Hội đoàn Công giáo là một trong những hình thức tổ chức tập hợp quần chúng rộng rãi, đa dạng với các tên gọi khác nhau thu hút tín đồ ở mọi lứa tuổi, mọi trình độ tham gia. Giáo dân ai cũng có thể gia nhập vào một hay nhiều hội đoàn thích hợp với mình tùy theo tâm, sinh lý lứa tuổi, giới tính, nghề nghiệp... Việc gia nhập các hội đoàn Công giáo vừa đáp ứng được nhu cầu sống đạo của mỗi tín đồ, vừa thể hiện được sự liên kết, gắn bó cao trong sinh hoạt tôn giáo, phù hợp với phong tục tập quán và nó cũng đáp ứng được với đặc điểm của lễ nghi Công giáo là phải được biểu hiện ra ngoài bằng các hình thức phụng tự khác nhau
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hội đoàn Công giáo là một trong những hình thức tổ chức tập hợpquần chúng rộng rãi, đa dạng với các tên gọi khác nhau thu hút tín đồ ở mọilứa tuổi, mọi trình độ tham gia Giáo dân ai cũng có thể gia nhập vào mộthay nhiều hội đoàn thích hợp với mình tùy theo tâm, sinh lý lứa tuổi, giớitính, nghề nghiệp Việc gia nhập các hội đoàn Công giáo vừa đáp ứngđược nhu cầu sống đạo của mỗi tín đồ, vừa thể hiện được sự liên kết, gắn
bó cao trong sinh hoạt tôn giáo, phù hợp với phong tục tập quán và nó cũngđáp ứng được với đặc điểm của lễ nghi Công giáo là phải được biểu hiện rangoài bằng các hình thức phụng tự khác nhau
Các hội đoàn Công giáo ra đời trên cơ sở những nhu cầu ấy Nhưnghội đoàn là một vấn đề phức tạp trong công tác quản lý của Nhà nước ta đốivới đạo Công giáo; vì ngoài những hội đoàn phục vụ lễ nghi Công giáo,Giáo hội Công giáo còn thành lập nhiều loại hội đoàn với các mục đíchkhác nhau
Trong lịch sử, ngay từ những ngày đầu truyền giáo của các Thừa sai
ở Việt Nam, các hình thức hội đoàn Công giáo sơ khởi đã được thành lập.Sau Công đồng Vatican II, Giáo hội Công giáo đã nâng cao vị trí, vai tròcủa người giáo dân trong Giáo hội, thúc đẩy họ trong các hoạt động truyềngiáo, đặc biệt là truyền giáo tập thể Việc liên kết giáo dân thành các hộiđoàn để hoạt động tông đồ vừa để củng cố đức tin trong cộng đồng người
có đạo, vừa để rao giảng Phúc Âm của Chúa Kitô ra dân ngoại, giúp chothế lực của giáo hội bành trướng, để mở rộng nước Chúa ra toàn thế giới.Với ý nghĩa đó, hàng giáo sĩ Giáo hội Công giáo ở Việt Nam dù khuynhhướng và ý đồ có khác nhau nhưng đều có mục đích là phải phát triển cáchội đoàn để củng cố Đức tin, củng cố giáo quyền và phát triển đạo
Trang 2Thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, hội đoànCông giáo đã bị kẻ thù lợi dụng nghiêm trọng, nó được coi như một công
cụ để chống phá Cách mạng Hiện nay một số hội đoàn Nhà nước ta khôngcho phép thành lập vì các hội đoàn này không phải để phục vụ lễ nghiCông giáo, hoặc hoạt động thuần túy tôn giáo, mà liên quan đến vấn đềchính trị - xã hội, đặc biệt là việc khôi phục lại những hội đoàn chính trịphản động trước kia Việc Giáo hội Công giáo quyết định thành lập các hộiđoàn nói trên là trái với "Luật quy định quyền lập Hội" - ban hành theoLuật số 102/SL/L-004 ngày 20/5/1957 của Chính phủ; trái với điều 8 Nghịđịnh của Chính phủ "Về các hoạt động tôn giáo" số 26/1991/NĐ/CP đã banhành Tuy không có tư cách pháp nhân nhưng các hội đoàn Công giáo liênquan đến chính trị xã hội vẫn hoạt động một cách công khai Đoàn ngũ hóagiáo dân là mục tiêu của Giáo hội Công giáo và việc thành lập các hội đoànCông giáo đã đáp ứng được mục tiêu đó Thực chất đây là vấn đề tranhchấp quần chúng với các đoàn thể xã hội của Giáo hội Công giáo nhằm gắnchặt giáo dân với giáo quyền bằng luật buộc Và như vậy, hội đoàn Cônggiáo dần đã trở thành một trong những yếu tố cấu thành nên cơ cấu hoànchỉnh của giáo hội cơ sở
Vì vậy, việc nghiên cứu các hội đoàn Công giáo mang tính cấpthiết, để giúp chúng ta phân định được nhu cầu chính đáng trong việc sốngđạo của giáo dân, chỉ ra được mặt tích cực của một số hội đoàn Công giáo,giúp cho đồng bào có đạo yên tâm sinh hoạt tôn giáo và tham gia tích cựcvào việc xây dựng cuộc sống cộng đồng, tuân thủ pháp luật, gắn bó với dântộc; đồng thời chỉ ra được thực chất của các hội đoàn hoạt động biểu hiệntỉnh chất chính trị xã hội, liên quan đến chính trị xã hội mà mục đích của nó
là ngăn cản tín đồ Công giáo tham gia vào các tổ chức quần chúng xã hội,gây khó khăn cho công tác vận động quần chúng của Đảng, công tác quản
lý của Nhà nước đối với Giáo hội Công giáo, đặc biệt là giáo hội cơ sở
Trang 3Việc phân định ấy có một ý nghĩa thực tiễn to lớn là giúp cho cấp
ủy, chính quyền các cấp; đặc biệt là cấp ủy và chính quyền cơ sở ở xã,phường, có một cách nhìn đúng đắn, để có những chủ trương, giải phápphù hợp đối với vấn đề hội đoàn Công giáo hiện nay
2 Tình hình nghiên cứu
Đã có những công trình nghiên cứu trên các bình diện khác nhau vềhội đoàn Công giáo của nhiều đoàn thể và tác giả như: Kết quả khảo sát,đánh giá hội đoàn Công giáo của Ban Dân vận Tỉnh ủy Thái Bình phục vụcho việc tổng kết Nghị quyết 24/NQ/BCT của Bộ Chính trị khóa VI "Vềcông tác tôn giáo trong tình hình mới", 1996; Công tác vận động thanh niêncủa Trung ương đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh - Hà Nội 1996,
Dự thảo báo cáo bước đầu tìm hiểu vấn đề hội đoàn Công giáo của BanTôn giáo Chính phủ 1996; thực trạng hội đoàn Thiên Chúa giáo và nhữngvấn đề đặt ra đối với công tác quản lý nhà nước" in trong tập Kỷ yếu Hộithảo khoa học "Tác động của tôn giáo đối với tình hình an ninh trật tự" củaTổng cục An ninh - Viện Nghiên cứu chiến lược và khoa học Công an - HàNội 1999; Công trình của hai tác giả Quang Toàn và Nguyễn Hoài Nhữnghoạt động của bọn phản động đội lốt Thiên Chúa giáo trong thời kỳ khángchiến (1945 - 1954), Nxb Khoa học - 1965 và Lịch sử Công an nhân dânThái Bình (1945 - 1954) - Sở Văn hóa thông tin Thái Bình - Thái Bình2000
Nhưng theo tác giả luận văn này, chưa có một công trình khoa họcnào nghiên cứu một cách có hệ thống về vấn đề hội đoàn Công giáo và ảnhhưởng của nó đối với đời sống đồng bào Công giáo trên địa bàn tỉnh TháiBình từ ngày thành lập giáo phận (1936) đến nay
Việc nghiên cứu về các hội đoàn Công giáo ở tỉnh Thái Bình là cầnthiết để nhận diện các tổ chức quần chúng của giáo dân nhằm phát huy mặttích cực, khắc phục những mặt tiêu cực của các tổ chức này, để vừa giúp
Trang 4cho đồng bào Công giáo sống "tốt đạo, đẹp đời", "kính Chúa yêu nước",cũng vừa để ngăn chặn những hành vi lợi dụng tôn giáo làm phương hạiđến tình hình an ninh chính trị và trật tự xã hội, góp phần chống lại âm mưu
"diễn biến hòa bình" của các thế lực phản động để bảo vệ độc lập, chủquyền và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước ta
3 Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
Mục đích: Phân loại và làm rõ bản chất của các loại hội đoàn Cônggiáo trên địa bàn tỉnh Thái Bình Từ đó đề xuất chủ trương, giải pháp vànhững kiến nghị nhằm để quản lý tốt hơn các hội đoàn Công giáo trongtỉnh
Nhiệm vụ:
- Làm rõ sự ra đời, phát triển và vai trò của các hội đoàn Công giáo
ở tỉnh Thái Bình đặc biệt trong giai đoạn 1945 - 1954 Đồng thời, làm rõ ýnghĩa tôn giáo và xã hội của tổ chức này
- Chỉ ra được các hình thức tổ chức và phương thức hoạt động củahội đoàn Công giáo
- Đề xuất giải pháp và kiến nghị đối với vấn đề hội đoàn Công giáo
ở tỉnh Thái Bình trong giai đoạn hiện nay
Phạm vi nghiên cứu: Tìm hiểu, khảo sát và điều tra nghiên cứu cáchội đoàn Công giáo ở tỉnh Thái Bình
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Thực hiện đề tài này, tác giả dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩaMác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm chỉ đạo của Đảng, Nhànước ta về vấn đề tôn giáo; có kế thừa, chọn lọc một số công trình nghiêncứu của nhiều tác giả có liên quan đến nội dung của luận văn
Tác giả của luận văn vận dụng phương pháp lôgic lịch sử, phân tích
và tổng hợp, điều tra, khảo sát, thống kê và phỏng vấn thực tế tại cơ sở
Trang 5Ngoài ra, còn sử dụng một số kết quả của các tài liệu nghiên cứu từ phươngpháp điều tra xã hội học.
5 Đóng góp mới về khoa học của luận văn
- Góp phần làm rõ thêm cách nhìn nhận đánh giá về hội đoàn Cônggiáo ở Thái Bình
- Đề xuất những kiến nghị, giải pháp về vấn đề hội đoàn Công giáo
6 Ý nghĩa thực tiễn của luận văn
- Làm tài liệu tham khảo cho các cấp ủy, chính quyền địa phươngtrong việc giải quyết các vấn đề tôn giáo liên quan đến hội đoàn Công giáo
- Làm tài liệu tham khảo trong việc nghiên cứu về vấn đề hội đoànCông giáo (đặc biệt là trong phạm vi tỉnh Thái Bình)
- Làm tài liệu tham khảo cho các lớp tập huấn cán bộ cơ sở làmcông tác tôn giáo trong địa bàn tỉnh Thái Bình
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các tài liệu tham khảo vàphần phụ lục, luận văn gồm 2 chương 6 tiết
Trang 6Chương 1
SỰ RA ĐỜI VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CÁC HỘI ĐOÀN CÔNG GIÁO Ở TỈNH THÁI BÌNH
1.1 KHÁI NIỆM VÀ PHÂN LOẠI HỘI ĐOÀN CÔNG GIÁO
1.1.1 Khái niệm về hội đoàn Công giáo
Việc duy danh định nghĩa về hội đoàn Công giáo tất nhiên là cần thiết
và như là điều kiện tiên quyết giúp chúng ta hiểu rõ hơn về những tổ chức mangtính quần chúng của giáo dân trong cơ cấu tổ chức của Giáo hội Công giáo
Song, ngay trong các văn bản của Giáo hội Công giáo, khái niệmnày cũng không đồng nhất về cách gọi hội đoàn Công giáo có một quátrình biến đổi về cách gọi theo thời gian mà Giáo hội Công giáo sử dụng
Trong cuốn Điển ngữ Đức tin Công giáo của Linh mục Hồng Phúc
1996 ghi là: Danh từ hội đoàn có thể hiểu về hai tổ chức trong giáo hội:1) Hội đoàn đạo đức: Hội đoàn quy tụ các thành phần, như thanh niên thiếu
nữ, các người lập gia đình, cha mẹ, để giúp nhau sống đạo đức hay bác ái
Họ là giáo dân, không có lời khấn hứa 2) Tu hội hay dòng tu Tập thể các
tu sĩ nam nữ có lời khấn thường Hoặc cộng đoàn tu sĩ sống chung, chỉ cólời cam đoan hay lời hứa, thường gọi là tu hội đời [22, tr 325]
Trong Bộ giáo luật (GL 1986), ở điều 298 sau khi phân biệt sự khácnhau giữa các Hội dòng tận hiến, các Tu đoàn tông đồ của những tu sĩ, giáo
sĩ (sống tập thể trong các tu viện, có quy chế độc lập hay tương đối độc lập)
ra thì các tổ chức của giáo sĩ hay giáo dân hoặc gồm cả giáo sĩ, giáo dânchung nhau hoạt động được gọi là Hiệp hội" [33, tr 95]
Trong Công đồng Vatican II, ở Chương IV: Các phương thức hoạtđộng tông đồ - Phần nhập đề ghi là: "Giáo dân có thể thực hiện việc tông
Trang 7đồ từng người hoặc liên kết thành cộng đoàn hay gọi là hội đoàn" [34, tr.549].
