Định giá doanh nghiệp hiện đang là một trong những vấn đề cần thiết nhất trong việc chuẩn bị cổ phần hóa, việc tái cấu trúc doanh nghiệp để trở thành công ty cổ phần, việc bán cổ phần củ
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
Xu thế cổ phần hoá các doanh nghiệp Nhà nước cùng với sự phát triển bùng
nổ của thị trường chứng khoán đã thúc đẩy công tác định giá doanh nghiệp ngày càng trở nên quan trọng hơn Trong quá trình chuyển đổi hình thức sở hữu doanh nghiệp, việc định giá doanh nghiệp là vấn đề quan trọng, nó là căn cứ để giải quyết các vấn đề về pháp lý và tài chính
Tiến hành định giá doanh nghiệp là đi xác định giá trị thực tế của doanh nghiệp Giá trị thực tế của doanh nghiệp là giá trị của toàn bộ tài sản hiện có của doanh nghiệp mà có tính đến khả năng sinh lời của doanh nghiệp trong tương lai Định giá doanh nghiệp hiện đang là một trong những vấn đề cần thiết nhất trong việc chuẩn bị cổ phần hóa, việc tái cấu trúc doanh nghiệp để trở thành công ty cổ phần, việc bán cổ phần của các doanh nghiệp đã cổ phần hóa ra bên ngoài hoặc niêm yết trên thị trường chứng khoán
Ở Việt Nam, công tác định giá doanh nghiệp mới chỉ được quan tâm trong thời gian gần đây, nhất là trong tiến trình cổ phần hoá các doanh nghiệp Nhà nước Mặc dù Việt Nam đã có rất nhiều cố gắng trong việc hoàn thiện công tác định giá doanh nghiệp Nhà nước thông qua việc thay đổi các văn bản pháp quy liên quan tới công tác định giá doanh nghiệp Tuy nhiên công tác định giá doanh nghiệp vẫn đang gặp khó khăn trong cả lý luận và thực tiễn Cơ chế tổ chức còn mang tính hình thức, giá trị doanh nghiệp chưa mang tính khách quan, thiếu chính xác và tốn thời gian Do vậy, chất lượng định giá doanh nghiệp hiện nay ở Việt Nam chưa được đánh giá cao
Vì vậy, việc nghiên cứu khả thi về công tác định giá doanh nghiệp nhằm đưa ra những giải pháp hoàn chỉnh và khoa học cho việc nâng cao chất lượng công tác định giá là rất cần thiết có ý nghĩa cả về mặt lý luận và thực tiễn ở Việt Nam hiện nay
Xuất phát từ thực tế trên, đề tài “Nâng cao chất lượng định giá doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay (Lấy Công ty Cổ phần Đầu tư và Xây dựng Bưu Điện làm điểm nghiên cứu)” đã được tác giả chọn làm đề tài cho luận văn thạc
sỹ của mình
Trang 2CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐỊNH GIÁ
VÀ CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC ĐỊNH GIÁ DOANH NGHIỆP
1.1 Tổng quan về định giá doanh nghiệp
1.1.1 Khái niệm về giá trị doanh nghiệp
Trong nền kinh tế thị trường doanh nghiệp cũng là một loại hàng hoá, và nó cũng có giá trị nhất định bởi vì để thành lập được doanh nghiệp cũng phải mất rất nhiều hao phí lao động thì mới có thể tạo dựng được nên một doanh nghiệp Cũng như giá trị hàng hoá, giá trị doanh nghiệp (GTDN) là sự biểu hiện bằng tiền của các khoản thu nhập mà doanh nghiệp đó mang lại cho các nhà đầu tư trong suốt quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
1.1.2 Khái niệm về định giá doanh nghiệp
