MỤC LỤC DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ LỜI MỞ ĐẦU 1 1.1. Công cụ phái sinh 11 1.1.1. Lịch sử hình thành công cụ phái sinh 11 1.1.2. Khái niệm 13 1.1.3. Phân loại 15 1.1.3.1. Công cụ kỳ hạn 16 1.1.3.2. Công cụ tương lai 18 1.1.3.3. Công cụ hoán đổi 21 1.1.3.4. Công cụ quyền chọn 23 1.1.4. Ưu điểm và nhược điểm của các công cụ phái sinh trong nền kinh tế 26 1.1.4.1. Ưu điểm 26 1.1.4.2. Nhược điểm 30 1.2. Thị trường các công cụ phái sinh ngoại hối 32 1.2.1. Khái niệm 32 1.2.1.1. Thị trường công cụ phái sinh 32 1.2.1.2. Thị trường công cụ phái sinh ngoại hối 34 1.2.2. Phân loại thị trường công cụ phái sinh ngoại hối 34 1.2.2.1. Theo tính chất tập trung 34 1.2.2.2. Theo các loại công cụ phái sinh 35 1.2.3. Các loại giao dịch trên thị trường công cụ phái sinh ngoại hối 35 1.2.3.1. Giao dịch kỳ hạn ngoại hối 35 1.2.3.2. Giao dịch tương lai ngoại hối 36 1.2.3.3 Giao dịch hoán đổi ngoại hối 36 1.2.3.4. Giao dịch quyền chọn ngoại hối 37 1.2.4. Giá cả công cụ phái sinh ngoại hối 39 1.2.4.1. Định giá hợp đồng kỳ hạn ngoại hối 39 1.2.4.2. Định giá hợp đồng tương lai ngoại hối 40 1.2.4.3. Định giá hợp đồng hoán đổi ngoại hối 40 1.2.4.4. Định giá hợp đồng quyền chọn ngoại hối 40 1.2.5. Các chủ thể tham gia thị trường công cụ phái sinh ngoại hối 42 1.2.5.1. Theo mục đích sử dụng công cụ phái sinh 42 1.2.5.2. Theo tính chất hoạt động của chủ thể 43 1.2.6. Cách thức giao dịch trên thị trường công cụ phái sinh ngoại hối 43 1.3. Các điều kiện phát triển thị trường công cụ phái sinh ngoại hối 44 1.3.1. Nhu cầu sử dụng công cụ phái sinh ngoại hối 44 1.3.2. Tài sản cơ sở 45 1.3.3. Những cơ sở pháp lý cho các giao dịch phái sinh ngoại hối 46 1.3.4. Điều kiện vật chất, kỹ thuật và nguồn nhân lực 48 1.3.5. Các công cụ phái sinh ngoại hối 49 1.4. Sự cần thiết phải phát triển thị trường công cụ phái sinh trong điều kiện hội nhập kinh tế và tài chính quốc tế nói chung và ngoại hối nói riêng tại Việt Nam 50 1.4.1. Trào lưu hội nhập kinh tế và tài chính quốc tế ảnh hưởng đến sự phát triển thị trường công cụ phái sinh ngoại hối tại Việt Nam 50 1.4.2. Sự cần thiết phải phát triển thị trường công cụ phái sinh ngoại hối trong điều kiện hội nhập 52 1.4.2.1. Là công cụ hỗ trợ các doanh nghiệp xuất nhập khẩu thỏa mãn nhu cầu về ngoại tệ và phòng vệ rủi ro tỷ giá 52 1.4.2.2. Là công cụ hữu hiệu giúp các ngân hàng thương mại cân đối trạng thái ngoại hối và hạn chế rủi ro khi lãi suất và tỷ giá biến động 53 1.4.2.3. Là công cụ giúp hoàn thiện chức năng của thị trường ngoại hối 54 Tổng kết chương 1 55 CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG CÁC CÔNG CỤ PHÁI SINH NGOẠI HỐI TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM 56 2.1. Thực trạng phát triển thị trường các công cụ phái sinh ngoại hối trên thế giới 56 2.1.1. Thực trạng về thị trường công cụ phái sinh 56 2.1.1.1. Thị trường tập trung 57 2.1.1.2. Thị trường phi tập trung 58 2.1.2. Thực trạng về thị trường công cụ phái sinh ngoại hối 60 2.1.2.1. Hệ thống văn bản pháp lý điều