1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

luận văn thạc sĩ - THAM NHŨNG TRONG đầu tư xây DỰNG BẰNG NGUỒN vốn NHÀ nước THỰC TRẠNG và GIẢI PHÁP PHÒNG NGỪA của lực LƯỢNG CẢNH SÁT ĐIỀU TRA TỘI PHẠM VỀ QUẢN LÝ KINH TẾ và CHỨC VỤ

141 833 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 141
Dung lượng 703 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do tính đặc thù của hoạt động xây dựng cơ bản nên việc phòng ngừa, phát hiện, điều tra khám phá tội phạm này thường gặp nhiều khó khăn. Đối tượng phạm tội tham nhũng trong xây dựng cơ bản thường là những người có chức vụ, quyền hạn trong quản lý tài sản, có mối quan hệ với những người có chức quyền trong bộ máy nhà nước cùng thông đồng, móc ngoặc với những thủ đoạn tinh vi để chiếm đoạt tài sản của Nhà nước.

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Sự nghiệp đổi mới về kinh tế ở nước ta đã tạo nên những thay đổi sâusắc trong lĩnh vực đầu tư xây dựng Ngành xây dựng đã thực sự góp phần tạonên vóc dáng mới của đất nước với nhiều công trình hiện đại, góp phần tíchcực và sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Tuy nhiên, bêncạnh những thành tựu to lớn đó, trong lĩnh vực này đang tồn tại nhiều vấn đềbức xúc Một trong những vấn đề đó là nạn tham nhũng, tiêu cực, lãng phí,tình trạng này diễn ra phổ biến và phức tạp ở hầu hết các công trình xây dựng,gây ra những hậu quả nghiêm trọng về nhiều mặt, gây bất bình trong dư luận

xã hội Theo báo cáo của Thanh tra Chính phủ, trong năm 2005 đã kết thúc17.112 cuộc thanh tra, kiểm tra, phát hiện sai phạm 8.786 tỷ đồng, kiến nghị

xử lý kỷ luật hành chính hơn 1.000 người, chuyển hồ sơ sang cơ quan điều tra

xử lý 65 vụ với 112 người có dấu hiệu vi phạm pháp luật hình sự Trong quýI/2006, đã tiến hành 800 cuộc thanh tra, phát hiện sai phạm kinh tế 169,496 tỷđồng, kiến nghị xử lý kỷ luật 109 trường hợp, chuyển hồ sơ sang cơ quan điềutra 11 vụ việc Tổng hội Xây dựng Việt Nam báo cáo về 59 công trình xâydựng có biểu hiện lãng phí thất thoát cho thấy, có 27% số công trình chất lượngkém phải bổ sung kinh phí mới sử dụng được; 36% các công trình không sửdụng được do chọn địa điểm xây dựng không thích hợp; 25% các công trình doquyết toán khống làm thất thoát gần 300 tỷ đồng Điều đó đặt ra yêu cầu chocác cơ quan bảo vệ pháp luật cần tập trung mọi nỗ lực để đấu tranh ngăn chặntình trạng này, đây là vấn đề rất cấp thiết và là một trong những nhiệm vụtrọng tâm của Đảng và Nhà nước ta hiện nay

Trong những năm qua, lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tựquản lý kinh tế và chức vụ (gọi tắt là Cảnh sát điều tra tội phạm kinh tế) cảnước đã có nhiều cố gắng trong công tác phòng ngừa, đấu tranh nạn tham

Trang 2

nhũng trong lĩnh vực đấu tranh xây dựng, thu hồi số lượng tài sản lớn choNhà nước Tuy nhiên so với tình hình mà dư luận xã hội đã phản ánh thì kếtquả đó chưa đáp ứng được yêu cầu.

Do tính đặc thù của hoạt động xây dựng cơ bản nên việc phòng ngừa,phát hiện, điều tra khám phá tội phạm này thường gặp nhiều khó khăn Đốitượng phạm tội tham nhũng trong xây dựng cơ bản thường là những người cóchức vụ, quyền hạn trong quản lý tài sản, có mối quan hệ với những người cóchức quyền trong bộ máy nhà nước cùng thông đồng, móc ngoặc với nhữngthủ đoạn tinh vi để chiếm đoạt tài sản của Nhà nước

Trong khi đó hoạt động phát hiện, điều tra khám phá tội phạm này củalực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm kinh tế (CSĐT TPKT) còn gặp nhiềukhó khăn, bất cập Các biện pháp phòng ngừa cũng như các biện pháp pháthiện, điều tra loại tội phạm này chưa phát huy hết vai trò, tác dụng Mặt khác,trong quá trình điều tra phát hiện, thu thập tài liệu, chứng cứ thường rất khókhăn và phức tạp vì phải qua công tác giám định công trình xây dựng Trongkhi đó nhiều phần của công trình xây dựng lại nằm sâu trong lòng đất, dướinước do đó để giám định được công trình là rất khó khăn

Về phương diện lý luận, hoạt động phòng ngừa, đấu tranh chống thamnhũng trong đầu tư xây dựng bằng nguồn vốn nhà nước chưa được nghiêncứu một cách đầy đủ, toàn diện và hệ thống nên đã tác động tiêu cực đến hoạtđộng thực tiễn của lực lượng CSĐT TPKT trong phòng ngừa, đấu tranh chốngtội phạm tham nhũng ở lĩnh vực này Do vậy, đây là một vấn đề cần quan tâmnghiên cứu

Xuất phát từ những lý do trên, tác giả đã lựa chọn đề tài: " Tham nhũng trong đầu tư xây dựng bằng nguồn vốn nhà nước - Thực trạng và giải pháp phòng ngừa, đấu tranh của lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự quản lý kinh tế và chức vụ" làm đề tài luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ luật

học của mình

Trang 3

2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

- Mục đích nghiên cứu của đề tài nhằm làm rõ những vấn đề lý luận

cơ bản về phòng ngừa, đấu tranh chống tham nhũng trong đầu tư xây dựng;đánh giá thực trạng tình hình tội phạm tham nhũng trong đầu tư xây dựng bằngnguồn vốn nhà nước những năm gần đây và hoạt động phòng ngừa, đấu tranhchống loại tội phạm này của lực lượng CSĐT TPKT Trên cơ sở đó, tìm ranguyên nhân, điều kiện tồn tại của tình trạng tham nhũng trong đầu tư xây dựng,đồng thời đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác phòng ngừa, đấutranh chống tham nhũng trong đầu tư xây dựng của lực lượng CSĐT TPKT

- Để đạt được mục đích đó, nhiệm vụ đặt ra của đề tài là:

+ Khái quát những vấn đề lý luận để làm rõ nhận thức về tội phạm thamnhũng trong đầu tư xây dựng và hoạt động phòng ngừa, đấu tranh chống loạitội phạm này của lực lượng CSĐT TPKT;

+ Nghiên cứu, khảo sát, đánh giá tình hình tội phạm tham nhũng trong lĩnhvực đầu tư xây dựng bằng nguồn vốn nhà nước và thực trạng hoạt động phòngngừa, đấu tranh của lực lượng CSĐT TPKT, xác định những khó khăn, vướngmắc và hạn chế của lực lượng CSĐT TPKT trong tổ chức thực hiện các hoạtđộng đó;

+ Đề xuất các giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động phòngngừa, đấu tranh chống tội phạm loại tội phạm này của lực lượng CSĐTTPKT

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là lý luận về tội phạm hoạt độngphòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm tham nhũng trong lĩnh vực đầu tư xâydựng; thực trạng tình hình tội phạm tham nhũng trong lĩnh vực đầu tư xâydựng bằng nguồn vốn nhà nước và hoạt động của lực lượng CSĐT TPKTtrong phòng ngừa, đấu tranh chống loại tội phạm này

Trang 4

- Phạm vi nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu thực trạng tình hình tộiphạm tham nhũng trong đầu tư xây dựng và hoạt động phòng ngừa, đấu tranhcủa lực lượng CSĐT TPKT Nghiên cứu khảo sát lấy số liệu từ năm 2001 đếnnăm 2006.

5 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủnghĩa duy vật biện chứng, tư tưởng Hồ Chí Minh cùng với hệ thống nhữngquan điểm của Đảng, Nhà nước và ngành Công an trong đấu tranh phòngchống tội phạm Quá trình nghiên cứu đề tài tác giả sử dụng các phương pháp

cụ thể sau:

- Phương pháp phân tích, tổng hợp

- Phương pháp thống kê

- Phương pháp tổng kết thực tiễn, nghiên cứu điển hình

- Phương pháp chuyên gia, trao đổi tọa đàm và sử dụng các phươngpháp điều tra xã hội học khác

6 Tình hình nghiên cứu

Đấu tranh phòng, chống tham nhũng trong đầu tư xây dựng hiện nayđang là vấn đề bức xúc của toàn xã hội, là đề tài được nhiều nhà khoa họcquan tâm nghiên cứu Tuy nhiên, dưới nhiều góc độ khác nhau các đề tài mớichỉ tập trung nghiên cứu một số vấn đề có liên quan đến công tác đấu tranhphòng, chống tội phạm kinh tế nói chung và một số loại tội phạm cụ thể nóiriêng trong lĩnh vực đấu tranh xây dựng cơ bản (XDCB) và đưa ra được một

số giải pháp cho công tác đấu tranh phòng, chống loại tội phạm này Đã cómột số công trình nghiên cứu về công tác đấu tranh phòng, chống tội phạmtham nhũng ở các khía cạnh khác nhau, trong đó đáng lưu ý là các công trình:

Tham nhũng và đấu tranh chống tham nhũng (Viện Khoa học Công an, Hà

Nội, năm 1997); Thực trạng tham nhũng trong lĩnh vực đầu tư xây dựng và

Trang 5

giải pháp phòng ngừa đấu tranh, Cục Cảnh sát kinh tế (CSKT), 1998; Nâng cao hiệu quả hoạt động điều tra tội phạm tham nhũng của lực lượng Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Vĩnh Phúc, luận văn thạc sĩ của tác giả Nguyễn Ngọc

Phi và một số bài báo viết về vấn đề này

Tuy nhiên, qua nghiên cứu cho thấy các công trình đó đã giải quyếtđược một số vấn đề lý luận và thực tiễn về công tác đấu tranh phòng, chốngtội phạm tham nhũng trong đầu tư xây dựng ở những khía cạnh khác nhau Cụthể là, có công trình nghiên cứu đề cập dưới góc độ của lực lượng CSKTtrước đây (lực lượng trinh sát), có công trình nghiên cứu dưới góc độ củaCSĐT (điều tra theo tố tụng) nhưng từ khi Pháp lệnh Tổ chức điều tra hình sựnăm 2004 có hiệu lực đến nay chưa có công trình nào đề cập một cách sâusắc, có hệ thống và toàn diện về hoạt động phòng ngừa, đấu tranh chống tộiphạm tham nhũng trong đầu tư xây dựng bằng nguồn vốn nhà nước theo chứcnăng của lực lượng CSĐT TPKT theo hướng gắn điều tra trinh sát với điều tra

tố tụng

7 Những đóng góp mới của đề tài

Về lý luận, luận văn sẽ làm rõ thêm và bổ sung nhận thức lý luận vềtội phạm tham nhũng trong đầu tư xây dựng bằng nguồn vốn nhà nước; lýluận về hoạt động phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm tham nhũng tronglĩnh vực này

Những kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần nâng cao hiệu quả hoạtđộng phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm tham nhũng trong đầu tư xây dựngbằng nguồn vốn nhà nước của lực lượng CSĐT TPKT trong tình hình hiệnnay Đề tài có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo phục vụ cho việcnghiên cứu, học tập trong các trường đào tạo lực lượng Cảnh sát nhân dân(CSND)

8 Bố cục của đề tài

Trang 6

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,luận văn được cấu trúc thành 3 chương, 6 tiết.

