ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN HOÀNG ANH TUẤN KHẢO SÁT KHÁI NIỆM CÂU ĐƠN THEO QUAN ĐIỂM TRUYỀN THỐNG VÀ CÚ ĐƠN THEO QUAN ĐIỂM CỦA NGỮ PHÁP CHỨC NĂN
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
HOÀNG ANH TUẤN
KHẢO SÁT KHÁI NIỆM CÂU ĐƠN THEO QUAN ĐIỂM TRUYỀN THỐNG VÀ CÚ ĐƠN THEO QUAN ĐIỂM CỦA NGỮ PHÁP CHỨC
NĂNG (HỆ THỐNG)
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC Chuyên ngành: Lý luận ngôn ngữ
Mã số: 5 04 08 Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Hoàng Văn Vân
Hà Nội - 2005
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này em đã nhận được rất nhiều sự giúp
đỡ, động viên Trong đó PGS TS Hoàng Văn Vân là nguời có vai trò quan trọng nhất Quãng thời gian làm việc vớí Thầy là quãng thời gian
em có thêm nhiều kiến thức bổ ích từ chính sự dìu dắt, chỉ bảo ân cần cũng như thái độ làm việc nghiêm túc của Thầy Em xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc vì những giúp đõ to lớn của Thầy để em có thể hoàn thành luận văn này
Em cũng xin được bày tỏ lòng biết ơn đến các Thầy Cô trong Khoa ngôn ngữ học, Trường Đại học khoa học xã hội và nhân văn - Đại học quốc gia Hà Nội, vì sự khích lệ, động viên cũng như những chỉ bảo giúp đỡ nhiệt tình của các Thầy, Cô
Hà Nội 24 tháng 10 năm 2005
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất
kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn
Trang 4NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
Trang 6PHẦN MỞ ĐẦU
1 MỤC ĐÍCH, Ý NGHĨA CỦA LUẬN VĂN
1.1 Đối tƣợng nghiên cứu và lý do chọn đề tài
Định nghĩa thế nào là câu, vấn đề từ xưa tới nay vẫn được xem là khó khăn bậc nhất của cú pháp học nói riêng và ngữ pháp học nói chung Con
số trên 300 định nghĩa về câu (Hoàng Trọng Phiến 1980: 14 ) hẳn đã phần nào chứng tỏ được điều này Bên cạnh khái niệm câu ( sentence) trong
truyền thống nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt còn tồn tại một khái niệm
khác - khái niệm cú (clause), sẽ chẳng có gì phải bàn cãi nếu chỉ nhìn qua
hai thuật ngữ này Tuy nhiên, khác với câu trong truyền thống nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt, khái niệm cú rất ít khi được thảo luận, nó chủ yếu được đặt trong khái niệm câu đơn Điều này không khỏi dẫn đến nhiều hoài nghi xung quanh vai trò và vị thế của hai khái niệm được xem là “có nhiều điểm tương đồng” này
Trong các đường hướng nghiên cứu ngôn ngữ hiện nay, ngữ pháp chức năng được đánh giá là hướng đi mới đầy triển vọng Ra đời muộn hơn (chỉ vào khoảng những năm 70 của thế kỷ 20) nhưng ngay lập tức ngữ pháp chức năng đã thu hút được sự chú ý của rất nhiều nhà nghiên cứu Trong nội bộ của ngữ pháp chức năng người ta thấy có nhiều hướng đi khác nhau nhưng có hai hướng đi giành được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu Đó là hướng chức năng của S Dik (Funtional Grammar) và hướng ngữ pháp chức năng thiên về (hệ thống) của M.A.K Halliday (Systemic Funtional Grammar) Cả hai dòng ngữ pháp chức năng này đều gắng đạt đến tính phổ quát cao, mong muốn bao q uát được mọi ngôn ngữ Tuy nhiên, khi so sánh hai dòng ngữ pháp này người ta thấy ngữ pháp chức năng hệ thống của M.A.K Halliday có tính ưu việt hơn hẳn trong quan điểm ba bình diện ngữ pháp câu xét về mặt lý thuyết Tính ưu việt của ngữ pháp chức năng của M.A.K Halliday còn thể hiện ở lý thuyết các loại hình