chỉnh giao dịch phái sinh ngoại hối 61 2.1.2.2. Quy mô thị trường và doanh số giao dịch 63 2.1.2.3. Chủ thể tham gia thị trường ngoại hối 66 2.1.3. Đánh giá về thị trường công cụ phái sinh ngoại hối trên thế giới 72 2.1.3.1. Những kết quả đạt được 72 2.1.3.2. Những hạn chế 73 2.2. Thị trường công cụ phái sinh ngoại hối của một số nước 74 2.2.1. Nhật Bản 74 2.2.1.1. Thị trường công cụ phái sinh tập trung 74 2.2.1.2. Thị trường công cụ phái sinh phi tập trung 76 2.2.2. Ấn Độ 76 2.2.2.1. Thị trường công cụ phái sinh tập trung 77 2.2.2.2. Thị trường công cụ phái sinh phi tập trung 79 2.2.3. Trung Quốc 81 2.2.3.1. Thị trường công cụ phái sinh tập trung 81 2.2.3.2. Thị trường công cụ phái sinh phi tập trung 82 2.2.4. Bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam 83 2.3. Thực trạng phát triển thị trường các công cụ phái sinh ngoại hối tại Việt Nam 85 2.3.1. Quá trình hình thành và phát triển thị trường công cụ phái sinh ngoại hối 85 2.3.1.1. Thị trường công cụ phái sinh kỳ hạn 86 2.3.1.2. Thị trường công cụ phái sinh hoán đổi 91 2.3.1.3. Thị trường công cụ phái sinh quyền chọn 94 2.3.2. Thực trạng thị trường công cụ phái sinh ngoại hối tại Việt Nam 97 2.3.2.1. Tỷ trọng và tốc độ tăng của thị trường công cụ phái sinh ngoại hối 97 2.3.2.2. Các công cụ phái sinh ngoại hối đang được các NHTM cung cấp 100 2.3.2.3. Cơ cấu doanh số giao dịch phái sinh ngoại hối 101 2.3.3. Đánh giá về thị trường công cụ phái sinh ngoại hối tại Việt Nam 106 2.3.3.1. Những kết quả đạt được 106 2.3.3.2. Những hạn chế và nguyên nhân 107 Tổng kết chương 2 110 CHƯƠNG 3: CÁC GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG CÁC CÔNG CỤ PHÁI SINH NGOẠI HỐI TẠI VIỆT NAM 111 3.1. Dự báo quy mô và xu hướng phát triển thị trường công cụ phái sinh ngoại hối 111 3.1.1. Dự báo quy mô phát triển thị trường công cụ phái sinh ngoại hối trên thế giới và Việt Nam 111 3.1.1.1. Dự báo quy mô thị trường công cụ phái sinh ngoại hối trên thế giới 111 3.1.1.2. Dự báo quy mô thị trường công cụ phái sinh ngoại hối tại Việt Nam 113 3.1.2. Các xu hướng chính trong phát triển thị trường công cụ phái sinh ngoại hối trên thế giới 113 3.1.2.1 Thị trường công cụ phái sinh ngoại hối phi tập trung vẫn sẽ là trung tâm của thị trường phái sinh ngoại hối toàn cầu 113 3.1.2.2. Xu hướng hợp nhất các thị trường công cụ phái sinh 114 3.1.2.3. Xu hướng tiêu chuẩn hóa sản phẩm trên thị trường công cụ phái sinh 116 3.2. Quan điểm phát triển thị trường công cụ phái sinh ngoại hối tại Việt Nam 116 3.3. Phân tích các điều kiện phát triển thị trường công cụ phái sinh ngoại hối tại Việt Nam 118 3.3.1. Nhu cầu sử dụng hợp đồng phái sinh 118 3.3.2. Tài sản cơ sở 121 3.3.3. Cơ sở pháp lý cho hoạt động phái sinh 122 3.3.4. Điều kiện vật chất, kỹ thuật và nguồn nhân lực 124 3.3.5. Các công cụ phái sinh 125 3.3.6. Đánh giá các điều kiện phát triển thị trường công cụ phái sinh ngoại hối tại Việt Nam 126 3.4. Các giải pháp nhằm phát triển thị trường các công cụ phái sinh ngoại hối tại Việt Nam 128 3.4.1. Đối