Định giá doanh nghiệp (ĐGDN) là một nghệ thuật hay khoa học ước tính giá trị cho một mục đích cụ thể của một tài sản cụ thể tại một thời điểm xác định, nó cân nhắc tới tất cả những đặc điểm của tài sản và xem xét tất cả các yếu tố kinh tế của thị trường Thực chất của việc ĐGDN là sự ước tính khoản tiền mà người mua phải trả nếu muốn sở hữu doanh nghiệp, nó cũng là khoản tiền mà người bán ước tính nếu bán doanh nghiệp
1.1.3 Sự cần thiết khách quan của việc định giá doanh nghiệp
Công tác ĐGDN là một khâu vô cùng quan trong trong quá trình CPH, sát nhập, mua bán doanh nghiệp Kết quả của công tác ĐGDN sẽ giúp cho nhiều đối tượng như người mua, người bán doanh nghiệp, nhà đầu tư có được những quyết định đúng đắn khi đầu mua bán, hay đầu tư vào doanh nghiệp
1.4.1 Các phương pháp định giá doanh nghiệp
1.1.4.1 Xác định giá trị doanh nghiệp theo phương pháp tài sản ròng:
- Khái niệm: Phương pháp tài sản là phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp
(XĐGTDN) trên cơ sở đánh giá giá trị thực tế toàn bộ tài sản hiện có của doanh nghiệp tại thời điểm XĐGTDN
Trang 3- Cách thức tiến hành: theo phương pháp này, việc ĐGDN được tiến
hành trên cơ sở xác định giá trị tài sản vô hình và giá trị tài sản hữu hình của doanh nghiệp Giá trị tài sản của doanh nghiệp phải được tính theo giá trị trường Để áp dụng phương pháp này doanh nghiệp cần có hệ thống sổ sách
kế toán chính xác, đầy đủ
- Ưu, nhược điểm: Phương pháp này có ưu điểm là tính toán dễ dàng, đơn giản
do giá trị tài sản của doanh nghiệp là chỉ tiêu có thể lượng hoá Tuy nhiên GTDN bị tách rời khỏi khả năng sinh lời của doanh nghiệp
1.1.4.2 Phương pháp tài sản ròng có điều chỉnh
Trên cơ sở phương pháp tài sản ròng, phương pháp tài sản ròng có điều chỉnh được tính theo công thức sau:
GTDN = Giá trị tài sản ròng + Lợi thế thương mại
1.1.4.3 Phương pháp dòng tiền chiết khấu (DCF)
- Khái niệm: Phương pháp DCF là phương pháp xác định giá trị của doanh
nghiệp trên cơ sở khả năng sinh lời của doanh nghiệp trong tương lai
- Đối tượng áp dụng: Áp dụng cho các doanh nghiệp hoạt động chủ yếu
trong lĩnh vực dịch vụ tài chính, ngân hàng, thương mại, tư vấn, thiết kế xây dựng, tin học và chuyển giao công nghệ Phương pháp này văn cứ vào báo các tài chính của doanh nghiệp trong 5 năm liền kề trước khi XĐGTDN, phương án hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp từ 3 năm đến 5 năm trong tương lai và lãi suất trả trước cuả trái phiếu chính phủ có kì hạn 10 năm
- Ưu, nhược điểm: Theo phương pháp này, GTDN được xem xét đến khả
năng sinh lời của doanh nghiệp trong tương lai Tuy nhiên, nó sử dụng rất nhiều các
số liệu dự tính trong tương lai như lợi tức, tỷ lệ chiết khấu, phần góp vốn của Nhà nước trong tương lai
1.1.4.4 Xác định giá trị doanh nghiệp theo phương pháp hệ số P/E
Ta có thể lấy EPS của công ty trong 12 tháng gần nhất hoặc 4 quý gần nhất Nếu lấy thị giá hiện tại của cổ phiếu chia cho EPS tương ứng ta sẽ sẽ thu được P/E hiện tại Nếu ta lấy EPS dự tính của năm sau hoặc trung bình của 3 đến 5 năm
Trang 41.1.5 Nguyên tắc của hoạt động định giá doanh nghiệp
Công tác ĐGDN cần phải tuân thủ những nguyên tác nhất định ĐGDN phải
