Nếu lượng khách du lịch vượt quá mức giới hạn này thì năng lực quản lý, khả năng chịu đựng của môi trường và hệ sinh thái sẽ không thể đáp ứng được nhu cầu của khách du lịch, mất khả năn
Trang 1PHẦN 3: MỘT SỐ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VỀ
DU LỊCH SINH THÁI
Nhận thức được vai trò và tính cấp thiết của du lịch sinh thái trong giai đoạn hiện nay, trong thời gian qua, tác giả cùng một số cộng tác viên thuộc Viện Khoa học Công nghệ và Quản lý Môi trường (Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh) đã tiến hành nghiên cứu về du lịch sinh thái tại một số địa điểm Qua đây xin giới thiệu để bạn đọc tham khảo
CHƯƠNG 12: DU LỊCH SINH THÁI TỈNH ĐỒNG NAI
Đồng Nai là một tỉnh thuộc miền Đông Nam Bộ có tiềm năng to lớn về du lịch với nhiều cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ, nhiều di tích lịch sử, đền đài cùng với sự phong phú về các nét đặc trưng văn hoá của nhiều dân tộc anh em thuận lợi phát triển nhiều loại hình du lịch khác nhau (du lịch sinh thái vườn, du lịch sông nước, du lịch vui chơi giải trí ) Tuy nhiên, tỉnh vẫn chưa phát huy hết tiềm năng của mình, chưa tạo được một sản phẩm du lịch hoàn chỉnh và thực sự cần thiết có những nghiên cứu nhằm đưa ra hướng đi mới
Đề tài được thực hiện nhằm mục tiêu điều tra, đánh giá tiềm năng và đề xuất giải pháp quy hoạch, một số mô hình nhằm tạo cơ sở khoa học cho việc phát triển bền vững du lịch sinh thái, bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên tỉnh Đồng Nai
Ngành du lịch Đồng Nai đã bước đầu thu hút các nhà đầu tư, nhiều công trình kết cấu hạ tầng kinh tế đã được đầu tư, vật chất kỹ thuật thường xuyên được nâng cấp, đổi mới, đội ngũ lao động đang từng bước được đào tạo Tỉnh đã có nhiều chính sách khuyến khích đầu tư trong lĩnh vực du lịch sinh thái, nhiều khu du lịch đã bắt đầu đi vào hoạt động và có nhiều chuyển biến tích cực Tuy nhiên, những gì đạt được chưa tương xứng với tiềm năng vốn có của tỉnh Hoạt động du lịch mới dừng lại ở việc khai thác nguồn lợi từ các dịch vụ ăn uống, khách sạn, chưa có các sản phẩm du lịch hoàn chỉnh, hệ thống dịch vụ kém, chất lượng phục vụ chưa cao chưa thu hút được du khách
Đồng Nai có vị trí thuận lợi: có đường quốc lộ nối trực tiếp với các đô thị khu vực, đường sắt xuyên Việt đi qua địa bàn, như một nút giao thông, kinh tế, văn hoá vùng kinh tế trọng điểm phía Nam Địa hình thuộc dạng trung du chuyển tiếp từ vùng cao nguyên đến đồng bằng với các dạng địa hình tiêu biểu như: cao nguyên
Trang 2núi lửa; đồng bằng núi lửa; sườn các nón núi lửa; các bề mặt san bằng có tuổi từ Miocen giữa đến Pleisocen sớm; thềm xâm thực – tích tụ bậc II, III, IV; bãi bồi, đồng bằng tích tụ sông - đầm lầy
Khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo và của không khí Chí tuyến Thái Bình Dương chia làm 2 mùa rõ rệt (mùa mưa và mùa khô), nhiệt độ trung bình tháng từ 22,6 - 28,60C và ổn định trong cả năm, hệ thống sông ngòi (Đồng Nai, La Ngà), hồ (Hồ Trị An, Đa Tôn, Sông Mây,…), thác (thác Mai, thác Trời, thác Giang Điền, thác
Ba Giọt…)… chiếm 2,8% diện tích tự nhiên làm cho không khí trong lành, tạo ra tiềm năng lớn về du lịch Tài nguyên rừng của tỉnh Đồng Nai có những đặc trưng cơ bản của cánh rừng nhiệt đới Tài nguyên động - thực vật đa dạng, nguồn gen phong phú Nhiều hệ sinh thái trong đó nổi bật là hệ sinh thái nguyên sinh (rừng giồng) và
hệ sinh thái rừng ngập mặn (rừng sác) Các loài động - thực vật quý hiếm nơi đây chiếm tỷ lệ cao trong tài sản động - thực vật quý hiếm của Quốc gia
12.1 Một số điểm du lịch sinh thái tỉnh Đồng Nai
Qua điều tra, nghiên cứu nhóm thực hiện đề tài đã xác định được tiềm năng du lịch sinh thái tỉnh Đồng Nai:
Du lịch vườn, sông nước gồm: Cù lao Hiệp Hòa, cù lao Ba Xê, cù lao Cỏ, cù lao Tân Vạn, khu du lịch vườn bưởi Tân Triều, khu du lịch vườn Long Hưng, Tam
An, khu du lịch đập Ông Kèo, khu du lịch Long Tân Phú Hội Các khu, điểm du lịch này hứa hẹn khả năng hình thành các sản phẩm du lịch vườn, sông nước, vui chơi giải trí dưới nước hấp dẫn độc đáo
Du lịch vui chơi giải trí, dã ngoại cuối tuần gồm: Trung tâm Văn hóa Du lịch Bửu Long, Lâm trại Sơn Tiên, khu du lịch Câu lạc bộ Xanh, khu du lịch Thác Giang Điền, Bò Cạp Vàng, là những trung tâm vui chơi giải trí có thể phát triển thành những điểm du lịch giải trí đặc trưng của tỉnh
Du lịch tham quan, nghỉ dưỡng gồm: Thác Mai - Hồ nước nóng, Đảo Ó - Đồng Trường phù hợp cho việc phát triển các loại hình du lịch tham quan, nghỉ dưỡng, chữa bệnh
Du lịch hành hương gồm: núi Chứa Chan – chùa Gia Lào, chùa Ông, chùa Đại giác, chùa Long Thiền, văn miếu Trấn Biên (được xem là văn miếu đầu tiên ở Nam bộ, Văn miếu ngày nay là nơi thờ phụng các danh nhân văn hóa Việt Nam và Nam bộ, bảo tồn và ghi danh các đơn vị, cá nhân có thành tích cao, là nơi thường xuyên diễn ra các hoạt động văn hóa và lễ hội dân tộc); Chùa Đại Giác (di tích lịch
sử cấp Quốc gia), chùa Long Thiền (Nhơn Trạch) và chùa Bửu Phong (Trung tâm Văn hóa Du lịch Bửu Long) được xem là 3 ngôi chùa cổ nhất Thành phố Biên Hoà; đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh (Cù lao phố - Biên Hoà); di tích lịch sử Chùa Ông (một công trình độc đáo với các tượng gốm men xanh của thợ gốm Cây Mai (Chợ Lớn)
về các đề tài như hát bội, hát tuồng, múa hát cung đình, tượng ông Nhật bà Nguyệt Thêm vào đó, các tạo tác bằng đá ở mặt tiền chùa do thợ đá Bửu Long tạo
Trang 3Hòa); đền thờ Nguyễn Tri Phương (thờ người anh hùng có công trong việc lập đồn điền, khai hoang lập ấp ở các tỉnh Nam bộ); đền Hùng (Bình Đa, là nơi thờ Quốc tổ Hùng Vương)
Du lịch thể thao gồm: sân Golf Long Thành, sân Golf sông Mây là những khu vui chơi giải trí cao cấp tiêu biểu mang lại nguồn thu lớn cho tỉnh
Du lịch sinh thái gồm: Vườn quốc gia Nam Cát Tiên, Khu bảo tồn gen rừng miền Đông Nam bộ bảo tồn sự đa dạng sinh học, tài nguyên rừng, và cũng là nơi tập trung, hội tụ các tài nguyên sinh học ở mức độ cao
Du lịch làng nghề: đan lát (P An Bình, An Hoà, Đan Sọt, H Tân Phú); trồng dâu nuôi tằm (Xã Nam Cát Tiên, H Tân Phú, xã Xuân Bắc, H Xuân Lộc); may thêu, kết cườm, dệt vải (P Tân Mai, Biên Hoà); dệt thổ cẩm (H Tân Phú); đồ gỗ mỹ nghệ (Xã Bình Minh - Huyện Trạng Bom); chạm khắc đá (P Bửu Long, Biên Hoà); gốm
mỹ nghệ (xã Tân Hạnh, Hoá An - Biên Hoà); chế biến tinh bột (xã Trà Cổ, huyện Trảng Bom); nghề bánh tráng (xã Thạnh Phú, huyện Vĩnh Cửu) Chế biến tinh bột (Xã Trà Cổ, H.Trảng bom)
Hiện nay, du lịch sinh thái tỉnh được biết đến với các điểm du lịch nổi tiếng như: khu du lịch sinh quyển Nam Cát Tiên, khu du lịch Bàu nước sôi (thuộc lâm trường Tân Phú), khu du lịch sinh thái làng bưởi Tân Triều, chiến khu Đ
12.2.Khu du lịch Vườn quốc gia Nam Cát Tiên
12.2.1 Giới thiệu về Vườn quốc gia Nam Cát Tiên
Vườn quốc gia Nam Cát Tiên là một kho báu về đa dạng sinh học Nơi đây, trong những cánh rừng nhiệt đới của miền Nam Việt Nam có các loài động vật quí hiếm đang có nguy cơ đe doạ tuyệt chủng cao nhất trên thế giới đang sinh sống Trong số
đó, có lẽ Cát Tiên được biết đến nhiều nhất vì có đàn tê giác Java sinh sống Đây là loài động vật tưởng chừng đã tuyệt chủng hơn 40 năm qua Và cả thế giới đã chú ý đến đàn tê giác này khi máy ảnh tự động đã ghi được hình ảnh của chúng vào năm
1999 Việc phát hiện loài tê giác này cũng đã thu hút sự chú ý của mọi người tới các loài động thực vật quý hiếm khác của Vườn quốc gia Nam Cát Tiên, một phần trăm trong số đó là các loài đặc hữu ở Đông Duơng Đó là loài voọc chà và chân đen (Pygathrix nigripes), loài cu li nhỏ (Nycticebus pygmaeus) và loài vượn đen má hung (Hylobates gabrillae) Vườn quốc gia Nam Cát Tiên còn là ngôi nhà của nhiều loài động thực vật quen thuộc khác nữa Thực tế, 30% các loài thú lớn được biết đến
ở Việt Nam đều sống ở Cát Tiên Trong số này có đàn voi Châu Á lớn thứ nhì trong
cả nước Ngoài ra, còn có các loài quí hiếm khác như gà lôi lam, nhiều loài chim nước và các đàn bò rừng cũng được tìm thấy ở đây
Vườn quốc gia Nam Cát Tiên với diện tích rộng khoảng 80.000 ha nằm ở khu vực chuyển tiếp giữa cao nguyên Đà Lạt - nơi có đặc tính riêng về địa lý sinh học và đồng bằng sông Mê kông Nằm ở khu vực nhiệt đới gió mùa, có 2 mùa rõ rệt , mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 và mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 Vườn đặc trưng
Trang 4có địa hình đồi dốc và khu vực đất bằng rộng Nhiều sông suối trong vườn đều đổ ra sông Đồng Nai, con sông lớn thứ 2 ở miền Nam Việt Nam
Mặc dù chịu ảnh hưởng nặng nề của chất diệt cỏ thời kỳ chiến tranh chống
Mỹ, và việc tàn phá rừng gây ra do khai thác gỗ phục vụ mục đích thương mại cũng như việc mở rộng diện tích đất nông nghiệp, Vườn quốc gia Nam Cát Tiên vẫn còn nhiều cánh rừng nhiệt đới đất thấp lớn nhất ở miền Nam Việt Nam, 50% tổng diện tích vườn là các cánh rừng thường xanh, bán thường xanh hoặc rừng hỗn hợp và hiện nay các cánh rừng này đang có dấu hiệu phục hồi Đa số diện tích còn lại là rừng tre nứa chiếm khoảng 40% diện tích vườn Rừng nguyên sinh chỉ chiếm một diện tích nhỏ Trảng cỏ, đất ngập nước và đất trồng trọt chiếm phần diện tích còn lại của vườn
Ở các vùng đất ngập nước- nơi có các cánh rừng ngập nước, ta có thể tìm thấy các loài động vật khác cũng đang thu hút sự chú ý của quốc tế như loài ngan cánh trắng (Cairina scutulata) Nếu sự tồn tại của quần thể của loài này được xác định, Vườn quốc gia Nam Cát Tiên sẽ được công nhận là vùng đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế theo Công ước Ramsar
