ĐỀ TÀI : KIẾN THỨC, THỰC HÀNH CHĂM SÓC VẾT THƯƠNG CỦA ĐIỀU DƯỠNG TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH HẢI DƯƠNG NĂM 2016 Sinh viên : Phạm Thị Thiêm Lớp : Điều dưỡng 7 Mã sinh viên : 3110214070 ĐẶ
Trang 1ĐỀ TÀI : KIẾN THỨC, THỰC HÀNH CHĂM SÓC VẾT THƯƠNG CỦA ĐIỀU DƯỠNG TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH HẢI DƯƠNG
NĂM 2016
Sinh viên : Phạm Thị Thiêm Lớp : Điều dưỡng 7
Mã sinh viên : 3110214070
ĐẶT VẤN ĐỀ
Vết thương là một vết cắt hoặc phá vỡ sự liên tục của một cơ quan hoặc
mô gây ra bởi một tác nhân bên ngoài, chẳng hạn như chấn thương hoặc phẫu thuật [1]
Có rất nhiều yếu tố nguy cơ gây nhiễm trùng vết thương.Tại chỗ có ổ nhiễm ,
dị vật , kỹ thuật khâu có sai sót, mô mất sinh lực , tụ máu , nhiễm trùng từ trước, vị trí nơi giải phẫu ở vùng thiếu máu nuôi hay đang có sự hiện diện của
vi khuẩn khi đóng vết mổ Vết thương do tỳ đè , do bệnh tiểu đường, do kỹ thuật giải phẫu như vết hở đóng chậm, mô dập nát rộng, vết khâu căng, vết thương có dẫn lưu Toàn than có bệnh nhân suy kiệt , mất nước, thiếu máu, thiếu dinh dưỡng, tuổi cao, béo phì, choáng, có bệnh mạn tính kèm theo, suy
hô hấp, suy tuần hoàn, ung thư, thuốc, sự trì hoãn trước mổ kéo dài, phẫu thuật kéo dài Vì vậy, dẫn đến nhiều biến chứng nguy hiểm [2]
Trong đó nhiễm khuẩn vết mổ là một biến chứng thường gặp tại các khoa ngoại nhất là do chưa làm tốt công tác chăm sóc sau mổ Nhiễm khuẩn vết mổ chiếm tỉ lệ đáng kể trong mô hình bệnh tật, là một trong 4 loại nhiễm khuẩn bệnh viện phổ biến [3]
Trang 2Tại Việt Nam, nhiễm khuẩn vết mổ chiếm 30% trong tổng số các trường hợp nhiễm khuẩn bệnh viện [3,4] Trong đó, chăm sóc vết mổ nói riêng và vết thương nói chung là một việc thực hiện hết sức quan trọng, có vai trò giảm thiểu tỉ lệ nhiễm trùng vết thương nói chung và nhiễm trùng vết mổ nói riêng Chăm sóc vết thương cho người bệnh là một việc làm không thể thiếu được của người Điều dưõng đối với ngưòi bệnh sau tiểu phẫu thuật hoặc hoặc phẫu thuật do nguyên nhân bệnh lý hay tai nạn Kỹ thuật chăm sóc vết thưong tốt giúp ngưòi bệnh phục hồi sức khoẻ nhanh chóng, kiểm soát vấn đề vô trùng, tăng cưòng niềm tin của ngưòi bệnh vào nhân viên y tế [5]
Việc có kiến thức và thái độ thực hiện kỹ thuật thay băng vết thưong hàng ngày không chỉ đảm bảo giữ vệ sinh vết thương mà còn giúp các nhân viên y
tế đánh giá vết thương, phát hiện đựơc những thay đổi bất thường của vết thương như hoại tử, nhiễm trùng, làm giảm nguy cơ nhiễm trùng vết mổ
Chăm sóc vết thương là việc làm hàng ngày của điều dưỡng, vì vậy việc có kiến thức có vai trò quan trọng trong chăm sóc vết thương Một là thúc đẩy quá trình liền vết thương, đánh giá vết thưong để phân loại, xác định và thu thập số liệu liên quan đến vết thương, sản phẩm chăm sóc phù hợp, cung cấp dinh dưỡng, nghỉ ngơi và tư vấn giáo dục sức khoẻ người bệnh Hai là phòng ngừa nhiễm khuẩn/ biến chứng : tuân thủ kỹ thuật vô khuẩn, làm sạch vết thương hiệu quả, ngừa nhiễm khuẩn chéo, vệ sinh người bệnh, giám sát chỉ
số sinh tồn, quan sát dấu hiệu hoặc hội chứng nhiễm khuẩn, báo bác sĩ ngay lập tức các dấu hiệu bất thường của người bệnh, điều trị kháng sinh theo chỉ định của bác sĩ
Tại Việt Nam, hiện tại khá ít nghiên cứu liên quan đến kiến thức ,chăm sóc vết thương của Điều dưỡng, và chỉ có một số nghiên cưú về đánh giá các bước trong quy trình thay băng Việc chăm sóc vết thương tại các cơ sở y t ế ở Việt Nam mới chỉ tập trung vào quy trình thay băng Quy trình chăm sóc vết
Trang 3thưong của các cơ sở này khác nhau do chuẩn chăm sóc vết thương và các quy trình chuẩn chưa được phổ cập trên toàn quốc Ít nghiên cứu về năng lực cuả điều dưỡng về kiến thức, thực hành về chăm sóc vết thương, mà chỉ tập chung vào quy trình thay băng [6]
Vì vậy , chúng tôi nghiên cứu tài liệu này nhằm mục tiêu :
1 Đánh giá kiến thức , thực hành chăm sóc vết thương của điều dưỡng tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hải Dương năm 2016.