dựa trên giá trị hiện hành của thị trường, phù hợp với cơ chế thị trường và quy luật thị trường Định giá cho từng doanh nghiệp theo từng phương pháp cụ thể cho các doanh nghiệp thuộc các nhóm nghành khác nhau ĐGDN cũng phải tuân theo các quy luật kinh tế như quy luật cung cầu, quy luật giá trị
1.2 Chất lượng định giá doanh nghiệp
1.2.1 Quan điểm về chất lượng định giá doanh nghiệp
Công tác ĐGDN được coi là có chất lượng khi kết quả của công tác ĐGDN sát đúng với giá thị trường, thực hiện đúng theo quy trình, dựa trên phương pháp định giá khoa học, đảm bảo thực hiện được mục tiêu, yêu cầu của các chủ thể tham gia định giá với thời gian và chi phí ít nhất
1.2.2 Các chỉ tiêu phản ánh chất lượng định giá doanh nghiệp
1.2.2.1 Công tác ĐGDN phải đảm bảo tính chuẩn xác
Chuẩn xác vừa là yêu quan trọng nhất, cần thiết nhất của công tác ĐGDN
Để công tác ĐGDN được chính xác, việc lựa chọn phương pháp định giá phải dựa vào đặc điểm của từng doanh nghiệp
1.2.2.2 Kết quả của công tác ĐGDN bám sát với giá thị trường
Khi tiến hành ĐGDN, người ta phải đánh giá lại giá trị của các tài sản của doanh nghiệp theo giá trị trường Điều này đòi hỏi công tác ĐGDN phải thường xuyên cập nhập giá cả trên thị trường một cách chính xác nhất và phải dựa vào tất các các nguồn thông tin trong và ngoài doanh nghiệp Để đảm bảo nguyên tắc này cần phải phản ánh thực tế khách quan của doanh nghiệp theo sự chấp nhận của thị trường
1.2.2.3 Công tác ĐGDN được thực hiện theo đúng quy trình
Quy trình ĐGDN là trình tự các bước để tiến hành xác định GTDN Để đảm bảo chất lượng ĐGDN thì việc thực hiện đúng quy trình định giá đã đặt ra
là rất cần thiết
Trang 51.2.2.4 Công tác ĐGDN được áp dụng phương pháp định giá linh hoạt và khoa học
Phương pháp định giá mà doanh nghiệp chọn tuỳ thuộc vào mục tiêu của việc định giá và các đặc điểm của doanh nghiệp, của ngành, và một số yếu tố vĩ mô khác Mặt khác phương pháp định giá nào doanh nghiệp cần phải dựa trên những cơ
sở lý luận và thực tiễn
1.2.2.5 Công tác ĐGDN đảm bảo tốn ít thời gian với chi phí thấp nhất
Nếu công việc định giá diễn ra trong một thời gian dài sẽ làm ảnh hưởng tới các hoạt động và khả năng phát triển kinh doanh của doanh nghiệp và kết quả định giá Công tác ĐGDN chỉ được coi là chất lượng nếu tốn ít thời gian và chi phí
1.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng định giá doanh nghiệp
1.2.3.1 Năng lực, trình độ và kinh nghiệm của tổ chức định giá
GTDN được định giá phụ thuộc chặt chẽ vào trình độ cũng như tính chuyên nghiệp của các tổ chức và cán bộ định giá Một tổ chức định giá có năng lực, trình
độ và kinh nghiệm sẽ luôn đưa ra một kết quả định giá đạt độ chính xác cao nhất
1.2.3.2 Các nhân tố xuất phát từ phía doanh nghiệp được định giá
Các yếu tố như tình hình tài chính của doanh nghiệp, ngành nghề kinh doanh, chế độ kế toán áp dụng, phương pháp khấu hao có ảnh hưởng tới kết quả ĐGDN
1.2.3.3 Phương pháp định giá áp dụng
Việc lựa chọn ra phương pháp định giá phù hợp nhất với đặc điểm của từng doanh nghiệp cũng như trình độ của cán bộ định giá gắn liền với độ chính xác trong kết quả định giá được đề ra