Bên cạnh các loài động vật quí hiếm, Cát Tiên còn là nơi sinh sống của nhiều người dân địa phương Những người dân địa phương này sống rãi rác trong vòng 10
km xung quanh trung tâm vườn và chia Cát Tiên thành 2 khu vực riêng biệt Cát Lộc ở phía Bắc và Nam Cát Tiên ở phía Nam Khoảng 1.000 người dân địa phương sống bên trong vườn quốc gia và họ cũng như những người sống trong khu vực vùng đệm đều gây ra cho vườn những vấn đề nhất định
12.2.2 Thị trường khách du lịch Vườn Quốc Gia Nam Cát Tiên
Về cơ cấu khách du lịch, bao gồm 2 đối tượng: khách nội địa và khách quốc tế
Khách nội địa: Khách đến du lịch sinh thái ở đây có nhiều dạng cụ thể là:
Nhóm đông học sinh, các câu lạc bộ, sinh viên từ thành phố HCM hoặc các khu vực xung quanh thành phố Hồ Chí Minh lưu lại 1-2 đêm Họ đến đây chủ yếu để vui chơi, giải trí hay làm các đề tài luận văn về Vườn Quốc Gia Nam Cát Tiên
Nhóm du khách trong và ngoài tỉnh do công ty du lịch tổ chức lưu lại 1-2 đêm
Các nhà nghiên cứu trong nước đến thường xuyên và ở lại vài ngày và có khi tới hàng tháng
Những nhóm nhỏ hoặc đông người dự họp hoặc tham gia các khoá đào tạo trong
Trang 5Những nhóm ít du khách nước ngoài đến đây tham quan trong một hai ngày trên đường đi từ Thành phố Hồ Chí Minh lên Đà Lạt
Những nhà nghiên cứu nước ngoài đến thường xuyên và ở lại vài ngày và có khi đến hàng tháng
Bảng 12.1 : Lượng du khách nội địa, quốc tế và doanh thu của Vườn Quốc Gia Nam Cát Tiên trong năm 2002-2004
Năm Tổng lượng
Doanh Thu (triệu đồng)
Nguồn: Sở Thương mại –du lịch Đồng Nai
Qua số liệu ở trên ta thấy rằng: tổng lượng khách du lịch đến với Vườn Quốc Gia Nam Cát Tiên có tăng nhưng tốc độ tăng tương đối chậm, bình quân mỗi năm tăng khoảng 3.461 lượt khách nhưng chủ yếu là khách nội địa Vào năm 2002 khách nội địa tới 11.590 lượt khách chiếm 89,3% trong tổng lượng khách Đến năm 2004 khách nội địa tăng lên đến 18.013 (chiếm 92,1% trong tổng lượng khách du lịch ), bình quân mỗi năm tăng 3.212 lượt khách Số lượng khách quốc tế chiếm tỷ lệ tương đối nhỏ bé trong cơ cấu khách du lịch Năm 2002 chiếm 11,7% và đến năm
2004 thì chiếm 7,9% nhưng lượng khách quốc tế mỗi năm vẫn tăng, bình quân một
Trang 6số lượng khách quốc tế và khách nội địa.Nguồn du khách chủ yếu của vườn quốc gia chủ yếu là khách nội địa, khách quốc tế số lượng rất khiêm tốn Vì thế phải có chiến lược và kế hoạch hợp lý để nhằm thu hút khách quốc tế
Dự báo khách du lịch đến năm 2010 và định hướng phát triển du lịch sinh thái đến năm 2010 tầm nhìn đến năm 2020
Muốn dự báo lượng khách du lịch đến với VQG Nam Cát Tiên chúng ta cần có sự kết hợp của nhiều yếu tố Trước hết là tiềm năng phát triển du lịch sinh thái cộng với thực trạng phát triển và sau cùng là yếu tố sức chịu tải của khu du lịch đó.Với những tiền đề và cơ sở đó ta có thể dự đoán vào năm 2010 tổng lượt khách du lịch sinh thái đến nơi đây vào khoảng 45000 du khách trong đó khách quốc tế khoảng
5000 du khách Đó là những con số phỏng đoán dựa trên 3 tiền đề đã nêu ở trên, song song với quá trình dự báo lượng du khách thì chúng ta phải đề ra kế hoạch quy hoạch hợp lý nhằm đưa du lịch sinh thái ở đây phát triển một cách hợp lý và bền vững
12.2.3 Đánh giá sức chịu tải của Khu du lịch Vườn quốc gia Nam Cát Tiên
Có nhiều định nghĩa về sức chịu tải của hệ sinh thái nhưng có thể hiểu đó là mức giới hạn mà hệ sinh thái và môi trường nơi đây có thể tiếp nhận được về lượng
du khách, lượng rác thải, nước thải, nhiệt độ, ẩm độ…Mức giới hạn này được gọi là sức tải của khu du lịch Nếu lượng khách du lịch vượt quá mức giới hạn này thì năng lực quản lý, khả năng chịu đựng của môi trường và hệ sinh thái sẽ không thể đáp ứng được nhu cầu của khách du lịch, mất khả năng kiểm soát hoạt động của khách du lịch và hậu quả tất yếu là ảnh hưởng đến môi trường, hệ sinh thái, tài nguyên của khu vực, sinh cảnh của khu du lịch sinh thái sẽ không còn tồn tại Các loại sức tải như:
– Sức tải sinh thái (Ecological capacity): Số lượng cực đại khách du lịch tại một vùng có thể có được mà hệ sinh thái của vùng không bị ảnh hưởng
– Sức tải tự nhiên (Physical capacity): Giá trị giới hạn tuyệt đối về mặt số lượng khách du lịch tại một vùng mà nguồn lợi tại đó có thể chịu đựng được Sức tải
tự nhiên bao gồm các thiết bị điện, cấp nước, chất thải rắn, lỏng, hệ thống thông tin liên lạc, mạng lưới giao thông
– Sức tải môi trường (Environmental capacity): Số lượng cực đại khách du lịch có thể sống tại một khu vực mà không làm giảm sự hấp dẫn chung của nó
Để xác định sức chịu tải của hệ sinh thái các khu du lịch sinh thái điển hình trên địa bàn tỉnh, chúng tôi sử dụng công cụ SWOT, từ đó xác định được những điểm mạnh, điểm yếu của các hệ sinh thái Vườn quốc gia Nam Cát Tiên :
Trang 7xây dựng và hoạt động
2 Có một nền đa dạng sinh học cao,
hệ động thực vật ở đây thật phong
phú
3 Công tác bảo tồn được đề cao và
mang lại nhiều hiệu quả tích cực
4 Lấy lợi nhuận từ DLST tại Vườn
quốc gia Nam Cát Tiên phục vụ cho
công tác bảo tồn các loài động - thực
vật nơi đây
5 Kết hợp với các khu du lịch sinh
thái trong và ngoài tỉnh để nâng cao
2 Cơ sở hạ tầng phục vụ cho du lịch chưa phát triển Hệ thống giao thông còn yếu kém., điện nước phục vụ cho nhu cầu du lịch có nguy cơ quá tải
3 Sự phối hợp hoạt động giữa các cơ quan còn thiếu rõ ràng trong việc phân quyền và trách nhiệm giữa các bên quản lý vườn quốc gia
4 Chưa đánh giá hết được khả năng phát triển của Vườn quốc gia Nam Cát Tiên trong tương lai
1 Sự phát triển khu DLST Vườn quốc
gia Nam Cát Tiên góp phần không nhỏ
trong công tác bảo tồn các loài động
thực vật quý hiếm
2 Góp phần tôn tạo cảnh quan của
Vườn quốc gia
3 Nâng cao nhận thức của người dân
địa phương và khách du lịch sinh thái
trong việc bảo vệ thiên nhiên và bảo
tồn các loài động vật hoang dã
4 Tạo việc làm và nâng cao thu nhập
cho người lao động địa phương
5 Lưu truyền những nét văn hoá đặc
sắc của địa phương và học hỏi những
nét văn hoá mới
1 Vấn đề ô nhiễm rác thải, nước thải
và ô nhiễm không khí trong hoạt động
du lịch sinh thái là không trách khỏi
2 Chưa đầu tư được đội ngũ hướng dẫn viên du lịch sinh thái cho địa phương
3 Sự xuất hiện của quá nhiều khách
du lịch vào một thời điểm sẽ ảnh hưởng đến đời sống một số loài động vật
Ngoài công cụ SWOT, đề tài còn sử dụng phương pháp tính toán sức tải thường xuyên của các khu du lịch sinh thái:
CPI = AR/a Trong đó:
- CPI: sức tải thường xuyên (Instantaneous carrying capacity)
- AR: Diện tích của khu vực (Size of area)
- a : tiêu chuẩn không gian (Diện tích cần cho một người trong hoạt
động du lịch sinh thái
Bằng phương pháp này các nhà nghiên cứu đã tính được sức tải thường xuyên
Trang 8- Vườn quốc gia Nam Cát Tiên: CPI = 38.1000000/250 =1524000 người
Sức tải hàng ngày của khu du lịch sinh thái được tính bằng công thức:
CPD = CPI x TR = TR/a Trong đó:
- CPD : sức tải hàng ngày (Daily capacity)
- TR : Công suất sử dụng mỗi ngày (Turnover rate of users per day)
Bằng phương pháp này các nhà nghiên cứu đã tính được sức tải hàng ngày của khu du lịch sinh thái trên là:
- Vườn quốc gia Nam Cát Tiên: CPD = 1524000*60% = 914400 người
Sức tải hàng năm của khu du lịch được tính theo công thức:
CPY = CPD/PR = (AR*TR)/(a*PR) Trong đó:
- CPY : sức tải hàng năm (Yearly capacity)
- PR : Ngày sử dụng (tỷ lệ ngày sử dụng liên tục trong năm)
Bằng phương pháp này các nhà nghiên cứu đã tính được sức tải hàng năm của các khu du lịch sinh thái trên là:
- Vườn quốc gia Nam Cát Tiên: CPY = CPD/300 = 914400/300 = 348 người
Sức tải sinh thái của khu du lịch: bao gồm lượng khách du lịch mà khu du lịch có thể tiếp nhận vào cùng một thời điểm mà không làm tổn hại đến hệ sinh thái (đất, nước, không khí, động thực vật của khu du lịch
Theo Boulllion, 1985 thì: “Sức tải du lịch sẽ bằng tổng diện tích sử dụng của khu du lịch chia cho tiêu chuẩn trung bình của một khách”
C = A/S Trong đó:
- C: là sức tải du lịch
- A: Tổng diện tích của khu vực được sử dụng cho du lịch
- S: Tiêu chuẩn trung bình tương ứng cho một khách
Bằng phương pháp này các nhà nghiên cứu đã tính được sức tải sinh thái của các khu du lịch sinh thái trên là:
- Vườn quốc gia Nam Cát Tiên: C = 381000000/3000 = 127000 người
Ngoài ra đề tài còn tập trung nghiên cứu sức tải tự nhiên (Physical capacity)
và sức tải môi trường (Environmental capacity) của các khu du lịch
Việc tính toán sức tải của các khu du lịch sinh thái Đồng Nai nhằm đánh giá khả năng mà các khu du lịch này có thể tiếp nhận được về lượng khách, rác thải, nước thải và những tác động mà hoạt động du lịch có thể gây ra đối với các môi trường thành phần, lên sinh vật và cuộc sống người dân khu vực xung quanh Chính
vì vậy, công việc tính toán sức tải cho các khu du lịch sinh thái ở Đồng Nai trước, trong và sau khi xây dựng là rất cần thiết nhằm phục vụ cho phát triển du lịch tại địa phương Hướng sự phát triển của các khu du lịch sinh thái này theo hướng bền vững
Trang 912.2.4 Đề xuất một số mô hình phát triển du lịch sinh thái bền vững tại Vườn quốc gia Nam Cát Tiên
Mô hình hội thảo nghiên cứu ,cắm trại:
- Hoạt động của mô hình: Cần xây dựng một khu vực chứa tài liệu, sách
báo, hình ảnh để du khách tìm đọc và nghiên cứu Mô hình này là nơi lý tưởng để cho học sinh, sinh viên trải qua những ngày trại hè