với các Ngân hàng thương mại 129 3.4.1.1. Các Ngân hàng thương mại cần chú trọng việc quảng bá và giới thiệu các công cụ phái sinh đến các doanh nghiệp 129 3.4.1.3 Ngân hàng thương mại cần chú trọng phát triển nguồn nhân lực 134 3.4.1.4 Hoàn thiện cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin 135 3.4.1.5 Các Ngân hàng thương mại cần tăng cường quản trị rủi ro trong kinh doanh ngoại hối 136 3.4.1.6 Đẩy mạnh các dịch vụ ngân hàng liên quan đến ngoại tệ 137 3.4.2. Đối với các doanh nghiệp 138 3.4.2.1. Các doanh nghiệp sử dụng cần chủ động và tích cực tìm hiểu về các công cụ phái sinh 138 3.4.2.2. Cần thay đổi quan niệm về “lỗ” trên thị trường công cụ phái sinh 138 3.5. Một số kiến nghị nhằm phát triển thị trường các công cụ phái sinh ngoại hối tại Việt Nam 139 3.5.1. Đối với Ngân hàng Nhà nước 138 3.5.1.1. Hoàn chỉnh các văn bản pháp lý điều chỉnh các giao dịch phái sinh 138 3.5.1.2. Ngân hàng Nhà nước nên đẩy nhanh việc nới rộng biên độ giao động và tiến đến áp dụng chế độ tỷ giá, lãi suất linh hoạt và tự do 143 3.5.1.3. Xây dựng hành lang quản lý rủi ro về trạng thái ngoại hối mở 145 3.5.1.4. Nghiên cứu áp dụng hợp đồng khung ISDA và hoàn thiện hệ thống chuẩn mực kế toán về các nghiệp vụ phái sinh 145 3.5.2. Về phía Hiệp hội ngân hàng và doanh nghiệp 146 3.5.2.1. Làm cầu nối tổ chức các hội thảo và đào tạo chuyên đề 146 3.5.2.2 Hỗ trợ và phối hợp với các NHTM nâng cao nhận thức của doanh nghiệp, nhà đầu tư về sử dụng công cụ phái sinh 147 3.5.2.3 Hỗ trợ cung cấp thông tin và số liệu thống kê cho các doanh nghiệp, các nhà đầu tư và các nhà nghiên cứu độc lập 147 Tổng kết chương 3 148 KẾT LUẬN 149 DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH LIÊN QUAN ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ 151 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 152 PHỤ LỤC DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT CÁC TỪ VIẾT TẮT BẰNG TIẾNG VIỆT TT Từ viết tắt Tiếng Việt 1 CCPS Công cụ phái sinh 2 CKPS Chứng khoán phái sinh 3 DN Doanh nghiệp 4 NH Ngân hàng 5 NHNN Ngân hàng Nhà nước 6 NHTM Ngân hàng thương mại 7 NHTMCP Ngân hàng thương mại cổ phần 8 NK Nhập khẩu 9 QLNH Quản lý ngoại hối 10 SGD Sàn giao dịch 11 TCTD Tổ chức tín dụng 12 TMCP Thương mại cổ phần 13 UBCK Ủy ban Chứng khoán 14 XK Xuất khẩu 15 XNK Xuất nhập khẩu CÁC TỪ VIẾT TẮT BẰNG TIẾNG ANH TT Từ viết tắt Tiếng Anh Nghĩa tiếng Việt 1 ACB Asia Commercial Bank Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á Châu 2 ADcategory I Authorised dealers cartegory I Thành viên kinh doanh ủy quyền cấp I 3 Argribank Vietnam Bank for Agriculture and Rural Development Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam 4 BIDV Bank for Investment and Development of Vietnam Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam 5 BIS Bank for International Settelment Ngân hàng thanh toán quốc tế 6 CBOE The Chicago Board Option Exchange Sở giao dịch quyền chọn Chicago 7 CBOT The Chicago Board of Trade Sở giao dịch thương mại Chicago 8 CDS Credit