1.2.3.4 Các yếu tố thuộc về Nhà nước
Nhà nước cũng là một nhân tố quan trọng ảnh hưởng tới chất lượng công tác định giá Hệ thống văn bản pháp lý cần đảm bảo tính thống nhất và đầy đủ thì công tác định giá mới diễn ra một cách nhanh chóng và chính xác
1.2.3.5 Các yếu tố thuộc về môi trường kinh tế
Môi trường kinh tế cung cấp các thông tin hữu ích cho công tác định giá Thông tin để ĐGDN càng hoàn hảo thì công tác ĐGDN càng đạt được độ chính xác cao và tiến trình thực hiện diễn ra càng nhanh chóng
Trang 6THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG ĐỊNH GIÁ DNNN CỔ PHẦN HOÁ
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY (LẤY CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU TƯ VÀ
XÂY DỰNG BƯU ĐIỆN LÀM ĐIỂM NGHIÊN CỨU)
2.1 Khái quát về công tác CPH và định giá DNNN của Việt Nam hiện nay
Chủ trương CPH các DNNN là một trong những giải pháp quan trọng nhằm giải quyết những tồn tại và tình trạng sản xuất, kinh doanh kém hiệu quả của các DNNN đang gây trở ngại cho tiến trình phát triển kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế Thực tế cho thấy, sau khi CPH, có tới 90% doanh nghiệp hoạt động
có hiệu quả, góp phần tăng ngân sách nhà nước, tăng thu nhập cho người lao động, huy động vốn xã hội cũng tăng lên, chấm dứt tình trạng bù lỗ của ngân sách nhà nước, tạo thêm công ăn việc làm Tuy nhiên, tiến trình CPH ở Việt Nam hiện nay đang bị chậm trong đó nguyên nhân chính là do chất lượng công tác ĐGDN chưa cao
2.2 Thực trạng chất lượng ĐGDN trong công tác CPH ở Việt Nam hiện nay
2.2.1 Quy trình định giá doanh nghiệp
Mỗi doanh nghiệp có thể xây dựng cho mình một quy trình định giá phù hợp, việc thực hiện đúng quy trình định sẽ làm cho kết quả của công tác định giá được chính xác hơn Quy trình định giá DNNN hiện nay vẫn còn rườm rà, qua nhiều bước trung gian
2.2.2 Phương pháp định giá doanh nghiệp
- Ưu điểm: Các phương pháp định giá trong giai đoạn từ 2004 đến nay đang được
hoàn thiện dần dần thông qua việc cải cách các văn bản pháp lý liên quan đến công tác định giá Nghị định 109/NĐ/2007-CP ngày 26/6/2007 đã qui định việc ĐGDN có thể áp dụng bằng nhiều phương pháp, GTDN được xác định và công bố không được thấp
hơn GTDN được xác định theo phương pháp tài sản
- Nhược điểm: Phương pháp định giá ở Việt Nam hiện này vẫn còn nhiều
vướng mắc, bất cập trong quá trình thực hiện Phương pháp định giá được sử dụng chủ yếu gồm phương pháp giá trị tài sản và phương pháp DCF Tuy nhiên, bản thân
Trang 7hai phương pháp này cũng có những nhược điểm nhất định Đối với phương pháp giá trị tài sản ròng và phương pháp giá trị ròng có điều chỉnh nguy cơ sai số vẫn còn cao do việc xác định theo phương pháp này phải gắn với thị trường Còn phương pháp DCF còn nhiều hạn chế về đối tượng áp dụng và việc định giá quyền sử dụng đất
2.2.3 Thời gian và chi phí định giá doanh nghiệp
Thời gian ĐGDN ở Việt Nam đã được rút ngắn Theo thống kê của Ban Chỉ đạo đổi mới và phát triển doanh nghiệp Trung ương thì bình quân hiện nay giá thuê trung gian thẩm định GTDN khoảng 0,01% của giá trị tài sản Trong khi đó, mức bình quân của các nước trong khu vực bình thường cũng là 1% Điều này chưa thể khẳng định là chi phí cho công tác định giá ở Việt Nam hiện nay là cao hay thấp vì