2 Mô tả một số yếu tố liên quan đến chăm sóc vết thương của điều dưỡng tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Hải Dương năm 2016.
Trang 4CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU:
1 Chăm sóc vết thương
1.1 Khái niệm vết thương:
Vết thương là sự cắt đứt hay dập rách da và tổ chức dưói da hoặc các tổ chức khác của cơ thể [1]
Vết thương hình thành do nhiều nguyên nhân như : Chấn thương( cơ học, hóc học, vật lý), có chủ đích ( trong phẫu thuật) , thiếu máu( vết thương loét do tắc mạch) hay chèn ép Dù là chấn thương hay vết thưong có chủ đích thì đều phải trải qua sự vỡ mạch máu , chảy máu và hình thành các cục máu đông Đối với những vết thương có nguyên nhân do tắc mạch và do chèn ép, nguồn cung cấp máu bị gián đoạn bởi sự tắc nghẽn vi tuần hoàn tại chỗ [7]
1.2.Phân loại vết thương:
* Dựa trên tình trạng nguyên vẹn của da:
- Vết thương hở:
Vết thương hở cũng có thể phân loại dự trên đối tượng gây nên vết thương Các loại vết thương hở là : vết mổ , rạch gây ra bởi vật sắc nhọn như dao , thuỷ tinh vỡ Vết bỏng ( bỏng do nứơc sôi , acid , lửa…) Các vết cắt , vết thương, có thể xuất hiện thường xuyên hoặc không thưòng xuyên, tuy nhiên trong cuộc sống không thể tránh khỏi bị những vết thương thông thường ấy Các vết trầy da , vết thưong trên bề mặt trong đó lớp da bề mặt
bị mất đi, vết trầy xảy ra do có sự cọ xát của da với bề mặt gồ ghề Chans thương khi mất một phần mô cơ thể, vết thưonge này có thể xảy ra do tai nạn, phấu thuật cắt một phần cơ thể Ngoài ra còn có vết thưong do bị đâm, đạn bắn…
- Vết thưong kín :
Vết máu tụ hay còn gọi là tụ máu dưới da, vết thương này có nguyên nhân
da bị va đập hoặc có nguyên nhân bệnh lý như sốt xuất huyết , bầm máu
Trang 5*Dựa trên mức độ nhiễm trùng vết thương;
- Vết thương sạch :
Vết thương sạch là vết thương không có dịch rỉ viêm, không nhiễm khuẩn + Vết thương không khâu : không sưng tấy không có mủ hoặc dịch tiết , tổ chức hạt phát triển tốt , đang trong thời kỳ lên da non , có tiến triển tốt
+ Vết thương có khâu : mép vết thương phẳng , các chân chỉ không có biểu hiện sưng nong, đỏ , đau, không có dịch tiết
Một số vết thương xảy ra không bị vi khuẩn xâm nhập , không có sự hiện diện của vi khuẩn lên vết thương, vết thương dạng này không cần dùng thuốc , vết thương có thể tự khỏi và thông thường không có biến chứng sau khi vết thương lành
- Vết thương bị nhiễm bẩn :
+ Vết thương không khâu: xung quanh vết thương tấy đỏ , trong vết
thương có dịch , mủ , nhiều tổ chức hoại tử Những vết thương sâu , nhiều ngóc cạnh , mức độ tổn thương rộng dễ bị nhiễm khuẩn
+ Vết thương có khâu : Biểu hiện viêm , sưng tấy , đỏ xung quanh vết thương và chân chỉ
Vết thương nhiễm khuẩn thường gây nên các triệu chứng đau, nhức tại vết thương, bệnh nhân có thể sốt hoặc không sốt
Vết thương nhiễm khuẩn thường xảy ra do tai nạn , có vi sinh vật gây bệnh
và các vật thể lạ bám vào vết thương Với vết thương dạng này nên làm sạch vùng da bị tổn thương , loại bỏ dị vật bám vào vết thương
- Vết thương nhiễm trùng :