default swap Hoán đổi rủi ro tín dụng 9 CFA The Chartered Financial Analyst Chuyên gia phân tích đầu tư tài chính 10 CME Chicago Merchantile Exchange Sở giao dịch hàng hóa Chicago 11 EMEs Emerging market economies Các nền kinh tế của thị trường mới nổi 12 EUR Euro Đồng Euro 13 Eximbank Vietnam Export Import Commercial Joint – Stock Bank Ngân hàng Thương mại Cổ phần Xuất nhập khẩu Việt Nam 14 FED Federal Reserve System Cục dự trữ Liên bang Mỹ 15 IMF International Moneytary Fund Qũy tiền tệ quốc tế 16 ISDA International Swaps and Derivatives Association Hiệp hội phái sinh và hoán đổi quốc tế 17 LIFFE London International Financial Futures Exchange Sở giao dịch tương lai tài chính quốc tế Luân Đôn 18 MB Military Bank Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quân đội 19 MSB Maritime Bank Ngân hàng Thương mại Cổ phần Hàng hải Việt Nam 20 NSE National Stock Exchange Sở giao dịch chứng khoán Quốc gia (Ấn Độ) 21 OSE Osaka Securities Exchange Sở giao dịch chứng khoán Osaka 22 OTC Overthecounter Thị trường phi tập trung 23 RBI Reserve Bank of India Ngân hàng Dự trữ Ấn Độ 24 RMB Reminbi Nhân dân tệ 25 SEBI Securities and exchange Board of India Sở giao dịch và chứng khoán Ấn Độ 26 SWIFT Society for Worldwide Interbank Financial Telecommunication Hiệp hội mạng viễn thông tài chính liên ngân hàng toàn thế giới 27 TFX Tokyo Financial Exchange Sở giao dịch tài chính Tokyo 28 TIFFX Tokyo International financial futures exchange Sở giao dịch tương lai tài chính quốc tế Tokyo 29 TSE Tokyo Stock Exchange Sở giao dịch chứng khoán Tokyo 30 USD United States dollar Đô la Mỹ 31 WFE World Federation of Exchanges Liên đoàn các sàn giao dịch thế giới 32 VIB Vietnam International Bank Ngân hàng Quốc tế 33 VCB Joint Stock Commercial Bank for Foreign Trade of Vietnam Ngân hàng Thương mại Cổ phần Ngoại thương Việt Nam 34 Vietinbank Vietnam Joint Stock Commercial Bank for Industry and Trade Ngân hàng Thương mại Cổ phần Công thương Việt Nam 35 VND Vietnamese Dong Đồng Việt Nam 36 VNX Vietnam Commodity Exchange Sở giao dịch hàng hóa Việt Nam DANH MỤC CÁC BẢNG TT Số hiệu Tên bảng Trang 1 Bảng 1.1 Hợp đồng cà phê Robusta loại 1 của Sở giao dịch hàng hóa Việt Nam 19 2 Bảng 1.2 Lợi nhuận đối với bốn vị thế quyền chọn 25 3 Bảng 1.3 Tổng hợp các yếu tố tác động đến giá quyền chọn 42 4 Bảng 2.1 Doanh số giao dịch hàng ngày trên thị trường ngoại hối 63 5 Bảng 2.2 Giá trị giao dịch ngoại hối trên thị trường tập trung 64 6 Bảng 2.3 Tổng hợp số liệu về việc sử dụng các công cụ phái sinh trên thế giới 71 7 Bảng 2.4 Giá trị giao dịch phái sinh ngoại hối của Ấn Độ (20082013) 77 8 Bảng 2.5 Bảng tổng hợp biên độ giao động được phép của tỷ giá giữa đồng Việt Nam và đô la Mỹ 88 9 Bảng 2.6 Doanh số giao dịch trung bình ngày của thị trường ngoại hối toàn cầu 98 10 Bảng 2.7 Tỷ trọng giao dịch ngoại hối trên thị trường ngoại hối Việt Nam 98 11 Bảng 2.8 Doanh số giao dịch ngoại hối trung bình ngày của các nền kinh tế mới nổi 99 12 Bảng 2.9 Các công cụ phái sinh đang áp dụng