- Địa điểm xây dựng mô hình: Mô hình này đòi hỏi mặt bằng tương đối
rộng, với số lượng người đông để không gây tác hại đến hệ sinh thái Vì vậy muốn
có một mô hình theo đúng yêu cầu thì xã Nam Cát Tiên là địa điểm xây dựng thích hợp nhất
Mô hình du lịch làng nghề:
- Mục đích: giúp cho khách tham quan tìm hiểu và mua sắm
- Hoạt động của mô hình: Xây dựng nhiều cụm sản xuất, mỗi cụm sẽ sản
xuất các mặt hàng khác nhau và được liên kết với nhau tạo thành một làng nghề phong phú
- Địa điểm xây dựng mô hình: Ấp 4, xã Tà Lài, huyện Tân Phú
Mô hình này có nhiều hình thức hoạt động đòi hỏi có nhiều hộ cùng tham gia
Hình 12.1:Hình ảnh du lịch làng nghề tre giang đan
Trang 10Mô hình du lịch văn hoá, lịch sử:
- Mục đích: giới thiệu cho du khách hiểu thêm về phong tục tập quán, văn
hoá của dân tộc bản địa
- Hoạt động của mô hình: ở đây có 2 dân tộc bản địa là Mạ và Stiêng có
nền văn hoá mang đậm tính truyền thồng, một kho tàng văn hoá đặc trưng: lễ hội đâm trâu, kể chuyện truyền thuyết, thần thoại và những nhạc cụ gắn liền với đời sống văn hoá tâm linh
Người phụ nữ Mạ nổi tiếng với nghề dệt thổ cầm với những hoa văn tinh vi Bạn cũng được tham quan di tích khảo cổ nền văn hoá Oc Eo và di tích lịch sử ngục
Lợi ích của mô hình: sự tham gia của người dân địa phương sẽ giúp cho du khách có ý thức hơn trong việc bảo vệ cảnh tự nhiên và góp phần tăng thu nhập cho địa phương
Để cho công tác xây dựng các mô hình du lịch sinh thái được hình thành và để cho du lịch sinh thái trở thành du lịch sinh thái bền vững thì cần có các biện pháp bổ sung để nhằm thực hiện thắng lợi công tác xây dựng mô hình du lịch sinh thái Đó là công tác bảo tồn
Việc phát triển du lịch tại Vườn quốc gia Nam Cát Tiên phải gắn với sự hài hòa giữa phát triển kinh tế và công tác bảo tồn, phải luôn coi trọng tính bền vững
Do đó, các hoạt động về du lịch tại đây, đặc biệt là du lịch sinh thái cần phải đứng trên quan điểm tài nguyên và môi trường như:
- Tổ chức các cuộc vận động tuyên truyền, giáo dục người dân trong khu
vực VQG nâng cao nhận thức về ý thức, trách nhiệm bảo vệ và quản lý nguồn tài nguyên rừng và các loài động thực vật quí hiếm hiện đang sinh sống tại VQG
- Đề xuất chỉ định một số địa phận của các lâm trường này trở thành những
“rừng bảo hộ vùng đầu nguồn quan trọng” Bốn trong số năm lâm trường này tiếp giáp với sông Đồng Nai, nguồn nước chính của thành phố Hồ Chí Minh và vùng kinh tế xung quanh, là vùng kinh tế lớn nhất trong cả nước Tình trạng suy thoái của những khu rừng này có thể dẫn đến việc lòng sông sẽ bị nghẽn đầy bùn, làm nước lũ dâng cao và dẫn đến xói mòn đất, gây thiếu nước cho thủy lợi, tất cả những nguy cơ
đó đều đe dọa sức khỏe và sinh kế của hàng triệu người dân Chỉ định này có thể giúp tăng cường bảo vệ những khu rừng này thông qua việc hạn chế khai thác các
Trang 11- Để đáp ứng yêu cầu này, dự án bảo tồn Vườn quốc gia Nam Cát Tiên cần
xây dựng một kế hoạch đầu tư cho khu rừng Theo đó, Khu bảo tồn thiên nhiên Vĩnh Cửu đã được Ủy ban Nhân dân tỉnh chính thức thành lập đầu năm nay Chiếm một diện tích lớn hơn toàn bộ vùng phía nam của Vườn quốc gia Nam Cát Tiên, khu bảo tồn thiên nhiên mới này đã mở rộng diện tích sinh cảnh cho rất nhiều loài, và làm tăng khả năng sống sót của chúng trong một thế giới đang ngày càng bị thu nhỏ
đi như hiện nay
- Quy hoạch tổng thể Vườn quốc gia Nam Cát Tiên theo các phân khu chức
năng: khu hành chính, dịch vụ (ăn, nghỉ, vui chơi, cắm trại ); khu tham quan; khu phục hồi sinh thái (tổ chức các chương trình trồng rừng các loại cây quí hiếm, cây
có nguy cơ tiệt chủng cho các đoàn học sinh, sinh viên, tổ chức nghiên cứu về thực vật); khu bảo vệ nghiêm ngặt
- Xây dựng các nhà nghỉ với kiến trúc đơn giản, tiện nghi phù hợp với cảnh
quan thiên nhiên, rừng, cây cỏ Gắn với các nhà ăn, khu dịch vụ ăn uống tiện nghi, sạch sẽ, vệ sinh
Ngoài ra, cần có các câu lạc bộ thể thao như bóng chuyền, bóng bàn, bida, cầu lông, hồ bơi
Tóm lại nếu như các mô hình này được xây dựng thành công thì sẽ mang lại lợi ích rất lớn dân cư khu vực này: tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập cho người dân; đồng thời sẽ giúp rừng của lâm trường được bảo vệ vì có sự phối hợp hành động của dân địa phương và khách du lịch Để công tác xây dựng mô hình du lịch sinh thái cần có biện pháp bổ sung Đó là công tác bảo tồn thông qua các hình thức sau:
Tổ chức các cuộc vận động tuyên truyền, giáo dục người dân trong khu vực VQG nâng cao nhận thức về ý thức, trách nhiệm bảo vệ và quản lý nguồn tài nguyên rừng và các loài động - thực vật quí hiếm hiện đang sinh sống tại đây
- Dự án Bảo tồn Lâm trường Tân Phú cần xây dựng một kế họach đầu tư
theo từng giai đoạn cụ thể cho từng khu Theo đó, Qui hoạch chi tiết 1/500 khu du lịch Thác Mai - hồ nước nóng đã được UBND tỉnh phê duyệt theo các phân khu chức năng: khu hành chính, dịch vụ (ăn, nghỉ, vui chơi, cắm trại ); khu tham quan; khu phục hồi sinh thái (tổ chức các chương trình trồng rừng các loại cây quí hiếm, cây có nguy cơ tuyệt chủng cho các đoàn học sinh, sinh viên, tổ chức nghiên cứu
về thực vật); khu bảo vệ nghiêm ngặt
- Các dịch vụ hỗ trợ: tổ chức theo từng nhóm tham quan ( có giới hạn số
lượng người) bằng các phương tiện như xe đạp hoặc đi bộ Trong quá trình tham quan có phát những tờ bướm giới thiệu tổng quan về thác Mai, về rừng của lâm trường Tâm Phú, các trang thiết bị thiết yếu liên quan như ống nhòm, thuốc chống vắt, giầy đi rừng, áo mưa ; Vận chuyển bằng xe jeep để tham quan rừng, xem thú vào ban đêm; tổ chức các loại hình du lịch thể thao mạo hiểm, cảm giác mạnh như xây dựng cầu treo trên các ngọn cây để xem thú hoặc làm các nhà chòi trên cao; đi xuồng chéo tay, thuyền cazắc vượt thác, tham quan bằng cano ngắm cảnh sông nước
Trang 12Xây dựng các nhà nghỉ với kiến trúc đơn giản, tiện nghi phù hợp với cảnh quan thiên nhiên, rừng, cây cỏ; Gắn với các nhà ăn, khu dịch vụ ăn uống tiện nghi, sạch
sẽ, vệ sinh
Phát triển khu du lịch thác Mai- hồ nước nóng sẽ góp phần phát triển ngành
du lịch tỉnh nhà, đồng thời góp phần phát triển kinh tế - xã hội địa phương và của lâm trường Tân Phú Với những tiềm năng du lịch sẵn có với các sản phẩm độc đáo
và cảnh quan hữu tình, nhưng hiện nay điểm du lịch này chưa được khai thác đúng tầm Với một tiềm năng như vậy cần có cơ chế thu hút vốn mời gọi đầu tư từ các thành phần kinh tế trong và ngoài nước nhằm đưa khu du lịch sinh thái nghỉ dưỡng hấp dẫn này trở thành một trong những khu du lịch sinh thái hấp dẫn của tỉnh Đồng Nai cũng như của cả nước
12.3 Khu du lịch Thác Mai
12.3.1.Giới thiệu khu du lịch Thác Mai
Cách TP Hồ Chí Minh khoảng 100 km, nằm trên địa bàn huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai, rừng Thác Mai có diện tích trên 13 ngàn ha với hệ sinh thái, động thực vật phát triển khá phong phú
Cây rừng xen lẫn với thác nước, hang động tạo nên một cảnh quan vừa hoang sơ vừa quyến rũ
Thác Mai có chiều dài 2km, với 5 đảo cây cối xanh tươi và rất nhiều mai rừng mọc đầy cả hai bên bờ thác Cắm trại, tham quan dã ngoại ở đây, du khách sẽ thưởng thức không khí trong lành giữa tiếng thác đổ ầm ì suốt ngày Bên cạnh đó, nơi đây còn có bàu nước nóng với diện tích 7ha có nhiệt độ 50-60 độ C, đã được kiểm định có chứa các thành phần khoáng chất có tác dụng tốt cho sức khỏe Không chỉ vậy, du khách còn có thể khám phá hang Dơi, Động Kim Quy hay còn gọi là Tam sơn thất động, thác Sa Cá và nhiều điểm khác chưa ai đặt tên
12.3.2 Hiện trạng khách du lịch khu du lịch Thác Mai:
Khu du lịch Thác Mai vì chưa được quy hoạch , chưa được đầu tư nên chưa được khách du lịch tiếp nhận chính vì vậy khách du lịch ở đây là không nhiều so với tiềm năng của khu vực Bàu Nước Sôi (theo thống kê báo cáo số 15/BC.L ngày 21/5/2003 của Lâm Trường Tân Phú vào 5 tháng đầu năm 2003 có 5985 lượt khách đến khu du lịch Bàu nước Sôi và cả khu Thác Mai kế cận)
Trong những năm vừa qua khách du lịch đến huyện Định Quán ngày càng tăng ,tính đến năm 2002 tổng lượng khách du lịch đến huyện Định Quán có khoảng
20000 lượt chủ yêú đến khu du lịch Thác Mai -lâm trường Tân Phú v à Thác Ba Giọt ,trong đó năm 2002 lượng khách đến lâm trường Tân Phú chiếm 46,48% tổng
Trang 13lượt khách ,chủ yếu là khách du lịch nội địa đến từ các tỉnh Nam Bộ (từ Biên Hoà ,TPHCM và các tỉnh lân cận mục đích của khách đến là du lịch sinh thái ,vui chơi,giải trí ,chữa bệnh
Bảng 12.7: Khách du lịch đến lâm trường Tân Phú Đơn vị :lượt khách
Lượt
khách
Nguồn: Sở Thương mại –du lịch Đồng Nai
Năm 2005 khu du lịch đón được 10,9 ngàn lượt ,trong đó khách quốc tế đón được 0,9 ngàn lượt ,chiếm 8,25 % và khách nội địa đón được 10 ngàn lượt ,chiếm 91,75 % tổng lượng khách đến du lịch Dự kiến đến năm 2010 khách quốc tế đến khu du lịch Thác Mai đạt 2,5 ngàn lượt , chiếm 13,62 % và khách nội địa vào khoảng 13 ngàn lượt ,chiếm 80,38 % tổng khách đến khu du lịch Ước tính đến năm
2020 khách quốc tế đến đây tăng gấp 2 lần và khách nội địa tăng gấp 3,5 lần so với năm 2010.Như vậy đến năm 2020 khách quốc tế đến Thác Mai dự kiến là 5 ngàn lượt khách và khách nội địa là 66,5 ngàn lượt
.Bảng 12.8: Dự kiến lượng khách diễn biến
Trang 14Nguồn: Sở Thương mại –du lịch Đồng Nai
Bảng 3.9: Dự kiến lượng khách diễn biến
Trang 15Đối tượng khách là các doanh nhân thường có nhu cầu đi nghỉ cuối tuần hoặc đi công tác kết hợp với đi du lịch Thời gian lưu trú của những đối tượng khách này thường từ 1-1,5 ngày