Trang 7

Chương 1 NHẬN THỨC CHUNG VỀ THAM NHŨNG TRONG ĐẦU TƯ XÂY DỰNG BẰNG NGUỒN VỐN NHÀ NƯỚC VÀ HOẠT ĐỘNG PHÒNG NGỪA, ĐẤU TRANH CỦA LỰC LƯỢNG CẢNH SÁT ĐIỀU TRA TỘI

Nghiên cứu các văn bản pháp luật về quản lý đầu tư và xây dựng, chothấy: đầu tư và xây dựng là hai phạm trù khác nhau nhưng có quan hệ gắn bóvới nhau Đầu tư là việc bỏ vốn để tạo mới, mở rộng hoặc cải tạo những cơ sởvật chất nhất định nhằm đạt được sự tăng trưởng về số lượng hoặc duy trì, cảitiến, nâng cao chất lượng của sản phẩm hoặc dịch vụ trong khoảng thời gian xácđịnh Xây dựng là việc sử dụng vốn để tạo mới các công trình phục vụ chocác hoạt động kinh tế - xã hội như: cầu, đường, nhà máy, xí nghiệp, các côngtrình thủy lợi, cơ quan, trường học, bệnh viện Công trình xây dựng là sảnphẩm của công nghệ xây lắp gắn liền với đất đai (bao gồm cả khoảng không,mặt nước, mặt biển, thềm lục địa) được tạo thành bằng vật liệu xây dựng,thiết bị và lao động, đồng thời, đó cũng là kết quả sử dụng vốn đầu tư cho côngtrình xây dựng

Như vậy, đầu tư xây dựng là toàn bộ quá trình sử dụng các nguồn vốngắn với quá trình xây dựng các công trình phục vụ cho sản xuất, kinh doanh vàcho các hoạt động khác của nền kinh tế xã hội Đầu tư - xây dựng là lĩnh vực baogồm nhiều giai đoạn được tiến hành theo trình tự thống nhất rất chặt chẽ từ lập

Trang 8

dự án, khảo sát, thiết kế, đấu thầu, thi công xây lắp cho đến nghiệm thu đưacông trình vào khai thác sử dụng Tất cả các giai đoạn này đều có mối liên hệchặt chẽ với nhau Nghiên cứu các mối liên hệ đó có ý nghĩa rất quan trọngđối với công tác phòng ngừa, đấu tranh chống tham nhũng của lực lượng CSĐTTPKT.

Đầu tư - xây dựng là lĩnh vực kinh tế với những đặc điểm đặc thù, là yếu

tố tác động đến hoạt động phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm kinh tế nóichung và tội phạm tham nhũng nói riêng trong lĩnh vực này của lực lượng CSĐTTPKT Vì vậy, trong phòng ngừa, đấu tranh chống tham nhũng ở lĩnh vực này,việc nghiên cứu nắm vững các đặc điểm đặc trưng của nó là rất cần thiết đối vớilực lượng CSĐT TPKT Trong đó, chúng ta cần chú ý tới những đặc điểm cơbản sau đây:

- Thứ nhất, vốn đầu tư cho xây dựng rất lớn, đặc biệt là các công trình

trọng điểm của Nhà nước về giao thông vận tải như xây dựng cầu đường, thủyđiện, thủy lợi, xây dựng nhà máy, xí nghiệp, trường học, khu đô thị Mặc dù,nguồn vốn trong XDCB được huy động từ rất nhiều nguồn khác nhau nhưngphần lớn từ ngân sách nhà nước (theo số liệu của Tổng cục Thống kê thì vốnngân sách nhà nước chiếm khoảng trên 50%) Các đối tượng tham nhũng chủyếu dùng thủ đoạn chiếm đoạt tài sản thuộc sở hữu của Nhà nước vì công tácquản lý loại tài sản này còn nhiều sơ hở

Thực tế, hiện đang tồn tại nhiều loại vốn cho đầu tư xây dựng, nhưngxét cho cùng, chỉ có hai loại vốn là vốn Nhà nước và vốn không phải của Nhànước Vốn nhà nước bao gồm vốn ngân sách nhà nước, vốn tín dụng do Nhànước bảo lãnh, vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước, vốn đầu tư pháttriển của doanh nghiệp nhà nước và các vốn khác do Nhà nước quản lý

Tình trạng tham nhũng thường xảy ra đối với các nguồn vốn thuộc sởhữu nhà nước Theo quan niệm chung, đây là vốn "cho không", vì trách

Trang 9

nhiệm thanh toán không phải bằng tiền mà bằng chứng từ Trong trường hợpthông đồng, việc tạo ra chứng từ khống không phải là chuyện khó khăn

Mặt khác, vốn đầu tư nhà nước hiện đang vận động theo cơ chế xin cho Thực tế để nhận được tiền, chủ đầu tư, đơn vị thi công thường phải xin(xin cấp phát, hỗ trợ vốn hoặc xin vay thông qua tín dụng ưu đãi) Có xin thì

-có cho Mà thông thường, để xin được tiền thì phải chi tiền Hối lộ nhiều đượccấp phát nhiều, hối lộ ít được cấp phát ít Chính vì thế, cơ chế xin - cho làmảnh đất màu mỡ để tham nhũng tồn tại và phát triển

- Thứ hai, để có một công trình xây dựng được triển khai thực hiện trong

thực tế thường phải trải qua nhiều khâu, với những thủ tục phức tạp như: lập dự

án, khảo sát, thiết kế; đấu thầu, giải phóng mặt bằng, thi công xây dựng, lắp đặtthiết bị; kết thúc xây dựng, nghiệm thu công trình đưa vào sử dụng Mặt khác,vật tư, thiết bị dùng cho xây dựng rất phong phú, đa dạng và dễ thay thế Thịtrường vật tư, thiết bị dùng cho xây dựng cơ bản rất đa dạng, nhiều chủng loạiđáp ứng nhu cầu sử dụng trong xã hội và dễ tiêu thụ Giá vật tư, thiết bị dùngtrong xây dựng cơ bản phần lớn phụ thuộc vào giá thị trường và thường liên tụcbiến động Hơn nữa, trong thực tế nhiều trường hợp rất khó kiểm soát chất lượng

vì công trình nằm sâu trong lòng đất, khối bê tông Bên cạnh đó, điều kiện bảo

vệ an toàn cho tài sản ở các công trình còn nhiều sơ hở, nhiều nơi kho tàng, bếnbãi không đảm bảo cho công tác bảo vệ an toàn tài sản Lợi dụng tình hình đó,các đối tượng phạm tội đã dùng nhiều thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt để chiếm đoạttài sản, hợp pháp hóa hành vi chiếm đoạt, thậm chí đổ lỗi cho khách quan đểbiện minh cho những thất thoát về tài sản trong quá trình đầu tư xây dựng

- Thứ ba, thời gian xây dựng công trình, đặc biệt là công trình trọng

điểm thường kéo dài, có nhiều đơn vị tham gia Có công trình xây dựng kéodài đến hàng chục năm như các công trình thủy điện, có công trình trải dài hàngngàn km như công trình xây dựng giao thông Có công trình vừa thiết kế, vừa

Trang 10

xây dựng, vừa hoàn thiện bàn giao từng phần, vừa xây dựng, vừa sử dụng đanxen

Trên đây là một số đặc điểm cơ bản có tính chất đặc thù của lĩnh vựcđầu tư xây dựng bằng nguồn vốn nhà nước có liên quan đến công tác đấu tranhphòng, chống tội phạm tham nhũng, đòi hỏi lực lượng CSĐT TPKT cần nắmvững những đặc điểm đó Việc nắm vững những đặc điểm này có ý nghĩa rấtquan trọng trong việc xác định địa bàn trọng điểm, mối quan hệ giữa các khâutrong đầu tư xây dựng để thực hiện các hoạt động nghiệp vụ cơ bản, đảm bảochủ động phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn và điều tra khám phá tội phạm

1.1.2 Tham nhũng và tham nhũng trong xây dựng cơ bản bằng nguồn vốn nhà nước

1.1.2.1 Khái niệm tham nhũng

Tham nhũng là một hiện tượng xã hội tiêu cực mang tính lịch sử, gắnliền với sự hình thành giai cấp và sự ra đời, phát triển của bộ máy nhà nước.Tham nhũng xảy ra ở mọi lĩnh vực kinh tế - xã hội, văn hóa, nó len lỏi vàomọi mặt của đời sống xã hội Tham nhũng gây ra những hậu quả hết sức taihại về mặt kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, nó cản trở sự phát triển đi lêncủa xã hội, có khi dẫn đến sự sụp đổ của cả một thể chế

Có nhiều quan điểm, nhìn nhận tham nhũng từ nhiều khía cạnh khác nhau.Nhìn từ khía cạnh đạo đức, tham nhũng là hành động phi đạo đức, bất nghĩa,trái với luân thường đạo lý, trái với nguyên tắc đạo đức của con người và xãhội Nếu xét từ khía cạnh kinh tế thì tham nhũng là hành vi quan chức sửdụng quyền lực của mình để lái hoạt động sản xuất, kinh doanh vào lĩnh vực

mà việc thu lời, nhận hối lộ, lấy của cải được dễ dàng nhưng khó bị phát hiện.Nếu xét tham nhũng dưới khía cạnh nhà nước, pháp luật thì tham nhũng lànhững tệ nạn gắn liền với quyền lực nhà nước, không thể có tham nhũng ngoàinhà nước, tách khỏi bộ máy quản lý, cai trị; là một trong những thuộc tính xấucủa nhà nước Thuộc tính đó biểu hiện đậm, nhạt khác nhau ở mỗi kiểu nhà

Trang 11

nước cụ thể, cũng như ở các thời kỳ khác nhau của một nhà nước Mức độ pháttriển của tham nhũng tùy thuộc vào sức đề kháng của nhà nước Nhà nước nàonon kém, có nhiều tiêu cực, quản lý xã hội yếu thì tham nhũng càng có nhiều cơhội phát triển.

Ở nước ta hiện cũng đang tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về kháiniệm này Trong các văn bản pháp luật, khái niệm tham nhũng đã được đề cậptại Điều 1 Pháp lệnh chống tham nhũng (được Ủy ban Thường vụ Quốc hộithông qua ngày 26/02/1998), theo đó: "Tham nhũng là hành vi của người cóchức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó để tham ô, hối lộ hoặc

cố ý làm trái pháp luật vì động cơ vụ lợi, gây thiệt hại cho tài sản của Nhànước, tập thể và cá nhân, xâm phạm hoạt động đúng đắn của các cơ quan, tổchức" Hành vi tham nhũng theo Pháp lệnh quy định có thể là hành vi phạmtội được quy định trong Bộ luật Hình sự (BLHS) hoặc có thể là hành vi chưađến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, phải bị xử lý về mặt hành chính

Pháp lệnh cũng quy định rõ các hành vi tham nhũng bao gồm:

1 Tham ô tài sản;

2 Nhận hối lộ;

3 Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản;

4 Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ vì vụ lợi;

5 Lạm quyền trong khi thi hành công vụ vì vụ lợi;

6 Lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng đối với người khác đểtrục lợi;

7 Giả mạo trong công tác vì vụ lợi

Ngày 29 tháng 11 năm 2005 Quốc hội đã thông qua Luật Phòng, chốngtham nhũng, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 6 năm 2006, thay thế cho Pháplệnh Chống tham nhũng Tại khoản 2 Điều 1 Luật Phòng, chống tham nhũng

Trang 12

có quy định: "Tham nhũng là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi

dụng chức vụ, quyền hạn đó vì vụ lợi" Đồng thời, tại Điều 3 của Luật này

cũng xác định các hành vi tham nhũng bao gồm:

1 Tham ô tài sản

2 Nhận hối lộ

3 Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản

4 Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành nhiệm vụ, công vụ

vì vụ lợi

5 Lạm quyền trong khi thi hành nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi

6 Lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng với người khác để trục lợi

7 Giả mạo trong công tác vì vụ lợi

8 Đưa hối lộ, môi giới hối lộ được thực hiện bởi người có chức vụ,quyền hạn để giải quyết công việc của cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc địaphương vì vụ lợi

9 Lợi dụng chức vụ, quyền hạn sử dụng trái phép tài sản của Nhànước vì vụ lợi

10 Nhũng nhiễu vì vụ lợi

11 Không thực hiện nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi

12 Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để bao che cho người có hành vi viphạm pháp luật vì vụ lợi; cản trở, can thiệp trái pháp luật vào việc kiểm tra,thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án vì vụ lợi

Qua phân tích tính chất của hoạt động tham nhũng, có thể đưa ra kháiniệm về tham nhũng như sau:

Tham nhũng là tập hợp những hành vi tiêu cực do người có chức vụ, quyền hạn thực hiện bằng cách sử dụng chức vụ, quyền hạn của mình để vụ

Trang 13

lợi, gây thiệt hại tài sản, lợi ích của Nhà nước, tập thể là người lao động, xâm phạm đến hoạt động đúng đắn của các cơ quan nhà nước, các tổ chức.

