trí và vai trò của DNNVV trong phát triển kinh tế ở Việt Nam:
Tại Việt Nam, doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm khoảng 96% tổng số doanh nghiệp, đóng góp 26% tổng sản phẩm xã hội (GDP), 31% giá trị tổng sản lượng công nghiệp, 78% mức bán lẻ, 64% tổng lượng vận chuyển hàng hoá, tạo ra 49% việc làm phi nông nghiệp ở nông thôn và 25-26% lực lượng lao động cả nước Đóng góp vào ngân sách Nhà nước thông qua nộp thuế là 6,4% tổng ngân sách hàng năm
1.1.3 Thực trạng ứng dụng khoa học kỹ thuật trong DNNVV Việt Nam:
- Phần lớn các doanh nghiệp nước ta đang sử dụng công nghệ tụt hậu so với mức trung bình của thế giới 2-3 thế hệ Có 76% máy móc, dây chuyền công nghệ nhập thuộc thế hệ 1960-1970, 75% số thiết bị đã hết khấu hao, 50% là đồ tân trang
- Về trình độ sử dụng công nghệ, chỉ có khoảng 8% số doanh nghiệp đạt trình độ công nghệ tiên tiến mà phần lớn là các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) Doanh nghiệp trong nước đang sử dụng công nghệ cũ, lạc hậu và khả năng cạnh tranh về công nghệ của các doanh nghiệp phía bắc là rất thấp Cuộc điều tra cũng chỉ ra một nghịch lý; trong khi trình độ về kỹ thuật
Trang 3công nghệ còn thấp nhưng nhu cầu đào tạo về kỹ thuật và công nghệ của doanh nghiệp có tỷ lệ rất thấp; chỉ 25,9 % doanh nghiệp được điều tra có nhu cầu về đào tạo công nghệ
1.1.4 Sự cần thiết phải tăng cường hỗ trợ kỹ thuật đối với DNNVV:
Theo một số chuyên gia thì doanh nghiệp là chủ thể thực hiện Chính sách nhập công nghệ cần nêu bật vai trò chủ thể của DN Bởi chính DN mới
là người quyết định nhập công nghệ nào, là người làm chủ, nắm bắt và phát triển công nghệ Nhà nước không thể làm thay DN mà chỉ có thể hỗ trợ họ thông qua đào tạo nâng cao năng lực của doanh nghiệp và các chính sách tài chính như ưu đãi thuế, hỗ trợ vốn đầu tư đổi mới công nghệ Ngoài ra, DN sẽ
tự chịu trách nhiệm nhập công nghệ căn cứ theo tín hiệu của thị trường và chiến lược kinh doanh của DN, Nhà nước chỉ đứng ra hỗ trợ cho DN nếu thấy cần thiết Nên tránh quan điểm kế hoạch hóa tập trung khi xây dựng chính sách Vì vậy chính sách cũng phải phù hợp với nền kinh tế thị trường
Chúng ta cần đi tắt đón đầu các công nghệ mới, tiên tiến của nước ngoài, tránh phải nghiên cứu lại những cái đã có Muốn vậy Nhà nước cần có chính sách thu hút, đặc biệt cần phải có chính sách hỗ trợ, đào tạo nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong nước, nhất là nhân lực trong hai khu vực ưu tiên là cộng đồng DN vừa và nhỏ và khu vực nông thôn miền núi Nguồn nhân lực trong nước cao hơn không chỉ giúp các đối tác đầu tư công nghệ giảm chi phí đào tạo, tăng lợi thế cạnh tranh thu hút đầu tư với các quốc gia như Thái Lan, Malaysia…
Về vai trò can thiệp của Nhà nước với đối tượng chịu điều chỉnh của chính sách, chính sách cần chú ý đến trường hợp nhập những thành phần công nghệ để nâng cao hiệu quả đồng vốn nhập công nghệ của Nhà nước Với khu vực tư nhân, chính sách chỉ mang tính định hướng và khuyến khích, hỗ trợ Nhưng với khu vực Nhà nước, cần phải có thêm chiến lược nhập khẩu khôn ngoan, xác định thành phần nào, công nghệ nào cần nhập để chúng ta có được công nghệ với số
Trang 4tiền bỏ ra ít nhất Hơn nữa cũng phải chú ý quy định công nghệ được nhập đang
ở thời điểm nào của vòng đời phát triển, tránh bị lạc hậụ