Một số dấu hiệu của vết thương bị nhiễm trùng như: vết thương có màu vàng , chảy mủ , đâu và đỏ Vết thương dạng này nên dùng thuốc kháng sinh và có phương pháp điều trị bằng thuốc cho vết thương nhanh lành [8] 1.3 Thay băng , rửa vết thương:
Trang 6- Mục đích của việc thay băng , chăm sóc vết thương:
+ Che kín vết thương tránh bội nhiễm tránh va chạm từ bên ngoài giúp ngưòi bệnh yên tâm
+Làm sạch vết thương
+ Cầm máu vết thương
+ Hạn chế phần nào cử động tại nơi có vết thương
+ Nâng đỡ các vị trí tổn thương bằng nẹp hoặc băng
+ Cung cấp và duy trì môi trường ẩm cho mô vết thương
-Nguyên tắc thay băng vết thương:
+ Áp dụng kỹ thuật vô khuẩn tuyệt đối khi thay băng vết thương
+ Mỗi khay thay băng chỉ dùng riêng cho một người bệnh
+ Rửa vết thương đúng nguyên tắc từ trong ra ngoài
+ Trên một người có nhiều vết thương cần ưu tiên rửa vết thương vô khuẩn trứơc xong đến vết thương sạch và đến vết thương nhiễm khuẩn + Rửa da xung quanh vết thương rộng từ 3 – 5 cm
+ Vết thương có lông, tóc cần phải cạo sạch trứơc khi thay băng
+ Vết thương ghép da khi thay băng phải có y lệnh
+ Trứơc khi cấy tìm vi trùng phải lấy bớt mủ và chất tiết từ vết thương trước rồi mới lấy
+ Thời gian bộc lộ vết thương càng ngắn càng tốt
+Nếu dùng thuốc giảm đau phải dùng 20 phút trước khi thay băng
1.4 Những yếu tố giúp nhanh lành vết thương
- Vết thương sạch khô
- Bờ mép vết thương gần nhau
- Dinh dưõng đầy đủ
- Dùng chất kích thích mô hạt mọc như dầu mù u
- Thay băng nhẹ nhàng , hạn chế thay băng
Trang 7- Dùng dung dịch rửa thích hợp.
- Massage vùng da xung quanh [9]
1.6 Các yếu tố liên quan đến chăm sóc vết thương của điều dưỡng:
* Tuổi ( thâm niên trong nghề ): những người làm việc lâu năm trong nghề có nhiều kinh nghiệm trong chăm sóc vết thương sẽ phảnh ánh tốt quá trình chăm sóc bệnh nhân
* Trình độ kiến thức: sự hiểu biết trong đánh giá bệnh nhân ,vết thương, môi trường chăm sóc phản ánh được khả năng thực hành chăm sóc vết thương
* Khối lượng công việc: điều dưỡng có khối lượng công việc càng nhiều trong một ngày thì sẽ ảnh hưỏng lớn đến chất lượng công việc và chăm sóc người bệnh [10]
2 Các nghiên cứu liên quan
2.1 Kiến thức , thực hành của điều dưỡng về chăm sóc vết thương trên thế giới:
Trên thế giới, trong những năm qua đã có các nghiên cứu tìm hiểu về kiến thức, thực hành của điều dưỡng về các kỹ thuật chăm sóc vết thương kết quả cho thấy điểm kiến thức và thực hành của điều dưỡng ở mức khá cao, điều dưỡng có kiến thức trong quản lý vết thương càng tốt thì khả năng đánh giá vết thương càng tốt , các tác giả đã tìm thấy có mối liên quan giữa việc cập nhật kiến thức trong vòng 2 năm trở lại với việc thực hành chăm sóc vết thương, tuy nhiên vẫn còn ít điều dưỡng được cập nhật kiến thức về vấn đề này
Nghiên cứu của Nagwa Younes Abou Enein và Ashraf Zagloul tại bệnh viện bảo hiểm y tế tại Alexandria, Ai Cập cho thấy điểm kiến thức về phòng và quản lý vết thương loét ép đạt chiếm 70%[11]
Nghiên cứu của Muna Suleman Abdel và cộng sự về kiến thức của điều dưỡng và các rào cản đối việc việc phòng ngừa , điều trị và đánh giá nguy cơ
Trang 8liên quan đến vết thương loét ép Điểm trung bình kiến thức chung về vết thương loét ép là từ 32,8- 50,4 Các rào cản đối với thực hành phong vết