Trang 16Trong các đối tượng trên thì các doanh nhân thường có nhu cầu đi du lịch cùng gia đình là những đối tượng khách có khả năng chi trả cao Đối tượng là học sinh, sinh viên và cán bộ đi cùng cơ quan đoàn thể là có khả năng chi trả ở mức trung bình
du lịch.Khu du lịch nên tập trung vào các đối tượng khách nước ngoài có nhu cầu đi nghỉ cuối tuần, đi tham quan nghỉ dưỡng Cần phối hợp với khu du lịch Bàu Nước Sôi để thu hút khách từ khu du lịch này
12.4 Một số nội dung cần thực hiện nhằm phát triển du lịch sinh thái bền vững của tỉnh Đồng Nai
12.4.1 Quy hoạch về không gian du lịch sinh thái:
Dựa theo định hướng phát triển không gian du lịch tỉnh Đồng Nai được xem xét và phân tích trong mối quan hệ “vùng hấp dẫn” để phát triển du lịch của tỉnh thì một trục du lịch phù hợp với tất cả các định hướng phát triển không gian để có được những dự án khả thi là trục dọc tuyến quốc lộ 51- đi Bà Rịa Vũng Tàu và tuyến quốc lộ 20- đi Lâm Đồng và tuyến quốc lộ 1- đi Bình Thuận Do tính chất của tỉnh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, khả năng hình thành sân bay quốc tế Long Thành, khả năng liên hệ vùng Tp HCM, Bà Rịa Vũng Tàu với các cảng quá cảnh quốc tế là rất lớn và từ đó hình thành một khu vực dịch vụ du lịch lớn theo trục này
Không gian du lịch số 1 sẽ hình thành dọc sông Đồng Nai từ Cát Lái đến Bửu Long - Biên Hòa và từ Nhà Bè gắn với Cù lao Ông Cồn đến Cần Giờ gắn với Khu
du lịch đập Ông Kèo qua rừng Sác huyện Nhơn Trạch cho phép tổ chức các loại hình du lịch sinh thái vườn, sông nước và các dịch vụ có yêu cầu diện tích đầu tư lớn và gần với thiên nhiên hoang dã hơn
Không gian du lịch thứ 2 sẽ là khu đồi, núi, thác, suối, rừng tự nhiên của các huyện Thống Nhất, Định Quán, Tân Phú, Vĩnh Cửu, Xuân Lộc, Cẩm Mỹ, nơi có khả năng tổ chức các loại hình du lịch tham quan, vui chơi giải trí, nghỉ dưỡng, nghiên cứu, du lịch tín ngưỡng
Trang 17không gian các làng nghề truyền thống như nghề gốm thủ công, dệt thổ cẩm, chạm khắc đá, đan lát, may thêu, chế tác gỗ Định hướng phát triển không gian du lịch trên đây sẽ cho phép tổ chức các tuyến điểm du lịch hấp dẫn với nhiều loại hình du lịch các sản phẩm du lịch độc đáo tương xứng với tầm vóc phát triển trong định hướng chiến lược phát triển kinh tế xã hội tỉnh Đồng Nai giai đoạn 2010 và tầm nhìn đến năm 2020
Quy hoạch về sản phẩm du lịch sinh thái, tour, tuyến điểm
Đồng Nai có tài nguyên du lịch phong phú, có thể phát triển nhiều loại hình
du lịch Trong đó nổi bật các thế mạnh:
- Du lịch tham quan, vui chơi giải trí: Công viên chuyên đề (Theme Park)
là loại hình phát triển phù hợp để thu hút khách từ khu công nghiệp và từ Tp HCM Loại hình này phục vụ khách trong ngày bằng các trò chơi náo nhiệt, vận động, có thể phát triển trên diện tích nhỏ nhưng thu hút du khách tại chỗ và các vùng lân cận rất tốt
- Du lịch sinh thái rừng: tập trung ở huyện Vĩnh Cửu tiếp giáp Bình Dương,
Bình Phước và Lâm Đồng Điểm mạnh là có thể kết hợp du lịch bằng đường bộ và đường sông (theo mùa nước) Tuyến du lịch Hồ Trị An làm phong phú thêm sản phẩm du lịch cho vùng này
Còn các tuyến du lịch sẽ được quy hoạch thành 5 tuyến chính như: tuyến du lịch sông Đồng Nai, tuyến Vĩnh Cửu - Thống Nhất - Trảng Bom, tuyến Long Thành – Nhơn Trạch, tuyến Tân Phú - Định Quán, tuyến Xuân Lộc – Long Khánh - Cẩm
Mỹ
Chia các điểm du lịch theo các cụm như sau:
+ Cụm du lịch vui chơi giải trí, hội nghị, mua sắm, trung tâm thương mại Cụm điểm du lịch này có ý nghĩa quốc gia và quốc tế, tập trung ở 2 huyện Long Thành và Nhơn Trạch
+ Cụm du lịch sông kết hợp các di tích, văn hoá và lịch sử Cụm điểm du lịch này có ý nghĩa vùng và địa phương, tập trung ở thành phố Biên Hòa
+ Cụm du lịch sinh thái tự nhiên Cụm điểm du lịch này có ý nghĩa quốc gia và địa phương, tập trung ở các huyện Tân phú, Vĩnh Cửu, Thống Nhất
+ Cụm du lịch tham quan, nghỉ dưỡng Cụm điểm du lịch này có ý nghĩa vùng
và địa phương, tâp trung ở Định Quán ( giáp ranh với tỉnh Bình Thuận)
+ Cụm du lịch văn hóa hành hương Cụm điểm du lịch này có ý nghĩa vùng và địa phương, tập trung ở huyện Xuân Lộc, Long Khánh
Qui hoạch phát triển các ngành VH - XH gắn với phát triển DLST bền vững
Tăng cường năng cao nhân thức và sự chủ động tham gia vào công tác quy hoạch, quản lý, kinh doanh của cộng đồng địa phương trong phát triển du lịch
Khuyến khích tổ chức và hỗ trợ đầu tư về vốn để các hộ gia đình sản xuất các hàng thủ công mỹ nghệ vừa để phục vụ khách tham quan vừa trao đổi hàng hóa
Trang 18Cử người hướng dẫn nhân dân tại các vùng, điểm du lịch làm du lịch, kinh doanh du lịch, vệ sinh nhà cửa, có phong cách giao tiếp lịch sự với du khách mà lộ trình khách có thể đến tham quan, mua hàng hoặc nghỉ lại
Nghiên cứu xây dựng Chương trình “Du lịch cho mọi người” nhằm phổ cập kiến thức du lịch cho các tầng lớp nhân dân Đưa một số nội dung về du lịch vào các chương trình đào tạo phổ thông, truyền hình, truyền thanh và cổ động
Qui hoạch đào tạo phát triển nguồn nhân lực du lịch:
Cần có chương trình đào tạo với những kế hoạch cụ thể nhằm nâng cao kiến thức và trình độ nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ, nhân viên hiện đang công tác trong ngành thuộc các khu vực nhà nước, liên doanh và tư nhân Bao gồm: phân loại đối tượng và xây dựng kế hoạch đào tạo cụ thể các cấp trình độ chuyên ngành bao gồm đào tạo và đào tạo lại đáp ứng yêu cầu phát triển hiện nay của ngành du lịch tỉnh Đồng Nai, phối hợp với các đơn vị đào tạo (như: trường nghiệp vụ du lịch thành phố
Hồ Chí Minh, đại học kinh tế Tp Hồ Chí Minh – Khoa thương mại Du lịch ) tổ chức các lớp đàp tạo ngắn hạn về nghiệp vụ hướng dẫn, buồng, bàn, bếp, lễ tân, ngoại ngữ cho cán bộ, nhân viên của các doanh nghiệp du lịch trên địa bàn tỉnh;
cử cán bộ, sinh viên có năng lực sang các nước phát triển để đào tạo trình độ đại học
và sau đại học cũng như để thực tập nâng cao tay nghề, nghiệp vụ chuyên ngành du lịch
Tăng cường hợp tác trao đổi kinh nghiệm nghiệp vụ thông qua các chuyến công tác khảo sát và tham gia hội nghị, hội thảo khoa học ở các nước có ngành du lịch phát triển
Xây dựng và xúc tiến chương trình nâng cao hiểu biết về du lịch trong cách ứng xử đối với khách du lịch cho nhân dân, nhân viên trong ngành du lịch Có phối hợp với các tỉnh thành vùng lân cận có du lịch phát triển như thành phố Hồ Chí Minh, Lâm Đồng, Bà Rịa Vũng Tàu, Bình Thuận, Khánh Hòa
Đề xuất các giải pháp bảo vệ môi trường trong phát triển DLST
Phát triển du lịch sinh thái và các hoạt động liên quan đã góp phần không nhỏ làm cho tài nguyên môi trường và các hoạt động sinh thái bị xuống cấp trầm trọng
Đó chính là hậu quả của việc sử dụng đất đai, xây dựng các khu du lịch không đúng nơi hoặc không đảm bảo chất lượng làm ảnh hưởng đến nguồn tài nguyên nước, tài nguyên không khí, tài nguyên đất, tài nguyên sinh vật và đa dạng sinh học
Lượng rác thải, nước thải ngày càng gia tăng và nếu như không được xử lý đúng sẽ làm ảnh hưởng trực tiếp đến hệ sinh thái Làm tăng độ phú dưỡng hóa ở các hồ chứa nước , tạo điều kiện tích tụ nhiều bùn lầy, làm suy thoái chất lượng nước và ảnh hưởng đến đời sống động thực vật
Ngay từ khi bắt đầu quy hoạch khu du lịch cho đến khi đưa mô hình vào hoạt động, cần phải có các biện pháp và chính sách ngay giải quyết hoặc làm giảm thiểu các vấn đề tiêu cực mà các ảnh hưởng của hoạt động du lịch mang lại Cần đảm bảo
Trang 19Bố trí các cán bộ có kiến thức, nghiệp vụ thường xuyên theo dõi công tác bảo
vệ môi trường trong khu quy hoạch du lịch để không ngừng cải thiện và nâng cao chất lượng môi trường Có chương trình, kế hoạch hướng dẫn khách du lịch làm theo những nội quy, quy định của khu du lịch, đồng thời có hình thức xử phạt hợp lý Đầu tư, xây dựng và tu bổ mới thường xuyên các trang thiết bị phục vụ cho hoạt động du lịch… (hệ thống nhà nghỉ, khách sạn, nhà vệ sinh, bồn rửa mặt, hệ thống thu gom và xử lý rác thải… )
Đề xuất các giải pháp bảo tồn tài nguyên thiên nhiên, đa dạng sinh học và cảnh quan tự nhiên trong phát triển DLST
Đối với khu vườn quốc gia, khu bảo tồn gen, lâm trường thì biện pháp bảo tồn tài nguyên thiên nhiên, cảnh quan và đa dạng sinh học đầu tiên là phải quy hoạch, xác lập ranh giới, phân vùng bảo tồn cụ thể Đầu tiên cần thống kê, kiểm tra một cách có hệ thống các phân vùng sinh học cụ thể, có tính đại diện cho từng sinh cảnh Lồng ghép các khu bảo tồn vào phát triển kinh tế, vì chính các mục đích này sẽ mang lại nguồn kinh phí để giúp duy trì hoạt động của khu vực Và khi các khu vực này đã quy hoạch cụ thể và đưa vào hoạt động thì cần làm các thủ tục đánh giá tác động môi trường (EIA) một cách nghiêm ngặt
Cung cấp tài chính, thu hút vốn cho các khu bảo tồn để xây dựng, cải thiện cơ
sở hạ tầng, đường đi lại, cải thiện và nâng cao đời sống nhân viên, cải thiện điều kiện bảo tồn các giống quý hiếm; hạn chế xây dựng thêm các công trình nhân tạo, các công trình nhằm cải tạo cảnh quan tự nhiên nếu không thực sự cần thiết và cấp bách Đồng thời xem xét đến các vấn đề chi trả các dịch vụ sinh thái (PES) cho các khu bảo tồn
Phân chia các khu bảo tồn với mức độ bảo vệ khác nhau (khu vực du khách được hoặc không được phép tham quan, khu vực được phép hoặc không được phép
sử dụng các tiện nghi của du khách, khu vui chơi dành cho du khách ), quy định
và áp dụng nghiêm ngặt các quy định về tốc độ phương tiện (nếu có), bãi đậu xe, thời gian và âm thanh còi xe