Như vậy, khái niệm về hội đoàn mà Linh mục Hồng Phúc nêu lêntrong Tự điển Đức tin Công giáo (1996) chỉ đề cập đến các Hiệp hội củagiáo dân chuyên chăm lo về phần tu đức, bác ái chứ không đề cập đến loạiHiệp hội tông đồ giáo dân, và phân định rất rõ các hội đoàn của giáo dân và
tu sĩ; giáo dân không tham gia vào các tu hội hay dòng tu đó là lẽ cố nhiên,nhưng lại chỉ rõ: tu sĩ, giáo sĩ không tham gia vào các hội đoàn của giáodân Điều này khác với điều đã nêu trong giáo luật là giáo sĩ có thể thamgia vào các Hiệp hội của giáo dân; dù họ chỉ là thành viên trong các Hiệphội này Qua ba văn bản trên, ta thấy có hai cách gọi thống nhất về kháiniệm hội đoàn; một cách gọi khái niệm này là hiệp hội, và cũng có nhữngcách phân chia khác nhau Song dù với cách gọi và phân chia như thế nào
đi nữa thì khái niệm hội đoàn Công giáo cũng dùng để chỉ các tổ chức củagiáo dân (có thể có tu sĩ, giáo sĩ tham gia) được thành lập để phục vụ chonhững nhu cầu trần thế của Giáo hội Công giáo
Các sinh hoạt tôn giáo có một đặc điểm là mang tính cộng đồngcao Đặc điểm này được thể hiện rõ nét hơn, sâu đậm hơn và liên tục hơntrong các nghi lễ phụng vụ của đạo Công giáo Kinh Tân ước ghi rõ, việc
"Cầu nguyện chung" đem lại những ân sủng to lớn mà người giáo dân cóđược "Nếu có hai người trong anh em hợp ý với nhau mà xin bất cứ sự gì,thì cha ta ở trên trời sẽ ban cho họ", "Vì ở đâu có hai hoặc ba người hội họpnhân danh Ta, thì ta ở giữa họ [12, tr 62]
Nhờ cầu nguyện, thông qua cầu nguyện, và đặc biệt nhờ vào việccầu nguyện tập thể, người giáo dân tin là sẽ được trực tiếp thông công vớiThiên Chúa của họ, họ phó thác đời sống của mình trong lời cầu xin đểThiên Chúa thương xót và ban ơn cho họ; cũng nhờ cầu nguyện, đức tin,
Trang 8đức cậy, đức mến được biểu lộ, được tỏ rõ, được củng cố Bởi vì cầunguyện là một hình thức phụng tự trong nghi lễ Công giáo "cho người tínhữu sống trung thành với điều họ đã lĩnh nhận nhờ đức tin" [34, tr 72].Chúng ta có thể coi đây là một hình thức tông đồ đối nội - là hoạt độngtrong các cộng đồng giáo dân nhằm củng cố đức tin, tránh khô nhạt đạo "rời
Ngoài việc đề cao các lễ nghi phụng tự ra, Giáo hội Công giáo còn chỉrõ: "Phụng vụ không phải là hoạt động duy nhất của giáo hội" [34, tr 70],bởi vì việc cầu nguyện dù của cá nhân hay tập thể cũng chỉ là biểu hiện củangười đã chịu phép rửa tội, là việc củng cố đức tin của người có đạo; cònmột sứ mệnh lớn lao nữa mà mỗi một tín đồ Công giáo phải thực hiện đó làviệc truyền đạo (truyền bá Phúc Âm) Theo họ thì con người cần được mờigọi để tin và hoán cải trước khi có thể đến tham gia phụng vụ: "Làm sao kêuđấng họ không tin? Làm sao tin đấng họ không được nghe? Làm sao ngheđược nếu không có người rao giảng? Làm sao rao giảng nếu không đượcsai đi?" [34, tr 70-71] Do vậy khi đã chịu phép rửa tội để trở thành một tín
đồ Công giáo "Mọi người giáo dân, dù thuộc thành phần nào đi nữa, dùkhông có cơ hội hay khả năng để cộng tác trong các hội đoàn đều được kêugọi và hơn nữa phải làm việc tông đồ cá nhân" [34, tr 550], giáo hội cũngchỉ rõ việc tông đồ cá nhân có môi trường hoạt động đặc biệt trong nhữngmiền người Công giáo ít ỏi và tản mác thì hiệu quả sẽ rất thấp
Như vậy, mỗi một tín đồ Công giáo đều phải thực hiện hai nhiệm vụ:
Trang 91- Tham dự các lễ nghi phụng tự
2- Tham gia vào hoạt động truyền giáo
Việc tham dự các lễ nghi mang tính tập thể sẽ nảy sinh ra một nhucầu, đó là sự liên kết thành những nhóm, những hội mang tính quần chúngtrong phụng vụ cũng như trong hoạt động truyền giáo, và với một ý thứccộng đồng sâu đậm của người Việt Nam: "một cây làm chẳng nên non" thìviệc hình thành các hội, nhóm sẽ là điều tất yếu xảy ra trong sinh hoạt tôngiáo của người giáo dân
Hội đoàn Công giáo ở Việt Nam ra đời trên cơ sở đó, để vừa đápứng được đặc điểm lễ nghi Công giáo, vừa thỏa mãn được nhu cầu truyềngiáo và cũng vừa phù hợp với tâm thức cố kết cộng đồng của người Việttrong các sinh hoạt tôn giáo của giáo dân
Từ Hội được sử dụng ngay từ thời Alexandre de Rhodes, khi vịthừa sai này lập ra "Hội thầy giảng" đầu thế kỷ XVII (1929?) để tập hợpnhững người bản xứ giúp các giáo sĩ phương Tây trong việc "truyền báPhúc Âm", và làm các việc thay cho các vị thừa sai trong những "hoàncảnh đặc biệt" Alexandre de Rhodes viết: "Khi tôi ngồi tòa thì các thầygiảng làm phận sự dạy người tân tòng" [23, tr 78] Để trở thành thầy giảng
và gia nhập "Hội thầy giảng" thì phải tuyên khấn các điều sau đây: "Suốtđời thờ phụng giáo hội, không lập gia đình và vâng lời các cha dòng đếngiảng Phúc Âm" [23, tr 78] Hội thầy giảng được thành lập ra để hoạt độngtông đồ tập thể, và hiệu quả của việc tông đồ tập thể này được Alexandre
de Rhodes đánh giá rất cao: "Các thầy giảng đã giúp tôi cách rất lạ lùng đểvun trồng vườn nho tốt đẹp ấy và phát triển đạo thánh của chúng ta SauThiên Chúa họ đã làm hết mọi việc trong sự tiến triển giáo hội ở đây Tôithấy chỉ mình tôi là Linh mục biết giảng được, vì cha theo tôi không nóiđược tiếng bản xứ, cho nên tôi đã lo liệu tìm kiếm những người giáo hữu
Trang 10chưa kết bạn, sốt sắng và đạo đức, để giúp tôi khuyên giục người ta trở lại"[21, tr 10].
Như vậy, đây là lần đầu tiên ở Việt Nam xuất hiện hình thức tậphợp các thầy giảng thành một tổ chức dưới sự chỉ đạo của giáo quyền vàtuyên hứa những điều buộc theo giáo quyền để truyền đạo tập thể - tức làhoạt động tông đồ tập thể bằng hình thức hội đoàn của các tu sĩ người bảnxứ
Kế tiếp việc làm của Alexandre de Rhodes, các thừa sai dòng Têncũng thành lập ra một hội đoàn khác: đó là "Đạo binh nhi đồng" - Đây làloại hình hội đoàn của giáo dân lần đầu tiên xuất hiện ở Việt Nam đượcthành lập dưới sự hướng dẫn của giáo quyền Đến đầu thế kỷ XX xuất hiệnthêm một số hội đoàn như "Nghĩa binh thánh thể" (1915), "Hướng đạoCông giáo" (1916), "Hội bác ái Vinh Sơn Phaolô" (1933) [25, tr 344] Riêng
ở địa phận Bùi Chu, vào năm 1923 đã xuất hiện các hội đoàn Công giáothuộc phong trào Công giáo tiến hành Như vậy từ thế kỷ XVII đến đầu thế
kỷ XX các hội đoàn Công giáo ở Việt Nam đã hình thành và phát triển
Đến giai đoạn 1914 - 1939, thời kỳ đương nhiệm của Giáo hoàngPio XI, một phong trào hội đoàn mới được tổ chức chặt chẽ với tên gọi làCông giáo tiến hành Phong trào này được phát động với quy mô toàn cầu
Lý giải việc phát động phong trào Công giáo tiến hành, Giáo hoàng Pio XInêu rõ: "Hoàn cảnh vạch rõ cho chúng ta con đường phải tiến bước cũngnhư những thời kỳ đầu trong lịch sử giáo hội, ngày nay chúng ta phải đốiphó với một thế giới hầu như đã chìm đắm trong làn sóng vô đạo Cónhững lớp người đã từ bỏ Chúa Kitô" [21, tr 72]
Công giáo tiến hành: "Theo nghĩa đen, tiếng actiô catholien dịch làhành động Công giáo thì đúng, vì chỉ tất cả các hoạt động theo nguyên tắcCông giáo của người Công giáo, như đọc kinh, xem lễ, thăm viếng kẻ liệt,
Trang 11giúp đỡ người nghèo v.v , còn theo nghĩa hẹp thì Công giáo tiến hành cònphải nhằm mục đích truyền giáo, là làm cho nước Chúa lan rộng trên thếgian và thấm nhập vào mọi tâm hồn" [21, tr 28].
Giáo hoàng Pio XI định nghĩa về Công giáo tiến hành như sau:
"Công giáo tiến hành là sự tham dự của giáo dân vào việc tông đồ của hànggiáo phẩm" [21, tr 62]
Thời kỳ Giáo hoàng Pio XII định nghĩa Công giáo tiến hành vẫnđược giữ nguyên, nhưng được làm rõ thêm với phần bổ sung sau đây: "Tất
cả các giáo hữu đã chịu phép rửa tội phải làm tông đồ, còn các chiến sĩCông giáo tiến hành lại là những tông đồ đặc biệt vì họ cộng tác chặt chẽvới Đức Giám mục và Linh mục trong việc tông đồ" [21, tr 23] Như vậy,hội đoàn Công giáo không đồng nhất với Công giáo tiến hành, chỉ nhữnghội đoàn Công giáo mang tính chất truyền giáo mới tham gia Công giáotiến hành; hay nói rõ hơn, những hội đoàn Công giáo được thành lập vớimục đích phát triển đạo ra "dân ngoại", bất kể quy mô tổ chức như thế nào:với quy mô quốc tế, quốc gia, giáo phận hay giáo xứ dưới sự chỉ đạo củahàng giáo phẩm thì được gọi là Công giáo tiến hành Hội đoàn Công giáo
dù là những tổ chức của giáo dân, nhiều khi được thành lập một cách tựphát do nhu cầu sống đạo - cũng có thể hoạt động theo mùa vụ; hoặc đượcthành lập một cách tự giác do lệnh của giáo quyền với việc tổ chức chặt chẽ
và phương thức hoạt động cụ thể, tất cả cũng đều phải được giáo quyềncông nhận; và những hội đoàn do hàng giáo phẩm có thẩm quyền cấp nàothành lập thì việc giải tán nó là do cấp có thẩm quyền đó quyết định
"Các hội đoàn Công giáo phải đảm bảo được bốn đặc tính sau đây:1) Mục đích rao giảng Phúc Âm và thánh hóa mọi người
2) Phải cộng tác với hàng giáo phẩm nhưng vẫn chịu trách nhiệm riêng.3) Hoạt động của các hội đoàn phải có tính cộng đoàn
Trang 124) Hoạt động của giáo dân phải tùy thuộc vào hướng dẫn của hànggiáo phẩm" [34, tr 533].