Trang 7sự thể với một vòng tròn khép kín bởi ba khu vực lớn với ba miền trung gian, phản ánh được tất cả các loại hình sự thể Ngoài ra ngữ pháp chức năng của M.A.K Halliday còn được đánh giá cao về tính linh hoạt trong
ứng dụng thực tiễn (Diệp Quang Ban 2003: 14, 15 )
Đi theo hướng ngữ pháp chức năng, cả S Dik và M.A.K Halliday đều lấy cú làm trung tâm, đối tượng nghiên cứu, làm điểm xuất phát Theo M.A.K Halliday thì cú là một đơn vị có vị thế quan trọng nó là đơn vị hội
tụ đầy đủ ba siêu chức năng (tư tưởng, ngôn bản, liên nhân), nó nằm ở giao điểm của ba bình diện (tầng, cấp độ và siêu chức năng) M.A.K Halliday cho rằng “cú (cú phức) có thể giúp ta giải thích đầy đủ tổ chức, chức năng của các câu vì thế không nhất thiết phải đưa vào khái niệm câu như là một phạm trù ngữ pháp tách biệt”, chỉ nên xem “nó như là đơn vị nằm giữa hai
dấu chấm” “Làm như vậy sẽ tránh được sự tối nghĩa” (M.A.Halliday (bản dịch tiếng Việt) - 2001: 358)
Tuy đạt được những kết quả khá khả quan nhưng sự vận dụng các đường hướng nghiên cứu vào tiếng Việt vẫn còn rất hạn chế, đặc biệt là các công trình có vận dụng ngữ pháp chức năng còn khá khiêm tốn Đến nay, tính ứng dụng rộng rãi và tính ưu việt của ngữ pháp chức năng đã rõ ràn g, nhưng những lý thuyết chung mà M.A.K Halliday lấy tiếng Anh làm ví dụ minh hoạ cho đến một ngữ pháp chức năng (hệ thống) của tiếng Việt là một con đường không ngắn, và dễ đi đòi hỏi có sự góp sức của nhiều người, chính vì thế, việc vận dụng lý thuyết này vào thực tế tiếng Việt lúc này là một việc làm cần thiết
Chính vì những lý do trên, chúng tôi đã chọn đề tài “ Khảo sát khái niệm câu (đơn) theo quan điểm truyền thống và cú(đơn) theo quan điểm của ngữ pháp chức năng hệ thống” Lấy câu (cú đơn) trong tiếng Việt làm
đối tượng nghiên cứu Hy vọng có thể làm sáng tỏ một số vấn đề
Trang 81 2 Dự kiến những đóng góp của luận văn
Đề tài dự kiến sẽ có những đóng góp sau đây:
Chỉ rõ bản chất của hai khái niệm “câu đơn” trong ngữ pháp truyền thống và “cú” trong ngữ pháp chức năng
Cho thấy được vai trò và vị thế quan trọng của cú trong nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt, một khái niệm xưa nay chưa được công nhận là đơn vị ngữ pháp cao nhất
Góp phần giải quyết vấn đề vẫn còn tồn tại lâu nay, trong ngữ pháp tiếng Việt
1 3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Muốn làm được vậy chúng tôi đặt ra những nhiệm vụ sau đây:
Khảo sát khái niệm về câu theo quan điểm truyền thống, những đóng góp và những vấn đề còn tồn tại
Các tiêu chí phân loại câu theo truyền thống những ưu, nhược điểm của những tiêu chí phân loại này
Khảo sát vai trò của cú trong tiếng Việt theo quan điểm của ngữ pháp chức năng hệ thống của M.A.K Halliday, so sánh với khái niệm câu trong ngữ pháp truyền thống, từ đó chỉ rõ vai trò của nó trong nghiên cứu ngữ pháp
Tiêu chí đề phân loại cú, có so sánh với các tiêu chí phân loại câu, từ đó chỉ rõ những điểm mạnh của những tiêu chí này