tại các NHTM Việt Nam 100 13 Bảng2.10 Cơ cấu công cụ phái sinh trên thị trường ngoại hối Việt Nam 102 14 Bảng2.11 Giá trị hợp đồng giao dịch phái sinh tiền tệ tại các NHTM Việt Nam 105 15 Bảng 3.1 Mức độ hiểu biết của các doanh nghiệp về công cụ phái sinh 119 16 Bảng 3.2 Tình hình sử dụng công cụ phái sinh của các doanh nghiệp tại Việt Nam 119 17 Bảng 3.3 Tần suất và mục đích áp dụng công cụ phái sinh của các doanh nghiệp 120 18 Bảng 3.4 Khó khăn của các doanh nghiệp khi tiếp cận các công cụ phái sinh 127 DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ TT Số hiệu Tên biểu đồ Trang 1 Biểu đồ 2.1 Quy mô thị trường CCPS tập trung và phi tập trung 56 2 Biểu đồ 2.2 Tổng giá trị của thị trường CCPS tập trung (20082014) 57 3 Biểu đồ 2.3 Cơ cấu CCPS trên sàn tập trung theo khu vực 58 4 Biểu đồ 2.4 Cơ cấu CCPS giao dịch trên sàn tập trung năm 2014 58 5 Biểu đồ 2.5 Quy mô của thị trường CCPS phi tập trung 59 6 Biểu đồ 2.6 Cơ cấu CCPS giao dịch phi tập trung năm 2014 60 7 Biểu đồ 2.7 Cơ cấu giá trị danh nghĩa theo tài sản cơ sở 65 8 Biểu đồ 2.8 Cơ cấu các công cụ phái sinh ngoại hối 65 9 Biểu đồ 2.9 Cơ cấu thị trường CCPS theo nhóm chủ thể tham gia 67 10 Biểu đồ 2.10 Tỷ lệ doanh nghiệp đối mặt với từng loại rủi ro 68 11 Biểu đồ 2.11 Số lượng hợp đồng ngoại hối tại một số sàn giao dịch chủ yếu 76 12 Biểu đồ 3.1 Dự báo xu hướng của thị trường CCPS ngoại hối tập trung đến năm 2020 112 13 Biểu đồ 3.2 Dự báo xu hướng của thị trường CCPS ngoại hối phi tập trung đến năm 2020 112 LỜI MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Các công cụ phái sinh (derivatives) là một công cụ tài chính có dòng tiền trong tương lai phụ thuộc vào giá trị của một hay một số tài sản khác (Hull, 2012). Trên thế giới các công cụ phái sinh manh nha hình thành từ rất lâu, nhưng vào khoảng những những 1970, các công cụ này bắt đầu trở nên phổ biến và có những bước phát triển mạnh mẽ cho đến nay. Theo số liệu thống kê của Ngân hàng thanh toán quốc tế BIS năm 2013, giá trị giao dịch của thị trường phi tập trung đạt 710.182 tỷ USD, gấp hơn 10 lần so với quy mô thị trường tập trung với 64.627,8 tỷ USD. Thị trường công cụ phái sinh được đánh giá là thị trường hoạt động nhộn nhịp nhất trên thế giới với doanh số giao dịch lên đến hàng nghìn tỷ USD mỗi ngày. Chỉ tính riêng thị trường ngoại hối, giá trị giao dịch trung bình hàng ngày năm 2013 đã đạt 6.671 tỷ USD, chiếm gần 19% doanh số toàn thị trường. Công cụ phái sinh ra đời trước hết nhằm mục đích quản trị rủi ro về giá Trong giai đoạn đầu khi mới xuất hiện, tài sản cơ sở của các hợp đồng phái sinh chủ yếu là hàng nông sản như gạo, ngô, bông,... và mục đích đầu tiên của các công cụ phái sinh là nhằm phòng ngừa rủi ro về biến động giá của các tài sản cơ sở này. Nhưng cùng với sự phát triển của nền kinh tế thế giới, ngày nay hàng hóa cơ sở của các giao dịch phái sinh đã trở nên phong phú và đa dạng hơn rất nhiều, từ nguyên vật liệu đầu vào cho hoạt động sản xuất như dầu mỏ, thép, kim loại màu, bông,... đến các sản