Từ khái niệm về tham nhũng, chúng ta có thể khái quát các đặc trưngcủa tham nhũng được thể hiện như sau:

1- Tham nhũng là hoạt động nguy hiểm cho xã hội; đó là những hoạtđộng đã xâm hại đến các quan hệ xã hội đã được pháp luật bảo vệ Đó là hành

vi trực tiếp xâm hại đến uy tín chế độ, xâm hại đến quyền lợi hợp pháp củacông dân, gây hậu quả nghiêm trọng; bị coi là tội phạm và được quy địnhtrong BLHS

2- Tham nhũng là tập hợp những hành vi tiêu cực trái đạo đức xã hội,pháp luật Đó là những hành vi phản ánh về mặt khách quan đã xâm hại đếncác quan hệ xã hội Từ tính chất của phương pháp, thủ đoạn, phương tiện phạmtội và các hành vi tham nhũng của người có chức vụ, quyền hạn rất tinh vi,trắng trợn, họ lợi dụng chức vụ để trực tiếp hoặc gián tiếp chiếm đoạt tài sảncủa nhà nước, của người lao động Hành vi đó trái với quy định của Nhà nước

và chức trách của bộ máy công quyền, trái đạo đức xã hội

3- Tham nhũng được thực hiện bởi những người có chức vụ, quyền hạn.Chủ thể của tội phạm tham nhũng phải là những người có chức vụ, quyềnhạn Chức vụ, quyền hạn là điều kiện quyết định loại tội phạm này, nhữngngười có chức vụ, quyền hạn lợi dụng chức vụ, quyền hạn để xâm hại cácquan hệ xã hội một cách trắng trợn, bất chấp các trật tự, uy tín chế độ đến giátrị đạo đức con người trong xã hội để chiếm đoạt tài sản

4- Tham nhũng là hành vi trục lợi cá nhân, động cơ vụ lợi Hành vitham nhũng đều bắt nguồn từ động cơ trục lợi, vụ lợi dưới mọi hình thức nhằmvào vật chất là tài sản, tiền bạc để mưu cầu lợi ích cá nhân một cách trái phápluật

Trang 14

5- Tham nhũng là những hành vi vi phạm có độ ẩn rất cao, khó pháthiện, xử lý Những gì chúng ta biết được chỉ là phần nhỏ của một bức tranhrất tối và rộng Người ta đã nói nhiều đến sự liên kết "gắn bó" giữa ngườinhận hối lộ và người đưa hối lộ; có khi người đưa hối lộ do sự sách nhiễu, bịbức bách, nhưng cũng không hiếm các trường hợp "muốn được mất tiền", tức

là mong muốn người nhận "vui lòng" mà nhận cho Vì vậy, quá trình điều tra,khám phá các tội phạm về tham nhũng là rất khó khăn

1.1.2.2 Tội phạm tham nhũng trong đầu tư xây dựng bằng nguồn vốn nhà nước

- Tội phạm tham nhũng

Trong quá trình hoàn thiện pháp luật hình sự, để đáp ứng nhu cầu đòihỏi của thực tiễn đấu tranh chống tham nhũng, các nhà làm luật đã hệ thốngcác tội phạm về tham nhũng thành một mục riêng (mục A) trong Chương 21 -Phần Các tội phạm BLHS 1999, bao gồm 7 tội danh được coi là tội phạm vềtham nhũng, từ Điều 278 đến 284:

1 Tội tham ô tài sản (Điều 278);

2 Tội nhận hối lộ (Điều 279);

3 Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản (Điều 280);

4 Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ (Điều 281);

5 Tội lạm quyền trong khi thi hành công vụ (Điều 282);

6 Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng đối với người khác

để trục lợi (Điều 283);

7 Tội giả mạo trong công tác (Điều 284)

Đây là nhóm tội phạm được sắp xếp và phân loại dựa trên căn cứ chủyếu là dấu hiệu chủ thể của tội phạm (đây là điểm khác biệt căn bản so với việcxây dựng các chương khác của BLHS Đa số các chương khác được sắp xếp và

Trang 15

phân loại căn cứ vào khách thể của tội phạm, do vậy nhóm tội phạm đó chỉ xảy

ra trên một hoặc một số lĩnh vực cụ thể của đời sống xã hội) Cách sắp xếp vàphân loại này phản ánh một thực tế là các tội phạm tham nhũng có mặt trên hầukhắp các lĩnh vực quản lý nhà nước, trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội

Trên cơ sở các nội dung đã phân tích và quy định của BLHS 1999 chúng

ta có thể hiểu: "Tội phạm về tham nhũng là những tội phạm quy định trong BLHS

do người có chức vụ, quyền hạn thực hiện một cách cố ý, vì mục đích vụ lợi, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản, lợi ích hợp pháp khác, xâm phạm trật tự quản lý kinh tế và hoạt động đúng đắn của cơ quan nhà nước, tổ chức".

- Tội phạm tham nhũng trong đầu tư xây dựng bằng nguồn vốn nhà nước và các dấu hiệu pháp lý đặc trưng của nó

Tội phạm tham nhũng trong đầu tư xây dựng bằng nguồn vốn nhà nước

là hành vi nguy hiểm cho xã hội do người có năng lực trách nhiệm hình sự gây ra, xâm hại đến trật tự quản lý kinh tế, xâm hại đến tài sản và các lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tập thể và của công dân trong lĩnh vực đầu tư xây dựng bằng nguồn vốn nhà nước.

Theo qui định của pháp luật hiện hành và thực tiễn công tác phòng ngừa,đấu tranh chống tội phạm tham nhũng trong đầu tư xây dựng bằng nguồn vốnnhà nước, thường xảy ra một số loại tội phạm: tội tham ô tài sản (Điều 278);tội nhận hối lộ (Điều 279); tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hànhcông vụ (Điều 281); tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng đối vớingười khác để trục lợi (Điều 283) Căn cứ vào các dấu hiệu pháp lý đặc trưngcủa tội phạm tham nhũng trong đầu tư xây dựng bằng nguồn vốn nhà nước cóthể khái quát như sau:

- Khách thể của tội phạm: đó chính là các quan hệ xã hội được BLHSbảo vệ, khách thể của các tội phạm về tham nhũng trong đầu tư xây dựngbằng nguồn vốn nhà nước chính là quyền sở hữu tài sản của Nhà nước cũngnhư sự hoạt động đúng đắn, uy tín của các cơ quan nhà nước, của chế độ; các

Trang 16

quyền, lợi ích hợp pháp trong đó có quyền sở hữu tài sản và các quyền hợppháp khác của công dân.

- Chủ thể của tội phạm: chủ thể của các tội phạm về tham nhũng trongđầu tư xây dựng bằng nguồn vốn nhà nước là chủ thể đặc biệt - những người

có chức vụ, quyền hạn nhất định trong bộ máy nhà nước Dấu hiệu về chức

vụ, quyền hạn là dấu hiệu bắt buộc của chủ thể đối với các tội phạm về thamnhũng trong đầu tư xây dựng bằng nguồn vốn nhà nước, đó là điều kiện để chủthể thực hiện các tội phạm Phần lớn họ là những người có trình độ, kiến thức

về kinh tế và quản lý kinh tế, hiểu biết về đường lối, chủ trương phát triển kinh

tế -xã hội, có kiến thức pháp luật, có trình độ trong lĩnh vực đầu tư xây dựng

- Mặt khách quan của tội phạm: là những hành vi nguy hiểm cho xã hộixâm phạm vào sự hoạt động đúng đắn của các cơ quan, tổ chức Người phạmtội có hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn thuộc thẩm quyền được giao, làmtrái các qui định của Nhà nước trong đầu tư xây dựng nói chung và đầu tư xâydựng bằng nguồn vốn nhà nước nói riêng

- Mặt chủ quan: cũng như các tội phạm tham nhũng nói chung, các tộiphạm về tham nhũng trong đầu tư xây dựng bằng nguồn vốn nhà nước đều códấu hiệu pháp lý đặc trưng về mặt chủ quan đó là lỗi cố ý trực tiếp Động cơmục đích phạm tội đều xuất phát từ vụ lợi hoặc động cơ tư lợi khác để thỏamãn mưu cầu tiền tài, địa vị, danh vọng, uy tín ở các mức độ khác nhau mộtcách trái pháp luật

Yếu tố chủ quan này là một trong bốn yếu tố cấu thành tội phạm, nhưngbộc lộ: đây chính là đặc trưng mà tính chất thủ đoạn của hành vi phạm tội quyếtliệt, tinh vi, trắng trợn Động cơ trục lợi, vụ lợi thôi thúc người có hành vi phạmtội gia tăng, bằng mọi giá, do vậy thường gây ra hậu quả xã hội rất nghiêm trọng

Tuy nhiên, dấu hiệu đặc trưng của các tội phạm này được phân biệt

bởi dấu hiệu khách quan của hành vi và chủ thể vi phạm:

Trang 17

Tội tham ô: (Điều 278) về mặt khách quan là hành vi của người có

chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản mình đang quản lý, lợi dụng chức vụ,quyền hạn được giao như là một phương tiện để biến tài sản do mình trực tiếphoặc gián tiếp quản lý thành tài sản của mình hoặc người khác Hành vi phạmtội là có thể thực hiện không đúng hoặc vượt thẩm quyền được giao như lập

dự toán vượt xa nhu cầu thực tế để ấy tiền chênh lệch, xác nhận, kê khaikhống, sửa chữa hóa đơn, chúng từ về giá cả, khối lượng vật tư, đền bù, đođạc, xác nhận thiệt hại sai về diện tích, chủng loại

Về chủ thể của tội tham ô là các cán bộ có thẩm quyền trong cơ quanchủ đầu tư, các Ban quản lý dự án, Hội đồng đền bù, giải phóng mặt bằng,Hội đồng tư vấn chuyên viên lập dự toán

Tội nhận hối lộ: (Điều 279) là hành vi nhận hối lộ để thực hiện một

việc thuộc trách nhiệm của mình vì lợi ích vật chất hoặc theo yêu cầu củangười đưa hối lộ như nhận hối lộ để quyết định đầu tư, phê duyệt thiết kế, xácnhận khống về diện tích, tình trạng tài sản trên diện tích đất bị thu hồi để nhậntiền đền bù hoặc nhận cao hơn mức qui định

Hay hành vi nhận hối lộ để không làm một việc mà theo qui định phảilàm vì lợi ích hoặc theo yêu cầu của người đưa hối lộ, như không lập biên bản

vi phạm thiết kế trong quá trình thi công

Chủ thể của tội nhận hối lộ là các cán bộ công chức nhà nước đượcgiao nhiệm vụ nghiên cứu quyết định đầu tư, phê duyệt thiết kế, giám sát thicông như cán bộ Ban quản lý dự án, chủ đầu tư dự án, công trình, cán bộtham mưu và người ký phê duyệt các dự án xây dựng Bên cạnh các chủ thểtrên có thể cộng phạm trong các tội phạm này là các đối tượng trung gian, môigiới làm các thủ tục, hồ sơ