thương loét ép bao gồm thiêú điều dưỡng, thiếu thời gian và không có hướng dẫn chăm sóc vết thương loét ép[12]
Mohamad YN Saleh và cộng sự tiến hành nghiên cứu can thiệp có đánh giá trước sau về các tác động của chương trình đào tạo về vết thương loét ép đến kiến thức ,thái độ và thực hành Kết quả cho thấy điều dưỡng nam có điểm kiến thức và thực hành cao hơn so với điều dưỡng nữ ,nhưng điều dưỡng nữ
có điểm dự định cao hơn Ngoài ra, điều dưỡng có kinh nghiệm làm việc càng nhiều thì có thái độ càng tích cực và dự định hơn đối với phòng ngừa vết thương loét ép Điều dưỡng có trình độ đại học và được đào tạo tại chức có thái độ tích cực hơn và có dự định đối với phòng và điều trị loét ép tốt hơn [13]
2.2.Kiến thực, thực hành của điều dưỡng về chăm sóc vết thương tại Việt Nam
Nếu chỉ xét về quy trình thay băng trong số các quy trình chăm sóc vết
thương, nghiên cứu của Phùng Thị Huyền và cộng sự về thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ quy trình thay băng thường quy của điều
dưỡng Bệnh viện Đại học Y Hà Nội( 2012) cho thấy tỉ lệ điều dưỡng đạt điểm giỏi là 51,6 % và khá là 43% [14]
Theo nghiên cứu của Đỗ Thị Hương Thu và cộng sự đánh giá thực hành thay băng trên 200 lần thực hành cho thấy 79% thực hành đúng toàn bộ các tiêu chí đánh giá quy trình thay băng ; 9,5% thực hành đúng trên 80% các tiêu chí đánh giá các quy trình thay băng; 10% thực hành đúng từ 70-80% các tiêu chí đánh giá , và 1,5 % thực hành đúng dưới 70% các tiêu chí đánh giá quy trình thay băng [15]
Trang 9Tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức , hàng năm có kế hoạch kiểm tra việc thực hiện các quy trình chuyên môn theo định kỳ , trong đó có kiểm tra thực hiện quy trình thay băng dựa vào các tiêu chí trong quy trình thay băng của Bộ Y
Tế và quy trình thay băng của bệnh viện Kết quả kiểm tra tay nghề cho 409 điều dưỡng tại 17 khoa lâm sàng của Bệnh viẹn Hữu nghị Việt Đức năm 2012
về kiến thức tiêm truyền và thay băng cho thấy : có 30% điều dưỡng có điểm kiến thức dưới trung bình ; có 40% điều dưỡng có điểm kiến thức trung bình
và 30% có điểm kiến thức trên trung bình [16] Về thực hành quy trình thay băng có 13% điều dưỡng không đạt yêu cầu [17,18]
2.3 Một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành của điều dưỡng về chăm sóc vết thương
* Giới tính:
Theo nghiên cứu của Angelillo (1999) cho kết quả kiến thức về kiểm soát nhiễm khuẩn tại phòng mổ của điều dưỡng nam cao hơn nữ [19;20]
*Thâm niên công tác:
Các kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, điều dưỡng có nhiều năm kinh nghiệm thực hành chăm sóc vết thương tốt hơn so với nhóm điều dưỡng ít năm kinh nghiệm thực hành Theo Hadcock , có một số lượng lớn điều dưỡng có kiến thức về chăm sóc vết thương đặc biệt là các điều dưỡng lâu năm có nhiều kinh nghiệm [22] Nghiên cứu của Westbrook và cộng sự về những thiếu sót trong tiêm tĩnh mạch ở bệnh viện và vai trò kinh nghiệm của 107 điều dưỡng tại Anh cho thấy điều dưỡng có nhiều năm kinh nghiệm mắc ít thiếu sót hơn [23]
*Trình độ học vấn :