1 4 Lịch sử vấn đề
Do nhiều nguyên nhân khác nhau mà ngành khoa học ngôn ngữ ở Việt Nam phát triển muộn hơn nhiều nơi trên thế giới Tuy nhiên, những thành tựu mà ngành ngôn ngữ học nói chung và cú pháp học ở Việt Nam
Trang 9nói riêng đã đạt được là khá khả quan Các nhà Việt ngữ học đã cố gắng vận dụng những đường hướng, quan điểm tiên tiến của nhiều tác giả, trường phái ngôn ngữ trên thế giới để giải quyết các vấn đề cụ thể của tiếng Việt Trong số những vấn đề nổi lên, thu hút được sự quan tâm của đông đảo các nhà nghiên cứu thì việc tìm ra một định nghĩa cho câu tiếng Việt là vấn đề được quan tâm hơn cả Song cũng như nhiều nơi có ngành khoa học ngôn ngữ phát triển vấn đề về câu tiếng Việt đến nay vẫn chưa được giải quyết ổn thoả Với câu hỏi câu là gì? Các nhà nghiên cứu vẫn còn nhiều quan điểm khác nhau Bên cạnh khái niệm câu, khái niệm cú trong truyền thống nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt cũng tồn tại như là một đơn vị có vai trò và vị thế đặc biệt Tuy nhiên, theo Cao Xuân Hạo “Thật không có một thuật ngữ nào bất hạnh hơn” Khái niệm cú rất ít khi được thảo luận và chủ yếu được đặt trong khái niệm câu đơn Sở dĩ, cú ở đây được chúng tôi đề cập đến là vì trong truyền thống câu và cú là hai khái niệm chưa được phân biệt một cách rạch ròi
Vì những lý do trên, chúng tôi chọn trình bày lịch sử của hai vấn đề
mà các nhà nghiên cứu còn nhiều ý kiến khác nhau Hai vấn đề k hông nằm ngoài phạm vi câu hỏi mà các nhà nghiên cứu theo quan niệm truyền thống
đã cố gắng tìm cho nó câu trả lời thoả đáng, đó chính là hai vấn đề và cũng
là hai nhiệm vụ quan trọng của cú pháp học: Câu và cú là gì?
Để tiện cho việc trình bày chúng tôi chia lịch sử nghiên cứu vấn đề thành hai giai đoạn Giai đoạn từ 1945 trở về trước và giai đoạn từ 1945 đến nay Lý do chúng tôi chọn năm 1945 làm ranh giới phân chia hai giai đoạn là vì năm này đánh dấu sự ra đời của nhà nước Việt Nam Sự ra đời này có vai trò to lớn với sự phát triển không chỉ của ngôn ngữ học mà còn với nhiều ngành khoa học khác Nhà nước Việt Nam với vị thế mới, đã nâng tiếng nói Việt Nam lên một tầm cao tương ứng và cũng nhờ những chính sách đúng đắn về ngôn ngữ, đã tạo ra được một sự chuyển biến to lớn
Trang 10cả về chất và lượng Đây cũng là mốc thời gian vững chắc để Nguyễn Tài
Cẩn phân kỳ “Giai đoạn tiếng Việt hiện nay” (Nguyễn Tài Cẩn – 1998 : 8)
1 4.1 Giai đoạn trước 1945
Ở giai đoạn này việc nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt xét về đại cục chưa có tính chất của một ngành khoa học đích thực Tuy nhiên, có thể xem
đó là những “thử nghiệm đầu tiên” đối với một ngành khoa học còn rất mới
ở Việt Nam Nhìn chung, có thể tóm lược việc nghiên cứu giai đoạn này
bằng hai từ “thực tế” và “mô phỏng” (Đinh Văn Đức – 1986: 3, Lưu Vân Lăng – 1988: 5) Có thể thấy rõ điều này qua một số công trình tiêu biểu
giai đoạn này như: Grammaire de la langue Annamite của Trương Vĩnh Kí (1883) Études sur la langue Annamite của Grammond & Lê Quang Trinh (1911) Cours élémentaire d’ Annamite của Bouchet (1912) Việt Nam văn