Tội lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ: (Điều 281)

Hành vi khách quan của tội phạm này thể hiện ở chỗ làm trái với nhiệm

vụ được giao bằng cách lợi dụng chức vụ, quyền hạn Làm trái nhiệm vụ được

Trang 18

giao ở đây là làm không đúng với nhiệm vụ được giao hoặc không thực hiệnnhiệm vụ được giao gây thiệt hại cho lợi ích của Nhà nước, của xã hội, quyền

và lợi ích hợp pháp của công dân như quyết định đầu tư sai địa điểm gây lãngphí vì lý do cục bộ địa phương; thay cho đấu thầu thì chỉ định thầu cho công

ty "sân sau"; làm ngơ khi phát hiện thấy các sai phạm trong quá trình thi côngcông trình vì bên thi công là anh em, người nhà

Về chủ thể, loại tội phạm này được thực hiện bởi những người cóchức vụ, quyền hạn được giao nhiệm vụ quyết định đầu tư, tổ chức đấu thầu,giám sát thi công

Tội lợi dụng chức vụ quyền hạn gây ảnh hưởng đối với người khác để trục lợi: (Điều 283)

Mặt khách quan của tội phạm này thể hiện ở hành vi lợi dụng chức vụ,quyền hạn nhận trực tiếp hoặc qua trung gian tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chấtkhác dưới bất kỳ hình thức nào để thông qua chức vụ, quyền hạn của mình màgây ảnh hưởng đối với người có chức vụ, quyền hạn khác, thúc đẩy người nàylàm hay không làm một việc thuộc trách nhiệm liên quan trực tiếp đến côngviệc của họ hoặc làm một việc không được phép làm theo yêu cầu của ngườiđưa tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất Cụ thể là dùng chức vụ, quyền hạn củamình để gây sức ép đối với người có trách nhiệm duyệt dự án, ký cấp vốn, cấpvốn, cấp phép cho thắng thầu, nhận tiền, cho nghiệm thu, quyết toán

Chủ thể của tội phạm này là người có chức vụ, quyền hạn nhưng họkhông có trách nhiệm trong việc đầu tư cũng như thi công công trình, songvới chức vụ, quyền hạn của mình họ có khả năng gây ảnh hưởng đối vớinhững người có thẩm quyền duyệt dự án, ký cấp vốn, cấp vốn, cấp phép chothắng thầu, cho nghiệm thu, quyết toán

Trên đây là đặc điểm dấu hiệu khách quan và chủ thể của một số tộiphạm tham nhũng phổ biến trong đầu tư xây dựng bằng nguồn vốn nhà nước.Còn các loại tội phạm tham nhũng khác như lạm dụng chức vụ, quyền hạn

Trang 19

chiếm đoạt tài sản, lạm quyền trong khi thi hành công vụ và giả mạo trong côngtác chưa thấy xuất hiện trong đầu tư xây dựng bằng nguồn vốn nhà nước.

1.1.2.3 Hậu quả của tham nhũng trong đầu tư xây dựng bằng nguồn vốn nhà nước

1- Hậu quả về kinh tế - kỹ thuật

Hậu quả đầu tiên mà tham nhũng trong đầu tư xây dựng bằng nguồnvốn nhà nước đem lại là gây thiệt hại đến tài sản, tức là làm Nhà nước mấttiền Như đã phân tích ở trên, dù tham nhũng có diễn ra dưới hình thức nào,tham ô hay hối lộ, chi cho bất kỳ ai thì tất cả các khoản đó cuối cùng đềuđược hạch toán vào công trình, tức là vào nguồn vốn nhà nước Ở công trìnhnhỏ, tham ô, hối lộ ít thì Nhà nước mất tiền ít; ở công trình to, tham ô, hốilộ nhiều thì Nhà nước mất tiền nhiều

Hậu quả thứ hai mà tham nhũng đem lại là làm giảm chất lượng côngtrình vì tất cả các khoản chi hối lộ, tham ô đều biến thành xi măng, sắtthép khống Tham ô, hối lộ ít thì chất lượng công trình giảm ít; tham ô, hối

lộ nhiều thì chất lượng công trình giảm nhiều Giảm ở mức độ nào đó thì saukhi nghiệm thu, công trình sử dụng được một thời gian ngắn đã phải duy tu,bảo dưỡng, sửa chữa Giảm ở mức độ lớn hơn thì chưa sử dụng đã bị nứt,lún và thậm chí có khi chưa kịp nghiệm thu đã sụp đổ, hư hỏng nặng, buộcphải đầu tư xây dựng lại

Hậu quả thứ ba mà tham nhũng đem lại là cung cấp cho đất nướcnhững công trình với máy móc, thiết bị, kỹ thuật, công nghệ lạc hậu của thếgiới Điều này thường xảy ra đối với các công trình xây dựng cơ bản có nhậpmáy móc, thiết bị và kỹ thuật công nghệ của nước ngoài

Còn hậu quả thứ tư, đó là tham nhũng thường làm chậm tiến độ đầu tưxây dựng, tức là làm chậm lại việc đưa công trình vào sử dụng, mà công trìnhchậm được đưa vào khai thác, sử dụng ngày nào thì có nghĩa là Nhà nước mấttiền ngày ấy

Trang 20

2- Hậu quả về kinh tế - chính trị - xã hội

Xét ở góc độ kinh tế - chính trị - xã hội, có thể thấy hậu quả mà thamnhũng trong đầu tư xây dựng bằng nguồn vốn nhà nước đem lại như sau:

Thứ nhất, nó làm lãng phí nguồn của cải vật chất của đất nước ở mức

độ rất lớn Ngoài những thiệt hại về kinh tế - kỹ thuật như đã nói ở trên, điềunày còn được thể hiện qua việc cấp phép, cấp vốn, thi công xây dựng nhữngcông trình không phù hợp với quy hoạch phát triển, không cần thiết; những côngtrình mà giá trị sử dụng của nó không có tính khả thi; những công trình khôngnằm trong hướng ưu tiên của đầu tư xây dựng bằng nguồn vốn nhà nước Mặc

dù các công trình được xây dựng lên còn đó, nghĩa là nguồn vốn nhà nướckhông bị mất đi, nhưng rõ ràng bằng việc xây dựng các công trình như vậy,nguồn vốn của Nhà nước đã được sử dụng không hiệu quả, thậm chí lãng phí.Những lãng phí này thường có giá trị lớn hơn rất nhiều so với những gì người

ta tham ô, nhận hối lộ, vụ lợi trong đầu tư xây dựng

Chính vì vậy, hậu quả thứ hai mà tham nhũng đem lại là làm chệchhướng các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội và tác động tiêu cực đến mọimặt của đời sống xã hội Vì sao vậy? Vì hướng ưu tiên chủ yếu của nguồnvốn nhà nước là dành cho các dự án đầu tư công cộng, kết cấu hạ tầng, pháttriển ngành mũi nhọn, phát triển nguồn nhân lực và đầu tư cho các vùng, cáckhu vực khó khăn Trong bối cảnh đất nước còn nghèo, điều này càng trở nênquan trọng Tiền vốn nhà nước nếu được sử dụng đúng mục đích, được đầu tưđúng nơi, đúng lúc và đem lại hiệu quả sử dụng cao sẽ tạo điều kiện để cácngành kinh tế và các doanh nghiệp phát triển sản xuất kinh doanh; giảm bớtchênh lệch giữa nông thôn và thành thị, giữa miền xuôi và miền ngược; thungắn khoảng cách giàu nghèo Còn ngược lại, khi nguồn vốn đó được đầu tưvào các dự án không phù hợp với định hướng phát triển kinh tế - xã hội, các

dự án không cần thiết, các dự án không có tính khả thi hoặc bị tham nhũnglàm cho không đảm bảo chất lượng, chậm được đưa vào sử dụng thì các tác

Trang 21

động tích cực nêu trên sẽ giảm thiểu hoặc không còn Thậm chí tham nhũngcòn làm tăng thêm phân hóa giàu nghèo, bất công xã hội và làm nhiều giá trịđạo đức bị đảo lộn.

Hậu quả thứ ba mà tham nhũng đem lại là đồng thời với việc tạo ramột lớp người sống phè phỡn trên mồ hôi nước mắt của quảng đại quầnchúng nhân dân, vi tham nhũng là có chức vụ, quyền hạn, lợi dụng chức vụ,quyền hạn để thực hiện "tích lũy nguyên thủy tư bản", nó tạo ra một lớp ngườichi phối hoạt động lập pháp, hành pháp và tư pháp và do đó, làm cho nguy cơchệch hướng xã hội chủ nghĩa ngày càng tăng

Hậu quả thứ tư không thể không nói đến là vì vậy, nó gây bất bìnhtrong quần chúng nhân dân và làm xói mòn lòng tin của nhân dân đối với chính

quyền Đây là điều dễ hiểu bởi vì, thứ nhất, thông qua tham nhũng, nhân dân

nhìn thấy một bộ phận không nhỏ cán bộ thoái hóa biến chất và do đó, hiệu

lực quản lý của Nhà nước bị suy giảm; thứ hai, tham nhũng là cái cớ để các

thế lực thù địch kích động nhân dân chống lại chính quyền, thực hiện "diễn

biến hòa bình"; thứ ba, vì nguồn vốn nhà nước được huy động chủ yếu thông

qua các khoản đóng thuế của dân nên bất kỳ hành vi tham nhũng nào xảy ratrong đầu tư xây dựng bằng nguồn vốn nhà nước cũng đều là lấy tiền của dân

Vì vậy, tham nhũng xảy ra càng nhiều bao nhiêu thì sự bất bình trong các tầnglớp dân cư càng tăng bấy nhiêu và lòng tin của dân đối với chính quyền cànggiảm bấy nhiêu Đến một mức độ nào đó, hậu quả mà tham nhũng mang lại cóthể gây nên các điểm nóng về chính trị, dân biểu tình chống chính quyền, đedọa sự tồn vong của chế độ

1.2 Nhận thức cơ bản về hoạt động phòng ngừa, đấu tranh chống tham nhũng trong đầu tư xây dựng bằng nguồn vốn nhà nước của lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự quản lý kinh tế và chức vụ

1.2.1 Chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy của lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự quản lý kinh tế và chức vụ

Trang 22

1.2.1.1 Chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự quản lý kinh tế và chức vụ

Căn cứ Pháp lệnh Tổ chức điều tra hình sự đã được Ủy ban Thường

vụ Quốc hội thông qua ngày 20/8/2004, căn cứ vào Nghị định số

136/2003/NĐ-CP ngày 14/11/2003 của Chính phủ về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổchức bộ máy của Bộ Công an; Quyết định số 1438/2004/QĐ-BCA(X13) ngày14/12/2004 của Bộ trưởng Bộ Công an về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và

tổ chức bộ máy của Tổng cục Cảnh sát; căn cứ Quyết định số BCA(X13) ngày 02/3/2005 của Bộ trưởng Bộ Công an về chức năng, nhiệm

189/2005/QĐ-vụ, quyền hạn và tổ chức của Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự quản

lý kinh tế và chức vụ; Quyết định 1164 và 1172/QĐ-X11(X13) ngày 01/4/2005của Tổng cục trưởng Tổng cục Xây dựng lực lượng CAND về chức năng,nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Phòng và Đội Cảnh sát điều tratội phạm về trật tự quản lý kinh tế về chức vụ, có thể xác định lực lượngCSĐT TPKT có những nhiệm vụ cơ bản sau đây:

+ Tổ chức các hoạt động nghiệp vụ cơ bản để chủ động nắm tìnhhình; đề xuất với các cấp ủy Đảng và các cấp chính quyền ban hành và tổchức thực hiện các chủ trương, kế hoạch đấu tranh; trực tiếp tiến hành cáchoạt động phòng ngừa nghiệp vụ đối với các tội phạm thuộc chức năng đấutranh của lực lượng;

+ Tổ chức và tiến hành các hoạt động nghiệp vụ trinh sát để phát hiện,ngăn chặn và khám phá các tội phạm thuộc chức năng đấu tranh của lực lượng;

+ Tổ chức và tiến hành các hoạt động theo quy định của Bộ luật Tốtụng hình sự (BLTTHS) để điều tra, xử lý các tội phạm các tội phạm thuộcchức năng đấu tranh của lực lượng;

+ Tổ chức mối quan hệ phối hợp với các lực lượng khác trong vàngoài ngành trong đấu tranh phòng, chống tội phạm về kinh tế và chức vụ

Trang 23

+ Thực hiện các nhiệm vụ khác có liên quan đến công tác của lựclượng Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự quản lý kinh tế và chức vụ.

