Mặc dù, trong thời gian qua đã xẩy ra những biến động lớn trong nền kinh tế nhưng vai trò của kinh tế hộ nông dân vẫn được khẳng định và ngày càng có vị trí quan trọng trong sản xuất nôn
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: TS LÊ ANH VŨ
THÁI NGUYÊN - 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản luận văn là công trình nghiên cứu khoa học, độc lập Các số liệu, tài liệu, kết quả nêu trong luận văn có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng, chƣa đƣợc công bố ở những nghiên cứu khác
Tôi xin chịu trách nhiệm về công trình nghiên cứu của mình
Thái Nguyên, tháng 5 năm 2015
Tác giả luận văn
Đặng Thu Hiền
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện đề tài: “Phát triển kinh tế hộ nông dân trên
địa bàn huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ”, tôi đã nhận được sự hướng dẫn,
giúp đỡ, động viên của nhiều cá nhân và tập thể Tôi xin được bày tỏ sự cảm
ơn sâu sắc nhất tới tất cả các cá nhân và tập thể đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong học tập và nghiên cứu
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu Nhà trường, Phòng Quản lý Đào tạo Sau Đại học, các khoa, phòng của Trường
trị Kinh doanh - Đại học Thái Nguyên đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi về mọi mặt trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn này
Tôi xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ tận tình của giáo viên hướng dẫn
TS Lê Anh Vũ
doanh - Đại học Thái Nguyên
Trong quá trình thực hiện đề tài, tôi còn được sự giúp đỡ và cộng tác của các đồng chí tại địa điểm nghiên cứu, tôi xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo các phòng ban, lãnh đạo các xã, thị trấn của huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ đã tạo điều kiện mọi mặt để tôi hoàn thành nghiên cứu này
Tôi xin cảm ơn sự động viên, giúp đỡ của bạn bè và gia đình đã giúp tôi thực hiện luận văn này
Tôi xin bày tỏ sự cảm ơn sâu sắc đối với mọi sự giúp đỡ quý báu đó
Thái Nguyên, tháng 5 năm 2015
Tác giả luận văn
Đặng Thu Hiền
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vii
DANH MỤC CÁC BẢNG viii
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4 Dự kiến đóng góp của luận văn 3
5 Kết cấu của luận văn 4
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ NÔNG DÂN 5
1.1 Cơ sở lý luận về phát triển kinh tế hộ nông dân 5
1.1.1 Khái niệm về hộ, hộ sản xuất và kinh tế hộ nông dân 5
1.1.2 Đặc điểm kinh tế của hộ nông dân 7
1.1.3 Vai trò của kinh tế hộ nông dân đối với phát triển KT - XH 9
1.2 Phân loại hộ nông dân 13
1.2.1 Nhóm thứ nhất: Hộ quy mô lớn 14
1.2.2 Nhóm thứ hai: Hộ quy mô trung bình 14
1.2.3 Nhóm thứ ba: Hộ quy mô nhỏ 15
1.3 Nội dung và tiêu chí phát triển kinh tế hộ nông dân 15
1.3.1 Nội dung phát triển kinh tế hộ nông dân 15
1.3.2 Các chỉ tiêu phản ánh trình độ phát triển kinh tế hộ nông dân 18
1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển kinh tế hộ nông dân 18
1.4.1 Các nhân tố về điều kiện tự nhiên 18
Trang 61.4.2 Các nhân tố về điều kiện kinh tế - xã hội 20
1.4.3 Các nhân tố về khoa học kỹ thuật- công nghệ 21
1.4.4 Các nhân tố về cơ chế, chính sách 22
1.5 Kinh nghiệm phát triển kinh tế hộ nông dân trên thế giới và ở Việt Nam có khả năng áp dụng cho huyện Lâm Thao 23
1.5.1 Sự phát triển kinh tế hộ nông dân ở một số nước trên thế giới 23
1.5.2 Sự phát triển kinh tế hộ nông dân ở nước ta 32
1.5.3 Kinh nghiệm rút ra có thể áp dụng cho huyện Lâm Thao 36
Chương 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 39
2.1 Câu hỏi đặt ra mà đề tài cần giải quyết 39
2.2 Phương pháp nghiên cứu 39
2.2.1 Chọn điểm nghiên cứu 39
2.2.2 Thu thập, tổng hợp số liệu 39
2.2.3 Phương pháp phân tích số liệu 40
2.3 Các chỉ tiêu phản ánh trình độ phát triển kinh tế hộ nông dân 42
Chương 3: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ NÔNG DÂN TẠI HUYỆN LÂM THAO GIAI ĐOẠN 2011 - 2013 43
3.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hội huyện Lâm Thao 43
3.1.1 Đặc điểm tự nhiên 43
3.1.2 Đặc điểm về kinh tế - xã hội 48
3.1.3 Những thuận lợi và khó khăn về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế hộ nông dân ở huyện Lâm Thao 50
3.2 Thực trạng phát triển kinh tế hộ nông dân ở huyện Lâm Thao giai đoạn 2011 - 2013 51
3.2.1 Cơ cấu hộ nông dân 52
3.2.2 Các yếu tố sản xuất của hộ nông dân 53
3.2.3 Chi phí sản xuất 58
3.2.4 Kết quả sản xuất của các hộ nông dân năm 2013 59
Trang 73.2.5 Thu nhập của hộ nông dân 61
3.3 Phân tích ảnh hưởng của các nguồn lực đến sản xuất hàng hoá của hộ nông dân ở huyện Lâm Thao 66
3.4 Đánh giá chung tình hình phát triển hộ nông dân huyện Lâm Thao 66
3.4.1 Những mặt được 66
3.4.2 Những hạn chế, tồn tại 67
3.4.3 Nguyên nhân của những hạn chế 68
3.4.4 Những vấn đề đặt ra 70
Chương 4: GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ NÔNG DÂN Ở HUYỆN LÂM THAO, TỈNH PHÚ THỌ ĐẾN 2020 71
4.1 Định hướng phát triển KT - XH huyện Lâm Thao đến năm 2020 71
4.2 Quan điểm phát triển kinh tế hộ nông dân ở huyện Lâm Thao 73
4.2.1 Phát triển kinh tế hộ nông dân huyện Lâm Thao gắn với quá trình chuyển đổi kinh tế hợp tác kiểu mới 73
4.2.2 Phát triển kinh tế hộ nông dân theo hướng sản xuất chuyên môn hoá và đa dạng hoá gắn với thị trường 74
4.2.3 Phát triển kinh tế hộ nông dân gắn với xây dưng nông thôn mới và gắn với ứng phó biến đổi khí hậu toàn cầu 75
4.2.4 Phát triển kinh tế hộ nông dân dựa trên cơ sở khoa học công nghệ tiên tiến, hiện đại 75
4.2.5 Phát triển kinh tế hộ nông dân gắn với phát triển ngành nghề, tạo thêm việc làm, góp phần xoá đói giảm nghèo, tăng hộ khá, giàu 77
4.3 Những giải pháp chủ yếu nhắm phát triển kinh tế hộ nông dân huyện Lâm Thao đến năm 2020 78
4.3.1 Giải pháp về thị trường tiêu thụ nông sản phẩm 78
4.3.2 Giải pháp về vốn 79
4.3.3 Giải pháp về đất đai 82
4.3.4 Giải pháp về khoa học công nghệ 83
Trang 84.3.5 Giải pháp nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực cho hộ nông dân 84
4.3.6 Nâng cao năng lực cho hộ nông dân tham gia các chuỗi giá trị cung ứng nông sản 85
4.3.7 Phát triển kết cấu hạ tầng kỹ thuật nông nghiệp, nông thôn tạo điều kiện cho kinh tế hộ phát triển 86
KẾT LUẬN 88
TÀI LIỆU THAM KHẢO 90
PHỤ LỤC 92
Trang 9DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CN-TTCN : Công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp
CN-XD : Công nghiệp - xây dựng
CNH - HĐH : Công nghiệp hóa - hiện đại hóa
HTX : Hợp tác xã
NN-LN-TS : Nông nghiệp - lâm nghiệp - thuỷ sản
NTM : Nông thôn mới
THCS : Trung học cơ sở
THPT : Trung học phổ thông
VH : Văn hoá
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 3.1 Hiện trạng sử dụng đất của Huyện Lâm Thao năm 2013 46
Bảng 3.2 GDP bình quân đầu người giai đoạn 2011-2013 48
Bảng 3.3 Tình hình dân số và cơ cấu lao động huyện Lâm Thao giai đoạn 2011-2013 50
Bảng 3.4: Cơ cấu hộ theo quy mô tính trung bình các năm 2011-2013 52
Biểu 3.5: Diện tích đất của các hộ nông dân phân theo xã và trung bình theo hộ từ năm 2011 đến năm 2013 53
Bảng 3.6 Cơ cấu lao động bình quân của các hộ năm 2013 55
Bảng 3.7 Trình độ văn hóa của chủ hộ phân theo nhóm hộ năm 2013 56
Bảng 3.8 Quy mô vốn của các hộ nghiên cứu phân theo xã 57
Bảng 3.9 Chi phí sản xuất của hộ nông dân năm 2013 58
Bảng 3.10 Kết quả sản xuất của nhóm hộ điều tra năm 2013 59
Bảng 3.11 Tình hình thu nhập của hộ nông dân năm 2013 61
Bảng 3.12 Thu nhập bình quân theo lao động và nhân khẩu của hộ nông dân năm 2013 62
Bảng 3.13 Phương thức tiêu thụ một số sản phẩm của hộ nông dân 63
Bảng 3.14 Tính toán hệ số của mô hình hồi quy 63
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong quá trình đổi mới chuyển sang cơ chế thị trường, phát triển kinh
tế hộ nông dân là một trong những chủ trương và giải pháp phát triển kinh tế quan trọng của Đảng và Nhà nước ta Hiện nay mức sống của người dân nói chung, nông dân nói riêng không ngừng được cải thiện Mặc dù, trong thời gian qua đã xẩy ra những biến động lớn trong nền kinh tế nhưng vai trò của kinh tế hộ nông dân vẫn được khẳng định và ngày càng có vị trí quan trọng trong sản xuất nông nghiệp và quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn
Sau khi được xác định và trở thành đơn vị kinh tế tự chủ, kinh tế hộ nông dân đã phát huy tính năng động, sáng tạo, tích cực trong sản xuất kinh doanh và đã có sự chuyển biến tích cực cả về quy mô, tốc độ và cơ cấu Đến nay nhiều hộ gia đình đã đứng vững được trong nền kinh thị trường, có tác động lớn đến sự nghiệp xoá đói giảm nghèo của địa phương cũng như của cả nước Tuy nhiên, sự phát triển của kinh tế hộ nông dân vẫn còn nhiều hạn chế
và cần có những giải pháp nhằm phát triển một cách bền vững Trên cơ sở đó khắc phục tính tự cấp, tự túc, thúc đẩy trao đổi hàng hoá và phân công lao động xã hội, hình thành, mở rộng và hoàn thiện các loại thị trường, nâng cao mức sống cũng như chất lượng của nhân dân
Lâm Thao là huyện trọng điểm sản xuất lương thực của tỉnh Phú Thọ,
có ruộng đồng bằng phẳng, đất đai màu mỡ Lâm Thao có tổng diện tích tự nhiên 9.769,11 ha, dân số 103.165 người (tính đến hết 31.12.2013) Trong những năm qua, huyện Lâm Thao đã có chính sách khuyến khích phát triển kinh tế hộ nông dân nhằm tạo ra sự đột phá về năng suất, sản lượng cây lương thực, trọng tâm là cây lúa, ngô Bên cạnh đó đẩy mạnh đa dạng hoá sản phẩm nông nghiệp cận đô thị, nhân rộng và phát triển mạnh các mô hình chăn nuôi gia súc, gia cầm, các vật nuôi đặc sản, phát triển nuôi trồng theo mô hình trang trại, áp dụng tiến bộ kỹ thuật trong chăn nuôi
Trang 12Tuy nhiên, do đặc điểm là huyện sản xuất nông nghiệp, lao động của huyện chủ yếu là lao động nông nghiệp nên thu nhập của người lao động thấp, sản xuất hàng hoá còn nhỏ lẻ, hiệu quả sản xuất kinh doanh còn thấp Bên cạnh đó, hiện nay quá trình đô thị hoá ở huyện Lâm Thao đang phát triển với tốc độ nhanh chóng Việc thu hồi và chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp sang nhu cầu xây dựng đô thị, khu công nghiệp và kết cấu hạ tầng có
xu hướng gia tăng, kéo theo một bộ phận hộ nông dân mất hoàn toàn đất sản xuất nông nghiệp hoặc chỉ còn ít diện tích đất để sử dụng Cùng với áp lực cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường thì vấn đề trên gây sức ép không nhỏ đến việc cần phát triển kinh tế hộ nông dân
Hiện nay, nền nông nghiệp đang có nhiều thay đổi đòi hỏi phải gắn với thị trường, sản phẩm có chất lượng, năng suất cao, khả năng cạnh tranh trên thị trường cao Tuy nhiên, kinh tế hộ nông dân đã bộc lộ những hạn chế, bất cập, lúng túng trước yêu cầu phát triển mới của nông nghiệp, trở thành nhân
tố trở ngại sự phát triển kinh tế của nông nghiệp, cần có giải pháp mạnh mẽ,
hiệu quả hơn Chính vì vậy, tôi chọn đề tài “Phát triển kinh tế hộ nông dân
trên địa bàn huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ” làm đề tài cho luận văn thạc sĩ
2.2.Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hoá và làm rõ một số vấn đề lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về phát triển kinh tế hộ nông dân
Trang 13- Làm rõ thực trạng và xu hướng phát triển, đồng thời chỉ ra được những hạn chế và nguyên nhân, thuận lợi và khó khăn, thách thức của kinh tế
hộ nông dân ở huyện Lâm Thao từ 2011 - 2013
- Đề xuất các giải pháp chủ yếu nhằm phát triển kinh tế hộ nông dân trên địa bàn huyện Lâm Thao đến năm 2020
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu sự phát triển kinh tế hộ nông dân và các vấn đề liên quan đến phát triển kinh tế hộ nông dân trên địa bàn huyện Lâm Thao
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: Nghiên cứu phát triển kinh tế hộ nông dân trên
địa bàn huyện Lâm Thao
- Phạm vi thời gian: Nghiên cứu thực trạng phát triển kinh tế hộ nông
dân từ năm 2011 đến năm 2013, quan điểm, định hướng và giải pháp phát triển kinh tế hộ nông dân đến năm 2020
4 Dự kiến đóng góp của luận văn
Luận văn dự kiến sẽ có một số đóng góp mới sau:
- Làm rõ lý luận về phát triển kinh tế hộ nông dân trong điều kiện kinh
tế thị trường và hội nhập kinh tế thế giới
- Những thuận lợi và khó khăn trong quá trình phát triển kinh tế hộ nông dân trên địa bàn Huyện hiện nay
- Tìm ra các mô hình về phát triển kinh tế hộ nông dân các địa phương hiện nay
- Đề xuất hệ thống các giải pháp nhằm phát triển kinh tế hộ nông dân ở Huyện Lâm Thao đến năm 2020
- Luận văn kỳ vọng với những kết quả nghiên cứu của mình có thể được các cơ quan hữu quan nghiên cứu, xem xét và lựa chọn áp dụng
Trang 145 Kết cấu của luận văn
Chương 1 Cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về phát triển kinh tế
hộ nông dân
Chương 2 Phương pháp nghiên cứu
Chương 3 Thực trạng phát triển kinh tế hộ nông dân tại huyện Lâm
Thao giai đoạn 2011 - 2013
Chương 4 Giải pháp phát triển kinh tế hộ nông dân tại huyện Lâm
Thao đến năm 2020
Trang 15Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN
KINH TẾ HỘ NÔNG DÂN
1.1 Cơ sở lý luận về phát triển kinh tế hộ nông dân
1.1.1 Khái niệm về hộ, hộ sản xuất và kinh tế hộ nông dân
Có rất nhiều khái niệm về hộ được đưa ra: Theo Martin (1988) thì hộ là đơn vị cơ bản liên quan đến sản xuất, tái sản xuất, đến tiêu dùng và các hoạt động xã hội khác Theo Harris, ở viện nghiên cứu phát triển trường Đại học tổng hợp Susex (Lon Don- Anh) cho rằng: “ Hộ là một đơn vị tự nhiên tạo nguồn lao động” Theo Raul Iturna, giáo sư trường đại học tổng hợp Liôbon khi nghiên cứu cộng đồng nông dân trong quá trình quá độ ở một số nước châu Á đã chứng minh “Hộ là một tập hợp những người cùng chung huyết tộc
có quan hệ mật thiết với nhau trong quá trình sáng tạo ra vật phẩm để bảo tồn chính bản thân họ và cộng đồng” Qua các quan điểm khác nhau về khái niệm
hộ trên, có thể rút ra một số đặc trưng về hộ
- Hộ là một nhóm người cùng chung huyết tộc hay không cùng huyết tộc
- Hộ cùng sống chung hay không cùng sống chung một mái nhà
- Có chung một nguồn thu nhập và ăn chung
- Cùng tiến hành sản xuất chung
Khái niệm về hộ sản xuất: Nói đến sự tồn tại của các hộ sản xuất trong nền kinh tế trước hết ta cần thấy rằng, hộ sản xuất không chỉ có ở nước ta mà còn có ở tất các các nước có nền sản xuất nông nghiệp trên thế giới Hộ sản xuất đã tồn tại qua nhiều phương thức và vẫn đang tiếp tục phát triển Do đó
có nhiều quan niệm khác nhau về kinh tế hộ sản xuất
Nhiều quan niệm cho rằng: Hộ sản xuất là một đơn vị kinh tế mà các thành viên đều dựa trên cơ sở kinh tế chung, các nguồn thu nhập do các thành viên cùng tạo ra và cùng sử dụng chung Quá trình sản xuất của hộ được tiến
Trang 16hành một cách độc lập và điều quan trọng là các thành viên của hộ thường có cùng huyết thống, thường cùng chung một ngôi nhà, có quan hệ chung với nhau, họ cũng là một đơn vị để tổ chức lao động
Một quan niệm khác cho rằng: Trang trại gia đình là loại hình cơ sở sản xuất nông nghiệp, các hộ gia đình nông dân là kiểu trang trại độc lập, sản xuất kinh doanh của từng gia đình có tư cách pháp nhân riêng do một chủ hộ hoặc một người có năng lực và uy tín trong gia đình đứng ra quản lý, các thành viên khác trong gia đình tham gia lao động sản xuất
Để phù hợp với chế độ sở hữu khác nhau giữa các thành phần kinh tế (quốc doanh và ngoài quốc doanh) và khả năng phát triển kinh tế từng vùng (thành thị và nông thôn), theo phụ lục của ngân hàng nông nghiệp Việt Nam ban hành kèm theo quyết định 499A TDNH ngày 02/09/1993 thì khái niệm hộ sản xuất được nêu như sau: "Hộ sản xuất là một đơn vị kinh tế tự chủ, trực tiếp hoạt động sản xuất kinh doanh, là chủ thể trong mọi hoạt động sản xuất kinh doanh và tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của mình"
Như vậy, hộ sản xuất là một khái niệm (đa thành phần) to lớn ở nông thôn
Kinh tế hộ nông dân là hình thức đơn vị kinh tế cơ sở của xã hội, trong
đó các nguồn lực của đất đai, lao động, tiền vốn và tư liệu sản xuất được coi
là của chung để tiến hành sản xuất Có chung ngân quỹ, ngủ chung một nhà,
ăn chung, mọi quyết định trong sản xuất kinh doanh và đời sống là tuỳ thuộc vào chủ hộ, được Nhà nước thừa nhận, hỗ trợ và tạo điều kiện phát triển
Nói tóm lại: Kinh tế hộ nông dân là một tổ chức kinh doanh thuộc sở
hữu của hộ, trong đó các thành viên có tài sản chung, cùng đóng góp công sức
để hoạt động kinh tế chung trong sản xuất nông, lâm ngư nghiệp, hoặc một số lĩnh vực sản xuất, kinh doanh khác được Nhà nước thừa nhận, hỗ trợ và tạo điều kiện phát triển
Trang 171.1.2 Đặc điểm kinh tế của hộ nông dân
Kinh tế hộ nông dân đã tạo ra động lực lớn, giải phóng sức lao động sản xuất, gắn bó lao động với đất đai, khai thác mọi nguồn lực để phát triển sản xuất Kinh tế nông hộ là đơn vị kinh tế cơ sở, vừa là đơn vị sản xuất vừa
là đơn vị tiêu dùng Kinh tế nông hộ ở nông thôn hoạt động sản xuất nông lâm thủy sản gắn với đất đai, điều kiện thủy văn, thời tiết khí hậu và sinh vật Bên cạnh đó kinh tế nông hộ có hoạt động phi nông nghiệp với các mức độ khác nhau Kinh tế nông hộ là đơn vị kinh tế tự chủ, tự chịu trách nhiệm cao về sản xuất và tiêu dùng, căn bản dựa trên cân bằng nguồn lực sản xuất và nhu cầu tiêu dùng của gia đình Kinh tế nông hộ từ tự cấp đến sản xuất hàng hóa, từ chỗ chỉ có quan hệ với tự nhiên, đến chỗ có quan hệ xã hội Nền tảng tổ chức căn bản của kinh tế nông hộ vẫn là định chế gia đình với sự bền vững vốn có Với lao động gia đình, đất đai được sử dụng nối tiếp qua nhiều thế hệ gia đình, với tài sản và vốn sản xuất chủ yếu của gia đình, của quan hệ gia tộc, quan hệ huyết thống, kinh tế nông hộ không thay đổi về bản chất, không bị biến dạng cả khi nó được gắn với khoa học kỹ thuật và công nghệ hiện đại gắn với thị trường để phát triển Như vậy, kinh tế nông hộ có khả năng tồn tại
và phát triển qua nhiều chế độ xã hội khác nhau Do đó kinh tế nông hộ vẫn tồn tại và phát triển ngay trong các nước tư bản phát triển mà không biến dạng thành doanh nghiệp tư bản và hình thức hợp tác xã kiểu cũ ra đời trong hợp tác hoá, tập thể hoá lại không thể tồn tại
Nhìn chung kinh tế hộ nông dân có những đặc điểm cơ bản sau:
- Kinh tế hộ nông dân là hình thức kinh tế có quy mô gia đình, hoạt động gia đình hay là lao động có sẵn mà không cần phải thuê ngoài, các thành viên có mối quan hệ gắn bó với nhau về kinh tế cũng như huyết thống
- Đất đai là yếu tố quan trọng nhất trong các tư liệu sản xuất của hộ nông dân Cuộc sống của họ gắn liền với ruộng đất Giải quyết mối quan hệ giữa nông dân và đất đai là giải quyết vấn đề cơ bản về kinh tế nông hộ
Trang 18- Kinh tế hộ nông dân chủ yếu sử dụng lao động gia đình, người nông dân là chủ thật sự của quá trình sản xuất, trực tiếp tác động vào sinh trưởng, phát triển của cây trồng vật nuôi, không qua khâu trung gian Việc thuê mướn lao động mang tính chất thời vụ không thường xuyên hoặc thuê mướn để đáp ứng nhu cầu khác của gia đình Họ làm việc không kể giờ giấc, hiệu quả sử dụng lao động rất cao
- Cấu trúc lao động của kinh tế hộ nông dân đa dạng, phức tạp Trong một hộ có nhiều loại lao động vì vậy chủ hộ vừa có khả năng trực tiếp điều hành, quản lý vừa có khả năng tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất
- Sản xuất của hộ nông dân là tập hợp các mục đích kinh tế của các thành viên trong gia đình, thường nằm trong một hệ thống sản xuất lớn hơn của cộng đồng Kinh tế hộ nông dân là tế bào kinh tế của sản xuất nông nghiệp, tất yếu có quan hệ với thị trường song mức độ quan hệ còn thấp, chưa gắn chặt với thị trường Nếu tách họ ra khỏi thị trường họ vẫn tồn tại
Những hạn chế, yếu kém của kinh tế hộ nông dân
Bên cạnh những ưu điểm vượt trội, trong quá trình vận động phát triển,
"hộ hàng hoá" cũng đã và đang bộc lộ nhiều hạn chế, yếu kém, đó là:
Hình thức kinh tế tự nhiên đã kiến tạo nên mô hình "hộ tự cấp, tự túc" với nhiều hạn chế, yếu kém "Hộ hàng hoá" - sản phẩm của kinh tế hàng hoá
là bước phát triển cao kế tiếp của "hộ tự cung, tự cấp", nhưng không phải đã khắc phục hết được những hạn chế, yếu kém đó Do tổ chức sản xuất trong không gian rộng, phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên nên một số hoạt động như: thuỷ lợi, bảo vệ thực vật, giao thông, dịch vụ… cần có sự phối hợp thống nhất trên địa bàn với sự tham gia của nhiều hộ gia đình Nếu để từng hộ tự lo liệu thì không làm được hoặc làm không hiệu quả Có thể thấy, đây là hạn chế rất đặc trưng hiện nay Trong điều kiện cạnh tranh hiện nay, nhất là ở các quốc gia đang phát triển, do năng lực nội tại nhìn chung còn thấp, lại bị giới hạn bởi không gian hoạt động sản xuất của mình, nên kinh tế
Trang 19hộ gia đình nông dân không có điều kiện, khả năng tự giải quyết các vấn đề
về vốn, công nghệ, tiêu thụ sản phẩm và nhiều vấn đề về đời sống văn hoá,
xã hội, tinh thần khác
Những hạn chế và yếu kém đó có tính phổ biến Tuy nhiên, do trình độ phát triển và nhiều nguyên nhân khác nhau, nên ở các quốc gia, các vùng, các khu vực khác, mức độ biểu hiện cũng khác nhau Đối với những quốc gia chậm phát triển với những vùng, như: vùng núi, vùng dân tộc ở nước ta thì những hạn chế yếu kém của kinh tế hộ gia đình nông dân bộc lộ khá đậm nét
và gay gắt Một số vấn đề bức xúc nổi lên trong trong quá trình vận động phát triển của kinh tế hộ gia đình nông dân tại các quốc gia, các vùng này là:
+ Nguồn nội lực thấp, nhiều mặt yếu kém Nhìn chung chưa đáp ứng nhu cầu phát triển trong kinh tế hàng hoá, theo cơ chế thị trường
+ Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, mạng lưới dịch vụ, công tác khuyến nông, khuyến lâm đang rất thiếu và yếu
+ Nhiều vấn đề bức xúc về văn hoá - xã hội chậm được giải quyết, đang cản trở sự phát triển chung
Để tạo môi trường thuận lợi cho kinh tế hộ gia đình nông dân đi lên, cần phải giải quyết một cách cơ bản những vấn đề bức xúc đó Nhưng với từng hộ hoặc một nhóm hộ lại không thể tự lo được mà phải có sự giúp đỡ rất lớn của Nhà nước với hệ thống giải pháp ở tầm vĩ mô, mới hi vọng giải quyết một cách triệt để và vững chắc
1.1.3 Vai trò của kinh tế hộ nông dân đối với phát triển kinh tế - xã hội
Kinh tế hộ gia đình là một loại hình kinh tế tương đối phổ biến, phát triển ở nhiều nước trên thế giới Nó có vai trò rất quan trọng trong việc phát triển kinh tế, nhất là trong nông nghiệp Ở Việt Nam, phát triển kinh tế hộ nông dân có ý nghĩa to lớn, bởi vì nước ta bước vào nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần hoạt động theo cơ chế thị trường trên nền tảng gần 80% lực
lượng lao động đang sinh sống ở nông thôn (Tổng cục Thống kê, 2013) và
Trang 20điểm xuất phát để tạo cơ sở vật chất tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa lại đi từ nền kinh tế chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp, quản lý theo kế hoạch hóa tập trung, bao cấp
Mặc dù không phải là một thành phần kinh tế nhưng kinh tế hộ gia đình
là một loại hình để phân biệt với các hình thức tổ chức kinh tế khác Một trong các thành viên của kinh tế hộ gia đình đồng thời là chủ hộ Trong hoạt động kinh tế, gia đình có thể tiến hành tất cả các khâu của quá trình sản xuất
và tái sản xuất Chủ hộ điều hành toàn bộ mọi quá trình sản xuất kinh doanh
và chịu trách nhiệm vô hạn về mọi hoạt động của mình Ở nước ta, kinh tế hộ gia đình phát triển chủ yếu ở nông thôn, thường gọi là kinh tế hộ gia đình nông dân, ở thành thị thì gọi là các hộ tiểu thủ công nghiệp Hiện nay, tại một
số địa phương đã hình thành các trang trại gia đình có quy mô sản xuất và kinh doanh tương đối lớn Xu hướng này đang có chiều hướng phát triển và
mở rộng ra trên phạm vi toàn quốc
Vai trò kinh tế hộ gia đình, trong đó phần lớn là kinh tế hộ nông dân đã được Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khoá VII, chỉ rõ: “ Phát huy hơn nữa tiềm năng to lớn và vị trí quan trọng, lâu dài của kinh tế hộ gia đình Nghị quyết 06 NQ/TƯ ngày 10 tháng 11 năm 1998 của Bộ Chính trị Trung ương Đảng, một lần nữa khẳng định: “Kinh tế xã hội ở nông thôn là loại hình tổ chức sản xuất có hiệu quả về kinh tế - xã hội, tồn tại, phát triển lâu dài, có vị trí quan trọng trong sản xuất nông nghiệp và quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn, ” Có thể thấy vai trò của kinh tế hộ nông dân sản xuất hàng hoá được biểu hiện cả về kinh tế và xã hội, rộng hơn nữa còn cả về bảo vệ, phát triển tài nguyên - môi trường và văn hoá
- nhân văn
- Thứ nhất, hộ nông dân là đơn vị kinh tế sơ sở chứa đựng một hệ thống các nguồn lực (đất đai, vốn, lao động, tư liệu sản xuất ) và sở hữu các sản phẩm mà mình sản xuất ra
Trang 21Hộ nông dân tự chủ thực hiện quá trình tái sản xuất dựa trên các quyết định phân bổ các nguồn lực cho các hoạt động sản xuất nhằm cung cấp những loại nông sản phẩm không thể thiếu được cho con người, tạo nguồn nguyên liệu cho các ngành sản xuất khác để thoả mãn nhu cầu ngày càng tăng của mọi thành viên trong xã hội Vì thế cho đến nay chưa có hình thức nào có thể thay thế được kinh tế hộ nông dân trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp ở nông thôn
- Thứ hai, hộ nông dân là đơn vị duy trì, tái tạo và phát triển các nguồn lực có hiệu quả cao
Với tư cách là đơn vị kinh tế tự chủ, hoạt động sản xuất theo cơ chế thị trường, các hộ nông dân nước ta đã tích cực đẩy mạnh phát triển sản xuất một cách năng động, đa dạng, phù hợp với năng lực và điều kiện cụ thể của mỗi
hộ, góp phần quan trọng tạo ra thị trường hàng hoá ngày càng phong phú, dồi dào ngay tại các vùng nông thôn Mặt khác, dưới tác động khách quan của các quy luật kinh tế thị trường, các hộ nông dân đang tìm mọi biện pháp để nâng cao năng lực sản xuất, chất lượng sản phẩm, nâng cao hiệu sản xuất, trên cơ
sở sử dụng tốt các nguồn lực sẵn có của từng hộ về vốn, đất đai, lao động, tư liệu sản xuất và tri thức Hệ thống nguồn lực của hộ được sử dụng theo phương thức khác nhau do điều kiện và khả năng sản xuất của từng hộ khác nhau Việc coi hộ là đơn vị tự chủ, đã giúp cho hộ nông dân có điều kiện chủ động đầu tư thâm canh, cải tạo đất làm cho đất ngày càng tốt hơn và sử dụng tiền vốn, lao động có hiệu quả hơn Họ biết tích luỹ vốn bằng cách “lấy ngắn nuôi dài” trong sản xuất để mở rộng quy mô sản xuất Sản xuất có thu nhập cao là điều kiện để hộ có thể tái đầu tư các nguồn lực Gia đình là tế bào của
xã hội, là nơi nuôi dưỡng các thành viên trong gia đình, là đơn vị tạo nguồn lao động, tái sản xuất sức lao động xã hội
Ở nước ta, hộ nông dân sản xuất hàng hoá mới phát triển trong những năm gần đây (nhất là kinh tế trang trại gia đình), nhưng đã thể hiện vai trò, ưu thế của nó cả về mặt kinh tế, xã hội, văn hoá và môi trường Có thể khẳng định:
Trang 22- Hộ nông dân là động lực góp phần thúc đẩy tăng trưởng sản xuất nông nghiệp và kinh tế nông thôn Hộ nông dân đã mạnh dạn đầu tư, tích cực áp dụng công nghệ mới nhất là công nghệ sinh học, phát triển các loại cây trồng, vật nuôi có giá trị kinh tế cao, từng bước khắc phục dần tình trạng sản xuất nhỏ, hiệu quả kinh tế thấp sang sản xuất tập trung với quy mô hàng hoá nông sản không ngừng tăng lên Từ đó tạo nên vùng chuyên môn hoá, tập trung hoá
và thâm canh cao, góp phần tích cực vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá Mặt khác,
hộ nông dân phát triển sẽ kéo theo theo các ngành kinh tế khác phát triển, nhất là công nghiệp chế biến nông - lâm sản, dịch vụ phục vụ sản xuất nông - lâm nghiệp và các hoạt động kinh tế khác trong nông thôn Làm cho kinh tế nông thôn phát triển đa dạng và chuyển dịch dần theo hướng giảm tỷ trọng nông - lâm nghiệp, tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ
- Phát triển kinh tế hộ nông dân góp phần giải quyết các vấn đề về văn hoá - xã hội trong nông thôn
Về mặt xã hội, trong điều kiện ngành kinh tế nông thôn phát triển còn chậm, dân số nông thôn tăng nhanh, vấn đề lao động và việc làm đang là vấn
đề bức xúc thì phát triển hộ nông dân có một ý nghĩa to lớn Bởi vì, kinh tế hộ nông dân phát triển sẽ tạo thêm nhiều việc làm, thu hút được lao động đang
dư thừa trong nông thôn, nhất là số lao động trẻ thiếu việc làm đang có xu hướng gia tăng hiện nay Mặt khác, hộ sản xuất hàng hoá phát triển làm tăng thêm thu nhập của người lao động, đời sống người dân được cải thiện, giảm
hộ đói nghèo, tăng nhanh hộ khá giàu, góp phần thúc đẩy phát triển kết cấu hạ tầng trong nông thôn Cơ sở vật chất của các hộ nông dân được tăng cường, nhà cửa khang trang, phương tiện sinh hoạt được trang bị ngày càng đầy đủ
và hiện đại làm cho bộ mặt xã hội nông thôn được thay đổi nhanh chóng
Về mặt văn hoá, phát triển kinh tế hộ nông dân sẽ xoá dần những tập quán canh tác, những tập tục lạc hậu trong sản xuất thay thế bằng những quy
Trang 23trình kỹ thuật sản xuất nông nghiệp tiên tiến, tạo tấm gương về cách thức tổ chức và quản lý sản xuất kinh doanh Mặt khác, đời sống người dân ngày càng được nâng cao, những lễ hội truyền thống tốt đẹp từ bao đời nay được chú ý khôi phục và phát triển, góp phần xây dựng nông thôn mới, tạo nên nét đẹp văn hoá trong cộng đồng làng, bản mang đậm nét nền văn minh nông nghiệp
- Phát triển kinh tế hộ nông dân góp phần bảo vệ tài nguyên thiên nhiên
và môi trường sinh thái
Với chính sách giao đất, khoán rừng cho hộ nông dân, đã tạo điều kiện thuận lợi cho kinh tế hộ phát triển Vì lợi ích lâu dài, các hộ nông dân luôn quan tâm đến việc bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và môi trường sinh thái, nơi
mà họ đang sống, lao động để làm ra của cải vật chất nuôi sống gia đình
Trong những năm qua các hộ đã sử dụng hiệu quả tài nguyên đất đai, thực hiện các biện pháp canh tác khoa học và hợp lý, không ngừng tăng thêm
độ mầu mỡ của đất Các hộ nông dân sản xuất hàng hoá ở vùng đồi núi đã tích cực trong việc khoanh nuôi, bảo vệ rừng, trồng rừng tập trung, rừng đặc dụng, góp phần phủ xanh đất trống, đồi núi trọc, giữ được nguồn nước ở vùng cao
Từ đó góp phần tích cực trong việc cải tạo tài nguyên đất, rừng, nguồn nước
và bảo vệ môi trường sinh thái trên các vùng trong cả nước
Trong nền kinh tế thị trường ngoài việc sản xuất nhằm đáp ứng nhu cầu của thị trường về nông sản do họ sản xuất mà còn phải mở rộng quy mô sản xuất, thuê thêm nhân công, ở mức cao có thể có một số hộ nông dân sẽ phát triển thành trang trại gia đình Kinh tế hộ nông dân phát triển trên thực tiễn đã hình thành các nhóm kinh tế hộ nông dân khác nhau, đó là: nhóm kinh tế hộ nông dân sản xuất hàng hoá theo mô hình kinh tế trang trại gia đình Vì vậy, kinh tế hộ nông dân muốn phát triển tốt cần phải có sự hỗ trợ của Nhà nước
về chính sách phát triển kinh tế, cơ sở hạ tầng và khoa học kỹ thuật
1.2 Phân loại hộ nông dân
Hộ sản xuất hoạt động kinh doanh trong nền kinh tế hàng hoá phụ thuộc rất nhiều vào trình độ sản xuất kinh doanh, khả năng kỹ thuật, quyền
Trang 24làm chủ những tư liệu sản xuất và mức độ vốn đầu tư của mỗi hộ gia đình Việc phân loại hộ sản xuất có căn cứ khoa học sẽ tạo điều kiện để xây dựng chính sách tín dụng phù hợp nhằm đầu tư đem lại hiệu quả
Có thể chia hộ sản xuất làm 3 loại sau:
1.2.1 Hộ quy mô lớn
Là các hộ có vốn, có kỹ thuật, kỹ năng lao động, biết tiếp cận với môi trường kinh doanh, có khả năng thích ứng, hoà nhập với thị trường Như vậy các hộ này tiến hành sản xuất kinh doanh có hiệu quả, biết tổ chức quá trình lao động sản xuất cho phù hợp với thời vụ để sản phẩm tạo ra có thể tiêu thụ trên thị trường
Chính vì vậy mà các hộ này luôn có nhu cầu mở rộng và phát triển sản xuất tức là có nhu cầu đầu tư thêm vốn Việc vay vốn đối với những hộ sản xuất này hoàn toàn chính đáng và rất cần thiết trong quá trình mở rộng và phát triển sản xuất kinh doanh Đây chính là các khách hàng mà tín dụng ngân hàng cần phải quan tâm và coi là đối tượng chủ yếu quan trọng cần tập trung đồng vốn đầu tư vào đây sẽ được sử dụng đúng mục đích, sẽ có khả năng sinh lời, hơn thế nữa lại có thể hạn chế tối đa tình trạng nợ quá hạn Đây cũng là một trong những mục đích mà ngân hàng cần thay đổi thông qua công cụ lãi suất tín dụng, thuế… Nhà nước và Ngân hàng có khả năng kiểm soát và điều tiết hoạt động của các hộ sản xuất bằng đồng tiền, bằng chính sách tài chính ở tầm vĩ mô
1.2.2 Hộ quy mô trung bình
Là các hộ có sức lao động làm việc cần mẫn nhưng trong tay họ không
có hoặc có rất ít tư liệu sản xuất, tiền vốn hoặc chưa có môi trường kinh doanh Loại hộ này chiếm số đông trong xã hội do đó việc tăng cường đầu tư tín dụng để các hộ này mua sắm tư liệu sản xuất có ý nghĩa rất quan trọng để phát huy mọi năng lực sản xuất nông thôn trong lính vực sản xuất nông nghiệp Việc cho vay vốn không những giúp cho các hộ này có khả năng tự lao động sản xuất tạo sản phẩm tiêu dùng của chính mình mà còn góp phần
Trang 25giúp các hộ này có khả năng tự chủ sản xuất Mặt khác, bằng các hoạt động đầu tư tín dụng, tín dụng ngân hàng có thể giúp các hộ sản xuất này làm quen với nền sản xuất hàng hoá, với chế độ hạch toán kinh tế để các hộ thích nghi với cơ chế thị trường, từng bước đi tự sản xuất hàng hoá, tự tiêu dùng (tự cung tự cấp) đến sản xuất sản phẩm hàng hoá đáp ứng nhu cầu thị trường
1.2.3 Hộ quy mô nhỏ
Là các hộ không có sức lao động, không tích cực lao động, không biết
tính toán làm ăn gặp rủi ro trong sản xuất kinh doanh, gặp tai nạn ốm đau và những hộ gia đình chính sách,… đang còn tồn tại trong xã hội Thêm vào đó quá trình phát triển của nền sản xuất hàng hoá cùng với sự phá sản của các nhà sản xuất kinh doanh kém cỏi đã góp thêm vào đội ngũ dư thừa
Phương pháp giải quyết các hộ này là nhờ vào sự cứu trợ nhân đạo hoặc quỹ trợ cấp thất nghiệp, trách nhiệm và lương tâm cộng đồng, không chỉ giới hạn về vật chất sinh hoạt mà còn giúp họ về phương tiện kỹ thuật đào tạo tay nghề vươn lên làm chủ cuộc sống, khuyến khích người có sức lao động phải sống bằng kết quả lao động của chính bản thân mình
Về bản chất người nông dân, họ rất yêu quê hương đồng ruộng Sinh hoạt của họ gắn liền với cây trồng, mảnh ruộng, họ không muốn rời quê hương nếu không vì sự nghiệp phát triển kinh tế nước nhà, hay vì hoàn cảnh khó khăn bắt buộc Chính sách ổn định về cư trú của người nông dân với đồng ruộng là một trong những điều kiện hết sức quan trọng tạo thuận lợi cả
về mặt quan hệ xã hội cũng như trong quan hệ tín dụng với ngân hàng
1.3 Nội dung và tiêu chí phát triển kinh tế hộ nông dân
1.3.1 Nội dung phát triển kinh tế hộ nông dân
Kinh tế hộ nông dân là một loại hình tổ chức sản xuất nông nghiệp, do
đó có thể hiểu rằng phát triển kinh tế hộ nông dân chính là quá trình tăng trưởng về sản xuất, gia tăng về thu nhập, tích lũy của kinh tế hộ nông dân, làm cho kinh tế nông nghiệp nói riêng và nền kinh tế quốc dân nói chung đi lên
Trang 261.3.1.1 Tăng cường các yếu tố sản xuất của kinh tế hộ nông dân
Các yếu tố sản xuất chủ yếu của kinh tế hộ nông dân bao gồm: đất đai, vốn, lao động Phát triển các yếu sản xuất là nhằm gia tăng qui mô đất đai tính trên hộ nông dân (hoặc tính trên 1 lao động); gia tăng vốn đầu tư cho sản xuất của hộ, gia tăng số lượng lao động
• Đất hay các nguồn lực tự nhiên (tài nguyên thiên nhiên) - các sản phẩm có nguồn gốc tự nhiên chẳng hạn như đất đai và khoáng chất Đặc điểm vai trò với kinh tế hộ, những quan niệm khác nhau về đất đai đối với kinh tế hộ
• Lao động: Các hoạt động của con người được sử dụng trong sản xuất yếu tố lao động là một phạm trù khách quan gắn liền với bất kỳ nền sản xuất
xã hội nào Không có yếu tố con người, sẽ không có một quá trình sản xuất nào diễn ra, lúc đó tư liệu sản xuất chỉ là vật chết, chỉ có yêu tố lao động của con người mới làm cho tư liệu sản xuất sống lại tạo ra sản phẩm mới Ngay cả đối với những nước có nền kinh tế phát triển dựa trên cơ sở khoa học kỹ thuật hiện đại, quá trình sản xuất sản phẩm đều hoàn toàn do Robot làm việc, cũng không thể thoát ly khỏi sự điều khiển của con người vì chính con người tạo ra
và điều khiển chúng làm việc theo một chương trình đã định sẵn
Tuy nhiên, trong mỗi hình thái kinh tế, quan niệm về vai trò của yếu tố con người khác nhau Trong nền kinh tế kế hoạch hóa, con người được sử dụng một cách có kế hoạch, được tạo mọi điều kiện cho việc phát huy năng lực cá nhân, song tính chất tập trung quan liêu của nền kinh tế đã dẫn đến sự ỷ nại, trì trệ, kìm hãm sự phát triển đó
1.3.1.2 Nâng cao trình độ sản xuất của chủ hộ
Trình độ học vấn là một khía cạnh rất quan trọng để đánh giá chất lượng của nguồn nhân lực Một nguồn nhân lực được xem là có chất lượng cao khi trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao, kỹ năng lao động thành thạo Trong đó, trình độ học vấn của người lao động là yếu tố rất đáng quan tâm, nó
Trang 27giúp cho người lao động nắm bắt được những kiến thức mới, nó còn là một công cụ giúp người lao động tiếp cận được những tri thức mới, nâng cao khả năng tư duy sáng tạo của người lao động Về vấn đề này Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa X), đã đề ra mục tiêu đến 2020 phải đạt trên 50% lao động nông thôn qua đào tạo nghề Học nghề
là nghĩa vụ quyền lợi của lao động nông thôn nhằm tạo việc làm, tăng thu nhập và phục vụ cho công việc của mình
Trong giai đoạn hiện nay, với xu thế tiến tới các hộ phải tham gia liên kết sản xuất kinh doanh, nguồn lực lao động quyết định năng suất và chất lượng công việc Điều này đòi hỏi trình độ của lao động nông thôn ngày càng phải được nâng cao Các hộ sản suất cần tuân thủ các hướng dẫn về thời vụ và
kỹ thuật gieo trồng, bảo quản hàng hóa nông sản sau thu hoạch, tham gia các lớp tập huấn để bảo đảm tiêu chuẩn chất lượng của sản phẩm hàng hóa nông sản, phải có kiến thức về công nghệ cao, công nghệ sinh học Người lao động ngoài các kiến thức để sản xuất, kinh doanh còn phải có năng lực quản lý kinh
tế hộ nhằm phát triển kinh tế hộ theo các mô hình liên kết theo chiều dọc trong các ngành hàng, chuỗi giá trị sản phẩm nông sản; các mô hình liên kết mới theo chiều ngang, liên kết giữa những người sản xuất, các đơn vị kinh doanh với nhau
1.3.1.3 Gia tăng kết quả sản xuất của kinh tế hộ
Kết quả sản xuất của kinh tế hộ biểu hiện ở đầu ra của kinh tế hộ như: Sản lượng hàng hóa nông sản, giá trị tổng sản lượng, giá trị sản lượng hàng hóa, doanh thu Kết quả này có được nhờ sự kết hợp các yếu tố nguồn lực lao động, vốn, đất đai, trình độ sản xuất của chủ hộ và sự lựa chọn phương án sản xuất kinh doanh như chọn cơ cấu cây trồng, vật nuôi phù hợp, mở rộng thị trường tiêu thụ nông sản cho hộ nông dân …
1.3.1.4 Nâng cao thu nhập, đời sống và tích lũy của kinh tế hộ
Hộ sản xuất hàng hoá phát triển làm tăng thêm thu nhập của người lao động, tích lũy của hộ ngày càng gia tăng, đời sống người dân được cải thiện,
Trang 28giảm hộ đói nghèo, tăng nhanh hộ khá giầu, góp phần thúc đẩy kết cấu hạ tầng trong nông thôn Cơ sở vật chất của các hộ nông dân được tăng cường, nhà cửa khang trang, phương tiện sinh hoạt được trang bị ngày càng đầy đủ
và hiện đại làm cho bộ mặt xã hội nông thôn được thay đổi nhanh chóng
1.3.2 Các chỉ tiêu phản ánh trình độ phát triển kinh tế hộ nông dân
Nhóm chỉ tiêu phản ánh về chủ hộ nông dân: Trình độ học vấn, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, kinh nghiệm sản xuất, khả năng tiếp thu khoa học kỹ thuật, khả năng tiếp cận thị trường, độ tuổi bình quân, giới tính
Nhóm chỉ tiêu phản ánh điều kiện sản xuất kinh doanh của hộ nông dân: đất đai bình quân 1 hộ, 1 lao động, 1 nhân khẩu; vốn sản xuất bình quân
1 hộ và cơ cấu vốn theo tính chất vốn; lao động bình quân 1 hộ, lao động bình quân/người tiêu dùng bình quân
Nhóm chỉ tiêu phản ánh phương hướng và kết quả sản xuất hàng hoá của hộ nông dân: giá trị sản phẩm thu được từ sản xuất nông, lâm, thuỷ sản trong năm, cơ cấu giá trị sản phẩm thu được, chi phi sản xuất, thu nhập bình quân hộ từ sản xuất hàng hoá
Nhóm chỉ tiêu phản ánh mức thu nhập và thu chi của hộ nông dân: tổng thu của hộ, chi phí sản xuất bình quân 1 hộ nông dân, thu nhập bình quân của
hộ nông dân, mức thu nhập bình quân/lao động, thu nhập bình quân/khẩu
1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển kinh tế hộ nông dân
Trong sản xuất kinh doanh nông nghiệp, kinh tế hộ nông dân sản xuất hàng hoá chịu sự tác động bởi các nhóm yếu tố như điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế và khả năng tổ chức quản lý và sản xuất, điều kiện về khoa học
Trang 29lợi như gần đường giao thông, gần cơ sở chế biến nông sản, gần thị trường tiêu thụ sản phẩm, gần trung tâm các khu công nghiệp, đô thị lớn sẽ có điều kiện phát triển sản xuất hàng hoá Thực tế cho thấy,càng ở những vùng xa,
do vị trí không thuận lợi nên kinh tế hộ nông dân kém phát triển
Sản xuất của hộ nông dân hiện nay chủ yếu là nông nghiệp, mà đất đai
là tư liệu sản xuất đặc biệt, không thể thay thế được trong quá trình sản xuất nông nghiệp Do vậy quy mô đất đai, địa hình và tính chất nông hoá thổ nhưỡng có liên quan mật thiết tới từng loại nông sản phẩm, tới số lượng và chất lượng sản phẩm sản xuất ra, tới giá trị lợi nhuận và lợi nhuận thu được
Những nhân tố về điều kiện tự nhiên phải kể đến là các ưu đãi của tự nhiên có ảnh hưởng trực tiếp đến mảnh đất mà người nông dân canh tác, như thời tiết khí hậu, quá trình hình thành đất có tác động quyết định đến độ phì nhiêu tự nhiên, vị trí của mảnh đất đó, hay có thể nói gọn lại là địa tô chênh lệch đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu trong nông nghiệp, quỹ ruộng đất nhiều hay ít, tốt hay xấu đều có ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả sản xuất; đến khả năng sản xuất hàng hoá
1.4.1.2 Khí hậu và môi trường sinh thái
Khí hậu thời tiết có ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp Điều kiện thời tiết, khí hậu có lượng mưa, độ ẩm, nhiệt độ, ánh sáng có mối quan
hệ chặt chẽ đến sự hình thành và sử dụng các loại đất Những nơi có điều kiện thời tiết, khí hậu thuận lợi, được thiên nhiên ưu đãi sẽ hạn chế được những bất lợi, những rủi ro do thiên nhiên gây ra và có cơ hội để phát triển nông nghiệp, tăng cường nông sản hàng hoá của các hộ nông dân
Môi trường sinh thái cũng ảnh hưởng đến phát triển kinh tế hộ nông dân, nhất là nguồn nước, không khí Bởi vì, những cây trồng và con gia súc tồn tại
và phát triển theo quy luật sinh học Nếu môi trường sinh thái thuận lợi thì cây trồng, con gia súc phát triển tốt, cho năng suất sản phẩm cao Nếu môi trường
Trang 30sinh thái không phù hợp dẫn đến cây trồng, con gia súc phát triển, năng suất, chất lượng sản phẩm giảm, từ đó sản xuất hiệu quả của hộ nông dân thấp
1.4.2 Các nhân tố về điều kiện kinh tế - xã hội
- Dân cư và lao động
Người lao động phải có trình độ học vấn, cần cù, siêng năng, có kỹ năng tiếp thu tiến bộ khoa học, kỹ thuật về kinh nghiệm sản xuất tiên tiến trong việc sản xuất nông nghiệp, phát triển kinh tế hộ nông dân Đại hộ phận lao động sống tập trung ở vùng nông thôn là nhân tố hàng đầu thúc đẩy phát triển kinh tế hộ nông dân theo chiều rộng và chiều sâu Sự phân bố dân cư và nguồn lao động ảnh hưởng đến cơ cấu, sự phân bố cây trồng, vật nuôi (là lực lượng lao động, tiêu thụ, quan trọng để phát triển nông nghiệp)
Dân cư là thị trường tiêu thụ lớn sản phẩm nông nghiệp, thúc đẩy kinh
tế hộ nông dân phát triển
- Nguồn vốn và thị trường tiêu thụ
Nguồn vốn có vai trò to lớn với quá trình phát triển kinh tế hộ nông dân Nó là một trong những yếu tố quyết định sự hình thành hộ sản xuất hàng hoá Khi có quy mô vốn kinh tế hộ mới có thể chuyển thành kinh tế trang trại gia đình Nguồn vốn tăng nhanh cũng tạo điều kiện cho việc áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào trong sản xuất
Thị trường là nơi tiêu thụ rộng lớn các sản phẩm do hộ nông dân làm
ra, thúc đẩy kinh tế hộ nông dân phát triển; và tham gia điều tiết giá cả của nông phẩm Sự phát triển và mở rộng thị trường trong và ngoài nước thúc đẩy
sự phát triển kinh tế hộ nông dân hình thành vùng chuyên môn hóa sản xuất nông phẩm
Trang 31- Cơ sở hạ tầng và vật chất kỹ thuật
Sự phân bố cơ sở hạ tầng ảnh hưởng đến sự phân bố sản xuất của nông
hộ Sản xuất nông phẩm thường phân bố ở nhiều những vùng có các khu chế biến, các khu công nghiệp, gần các trung tâm cung cấp giống cây trồng, ở những đầu mối giao thông
Hệ thống các công trình thủy lợi các cấp, trong đó bao gồm: các hồ chứa, các nhà máy thủy điện, cung cấp nước tưới, điều tiết nước phục sản xuất
- Sự liên kết, hợp tác giữa các hộ nông dân trong sản xuất kinh doanh
Thời kỳ cạnh tranh kinh tế thị trường cần phải có sản phẩm khối lượng lớn, chất lượng cao, đạt tiêu chuẩn quốc tế; giao hàng đúng lúc, giá thành cạnh tranh, các hộ nông dân càng cần có sự hợp tác, liên kết, giúp đỡ nhau để
có thêm vốn, kinh nghiệm sản xuất, và quan trọng hơn nữa là tiêu thụ các sản phẩm, việc liên kết hợp tác giúp các hộ nông dân có điều kiện áp dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật và công nghệ mới, đầu tư thêm trang thiết bị tiên tiến đưa vào sản xuất nhằm nâng cao năng suất cây trồng, hiệu quả chăn nuôi, tăng năng suất lao động của mình
Các ban ngành liên quan: Hệ thống ngân hàng đầu tư vốn cho sản xuất nông nghiệp; Các trung tâm tổ chức các lớp đào tạo tay nghề cho người lao động; các trung tâm cung cấp giống, dịch vụ nông nghiệp: Hợp tác xã nông nghiệp, trạm khuyến nông,…Các cơ sở lai tạo giống cây trồng, bảo vệ thực vật, các cơ sở sản xuất, cung cấp phân bón, các loại hóa chất
1.4.3 Các nhân tố về khoa học kỹ thuật- công nghệ
Khoa học - công nghệ là đòn bẩy thúc đẩy sự tăng trưởng và phát triển của phát triển kinh tế hộ nông dân Ứng dụng khoa học công nghệ và chuyển giao kỹ thuật tiến bộ vào sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp và phát triển nông thôn; nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của sản phẩm hàng hoá trên thị trường; từng bước hình thành thị trường công nghệ và dịch vụ khoa học và công nghệ ở nông thôn tạo đà cho việc ứng dụng nhanh các thành tựu khoa học và công nghệ vào sản xuất và thúc đẩy phát triển kinh
Trang 32tế - xã hội khu vực nông thôn, miền núi theo hướng công nghiệp hoá - hiện đại hoá; huy động tối đa nguồn lực xã hội, góp phần phát triển sản xuất hàng hoá, tăng thu nhập, tạo thêm việc làm cho nông dân, thực hiện mục tiêu chiến lược tăng trưởng và xoá đói, giảm nghèo; đào tạo và bồi dưỡng cho cán bộ kỹ thuật cơ sở và nông dân,
Kỹ thuật canh tác: Do điều kiện địa lý khác nhau, mỗi vùng miền có điều kiện khí hậu, thời tiết khác nhau, do đó để sản xuất ra sản phẩm cho năng suất chất lượng, hiệu quả cao thì đòi hỏi các loại giống cây, con khác nhau nhằm thích ứng với điều kiện thời tiết từng mùa, từng vùng, từng loại đất
1.4.4 Các nhân tố về cơ chế, chính sách
Những nhân tố thuộc về quản lý vĩ mô của nhà nước là những chính sách, những định hướng cho phát triển kinh tế của đất nước: Chính sách ruộng đất, chính sách bảo hộ sản phẩm, chính sách hỗ trợ cây- con giống, chính sách bình ổn giá, giúp người dân ổn định làm ăn, yên tâm sản xuất
Đảng và Nhà nước ta đã có những chủ trương, chính sách về nông nghiệp, tạo điều kiện cho kinh tế hộ gia đình phát triển Từ khi thực hiện Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị khóa VI (1988), hộ nông dân đã thực sự được trao quyền tự chủ trong sản xuất, và do đó đã khơi dậy nhiều nguồn lực và tiềm năng để kinh tế hộ gia đình phát triển; người nông dân gắn bó với ruộng đất hơn, chủ động đầu tư vốn để thâm canh tăng vụ, ruộng đất được sử dụng tốt hơn Nghị quyết Trung ương 6 lần 1 (khoá VIII) với chủ trương tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, nhất là CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn đã khẳng định nông nghiệp, nông thôn là lĩnh vực có vai trò cực kỳ quan trọng cả trước mắt và lâu dài, làm cơ sở để ổn định và phát triển kinh tế - xã hội Đặc biệt, Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2001 - 2010 đã xác định kinh tế hộ gia đình là một đơn vị sản xuất cơ sở, cần thiết cho chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế vĩ mô, nhằm huy động mọi nguồn lực tiến hành sự nghiệp CNH, HĐH đất nước Nghị định số 66/HĐBT ngày 2/3/1992; Luật Doanh nghiệp (2005) đã khẳng định: Chủ hộ chịu trách nhiệm vô hạn về
Trang 33vốn và kết quả kinh doanh của mình, mặt khác Nhà nước cũng có những chính sách tạo điều kiện thuận lợi để hộ kinh doanh có số vốn phù hợp với quy mô để hộ gia đình có thể chuyển thành doanh nghiệp đăng ký kinh doanh
và các hoạt động theo pháp luật
Theo đó, kinh tế hộ gia đình thích ứng với cơ chế thị trường ngày càng góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lao động, giải quyết việc làm ở nông thôn Xuất hiện nhiều hộ gia đình sản xuất theo phương thức trang trại gia đình, trong các lĩnh vực nông, lâm nghiệp và thủy sản
Kinh tế hộ gia đình đang có cơ hội, điều kiện phát triển mạnh mẽ khi chúng ta thực hiện quá trình xây dựng nông thôn mới Xây dựng nông thôn mới là một nội dung quan trọng của Nghị quyết Trung ương 7 (khóa X) về nông nghiệp, nông dân, nông thôn Ngày 16/4/2009, Thủ tướng Chính phủ có quyết định số 491 ban hành bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới Bộ tiêu chí quy định việc thực hiện nông thôn mới ở nước ta gồm 7 vùng, với 5 nội dung,
19 tiêu chí Trong đó, phát triển kinh tế hộ gia đình, đa dạng hóa ngành nghề, giải quyết việc làm và chuyển dịch nhanh cơ cấu lao động nông thôn là những nội dung của Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020
1.5 Kinh nghiệm phát triển kinh tế hộ nông dân trên thế giới và ở Việt Nam có khả năng áp dụng cho huyện Lâm Thao
1.5.1 Sự phát triển kinh tế hộ nông dân ở một số nước trên thế giới
Lịch sử phát triển nông nghiệp thế giới đã chứng minh rằng sự tồn tại
và phát triển kinh tế hộ nông dân là một tất yếu khách quan, phù hợp với quy luật sản xuất nông nghiệp, kể cả trong điều kiện nông nghiệp được công nghiệp hóa, hiện đại hóa, có trình độ sản xuất hàng hóa cao
Sau đây, để giúp cho việc nghiên cứu và việc định hướng phát triển cho kinh tế hộ nông dân ở nước ta phù hợp với quy luật phát triển nông nghiệp nói chung, chúng ta sẽ xem xét tình hình phát triển kinh tế hộ, kinh tế trang trại ở một số nước trên thế giới
Trang 34* Kinh nghiệm phát triển kinh tế hộ ở Hoa Kỳ
Hoa Kỳ là nước từ nhiều năm nay dẫn đầu thế giới về sản xuất nông nghiệp Năm 1987, xuất khẩu nông phẩm của Hoa Kỳ đạt 46 tỷ đô la, đó là con số cực kỳ lớn nói lê vị trí dẫn đầu của họ Ngoài điều kiện thiên thuận lợi, kết quả ấy còn do yếu tố tổ chức sản xuất hợp lý mang lại Người Mỹ thường nói "nông trại gia đình là linh hồn, là tế bào của nền nông nghiệp Hoa Kỳ" và quả thực đúng như vậy Năm 1976, toàn Mỹ có 28 triệu nông trại với khoảng 4,4 triệu lao động nhưng đến năm 1987 con số này chỉ còn 2.176 nghìn nông trại với 3,208 triệu lao động (chưa đầy 2% dân số) Do quy mô và năng suất lao động tăng nên số nông trại và số lao động nông nghiệp ngày càng giảm Do kỹ thuật ngày càng hiện đại nên quy mô trung bình của một nông trại cũng không ngừng tăng lên: 1940 là 40ha; 1960 là
120 ha; hiện nay khoảng 217 ha Các nông trại gia đình sở hữu 228.576.692
ha đất canh tác, nhưng canh tác tới 362.430.000 ha Ở Hoa Kỳ các nông trại chủ yếu chỉ sử dụng lao động gia đình Tuy nhiên họ được hỗ trợ bởi một hệ thống công cụ và thiết bị vô cùng hiện đại
Các trang trại ở Mỹ nhờ áp dụng các tiến bộ Khoa học kỹ thuật vào sản xuất kinh doanh nên sản lượng nông sản làm ra của một lao động nông nghiệp đến năm 1990 đủ để nuôi được 80 người
Công nghiệp hoá đã có tác động trực tiếp vào hệ thống các yếu tố cơ bản của các trang trại trong sản xuất nông nghiệp Mỹ, tạo ra sự thay đổi cơ bản về vật tư kỹ thuật nông nghiệp: giống, phân bón, hoá chất, thức ăn gia súc
và động lực, công cụ, máy móc nông nghiệp và về công nghệ sản xuất nông nghiệp, tạo ra năng suất sinh học và năng suất lao động cao Về giống cây trồng, vật nuôi, công nghệ sinh học đã tạo ra những giống cây trồng mới như các giống ngô, lúa nước, đỗ tương, bông, mía, củ cải đường, rau quả cho năng suất cao, chất lượng tốt và các giống vật nuôi cho nhiều thịt sữa, trứng, những giống bò thịt, lợn thịt, bò sữa, gà công nghiệp phù hợp với điều kiện sản xuất
Trang 35công nghiệp hoá Về mặt vật tư kỹ thuật nông nghiệp, công nghệ hoá chất Mỹ
đã sản xuất ra một khối lượng lớn các loại phân bón, đạm, lân, kali, hoá chất trừ sâu bệnh, cỏ dại chất lượng cao, không những đủ đảm bảo cho nhu cầu nông nghiệp trong nước mà còn xuất khẩu Sản lượng phân bón của Mỹ sản xuất năm 1910 là 5,547 triệu tấn, đến năm 1990 tăng lên đến 36,5 triệu tấn
Từ những năm 60 đến những năm 90, lượng phân bón trên đơn vị diện tích ở
Mỹ tăng 3 lần Công nghệ sản xuất nông nghiệp của các trang trại Mỹ đến nay
đã được công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở mức độ cao, từ cơ giới hoá, điện khí hoá, đến thuỷ lợi hoá, hoá học hoá Các khâu sản xuất và chế biến các loại nông sản chính đã được cơ giới hoá toàn bộ và công nghệ tin học và tự động hoá bắt đầu xâm nhập vào sản xuất nông nghiệp của các trang trại
Công nghiệp hoá nông nghiệp trong các trang trại từ bề rộng chuyển sang bề sâu đi vào thâm canh cao, trên cơ sở giảm chi phí năng lượng, vật tư
kỹ thuật, nâng cao hiệu quả sản xuất, như áp dụng rộng rãi công nghệ sản xuất trồng trọt bằng làm đất tối thiểu, trên diện tích 45-50 triệu hecta, giảm chi phí nhiên liệu, bảo vệ đất, chống xói mòn, ứng dụng kỹ thuật tưới tiêu cho cây trồng, tiết kiệm nước
Công nghiệp chế biến nông sản của Mỹ phát triển đạt mức độ cao nhất thế giới (chế biến lương thực, rau quả, thịt sữa v.v )
Kinh nghiệm phát triển kinh tế hộ ở Vương quốc Hà Lan
Là một đất nước nhỏ bé với diện tích 41.500km2, dân số 14.806.000 người trong đó số lao động nông nghiệp chỉ chiếm 5,7% dân số, nhưng hàng năm đã sản xuất ra một lương lương thực - thực phẩm không những đáp ứng
đủ nhu cầu trong nước mà còn xuất khẩu 48,3 tỷ Gulden sản phẩm nông nghiệp năm 1990
Toàn bộ sản xuất nông nghiệp ở Hà Lan được tổ chức chủ yếu theo nông trại Năm 1960 có 300 nghìn nông trại thì đến năm 1985 chỉ còn 138 nghìn Các nông trại tổ chức gọn với diện tích trung bình khoảng 10ha đất
Trang 36canh tác, sử dụng lao động gia đình là chính Các nông trại được trang bị đầy
đủ mọi dụng cụ, máy móc cần thiết, số nông trại chăn nuôi chiếm 17%
Lao động trong ngành nông nghiệp sơ cấp tức là nông dân khoảng 20 vạn người, trong tổng số 42,2 vạn người làm việc trong các ngành trước và sau sản xuất, có nghĩa là tỉ lệ giữa ngành nông nghiệp sơ cấp trong tổng số chỗ làm việc phi nông nghiệp của tổ hợp nông - công - thương nghiệp là 1/2
- Tỉ trọng của GDP nông - công - thương chiếm 11,7% tổng GDP và tỉ trọng chỗ làm việc chiếm 11,8% là 2 con số tương tự nhau, chứng tỏ hiệu suất lao động tổ hợp nông - công - thương nghiệp đã xấp xỉ hiệu suất lao động của các ngành sản xuất khác
Ở Hà Lan, nông nghiệp không còn là một ngành ở "thế yếu" Định kiến
về "người làm nông nghiệp cam chịu số phận nghèo hơn người làm công nghiệp dịch vụ" không tồn tại trong xã hội Hà Lan
Nhiều mặt hàng xuất khẩu đứng đầu thế giới, Có 9 mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu đứng đầu thế giới, 3 mặt hàng đứng thứ hai thế giới
Mức xuất khẩu về nông sản cũng vượt nhiều cường quốc nông nghiệp thế giới
Người Hà Lan tự tìm tòi khám phá lợi thế so sánh của một nước nhỏ, nghèo tài nguyên thiên nhiên, biết tranh thủ nguồn lực từ tài nguyên quốc tế
và thị trường thế giới để không ngừng đổi mới cơ cấu kinh tế theo hướng tối
ưu hoá, tạo ra những thành công về nông nghiệp
Do đất ít, điều kiện ánh sáng, nhiệt độ có hạn chế, nên giá thành sản xuất cây lương thực - thực phẩm cao, chất lượng sản phẩm cũng không tốt (chẳng hạn chất lượng bột mì của Hà Lan rất kém) Sản xuất lương thực thực phẩm đã chuyển hướng sang trồng cây rau, hoa, cây cảnh hoặc chăn nuôi, hoặc thông qua mở rộng quy mô sản xuất để tăng hiệu quả, hoặc chuyển sang sản xuất phi nông nghiệp (như du lịch) hoặc để làm khu bảo tồn tự nhiên, hoặc chuyển sang nền nông nghiệp hữu cơ , cũng có trường hợp bỏ hẳn nông nghiệp hoặc chuyển sang làm một loại nghề phụ
Trang 37Từ năm 1975, diện tích cây lương thực thực phẩm từ 675.000 ha tăng lên 810.000 ha vào năm 1998, sau đó đã giảm, năm 2001 còn 798.000 ha, chủ yếu trồng ngô ép xanh 204.000 ha, khoai tây 197.000ha, lúa mì 125000 ha, củ cải đường 109.000 ha, đại mạch 32.000 ha, ngô hạt 27.000 ha v.v Giá trị sản xuất một số ngành giảm dần, nhưng ngô ép xanh đã phát triển mạnh Khoai tây cũng được phát triển nhanh do ngành công nghiệp chế biến khoai tây ở Hà Lan rất mạnh, đã tạo ra giá trị cao của khoai tây Hà Lan cũng là một nước xuất khẩu khoai tây nhiều nhất thế giới, trong đó xuất khẩu khoai tây giống chiếm 60%-70% thị phần thế giới Hành tây với chất lượng tốt cũng được phát triển khá
Bí quyết thành công của nền nông nghiệp Hà Lan:
+ Biết phát huy lợi thế so sánh của đất nước, biết khai thác nguồn lực
về tài nguyên thế giới, xây dựng và kịp thời điều chỉnh cơ cấu sản xuất hướng tới tối ưu hoá, đảm bảo ngành nông nghiệp đạt hiệu quả cao
Nâng cao sức cạnh tranh quốc tế:
Hà Lan thông qua chính sách lớn "nhập lớn, xuất lớn" để phát huy lợi thế so sánh tự thân, tăng sức cạnh tranh quốc tế
Trên thị trường thế giới, Hà Lan có nhiều mặt hàng nông sản và hàng thực phẩm có sức cạnh tranh cao Chẳng hạn, ngoài mặt hàng hoa cắt tươi và
củ hoa nổi tiếng thế giới, còn xuất khẩu nhiều chồi giâm và hạt giống hoa, năm 2002 kim ngạch xuất khẩu chồi giâm và hạt hoa đã đạt 122 triệu USD, tăng 43% so với năm trước đó Xuất khẩu các mặt hàng khoai tây, cà chua, trứng gà, pho mát, bia, đứng hàng đầu thế giới
Những thành tựu nông nghiệp của Hà Lan được thế giới hâm mộ, có liên quan đến cơ cấu sản xuất nông nghiệp Hà Lan Nếu không tính đồ uống, thuốc lá, thuỷ sản thì hàng nông sản xuất khẩu quan trọng nhất của Hà Lan gồm 3 lĩnh vực: sản phẩm hoa- rau-cây cảnh; thịt; sữa và trứng
Ngược lại, những ngành sản xuất dựa vào quỹ đất lớn, Hà Lan tự coi là thế yếu, thì không phát triển mà dựa vào nhập khẩu như hạt cốc, hạt có dầu
Trang 38Trên thị trường thế giới, các mặt hàng nông sản của Hà Lan có sức cạnh tranh cao dựa vào những giải pháp chủ yếu sau đây:
- Dựa vào vốn và kỹ thuật cao, trong đó nổi bật nhất là hoa và cây cảnh
là những ngành sản xuất đòi hỏi nhiều vốn và kỹ thuật, đồng thời phải có một
hệ thống dịch vụ cao cấp mới có thể vận chuyển những mặt hàng này ra nước ngoài Một thí dụ khác là về khoai tây, vốn là một loại "thực phẩm bình dân" của thế giới, giá cả bình thường, nhưng do Hà Lan tạo được giống khoai tây
có kích cỡ đều đặn, vỏ nhẵn bóng được coi là "lương thực thứ hai" được thế giới ưa chuộng, từ đó có thị trường xuất khẩu ổn định, nhất là cung cấp cho nhu cầu chế biến thức ăn nhanh
- Đổi mới phương thức sản xuất, để tăng sức cạnh tranh Hà Lan dùng vốn và công nghệ cao để thay thế có hiệu quả nguồn quỹ đất hiếm hoi, sử dụng nhà kính để sản xuất cà chua, dưa, ớt quanh năm, tiết kiệm đất, tăng hiệu suất đất Phương thức sản xuất gà đẻ trứng, lợn thịt cũng được cải tiến để bảo vệ môi trường, đảm bảo yêu cầu sức khoẻ động vật và và chất lượng quốc
tế, có hiệu quả cao
- Tăng giá trị gia tăng nhờ vào chế biến sâu
Trải qua mấy trăm năm cải tiến các công nghệ truyền thống về chế biến pho mát, bơ, sữa tạo được uy tín quốc tế Công nghệ chế biến ca cao, ca phê
từ thời kỳ thực dân vẫn còn phát huy tác dụng trong công nghiệp chế biến hiện nay Nhiều loại nguyên liệu không sản xuất được hoặc thiếu thì dựa vào nhập khẩu, thông qua chế biến sâu, đã vươn ra chiếm lĩnh thị trường thế giới với giá trị gia tăng rất lớn
+ Sản xuất để xuất khẩu
Tổ hợp công - nông - thương nghiệp là một trụ cột lớn của tổng thể nền kinh tế Hà Lan, cộng với truyền thống buôn bán lâu đời đã làm cho độ phụ thuộc vào xuất khẩu của nông nghiệp Hà Lan rất cao
Ở các nước Châu Á, chế độ phong kiến kéo dài, kinh tế nông nghiệp sản phẩm sản xuất hàng hoá ra đời chậm hơn Sau chiến tranh thế giới thứ hai,
Trang 39nhiều nước ở lãnh thổ Châu Á đã tiến hành cải cách ruộng đất với nội dung, mức độ khác nhau nhằm chuyển giao ruộng đất cho những người nông dân trực tiếp sản xuất nông nghiệp
* Kinh nghiệm phát triển kinh tế hộ ở Nhật Bản:
Sau Chiến tranh thế giới II, kinh tế Nhật Bản bị tàn phá nặng nề, không chỉ sản xuất công nghiệp mà nông nghiệp cũng đạt ở mức rất thấp, nguyên liệu và lương thực trong nước thiếu thốn trầm trọng Do vậy, trong điều kiện đất chật người đông, để phát triển nông nghiệp Nhật Bản coi phát triển khoa học-kỹ thuật nông nghiệp là biện pháp hàng đầu Nhật Bản tập trung vào các công nghệ tiết kiệm đất như: tăng cường sử dụng phân hoa học; hoàn thiện công tác quản lý và kỹ thuật tưới tiêu nước cho ruộng lúa; lai tạo và đưa vào
sử dụng đại trà những giống kháng bệnh, sâu rầy và chịu rét; nhanh chóng đưa sản xuất nông nghiệp sang kỹ thuật thâm canh, tăng năng suất Đây là một thành công quan trọng về định hướng đầu tư khiến cho sản xuất nông nghiệp vào năm 1950 đã được phục hồi xấp xỉ mức trước chiến tranh, sản lượng tiếp tục tăng và tới năm 1953 đã vượt mức trước chiến tranh 30% sản lượng nâng cao là điều kiện thuận lợi để Nhật Bản thực hiện Chương trình HĐH sản xuất nông nghiệp
Để phát triển khoa học - kỹ thuật nông nghiệp, Nhật Bản chủ yếu dựa vào các viện nghiên cứu nông nghiệp của Nhà nước và chính quyền các địa phương Viện quốc gia về khoa học nông nghiệp được thành lập ở cấp Nhà nước là cơ quan có trách nhiệm tổng hợp gắn kết toàn bộ các viện nghiên cứu cấp ngành thành một khối Bên cạnh đó, các viện nghiên cứu nông nghiệp cũng tăng cường liên kết nghiên cứu vối các trường đại học, các xí nghiệp tư nhân và các hội khuyến nông; liên kết vối các tổ chức này và các tổ chức của nông dân để giúp nông dân tiếp cận công nghệ, trang thiết bị tiên tiến, giúp tăng năng suất, chất lượng, đảm bảo nông nghiệp tăng trưởng ổn định
Để duy trì, bảo vệ những vùng đất tốt dùng cho mục đích nông nghiệp, năm 1969 Nhà nước đã ban hành Luật Cải tạo và phát triển những vùng đất có
Trang 40khả năng mở rộng sản xuất nông nghiệp Đến năm 1970, Luật Đất đai nông nghiệp và Luật Hợp tác xã nông nghiệp được sửa đổi bổ sung đã nối rộng quyền hạn cho thuê, phát canh đất sản xuất nông nghiệp cũng như quyền quản
lý cho các tập đoàn và các hợp tác xã (HTX) nông nghiệp Năm 1975, Nhật Bản quyết định thực hiện chính sách phát triển nông nghiệp toàn diện, bao gồm: đảm bảo an toàn lương thực; xem xét lại chính sách giá cả; hoàn thiện
cơ cấu sản xuất, đẩy mạnh các công trình phúc lợi trong các làng xã Đồng thời chương trình "Đẩy mạnh sử dụng đất nông nghiệp" được triển khai Chương trình này được bổ sung vào năm 1980, và nhờ vậy nó giữ vai trò quan trọng trong việc hoàn thiện cơ cấu sản xuất nông nghiệp
Từng hộ sản xuất riêng lẻ, với quy mô quá nhỏ thì không thể có đủ điều kiện kinh tế và kỹ thuật để HĐH quá trình sản xuất nông nghiệp hàng hóa lớn Năm 1995 số lượng nông trại giảm 791 nghìn cái (giảm 18,7%) so vối năm
1985 Quy mô ruộng đất bình quân của một nông trại có sự thay đổi theo hướng tích tụ ruộng đất vào các trang trại lớn để tăng hiệu quả sản xuất Xu hướng này thể hiện rõ nhất trong giai đoạn 1990-1995, qui mô đất lúa bình quân/hộ tăng từ 7.180m2 lên 8.120m2
Bước ngoặt của chính sách nông nghiệp của Nhật Bản thực sự bắt đầu khi Luật Nông nghiệp cơ bản được ban hành vào năm 1961, với hai phương hướng chính sách chủ yếu: Phát triển sản xuất có chọn lọc, cụ thể là đẩy mạnh sản xuất những sản phẩm có nhu cầu tiêu thụ ngày càng tăng và giảm sản xuất những nông phẩm có sức tiêu thụ kém; Hoàn thiện cơ cấu nông nghiệp, kể cả việc phát triển những nông hộ và HTX có năng lực về quản lý kinh doanh và canh tác
Trong những năm 1960 và 1970, sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế Nhật đã đẩy thu nhập của nhân dân tăng đáng kể Cũng trong thời gian này, lao động trong nông nghiệp giảm xuống khoảng 50%, song năng suất lao động lại tăng bình quân hàng năm 5-8% nhờ tăng cường cơ giới hoa và cải