Mục đích của giáo hội khi thành lập các hội đoàn Công giáo có thểnói gọn trong một câu: Đó là sự truyền giáo Khi quyết định phát độngphong trào Công giáo tiến hành, Giáo hoàng Pio XI đã nói rõ mục đíchnày: "Giữa các hội đoàn và Công giáo tiến hành sẽ có sự điều hòa thân mật,
sự phối trí chặt chẽ thông cảm lẫn nhau Công giáo tiến hành được tổ chứckhôn khéo như thế sẽ biến thành đạo binh hòa bình, sẽ giao phong những
"trận thánh chiến" bảo vệ và tiến triển nước Chúa Kitô" [21, tr 70]
Công đồng Vantican II trong "Sắc lệnh truyền giáo" cũng đề cao, nhấnmạnh và đi sâu vào tính chất cốt yếu của giáo hội là truyền giáo do ý thức củaChúa Kitô là muốn cho mọi người được rỗi Sắc lệnh nghiên cứu việctruyền giáo phải đem đến kết quả là thành lập các giáo đoàn mới, vạch ranhững nét chính của hoạt động truyền giáo và sự công tác của toàn thể giáohội Và Công đồng cũng chỉ ra mục tiêu rất cụ thể sau: "Với bổn phận phảibành trướng khắp thế giới, giáo hội đi sâu vào lịch sử nhân loại Tuy nhiêngiáo hội đồng thời cũng vượt thời gian và biên giới các dân tộc" [34, tr.160]
Với bổn phận như thế, giáo hội La Mã thông qua việc bành trướngnày để thâu lượm tất cả: "Người ở Roma biết dân Ấn Độ là chi thể mình Giáo hội cổ võ và thu dụng tất cả những gì tốt lành nơi tài sản, nguồn lực
và phong hóa của các dân tộc, và khi thu dụng, giáo hội tinh luyện, kiệntoàn và thăng hóa chúng Thực vậy, giáo hội nhớ rằng mình phải kết hợpvới vị vua là đấng đã lãnh nhận các dân nước làm gia nghiệp của mình, vàcác dân nước mang đến thành đô Người của lễ và tặng vật" [34, tr 166]
Ngày nay giáo hội đã nhìn nhận, đánh giá cao vai trò tông đồ củagiáo dân: "Việc tông đồ này càng trở nên khẩn trương hơn vì sự biệt lậptrên nhiều phương diện của cuộc sống con người như thường thấy, càng gia
Trang 13tăng, đôi khi gây nên một sự tách biệt với trật tự luân lý và tôn giáo, cũngnhư tạo ra một sự nguy hiểm trầm trọng cho đời sống Kitô giáo Hơn nữatrong những miền thiếu linh mục, hay các ngài không được tự do thi hànhchức vụ thì giáo hội khó có thể hiện diện và hoạt động hữu hiệu nếu khôngnhờ giáo dân cộng tác" [34, tr 258].
Chính vì những lý do ấy, vai trò của người giáo dân được đề cao:
"họ được tham dự theo cách thế riêng vào chức vụ tư tế, sứ ngôn và vươnggiả của đức Kitô" [33, tr 204], và vì thế, họ có một bổn phận là hoạt động
để mọi người trên khắp hoàn cầu nhận biết và đón nhận Phúc Âm cứu độ,
họ có điều kiện "canh tân" trật tự trần thế hơn so với hàng giáo phẩm, vìlực lượng của họ hùng hậu và sống giữa thế gian
Tất cả những điều trên đây được các nhà thần học Kitô và nhữngngười lãnh đạo giáo hội nêu lên để nói lên tầm quan trọng của việc tông đồgiáo dân trong thế giới hiện đại, đó là căn nguyên, là cội nguồn thúc đẩy sự
ra đời của hàng loạt những hội đoàn Công giáo
Và như vậy, chúng ta có thể hiểu hội đoàn Công giáo là hình thứcliên kết giáo dân trong một tổ chức được hình thành một cách tự phát hay
tự giác theo một quy chế nhất định, phải được sự công nhận của giáoquyền, mọi hoạt động của nó phải tuân thủ những điều buộc mà giáo quyềnquy định, phải có mối liên hệ với hàng giáo phẩm để thực hiện mục đíchtông đồ tập thể của giáo dân
1.1.2 Phân loại hội đoàn Công giáo
Phân loại theo giáo luật: Bộ giáo luật Công giáo (GL 1986), sau khithừa nhận quyền lập các Hiệp hội của giáo dân, đã phân chia các loại Hiệphội này ra làm hai loại căn cứ vào các nguyên tắc tổ chức của nó
1) Hiệp hội công: là hiệp hội do nhà chức trách có thẩm quyền của
giáo hội thành lập ra, giáo dân có thể tự nguyện tham gia vào tổ chức Hiệp
Trang 14hội để trở thành hội viên của Hiệp hội Các Hiệp hội công thường có mộtquy mô lớn, vì giáo luật (GL - 1986) ở điều 312 ghi rõ: Nhà chức trách cóthẩm quyền của giáo hội là:
- Tòa thánh với các Hiệp hội quốc tế
- Hội đồng Giám mục với các Hiệp hội quốc gia
- Giám mục giáo phận với các Hiệp hội trong giáo phận" [7, tr 99].Các Giám quản không có thẩm quyền của nhà chức trách để raquyết định thành lập các Hiệp hội giáo dân, bởi vì Giám quản không phải làGiám mục bản quyền cai quản địa phận mà chỉ là người được giao phó caiquản phần đất với tư cách là đại diện của Tòa thánh mà thôi
2) Hiệp hội tư: là Hiệp hội do giáo dân thành lập ra qua một hiệp
đồng tư riêng giữa họ với nhau, họ điều khiển và quản trị các Hiệp hội củamình theo các quy định của nội quy được giáo quyền phê chuẩn Sau khiđược sự phê chuẩn của giáo quyền thì Hiệp hội tư có đủ tư cách pháp nhânđược định rõ trong Giáo luật ở điều 332: "Một Hiệp hội tư có thể thủ đắc tưcách pháp nhân do một nghị định minh quyết của giáo quyền " [33 tr 103]
Các Hiệp hội tư có thể tự giải tán hoặc có thể bị giải tán theo quyếtđịnh của giáo quyền một khi không còn lợi ích, hoặc giữ lại những phươngthế đã lỗi thời Tuy nhiên giáo hội cũng khuyên giáo dân nên ghi tên vàonhững Hiệp hội nào đã được nhà chức trách có thẩm quyền trong giáo hộithành lập, ban khen hoặc giới thiệu
Cách phân chia của Giáo luật là căn cứ hình thức tổ chức của cácHiệp hội, Công đồng Vatican II lại căn cứ vào mục đích hoạt động của cáchội đoàn để phân định: "Có nhiều hội đoàn tông đồ khác nhau Có nhữnghội đoàn nhằm mục đích tông đồ phổ quát của giáo hội Có những hội đoànnhằm mục đích loan báo Phúc Âm và thánh hóa bằng phương thức chuyên
Trang 15biệt Có những hội đoàn nhằm mục đích Kitô hóa trật tự trần thế Có nhữnghội đoàn nhằm làm chứng cho Chúa Kitô đặc biệt bằng việc từ thiện bácái Các hội đoàn chỉ có giá trị tông đồ nhờ ở chỗ phù hợp với các mục tiêucủa giáo hội, ở từng hội viên hay cả hội đoàn có tinh thần Phúc Âm và làmchứng cho Chúa Kitô" [34, tr 533].
Các hội đoàn Công giáo được thành lập là để thực hiện mục đíchtông đồ giáo dân Hoạt động tông đồ tập thể của giáo dân có thể phân ralàm hai loại sau:
1) Hoạt động tông đồ đối nội: là những hoạt động nhằm thực hiệnviệc củng cố đức tin trong nội bộ những cộng đoàn giáo dân, để ngăn trởviệc khô nhạt đạo, bỏ đạo, tức là từ bỏ Chúa Kitô Ngoài ra, để phục vụ choviệc phụng tự tập thể hay chiêm niệm, việc thành lập các hội đoàn phục vụ
lễ nghi, cầu nguyện để đào sâu mầu nhiệm cứu độ của Chúa Giêsu Kitô, đểtăng lòng sùng kính, để sốt sắng hơn trong việc sống đạo; những hội đoànnhư: Dòng Ba Đaminh, Hội gia đình phạt tạ, Tràng hạt Mân Côi, Hội áoĐức Mẹ, còn Ca đoàn, Hội trống, Hội trắc, Hội kèn, Phường bát âm được
tổ chức là để phục vụ lễ nghi Công giáo, hiệp lễ cùng với hàng giáo sĩ trongcác thánh lễ ở nhà thờ, và còn có những hội đoàn làm các công việc từthiện bác ái trong các cộng đồng giáo dân và đối với cả "dân ngoại" nữa
2) Tông đồ đối ngoại: Những hội đoàn này được thành lập để hoạtđộng truyền giáo ra dân ngoại, thực hiện sứ mệnh bành trướng của giáohội, giúp cho giáo hội chu toàn sứ mệnh đối với trần gian theo mệnh lệnhcủa Chúa Giêsu Kitô
Ở Việt Nam các hội đoàn Công giáo ra đời từ rất sớm (thế kỷXVII) nhưng chưa trở thành một phong trào Đầu thế kỷ XX, khi Giáohoàng Pio XI phát động phong trào Công giáo tiến hành, thì các hội đoànCông giáo ở Việt Nam phát triển rất nhanh và: "Cũng thấy chớm nở ngànhchuyên biệt, có lẽ Thanh lao công (Thanh niên lao động Công giáo) được
Trang 16công khai xuất hiện trước hết, trên đất Bảy mẫu thành Nam (Nam Định)?Ngày lễ Chúa Giêsu năm 1936 (23/11) hơn 5 ngàn thanh niên lao độngCông giáo đã lớn tiếng hoan hô Chúa Giêsu hiển trị và thề hứa trung thànhlàm tông đồ cho nước Chúa" [21, tr 26].
Năm 1945, các "Liên đoàn Công giáo" được thành lập, và các tổchức này đã công khai chống lại Việt Minh, chống lại Chính phủ khángchiến Đây là hội đoàn Công giáo liên quan đến chính trị phản động
Ngày 5-11-1957, Bộ Truyền giáo Vatican trao cho Giám mục PhạmNgọc Chi phụ trách tổ chức Công giáo tiến hành tại Việt Nam, trụ sở của tổchức này đặt tại Sài Gòn ngày 11-8-1957 [21, tr 27]
Như vậy chỉ có những hội đoàn này mang tính chất truyền giáo mớitham gia Công giáo tiến hành, còn những hội đoàn khác nhằm mục đíchhuấn luyện đường tu đức hoặc thực hiện bác ái, phục vụ lễ nghi Công giáothì không thuộc phong trào này Điều này giúp ta phân định rõ: hội đoànCông giáo không phải là Công giáo tiến hành, mà Công giáo tiến hành chỉ
là những Hội đoàn đặc biệt của hội đoàn Công giáo mà thôi
Giáo hội Công giáo phân loại các hội đoàn khi thì căn cứ vào hìnhthức tổ chức, khi thì căn cứ vào mục đích hoạt động, nhưng nhìn chungcách phân chia nào cũng chỉ mang tính tương đối Vì thật ra, các hội đoànCông giáo được thành lập là để củng cố đức tin và phát triển đạo, tức là đểthực hiện tông đồ giáo dân: tông đồ đối nội cũng như đối ngoại
Trong hoàn cảnh lịch sử cụ thể ở Việt Nam, quá trình truyền giáoluôn gắn liền với chính trị, giáo hội luôn cấu kết với thế lực thực dân xâmlược, cho nên việc hình thành và phát triển của các hội đoàn Công giáo rấtphức tạp
Buổi đầu, các hội đoàn Công giáo ở Việt Nam được thành lậpkhông phải vì mục đích chính trị mà nó chỉ mang tính chất tôn giáo thuần
Trang 17túy như Hội thầy giảng của Alexandre de Rhodes hay Hội "Đạo binh nhiđồng" của các thừa sai dòng Tên lập ra hồi đầu thế kỷ XVII Nhưng đếnđầu thế kỷ XX, đặc biệt dưới thời Giáo hoàng Pio XI (1914 - 1939) vàPioXII (1939 - 1958) thì các hội đoàn Công giáo ở Việt Nam đã phát triểntăng nhanh về số lượng Nhưng vì mục đích chính trị, một số người lãnhđạo trong giáo hội Công giáo lúc bấy giờ đã hướng hoạt động của một sốhội đoàn chống phá cách mạng, phản bội dân tộc.