Theo quy định của Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự 2004 và Thông

tư số 12/2004/TT-BCA(V19) của Bộ Công an hướng dẫn một số quy định củaPháp lệnh tổ chức điều tra hình sự năm 2004 trong Công an nhân dân, Quyếtđịnh số 189/2005/QĐ-BCA của Bộ trưởng Bộ Công an ngày 02 tháng 3 năm

2005 về tổ chức, chức năng, nhiệm vụ của Cục Cảnh sát điều tra tội phạm vềtrật tự quản lý kinh tế và chức vụ; Quyết định 1164 và 1172/QĐ-X11(X13)ngày 01/4/2005 của Tổng cục trưởng Tổng cục Xây dựng lực lượng CAND

về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Phòng và ĐộiCảnh sát điều tra tội phạm về trật tự quản lý kinh tế về chức vụ, thì lực lượngCSĐT TPKT được tiến hành điều tra các vụ án hình sự về những tội phạmđược quy định tại các chương XIV, XVI, XVII, XXI của BLHS thuộc thẩmquyền xét xử của Tòa án nhân dân các cấp trừ các tội phạm thuộc thẩm quyềnđiều tra của Cơ quan an ninh điều tra trong Công an nhân dân (CAND) Theo

quy định hiện hành lực lượng CSĐT TPKT được tiến hành hoạt động điều tra

đối với các tội phạm được qui định tại 60 điều của BLHS:

- Các tội phạm được qui định từ Điều 153 đến 181 thuộc Chương XVICác tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế

- Các tội phạm về tham nhũng qui định tại các điều từ Điều 278 đến 284thuộc mục A và các tội phạm sau thuộc mục B Chương XVI các tội phạmchức vụ: Tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng (Điều 258); Tội đưahối lộ (Điều 289); Tội làm môi giới hối lộ (Điều 290); Tội lợi dụng ảnhhưởng đối với người có chức vụ quyền hạn để trục lợi (Điều 291)

- Các tội phạm xâm phạm sở hữu chương XIV: Tội lừa đảo chiếmđoạt tài sản (Điều 139); Tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Điều 140);Tội chiếm giữ trái phép tài sản (Điều 141); Tội sử dụng trái phép tài sản (Điều

Trang 24

142); Tội thiếu tinh thần trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sảnnhà nước (Điều 144); Tội vô ý gây thiệt hại tài sản của nhà nước (Điều 145)trong trường hợp đối tượng lợi dụng tư cách pháp nhân của cơ quan, tổ chức,doanh nghiệp, lợi dụng việc ký kết hợp đồng kinh tế để phạm tội.

- Các tội phạm từ Điều 182 đến 191 thuộc Chương XVII Các tộiphạm về môi trường

- Các tội phạm thuộc chương XIX Các tội phạm: Tội tạo ra và lantruyền, phát tán các chương trình vi-rút tin học (Điều 224); Tội vi phạm cácqui định về vận hành, khai thác và sử dụng mạng máy tính điện tử (Điều 225);Tội sử dụng trái phép thông tin trên mạng và trong máy tính (Điều 226); Tộihợp pháp hóa tiền, tài sản do phạm tội mà có (Điều 251) mà nguồn gốc tiền,tài sản do phạm tội kinh tế mà có

Căn cứ vào các quy định trên có thể xác định lực lượng CSĐT TPKT

là chủ thể được giao nhiệm vụ phòng ngừa, đấu tranh với các tội phạm vềtham nhũng quy định từ Điều 278 đến Điều 284, Mục A, Chương XXI Bộluật hình sự 1999

Như vậy, theo qui định của pháp luật hiện hành, lực lượng CSĐT TPKT

là chủ thể tiến hành hoạt động phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm thamnhũng trong đầu tư xây dựng bằng nguồn vốn nhà nước Khi lực lượngchuyên trách chống tội phạm tham nhũng được thành lập thì lực lượng này sẽtrở thành chủ thể chính tiến hành hoạt động phòng ngừa, đấu tranh chống tộiphạm tham nhũng nói chung và tội phạm tham nhũng trong đầu tư xây dựngbằng nguồn vốn nhà nước nói riêng

1.2.1.2 Tổ chức bộ máy của lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự quản lý kinh tế và chức vụ

Tổ chức bộ máy của lực lượng CSĐT TPKT được triển khai từ Trungương đến cơ sở:

Trang 25

- Ở cấp Bộ có Cục CSĐT TPKT (C15) với 11 đơn vị: Phòng Thammưu (P1); Phòng Phòng ngừa, đấu tranh án kinh tế công nghiệp, xây dựng(P2); Phòng Phòng ngừa, đấu tranh án kinh tế nông nghiệp, nông thôn (P3);Phòng Phòng ngừa, đấu tranh án kinh tế tổng hợp (P4); Phòng Phòng ngừa,đấu tranh án kinh tế giao thông, bưu điện (P5); Phòng Phòng ngừa, đấu tranh

án kinh tế tài chính (P6); Phòng Phòng ngừa, đấu tranh chống buôn lậu (P7);Phòng Phòng ngừa, đấu tranh chống xâm phạm sở hữu trí tuệ (P8); PhòngPhòng ngừa, đấu tranh tội phạm công nghệ cao (P9); Phòng Hướng dẫn vàđiều tra án tham nhũng và chức vụ (P10); Phòng Hướng dẫn và điều tra ánkinh tế khác (P11); Bộ phận thường trú tại cụm II; cụm III

(có sơ đồ kèm theo)

Việc tổ chức các phòng như hiện nay theo lĩnh vực và đối tượng đấutranh có khác nhau nhưng tất cả các đơn vị đều có chức năng tổ chức hoạtđộng nghiệp vụ phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm tham nhũng trong đầu

tư xây dựng bằng nguồn vốn nhà nước Trong đó Phòng 2 chuyên trách phòngchống tội phạm trong xây dựng; Phòng 10 hướng dẫn và điều tra án thamnhũng và chức vụ

Trang 26

BỘ CÔNG AN

Cục CSĐT TPKT

TCIIITCI

Phòng CSĐT TPKT

Đội Tham mưu Đội PN, ĐT án KT nông, công nghiệp

Đội PN, ĐT án KT tổng hợp v các TPKT khác ành ph

Đội PN, ĐT án buôn lậu, h ng gi ành ph ả, xâm phạm

SHTT

Đội HD, điều tra án kinh tế

Phòng PN, ĐT án KT nông nghiệp, nông thôn Phòng PN, ĐT án KT tổng hợp

Phòng PN, ĐT án kinh tế t i chính ành ph Phòng PN, ĐT chống buôn lậu

Phòng PN, ĐT chống xâm phạm SHTT

Phòng PN, ĐT tội phạm công nghệ cao

Phòng HD v ành ph đ.tra án kinh tế khác Phòng HD v ành ph đ.tra án tham nhũng v ch ành ph ức vụ

Trang 27

+ Cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có phòng CSĐT TPKT(PC15).

Tùy theo tính chất, đặc điểm và yêu cầu công tác ở từng địa phương

mà Phòng CSĐT TPKT có cơ cấu tổ chức theo mô hình phù hợp Về mô hình

tổ chức của Phòng CSĐT TPKT Công an các tỉnh, thành phố hiện nay chưa

có mô hình tổ chức thống nhất Căn cứ vào đặc điểm, tình hình tội phạm kinh

tế tại địa phương, Giám đốc Công an tỉnh, thành phố quyết định về mô hình,

tổ chức, biên chế của Phòng CSĐT TPKT Thông thường Phòng CSĐTTPKT các tỉnh thành phố bố trí theo mô hình các đội nghiệp vụ chuyên sâu theođối tượng đấu tranh hoặc theo ngành, hàng lĩnh vực như:

* Theo đối tượng đấu tranh gồm: Đội tham mưu; Đội hướng dẫn, điều

tra án tham nhũng và chức vụ; Đội Phòng ngừa, đấu tranh án buôn lậu, hànggiả, xâm phạm sở hữu trí tuệ;

* Theo ngành hàng, lĩnh vực: Đội tham mưu; Đội Phòng ngừa, đấu tranh

án công nghiệp - xây dựng; Đội Phòng ngừa, đấu tranh án nông nghiệp, nôngthôn; Đội Phòng ngừa, đấu tranh án trong lĩnh vực kinh tế tổng hợp và các tộiphạm kinh tế khác

Riêng hai thành phố trực thuộc Trung ương là Hà Nội, Thành phố HồChí Minh mô hình tổ chức của các phònáiCĐT TPKT được bố trí theo ngànhhàng, lĩnh vực gồm 10 đội nghiệp vụ

+ Cấp quận, huyện, thị xã có đội CSĐT TPKT

1.2.2 Cơ sở pháp lý và các biện pháp công tác trong phòng ngừa, đấu tranh chống tham nhũng trong đầu tư xây dựng bằng nguồn vốn nhà nước của lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự quản lý kinh tế và chức vụ

1.2.2.1 Cơ sở pháp lý cho hoạt động phòng ngừa, đấu tranh chống tham nhũng trong đầu tư xây dựng bằng nguồn vốn nhà nước của lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự quản lý kinh tế và chức vụ

Trang 28

Trong từng giai đoạn của quá trình xây dựng và phát triển kinh tế - xãhội, Đảng và Nhà nước ta luôn đề ra những chủ trương, chính sách phù hợpvới điều kiện và hoàn cảnh của đất nước Trong đó luôn nhấn mạnh việc tăngcường các biện pháp về pháp luật nhằm đấu tranh chống tiêu cực, thamnhũng Đặc biệt là trong tình hình hiện nay, tội phạm về tham nhũng là mộttrong những nguy cơ sống còn của chế độ ta, chính vì thế mà Đảng và Nhànước ta luôn quan tâm đến lãnh đạo, chỉ đạo cuộc đấu tranh chống thamnhũng, xây dựng và không ngừng hoàn thiện hệ thống các văn bản pháp luật

về chống tham nhũng Những văn bản pháp luật này là cơ sở pháp lý rất quantrọng đối với lực lượng CSĐT TPKT trong phòng ngừa, phát hiện và đấutranh chống tham nhũng.Trong đó, Luật Phòng, chống tham nhũng được Quốchội khóa XI thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2005, có hiệu lực thi hành từngày 01 tháng 6 năm 2006 là một văn bản rất quan trọng Luật này quy định

cụ thể những hành vi nào là tham nhũng, các biện pháp phòng ngừa, phát hiệntham nhũng, quy định về xử lý các hành vi tham nhũng cũng như trách nhiệm

và mối quan hệ phối hợp giữa các cơ quan trong đấu tranh phòng, chống thamnhũng Chính sách đấu tranh chống tham nhũng của Nhà nước ta còn được

cụ thể hóa trong Chương XXI, mục A của BLHS năm 1999 quy định các tộiphạm về tham nhũng