- phạm của Trần Trọng Kim, Bùi Kỷ, Phạm Duy Khiêm (1940) v.v
1.4.1.1 Vấn đề thứ nhất: Câu là gì?
Với vấn đề “câu là gì” các nhà nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt giai đoạn này, không đặt ra cho mình nhiệm vụ phải trả lời và mặc nhiên coi vấn đề như đã được giải quyết xong, hi hữu có những tác giả định nghĩa
“nhưng đó cũng chỉ là những định nghĩa nhắc lại những định nghĩa về câu
trong các sách ngữ pháp dùng ở trường trung tiểu học Pháp” (Nguyễn Kim Thản- 1997: 501) Ngữ pháp nhà trường của Pháp vốn dĩ đã mang dấu ấn
đậm nét của ngữ pháp duy lý (chủ yếu dựa vào các khái niệm lô gíc như : nhận định (đề nghị / phán đoán) chủ ngữ / vị ngữ.v.v Định nghĩa câu của
Trần Trọng Kim - Bùi Kỷ – Phạm Duy Khiêm trong cuốn “ Việt Nam Văn - phạm” là một ví dụ tiêu biểu cho nhận định này Theo tác giả của “ Việt - Nam - văn - phạm” thì phép đặt câu là phép đặt các tiếng lập thành mệnh
đề và các mệnh đề thành câu Theo các tác giả này thì một mệnh đề bao gồm một chủ từ cộng với một tĩnh từ hay một động từ, chủ từ là tiếng đứng
Trang 11làm chủ ở trong mệnh đề Tính từ là tiếng chỉ cái thể của chủ từ, những từ này có thể có nhiều bổ từ (túc từ).v.v, định nghĩa của họ có thể diễn giải như sau:
“Việt Nam Văn - phạm” theo họ thì phép đặt câu bao gồm hai bước: bước
đặt các tiếng thành mệnh đề và bước đặt mệnh đề thành câu và trong phần tiếp theo các tác giả đã đi thảo luận khá kĩ về các kiểu loại mệnh đề, cách (phép) lập mệnh đề thành câu Song họ lại không cho biết thế nào là một mệnh đề Cách làm này xuất phát từ sự ảnh hưởng sâu rộng của ch ủ nghĩa truyền thống Pháp và dấu ấn của nó còn để lại đến mãi về sau này Có thể thấy, sự khác biệt giữa câu và mệnh đề theo các tác giả của cuốn “Việt Nam văn phạm” chỉ là sự khác biệt về mặt số lượng của các mệnh đề và sự khác biệt đó không phải thuộc về những phẩm chất cơ bản của đơn vị mà
nó mang tên
1.4.2 Giai đoạn từ 1945 đến nay
Giai đoạn này đã chứng kiến sự trưởng thành và lớn mạnh của ngành ngôn ngữ học ở Việt Nam, với sự phát triển mạnh mẽ cả về số lượng lẫn chất lượng, là giai đoạn đánh dấu sự vận dụng có chọn lọc các đường hướng nghiên cứu ngôn ngữ trên thế giới Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân chủ quan, khách quan khác nhau mà việc nghiên cứu ngôn ngữ học ở Việt Nam giai đoạn này cũng còn nhiều điểm hạn chế Một trong những hạn chế
đó xuất phát từ nguyên nhân chiến tranh, hai miền Nam – Bắc vì thế trong
Trang 12một thời gian dài không có sự trao đổi qua lại về mặt học thuật và hậu quả tất yếu là mỗi miền lại phát triển theo một xu hướng riêng của mình Cũng
do hoàn cảnh chiến tranh nên các đường hướ ng nghiên cứu ngôn ngữ du nhập vào Việt Nam bằng nhiều nguồn và không đầy đủ Điều này đã gây trở ngại không nhỏ cho việc có được một giải pháp trọn vẹn theo một đường hướng nào đó