Năm 1954, Hiệp định Gieneve được ký kết, sau cuộc di cư ồ ạt củagiáo sĩ và giáo dân miền Bắc vào Nam, thì ở miền Bắc, các hội đoàn gắnvới chính trị phản động tan rã, các hội đoàn khác gần như tê liệt không hoạtđộng trừ số ít các hội đoàn phục vụ lễ nghi và cầu nguyện Nhưng ở miềnNam, các hội đoàn Công giáo vẫn tồn tại và phát triển với mục đích rõ ràng
là nhằm biến Công giáo thành quốc đạo Nhưng dù ở miền Bắc hay miềnNam, thì Giáo hội Công giáo vẫn là một thể thống nhất trên cơ sở đặc tính
"duy nhất" của giáo hội La Mã, các hội đoàn vì thế vẫn tồn tại âm thầmhoặc công khai với mục đích không thay đổi của nó là nhằm củng cố đức tin
và phát triển đạo; tuy mức độ biểu hiện ở hai miền Nam Bắc có khác nhau
Năm 1975, cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân ta kết thúc thắnglợi, đất nước thống nhất, giang sơn thu về một mối, nhân dân ta đượchưởng một cuộc sống hòa bình, các giáo đoàn miền Nam và miền Bắc đượcnối lại mối quan hệ bị chia cắt lâu nay do hoàn cảnh chiến tranh (1954 -1975)
Năm 1980, Đại hội Giám mục Việt Nam lần đầu tiên họp tại Thủ đô
Hà Nội ra Thư chung khẳng định đường hướng phục vụ: "Sống Phúc Âmtrong lòng dân tộc để phục vụ hạnh phúc đồng bào" [17] Công giáo và dântộc bắt đầu có điểm tương đồng trên cơ sở xây dựng một nước Việt Namhòa bình, thống nhất, độc lập dân chủ và giàu mạnh
Trang 18Với chính sách tôn trọng tự do tín ngưỡng, tôn giáo của Đảng vàNhà nước ta, đồng bào Công giáo đã yên tâm, tin tưởng trong việc sốngđạo, sống đời, đồng bào hiểu rõ hơn ai hết: Nước có vinh đạo mới sáng, cácnếp sinh hoạt tôn giáo truyền thống xưa được khôi phục và phát triển -trong đó có vấn đề hội đoàn.
Chính việc khôi phục và phát triển các hội đoàn Công giáo đã phátsinh những vấn đề phức tạp; các hội đoàn phục vụ lễ nghi, cầu nguyện pháttriển bình thường, nhưng việc khôi phục lại các hội đoàn có tiền sử chốngphá cách mạng với các danh xưng khác nhau hoạt động một cách công khai,bất hợp pháp không có tư cách pháp nhân trái với quy định việc thành lậpHội của Nhà nước ta, gây ra nhiều khó khăn trong công tác vận động quầnchúng của Đảng và công tác quản lý các hoạt động tôn giáo của Nhà nước
Việc phân loại các hội đoàn Công giáo để phân định các hội đoànCông giáo có biểu hiện phi tôn giáo gắn với chính trị phản động và nhữnghội đoàn phục vụ lễ nghi Công giáo, hoạt động từ thiện, bác ái, cầu nguyện
là một việc làm cần thiết để giúp cho đồng bào Công giáo có quyền sốngđạo, thực hiện được đức công bình bác ái của Chúa Kitô, đồng thời cũng đểngăn chặn việc lợi dụng tôn giáo làm mất ổn định chính trị xã hội, làmphương hại đến độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của ta
Dựa trên những nguyên tắc đó chúng tôi phân chia các loại hội đoànCông giáo như sau:
1) Các loại hội đoàn thuần túy tôn giáo
1) Các loại hội đoàn liên quan đến chính trị - xã hội
1.2 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CÁC HỘI ĐOÀN CÔNG GIÁO Ở TỈNH THÁI BÌNH
1.2.1 Vài nét về lịch sử Giáo phận Thái Bình
Trang 19Đạo Công giáo được các giáo sĩ dòng Đa Minh (Domonico) TâyBan Nha truyền vào Thái Bình từ đầu thế kỷ XVII (1633) [32, tr 10].Trước năm 1936, Địa hạt Thái Bình thuộc Địa phận Trung (gồm Thái Bình
và Bùi Chu), đến 9/3/1936, Giáo hoàng Pio XI ra sắc chỉ Praecipnas InterApostocas tách địa hạt Thái Bình ra khỏi Địa phận Bùi Chu để thành lập raĐịa phận Thái Bình Sắc chỉ nêu rõ: "Nay quyết định chia Giáo phận BùiChu, lấy một phần lãnh thổ gồm tỉnh Thái Bình và Hưng Yên để thành lậpgiáo phận mới, mang tên thị xã đầu tỉnh Thái Bình, gọi là Giáo phận TháiBình Giáo phận mới này, chiếu theo văn thư đây, ta ủy thác cho dòngthuyết giáo mà các vị thừa sai đã dày công mở đạo ở Bùi Chu lâu đời bền
bỉ, tạo nên sự hưng thịnh ngày nay " [25, tr 175]
Theo tài liệu của Giáo hội Công giáo, vào năm 1936 Địa phận TháiBình rộng 2.220,7 km2 (gồm tỉnh Thái Bình và Hưng Yên) 1.700.000 dân,130.000 giáo dân (8%), 73 linh mục dòng, triều; 250 thầy giảng, 300 nữ tu,
380 nhà thờ lớn nhỏ được chia thành 9 hạt gồm 49 xứ [29] Giáo phận TháiBình được đặt dưới sự coi sóc của Đại diện Tông tòa Joan Casado Obispo(người Tây Ban Nha, có tên Việt là Thuận) Linh mục Thuận được tấnphong giám mục ngày 2/8/1936 tại nhà thờ chính tòa Thái Bình Khi nhậnnhiệm sở, Giám mục Thuận bắt đầu tiến hành xây dựng cơ sở vật chất củagiáo phận gồm: Tòa Giám mục (đặt tại thị xã Thái Bình), Tiểu chủng viện
Mỹ Đức, khu nhà dòng Đa Minh (dòng Nam), lập Đa Minh ấn quán Trong dịp đi chầu Giáo Hoàng, Giám mục Thuận về thăm lại cố hương vàmắc bệnh chết ngày 22/1/1941 tại Tây Ban Nha Sau khi Giám mục Thuậnchết, linh mục Santos Ubierna (cũng là người Tây Ban Nha có tên Việt làNinh) trở thành người kế vị Linh mục Ninh được tấn phong Giám mụcngày 21/9/1942 tại Thái Bình Năm 1954, Giám mục Ninh đưa hầu hết sốlinh mục, nam nữ tu sĩ cùng nửa số giáo dân Địa phận Thái Bình di cư vàoNam Vì cuộc di cư này, nhiều cơ sở của giáo hội không thể hoạt động,
Trang 20không được coi sóc vì thiếu nhân sự Từ 1954 Giáo phận Thái Bình chialàm hai khu vực:
1) Khu vực Giáo phận Thái Bình (giáo đoàn miền Bắc của giáophận, còn được gọi là "giáo phận Mẹ") được đặt dưới sự quản lý của Linhmục Tổng tá Đinh Đức Trụ với chức danh Giám quản Tông tòa từ 1954đến 1960 Tháng 6 năm 1960 Linh mục Trụ được tấn phong lên hàng giámmục và trở thành vị giám mục người Việt đầu tiên cai quản Địa phận TháiBình
2) Khu vực miền Nam của Giáo phận Thái Bình di cư (giáo đoànmiền Nam) do Giám mục Ninh cai quản Trụ sở của giáo đoàn miền NamGiáo phận Thái Bình "đặt tại đường Nguyễn Văn Lạc, Thị Nghè" [21, tr.436] Ngày 15/4/1955 Giám mục Ninh chết, từ đó giáo đoàn miền Nam củađịa phận có các linh mục sau đây được đặt làm đại diện: Vũ Bội Quỳnh, CaoXuân Tuế, Trần Ngọc Trác, Phạm Chí Thiện, Trần Lê Vinh, Nguyễn ThanhBình và "Mọi liên kết giữa các linh mục, tu sĩ, chủng sinh, giáo dân gốc TháiBình (tản mạn khắp miền Nam) đều do Ban Đại diện điều hành" [32, tr.234] Giai đoạn từ 1954 đến 1975, hai khu vực Bắc và Nam của Địa phậnThái Bình bị chia cắt do hoàn cảnh chiến tranh nhưng giáo đoàn phía Nam
"vẫn luôn hướng về đất mẹ Thái Bình" bằng những mối liên hệ theo cáchriêng "Thời kỳ này, qua các lá thư, bưu thiếp hai miền Nam Bắc vẫn cốgắng liên lạc, để cảm thông và nâng đỡ nhau trong kinh nguyện và hy sinh"[32, tr 14]
Từ ngày thành lập, Địa phận Thái Bình được đặt dưới sự coi sóccủa các Giám mục và Hồng y sau:
1) Giám mục Thuận (1936 - 1941)
Trang 212) Giám mục Ninh (1942 - 1954, không tính thời gian di cư theogiáo đoàn miền Nam).
3) Giám mục Đinh Đức Trụ (1954 - 1960, linh mục Giám quản,
1960 - 1982 Giám mục Chính tòa)
4) Giám mục Đinh Bỉnh (1982 - 1989)
5) Hồng y Trịnh Văn Căn Giám quản tông tòa (1989 - 1990)
6) Giám mục Nguyễn Văn Sang (từ 1990 đến nay)
- Con số thống kê hiện nay của Giáo phận:
Diện tích: 2.220,7 km2
Dân số chung: 2.800.000 người
Dân số Công giáo: 120.000 người [38, tr 241]
Đơn vị hành chính đạo có: 68 giáo xứ
Giáo sĩ: 1 Giám mục, 31 linh mục
Riêng trên địa bàn tỉnh Thái Bình có: gần 10.000 giáo dân (95.853)chiếm 5,6% dân số toàn tỉnh
Cơ sở thờ tự: 318 nhà thờ (48 xứ, 269 họ lẻ), 13 nhà phước, 207nhà phòng, 2 nhà thương [29]
1.2.2 Quá trình hình thành và phát triển của các hội đoàn Công giáo ở tỉnh Thái Bình
Bối cảnh chung về đời sống đạo của người Công giáo Thái Bình trước năm 1945
Đời sống của người Công giáo Thái Bình được đặt trong một bốicảnh chung bị chi phối bởi hoàn cảnh lịch sử của đất nước; đặc biệt, nó có
sự biến động lớn kể từ khi các phong trào đấu tranh yêu nước giành độc lập
Trang 22dân tộc của nhân dân ta phát triển mạnh mẽ dưới sự lãnh đạo của ĐảngCộng sản Đông Dương.