Trong đấu tranh các tội phạm về tham nhũng nói chung và chốngtham nhũng trong lĩnh vực đầu tư xây dựng nói riêng, lực lượng CSĐT TPKTluôn dựa vào đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về đấu tranhchống tham nhũng được cụ thể hóa trong các chỉ thị, nghị quyết và trong cácvăn bản pháp luật của Nhà nước, của ngành Công an và nó được thể hiện dướicác hình thức pháp lệnh, chỉ thị, nghị quyết, quyết định của các cơ quan cóthẩm quyền Các văn bản này điều chỉnh các hoạt động nghiệp vụ của CANDnói chung và của lực lượng CSĐT TPKT nói riêng, đồng thời cũng điều chỉnhhoạt động phòng ngừa, đấu tranh chống tham nhũng trong lĩnh vực đầu tư xâydựng của lực lượng này

Trang 29

Cơ sở pháp lý cho hoạt động phòng ngừa, đấu tranh chống thamnhũng trong lĩnh vực đầu tư xây dựng của lực lượng CSĐT TPKT, theo chúngtôi có thể chia ra ba nhóm chính là:

- Nhóm cơ sở pháp lý quy định chung về chức năng, nhiệm vụ, quyềnhạn của lực lượng CSĐT TPKT;

- Nhóm cơ sở pháp lý về quyền năng pháp lý trong hoạt động phát hiện,điều tra tội phạm;

- Nhóm cơ sở pháp lý thuộc về quản lý ngành, đó là các văn bản phápluật quy định về quản lý đầu tư và xây dựng

* Nhóm cơ sở pháp lý quy định chung về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của lực lượng CSĐT TPKT được quy định trong các văn bản chính sau đây:

- Luật CAND được Quốc hội khóa XI thông qua ngày 29 tháng 11năm 2005, có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2006 Tại khoản 2Điều 16 quy định: lực lượng CSND có nhiệm vụ: "Chủ động phòng ngừa,phát hiện, đấu tranh chống tội phạm và vi phạm pháp luật về trật tự, an toàn

xã hội, về bảo vệ môi trường; phát hiện nguyên nhân, điều kiện phát sinh tộiphạm, vi phạm pháp luật khác và kiến nghị biện pháp khắc phục; tham giagiáo dục đối tượng vi phạm pháp luật tại cộng đồng theo quy định của phápluật" CSĐT TPKT là một trong những binh chủng thuộc lực lượng CSND, dovậy phải thực hiện nhiệm vụ đấu tranh phòng, chống tội phạm theo sự phâncông, phân cấp của ngành Đây là cơ sở pháp lý rất quan trọng để CSĐTTPKT tiến hành các biện pháp nghiệp vụ đấu tranh phòng, chống tội phạmtheo chức năng, nhiệm vụ được giao

- Nghị định 136/2003/NĐ-CP ngày 14 tháng 11 năm 2003 của Chínhphủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của BộCông an, tại khoản 6 Điều 2 quy định lực lượng CAND được sử dụng các

Trang 30

biện pháp nghiệp vụ trinh sát, kỹ thuật nghiệp vụ và các biện pháp khác chủđộng đấu tranh phòng, chống tội phạm.

- Quyết định số 1438/2004/QĐ-BCA(X13) ngày 14/12/2004 của Bộtrưởng Bộ Công an về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máycủa Tổng cục Cảnh sát; Quyết định số 189/2005/QĐ-BCA(X13) ngày02/3/2005 của Bộ trưởng Bộ Công an về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và

tổ chức của Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự quản lý kinh tế và chứcvụ; Quyết định 1164 và 1172/QĐ-X11(X13) ngày 01/4/2005 của Tổng cụctrưởng Tổng cục Xây dựng lực lượng CAND về chức năng, nhiệm vụ, quyềnhạn và tổ chức bộ máy của Phòng và Đội CSĐT TPKT Căn cứ vào các vănbản đó, có thể xác định lực lượng CSĐT TPKT có những nhiệm vụ cơ bảnsau đây:

+ Tổ chức các hoạt động nghiệp vụ cơ bản để chủ động nắm tìnhhình; đề xuất với các cấp ủy Đảng và các cấp chính quyền ban hành và tổchức thực hiện các chủ trương, kế hoạch đấu tranh; trực tiếp tiến hành cáchoạt động phòng ngừa nghiệp vụ đối với các tội phạm thuộc chức năng đấutranh của lực lượng;

+ Tổ chức và tiến hành các hoạt động nghiệp vụ trinh sát để phát hiện,ngăn chặn và khám phá các tội phạm thuộc chức năng đấu tranh của lực lượng;

+ Tổ chức và tiến hành các hoạt động theo quy định của BLTTHS để điềutra, xử lý các tội phạm các tội phạm thuộc chức năng đấu tranh của lực lượng;

+ Tổ chức mối quan hệ phối hợp với các lực lượng khác trong vàngoài ngành trong đấu tranh phòng, chống tội phạm về kinh tế và chức vụ

+ Thực hiện các nhiệm vụ khác có liên quan đến công tác của lựclượng CSĐT TPKT

Trang 31

Như vậy, nhiệm vụ cơ bản của lực lượng lực lượng CSĐT TPKT làđấu tranh phòng, chống tội phạm về trật tự quản lý kinh tế và chức vụ bằng cảhoạt động điều tra trinh sát và điều tra theo tố tụng.

* Nhóm cơ sở pháp lý về quyền năng pháp lý trong hoạt động phát hiện, điều tra tội phạm:

Khi thực hiện các hoạt động nghiệp vụ trinh sát cũng như tiến hành cáchoạt động điều tra để phát hiện, điều tra tội phạm, lực lượng CSĐT TPKTphải dựa vào các văn bản pháp luật của Nhà nước và của ngành Công an quyđịnh về các hoạt động đó cho lực lượng CSND nói chung và lực lượng CSĐTTPKT nói riêng Đó là các văn bản quy định về hoạt động nghiệp vụ trinh sát

và hoạt động điều tra theo tố tụng Cụ thể là:

- Các văn bản quy định về hoạt động nghiệp vụ trinh sát, bao gồm cácvăn bản chính sau đây:

+ Chỉ thị số 05/2003/CT-BCA(C11) ngày 06/6/2003 của Bộ trưởng

Bộ Công an về chấn chỉnh, tăng cường công tác nghiệp vụ cơ bản của lựclượng CSND trong tình hình mới;

+ Quyết định số 360/2003/QĐ-BCA(C11) ngày 06/6/2003 của Bộtrưởng Bộ Công an ban hành Quy định về công tác ĐTCB của lực lượngCSND;

+ Quyết định số 361/2003/QĐ-BCA(C11) ngày 06/6/2003 của Bộtrưởng Bộ Công an ban hành Quy định về công tác sưu tra (ST), công tác xácminh hiềm nghi (XMHN) của lực lượng CSND;

+ Quyết định số 362/2003/QĐ-BCA(C11) ngày 06/6/2003 của Bộtrưởng Bộ Công an ban hành Quy định về công tác đấu tranh chuyên án củalực lượng CSND;

Trang 32

+ Quyết định số 363/2003/QĐ-BCA(C11) ngày 06/6/2003 của Bộtrưởng Bộ Công an ban hành Quy định về công tác xây dựng, sử dụng mànglưới bí mật (MLBM) của lực lượng CSND;

+ Quyết định số 730/2003/QĐ-BCA(C11) ngày 03/10/2003 của Bộtrưởng Bộ Công an ban hành các Quy trình về công tác ĐTCB, công tác ST,công tác xây dựng, sử dụng đặc tình (ĐT) của lực lượng CSND;

+ Quyết định số 1404/2004/QĐ-BCA(C11) ngày 01/12/2004 của Bộtrưởng Bộ Công an về việc ban hành Quy chế phân công trách nhiệm trao đổi,cung cấp và xử lý thông tin để thực hiện công tác nghiệp vụ cơ bản của lựclượng CSND;

+ Quyết định số 760/2006/QĐ-BCA(C11) ngày 19/6/2006 của Bộtrưởng Bộ Công an ban hành Quy định sửa đổi, bổ sung một số điều trong cácQuy định được ban hành kèm theo các Quyết định số 360, 361, 362, 363 ngày06/6/2003 của Bộ trưởng Bộ Công an về công tác nghiệp vụ cơ bản của lựclượng CSND và Quyết định số 886 ngày 17/11/2003 của Bộ trưởng Bộ Công

an về Chế độ công tác hồ sơ, tàng thư thông tin nghiệp vụ cảnh sát;

+ Hướng dẫn số 2400/HD-C11(C12) ngày 30/9/2003 của Tổng cụcCảnh sát thực hiện các Quyết định của Bộ về công tác nghiệp vụ cơ bản củalực lượng CSND

- Các văn bản quy định về hoạt động điều tra tố tụng, bao gồm các vănbản chính sau đây:

+ Bộ luật Tố tụng hình sự 2003;

+ Pháp lệnh Tổ chức điều tra hình sự 2004;

+ Thông tư số 12/2004/TT-BCA(V19) của Bộ Công an hướng dẫnmột số quy định của Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự năm 2004 trongCAND

Trang 33

Nhìn chung, hệ thống các văn bản nói trên đã tạo ra một hành lang pháp

lý tương đối toàn diện cho hoạt động của lực lượng CSĐT TPKT trong phòngngừa, đấu tranh chống tội phạm kinh tế nói chung và tội phạm tham nhũngtrong đầu tư - xây dựng bằng nguồn vốn nhà nước nói riêng Tuy nhiên, thựctiễn thời gian qua cho thấy trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử các hành vitham nhũng trong lĩnh vực này có nhiều quan điểm khác nhau giữa các cơquan chức năng từ khâu xác lập chứng cứ, định tội danh đến việc xác địnhthời điểm hoàn thành của tội phạm, vấn đề giám định tài chính, giám địnhchất lượng, khối lượng công trình Chính vì vậy, thực tiễn đang đòi hỏi cầnphải nghiên cứu xây dựng một văn bản hướng dẫn thống nhất hoạt động điềutra, truy tố, xét xử loại tội phạm này Mặt khác, một trong những khó khănhiện nay trong quá trình tiến hành các hoạt động nghiệp vụ trinh sát là vấn đềbảo vệ đặc tình, trinh sát nội tuyến, khó khăn trong thu thập, sử dụng tài liệutrinh sát và trong kiểm soát điện thoại của đối tượng nghi vấn Do vậy, phảitừng bước "luật hóa" các biện pháp nghiệp vụ trinh sát của lực lượng CSĐTTPKT trong các văn bản quy phạm pháp luật chuyên ngành, đồng thời cầnnghiên cứu xây dựng một văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực pháp lý cao

để điều chỉnh toàn diện các hoạt động nghiệp vụ trinh sát của tất cả các chủthể có quyền áp dụng những hoạt động này

* Nhóm cơ sở pháp lý chuyên ngành về quản lý đầu tư và xây dựng.