phẩm trên thị trường tài chính như ngoại tệ, chứng khoán, chỉ số chứng khoán, lãi suất... Do vậy, các công cụ phái sinh có thể được sử dụng nhằm mục đích kinh doanh chênh lệch giá, đầu tư và cả mục đích đầu cơ. Ngoài ra, các công cụ phái sinh được giao dịch trên thị trường là nguồn thông tin hiệu quả hình thành giá của tài sản cơ sở. Khi các công cụ phái sinh được giao dịch trên thị trường sẽ hình thành các mức giá của chính các công cụ này và trở thành nguồn thông tin hiệu quả trong việc xác định giá của tài sản cơ sở. Tính thanh khoản và giá trị giao dịch của thị trường phái sinh trên thế giới rất lớn nên khó để một thế lực kinh tế nào có thể thao túng giá nên các thông tin giá cả của thị trường rất đáng tin cậy, từ đó sẽ giúp nền kinh tế giúp cân đối giữa sản xuất và tiêu thụ. Bên cạnh đó, công cụ phái sinh giúp tăng cường hiệu quả của thị trường tài chính nói chung thông qua việc các bên tham gia thị trường có cơ hội tiếp cận thông tin một cách công bằng, ngăn chặn được tình trạng độc quyền hay lũng đoạn giá. Đấy cũng là lý do vì sao 92% trong số 500 công ty lớn nhất thế giới đã sử dụng các công cụ phái sinh để quản trị rủi ro về giá (Deutsche Borse AG, 2008) và nhiều nước trên thế giới đã ban hành nhiều chính sách và các quy định nhằm quản lý và phát triển các giao dịch này. Trong nền kinh tế thị trường, các yếu tố về giá cả, tỷ giá, lãi suất sẽ biến động nhiều hơn theo quy luật cung cầu và do vậy các rủi ro sẽ xẩy ra nhiều hơn. Khi mà các rủi ro về biến động giá có thể xẩy đến bất cứ lúc nào với các nhà đầu tư và ngày càng gia tăng trong quá trình hội nhập, thì phát triển thị trường các công cụ phái sinh được xem như là lá chắn quan trọng để hạn chế rủi ro của thị trường đối với những nhà đầu tư. Trong khi đó tại Việt Nam, khái niệm công cụ phái sinh chưa thực sự phổ biến và nhiều nhà đầu tư cá nhân, doanh nghiệp cũng chưa hiểu rõ về các công cụ này. Một số người cho rằng, các công cụ phái sinh chỉ toàn mang đến lợi ích như: bảo hiểm rủi ro về giá hàng hóa, công cụ để đầu tư và tìm kiếm lợi nhuận. Tuy nhiên, số khác lại cho rằng, tham gia thị trường này giống như đánh bạc, chủ yếu là nhờ vào vận may. Tại Việt Nam thị trường công cụ phái sinh hầu như chưa phát triển, mới chỉ manh nha hình thành ở một vài tài sản cơ sở như hàng nông sản (cà phê, cao su) và ngoại hối. Đối với hàng nông sản, các giao dịch phái sinh trên thế giới chủ yếu thực hiện qua các sàn giao dịch, nhưng hiện nay Sàn giao dịch hàng hóa Việt Nam mặc dù đã được thành lập từ năm 2010 vẫn chưa thực hiện được vai trò là trung gian cho các nhà sản xuất, xuất khẩu gặp gỡ nhau để thỏa mãn nhu cầu về phòng vệ rủi ro giá cả hàng hóa; cũng chưa trở thành kênh đầu tư hiệu quả cho các nhà đầu tư. Các nhà sản xuất, xuất khẩu hàng nông sản của Việt Nam vẫn phải thực hiện nghiệp vụ phái sinh thông qua các sàn giao dịch hàng hóa lớn của thế giới. Còn đối với những doanh nghiệp có nguồn thu chi bằng ngoại tệ lại gặp phải rủi ro về biến động tỷ giá hối đoái, do vậy, nếu thị trường