Đào tạo đội ngũ kiểm lâm và các nhà quản lý có năng lực, trình độ chuyên môn đáp ứng đồng thời các yêu cầu về quản lý cũng như bảo tồn (bao gồm bảo vệ, hướng dẫn, tuyên truyền cho du khách, cộng đồng địa phương )
Tổ chức thực hiện các chương trình thúc đẩy cộng đồng địa phương tham gia vào công tác bảo tồn một cách hiệu quả nhất (tổ chức giao tài nguyên thiên nhiên cho cộng đồng quản lý, đào tạo và đưa người dân vào mạng lưới quản lý )
Xây dựng mới phải tuân thủ các nguyên tắc bảo tồn, không gây ảnh hưởng đến cảnh quan tự nhiên Phục hồi các cảnh quan tự nhiên trong khu du lịch có thể sử dụng phương pháp thụ động (loại trừ các yếu tố dẫn đến suy thoái và tác động cảnh quan thiên nhiên, sau đó để cho thiên nhiên tự phục hồi) hoặc phương pháp chủ động (con người trực tiếp kiếm soát quá trình phục hồi, xây dựng và nâng cấp hệ sinh thái thảm thực vật Bao gồm việc bao lại vùng quy hoạch, cung cấp con – cây
Trang 20giống, trồng lại rừng, thay đổi dòng chảy, tăng cường các biện pháp kiểm soát các loài sinh vật ngoại lai
12.4.2 Đánh giá tác động môi trường từ các hạng mục xây dựng cơ bản và khai thác tại các điểm du lịch sinh thái trọng tâm của tỉnh Đồng Nai:
Đánh giá tác động môi trường từ các hạng mục xây dựng cơ bản:
Công tác đánh giá tác động môi trường từ các hạng mục xây dựng cơ bản và khai thác tại các điểm du lịch cần được thực hiện ngay trong giai đoạn nghiên cứu tiềm năng phát triển bền vững du lịch sinh thái tỉnh Đồng Nai Đánh giá tác động môi trường trong giai đoạn này chủ yếu là xác định các loại hình du lịch đã và đang được triển khai; nhận dạng các nguồn tác động và môi trường chịu tác động; phân tích và dự báo các tác động; cuối cùng là đề xuất một số biện pháp giảm thiểu các tác động lên môi trường tự nhiên và môi trường kinh tế - xã hội
Trong đó các nguồn tác động đến môi trường thường bao gồm bốn nhóm yếu tố: nguồn tác động của dự kiến bố trí công trình xây dựng, các nguồn tác động đầu vào của phát triển du lịch, nguồn tác động trong các giai đoạn phát triển du lịch và các tác động đầu ra của dự án Các yếu tố này tác động mạnh mẽ đến yếu tố môi trường tự nhiên và nhân văn, ảnh hưởng đến cơ cấu sử dụng đất và cảnh quan của khu vực quy hoạch, làm tăng mức độ ô nhiễm không khí, ô nhiễm đất, nước; phá huỷ hệ sinh thái thực vật, xáo trộn kinh tế, ảnh hưởng đến văn hoá truyền thống Tuy nhiên những tác động này cũng có mặt tích cực như sẽ góp phần bảo vệ môi trường, nếu xảy ra sự cố môi trường sẽ sớm phát hiện và khắc phục Các chính sách bảo vệ động thực vật sẽ được sọan thảo và áp dụng chặt chẽ hơn Hiện trạng môi trường sẽ thường xuyên được kiểm tra và có những dự báo hợp lý Phát triển du lịch thì sẽ tạo thêm nhiều công ăn việc làm cho cộng đồng, đa dạng hóa cơ cấu ngành nghề, tạo thêm nhiều tiềm năng du lịch, tăng cường ý thức về vệ sinh công cộng và
y tế cộng đồng Mặt tiêu cực là nó sẽ làm thu hẹp diện tích sinh sống của cộng đồng, tăng sự phân hóa xã hội tạo mâu thuẫn trong khai thác tài nguyên giữa các ngành kinh tế trên địa bàn Tạo nên những thay đổi trong lối sống truyền thống văn hóa bản địa, ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng
Các giải pháp giảm thiểu tác động môi trường được đề xuất nhằm giảm bớt, tránh các hậu quả môi trường của các hoạt động phát triển với mục tiêu là đạt lợi ích đến mức tối đa và giảm những tác động đến mức tối thiểu:
Áp dụng biện pháp giá cả đối với người du lịch để vừa điều chỉnh sức chứa vừa điều chỉnh năng lực phục vụ cơ sở hạ tầng và tài nguyên thiên nhiên của khu du lịch Tiến hành đánh giá tác động môi trường và tạo nên sự thống nhất giữa cộng đồng địa phương với những người hoạt động du lịch Tiến hành hoạt động tài chính đảm bảo cho đời sống của cộng đồng Giám sát hoạt động cung cấp nước sạch và khả năng xử lí nước thải của các hoạt động du lịch một cách chặt chẽ Ứng dụng các thể chế luật pháp cho dự án đạt kết quả tốt Lực lượng lao động ở địa phương cũng cần
Trang 21tạo nên Phát triển du lịch đòi hỏi sự hợp tác quản lí giữa các cơ quan có trách nhiệm, các cơ quan văn hóa , thiên nhiên Kiểm soát sự biến động của các loài và cá thể hoang dã của vùng quy hoạch du lịch Thiết lập các chương trình đào tạo bổ sung cho các nhà hoạt động du lịch Những giải pháp giảm thiểu tác động môi trường nêu trên có thể áp dụng chung cho các điểm phát triển du lịch sinh thái trong toàn tỉnh Đồng Nai Tuy nhiên, tùy từng trường hợp, từng khu vực mà nên có các giải pháp
cụ thể hơn
Xác định các loại hình du lịch đã và đang được triển khai:
Với hơn năm mươi điểm du lịch, tiềm năng phát triển du lịch sinh thái Đồng Nai rất đa dạng và phong phú, có rất nhiều đề xuất về phương hướng quy hoạch du lịch:
Quy hoạch du lịch sinh thái theo không gian
Quy hoạch du lịch sinh thái theo sản phẩm
Quy hoạch du lịch sinh thái theo các tuyến
Phát triển du lịch sinh thái Đồng Nai có thể quy hoạch theo nhiều phương hướng khác nhau như theo không gian du lịch, theo sản phẩm du lịch hoặc theo các tuyến du lịch Nhìn chung, nó bao gồm ba loại hình du lịch chính là du lịch rừng núi,
du lịch sông nước và du lịch vườn quốc gia
Nhận dạng các nguồn tác động và môi trường chịu tác động
Nguồn tác động đến môi trường:
Các nguồn tác động môi trường trong quá trình xây dựng
Nguồn tác động trong các giai đoạn phát triển du lịch
Môi trường trong phát triển du lịch bị tác động
Môi trường tự nhiên
Môi trường nhân văn
Phân tích và dự báo các tác động môi trường
Tác động đến môi trường không khí
Ô nhiễm do khí thải phát sinh từ các phương tiện vận tải
Ô nhiễm do khí thải từ máy phát điện dự phòng
Chất thải rắn tại khu nhà hàng: Các loại chất thải rắn thực phẩm, túi nilông, nhựa, giấy thải, bao bì v.v…
Chất thải rắn nguồn gốc từ thực vật trong khuôn viên: lá cây, cành cây khô
Trang 22Tác động đến hệ sinh thái:
Các hoạt động như tham quan, nghỉ ngơi… của du khách ít nhiều ảnh hưởng
đến hệ sinh thái các khu du lịch (dẫm lên cỏ, khắc lên thân cây, xả rác, bẻ cành,… )
Một số tác động khác
Sự cố hỏa hoạn
Kinh tế xã hội
Đề xuất giải pháp giảm thiểu các tác động lên môi trường
Môi trường không khí: che chắn, cách ly cẩn thận công trường trong quá trình thi công; thường xuyên kiểm tra, bảo dưỡng động cơ của các phương tiện, sử dụng nhiên liệu có hàm lượng lưu huỳnh thấp; sắp xếp giờ làm hợp lý tránh trường hợp tập trung tiếng ồn cùng lúc; bố trí hệ thống cây xanh trong và ngoài khu vực
Giảm ô nhiễm do nước thải: thu gom và xử lý bằng bể tự hoại trước khi thải
ra hệ thống thoát nước của khu vực; xây dựng mạng lưới cống, mương thoát nước khu vực
Giảm thiểu ô nhiễm do rác thải: quy định bãi rác, chất thải rắn được thu gom
và có biện pháp xử lý như chôn lấp hợp vệ sinh (tái sử dụng, dùng san lấp mặt bằng ) tránh phóng uế, vứt rác bừa bãi gây ô nhiễm môi trường
Các biện pháp phòng chống sự cố môi trường: Trang thiết bị an toàn và hệ thống PCCC, Hệ thống thoát hiểm…
Những giải pháp giảm thiểu tác động môi trường nêu trên có thể áp dụng chung cho các điểm phát triển du lịch sinh thái trong toàn tỉnh Đồng Nai Tuy nhiên, tùy từng trường hợp, từng khu vực mà nên có các giải pháp cụ thể hơn Đề tài cũng
đã đưa ra được một số giải pháp giảm thiểu tác động môi trường áp dụng cho một số vùng trọng điểm trên địa bàn tỉnh Đồng Nai
12.4.3 Liên kết phát triển du lịch sinh thái:
Tour nội tỉnh :
- Chương trình tham quan Vườn quốc gia Nam Cát Tiên: tour 1 ngày (du
khách có thể lựa chọn hình thức đi bộ hoặc bằng xe Jeep tham quan rừng, thăm các tuyến du lịch ); tour 2 ngày 1 đêm (có 5 hình thức tham quan để du khách có thể lựa chọn)
- Tuyến Vĩnh Cửu - Thống Nhất - Trảng Bom: tour làng bưởi Tân Triều,
tour đảo Ó - Đồng Trường - chiến khu Đ - làng dân tộc Phú Lý - VQG Cát Tiên Đây là tour 2 ngày 1 đêm , với sản phẩm du lịch phong phú: du lịch sinh thái vườn, kết hợp với tham quan di tích lịch sử, trung tâm du lịch sinh thái - di tích lịch sử kết hợp với du lịch sinh thái rừng
- Tuyến Tân Phú - Định Quán: Du lịch Vườn quốc gia Nam Cát Tiên là khu
du lịch sinh thái trọng điểm; khu du lịch Thác Mai - Hồ nước nóng theo loại hình du lịch sinh thái kết hợp nghỉ dưỡng
Trang 23- Tour: Thác Mai - Bàu Nước Sôi - Hồ Trị An - Chiến khu Đ: 2 ngày 1 đêm
với các sản phẩm du lịch sinh thái phong phú: du lịch sinh thái hồ, kết hợp với du lịch di tích, kết hợp với du lịch sinh thái rừng, hang động
- Tour du lịch nối kết nhiều điểm đến của Đồng Nai gồm: Làng bưởi Tân
Triều - di tích lịch sử Chiến khu Đ - làng dân tộc Phú Lý hiện đang được Sở Thương mại và Du lịch tỉnh Đồng Nai xúc tiến xây dựng
Tour ngoài tỉnh:
- Vũng Tàu - Vườn quốc gia Nam Cát Tiên (2 ngày/ 1 đêm)
- Chiến khu Đ - Địa đạo Củ Chi - Căn cứ cách mạng Tây Ninh (3 ngày 2
đêm)
CÂU HỎI ÔN TẬP
1 Anh (chị) hãy cho biết hiện trạng phát triển du lịch sinh thái tỉnh Đồng Nai hiện nay?
2 Anh (chị) hãy phân tích và đánh giá các tiềm năng du lịch sinh thái tỉnh Đồng Nai?
3 Phân tích sức tải một số điểm du lịch sinh thái tỉnh Đồng Nai, từ đó nêu ưu điểm của phương pháp này?
4 Dựa trên hiện trạng một số điểm du lịch sinh thái tỉnh Đồng Nai, anh (chị) hãy
đề xuất một số mô hình phát triển du lịch sinh thái mà anh (chị) chị cho là hiệu quả nhất?
5 Dựa trên hiện trạng một số điểm du lịch sinh thái tỉnh Đồng Nai, anh (chị) hãy
đề xuất phương hướng quy hoạch du lịch sinh thái bền vững của tỉnh Đồng Nai?