Theo tác giả Đỗ Quang Hưng thì: "Vì nhiều lý do khác nhau trongquá khứ, đạo Thiên Chúa được xem như một thế lực không dành nhiều tìnhcảm lắm cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, nhất là sự nghiệp giải phóngdân tộc do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo nhằm xây dựng một xã hộitheo những tiêu chuẩn xa lạ với giáo lý mà giáo hội vẫn đinh ninh" [43, tr.228]
Và, không ai có thể phủ nhận một sự thật lịch sử là việc truyền giáoluôn đi liền với phong trào thực dân chứ không phải do một sự tình cờ đauđớn mà Giáo hội Công giáo gặp phải trong quá trình truyền giáo ở ViệtNam Có thể nêu lên mối tương quan mật thiết giữa công cuộc truyền giáocủa giáo hội và chủ nghĩa thực dân trong bức thư của Lêvecque - quyềnKhâm sứ tại Trung Kỳ gửi toàn quyền Beau, Huế, ngày 31 tháng 8 năm
1906, để minh định điều này: "Hội thừa sai hải ngoại mặc dầu đã xuất hiện
ở Đông Dương từ lâu, nhưng chỉ mới hoạt động có hiệu quả từ khi cuộcchinh phục của Pháp khởi sự Ảnh hưởng chính trị mà các thừa sai coi như
đã thừa hưởng từ khi cuộc chiếm đóng của chúng ta bắt đầu, đã góp cho họphát triển và bắt rễ được trong xứ sở này Vì chính do việc phát triển củacải vật chất xung quanh họ, nhờ tất cả sự bảo vệ đặc biệt họ được hưởng,
họ đã tăng cường thêm ảnh hưởng" [37, tr 429]
Vậy là, nhờ vào thanh gươm của nước Pháp, việc truyền giáo trởnên hiệu quả hơn, nhưng không phải chỉ có giáo hội mới có lợi trong mốiquan hệ này, mà đạo quân viễn chinh xâm lược Pháp cũng phải dựa vào cácthừa sai Công giáo để biện minh cho mục đích xâm lược: "Ta cần thấy rõbản chất thật sự của sự cấu kết giữa Hội truyền giáo hải ngoại và chínhquyền thực dân Pháp, sự cấu kết đó dựa trên căn bản hỗ tương quyền lợi và
Trang 23phân quân trách nhiệm: Thực dân Pháp phải nấp đằng sau những chiếc áochùng thâm mới có được chính nghĩa "nhiệm vụ khai hóa" (missiocivilisatrice); Các tu sĩ Thiên Chúa giáo phải được che chở bằng súng đạncủa bộ máy xâm lược mới bình định được các cuộc chống ngoại xâm bản
xứ để rao truyền đức tin của Chúa Kitô" [18, tr 124]
Mối quan hệ tương hỗ giữa giáo hội và chính quyền thực dân dựatrên một mục đích chung về chủ trương, về quan điểm Điều này được bềtrên Hội thừa sai Paris khẳng định: "Chính Giám mục Puginier đã chủtrương trong 30 năm phải thực hiện cho xong công cuộc Công giáo hóatoàn bộ Bắc Kỳ để biến miền này thành một tỉnh quận của Pháp gồm toànngười Việt theo đạo Thiên Chúa" [18, tr 124]
Chúng ta cũng biết, không phải lúc nào nhà cầm quyền thực dâncũng đồng ý với chủ trương của Hội thừa sai Paris (MEP) trong việc truyềngiáo quá "hăng hái" của họ Cũng có những vị toàn quyền không ủng hộchủ trương này của MEP, nhưng lập tức giáo hội gây áp lực với mẫu quốc
và kết quả là chính phủ Pháp phải triệu hồi những cá nhân này để khỏi gâykhó dễ cho giáo hội Toàn quyền Lassan là một trường hợp cụ thể
Và sau khi đã có hậu thuẫn vững chắc về chính trị, các thừa sai đãbắt đầu hoạt động trong lĩnh vực kinh tế để dùng nguồn kinh tài ấy phục vụcho việc mở rộng nước Chúa: "Cần lưu ý rằng hết thảy các thừa sai đều chỉ
có dính líu chung chung vào nông nghiệp và nghiệp vụ cho vay theo kiểungười bản xứ" [37, tr 729] Việt Nam là một nước nông nghiệp, khi côngnghiệp chưa mở mang thì cư dân tuyệt đại đa số là nông dân, các thừa sai
đã chọn đúng đối tượng để có thể lôi kéo những người nông dân nghèo khóvào trong vòng tay của họ Họ thực hiện các phương thức truyền giáo thậthiệu quả bằng nghiệp vụ cho vay lấy lãi Giai cấp tư sản Pháp nổi tiếng ởcách làm giàu bằng nghiệp vụ cho vay lãi cắt cổ, truyền thống này được cácthừa sai áp dụng trên cơ sở kết hợp với lối cho vay lãi kiểu người bản xứ;
Trang 24và việc cho vay lãi của giáo hội đã gây hậu quả tai hại đối với người nôngdân, vì họ không có khả năng hoàn trả "Những năm mất mùa, nhà chung chonông dân vay tiền, nhưng họ phải đưa ruộng đất bảo đảm Vì lấy lãi cắt cổnên đến kỳ hạn người nông dân không trả được nợ, thế là ruộng đất đều rơivào tay nhà chung" [19, tr 147] "Bên cạnh lãnh địa của người chủ đồnđiền, xuất hiện lãnh địa của nhà chung Rồi đây không còn rẻo đất nào chongười An Nam cư trú, trồng trọt và sinh sống nữa, nếu họ không chịu kiếpnông nô" [19, tr 149] Đúng lúc đó, bàn tay của giáo hội đưa ra, thật đúnglà: Có rất nhiều con đường dẫn đến thành Roma! (Viele wege fahren nachRom).
Phương cách hoạt động tông đồ có hiệu quả nhất bằng "Việc phânphát lúa vào những lúc có nạn đói hoặc bệnh thời khí là một trong nhữngphương cách truyền thống của họ" [37, tr 729] Phương pháp tông đồ nàyđược Marcou - Giám mục miền Biển Đàng ngoài trong thư gửi bề trên Phátdiệm, ngày 14 tháng 9 năm 1902 được nhắc lại: "Hiện tại, phương pháphoạt động tông đồ tốt nhất có lẽ là tăng gấp bội hoạt động từ thiện và giúp
đỡ về vật chất càng nhiều càng tốt" [37, tr 735]
Các thừa sai và hàng giáo sĩ bản xứ tiến hành hoạt động truyền giáocũng rất "vô tư" Họ cứ tha hồ cho người dân "Đông Pháp" tự chọn nêntheo tôn giáo nào, vì người dân "Đông Pháp" là những người dân "tự do":
"Chúng tôi trước đây là những tín đồ Phật giáo người ta nói chúng tôiđược tự do làm người Phật giáo hoặc Công giáo Hơn nữa, vị cha xứ ngườiđịa phương bảo chúng tôi rằng nếu chúng tôi đón nhận đạo Công giáo,chúng tôi sẽ được miễn các sưu thuế mà người Phật giáo phải đóng Đó là
lý do chúng tôi rửa tội theo đạo Công giáo" [37, tr 743]
Sưu cao thuế nặng là một trong những chính sách vơ vét thuộc địacủa chính quyền thực dân, nhất là giai đoạn chuẩn bị cho chiến tranh 1914 -
Trang 251918 và bù lấp cho ngân khố của nước Pháp sau cuộc Đại chiến thế giới lầnthứ nhất này, tính khốc liệt của việc vơ vét đó đẩy người nông dân vào tìnhtrạng bi thảm Họ không có lối thoát Và chỉ có đặt việc truyền bá Phúc Âmrao giảng nước Chúa bằng các ngón đòn kinh tế như trên mà giáo hội ápdụng trong hoàn cảnh ấy, chúng ta mới hiểu hết tác dụng của nó đối với
"tân tòng" là như thế nào Họ không có cách lựa chọn nào khác để bảo tồn
sự sống "Theo đạo lấy gạo mà ăn" là câu nói hiểu theo đúng nghĩa đen củacụm từ này đối với người nông dân thuộc địa
Ở đây cũng không cần phải đề cập đến sự cưỡng bức bằng vũ lực(phương pháp tông đồ này biểu hiện ở giai đoạn sau - giai đoạn 1946 -1954), mà chỉ cần đề cập đến phương cách truyền đạo dựa trên các yếu tốkinh tế cũng đủ thấy được hiệu năng của các hoạt động truyền giáo mà cácthừa sai áp dụng Việc tông đồ giáo dân và việc thành lập các hội đoànCông giáo trên Địa hạt Thái Bình thuộc Địa phận Bùi Chu trong giai đoạn
ấy không nằm ngoài các ảnh hưởng của bối cảnh trên
Song Giáo hội Công giáo không chỉ dừng lại ở đó, khi hoạt độngtông đồ đạt kết quả là thành lập được các giáo đoàn mới, thì hàng giáo sĩCông giáo lập ra một trật tự riêng Đọc "Thập giá và lưỡi gươm" của Linhmục Trần Tam Tỉnh, ta thấy rõ hơn về cách tổ chức này: "Người Công giáothường được tập trung lại thành làng xóm riêng, tách khỏi người lương,sống chen chúc quanh tháp nhà thờ, xây theo kiểu Tây, chọc lên trời, caovượt khỏi lũy tre Được đóng khung và đoàn hóa bởi hàng ngũ giáo sĩ, họtrở thành một lực lượng quần chúng, một lực lượng đáng ghê sợ khi cha xứkêu gọi họ đứng lên bảo vệ đức tin, bảo vệ nhà thờ Hệ thống ốc đảo đótách biệt và cô lập phần lớn các giáo dân khỏi liên hệ với đồng bào, thúcđẩy họ từ khước, tẩy chay bất cứ điều gì không được giáo hội chánh thứcphê chuẩn" [27, tr 54]
Trang 26Việc đoàn ngũ hóa giáo dân để cô lập, để tách giáo dân ra khỏiphong trào đầu tranh yêu nước, quay lưng lại với vận mệnh của dân tộc làmục đích của hàng giáo sĩ thừa sai Sống với điều buộc là phải vâng phụcgiáo quyền, vâng phục bề trên, người Công giáo phải tuân thủ những điềugiáo hội quy định, không được làm điều gì trái với những quy định mà Hộithánh không phê chuẩn Trong thông điệp "Các sự việc giáo hội" năm
1925, Giáo hoàng Pio XI đã cảnh báo một nguy cơ đối với giáo hội hoànvũ: "Hãy đặt giả thuyết rằng: Người dân xứ thuộc địa ngày nào đó sẽ đạttới một trình độ văn minh và một mức trưởng thành về chính trị, muốn làmnhững người chủ đất nước họ, nên sẽ tìm cách trục xuất hết quân lính viễnchinh và thừa sai của nước mà họ từng bị đô hộ" [27, tr 57] Sự đồng nhấtlính viễn chinh và các thừa sai trong văn bản chính thống của Giáo hoàng