1.2 Hỗ trợ kỹ thuật cho DNNVV:
1.2.1 Hệ thống các tổ chức hỗ trợ DNNVV:
- Cơ quan quản lý nhà nước (Hội đồng Khuyến khích phát triển DNNVV, Sở Kế hoạch và Đầu tư các tỉnh thành phố…)
- Các tổ chức doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế - xã hội
Cho đến nay, ước tính trên toàn quốc có khoảng trên 100 Hiệp hội doanh nghiệp và các tổ chức hỗ trợ DNNVV
1.2.2 Nội dung hỗ trợ kỹ thuật DNNVV:
Chính phủ Việt Nam cung cấp các công cụ hỗ trợ kỹ thuật cho DNNVV dưới hình thức các chương trình khác nhau Phần lớn hỗ trợ kỹ thuật được thực hiện thông qua việc cung cấp tài chính một phần cho các chương trình đào tạo nguồn nhân lực, xúc tiến xuất khẩu, triển khai hệ thống quản lý chất lượng tại DNNVV
- Hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ
- Hỗ trợ các dịch vụ tư vấn và tham vấn
- Hỗ trợ thông tin thị trường, marketing và xúc tiến thương mại
- Hỗ trợ quản lý chất lượng
1.2.3 Các phương thức hỗ trợ kỹ thuật DNNVV:
1.2.3.1 Hỗ trợ trực tiếp:
Nhà nước ban hành các chính sách, pháp luật thiết thực đối với DNNVV, đơn giản hoá thủ tục cấp giấy phép; cấp vốn trực tiếp, cung cấp mặt bằng kinh doanh - sản xuất, xây dựng cơ sở hạ tầng
Ngoài ra, hỗ trợ trực tiếp có thể là hỗ trợ các yếu tố đầu vào như: vốn,
Trang 5công nghệ, lao động, quản lý Hỗ trợ các yếu tố đầu ra liên quan tới tiêu thụ hàng hoá, dịch vụ…
1.2.3.3 Hỗ trợ gián tiếp chủ yếu thông qua cơ chế, chính sách tác động vào môi trường kinh doanh để điều chỉnh hoạt động của DN; ổn định chính trị-xã hội, tạo lập thị trường, khuyến khích thành lập các hội nghề nghiệp, các trung tâm hỗ trợ, đào tạo nguồn nhân lực, tạo điều kiện để DNNVV hợp tác liên doanh với nước ngoài, …
Hiện nay theo hoạt động trợ giúp của Nhà nước chuyển dần từ hỗ trợ trực tiếp sang hỗ trợ gián tiếp, hỗ trợ một phần sang nâng cao năng lực thực hiện cho các bên liên quan, xoá bỏ những bao cấp không phù hợp cho các
DN, tăng cường tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của DN, tạo lập cho các DNNVV cách ứng xử theo cơ chế thị trường
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HỖ TRỢ KỸ THUẬT
CỦA TAC ĐỐI VỚI DNNVV TẠI HÀ NỘI 2.1 Khái quát về TAC và tình hình hoạt động của các tổ chức hỗ trợ
kỹ thuật DNNVV tại Hà Nội:
2.1.1 Giới thiệu chung về TAC:
Trung tâm Hỗ trợ kỹ thuật DNNVV tại Hà Nội là đơn vị sự nghiệp có thu, có chức năng tư vấn cho Cục phát triển DNNVV và là đầu mối tư vấn về công nghệ và kỹ thuật, cải tiến trang thiết bị, hướng dẫn quản lý kỹ thuật và bảo dưỡng trang thiết bị, tạo điều kiện tiếp cận công nghệ trang thiết bị mới cho DNNVV
2.1.2 Chức năng nhiệm vụ của TAC:
* Tổ chức đào tạo và bồi dưỡng theo nhu cầu của DNNVV trong các lĩnh vực quản lý kỹ thuật và công nghệ
* Xúc tiến hợp tác, liên kết giữa các DNNVV với các doanh nghiệp lớn
Trang 6* Đầu mối cung cấp, phổ biến thông tin về kỹ thuật công nghệ cho DNNVV
* Xây dựng cơ sở dữ liệu về chuyên gia tư vấn kỹ thuật công nghệ đáp ứng yêu cầu của DNNVV
* Ứng dụng và hợp tác nghiên cứu ứng dụng công nghệ, chuyển giao công nghệ, giúp các DNNVV tiếp cận công nghệ mới (kể cả công nghệ thứ cấp và sản phẩm mới)
* Tham gia thực hiện các chương trình trợ giúp của Nhà nước cho DNNVV
* Thực hiện các nhiệm vụ khác do Cục trưởng Cục phát triển DNNVV giao
2.1.3 Cơ cấu tổ chức của TAC:
Giám đốc: là người điều hành hoạt động tư vấn, hỗ trợ của TAC
Phó giám đốc phụ trách hành chính điều hành văn phòng và phòng kế hoạch tổng hợp
Phó giám đc phụ trách kỹ thuật điều hành phòng tư vấn, phòng kỹ thuật công nghệ (đào tạo, tư vấn, nâng cao, công nghệ cao, cơ khí, điện tử, công nghệ, bộ phận thí nghiệm, xưởng thiết bị)
2.1.4 Thực trạng hoạt động của các tổ chức hỗ trợ DNNVV tại Hà Nội:
- Hỗ trợ pháp lý: giúp DN tìm hiểu các chính sách và luật pháp liên quan đến hoạt động kinh doanh của mình
- Hỗ trợ kinh doanh, đa số các Trung tâm hỗ trợ mới chỉ dừng ở đào tạo ngắn hạn và cung cấp những thông tin cơ bản, cung cấp dịch vụ hỗ trợ kinh doanh Còn các dịch vụ khác như: dịch vụ cung cấp thông tin, kỹ thuật - công nghệ; hỗ trợ tiếp cận thị trường xuất khẩu; giới thiệu tiếp cận nguồn vốn; tranh thủ hợp tác quốc tế, thu hút các nguồn tài trợ thì hầu như chưa tiếp cận được,
Trang 7- Các hoạt động khác như: Công tác phát triển nâng cao năng lực, công tác hợp tác quốc tế và đối ngoại chưa được xác định là một lĩnh vực cần đầu
tư nhiều công sức và thời gian
- Ngoại trừ một số hoạt động nhằm thực hiện một số nhiệm vụ của Chính phủ của cơ quan Bộ, hầu hết các Trung tâm hỗ trợ DN của nhà nước chưa xây dựng được chiến lược cho sự phát triển của mình, chỉ dừng lại những kế hoạch ngắn hạn
2.2 Phân tích thực trạng hỗ trợ kỹ thuật của TAC đối với DNNVV tại
Hà Nội:
2.2.1 Hỗ trợ đào tạo:
TAC thường xuyên tổ chức khoá đào tạo miễn phí (Nhà nước sẽ hỗ trợ toàn bộ kinh phí đào tạo) cho các cá nhân, chủ Doanh nghiệp thuộc các tỉnh thành phố Phía Bắc theo từng tháng, với những nội dung đa dạng và phong phú như: Kỹ năng lãnh đạo hiện đại; Kỹ năng bán hàng hiện đại; Quản lý dự án; Lập và lựa chọn phương án kinh doanh; Marketing cho Doanh nghiệp Nhỏ và vừa…
2.2.2 Hỗ trợ sản xuất thử nghiệm:
TAC Hà Nội tổ chức các nhóm chuyên gia sẵn sàng tư vấn cho các DNNVV sử dụng hết tính năng kỹ thuật của các thiết bị sẵn có Các chuyên gia tư vấn sẽ tư vấn cho doanh nghiệp cách lắp đặt thiết bị mới khi có yêu cầu, tư vấn cách sử lý, bảo quản các trang thiết bị một cách hiệu quả
2.2.3 Cung cấp thông tin khoa học kỹ thuật:
TAC cung cấp và là đầu mối phổ biến thông tin về công nghệ kỹ thuật
và các thông tin cần thiết cho doanh nghiệp
Với sự giúp đỡ của Chính phủ Nhật Bản, TAC Hà Nội sẽ trang bị một số thiết bị hiện đại để cho các doanh nghiệp thuê thông qua các hợp đồng cung
Trang 8cấp dịch vụ kỹ thuật khi các doanh nghiệp có nhu cầu sử dụng mà không có điều kiện đầu tư mua sắm
2.2.4 Hỗ trợ các nghiên cứu tại doanh nghiệp:
Hoạt động thăm và tư vấn đều được chuẩn bị kỹ càng và được tiến hành theo các bước Trước hết, các thông tin chung và nhu cầu hỗ trợ kỹ thuật của
DN được đến thăm đều được thu thập thông qua việc cử các cán bộ tìm hiểu thông tin sơ bộ Sau đó, việc tiến hành phân loại và xác định nhu cầu kỹ thuật cần trợ giúp sẽ giúp cho việc chọn chuyên gia có chuyên môn kỹ thuật phù hợp với nhu cầu của DN
2.2.5 Hoạt động kết nối doanh nghiệp:
* Thường xuyên tổ chức các buổi hội thảo, diễn đàn doanh nghiệp để các Doanh nghiệp trong cùng ngành hoặc khác ngành gặp gỡ nhau tạo ra các cơ hội liên kết kinh doanh cho doanh nghiệp
* TAC Hà Nội cũng sẽ là cầu nối giữa các nhà khoa học với DNNVV trong và ngoài nước
2.2.6 Hỗ trợ khác về kỹ thuật công nghệ:
Cung cấp các dịch vụ Kiểm tra -Đo lường- Kiểm định nguyên vật liệu cho doanh nghiệp:Để làm được sản phẩm có chất lượng cao cần kiểm định nguyên vật liệu đưa vào sản xuất cũng như các bước gia công sản xuất sản phẩm Với sự giúp đỡ của Chính phủ Nhật Bản, TAC Hà Nội sẽ trang bị một
số thiết bị hiện đại để cho các doanh nghiệp thuê thông qua các hợp đồng cung cấp dịch vụ kỹ thuật khi các doanh nghiệp có nhu cầu sử dụng mà không
có điều kiện đầu tư mua sắm
2.3 Đánh giá chung về hoạt động hỗ trợ kỹ thuật DNNVV của TAC:
2.3.1 Những kết quả đạt được:
- Trong hoạt động đào tạo đạt được nhiều kết quả rất đáng khích lệ Nội
Trang 9dung của các khoá học đã đáp ứng được nhu cầu và mong muốn của học viên Kiến thức thu nhận được vô cùng thực tế và cần thiết cho công việc
- Hoạt động cung cấp thông tin khoa học kỹ thuật: các thông tin cập nhật
về các khoá đào tạo thường xuyên, các chương trình liên kết đào tạo, kết nối với DN nước ngoài, các dự án và chính sách liên quan đến sự phát triển DNNVV
- Hoạt động mời chuyên gia hỗ trợ và nghiên cứu tại DN:
Các buổi tư vấn, sự trợ giúp kỹ thuật của các chuyên gia được các DNNVV đánh giá cao, có hiệu quả và phù hợp với nhu cầu của các DN
- Hoạt động kết nối:
Có nhiều doanh nghiệp rất hưởng ứng khi đón nhận thông tin về chương trình kết nối doanh nghiệp Cũng có những doanh nghiệp khi gặp gỡ trao đổi thì họ mới hình dung và nghĩ đến việc trở thành nhà thầu phụ cho doanh nghiệp Nhật Bản
2.3.2 Những hạn chế:
- Đào tạo: còn ít, thiếu tính thực tế, thời gian và thời lượng đào tạo chưa phù hợp với chủ DNNVV Nội dung đào tạo còn tản mạn, nặng về lý thuyết, thiếu kỹ năng thực tế
- Sản xuất thử nghiệm: đang tiến hành xây dựng cơ sở vật chất để tiếp nhận và lắp đặt các trang thiết bị do phía Nhật Bản chuyển giao nên chức năng này vẫn chưa được triển khai
- Cung cấp thông tin khoa học kỹ thuật: còn bị phân tán, chưa thực sự là đầu mối thông tin liên kết giữa DN với các Bộ, Ngành liên quan Nhận thức của DNNVV về khai thác và sử dụng thông tin còn hạn chế
- Hoạt động kết nối: một trong những hạn chế đó là có rất nhiều chủ doanh nghiệp Việt Nam còn nhận thức rất kém về vấn đề hợp tác TAC rất
Trang 10khó khăn trong việc lựa chọn các DN đạt đủ tiêu chuẩn và năng lực để giới thiệu kết nối với DN nước ngoài
2.3.3 Nguyên nhân của những hạn chế:
- Về nguyên nhân khách quan
+ Do tỷ lệ các tổ chức, trung tâm hỗ trợ DN còn hạn chế;
+ Do thói quen của DN hoặc cũng có thể do dịch vụ tư vấn hỗ trợ DN chưa phát triển,
+ Hạn chế trong nhận thức của DN về vấn đề kết nối DN
- Về nguyên nhân chủ quan
+ Sự non trẻ của TAC
+ Cán bộ, chuyên gia kỹ thuật đầu vào chưa có thời gian đủ dài để xác định
cụ thể những tiêu chí cơ bản như khả năng cũng như kinh nghiệm thực tế
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO NĂNG LỰC HỖ TRỢ KỸ THUẬT CỦA TAC ĐỐI VỚI DNNVV TẠI HÀ NỘI
3.1 Hoàn thiện hệ thống trang thiết bị cơ bản để TAC phát triển dịch vụ
hỗ trợ kỹ thuật:
+ Xưởng máy gia công cơ khí:
Nhóm thiết bị tiên tiến
Nhóm dụng cụ và làm khuôn (máy tiện chính xác, máy mài bề mặt, máy mài chính xác, máy nối chồng)
Nhóm dịch vụ tổng hợp (máy tiện trung tâm, máy khoan, máy mài, bàn gia công)
+ Xưởng công nghiệp điện- điện tử và khu vực thí nghiệm, đo lường + Xưởng nghiên cứu phát triển và công nghiệp thứ cấp bao gồm