Là một đặc điểm phản ánh thực hành của điều dưỡng Theo nghiên cứu của Williamson điều dưỡng có trình độ đại học có kiến thức và thực hành tốt hơn
so với nhóm có kiến thức và trình độ cao đẳng [24] Nghiên cứu của Winter
Trang 10và cộng sự cho thấy có nhiều nguyên nhân nên các thiếu sót trong đó có nguyên nhân chính gây nên các thiếu sót trong đó có nguyên nhân chính là thiếu kiến thức [24]
*Khối lượng công việc nhiều cũng sẽ gây ảnh hưởng đến thực hành chăm sóc vết thương của người điều dưỡng Nghiên cứu của Blake và cộng sự về ghi chép hồ sơ cho thấy chất lượng ghi chép hồ sơ của điều dưỡng là do khối lượng công việc và tỷ lệ điều dưỡng trên người bệnh [25]
* Mối liên quan giữa kiến thức và thực hành:
Có nhiều nghiên cứu chứng minh giữa kiến thức và thực hành của điều
dưỡng Tại Anh, Taxic K và Barker(2003) nghiên cứu về tỉ lệ xảy ra những thiếu sót và mức độ nghiêm trọng khi tiêm thuốc tĩnh mạch cho bệnh nhân thấy nguyên nhân là điều dưỡng thiếu kiến thức quy trình tiêm tĩnh mạch [26] Theo nghiên cứu của Chizoma về kiến thức và hành vi của điều dưỡng,
nữ hộ sinh trong phòng ngừa nhiễm HIV cho thấy kiến thức và hành vi có mối quan hệ với nhau Trong đó nghiên cứu của Humuan Kabir năm 2010 tại Banglades lại chỉ ra kiến thức và thực hành trong ngăn ngừa nhiễm khuẩn vết mổ có mối tương quan rất yếu Ngoài ra, một nghiên cứu khác của
Mbanya trên 107 đối tượng về kiến thức , thái độ thực hành của điều dưỡng cũng chỉ ra rằng kiến thức không có mối liên quan với thái độ và hành vi của họ[18]
Trang 11TÀI LIỆU THAM KHẢO :
8 Bộ Y Tế (2007) Điều dưỡng cơ bản Nhà xuất bản y học tr 168
5.Bộ Y T ế ( 2012), Kỹ năng thực hành điều dưỡng , Kỹ năng thực hành điều dưỡng, Nhà xuất bản Y học tr 229.
16 Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức (2012) Báo cáo tổng kết của phòng Điều dưỡng
7.Nguyễn Tấn Cường ( 2008) Điều dưõng ngoại I , Nhà xuất bản giáo dục
6 Ngô Thị Huyền (2012) Đánh giá thực hành chăm sóc vết thương và tìm
hiểu một số yếu tố liên quan tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức năm 2012 Tạp chí Y học thực hành , 857 (1), 117
18.Ngô Thị Huyền (2012) Kiến thức, thái độ, thực hành thay băng vết thương
và tìm hiểu một số yếu tố liên quan của điều dưỡng, kỹ thuật viên bệnh viện Việt Đức năm 2012, Đại học y tế Công cộng
14 Phùng Thị Huyền và các cộng sự (2012) Thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ quy trình thay băng thường quy của Điều dưỡng Bệnh
viện Đại học y Hà nội Y học thực hành ,879
15 Đỗ Thị Thu Hương (2005) “ Đánh giá thực trạng quy trình thay băng của các khoa làm điểm chăm sóc người bệnh toàn diện tại Bệnh viện Bắc Thăng Long” Hội nghị khoa học Điều dưỡng nâng cao chăm sóc người bệnh trong khoa ngoại lần thứ I, tr 258-242
25 Nguyễn Thị Long (2012) “ Sự thiếu sót của điều dưỡng trong thực hiện các bước tiêm tĩnh mạch tại bênh viện đa khoa khu vực nam Bình Thuận” Kỷ
yếu hội nghị khoa học điều dưỡngbệnh viện Việt Đức lần thứ V
2 Lê Đại Thanh (2008) “ Đánh giá thực trạng thay băng tại hai khoa ngoại
và phụ sản bệnh viện đa khoa Chương Mỹ năm 2008” Hội nghị khoa học
điều dưỡng lần thứ II