La Mã đã quả quyết chính sách "đô hộ" của cả chủ nghĩa thực dân và chủnghĩa giáo hội; nó cũng xác định lại lần nữa sự cấu kết của hai thế lực này
Sự lo lắng của Giáo hoàng Pio XI không chỉ là những ý tưởng trên văn bản,
nó được thể hiện rõ ra bằng các chính sách cụ thể mà giáo hội áp đặt ở ViệtNam: "Các sách của Vonte, Môngtekiơ, khỏi nói tới Các Mác, vừa bị nhànước thuộc địa cấm, vừa bị giáo luật khai trừ, nhưng ngay cuốn sách thánh
đã dịch ra tiếng bản xứ mà cũng chẳng ai được biết đến (có một bản sáchthánh in bằng hai thứ tiếng Latinh và Việt ngữ, khổ lớn, nằm trong thư việncác chủng viện và một vài cha xứ, còn giáo dân thì không thể sờ tới" [27,
tr 57]
Ở đây nổi lên vấn đề dân trí Dân trí là vấn đề lo ngại của giáo hộilúc bấy giờ, đặc biệt là đối với các dân tộc thuộc địa Chính sách ngu dâncủa thực dân Pháp, sự kiểm duyệt khắt khe của chính quyền thực dân ởViệt Nam đối với sách báo và sự cấm đoán của nhà chung đã gặp nhau, bởicùng một mục đích là ngu dân để cai trị Chính sách này đã để lại hậu quảnặng nề là trên 90% người Việt Nam mù chữ (con số thống kê sau khi Cách
Trang 27mạng tháng Tám năm 1945 thành công) Nhà chung và thực dân Phápkhông chỉ cấm giáo dân tiếp xúc với sách báo tiến bộ của "nước mẹ" Pháp,
mà ngay cả với lượng sách ít ỏi (nếu không nói là duy nhất) của Hội thánhCông giáo đã được dịch ra Việt ngữ; cho nên giáo dân thuộc kinh bổn bằnglối truyền khẩu Đức tin Công giáo được gieo mầm và phát triển dựa trênnhiều yếu tố, trong đó có một cơ sở là tâm thức tôn giáo sâu đậm của ngườiViệt Nam, và sự rao giảng của các giáo sĩ - nếu là tự nguyện, còn không thì
do cưỡng bức, do o ép mà theo đạo Song dẫu sao, khi đã có đức tin, đứccậy, đức mến, người giáo dân phó thác phần xác, phần hồn cho Thiên Chúacủa họ, mà đại diện của Chúa Kitô ở trần gian là giáo hội - các đấng bậc:thừa sai cũng như giáo sĩ bản địa Việc vâng phục các đấng bậc xuất phát
từ đức tin và cũng bắt nguồn từ giới luật, cho nên việc thành lập các hộiđoàn Công giáo để đoàn ngũ hóa giáo dân, để bảo vệ đức tin, bảo vệ nhàthờ; và sau này là để chống lại "nguy cơ Cộng sản phá đạo" của Giáo hộiCông giáo được sự bảo trợ của chính quyền thực dân Việc đoàn ngũ hóagiáo dân đã diễn ra, và việc làm ấy của Giáo hội Công giáo ở Việt Nam đãbiến những người nông dân có đạo hiền lành, nhu mì, chất phác thànhnhững vệ sĩ sẵn sàng tử đạo, sẵn sàng chia sẻ trách nhiệm với chính quyềnthực dân để chống lại cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân ViệtNam Tuyên bố của Bề trên Hội thừa sai Paris khẳng định điều này: "Nhànước vốn phải gánh trách nhiệm nặng nề, và cảm thấy sự nặng nề đó, nên
đã hiểu được vai trò bảo vệ trật tự của nhà chung là quan trọng biết chừngnào nhờ lớp dân chúng này nên không có cách nào Cộng sản thâm nhậpvào được" [27, tr 230] Các "ốc đảo" Công giáo đã phát huy tác dụng của
nó một cách rõ rệt nhất đối với giáo hội trong giai đoạn kháng chiến 9 năm(1946 - 1954) để chống lại Việt Minh, chống lại Chính phủ kháng chiến
Thực hiện chủ trương đoàn ngũ hóa giáo dân, các thừa sai thực hiệnmưu đồ chính trị hơn là thực hiện sứ mạng "truyền bá Phúc Âm" rao giảng
Trang 28đức công bình, bác ái của Chúa Kitô, họ hiểu hơn ai hết "Nếu đế quốc sụp
đổ, thì chúng sẽ mất nồi cơm và đặc quyền đặc lợi của mình Muốn phụng
sự Chúa và nước Pháp tốt hơn, có những nhà thừa sai và giáo dân đã tiếptay khá mạnh mẽ cho bọn cảnh sát trong việc bình định xứ sở" [27, tr 56].Trong bối cảnh chung của sự câu kết giữa hai thế lực: chủ nghĩa giáo hội vàchủ nghĩa thực dân, người Công giáo Việt Nam nói chung, người Công giáoThái Bình nói riêng bị lôi cuốn, cưỡng bức vào một vòng xoáy mà sự lựachọn một bên là Dân tộc, Tổ quốc, một bên là giáo hội, là tín ngưỡng tôn giáo,thật khó khăn, đau lòng Đi theo kháng chiến để đấu tranh cho nền độc lập củaDân tộc thì giáo hội phạt vạ tuyệt thông, niềm tin tôn giáo bị khủng hoảng,nếu theo giáo hội lúc bấy giờ mà thực chất là theo bọn phản động đội lốt tôngiáo chống phá lại cách mạng thì đi ngược lại quyền lợi Dân tộc mình, phảnlại Tổ quốc mình Họ bị kiềm tỏa về tinh thần từ sự khống chế của giáoquyền, từ các luận điệu tuyên truyền chống Cộng mà thực chất là chính sáchchia rẽ lương - giáo, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân, để phá hoại côngcuộc kháng chiến giành độc lập dân tộc của nhân dân Việt Nam; đồng thời họcũng bị chính quyền thực dân cưỡng bức về chính trị Nhưng tất cả mọi âmmưu thâm độc của chủ nghĩa thực dân và của những người lãnh đạo giáo hộiđều thất bại trước trào lưu giải phóng dân tộc của các nước thuộc địa, của cácdân tộc bị áp bức, mà cách mạng Việt Nam là một trong những ngọn cờ đầu
Hội đoàn Công giáo ở Thái Bình giai đoạn đầu thế kỷ XX đến năm 1936
Khi còn thuộc Địa phận Trung trước năm 1936 (Địa phận Trungđược thành lập năm 1848, đến năm 1924 mới đổi thành Địa phận Bùi Chu,Địa hạt Thái Bình được đặt dưới sự coi sóc của Giám mục Munagorry YObineta, người Tây Ban Nha, có tên Việt là Trung Giám mục Trung làngười cùng thời với Giáo hoàng PioXI - Người phát động phong trào Cônggiáo tiến hành của Giáo hội La Mã Do vậy Giám mục Trung không chỉ là
Trang 29người nổi tiếng trong "công việc kiến thiết các công trình của Giáo phận:Thánh đường, Tiểu chủng viện, Đại chủng viện, Cô nhi viện, Bệnh viện,Nhà chung, Nhà phước, Tu viện, Đan viện, Học đường, Trường dạy kinhbổn, Trường sư phạm Nam Định, Nhà nghỉ mát Tam Đảo, Đền thánh PhúNhai" [25, tr 164]; mà còn rất nổi tiếng về việc mở rộng và phát triển nướcChúa Vào khoảng đầu thế kỷ XX (1923) vị Giám mục thừa sai này đãthành lập nhiều hội đoàn Công giáo để thực hiện việc tông đồ giáo dântrong phong trào Công giáo tiến hành của giáo hội La Mã Các nhà viết sửCông giáo chỉ nêu lên kết quả của các hoạt động tông đồ giáo dân chứkhông nêu rõ tên các loại hội đoàn Chỉ biết rằng, các hoạt động tông đồ đóđạt những kết quả là thành lập được các giáo đoàn mới Các hoạt động tông
đồ của Giám mục Trung được sự hỗ trợ của chính quyền thực dân, được sự
cổ vũ bởi đường hướng của Công giáo tiến hành đã làm cho địa phận BùiChu phồn thịnh, giáo dân đông đúc, phát triển nhanh về số lượng ChínhGiáo hoàng Pio XI khi căn cứ vào các hoạt động tông đồ của hàng giáo sĩ,giáo dân trong địa phận giai đoạn này, đã mệnh danh Địa phận Bùi Chu là
"địa phận truyền giáo kiểu mẫu" [25, tr 164] Chính sự phồn thịnh và đôngđúc về số lượng ấy là nguyên nhân dẫn đến việc chia tách Địa phận BùiChu ra làm hai: Địa phận Bùi Chu và Địa phận Thái Bình, vào ngày6/9/1936 Như vậy trên Địa hạt Thái Bình thuộc Địa phận Bùi Chu lúc ấy,các Hội đoàn Công giáo đã hoạt động có kết quả, đặc biệt là việc tông đồgiáo dân, và cũng có thể nêu lên một nhận định là các hoạt động tông đồcủa hàng giám phẩm và giáo dân trong địa phận lúc bấy giờ được đánh giárất cao trong phong trào Công giáo tiến hành của giáo hội Hoàn Vũ
Song không phải khi phong trào Công giáo tiến hành được phátđộng mới sinh ra các hội đoàn Công giáo ở Địa hạt Thái Bình, mà nó kếthừa và phát triển trên cơ sở một nền tảng đã có sẵn; dù các Hội đoàn Cônggiáo trước thời Giám mục Trung coi sóc, công việc tông đồ đối ngoại
Trang 30không đạt được kết quả và sôi động bằng Bởi vì "người An Nam có tinhthần tôn giáo một cách sâu đậm" như nhận xét của linh mục LéopoldCadiere, một khi đã trở thành tín đồ Công giáo thì tinh thần ấy sẽ được pháthuy không chỉ ở mỗi cá nhân mà là cả một cộng đồng Tinh thần tôn giáo
ấy sẽ được biểu hiện bằng các lễ nghi phụng tự: cầu nguyện tập thể, dâng
lễ, tham dự các nghi lễ chung của cả cộng đồng dưới sự chủ trì của hànggiáo phẩm Tinh thần tôn giáo ấy sẽ được tổ chức lại trên nền tảng tínhcộng đồng cao của người Việt, vì thế việc thành lập các Hội đoàn Cônggiáo phát sinh từ nhu cầu sinh hoạt tập thể của giáo dân Hơn nữa, việcthành lập các Hội đoàn đã có nguồn gốc từ thế kỷ XVII, thời kỳ truyền giáocủa Alexandre de Rhodes và các thừa sai dòng Tên ở "Vương quốc ĐàngNgoài" Có thể lý giải điều này dựa trên cơ sở thực tế đời sống của ngườiCông giáo, họ phải liên kết với nhau thành những "cộng đoàn" đặc biệttrong những thời kỳ bách hại của các vua chúa Triều Nguyễn để tồn tại, đểgiữ vững đức tin Công giáo; cũng đồng thời dựa vào luận điểm sau đây củaEngel: "Như vậy chúng ta thấy tôn giáo một khi đã hình thành, luôn luônchứa đựng một chất liệu truyền thống, hệt như là trong tất cả các lĩnh vực