6 Đánh giá tác động môi trường các hạng mục xây dựng cơ bản và khai thác tại các điểm du lịch sinh thái trọng tâm của tỉnh Đồng Nai cần được bắt đầu từ lúc nào?
7 Đánh giá tác động môi trường trong giai đoạn nghiên cứu tiềm năng phát triển
du lịch sinh thái chủ yếu tập trung vào các nội dung nào?
8 Nêu các nguồn tác động đến môi trường của hoạt động du lịch sinh thái tại tỉnh Đồng Nai?
9 Phân tích ưu, nhược điểm các loại hình du lịch đã và đang được triển khai trên địa bàn tỉnh Đồng Nai?
10 Đề xuất các biện pháp giảm thiểu các tác động lên môi trường của hoạt động du lịch sinh thái trên địa bàn tỉnh Đồng Nai?
Trang 24CHƯƠNG 13: NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG ĐỀ ÁN KHU DU LỊCH SINH THÁI ĐẠ TẺH, ĐẠ HÀM
13.1 Tổng quan đề tài:
13.1.1 Mục tiêu:
Đề tài được thực hiện với mục tiêu kết hợp du lịch sinh thái vườn - hồ Đạ Tẻh, vườn
- hồ Đạ Hàm gắn với bảo tồn và phát huy làng nghề truyền thống mà vẫn bảo đảm
sự phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội cho đồng bào dân tộc bản địa tại huyện Đạ Tẻh (Lâm Đồng) Từ đó hướng tới bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển du lịch sinh thái trong mối quan hệ với phát triển bền vững; đáp ứng nhu cầu quy hoạch, phát triển du lịch sinh thái của vùng vườn - hồ Đạ tẻh và vùng vườn hồ Đạ Hàm; đưa huyện Đatẻh vào bản đồ du lịch nhằm quảng bá hình ảnh, thu hút sự quan tâm, đầu tư phát triển kinh tế - văn hoá – xã hội từ bên ngoài; cung cấp các luận cứ khoa học về phát triển du lịch sinh thái cho các nhà quản lý, các nhà làm công tác quy hoạch, các doanh nghiệp lữ hành và cộng đồng địa phương
13.1.2 Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp luận: đề tài được thực hiện dựa trên điểm tổng hợp, trong đó
lãnh thổ du lịch sinh thái được xem là một hệ thống cấu thành bới nhiều phân hệ: phân hệ sinh thái tự nhiên, phân hệ xã hội – nhân văn, phân hệ kinh tế, phân hệ du lịch sinh thái Các phân hệ này có mối tác động qua lại lẫn nhau, hệ thống chỉ bền vững khi tạo lập được mối cân bằng giữa các phân hệ
- Phương pháp nghiên cứu cụ thể: phương pháp tiếp cận và phân tích hệ
thống (thích hợp cho việc nghiên cứu các đối tượng phức tạp mà du khách là một hệ thống được hình thành từ nhiều phân hệ khác nhau như: du khách, tài nguyên du lịch, công trình kỹ thuật, cán bộ nhân viên du lịch, điều hành); phương pháp khảo sát - xã hội học (thu thập thông tin, điều tra khảo sát thực địa nhằm thu thập thêm số liệu thực tế và đánh giá hiện trạng, phỏng vấn và điều tra theo mẫu); phương pháp bản đồ GIS; phương pháp kinh tế sinh thái; phương pháp chuyên gia; phương pháp SWOT
13.2 Tổng quan khu vực nghiên cứu
13.2.1 Hiện trạng phát triển kinh tế - xã hội Đạtẻh:
Qua các số liệu về tình hình kinh tế - xã hội của địa phương có thể rút ra rằng: tốc độ tăng trưởng kinh tế của huyện Đạ Tẻh tăng khá đều qua các năm: Trung bình tăng 113,36%
Trong đó: nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng mạnh nhất: 117,23%; ngành dịch
vụ tăng 109,13%; ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và xây dựng tăng 111,13% Kinh tế huyện Đạ Tẻh qua các năm có xu hướng tăng dần tỉ trọng ngành nông, lâm nghiệp và thuỷ sản; và giảm dần tỉ trọng các ngành khác
Trang 25Có thể nhận thấy rằng ngành dịch vụ tăng trưởng thấp nhất trong tất cả các ngành nhưng đạt giá trị cao hơn hẳn ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và xây dựng Điều này chứng tỏ sự quan tâm, tạo điều kiện phát triển của chính sách địa phương đối với ngành dịch vụ đồng thời cũng chứng tỏ người dân có xu hướng đầu
tư phát triển ngành dịch vụ Bên cạnh đó, Đạtẻh lại có điều kiện tự nhiên thuận lợi,
có nguồn đa dạng sinh học cao và nhiều nguồn tài nguyên tự nhiên khác Đây là những điều kiện thuận lợi mang tính chất nền móng đối với việc phát triển du lịch tại hồ Đạ Tẻh và hồ Đạ Hàm
Không du lịch và không người hoạt động trong ngành du lịch, huyện Đạ Tẻh cần nhiều nỗ lực để đào tạo nguồn nhân lực và đầu tư vào ngành ngành công nghiệp không khói này Điều này cũng là một lợi thế của Đạ Tẻh, bởi vì điều đó có nghĩa là một chương trình đào tạo du lịch sinh thái không chỉ hướng dẫn cho người dân về các nghiệp vụ du lịch, mà nó còn nâng cao nhận thức bảo vệ môi trường của họ, sau cùng, nó cho họ một cơ hội nghề nghiệp để thoát khỏi đói nghèo
Số lượng khách sạn – nhà hàng trên thực tế khảo sát hầu như chỉ là những hàng quán mang tính chất kinh doanh nhỏ, phục vụ nhu cầu dân trong vùng hơn có thể gọi là nhà hàng khách sạn, nhưng chính điều này lại trở thành lợi thế vì khách du lịch sinh thái thường thích những khung cảnh gần gũi thiên nhiên
Ngành tiểu thủ công nghiệp phát triển ở quy mô hộ gia đình với việc vào rừng lấy măng, lồ ô, song mây về bán hoặc làm tăm nhang, đây là công việc thứ hai mà
họ lựa chọn, sau việc làm rẫy hoặc ruộng
Hệ thống giao thông khá thuận lợi
13.2.2 Hiện trạng phát triển du lịch:
Hiện trạng phát triển du lịch tại hồ Đạ Tẻh:
Có 95 hộ, 475 khẩu là người Mạ vẫn được trợ cấp gạo, dầu, muối Có 31 hộ di dời lên Đạ K‟Lan trồng điều, cà phê Có 5 hộ dệt len, dệt thổ cẩm, và một nhà nuôi tằm cung cấp tơ Nghề truyền thống cùng với bản sắc văn hoá người Mạ đang ngày càng mai một
Cảnh quan hồ Đạ Tẻh: nhìn chung vẫn giữ được nét nguyên sơ, chưa bị tác động bởi bàn tay con người Hơn nữa, thuộc vào dạng cảnh quan thiên nhiên đẹp, được bộ Văn Hóa Thông Tin công nhận là Di tích đẹp
Về mặt cảnh quan, đây là thuận lợi cho việc phát triển du lịch tại hồ Đạ Tẻh Tuy nhiên, về khía cạnh môi trường, qua quá trình khảo sát, dựa vào cảnh quan sinh thái học, có thể nhận ra rằng, rừng của hồ Đạ Tẻh đang trong giai đoạn thoái hóa, do tre nứa đang phát triển rất nhiều và rất nhanh Do đó cần có biện pháp bảo vệ và khôi phục rừng để đảm bảo lượng nước và cảnh quan của hồ Đạ Tẻh
Hiện trạng phát triển du lịch tại hồ Đạ Hàm:
Dân cư chủ yếu là người Tày và Nùng di cư, có một buôn của người Mạ là buôn Tố Lan Dân cư ở đây chủ yếu làm ruộng, bên cạnh đó thì nhận khoán vào rừng để lấy măng, lồ ô Hầu như không có một hoạt động nghề thủ công truyền thống nào còn
Trang 26tồn tại cho đến ngày nay Tuy nhiên ở đây có một khung cảnh rất đặc trưng cho nông nghiệp lúa nước, một làng quê đẹp và yên bình
Cảnh quan Đạhàm/Đạtẻh đều có thể phân thành ba phần như sau: cảnh quan hệ sinh thái rừng tự nhiên ở phía thượng lưu của các hồ, phần giữa là cảnh quan hồ - đập và phần dưới hạ lưu cửa các đập là cảnh quan nông thôn, với hệ sinh thái nông nghiệp đặc trưng của đông đảo dân cư sinh sống Mỗi một phần cảnh quan khu vực nghiên cứu đều có vẻ đẹp mang tính đặc trưng và sinh động của nó, điều này góp phần phong phú cho việc nghiên cứu và đề xuất các loại hình du lịch sinh thái
Tóm lại, để phát triển du lịch sinh thái ở hồ Đạ Tẻh và hồ Đạ Hàm xét từ thực trạng cho thấy cần làm 2 việc: Đào tạo và lập kế hoạch quản lý tài nguyên rừng trước khi bắt tay vào triển khai bất cứ một dự án du lịch nào Bởi vì, để phát triển bền vững thì giàu có tài nguyên chỉ cho điều kiện cần, quản lý và khai thác thế nào thì hoàn toàn phụ thuộc vào con người và nhận thức của con người
Phân tích tính bền vững của các khu du lịch sinh thái
Đánh giá tính bền vững của DLST nhằm đánh giá sự thành công của công tác điều hành, đồng thời giúp cho các nhà quản lý sớm phát hiện tình trạng hay nguy cơ suy thoái của một điểm du lịch Tuy nhiên, hoạt động DLST phụ thuộc vào nhiều yếu tố
và dễ bị tổn hại dưới tác động của các điều kiện bất lợi của môi trường trong và ngoài hệ thống Vì vậy, việc đánh giá tính bền vững của DLST cần dựa vào nhiều tiêu chí khác nhau gồm:
13.3 Đánh giá tính bền vững của khu du lịch sinh thái hồ Đạ Tẻh và hồ Đạ Hàm
Trang 27Bảng 13.11: Đánh giá tính bền vững của du lịch sinh thái hồ ĐạTẻh
+ Sức tải thường xuyên của khu du lịch lịch sinh thái hồ Đạ Tẻh: 42255 người
+ Sức tải hàng ngày của khu du lịch: 12677 người + Sức tải hàng năm của khu du lịch: 70 người + Sức tải sinh thái của khu du lịch: 1408 người
Công tác bảo tồn - Mức độ khai thác và bảo vệ tài nguyên do hoạt động DLST:
+ Khai thác còn thấp, công tác bảo tồn chưa đạt nhiều hiệu quả
- Số lượng các điểm du lịch được bảo vệ, tôn tạo: 1
- Diện tích cảnh quan bị xuống cấp do xây dựng so với tổng diện tích của khu du lịch: + Không đáng kể
Sử dụng hiệu quả các tài nguyên
- Lượng tiêu thụ điện, nước bình quân ngày tính trên một du khách:
+ Lượng tiêu thụ điện: 1kwh/ngày/du khách + Lượng tiêu thụ nước: 300l/ngày/ du khách
Quản lý chất thải - Hàm lượng các chất ô nhiễm trong không khí, đất, nước:
+ Nồng độ CO 2 , tổng lượng bụi còn thấp, BOD, COD trong nước thấp
- Lượng chất thải tại điểm du lịch chưa được xử lý:
+Tương đối ít
Bền vững kinh
tế
Sự tăng trưởng kinh tế - Doanh thu từ hoạt động DLST: Không thống kê được
- Tốc độ gia tăng của doanh thu từ du lịch sinh thái: còn thấp
Trang 28 Hiệu quả kinh tế - Số ngày lưu trú bình quân tính trên một khách DLST: 1ngày
- Số lượt khách trở lại so với tổng số khách DLST đã đến: 12% so với tổng số khách
Hiệu quả xã hội - Mức độ khai thác và bảo tồn các di tích lịch sử, văn hóa của địa phương (so với tình
trạng nguyên thủy) do hoạt động DLST: 90%
- Mức đóng góp của DLST cho phúc lợi xã hội của địa phương so với tổng giá trị phúc lợi của địa phương: 10%
- Mức gia tăng chi phí sinh hoạt của người dân địa phương do việc phát triển DLST: 20%
- Mức độ thương mại hóa của các giá trị văn hóa truyền thống (lễ hội, nghệ thuật dân
Trang 29Bảng 3.2 Đánh giá tính bền vững của du lịch sinh thái hồ Đạ Hàm
+ Sức tải thường xuyên của khu du lịch lịch sinh thái: 9827người
+ Sức tải hàng ngày của khu du lịch: 2948 người
+ Sức tải hàng năm của khu du lịch: 10 người người + Sức tải sinh thái của khu du lịch: 327 người
người
Cộng tác bảo tồn - Mức độ khai thác và bảo vệ tài nguyên do hoạt động DLST:
+ Khai thác còn thấp, công tác bảo tồn chưa đạt nhiều hiệu quả
- Số lượng các điểm du lịch được bảo vệ, tôn tạo: 1
- Diện tích cảnh quan bị xuống cấp do xây dựng so với tổng diện tích của khu du lịch:
+ Không đáng kể
Sử dụng hiệu quả các tài nguyên
- Lượng tiêu thụ điện, nước bình quân ngày tính trên một du khách:
+ Lượng tiêu thụ điện: 1,5 kwh/ngày/du khách + Lượng tiêu thụ nước: 250l/ngày/ du khách
Quản lý chất thải - Hàm lượng các chất ô nhiễm trong không khí, đất, nước:
+ Nồng độ CO 2 , tổng lượng bụi còn thấp, BOD, COD trong nước thấp
- Lượng chất thải tại điểm du lịch chưa được xử lý:
+Tương đối ít
Trang 30 Bền
vững kinh tế
Sự tăng trưởng kinh tế - Doanh thu từ hoạt động DLST: Không thống kê được
- Tốc độ gia tăng của doanh thu từ du lịch sinh thái: còn thấp
Hiệu quả kinh tế - Số ngày lưu trú bình quân tính trên một khách DLST: 1,5ngày
- Số lượt khách trở lại so với tổng số khách DLST đã đến: 15% so với tổng số khách du lịch đến
- Mức chi tiêu trung bình của một du khách:
- Chi phí vật liệu xây dựng có nguồn gốc địa phương so với tổng chi phí vật liệu xây dựng: 26%
- Mức đóng góp của du lịch vào GDP của địa phương: 32%
Hiệu quả xã hội - Mức độ khai thác và bảo tồn các di tích lịch sử – văn hóa của địa phương (so với tình trạng
nguyên thủy) do hoạt động DLST 86%
- Mức đóng góp của DLST cho phúc lợi xã hội của địa phương so với tổng giá trị phúc lợi của địa phương: 12%
- Mức gia tăng chi phí sinh hoạt của người dân địa phương do việc phát triển DLST: 20%
- Mức độ thương mại hóa của các giá trị văn hóa truyền thống (lễ hội, nghệ thuật dân gian,
Trang 31phong tục tập quán…): 23%
Trang 3213.4 Phân tích và đánh giá tiềm năng du lịch sinh thái của hồ Đạtẻh và hồ Đạ hàm (huyện Đạtẻh - Tỉnh Lâm Đồng)
13.4.1.Thuận lợi về điều kiện tự nhiên của Đạtẻh:
- Vị trí địa lý: huyện Đạ Tẻh nằm về phía Tây Nam tỉnh Lâm Đồng có độ cao
trung bình 300m Tổng diện tích tự nhiên 52.342 ha Nằm ở: 11o25‟00‟‟ đến
11o42‟30‟‟ vĩ độ Bắc; 107o24‟06‟‟ đến 107o38‟41‟‟ kinh độ Đông Phía Bắc giáp với huyện Bảo Lâm, phía Nam giáp với huyện Đạ Huoai, phía Tây giáp với huyện Cát Tiên, phía Nam giáp với tỉnh Đồng Nai Thuộc lưu vực của sông Đồng Nai, là vùng chuyển tiếp giữa vùng Tây Nguyên và vùng Đông Nam Bộ nên Đạ Tẻh có nhiều thuận lợi cả về đất đai và khí hậu để phát triển các cây trồng ngắn và dài ngày (lúa nước ), cây công nghiệp ngắn ngày (như mía, dâu ) và cây công nghiệp lâu năm (điều, cà phê ) và cây ăn quả nhiệt đới (chôm chôm, sầu riêng, xoài )
- Tài nguyên rừng: Các giống cây tự nhiên trong khu vực Đạ Tẻh bao gồm
rừng thường xanh lá rộng hỗn giao với các loài quả hình nón Theo sự phân loại của Thái Văn Trừng (1978), các loại sau được ghi nhận chủ yếu ở Đạ Tẻh : rừng mưa nhiệt đới ẩm thường xanh, rừng mưa nhiệt đới ẩm nửa thường xanh Các loại thực vật này tương đương với rừng thường xanh đất thấp và rừng nửa thường xanh đất thấp theo nghiên cứu của MacKinnon (1986) Tuy nhiên, do những sự xáo trộn trong tự nhiên tự nhiên và do con người, các kiểu rừng (và dưới kiểu rừng) ngày càng đa dạng hơn Dựa theo kết quả khảo sát, 6 kiểu rừng và dưới kiểu rừng đã được ghi nhận ở Đạ Tẻh
Rừng nửa thường xanh đất thấp (đặc trưng của vùng Đạ Tẻh , không tìm thấy ở các khu vực SFE khác)
Rừng thường xanh đất thấp (chiếm đa số diện tích đất rừng trong khu vực,
là vùng rừng giàu với các loài rất đa dạng và phức tạp, các loài sống bám cũng rất nhiều như các loại lan, khoảng 100 loài lan là thực vật biểu sinh trên các loại cây lớn)
Rừng tre nứa hỗn giao với cây bụi và phân tán
Rừng tre nứa (cây cao từ 12-15m, đường kính từ 5-7 cm)
Rừng cây bụi/thảo nguyên bao gồm các khu vực đồn điền nhỏ
Vùng chuyển đổi canh tác và khu cư trú (ít có cấu trúc tự nhiên hơn và rất
đa dạng chủ yếu là cây trà, điều, café)
Ý nghĩa quan trọng của khu vực Đạ Tẻh nằm ở phần rừng tiếp giáp, trải dài từ phía Đông rừng quốc gia Cát Tiên, dọc theo sông Đồng Nai, rồi cặp tới khu vực bảo tồn Ta Dung, cuối cùng lên cao nguyên Đà Lạt Nhiều động vật hữu nhủ lớn cũng như nhiều loại chim đang sinh sống trong khu bảo tồn rừng quốc gia Cát Tiên, Bảo Lâm
Trang 33SFE, Đạ Tẻh và Lộc Bắc SFE khó có thể sống sót nếu bất cứ vùng nào không còn được bảo tồn Việc duy trì các khu vực có giá trị bảo tồn cao trong những vùng SFE
có thể bảo đảm sự sinh tồn cho công đồng loài khỉ chân đen Douc (Black- shanked
Douc Langur), loài trĩ má vàng và trĩ công (Yellow – cheek Crested Ribbon và Germain peacock’s pheasant) cùng các giống loài quanh nó Tóm lại, bên cạnh việc duy trì sự đa dạng và phát triển các giống loài trong vùng, những khu vực tiếp giáp
nhau trong các nơi cư trú tự nhiên ở cao độ này sẽ hỗ trợ cho các tiến trình sinh thái như chu trình tuần hoàn nước, di trú theo cao độ Vì tất cả các lý do trên, việc duy trì liên kết các vùng rừng là rất cần thiết
- Tài nguyên nước:
Vùng Đạ Tẻh có mạng lưới sông ngòi khá dày, là các chi lưu tả ngạn của sông Đồng Nai Huyện Đạ Tẻh có các sông chính như: Sông Đạ Tẻh, sông Đạ Kho, Sông Đạ Miss và sông Đạ Lai, cung cấp nguồn nước dồi dào, mưa lớn và các thảm thực vật trên lưu vực có độ che phủ lớn Có rất nhiều vị trí trong vùng có thể làm hồ chứa, đập dâng, trạm bơm để điều tiết nước cho đất sản xuất nông nghiệp trong mùa khô
Nguồn nước ngầm trong vùng không phong phú, phân bố không đều, có nơi mạch nước ngầm xuất hiện khá nông như dọc theo thung lũng sông Đạ Miss và vùng hưởng lợi hồ Đạ Tẻh nhưng chất lượng không tốt (nhiễm phèn và độ khoáng hoá cao) Nhiều nơi nước ngầm nằm khá sâu, như các vùng trung lưu phía Tây Bắc Chất lượng nước kém vì độ cứng và độ kiềm cao Nước có độ pH từ 5,6 đến 6,7; tổng độ khoáng hoá thường vào khoảng 40 - 60 mg/l Hàm lượng Fe+3
có mẫu lên đến 1,67 mg/l
Hồ Đạ Hàm: tiểu khu 554B (Xã An Nhơn) diện tích là 7 km2, với 5,6 triệu
m3 nước, diện tích mặt thoáng là 143ha Gần hồ có buôn Tố Lan gồm 45 hộ dân là dân tộc Châu Mạ
Hồ Đạ Tẻh: có diện tích lưu vực là 198km2, chiều cao đập là 28m, chiều cao tràn (so với mực nước biển) 150m, chiều dài đập 600m Khi đó diện tích mặt nước là 70 ha và dung tích nước hồ là 24 triệu m3
Tổng chiều dài hồ gần 8km
- Tài nguyên khí hậu: Đạ Tẻh nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa
cao nguyên với các đặc trưng như:
Nhiệt độ trung bình năm 24,60C, trung bình cao nhất là 26,40C (tháng 2 và tháng 4), trung bình thấp nhất là 22,80C (tháng 12) Vùng phía Nam huyện có nhiệt độ cao hơn vùng núi phía Bắc do ảnh hưởng của khí hậu Đông Nam Bộ và điều kiện địa hình
Địa hình vùng Đạ Tẻh là một dãy 4 thung lũng chính, trải ra song song từ vùng đất bằng Tây Nam của huyện Đạ Tẻh Thung lũng này khá rộng, nhưng hơi hẹp
Trang 34lại về phía Bắc và Đông bắc Đạ Tẻh Vùng đất điển hình đất dốc, trung bình 20-250 Giữa các thung lũng là các dãy núi hẹp, mỏm đất chạy dài theo kinh tuyến từ bắc xuống nam, từ đông bắc xuống tây nam, cao độ chạy từ 128m đến 714m (điểm cao nhất nằm ở phía đông)
Độ ẩm không khí hàng năm là 82% Thấp nhất là 15% (tháng 2 và tháng 3), cao nhất là 88% (tháng 8), các tháng có độ ẩm cao nhất là từ tháng 6 đến tháng 9, là các tháng thuộc mùa mưa, độ ẩm đạt 86%
Đây là vùng nắng nhiều, số giờ nắng trong ngày gần 6 giờ, ngày trung bình cao nhất là 8 giờ (tháng 2), thấp nhất là 5 giờ (tháng 8) Đạ Tẻh là khu vực điển hình đón nắng (từ tháng 12 đến tháng 5), đỉnh điểm từ tháng 1 đến tháng 3, khoảng 200
-270giờ nắng/tháng; từ tháng 6 đến tháng 10 khoảng 120-170 giờ nắng/tháng
Hướng gió trong vùng tùy thuộc vào mùa, vào mùa mưa, gió thổi hướng Tây, nam Khoảng nửa đầu mùa khô, gió thổi hướng Bắc hay Tây bắc, chuyển sang hướng Nam và Đông nam vào nửa cuối mùa khô Tốc độ gió trung bình 10-12m/s Gió có tần suất 2% thường là gió Bắc và Đông Bắc có tốc độ lớn nhất đến 21-25m/s
Lượng bốc hơi trung bình hàng năm 1200mm Các tháng mùa khô có lượng bốc hơi cao, lượng bốc hơi cao nhất vào tháng 3 (173,7mm), mùa mưa lượng bốc hơi bình quân (65-70mm)
Mùa mưa thường kéo dài từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau Mùa mưa chiếm 80% lượng mưa cả năm; mùa khô có tháng hầu như không có mưa do đó gây hạn hán cục bộ ở một số địa phương Khu vực này cũng thường xuyên chịu bão lớn vào mùa mưa, vài ngày có sương mù
Đa dạng sinh học cao với Cây cỏ (1002 loài, 477 chi, và 130 họ), Động vật (30 loài), Chim (118 loài), Bò sát (31 loài), Lưỡng cư (15 loài), Bướm (225 loài) Trong
số đó có 2 loài có khả năng rất mới đối với khoa học, một loài thằn lằn và 1 loài bướm
- đã được ghi nhận Các loài bướm Tanaecia sp., đã được ghi nhận trước đây, nhưng việc phân loại vẫn chưa được rõ ràng Vẫn còn một số loại mẫu đang chờ được định nghĩa Trong 1400 loài và dưới loài ghi nhận ở Đạ Tẻh, có ít nhất 38 loài là đặc hữu của Việt Nam, 24 loài trong danh mục của IUCN (2002) đang bị đe dọa, và 42 loài
thuộc chương trình quan tâm bảo tồn của quốc gia (Anon 1996, 2000)
13.4.2 Thế mạnh về kinh tế - xã hội - tài nguyên nhân văn phục vụ phát triển du lịch sinh thái
Kinh tế – xã hội:
Hồ Đạ Hàm: Có các dân tộc thiểu số là người Châu Mạ (buôn Tố Lan), và
ở các thôn 4A, 4B và 5A chủ yếu là người Tày và người Nùng Các hộ ở đây chủ yếu
là làm lúa nước, 2 vụ một năm; kết hợp là chăn nuôi (nuôi heo, thả cá) và vào rừng
Trang 35lấy măng; tre, lồ ô (theo chương trình bảo vệ rừng và phát triển nông nghiệp) để làm tăm, chân nhang
Hồ Đạ Tẻh: Buôn Con Ó có 95 hộ, 475 nhân khẩu là người Châu Mạ Người dân ở đây vẫn được trợ cấp gạo, dầu, muối; 65% không biết chữ Các vấn đề cấp bách nhất ở đây vẫn là đói nghèo và gia tăng dân số Tại đây còn 5 hộ làm dệt len
và dệt thổ cẩm Có một số hộ đi lên đồi đất đỏ và Đạ K‟Lan trồng điều, cà phê Số khác ở trong buôn chủ yếu vào rừng lấy măng, tre và lồ ô để đem bán
- Tài nguyên nhân văn: nhóm dân tộc sinh sống rất đa dạng bao gồm: Kinh,
Tày, Nùng, Châu Mạ, Dao, Khơ Me, Mường, K‟Ho, Thái và các dân tộc khác Trong
đó dân tộc bản địa ở Đạ Tẻh bao gồm người dân tộc S‟Tiêng và dân tộc Châu Mạ
Dân tộc Châu Mạ: Với tiếng nói của người Mạ thuộc ngữ hệ Nam Á, nhóm ngôn ngữ Môn - Khơme miền núi phía Nam, rất gần gũi với tiếng nói của người M'nông, Chu ru, Xtiêng, Cơ Ho, là những dân tộc láng giềng gần gũi với họ, với tên gọi phương thức sinh hoạt kinh tế của những người làm rẫy (mir) Bao gồm: Mạ Ngăn,
Mạ Tô, Mạ Krung, Mạ Xốp với nhiều lễ nghi như: lễ cúng hồn lúa (Le Yang tuýt Koi),
lễ ăn mừng và tạ ơn thần lúa, lễ Yurmul hay Yu Đụng… Và một kho tàng văn học nghệ thuật dân gian rất phong phú (truyền thuyết, thần thoại, cổ tích, dân ca, luật tục
ca (Tam pớt, trường ca…) vẫn còn được bảo lưu trong dân gian vùng người Mạ Nhạc cụ có bộ chiêng, đồng, trống, khèn bầu, khèn sừng trâu, đàn lồ ô, sáo trúc 3 lỗ gắn vào trái bầu khô, Wau, Kơnung (hay kơlơvak), B're, K'mboăt, Moloo' Ngoài ra còn có các đặc trưng về kiến trúc: nhà sàn… Đặc trưng về trang phục năm nữ, kiểu tóc, đồ trang sức…
Tuy nhiên, các lễ hội truyền thống, văn hoá vật thể và phi vật thể hiện nay đang ngày càng bị mai một dần
13.4.3 Thế mạnh về chính sách phát triển du lịch:
- Thực trạng về phát triển ngành thương mại – dịch vụ và du lịch của huyện
Đạ Tẻh: Đến năm 2003 toàn huyện có 1281 cơ sở kinh doanh thương mại, dịch vụ, khách sạn và nhà hàng Trong đó có 1086 cơ sở thương mại (1204 người), 195 khách sạn và nhà hàng (247 người), tuy nhiên chưa có một cơ sở và người nào làm du lịch
- Phương hướng và mục tiêu phát triển ngành du lịch đến 2010 của Đạ Tẻh:
Phương hướng: Phát triển các điểm du lịch gắn liền với tour du lịch lớn như Nha Trang – Đà Lạt – Thành Phố Hồ Chí Minh thông qua các tuyến đường giao thông thương mại như quốc lộ 1, 20 và 27
Mục tiêu phát triển du lịch: Đến năm 2010 phải đạt 5500,00 triệu đồng (5,71% GDP)
Trang 36 Bố trí sản xuất ngành du lịch: Xác định du lịch phát triển với thế mạnh du lịch sinh thái, du lịch về nguồn, đồng thời phát huy các giá trị văn hoá phi vật thể để thu hút khách du lịch tìm hiểu nền văn hoá của cộng đồng các dân tộc bản địa trong vùng; Xác định các loại hình phát triển du lịch là du lịch nghỉ dưỡng, tham quan và du lịch sinh thái Các điểm du lịch dự kiến phát triển là điểm du lịch hồ Đạ Tẻh và khu
du lịch vùng đệm Cát Tiên GDP du lịch dự kiến năm 2005 dự kiến 2000 - 2500 triệu đồng, năm 2010 đạt từ 5500 - 6875 triệu đồng
- Định hướng phát triển du lịch của tỉnh Lâm Đồng (tham khảo “Quy hoạch
tổng thể phát triển du lịch tỉnh Lâm Đồng 1996 – 2010”):
- Đánh giá tiềm năng du lịch sinh thái huyện Đạ Tẻh: sử dụng phương pháp
đánh giá tổng hợp các dạng tài nguyên Để xác định một địa điểm có thuận lợi cho hoạt động du lịch hay không, thường người ta xem xét đến mối quan hệ tổng hợp của
3 yếu tố:
Hình 12.1: sơ đồ mối liên hệ đánh giá tiềm năng DLST
Khái niệm “hấp dẫn” ở đây muốn nói đến tính thiên nhiên của địa điểm, dùng để minh họa cho: sự kích thích tính hiếu kỳ muốn tìm tòi, khám phá; yêu cầu hưởng thụ cái đẹp, cái độc đáo của du khách
Khái niệm “Thuận lợi” chủ yếu là nói đến yếu tố giao thông, phương tiện truyền thông và các chính sách, thể chế hỗ trợ cho sự tiếp cận của du khách đến địa điểm
Khái niệm “Tiện nghi” là các cơ sở lưu trú và các dịch vụ hỗ trợ khác cho
du khách cảm thấy thoải mái khi nghỉ ngơi tại địa điểm hoặc các khu vực xung quanh Thực chất, đánh giá tiềm năng du lịch sinh thái là đối chiếu giữa chất lượng tài nguyên môi trường (EQ) với yêu cầu sử dụng tài nguyên của loại hình du lịch sinh thái (ER) Trong đó: để xác định chất lượng tài nguyên môi trường (EQ) cho du lịch sinh thái chúng tôi tiến hành lựa chọn và phân cấp các yếu tố đánh giá, còn xác định yêu cầu sử dụng tài nguyên của du lịch sinh thái, chúng tôi phân tích một số khu du lịch sinh thái điển hình Tiến hành đánh giá thích nghi của khu vực đối với du lịch
HẤP DẪN
TIỆN NGHI THUẬN LỢI
Trang 37sinh thái theo thang bậc 4 của FAO: S1, S2, S3 và N; xây dựng bản đồ sinh thái cho huyện
Với ưu thế về điều kiện tự nhiên của địa phương, chúng tôi phân cấp các nhóm tiêu chí tạo nên sức hấp dẫn cho du lịch sinh thái của huyện Datẻh như sau:
Nhóm yếu tố điều kiện tự nhiên: phân làm 4 cấp
Bảng 12.2: Cấp độ hấp dẫn về du lịch theo tiêu chí về điều kiện tự nhiên
Nhóm yếu tố nhân văn chủ yếu sử dụng tiêu chí về dân tộc thiểu số, và được phân thành 2 cấp: có (C1) và không (C0)
Nhóm yếu tố cơ sở hạ tầng: sử dụng 2 tiêu chí là khoảng cách từ đường giao thông và khoảng cách với khu dân cư
Bảng 12.3: Phân cấp độ hấp dẫn dựa trên tiêu chí về cơ sở hạ tầng của Đạ tẻh
II Khoảng cách với khu dân cư R
Trang 38 Cấp độ thích nghi đối với các loại hình du lịch ở Đạ Tẻh: Nhằm xây dựng nên
bản đồ phân cấp thích nghi và hệ thống các đơn vị thích nghi đối với loại hình du lịch sinh thái do đối chiếu giữa các tiêu chí đã lựa chọn và phân cấp với chất lƣợng tài nguyên của huyện Bằng cách chồng xếp các bản đồ đơn tính: bản đồ phân cấp các yếu tố cơ sở hạ tầng, bản đồ phân các yếu tố nhân văn, bản đồ phân cấp các yếu tố tự nhiên, bản đồ nền để xây dựng bản đồ thích nghi du lịch sinh thái huyện Đạ Tẻh – Lâm Đồng Kết quả đạt đƣợc:
Trang 39 Đánh giá tiềm năng du lịch sinh thái huyện Đạ Tẻh: Từ kết quả đánh giá thích nghi trên, tiến hành tổng hợp các yếu tố theo phương pháp “điều kiện hạn chế” của FAO Phương pháp này sử dụng theo cấp hạn chế nhất để kết luận tiềm năng của một
đơn vị thích nghi, ta được kết quả:
Trang 4013.5 Phân tích sức tải tại khu du lịch Hồ Đạ Tẻh và Hồ Đạ Hàm bằng công cụ SWOT :
1 Được sự ủng hộ và đầu tư của các
cơ quan ở địa phương trong quá trình xây
dựng và hoạt động
2 Có một nền đa dạng sinh học cao,
hệ động, thực vật ở đây tương đối phong
phú
3 Công tác bảo tồn được đề cao và
mang lại nhiều hiệu quả tích cực
4 Kết hợp với các khu du lịch sinh
thái trong và ngoài tỉnh để nâng cao chất
lượng phục vụ cho khách du lịch, nhằm
ngày càng đáp ứng những nhu cầu ngày
càng cao của khách du lịch sinh thái
1 Cơ sở hạ tầng phục vụ cho du lịch chưa phát triển Hệ thống giao thông còn yếu kém., điện nước phục vụ cho nhu cầu du lịch có nguy cơ quá tải
2 Chưa đánh giá hết được khả năng phát triển của hai khu du lịch này trong tương lai
3 Ô nhiễm môi trường trong khu du lịch
4 Ảnh hưởng đến sinh cảnh
1 Bảo vệ nguồn lâm sản
2 Phát triển động vật hoang dã,
giảm săn bắt động vật hoang dã
3 Tạo việc làm và nâng cao thu
nhập cho người lao động địa phương
4 Tăng trưởng kinh tế địa
phương và giao lưu văn hoá; cải thiện
làng nghề văn hoá
1 Vấn đề ô nhiễm rác thải, nước thải và ô nhiễm không khí trong hoạt động du lịch sinh thái là không trách khỏi
2 Chưa đầu tư được đội ngũ hướng dẫn viên du lịch sinh thái cho địa phương
3 Sự xuất hiện của quá nhiều khách du lịch vào một thời điểm sẽ ảnh hưởng đến đời sống một số loài động vật
13.6 Mô hình phát triển du lịch kết hợp làng nghề tại vùng nghiên cứu
Căn cứ vào kết quả đánh giá tiềm năng về vị trí địa lý, đa dạng sinh học, lễ hội truyền thống… Đề tài đưa ra một số mô hình cho từng khu vực cụ thể như sau:
13.6.1 Mô hình du lịch sinh thái hồ Đạ Hàm:
Hồ Đạ Hàm có diện tích mặt nước nhỏ do đó có thể xây dựng mô hình du lịch du ngoạn trên hồ kết hợp với hoạt động câu cá giải trí Tại đây có thể quy hoạch nuôi trồng thủy sản với một số loài đặc trưng Tuyến thuyền đi trên hồ Đạ Hàm có thể kéo