nó còn phụ thuộc vào chất lượng định giá ra sao, tuy nhiên về số tuyệt đối thì đây là con số tương đối thấp so với các nước trong khu vực
2.2.4 Tính chính xác của kết quả định giá doanh nghiệp
Nhiều chuyên gia kinh tế cho rằng việc thẩm định giá của các doanh nghiệp Việt Nam chỉ mang tính tương đối, chưa phản ánh đúng GTDN, bởi ở Việt Nam chưa có các chuẩn mực đánh giá các tài sản vô hình như thương hiệu, chiến lược kinh doanh mang tính quốc tế
2.2.5 Kết quả định giá và giá thị trường
Thực hiện đúng các quy định trong nghị định 109 thì việc xác định giá trị DNNN chủ yếu là qua đấu giá về cơ bản là theo giá trị thị trường, do thị trường quyết định Kết quả của các trung tâm, đơn vị định giá chỉ là mức giá để tham khảo khi xác định vốn điều lệ, giá để làm cơ sở cho chủ sở hữu đưa ra mức giá sàn chào Tuy nhiên GTDN được định giá vẫn còn khác xa so với GTDN thông qua đấu thầu
2.2.6 Mục tiêu của công tác định giá doanh nghiệp
Như đã phân tích ở trên, kết quả XĐGTDN ở Việt Nam hiện nay chưa phản ánh giá trị thực tế của doanh nghiệp Hơn thế nữa, công tác ĐGDN gắn với liền với tiến trình CPH nên kết quả định giá còn mang tính chủ quan, chưa thể hiện được sự thoả thuận giữa người mua và người bán
Trang 82.3 Ví dụ minh hoạ công tác định giá tại Công ty Cổ phần Đầu tư và xây dựng Bưu điện để tiến hành cổ phần hoá
2.3.1 Giới thiệu chung về Công ty Cổ phần Đầu tư và Xây dựng Bưu điện
Công ty Cổ phần Đầu tư và Xây dựng Bưu điện (Viết tắt là: PTIC) là một doanh nghiệp Nhà nước được CPH hoá để trở thành công ty cổ phần
Ngành nghề kinh doanh: xây lắp các công trình kiến trúc và thông tin như mạng cáp thông tin, tổng đài, cột anten, các nhà bưu điện, trụ sở cơ quan, các nhà máy công nghiệp, tư vấn, thiết kế các công trình xây dựng
2.3.2 Tiến hành định giá doanh nghiệp tại PTIC
Việc XĐGTDN do Công ty Cổ phần chứng khoán Sài Gòn (SSI) đảm nhiệm
và thực hiện đúng quy trình của Bộ Tài chính PTIC đã lựa chọn phương pháp DCF
để tiến hành XĐGTDN Công tác định giá được tiến hành theo Nghị định số 109/2007/NĐ-CP ngày 26 tháng 06 năm 2007 của Chính phủ và thông tư số 146 /2007/TT-BTC ngày 06 tháng 12 năm 2007 của Bộ Tài chính Quy định chuyển Công ty Nhà nước thành Công ty Cổ phần
2.3.3 Kết quả định giá doanh nghiệp tại PTIC
Từ khi thành lập đến nay, với chức năng và nhiệm vụ được giao, PTIC luôn phát huy thế mạnh của mình, sự phát triển không ngừng của PTIC, kết quả kinh doanh của PTIC ngày càng tăng trưởng, năm cao hơn năm trước Trên cơ sở các số liệu dự báo giai đoạn 2008-2012 gồm Giá trị thực tế của doanh nghiệp được tính toán như sau:
+ Giá trị thực tế vốn Nhà nước :194.568 triệu đồng
+ Quỹ khen thưởng, phúc lợi :1.559 triệu đồng
+ Nguồn kinh phí sự nghiệp :0
Tổng giá trị thực tế của doanh nghiệp :363.209 triệu đồng
Trang 92.4 Đánh giá về chất lượng định giá doanh nghiệp ở Việt Nam
2.4.1 Kết quả đạt được
2.4.1.1 Có sự đổi mới trong trong các văn bản pháp luật liên quan đến vấn đề ĐGDN