tư tưởng nói chung, truyền thống là một lực lượng bảo thủ rất lớn" [1, tr.92]
Giáo hội Công giáo vốn tự coi mình là một thực thể vượt thời gian
và không gian, với đặc điểm nổi bật là "tông truyền" thì không dễ gì họlãng quên đi những gì đem lại kết quả to lớn trong việc giữ đạo và pháttriển đạo; "lực lượng bảo thủ rất lớn" ấy - tức các hoạt động tập thể, có thể làhội, nhóm hay Hội đoàn Công giáo sẽ mang tính truyền thống trong việcsống đạo của giáo dân Điều này được kế thừa từ thế kỷ XVII, và đượcAlexandre de Rhodes đã nói rõ tác dụng của các hoạt động tập thể khi ông
đề cao vị trí vai trò của Hội thầy giảng trong quá trình truyền giáo ở ViệtNam
Trang 31Giai đoạn từ năm 1936 đến năm 1941, Địa phận Thái Bình được đặtdưới sự coi sóc của Giám mục Thuận Giáo hội đánh giá cao vai trò của vịGiám mục tiên khởi của địa phận: "Nhìn chung đây là thời gian chấn hưngmạnh nhất trong giáo phận, dưới sự lãnh đạo của vị chủ chăn tài năng vànhiệt thành, hai lãnh vực vật chất và tinh thần cùng tiến triển, nhân tài nảy
nở, công tác truyền giáo được đẩy mạnh khắp nơi " [32, tr 12] Trong 5năm, Giám mục Thuận đã nâng 5 họ lẻ: Bạch Long (1941), Hữu Vi (1936),Thuần Túy (1937), Trà Vi (1937), Cát Đàm (1940) lên hàng xứ; điều nàyminh chứng cho "công tác truyền giáo được đẩy mạnh khắp nơi"
Giai đoạn từ 1941 đến 1954 Giáo phận Thái Bình được đặt dưới sựcoi sóc của Giám mục Ninh Đây cũng là thời hoạt động sôi động nhất củacác Hội đoàn Công giáo ở Thái Bình, nhưng tính chất của nó không còngiữ được các hình thức sinh hoạt tôn giáo nữa mà nó phát triển theo xuhướng chung là gắn liền với tính chất chính trị phản động mà những kẻcầm đầu Giáo hội Công giáo Việt Nam lúc đó lao sâu vào Biểu hiện nàynổi bật trong giai đoạn 1945 - 1954
Giai đoạn 1945 - 1954
Điều lo lắng của Giáo hoàng La Mã và của Hội thừa sai Paris đãxảy ra: Cách mạng tháng Tám năm 1945 do Việt Minh lãnh đạo đã thànhcông Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa - Nhà nước công nông đầu tiên ởĐông Nam Á ra đời Ngay sau khi tuyên bố nền độc lập của dân tộc mộtngày; ngày 3/9/1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ nước ViệtNam Dân chủ Cộng hòa tuyên bố: "Tín ngưỡng tự do và lương giáo đoànkết" [20, tr 70] Lời tuyên bố này như luồng gió mới xua tan đi sự u ámnặng nề mà chính sách chia rẽ lương giáo của chính quyền thực dân gây ra.Lời tuyên bố của Chủ tịch Hồ Chí Minh làm cho đồng bào Công giáo tintưởng vào Cách mạng, tin tưởng vào chính sách tôn giáo của Chính phủViệt Nam Dân chủ Cộng hòa Người Công giáo Việt Nam được sống đạo
Trang 32với tư cách là công dân của một nước độc lập "Hàng ngũ giám mục, linhmục và giáo dân Việt Nam, tất cả đều ủng hộ Người" [27, tr 67] Trongkhông khí tưng bừng của những ngày đầu nước nhà độc lập, ngày10/10/1945, tại Thái Bình 20.000 giáo dân kéo tới hoan hô Hội đồng mục
vụ địa phận gồm nguyên các linh mục người Việt, chỉ trừ Giám mục Nhiềukhẩu hiệu được kết băng phấp phới trước gió như: "Hoan hô đức Giáohoàng, Giáo hội Việt Nam hoàn lại cho người Việt Nam! Nước Việt Namđộc lập muôn năm Một trang sử vừa được lật sang Song tiếc thay chẳngđược bao lâu" [27, tr 65]
Dã tâm xâm lược của thực dân Pháp không thay đổi, bất chấpnhững quyền lợi của nhân dân Việt Nam, chúng quyết tâm cướp nước tamột lần nữa và việc làm tàn ác đó lại được thực hiện dưới sự điều khiển củamột linh mục Công giáo Thiery d'Argenlieu - một thầy tu được Chính phủPháp giao cho trọng trách điều khiển lính viễn chinh tiến hành cuộc chiếntranh xâm lược hòng bắt dân tộc Việt Nam trở lại làm thân phận nô lệ Đểbảo vệ nền độc lập của dân tộc vừa giành lại từ tay phát xít Nhật, Chínhphủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã nhiều lần nhân nhượng nhữngyêu sách của thực dân Pháp, nhưng: "Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta đãnhân nhượng Nhưng chúng ta càng nhân nhượng thì thực dân Pháp cànglấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta một lần nữa Không! Chúng ta thà
hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịulàm nô lệ" [20, tr 480]
Cuộc kháng chiến chín năm 1946 - 1954 bùng nổ Thực hiện chínhsách đoàn kết dân tộc, chính sách đoàn kết lương giáo, Chủ tịch Hồ ChíMinh đã phong Giám mục Lê Hữu Từ làm cố vấn tối cao của Chính phủ, songGiám mục Lê Hữu Từ đã cùng với "một vài lãnh tụ Công giáo đã vạch rađường lối xử thế, mà nhiều người rồi đây đã thấy là xảo quyết gian hùng"[27, tr 69] Sự xảo quyệt gian hùng ấy được biểu hiện bằng những việc làm cụ
Trang 33thể Hội đồng Giám mục Đông Dương dưới sự chủ tọa của Khâm sứ JohnDooley ra thư chung ngăn cản linh mục, giáo dân tham gia kháng chiến, bắtbuộc họ phải gia nhập các tổ chức chống lại Chính phủ kháng chiến:
"Người Công giáo phải vâng phục nhà cầm quyền và dùng mọi phương tiệnsẵn có để chu toàn nghĩa vụ Do đó Hội thánh bó buộc mỗi người giáo hữuphải thực hành nếu không sẽ mất phần hành phúc đời đời Người Công giáolúc nào cũng chống Chủ nghĩa Cộng sản và chính sách Cộng sản Người Cônggiáo được quyền tự do thiết lập những Hội đoàn thuộc phạm vi trần thế"[30, tr 34-35]
Trong Thư chung tháng 11/1951, Giáo hội Công giáo ở Việt Namcấm giáo dân không được tham gia kháng chiến: "Không bao giờ có thểvừa theo Cộng sản, vừa theo Công giáo được Người Công giáo nào gianhập Đảng cộng sản thì lập tức khai trừ ra khỏi giáo hội Chẳng nhữngkhông được gia nhập Đảng cộng sản mà lại anh em không thể cộng tác bất
kỳ dưới hình thức nào có thể giúp đỡ họ nắm chính quyền Hỡi anh em giáohữu yêu quý! Anh em hãy kháng cự ngay từ đầu hãy thức tỉnh, can đảm
và vững tâm" [30, tr 75]
Năm 1946, Drapier, Khâm mạng tòa thánh Đông Dương ra chỉ thịcho các nơi lập lại Liên đoàn Công giáo Tổ chức Liên đoàn Công giáo đãđược giáo hội truyền lệnh thành lập từ năm 1941 Trên cơ sở chỉ thị củaDrapier và đường hướng "mục vụ" của Hội đồng Giám mục Đông Dương,hàng loạt các Hội đoàn Công giáo ra đời Những người lãnh đạo Giáo hộiCông giáo ở Việt Nam tuyên bố: "Chúng tôi đứng trong hàng ngũ ViệtMinh cũng chẳng sao, bởi vì đối với bọn ma quái chúng mình phải làm trò
ma quái Điều quan trọng là có một cơ chế hợp pháp, rồi mình cứ theo đuổimục tiêu của mình" [27, tr 70] và Giám mục Lê Hữu Từ còn nói cụ thểhơn: "Có thể dùng gậy Cộng sản đánh vào lưng Cộng sản" [27, tr 70]
Trang 34Họ đã "làm chứng dối" trái với điều răn của Chúa Kitô, họ đi ngượclại quyền lợi của dân tộc Việt Nam, họ đã lên tiếng "hoan hô cảnh hừng đông"khi "các toán quân dũng cảm Pháp giải phóng Hà Nội" [27, tr 81].
Giám mục Lê Hữu Từ sau khi được Giám mục Drapier - Khâmmạng tòa thánh ban phép lành, và cho mượn một khoản tiền lớn một triệuđồng với một lượng súng đạn quan trọng đã biết lợi dụng cơ chế hợp pháp,quyết định vũ trang cho giáo dân Việc vũ trang cho giáo dân được sự đồngtình ủng hộ của các Giám mục: Thái Bình Santos Ubierna Ninh, Segiơ(Chaize) Hà Nội, Giám mục Bắc Ninh Actaras (Artaraz), Giám mục ThanhHóa Côman (Cooman) và Giám mục Hải Phòng Gomes (Gomes)
Như vậy toàn bộ các thừa sai Công giáo và đại diện Tòa thánh ở ViệtNam đã quyết định một đường hướng chung là đứng hẳn về phía kẻ thùxâm lược, chống lại cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dânta
Khi viết về nội tình của Giáo hội Công giáo Việt Nam, các sử giaCông giáo hải ngọai đã xác nhận: "Chín năm (1946 - 1954) khói lửa chốngPháp xâm lược cũng là 9 năm Quốc Cộng xung đột Người Công giáo lạimột phen cầm vũ khí tự vệ, đương đầu với Cộng sản vô thần Nhiều giáophận như Vinh,Thanh Hóa, Phát Diệm, Bùi Chu là những nơi đông đảogiáo dân, đã có những tổ chức quân sự tích cực bảo vệ các xứ đạo" [25, tr.221]
Họ đã chia cuộc chiến chín năm làm hai phe: 1) Cộng sản; 2) Quốcgia, và Giáo hội Công giáo đứng về phe Quốc gia
Ở Thái Bình, thừa sai Ninh nêu cao khẩu hiệu giám mục của mìnhlà: "Đổ máu hòa dâng với hy sinh tế lễ - Immolor Super Sacrificium", saukhi ủng hộ Lê Hữu Từ cũng đã quyết định thành lập hàng loạt các Hội đoànCông giáo, và tiến hành vũ trang cho giáo dân Giám mục Ninh được giới
Trang 35sử gia Công giáo đánh giá: "Với một lập trường vững chắc về tôn giáocũng như về chính trị, Đức Cha đã nắm vững tinh thần tông đồ của hànggiáo sĩ và đức tin sắt đá của giáo dân Nhờ thế, quyền lợi tinh thần và vậtchất của giáo phận được chính quyền và nhân dân kiêng nể" [19, tr 282].