Để quản lý xã hội và đấu tranh chống tội phạm, Nhà nước ta đã đề ranhững quy định cụ thể về hoạt động của các lĩnh vực trong đời sống kinh tế -

xã hội Đó là những cơ sở làm căn cứ cho lực lượng CSĐT TPKT phòngngừa, phát hiện và đấu tranh chống tham nhũng nói chung và tham nhũngtrong đầu tư xây dựng bằng nguồn vốn nhà nước nói riêng Trong lĩnh vựcđầu tư xây dựng, Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản pháp luật để xác lập

và quản lý hoạt động đầu tư và xây dựng, chống lãng phí, tiêu cực, thamnhũng trong lĩnh vực này Theo trình tự thời gian, phù hợp với từng thời kỳ

Trang 34

về điều kiện, hoàn cảnh cụ thể, mỗi loại văn bản đều có ý nghĩa cho quá trình

tổ chức quản lý đầu tư xây dựng ở thời điểm đó

Cơ sở pháp lý chuyên ngành về quản lý đầu tư xây dựng hiện nay baogồm một số văn bản chính sau:

- Luật Xây dựng được Quốc hội thông qua ngày 26 tháng 11 năm

2003, có hiệu lực từ ngày 01 tháng 7 năm 2004

- Nghị quyết số 36/2004/QH11 ngày 03 tháng 12 năm 2004 của Quốchội về công tác đầu tư xây dựng sử dụng vốn nhà nước;

- Nghị định số 16/2005/NĐ-CP ngày 07 tháng 02 năm 2005 của Chínhphủ về quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình;

- Nghị định số 209/2004/NĐ-CP ngày 16 tháng 12 năm 2004 của Chínhphủ về quản lý chất lượng công trình xây dựng;

- Nghị định số 71/2005/NĐ-CP ngày 06 tháng 6 năm 2005 của Chínhphủ về quản lý đầu tư xây dựng công trình đặc thù;

- Chỉ thị số 29/2003/CT-TTg ngày 23 tháng 12 năm 2003 của Thủ tướngChính phủ về chấn chỉnh quản lý đầu tư và xây dựng bằng nguồn vốn nhà nước;

- Chỉ thị số 21/2005/CT-TTg ngày 15 tháng 6 năm 2005 của Thủ tướngChính phủ về việc triển khai thực hiện Nghị quyết của Quốc hội về công tácđầu tư xây dựng sử dụng vốn nhà nước và chống thất thoát, lãng phí trong đầu

tư xây dựng;

- Thông tư số 04/2005/TT-BXD ngày 01 tháng 4 năm 2005 của Bộtrưởng Bộ Xây dựng hướng dẫn việc lập và quản lý chi phí dự án đầu tư xâydựng công trình;

- Thông tư số 08/2005/TT-BXD ngày 06 tháng 5 năm 2005 của Bộtrưởng Bộ Xây dựng hướng dẫn một số nội dung về lập, thẩm định phê duyệt

Trang 35

dự án đầu tư xây dựng công trình và xử lý chuyển tiếp thực hiện Nghị định16/2005/NĐ-CP ngày 07/02/2005 của Chính phủ;

- Thông tư số 12/2005/TT-BXD ngày 12 tháng 7 năm 2005 của Bộ trưởng

Bộ Xây dựng hướng dẫn một số nội dung về quản lý chất lượng công trìnhxây dựng và điều kiện năng lực của tổ chức cá nhân trong hoạt động xâydựng;

- Các văn bản hướng dẫn thực hiện dưới dạng chỉ thị, thông tư, quyếtđịnh của các bộ, ngành

Đây là những văn bản pháp lý bắt buộc các ngành chức năng, các cơquan liên quan, các bộ, ngành có xây dựng phải thực hiện trong quá trình đầu

tư xây dựng các công trình Trong đó quy định trách nhiệm của các cơ quanquản lý nhà nước về xây dựng từ Trung ương đến địa phương, các chủ đầu tư,ban quản lý dự án xây dựng và các việc cụ thể như: lập, thẩm định, xétduyệt dự án xây dựng và thiết kế sơ bộ trong báo cáo nghiên cứu khả thi,chuẩn bị đầu tư, thực hiện đầu tư và bàn giao sử dụng công trình

Ngoài những văn bản nêu trên, để quản lý hoạt động đầu tư xây dựngcòn có một số văn bản pháp luật khác điều chỉnh hoạt động đầu tư xây dựng,

đó là Luật Đấu thầu, Luật Đầu tư, các văn bản pháp luật về kế toán, các vănbản pháp luật về thuế

Tất cả những văn bản nêu trên đều thực hiện chức năng điều chỉnhhoạt động đầu tư và xây dựng, trong đó quy định cụ thể các biện pháp và cơchế quản lý nhằm tăng cường quản lý đầu tư và xây dựng, chống tham nhũng,lãng phí Những quy định đó đồng thời là cơ sở pháp lý để lực lượng CSĐTTPKT tiến hành phòng ngừa, đấu tranh chống các hành vi vi phạm pháp luật

về quản lý đầu tư và xây dựng nói chung và phòng ngừa, đấu tranh chốngtham nhũng trong đầu tư xây dựng bằng nguồn vốn nhà nước nói riêng

Trang 36

Qua nghiên cứu có thể thấy, trong những năm qua hệ thống tiêuchuẩn, quy chuẩn và các chỉ tiêu, định mức, đơn giá đã thường xuyên được bổsung, sửa đổi cho phù hợp với thực tế xây dựng Tuy nhiên, trong các quyđịnh hiện hành vẫn còn tồn tại nhiều sơ hở để cho bọn tội phạm lợi dụng hoạtđộng, tình trạng "khép kín" thực hiện đầu tư xây dựng của các bộ, ngành làphổ biến Luật Xây dựng và các văn bản quy phạm pháp luật điều tiết chặtchẽ các nội dung trên mới được ban hành; hệ thống tiêu chuẩn, chỉ tiêu, địnhmức kinh tế kỹ thuật phục vụ quản lý đầu tư xây dựng, bao gồm cả quản lýquy hoạch, chuẩn bị đầu tư, thực hiện đầu tư mặc dù thường xuyên đượcnghiên cứu sửa đổi nhưng vẫn còn thiếu, có khi không đáp ứng kịp với sựthay đổi của cơ chế thị trường, chưa phù hợp với thông lệ quốc tế.

1.2.2.2 Các biện pháp phòng ngừa, đấu tranh chống tham nhũng trong đầu tư xây dựng bằng nguồn vốn nhà nước của lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự quản lý kinh tế và chức vụ

Nghị quyết số 40-NQ/TW ngày 08 tháng 11 năm 2004 của Bộ Chínhtrị về nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác Công an trong tình hình mới;Luật CAND đã quy định ngành Công an trong đó có lực lượng CSĐT TPKTđược sử dụng các biện pháp công tác: biện pháp vận động quần chúng, phápluật, ngoại giao, kinh tế, khoa học - kỹ thuật, nghiệp vụ, vũ trang để bảo vệ anninh quốc gia, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội Tuy nhiên, cho đến thời điểm này,các văn bản trên mới dừng lại ở việc quy định tên các biện pháp, chưa quyđịnh cụ thể các vấn đề liên quan (nội dung, trình tự, thẩm quyền áp dụng )của các biện pháp công tác mà ngành Công an được áp dụng Tuy nhiên ở góc

độ chung nhất, chúng ta có thể hiểu về các biện pháp này như sau:

* Biện pháp vận động quần chúng

Biện pháp vận động quần chúng là biện pháp cơ bản, có ý nghĩa chiếnlược trong công tác bảo vệ an ninh trật tự (ANTT), thông qua sử dụng cáchình thức và phương pháp, nội dung vận động thích hợp mà các tổ chức chính

Trang 37

trị - xã hội và cơ quan chuyên trách sử dụng sức mạnh to lớn của nhân dân đểbảo vệ an ninh quốc gia (ANQG), trật tự an toàn xã hội (TTATXH).

Biện pháp vận động quần chúng được thực hiện thông qua hình thứctuyên truyền giáo dục, vận động cả công khai lẫn bí mật, rộng rãi và cá biệt đểphát huy tính tích cực, tự giác của quần chúng nhân dân vào công tác bảo vệANTT Nội dung biện pháp này gồm điều tra nghiên cứu tình hình, tuyêntruyền giáo dục, tổ chức hướng dẫn quần chúng tham gia công khai và bí mậtvào các hoạt động phòng ngừa, phát hiện và đấu tranh chống tội phạm và các

vi phạm pháp luật khác, bảo vệ ANTT

* Biện pháp pháp luật

Biện pháp này được thực hiện bằng cách các chủ thể dựa vào quy địnhcủa pháp luật về ANQG, TTATXH để quản lý xã hội, nhằm ngăn ngừa, pháthiện và đấu tranh chống tội phạm và các hành vi vi phạm pháp luật khác xâmphạm ANQG, TTATXH

Nội dung của biện pháp này chủ yếu thông qua việc sử dụng hệ thốngvăn bản pháp luật bao gồm nhiều ngành luật: luật hình sự, luật tố tụng hình

sự, luật hành chính, luật kinh tế, luật thương mại các văn bản luật quốc tế,điều ước quốc tế mà Nhà nước ta đã phê chuẩn hoặc tham gia để phòng ngừa,phát hiện và đấu tranh chống tội phạm và các vi phạm pháp luật khác, bảo vệANTT

* Biện pháp ngoại giao

Sử dụng biện pháp ngoại giao để bảo vệ ANTT chính là quá trình sửdụng hoạt động đối ngoại, đàm phán để bảo vệ các quyền và lợi ích của nướcmình, của các cơ quan tổ chức và công dân nước mình trên lĩnh vực ANTT,hợp tác quốc tế về bảo vệ ANQG và giữ gìn TTATXH

Biện pháp ngoại giao được tiến hành thông qua việc ban bố và thựchiện chính sách ngoại giao của Đảng và Nhà nước ta với các quốc gia, các tổ

Trang 38

chức kinh tế, chính trị trên thế giới để bảo vệ ANQG, TTATXH; thôngqua hoạt động của các cơ quan ngoại giao của Việt Nam ở nước ngoài và các

tổ chức quốc tế để bảo vệ các quyền và lợi ích của nước mình, của các cơquan tổ chức và công dân nước mình ở nước ngoài, trong đó có các quyền vàlợi ích trên lĩnh vực ANQG, TTATXH; thông qua hoạt động của các cá nhân

có uy tín (là người Việt Nam hoặc người nước ngoài) để huy động sự đồngthuận và sự ủng hộ của bạn bè quốc tế trong cuộc đấu tranh bảo vệ ANTTcủa ta; thông qua việc thực hiện các điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kếthoặc tham gia; điều lệ của các tổ chức quốc tế mà Việt Nam là thành viên đểbảo vệ ANQG và giữ gìn TTATXH; thông qua hoạt động hợp tác quốc tếsong phương và đa phương với các nước, các tổ chức quốc tế về bảo vệANQG và giữ gìn TTATXH

* Biện pháp kinh tế

Sử dụng biện pháp kinh tế để bảo vệ ANTT là việc thông qua thựchiện các chủ trương, đường lối, nội dung, kế hoạch xây dựng và phát triểnkinh tế của đất nước để bảo vệ ANQG, giữ gìn TTATXH

Biện pháp kinh tế được thực hiện thông qua xây dựng và phát triển kinh

tế mà tạo sức mạnh cho ANQG, TTATXH, tạo sự ổn định về ANTT; dùngchính sách kinh tế, lợi ích kinh tế để bảo vệ ANTT (động viên, trừng phạt cácđối tượng ); kết hợp giữa phát triển kinh tế với bảo vệ ANQG, TTATXH

* Biện pháp nghiệp vụ

Biện pháp nghiệp vụ là biện pháp công tác chuyên môn của các cơquan chuyên trách trong bảo vệ ANQG, TTATXH được thực hiện theo quyđịnh của pháp luật

Đối với các cơ quan chuyên trách, biện pháp nghiệp vụ là cả một hệthống các biện pháp riêng, được tiến hành công khai hoặc bí mật theo quy

Trang 39

định của pháp luật nhằm mục đích phòng ngừa và đấu tranh chống các loại tộiphạm, bảo vệ ANTT.