Trước năm 2002 công tác định giá ở Việt Nam được thực hiện theo nghị định 28/CP và nghị định 44/CP của Chính phủ Trong giai đoạn này phương pháp duy nhất được áp dụng là phương pháp tài sản ròng và việc định giá được tiến hành theo
cơ chế hội đồng, giá trị đất đai không được tính vào giá trị doanh nghiệp Nghị định 109/2007/NĐ-CP ra đời đã là bước đột phá mới trong công tác định giá, tạo ra những cải cách đáng kể trong công tác định giá
2.4.1.2 Phương pháp định giá đã khắc phục được một số hạn chế
Cùng với sự đổi mới của các văn bản pháp quy, phương pháp định giá đã dần
khắc phục được những hạn chế trước đây như khoản công nợ khó đòi và các tài sản
mà doanh nghiệp cổ phần hoá không có nhu cầu sử dụng được loại trừ ra khỏi doanh nghiệp Giá trị lợi thế thương mại được xác định chính xác, cụ thể để đưa vào giá trị doanh nghiệp, giá trị quyền sử dụng đất được đưa vào GTDN
2.4.1.3 Thời gian định giá đã được rút ngắn
Mặc dù thời gian tiến hành định giá ở Việt Nam hiện nay vẫn được đánh giá là tương đối dài Tuy nhiên, so với giai đoạn trước đây thì thời gian định giá đã được rút ngắn rất nhiều bằng thông qua việc quy định quy trình định giá chỉ thực hiện một lần
2.4.2 Hạn chế và nguyên nhân
2.4.2.1 Hạn chế
Hiện nay công tác ĐGDN vẫn còn nhiều hạn chết trong khâu tổ chức tổ chức thực hiện định giá DNNN và phương pháp định giá DNNN Quy trình định giá vẫn còn rườm ra, mang tính chất hành chính, thiếu khách quan dẫn đến thời gian định giá còn dài Phương pháp định giá còn hạn chế mới chỉ sử dụng chủ yếu phương pháp giá trị tài sản ròng và phương pháp DCF
2.4.2.2 Nguyên nhân
Công tác ĐGDN hiện nay chưa cao do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan tuy nhiên có thể tổng kết lại ở những nguyên nhân sau:
Trang 10 Hệ thống các văn bản pháp luật về ĐGDN vẫn chưa hoàn chỉnh:
Các văn bản về ĐGDN chưa giải quyết được một số vướng mắc trong công tác định giá như cách tính lợi thế kinh doanh của doanh nghiệp, cách tính giá trị quyền sở hữu đất vào GTDN Phương pháp định giá vẫn chỉ có hai phương là phương pháp tài sản và Phương pháp chiết khấu dòng tiền Hai phương pháp này, như trong phần trên đã phân tích, vẫn chưa đáp ứng được các nhu cầu về định giá của các loại hình doanh nghiệp hiện nay
Hệ thống phương pháp luận về ĐGDN chưa phát triển
Hiện nay chưa có một công trình khoa học nào nghiên cứu đầy đủ về các phương pháp ĐGDN trong cơ chế thị trường và khả năng vận dụng vào điều kiện cụ thể của nước ta Điều này làm cho việc thực hiện không những không xác định được
chính xác GTDN mà nó còn gây ra sự chậm chạp trong công tác ĐGDN
Thiếu đội ngũ các chuyên gia lành nghề trong công tác ĐGDN
Việt Nam vẫn còn thiếu các chuyên gia có chuyên môn, nghiệp vụ và kinh nghiệm trong quá trình ĐGDN Các tổ chức tư vấn ĐGDN vẫn chưa chiếm được niềm tin của các doanh nghiệp trong nước, tính chính xác của kết quả XĐGTDN còn thấp
Thị trường chứng khoán chưa phát triển
Có rất nhiều yếu tố khi ĐGDN cần phải dựa vào TTCK như tỷ số giá trên lợi nhuận, hệ số hoàn vốn đã không được xác định một cách chính xác vì TTCK ở Việt Nam vẫn chưa phát triển