1.4.2.1 Vấn đề thứ nhất: Câu là gì?
Trước câu hỏi câu là gì, mặc dù chưa đưa ra được trả lời có sự nhất trí hoàn toàn nhưng khác với giai đoạn trước, giai đoạn này các nhà nghiên cứu tiếng Việt đã cho thấy sự tìm tòi và có sự vận dụng sáng tạo trong nghiên cứu Đi theo những đường hướng khác nhau mỗi nhà nghiên cứu có cánh nhìn nhận vấn đề riêng, và có sự vận dụng cụ thể Đi tìm câu trả lời,
có tác giả nhấn mạnh đến bình diện cấu trúc của câu, có tác giả nhấn mạnh đến ý nghĩa hoặc cả hai Giai đoạn này chứng kiến ba hướng đi nổi bật đó
là :
Hướng đi thiên hơn về ngữ pháp truyền thống
Hướng đi chịu ảnh hưởng của cấu trúc luận và cấu trúc chức năng luận
Hướng đị chịu ảnh hưởng của ngữ pháp chức năng
1.4.2.1.1 Hướng đi thiên hơn về ngữ pháp truyền thống
Tiếng Việt là một ngôn ngữ không biến hình từ nên có lẽ vì vậy trong hầu hết các công trình nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt “không có công trình đáng kể nào mà lại theo khuynh hướng hình thức một cách tuyệt đối”
Đi theo hướng ngữ pháp truyền thống các nhà nghiên cứu ngữ pháp giai đoạn này đã nhìn nhận vấn đề theo hướng chú ý đến cả hình thức lẫn nội dung, thậm chí coi trọng mặt nội dung hơn cả hình thức Định nghĩa của tác
giả cuốn “Ngữ pháp Việt Nam” là một ví dụ Định nghĩa này không chỉ
Trang 13phản ánh sự tìm tòi, thể nghiệm của tác giả khi đi giải quyết một vấn đề nan giải của cú pháp mà nó còn đánh dấu bước phát triển của ngữ pháp tiếng Việt đang cố thoát ra khỏi cái bóng của ngữ pháp nhà trường Pháp, mặc dầu
nó không khỏi gợi ra cho người ta nhiều thắc mắc như: liệu câu có nhất thiết do nhiều từ hợp lại? Một ý hoàn toàn là như thế nào?.v.v Đi theo hướng này còn phải kể đến Phan Khôi với Việt ngữ nghiên cứu (1955), Thanh Ba- Bùi Đức Tịnh với Văn phạm Việt Nam (1952), Nguyễn Hiến Lê với Để hiểu văn phạm (1952)
1.4.2.1.2 Hướng đi chịu ảnh hưởng của cấu trúc luận và cấu trúc chứ c năng luận
Do chiến tranh nên giai đoạn này Việt Nam bị chia cắt thành hai miền Nam - Bắc Đi theo hướng cấu trúc nhưng ở mỗi miền lại có sự khác biệt Miền Nam chịu ảnh hưởng của trường phái cấu trúc miêu tả Mỹ, còn miền Bắc lại chịu ảnh hưởng của trường phái cấu trúc châu Âu (đặc biệt là lý thuyết đại cương của Ferdinand de Saussure) Theo hướng cấu trúc luận, ở
miền Nam, giai đoạn này nổi bật lên đó là “ Khảo luận ngữ pháp Việt Nam ”
(1963) của Trương Văn Trình và Nguyễn Hiến Lê Còn tiêu biểu cho hướ ng
đi chịu ảnh hưởng của trường phái miêu tả Mỹ, ở miền Nam, đó là những công trình nghiên cứu về tiếng Việt của Lê Văn Lý Cũng theo hướng này
còn có những tác giả như: Bùi Đức Tịnh với “ Văn phạm Việt Nam - giản dị
và thực dụng” (1962), Trần Ngọc Ninh với “Cơ cấu Việt ngữ” (1973)
Ở miền Bắc, giai đoạn này, do những nguyên nhân cả chủ quan lẫn khách quan, các nhà nghiên cứu Việt ngữ chịu ảnh hưởng nhiều quan điểm của các học giả Nga (Liên Xô cũ) Định nghĩa về câu của viện sĩ Vinagradov là một trong số đó Có thể tìm thấy sự ảnh hưởng này trong những công trình nghiên cứu về câu của nhiều học giả Việt Nam giai đoạn
này như: Hoàng Trọng Phiến “ Cú pháp tiếng Việt (câu) (1980)”, Diệp Quang Ban “Câu đơn tiếng Việt (1978)”, Hoàng Tuệ “ Giáo trình về Vịêt