Nội dung biện pháp nghiệp vụ bao gồm: tiến hành các công tác nghiệp

vụ cơ bản (điều tra cơ bản, sưu tra, xác minh hiềm nghi, chuyên án, xây dựng

và sử dụng MLBM, quản lý nghiệp vụ, kiểm tra nghiệp vụ); trinh sát nội tuyến;trinh sát ngoại tuyến; trinh sát kỹ thuật; kỹ thuật đặc biệt Sử dụng biện phápnghiệp vụ cho phép các cơ quan chuyên trách có thể giải quyết được các yêucầu nghiệp vụ đặc biệt quan trọng mà các biện pháp khác không thể làm đượchoặc có thể làm được song hiệu quả không cao

* Biện pháp khoa học - kỹ thuật

Sử dụng biện pháp khoa học - kỹ thuật trong công tác bảo vệ ANTT làquá trình các chủ thể sử dụng những tri thức khoa học, công nghệ và các phươngtiện kỹ thuật vào trong công tác bảo vệ ANQG, TTATXH

Biện pháp khoa học - kỹ thuật được thực hiện bằng cách áp dụngnhững thành tựu khoa học và công nghệ vào trong công tác bảo vệ ANTT; sửdụng các phương tiện kỹ thuật vào trong công tác đấu tranh phòng, chống tộiphạm Đối với các cơ quan chuyên trách thì biện pháp khoa học - kỹ thuậtđược sử dụng như một biện pháp nghiệp vụ chuyên biệt, tiến hành cả côngkhai lẫn bí mật nhằm chủ động thu thập thông tin, tài liệu, phòng ngừa, ngănchặn và đấu tranh làm thất bại âm mưu, hoạt động của các thế lực thù địch vàcác loại tội phạm

Trang 40

canh gác bảo vệ các mục tiêu quan trọng về ANQG, TTATXH; sử dụng lựclượng vũ trang dùng bạo lực, vũ khí để trấn áp dập tắt các hoạt động phạm tội,gây rối để bảo vệ ANQG, TTATXH.

Trên đây là các biện pháp cơ bản để bảo vệ ANQG và giữ gìn TTATXH.Các biện pháp này trên phương diện lý luận cùng như thực tiễn có mối quan hệbiện chứng với nhau, hỗ trợ và bổ sung cho nhau, thậm chí là hàm chứa lẫnnhau Nhận thức đúng về các biện pháp này để vận dụng đúng đắn và sáng tạotrong thực tiễn là cơ sở rất quan trọng để nâng cao hiệu quả công tác bảo vệANTT

Từ những phân tích ở trên và dựa vào hệ thống các văn bản quy địnhliên quan đến quyền hạn của lực lượng CSĐT TPKT có thể xác định lựclượng này có quyền tiến hành hoạt động nghiệp vụ trinh sát (biện pháp nghiệpvụ); các hoạt động tố tụng hình sự, kiểm tra, xử lý vi phạm hành chính (biệnpháp pháp luật) và các biện pháp khác (phát động quần chúng, ngoại giao, khoa

học - kỹ thuật, vũ trang ) để phòng ngừa, đấu tranh chống tham nhũng trong

đầu tư xây dựng bằng nguồn vốn nhà nước

* Các hoạt động nghiệp vụ trinh sát của CSĐT TPKT

CSĐT TPKT là một bộ phận của lực lượng CSND, được sử dụng cáchoạt động nghiệp vụ của lực lượngĐCSN trong quá trình thực hiện nhiệm vụcủa mình Hoạt động nghiệp vụ trinh sát của lực lượng CSND là toàn bộ nhữnghoạt động được các chủ thể có thẩm quyền trong lực lượng CSND tiến hànhbằng việc sử dụng các lực lượng, hình thức, phương pháp, chiến thuật,phương tiện bí mật nhằm phòng ngừa, ngăn chặn và phát hiện điều tra làm rõhoạt động của các loại tội phạm, bảo vệ TTATXH nói chung và phòng ngừa,đấu tranh chống tội phạm tham nhũng trong đầu tư xây dựng bằng nguồn vốnnhà nước nói riêng

Ngày đăng: 04/11/2016, 23:34

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Hòa Bình (2006), "Một số quan điểm về việc thành lập cơ quan chuyên trách chống tham nhũng thuộc Bộ Công an", Công an nhân dân, (9) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số quan điểm về việc thành lập cơ quanchuyên trách chống tham nhũng thuộc Bộ Công an
Tác giả: Nguyễn Hòa Bình
Năm: 2006
2. Bộ Công an (2003), Chỉ thị số 05/CT-BCA(C11) ngày 6/6 của Bộ trưởng Bộ Công an về việc chấn chỉnh, tăng cường công tác nghiệp vụ cơ bản của lực lượng Cảnh sát nhân dân trong tình hình mới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị số 05/CT-BCA(C11) ngày 6/6 của Bộ trưởngBộ Công an về việc chấn chỉnh, tăng cường công tác nghiệp vụ cơbản của lực lượng Cảnh sát nhân dân trong tình hình mới
Tác giả: Bộ Công an
Năm: 2003
3. Bộ Công an (2003), Quyết định 360/2003/QĐ-BCA(C11) ngày 6/6 của Bộ trưởng Bộ Công an ban hành Quy định về công tác điều tra cơ bản của lực lượng Cảnh sát nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định 360/2003/QĐ-BCA(C11) ngày 6/6 của Bộtrưởng Bộ Công an ban hành Quy định về công tác điều tra cơ bảncủa lực lượng Cảnh sát nhân dân
Tác giả: Bộ Công an
Năm: 2003
4. Bộ Công an (2003), Quyết định 361/2003/QĐ-BCA(C11) ngày 6/6của Bộ trưởng Bộ Công an ban hành Quy định về công tác sưu tra và Quy định về công tác xác minh hiềm nghi của lực lượng Cảnh sát nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định 361/2003/QĐ-BCA(C11) ngày 6/6của Bộtrưởng Bộ Công an ban hành Quy định về công tác sưu tra và Quyđịnh về công tác xác minh hiềm nghi của lực lượng Cảnh sát nhândân
Tác giả: Bộ Công an
Năm: 2003
5. Bộ Công an (2003), Quyết định 362/2003/QĐ-BCA(C11) ngày 6/6 của Bộ trưởng Bộ Công an ban hành Quy định về công tác đấu tranh chuyên án của lực lượng Cảnh sát nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định 362/2003/QĐ-BCA(C11) ngày 6/6 của Bộtrưởng Bộ Công an ban hành Quy định về công tác đấu tranhchuyên án của lực lượng Cảnh sát nhân dân
Tác giả: Bộ Công an
Năm: 2003
6. Bộ Công an (2003), Quyết định số 363/QĐ-BCA (C11) ngày 06/6 của Bộ trưởng Bộ Công an ban hành các Quy định về công tác xây dựng, sử dụng mạng lưới bí mật của lực lượng Cảnh sát nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 363/QĐ-BCA (C11) ngày 06/6 của Bộtrưởng Bộ Công an ban hành các Quy định về công tác xây dựng, sửdụng mạng lưới bí mật của lực lượng Cảnh sát nhân dân
Tác giả: Bộ Công an
Năm: 2003
7. Bộ Công an (2003), Quyết định 730/2003/QĐ-BCA(C11) ngày 3/10 của Bộ trưởng Bộ Công an về việc ban hành các qui trình điều tra cơ bản;công tác sưu tra; công tác xây dựng, sử dụng đặc tình của lực lượng Cảnh sát nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định 730/2003/QĐ-BCA(C11) ngày 3/10 củaBộ trưởng Bộ Công an về việc ban hành các qui trình điều tra cơ bản;"công tác sưu tra; công tác xây dựng, sử dụng đặc tình của lực lượngCảnh sát nhân dân
Tác giả: Bộ Công an
Năm: 2003
8. Chính phủ (1998), Nghị định 61/1998/NĐ-CP ngày 15/8 về công tác thanh tra, kiểm tra doanh nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định 61/1998/NĐ-CP ngày 15/8 về công tác thanhtra, kiểm tra doanh nghiệp
Tác giả: Chính phủ
Năm: 1998
9. Chính phủ (2003), Nghị định 07/2003/NĐ-CP ngày 30/01 về sửa đổi bổ sung một số điều của của Qui chế quản lý đầu tư và xây dựng cơ bản kèm theo Nghị định 52/1999/NĐ-CP ngày 8/7/1999 và Nghị định 12/2000/NĐ-CP ngày 5/5/2000 của Chính phủ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định 07/2003/NĐ-CP ngày 30/01 về sửa đổi bổsung một số điều của của Qui chế quản lý đầu tư và xây dựng cơ bảnkèm theo Nghị định 52/1999/NĐ-CP ngày 8/7/1999 và Nghị định12/2000/NĐ-CP ngày 5/5/2000 của Chính phủ
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2003
10. Chính phủ (2003), Nghị định 136/2003/NĐ-CP ngày 14/11 về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức của Bộ Công an, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định 136/2003/NĐ-CP ngày 14/11 về chức năng,nhiệm vụ, tổ chức của Bộ Công an
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2003
11. Cục Cảnh sát kinh tế (1999), Thực trạng tham nhũng trong lĩnh vực đầu tư - xây dựng và giải pháp phòng ngừa, đấu tranh, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng tham nhũng trong lĩnh vực đầu tư -xây dựng và giải pháp phòng ngừa, đấu tranh
Tác giả: Cục Cảnh sát kinh tế
Nhà XB: Nxb Công an nhândân
Năm: 1999
12. Cục Cảnh sát kinh tế (2002), Báo cáo tổng kết năm 2002, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết năm 2002
Tác giả: Cục Cảnh sát kinh tế
Năm: 2002
13. Cục Cảnh sát kinh tế (2003), Tổ chức phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm kinh tế, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức phòng ngừa, đấu tranh chống tộiphạm kinh tế
Tác giả: Cục Cảnh sát kinh tế
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
Năm: 2003
14. Cục Cảnh sát kinh tế (2003), Báo cáo tổng kết năm 2003, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết năm 2003
Tác giả: Cục Cảnh sát kinh tế
Năm: 2003
15. Cục Cảnh sát kinh tế (2004), Báo cáo tổng kết năm 2004, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết năm 2004
Tác giả: Cục Cảnh sát kinh tế
Năm: 2004
16. Cục Cảnh sát kinh tế (2005), Báo cáo tổng kết năm 2005, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết năm 2005
Tác giả: Cục Cảnh sát kinh tế
Năm: 2005
19. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lầnthứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2006
20. Nguyễn Phong Hòa (2003), Hoạt động phòng ngừa tội phạm kinh tế của lực lượng Cảnh sát kinh tế, Luận án tiến sĩ luật học, Học viện Cảnh sát nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoạt động phòng ngừa tội phạm kinh tế củalực lượng Cảnh sát kinh tế
Tác giả: Nguyễn Phong Hòa
Năm: 2003
21. Nguyễn Tiến Lực (2006), "Nâng cao hiệu quả công tác nghiệp vụ cơ bản phục vụ phát hiện, điều tra khám phá các vụ án tham nhũng", Công an nhân dân, (9) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao hiệu quả công tác nghiệp vụ cơ bảnphục vụ phát hiện, điều tra khám phá các vụ án tham nhũng
Tác giả: Nguyễn Tiến Lực
Năm: 2006
22. Nguyễn Thiện Phú (2004), Phát hiện, điều tra khám phá tội phạm tham ô trong đầu tư - xây dựng của lực lượng Cảnh sát kinh tế , Luận án tiến sĩ luật học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát hiện, điều tra khám phá tội phạm tham ôtrong đầu tư - xây dựng của lực lượng Cảnh sát kinh tế
Tác giả: Nguyễn Thiện Phú
Năm: 2004

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

SƠ ĐỒ HỆ THỐNG TỔ CHỨC, PHÂN CẤP QUẢN LÝ VÀ CHỈ ĐẠO LỰC LƯỢNG CSĐT TPKT THUỘC BỘ CÔNG AN - luận văn thạc sĩ - THAM NHŨNG TRONG đầu tư xây DỰNG BẰNG NGUỒN vốn NHÀ nước  THỰC TRẠNG và GIẢI PHÁP PHÒNG NGỪA của lực LƯỢNG CẢNH SÁT ĐIỀU TRA TỘI PHẠM VỀ QUẢN LÝ KINH TẾ và CHỨC VỤ
SƠ ĐỒ HỆ THỐNG TỔ CHỨC, PHÂN CẤP QUẢN LÝ VÀ CHỈ ĐẠO LỰC LƯỢNG CSĐT TPKT THUỘC BỘ CÔNG AN (Trang 26)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w