Thực hiện đường hướng của Hội đồng Giám mục Đông Dương vàvới một "lập trường vững chắc về chính trị" Giám mục Ninh đã thành lập ởĐịa phận Thái Bình các Hội đoàn Công giáo sau: "Hội thanh niên Cônggiáo dâng mình cho trái tim Đức Mẹ", "Thanh niên Việt công hội thuầnhóa", "Hội thanh niên Công giáo tiến hành", "Thanh niên diệt cộng", "Đội
vũ trang Công giáo", "Đảng xã hội Công giáo", Đảng dân chúng liên hiệp",
"Nhạc đoàn Sao Mai", "Nhạc đoàn Sao Biển", cơ sở của đơn vị đoàn, hội lànhà xứ, mỗi xứ có một chi đoàn do linh mục tuyên úy cầm đầu
Được sự giúp đỡ của Giám mục Lê Hữu Từ, Giám mục Ninh, linhmục các xứ ở Địa phận Thái Bình đã gửi nhiều hội viên của các Hội đoànCông giáo sang Nam Định để học các khóa huấn luyện quân sự Khi mãnkhóa, các hội viên hội đoàn này về các xứ, họ đạo trong địa phận mở lớphuấn luyện quân sự cho giáo dân Các lớp quân sự núp dưới nhiều danhnghĩa như "Lớp Bình dân học vụ", "Lớp học văn hóa" "Điển hình là lớphuấn luyện mang tên "Khóa Trần Đức Tuyên" ở nhà thờ xứ Phục lễ QuỳnhCôi do linh mục Nguyễn Đình Thông phụ trách có hàng trăm giáo dânđược huấn luyện" [26, tr 86]
Linh mục Trần Quang Ân, chánh xứ Thân thượng mở trườngNguyễn Trường Tộ (1948 - 1949) ở ngay trong nhà thờ xứ, đã tập trung
150 thanh niên nam nữ của hai tỉnh Thái Bình và Hưng Yên để huấn luyệnnghiệp vụ về quân sự Lớp học này núp dưới danh nghĩa là trường văn hóa
Các Hội đoàn phục vụ lễ nghi Công giáo như Ca đoàn, Hội trống,Hội kèn, Hội trắc cũng bị lôi cuốn vào các hoạt động chính trị, một số Hộiđoàn trên được tập hợp để thành lập các nhạc đoàn Sao Mai, Sao Biển Các
Trang 36nhạc đoàn này không còn bị hạn chế trong việc thực hiện các lễ nghi phụng
tự nữa mà nó đã cùng với các Hội đoàn vũ trang phối hợp tuyên truyền,phát hành tài liệu, sách báo (trong đó có cuốn "Mặt nạ Cộng sản"), rảitruyền đơn hô hào dân chúng theo Pháp, chống lại kháng chiến
Học tập mô hình tổ chức đơn vị hành chính vũ trang ở "giáo phậnmẹ" Bùi Chu; Giám mục Ninh đem áp dụng vào Địa phận Thái Bình Cáckhu Công giáo tự trị hình thành và được xây dựng ở huyện Tiền Hải, KiếnXương, Vũ Tiên (hay thuộc huyện Vũ Thư) lấy xứ Trung Đồng làm thủphủ Đứng đầu các khu Công giáo tự trị là Giám mục Ninh, Giám mụcNinh lập linh mục Lê Quang Oánh làm chánh tổng tự vệ, linh mục TrầnQuang Ân là phó tổng tự vệ; các linh mục tuyên úy này phụ trách các Hộiđoàn Công giáo vũ trang toàn địa phận Lực lượng tự vệ Công giáo lộnghành nhiều khi cũng lấn át cả chính quyền dân sự bù nhìn Tỉnh trưởngThái Bình Trần Đình Trọng phát biểu trong Hội nghị của Ủy ban bình địnhkhu Thái Bình ngày 31/8/1950: "Một số đơn vị tự vệ, vệ sĩ có ý trở thànhnhững dinh ấp tự trị trong tỉnh (thu thuế má, phân phát giấy đi đường, từchối không chịu trình diện những cấp chính quyền trong làng trước sự kiểmsoát của những cơ quan hành chính tỉnh) Sự tồn tại của những lãnh địanày, tự gọi là khu tự trị Không phục tùng bất cứ một luật lệ hành chínhnào, có hại cho sự thống nhất và cho sự tổ chức hành chính dân sự" [30, tr.70]
Các xứ, họ đạo rào làng, bắt thanh niên ngủ tập trung với mục đích
"phát triển lực lượng, huấn luyện quân sự, vũ trang nhà thờ, tiến hành cáchoạt động chống phá, gây bạo loạn hòng cướp chính quyền cách mạng làmnội phản cho cuộc tiến công xâm lược của thực dân Pháp" [26, tr 130].Đến tháng 8 năm 1950, Tòa Giám mục Thái Bình dựa vào các Hội đoànCông giáo vũ trang: "đã biến 75 nhà thờ thành đồn binh (trong đó có 48nhà thờ xứ) chiếm gần 60% số đồn địch đóng trên đất Thái Bình Số vệ sĩ
Trang 37trong các đồn này lên đến trên 2.000 quân, chiếm 30% số quân địch ở TháiBình Đây là một lực lượng quan trọng được Pháp trang bị, khuyến khích
và sử dụng vào việc càn quét, đánh phá cơ sở cách mạng" [26, tr 134]
Các vệ sĩ Công giáo, các hội viên Hội đoàn Công giáo vũ trang đãtrở thành "cánh tay phải, là lực lượng quan trọng của quân đội Liên hiệpPháp" [26, tr 71] Một trong những phương thức hoạt động của các Hộiđoàn Công giáo lúc này là làm nòng cốt cho giáo dân gây bạo loạn cướpchính quyền cách mạng Đầu năm 1950, các sự kiện này xảy ra ở khu ĐôngThành (Tiền Hải), Cao Mại (Kiến Xương), và cũng vào đầu năm 1950, khithực dân Pháp mở cuộc hành quân Tônô để đánh chiếm một số tỉnh đồngbằng - trung du Bắc Bộ, Ban chỉ huy cuộc hành quân của quân đội viễn chinhkhi bàn về việc mở rộng cuộc hành quân đánh chiếm Thái Bình, đã đánh giá:
"Có điều đáng khích lệ đối với chúng ta là khá nhiều người theo đạo ThiênChúa ở Thái Bình đang nóng lòng mong đợi được chúng ta về giải phóngcho họ, và họ sẽ sẵn sàng làm lực lượng hậu thuẫn cho ta" [26, tr 87]
Các Hội đoàn Công giáo tập hợp các vệ sĩ thành đơn vị quân sự bánchuyên nghiệp tập trung ở các nhà thờ, không chỉ để bảo vệ nhà thờ, bảo vệđức tin, mà còn biến nhà thờ thành cứ điểm quân sự, là bàn đạp để tấn côngcàn quét các làng lương và những nơi tình nghi là "ổ kháng chiến" Khôngchỉ dừng lại ở việc tổ chức các đơn vị quân sự bán chuyên đó, hàng giáophẩm còn quyết định lập ra hình thức tổ chức quy mô mang tính chuyênnghiệp hơn Đọc lời khai của Linh mục Trần Quang Ân chúng ta thấy rõhơn điều này: "Đối với Đảng dân chúng liên hiệp vì là tổ chức của ngườiCông giáo nên tôi tán thành bằng cách tuyên truyền cho vệ sĩ gia nhập Khi
đã lập tiểu đoàn rồi, bọn Dân chúng liên hiệp còn xin phép tôi mở hai hay
ba lớp quân sự nữa về các ngành như quân báo" [30, tr 47] Tiểu đoàn vệ sĩcủa Đảng Dân chúng liên hiệp mang tên Trần Hưng Đạo gồm trên 800 tên,đóng tại nhà thờ xứ Đông Thành - Tiền Hải, gần ngay thủ phủ của Công
Trang 38giáo tự trị Địa phận Thái Bình (đặt tại xứ Trung Đồng - Nam Trung - TiềnHải) Tiểu đoàn vệ sĩ Công giáo có trách nhiệm phối hợp với các lực lượng
vệ sĩ ở các nhà thờ họ lẻ tăng cường càn quét, đàn áp các cơ sở Cách mạng,gây nhiều tổn thất cho cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân Thái Bình
Việc tông đồ của hàng giáo sĩ, giáo dân được diễn ra trong mộthoàn cảnh đặc biệt, vừa có lực lượng vệ sĩ cưỡng bức, vừa có sự hậu thuẫncủa lính viễn chinh Pháp không phải bằng việc rao giảng đức công bình,bác ái của Chúa Kitô "Tại Tào Xá (Đông Quan), Quan Đình, Cổ Đẳng (PhụDực), Ô Trình (Thụy Anh), bọn phản động lợi dụng đạo Thiên Chúa cắmthánh giá lên nóc đình bắt cả làng theo đạo" [26, tr 137] Nhiều vụ tàn sátlương dân đã xảy ra Nắm chắc "tinh thần tông đồ của hàng giáo sĩ và niềmtin sắt đá của giáo dân "Giám mục Ninh và các linh mục hướng các Hộiđoàn vào việc mở rộng nước Chúa theo cách làm trên Hiện tượng truyềnđạo như thế cũng diễn ra ở Địa phận Bùi Chu nhưng với tính chất nghiêmtrọng hơn, và đạt một hiệu quả cao hơn: "Trong những năm 1949 - 1951,Giáo phận Bùi Chu đã anh dũng chống kẻ thù, bênh vực quốc gia và giáohội, dưới sự hướng dẫn của Đoàn Thanh niên tự vệ, liên kết với đoàn tự vệPhát Diệm Được tương đối trật tự an ninh, Đức cha Phạm Ngọc Chi dồntâm vào việc thành lập nhiều ban truyền giáo, giảng đạo trong những lànglương, chỉ trong 3 năm cai quản giáo phận, Đức Cha đã đạt được kết quảquan trọng: khoảng 40.000 tân tòng" [25, tr 278]
Các hoạt động tông đồ này được diễn tả: "Nhưng ở cấp địa phương,quân lính Công giáo mới là đội quân hung hãn nhất Nhằm lo cho các xứđược bảo vệ hiệu quả hơn, bọn chúng tổ chức khủng bố liên tục các lànglương xung quanh, bắt giam hoặc giết chết khỏi cần tòa án tất cả cácchiến sĩ du kích và những ai bị tình nghi là Việt Minh Theo gương línhPháp, chúng cướp bóc làng, lấy trộm, tàn sát, thiêu rụi tất cả những gì bịcoi là ổ kháng chiến Nực cười hết cỡ có những linh mục - đại úy nghĩ rằng
Trang 39giờ đem cả nước theo Kitô đã tới: họ ra lệnh cho lính đi cướp phá các chùaPhật giáo, đem hết các tượng Phật về làm củi chụm, rồi cắm thánh giá lênchùa hay là đặt tượng Đức mẹ vào trong đó Thật phải rùng mình, khi nhắclại tên tuổi của một số linh mục như Khâm, Tôn, Luật" [27, tr 94].
Với tư cách là một giáo sĩ Công giáo, linh mục Trần Tam Tỉnh đãlên án những đồng đạo của mình, vì những việc làm phi nhân tính của họkhi thực hiện sứ mạng truyền giáo không phải bằng việc rao truyền lờiChúa, mà bằng hành động vô đạo, vô văn hóa, trái với luân thường đạo lýcủa người Việt Nam, đi ngược lại lẽ công bình, bác ái của Chúa Kitô Họthật sự vứt bỏ điều răn trọng nhất của Phúc Âm là: Kính Chúa và yêungười Với các linh mục ấy, chiếc áo chùng thâm tuột mất, họ hiện nguyênhình là những tên lính tẩy hung hãn nhất; sau này ở miền Nam, dưới thời
Mỹ - Ngụy, Linh mục Trung tá Phan Lạc Hóa của Hội thánh Công giáocũng có những hành động tương tự và còn hơn thế Đó là những vết nhơcủa giáo hội không biết đến bao giờ mới "thanh tẩy" được
Có thể nêu lên những sự kiện điển hình sau đây để ghi nhận tội áccủa các linh mục Công giáo, vệ sĩ giáo dân trong kháng chiến 9 năm, khicác Hiệp hội tông đồ của họ tiến hành truyền giáo để chống phá cách mạng,khủng bố cán bộ kháng chiến và nhân dân yêu nước lương cũng như giáo,với những khẩu hiệu: "Tầm thanh, bài cán, diệt Cộng", "Bài trừ Cộng sản,tuyên thệ xin tử vì đạo"
(1) Ở nhà thờ xứ Cao Mại xã Quang Hưng huyện Kiến Xương:
"Chỉ trong một thời gian ngắn, bọn vệ sĩ đồn Cao Mại do Vũ Đình Luật(linh mục) chỉ huy tiến hành vây quét quanh vùng đã bắt gần 300 cán bộ,dân quân du kích và nhân dân ta đem về nhà thờ tra tấn và sát hại bằngnhiều hình thức dã man của thời trung cổ, trong đó có việc chôn sống ngườixuống ruộng để thò đầu lên rồi cho trâu bừa" [26, tr 136]
Trang 40(2) Ở nhà thờ xứ Phương Xá xã Đông Phương huyện Đông Quan(nay là huyện Đông Hưng): "Cũng trong những tháng cuối năm 1950, đầunăm 1951, bọn vệ sĩ nhà thờ Phương Xá (Đông Quan) do linh mục MaiĐức Tín chỉ huy, trong quá trình càn quét các vùng xung quanh chúng đãbắt hơn 40 cán bộ du kích của ta đưa về nhà thờ Sau khi tra tấn, chúngđem giết tất cả số người này bằng hình thức dã man như dùng đinh thuyềnđóng vào đầu, đinh tre đóng vào tai, dây thép buộc vào nhiều người" [26,
tr 137]
(3) Tại nhà thờ xứ Quỳnh Lang huyện Quỳnh Côi (nay thuộc xãQuỳnh Ngọc - Quỳnh Phụ): "Ngày 7-10-1950 (tức ngày 22-8 Canh Dần),An-va-rê Cao tên linh mục mặc áo lính đã chỉ huy bọn vệ sĩ bốt nhà thờQuỳnh Lang (Quỳnh Côi) bắt 202 người về giam trong một căn hầm hếtsức chật chội trong nhà thờ Quỳnh Lang Nóng bức ngột ngạt không thởđược, mọi người đã la hét, kêu gào đòi đưa lên mặt đất Bọn địch đã khôngcho họ lên mà còn dội nước xuống Vì ngạt thở, nhiều người phát điên, càocấu cắn xé nhau trong hầm suốt một đêm Sáng hôm sau, 186 người bị chết,chỉ còn 16 người thoi thóp Có nhiều gia đình chết 2 đến 3 người Thậmchí có gia đình mất 5 người" [26, tr 138]
"Ngày 15-3-1953, hàng ngàn người đến chứng kiến khai quật hốchôn người ở nhà thờ Quỳnh Lang Hơn 3 năm bọn phản động Quỳnh Lang
đã giết hại 3.001 người chôn thành 3 nấm mồ khổng lồ Khi những nhát cuốcđầu tiên bổ xuống, hơi xác chết bốc lên ngùn ngụt, xương cốt lẫn với nhiềuxác chết còn chưa kịp phân hủy Nhiều bộ xương còn cả những chiếc đinhđóng vào sọ, cọc tre xuyên vào người, những sợi dây trói " [26, tr 200]
(4) Ở khu Công giáo tự trị Đông Thành - Trung Đồng - Thanh Châuhuyện Tiền Hải: