Với mục đích nghiên cứu là phân tích, đánh giá thực trạng về hiệu quả sử dụng vốn và đề xuất những giải pháp thiết thực nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của Quỹ quốc gia về việc làm tr
Trang 1i
Phần mở đầu
Giải quyết việc làm là một trong các chỉ tiêu kinh tế – xã hội quan trọng đã có được thành tựu rất ấn tượng sau hơn 20 năm đổi mới của Việt Nam Từ năm 2000 trở lại đây, bình quân mỗi năm nước ta giải quyết việc làm cho khoảng 1,6 triệu lao động trong đó có khoảng 7% là việc làm ngoài nước Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau như: dân số vào độ tuổi lao động hàng năm tăng thêm khoảng 1,2 triệu người, tỷ lệ thất nghiệp thành thị cao, lao động mất việc làm do chuyển đổi mục đích sử dụng đất, sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước, do điều chỉnh quy hoạch một số ngành và vùng sản xuất, , bình quân khoảng trên 20% lực lượng lao động nông nghiệp nông thôn thiếu việc làm cho nên vấn đề giải quyết việc làm vẫn là một bức xúc lớn với toàn xã hội
Tạo việc làm cho người lao động là thực hiện đúng đắn đường lối của
Đảng và Nhà nước vì sự nghiệp dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Một trong những giải pháp được đánh giá là hết sức quan trọng trong thời gian qua là việc thành lập Quỹ quốc gia về việc làm theo Nghị quyết 120/NQ-HĐBT ngày 11/4/1992 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) Qua hơn 15 năm hoạt động (từ 1992 đến nay) ngân sách Nhà nước đã dành cho Quỹ khoảng 2.500 tỷ đồng, thực hiện cho vay 297.975 dự án, hỗ trợ tạo việc làm cho 5.685.278 người, góp phần xoá đói giảm nghèo, tăng thu nhập cho người lao động
Với mục đích nghiên cứu là phân tích, đánh giá thực trạng về hiệu quả
sử dụng vốn và đề xuất những giải pháp thiết thực nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của Quỹ quốc gia về việc làm trong giai đoạn 2008-2015 ở nước ta,
đối tượng nghiên cứu của luận văn là cơ chế quản lý, sử dụng nguồn vốn Quỹ quốc gia về việc làm hàng năm do Bộ Lao động Thương binh và Xã hội quản
lý, điều hành
Trang 2Chương 1 Một số vấn đề cơ bản về hiệu quả sử dụng
nguồn vốn quỹ quốc gia về việc làm
1.1 Chủ trương, đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước trong lĩnh vực đầu tư hỗ trợ việc làm cho người lao động
Giải quyết việc làm là một trong các chỉ tiêu kinh tế – xã hội quan trọng luôn được Chính phủ, người dân, các nhà tài trợ quốc tế, quan tâm một cách đặc biệt Chỉ tiêu này phần nào chỉ rõ sức khoẻ của nền kinh tế hay giải
đáp cho câu hỏi các chính sách vĩ mô về kinh tế của nhà nước có thực sự thành công hay không
Nhận thức rõ vấn đề nay, trong tất cả các văn kiện, chính sách quan trọng nhất của đất nước vấn đề giải quyết việc làm cho người lao động luôn
được thể hiện là một trong những chủ trương hàng đầu Cụ thể:
Một là, đổi mới tư duy, nhận thức đúng đắn về giải quyết việc làm Hai là, coi giải quyết việc làm là động lực phát triển xã hội là công cụ
quản lý hoạt động kinh tế đất nước
Ba là, để giải quyết tốt mục tiêu tạo việc làm, Đảng và Nhà nước ta đã
chỉ đạo thực hiện theo hướng: Hoàn thiện hệ thống pháp luật, tạo môi trường để phát triển kinh tế lành mạnh Tập trung phát triển khu công nghiệp tập trung, các vùng kinh tế trọng điểm Chú trọng phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ với công nghệ sử dụng nhiều lao động Phát triển toàn diện kinh tế-xã hội nông thôn, nông nghiệp để thu hút nhiều lao động Thực hiện nghiêm ngặt chế độ xây dựng và kiểm soát chỉ tiêu sử dụng lao động, chỉ tiêu tạo việc làm mới đối với các đơn vị sử dụng lao động Kết hợp hài hoà giữa tăng trưởng kinh tế với giải quyết việc làm Khuyến khích tăng sản lượng tức là mở rộng nông công thương nghiệp, thu hút thêm nhân lực làm tăng thêm sản phẩm và dịch vụ cho xã hội
1.2 Nội dung sử dụng vốn Quỹ quốc gia về việc làm
Nội dung sử dụng vốn từ Quỹ quốc gia về việc làm được quy định chi tiết tại Quyết định số 71/2005/QĐ-TTg ngày 05/4/2005 về cơ chế quản lý, điều hành vốn cho vay, Nghị định số 78/2002/NĐ-CP ngày 04/10/2002 về tín dụng
Trang 3iii
đối với người nghèo và các đối tượng chính sách khác, cùng các văn bản liên quan khác, quy định các vấn đề cơ bản sau: Đối tượng được vay vốn; điều kiện
được vay vốn; vốn vay được sử dụng vào các việc sau; mức vốn, thời hạn và lãi suất vay; xây dựng dự án, thẩm định dự án và quyết định cho vay; tổ chức chuyển vốn và giải ngân; thu hồi và sử dụng vốn thu hồi; việc xử lý nợ rủi ro
1.3 Hiệu quả sử dụng vốn của quỹ quốc gia về việc làm
1.3.1 Sự cần thiết Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn Quỹ quốc gia Về việc làm
Trong bối cảnh hiện nay nền kinh tế của chúng ta đang trong giai đoạn chuyển đổi, xuất phát từ một nền kinh tế lạc hậu, chủ yếu là sản xuất nông nghiệp, trình độ dân trí thấp, dẫn tới năng lực và trình độ chuyên môn thấp Nhận thức của người dân về việc sử dụng nguồn vốn hiệu quả chưa cao, chủ yếu là tích trữ chứ chưa chú trọng tới vấn đề đưa vào lưu thông, quay vòng vốn
để có mức sinh lời cao và đóng góp nhiều hơn vào sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội của đất nước Theo như công bố của Tổng Cục Thống kê, nguồn vốn nhàn dỗi trong dân là rất lớn và chưa được sử dụng, phát huy đúng mức để giải quyết những vấn đề chung của đất nước và làm lợi cho chính người dân chủ sở hữu nguồn vốn Từ trước đến nay, Nhà nước đã có nhiều chính sách thu hút các nguồn vốn đầu tư trong dân, nhưng vẫn chưa thực sự khuyến khích dân bỏ vốn tham gia hoạt động với Nhà nước Quỹ quốc gia về việc làm không chỉ là một giải pháp cơ bản mang tính đột phá trong lĩnh vực giải quyết việc làm, mà còn là một chính sách xã hội lớn đã có tác dụng thiết thực khuyến khích phát huy tiềm năng vốn trong dân
Việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của Quỹ này là hết sức quan trọng và cần thiết một mặt nó tạo nhiều cơ hội giải quyết việc làm cho đối tượng xã hội, mặt khác nó tạo ra lượng hàng hoá tham gia thị trường hàng hoá đa dạng của nền kinh tế, đặc biệt nó được coi là chính sách xã hội căn bản của chế độ XHCN gắn phát triển kinh tế với công bằng xã hội qua một công cụ kinh tế - xã hội
1.3.2 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn của Quỹ quốc gia
về việc làm
a) Chỉ tiêu định tính (Nhóm chỉ tiêu xã hội)
- Các chỉ tiêu phản ánh nhận thức của nhân dân trong lĩnh vực giải quyết việc làm;
Trang 4- Các chỉ tiêu phản ánh kết quả hoạt động của các tổ chức đoàn thể quần chúng trong lĩnh vực giải quyết việc làm;
- Các chỉ tiêu phản ánh tác động của giải quyết việc làm tới chuyển dịch cơ cấu lao động ở nông thôn;
- Các chỉ tiêu phản ánh tác động của giải quyết việc làm tới giảm tỷ lệ thất nghiệp khu vực thành thị, tăng tỷ lệ thời gian sử dụng lao động ở nông thôn
b) Chỉ tiêu định lượng (Nhóm chỉ tiêu kinh tế)
- Doanh số cho vay vốn và dư nợ cho vay;
- Lao động được thu hút, tạo việc làm;
- Thu hồi vốn;
- Phản ánh thu nhập, tăng doanh số, lợi nhuận của các dự án
1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn của Quỹ
1.4.1 Nhân tố chủ quan
- Cơ chế chính sách liên quan đến việc vay vốn của quỹ quốc gia về việc làm;
- Số lượng và trình độ cán bộ thực thi công tác quản lý và điều hành quỹ quốc gia về việc làm ở các cấp;
- Nhận thức và sự tuân thủ nghiêm túc các quy định về sử dụng vốn của quỹ quốc gia về việc làm;
- Quy mô vốn của Quỹ
1.4.2 Nhân tố khách quan
- Các cơ chế chính sách liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh của người vay vốn như chính sách về đất đai, thuế khoá, ;
- Trình độ sản xuất kinh doanh của người vay vốn;
- Khả năng áp dụng khoa học, kỹ thuật, công nghệ mới vào quá trình sản xuất;
- Các biến động của môi trường xung quanh như sự ổn định về chính trị, kinh tế, tài chính và thị trường trong nước cũng như khu vực và thế giới;
- Tình hình thiên tai, dịch bệnh
Trang 5v
Chương 2 Thực trạng Hiệu quả sử dụng vốn Quỹ quốc gia về việc làm 2.1 Khái quát về quỹ quốc gia về việc làm
2.1.1 Giải pháp cho vay tạo việc làm và việc thành lập Quỹ quốc gia về việc làm
Thực hiện Nghị quyết 120/HĐBT, trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn hoạt
động tín dụng nâng đỡ ở một số địa phương, đoàn thể quần chúng và tham khảo kinh nghiệm nước ngoài, liên Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Tài chính, Kế hoạch (nay là Kế hoạch và Đầu tư) đã nghiên cứu xây dựng đề án lập Quỹ quốc gia về việc làm cho nhân dân vay với lãi suất thấp, phù hợp với trình độ sản xuất của nhân dân một bước tháo gỡ khó khăn về vốn, tăng cầu về việc làm trong nhân dân, nâng cao chất lượng lao động trong các tầng lớp nhân dân cũ, khuyến khích phát triển kinh tế hộ gia đình, kinh tế hợp tác và tư bản tư nhân, và được Chính phủ phê duyệt cho thực hiện, các tổ chức đoàn thể, quần chúng được chọn là những kênh cho vay trực tiếp
2.1.2 Nguồn hình thành Quỹ quốc gia về việc làm:
Quỹ được hình thành từ hai nguồn:
- Trích từ ngân sách Quốc gia
- Viện trợ của các nước trên thế giới và các tổ chức quốc tế cho Việt Nam về lĩnh vực lao động việc làm
2.1.3 Mục tiêu của chính sách cho vay hỗ trợ việc làm của Quỹ
- Mục tiêu chung của chương trình cho vay giải quyết việc làm từ Quỹ quốc gia về việc làm là nhằm tạo mở việc làm mới và bảo đảm việc làm cho người lao động có khả năng lao động, có nhu cầu làm việc
- Mục tiêu cụ thể trong giai đoạn 2006-2010: Giải quyết việc làm cho khoảng 25-30 % trong tổng số lao động được giải quyết việc làm, trong đó cần tạo mở khoảng 1,2 triệu chỗ làm việc mới Tạo việc làm hàng năm cho 35-45 vạn lao động, góp phần giảm tỷ lệ thất nghiệp mỗi năm từ 0,2-0,5%; góp phần giảm tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị xuống dưới 5% vào năm 2010
Trang 62.1.4 Bộ máy quản lý, cơ chế điều hành, vận hành Quỹ:
Bộ máy quản lý điều hành Quỹ được thống nhất từ trung ương đến địa
phương, song trùng nhiều hệ thống, bao gồm:
- Cơ quan quản lý nhà nước ở Trung ương có Bộ LĐTB-XH (giữ vai trò chủ trì) giúp việc là văn phòng Chương trình Quốc gia về Việc làm, Bộ Kế hoạch và Đầu tư (Vụ lao động - văn xã), Bộ Tài chính (Vụ tài chính - hành chính sự nghiệp), đặc biệt có sự tham gia của Ngân hàng Chính sách xã hội là cơ quan quản lý trực tiếp nguồn vốn
- Cơ quan Trung ương thực hiện chương trình được uỷ quyền quản lý vốn là các tổ chức đoàn thể, hội quần chúng và Bộ quốc phòng, chỉ đạo điều hành theo ngành dọc từ Trung ương hội đến huyện hội
- Cơ quan quản lý điều hành vốn ở Địa phương từ cấp tỉnh đến huyện thành lập Ban chỉ đạo giải quyết việc làm Các thành viên tham gia là các ngành tương ứng với hệ thống quản lý ở cấp trung ương
Cơ chế vận hành Quỹ theo các nguyên tắc sau:
Một là, cho vay thông qua các dự án mở rộng sản xuất kinh doanh, tạo chỗ làm việc mới thu hút thêm lao động Chủ dự án có nhu cầu vay vốn tổ chức sản xuất phải xây dựng dự án vay vốn tạo việc làm Trong dự án chỉ tiêu quan trọng nhất là số lao động được thu hút, tạo việc làm qua dự án
Hai là, đối tượng vay vốn từ Quỹ được hưởng trực tiếp lãi suất ưu đãi thấp hơn lãi suất ngân hàng thương mại Thời hạn cho vay được căn cứ vào chu kỳ sản xuất kinh doanh, mức vay tuỳ thuộc vào dự án song không vượt quá mức tối đa quy định
Ba là, Quỹ được bảo toàn vốn và hàng năm bổ sung thêm từ ngân sách Các trường hợp vay vốn bị rủi ro do các nguyên nhân bất khả kháng được Nhà nước xem xét miễn giảm lãi, khoanh nợ, xoá nợ Việc xóa nợ được bù đắp từ quỹ dự phòng rủi ro
Bốn là, việc xem xét cho vay được các cơ quan chức năng trong bộ máy hành chính thực hiện, coi đó là hoạt động gắn với quản lý nhà nước Cơ quan chính quyền được Nhà nước giao quản lý điều hành vốn một mặt quản lý và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn, mặt khác coi đó là phương tiện hữu hiệu trong công tác quản lý xã hội
Trang 7vii
Quỹ được điều hành từ Trung ương đến cơ sở theo mô hình:
Hàng năm liên Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Tài chính và
Bộ Kế hoạch và đầu tư lập kế hoạch phân bổ dự toán ngân sách cấp mới và kế hoạch sử dụng vốn thu hồi cho địa phương và từng cơ quan tổ chức đoàn thể, hội quần chúng để bộ Kế hoạch và đầu tư tổng hợp trình Chính phủ xem xét, quyết định Liên bộ có nhiệm vụ nghiên cứu xây dựng cơ chế quản lý, sử dụng, kiểm tra, giám sát và đánh giá kết qủa sử dụng quỹ, mà không tham gia vào quá trình thẩm định, xét duyệt dự án
Quy trình, thủ tục vay vốn được tiến hành theo các bước:
Ban quản lý điều hành quỹ Quốc gia
hỗ trợ việc làm Trung ương
Ban chỉ đạo giải quyết việc
làm cấp tỉnh, thành phố
trực thuộc
Ban chỉ đạo giải quyết việc làm thuộc TƯ hội đoàn thể
quần chúng
Ban chỉ đạo giải quyết việc
làm cấp quận, huyện
Ban chỉ đạo giải quyết việc làm đoàn thể cấp tỉnh, thành phố trực thuộc
Ngân hàng Chính sách xã hội (trước đây là KBNN) căn cứ quyết định
đã được phê duyệt, hướng dẫn người vay làm thủ tục ký hợp đồng tín
dụng theo quy định
UBND tỉnh/ thành phố quyết định
phê duyệt dự án
Trung ương hội, đoàn thể quyết
định phê duyệt dự án
Sở LĐTBXH và Ngân hàng chính
sách xã hội tỉnh/thành phố (trước
đây là KBNN tỉnh) kiểm tra, thẩm
định và tổng hợp trình UBND tỉnh
Tổ chức hội, đoàn thể và Sở LĐTBXH, Ngân hàng chính sách xã hội tỉnh (trước đây là KBNN tỉnh) kiểm tra thẩm định
Phòng LĐTBXH và Ngân hàng
chính sách xã hội huyện (KBNN
huyện) thẩm định trình UBND
uyện có ý kiến đề nghị
Tổ chức hội đoàn thể cấp huyện kiểm tra, thẩm định
Dự án, người
kinh doanh
Dự án vùng của UBND huyện
Dự án của
tổ chức hội,
đoàn thể
Trang 8Bước một là: người kinh doanh, hội đoàn thể và UBND cấp huyện, xã lập dự án vay vốn giải quyết việc làm theo mẫu quy định
Bước hai là, dự án được gửi về phòng LĐTBXH và Ngân hàng chính sách xã hội (trước đây là Kho bạc Nhà nước) quận, huyện để tổ chức thẩm
định và ghi vào phiếu thẩm định, sau đó tổng hợp trình UBND quận huyện xem xét và ghi ý kiến đề nghị cho vay
Bước ba là, Sở LĐTBXH phối hợp với Ngân hàng chính sách xã hội (trước
đây là Kho bạc nhà nước) tỉnh, thành phố xem xét từng hồ sơ dự án và thẩm định lại dự án nếu cần thiết, sau đó tổng hợp trình UBND tỉnh, thành phố quyết định
Bước bốn là, căn cứ vào quyết định cho vay, Ngân hàng chính sách xã hội (trước đây là Kho bạc Nhà nước) nơi phát tiền vay có trách nhiệm hướng dẫn người vay làm thủ tục để ký hợp đồng tín dụng theo quy định tại thể lệ cho vay của Bộ Tài chính
Bên cạnh đó, việc vay vốn từ Quỹ quốc gia về việc làm cũng có một số quy định cụ thể đối với khối lượng các khoản vay và thời hạn vay, đó là:
Định mức vay trên một chỗ làm việc mới được tạo ra là 20 triệu đồng/ 1 chỗ làm việc mới
Thời hạn vay dài nhất là 60 tháng
Món vay tối đa là 500 triệu đồng
Các ưu đãi đối với vốn vay: Để tạo điều kiện đảm bảo cho các chủ dự
án thực hiện được cam kết về tạo việc làm cho người lao động các dự án này
được vay vốn với lãi suất và một số điều kiện ưu đãi như:
-Về lãi suất: luôn thấp hơn lãi suất cho vay của các ngân hàng thương mại -Về thế chấp: đối tượng vay dưới định mức cho một chỗ làm việc thì không phải thế chấp mà chỉ cần tín chấp
- Về giải ngân và thu hồi vốn: ngay sau khi dự án được duyệt sẽ được giải ngân trọn gói ngay một lần (không chia theo tiến độ như các loại dự án khác) và thu hồi cả vốn gốc và lãi khi kết thúc thời hạn vay
2.2 Thực trạng hiệu quả sử dụng vốn của Quỹ quốc gia về việc làm
Hoạt động của Quỹ quốc gia về việc làm được xem xét trên phương diện chính là cho vay tạo các điều kiện tạo mở việc làm Trên thực tế, Quỹ cho
Trang 9ix
vay đã góp phần đáng kể vào sự nghiệp giải quyết việc làm, hàng năm riêng nguồn Quỹ này đã tạo việc làm cho từ 25-30 vạn lao động Sau hơn 15 năm thực hiện, Quỹ Quốc gia giải quyết việc làm đã thực hiện cho vay gần 300 nghìn dự án với số tiền trên 13.500 tỷ đồng, thu hút, bảo đảm việc làm cho gần 5.700 nghìn lao động, trong đó có 45% lao động có việc làm mới, 55% vượt khỏi tình trạng thiếu việc làm (xem Bảng 2.1.)
Bảng 2.1 Kết quả tạo việc làm của Quỹ quốc gia về việc làm
Năm Số dự án
(dự án)
Tổng số vốn vay (triệu
đồng)
Lao động
được thu hút (người)
Lao động tăng
so với năm trước (người)
Nguồn: Chương trình mục tiêu quốc gia và việc làm
(Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội)
2.1.1 Hiệu quả kinh tế
- Hiệu quả tạo việc làm và thu hút lao động:
+ Về hiệu quả hoạt động cho vay giải quyết việc làm: Hiệu quả của việc
sử dụng vốn vay được xem xét trong mối tương quan giữa lượng vốn vay và số việc làm được tạo ra từ lượng vốn vay đó theo loại dự án (dự án đầu tư cho ngành, lĩnh vực, dự án theo các thời hạn cho vay khác nhau )
Xét trên bình diện chung sau hơn 15 năm hoạt động, với tổng số vốn vay là 13.500 tỷ đồng đầu tư vào 297.975 dự án góp phần tạo việc làm cho 5.685 nghìn người, bình quân cho vay 2,3 triệu đồng góp phần tạo ra 1 chỗ làm việc cho người lao động Tuy chưa tính toán được hết các nguồn lực khác tham gia vào các hoạt động này, nhưng nếu xét sự tác động của Quỹ với tư cách hỗ trợ tạo mở ra việc làm thì hiệu quả của Quỹ là rất lớn
Trang 10Bảng 2.2 Doanh số cho vay theo loại hình dự án
Chỉ tiêu
Vốn vay (%)
T trọng
L động (%)
Mức vay
BQ 1 LĐ
Số dự án (cái)
Số vốn (Tr.đ)
Thu hút LĐ (ng)
Nguồn: Chương trình mục tiêu quốc gia Giảm nghèo và việc làm (Bộ LĐ- TB và XH) tổng hợp báo cáo năm từ 1992-2008
+ Về hiệu quả kinh tế của việc sử dụng vốn vay:
Theo số liệu báo cáo của các dự án, trong hơn 15 năm qua, thông qua nguồn vốn Quỹ quốc gia về việc làm đã góp phần tạo ra 1 khối lượng sản phẩm đáng kể đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu Hàng năm, qua sử dụng nguồn vốn vay, các dự án đã tạo ra hàng nghìn tỷ đồng sản phẩm hàng hoá cho xã hội đóng góp nguồn thu cho ngân sách hàng trăm tỷ đồng thông qua thuế, lãi suất vốn vay và đóng góp tài chính cho địa phương
Thu nhập của nhân dân trong các vùng dự án cũng được nâng lên một bước, bình quân thu nhập tăng từ 100.000đ đến 200.000đ/người/tháng, cá biệt
có số ít người có mức thu nhập tăng 300.000đ/người/tháng, nhiều hộ tạo được
điều kiện tích luỹ mua sắm thiết bị máy móc cho sản xuất và tiện nghi sinh hoạt gia đình, nhiều công trình cơ sở đã được xây dựng góp phần tạo điều kiện thúc đẩy kinh tế phát triển nhiều hộ gia đình ở nông thôn làm kinh tế giỏi cũng đã xuất hiện