công cụ phái sinh ngoại hối tại Việt Nam phát triển, các doanh nghiệp này sẽ được cung cấp đầy đủ các công cụ phòng ngừa rủi ro khi có nhu cầu. Theo Bodnar (2011), khi đối mặt với rủi ro ngoại hối, tỷ lệ doanh nghiệp sử dụng công cụ phái sinh để phòng ngừa rủi ro vẫn chiếm tỷ trọng cao nhất (trên 70%). Ngược lại, tài sản cơ sở là ngoại hối được giao dịch nhiều trên thị trường phi tập trung nhưng doanh số vẫn còn khá khiêm tốn với các công cụ phổ biến là kỳ hạn và hoán đổi. Một vài công cụ phái sinh khác như quyền chọn ngoại tệ nội tệ được đưa vào áp dụng thí điểm trong thời gian ngắn và dừng lại cho đến nay. Các doanh nghiệp Việt Nam không có cơ hội để được sử dụng các công cụ quản trị rủi ro ngoại hối hữu hiệu mà nhiều doanh nghiệp trên thế giới đang sử dụng. Sự kém phát triển của thị trường công cụ phái sinh là một thách thức không nhỏ đối với các NHTM và doanh nghiệp Việt Nam trong quá trình mở cửa và hội nhập vào thị trường tài chính thế giới. Vì vậy, vấn đề phát triển thị trường các công cụ phái sinh Việt Nam hiện nay trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Như vậy, nếu không phát triển thị trường công cụ phái sinh, các doanh nghiệp của Việt Nam sẽ mất đi cơ hội được sử dụng các công cụ hữu hiệu trong việc phòng ngừa rủi ro về biến động giá cả hàng hóa, biến động tỷ giá và lãi suất như các doanh nghiệp trên thế giới đang áp dụng. Xuất phát từ những nguyên nhân trên, tác giả chọn đề tài “Thị trường các công cụ phái sinh trên thế giới và giải pháp phát triển tại Việt Nam” làm Luận án tiến sĩ. 2. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là trên cơ sở hệ thống hóa các vấn đề lý luận liên quan đến các công cụ phái sinh ngoại hối, phân tích thực trạng phát triển của các thị trường công cụ phái sinh ngoại hối trên thế giới để từ đó rút ra được bài học kinh nghiệm và đề xuất các giải pháp nhằm phát triển thị trường này tại Việt Nam. Để đạt được mục tiêu trên, tác giả đặt ra các nhiệm vụ cơ bản sau đây: Hệ thống lại cơ sở lý luận liên quan đến các công cụ phái sinh ngoại hối và thị trường công cụ phái sinh ngoại hối, các điều kiện để phát triển thị trường CCPS ngoại hối tại Việt Nam. Phân tích thực trạng phát triển của thị trường CCPS ngoại hối trên thế giới, đặc biệt có phân tích điển hình thị trường CCPS ngoại hối của một số nước cụ thể (bao gồm cả thị trường còn phát triển non trẻ đến thị trường đã có bề dày hoạt động); phân tích thực trạng phát triển thị trường CCPS ngoại hối của Việt Nam và đánh giá những kết quả đạt được cũng như hạn chế và đưa ra các nguyên nhân cho thực trạng này. Dự báo và xác định xu hướng phát triển của các thị trường CCPS nói chung và thị trường CCPS ngoại hối trên thế giới, quan điểm về phát triển thị trường CCPS ngoại hối tại Việt Nam; đồng thời trên cơ sở kết quả khảo sát các điều kiện phát triển thị trường CCPS ngoại hối tại Việt Nam tác giả sẽ đưa ra các giải pháp phát triển thị trường hơn nữa thị trường CCPS ngoại hối. 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu: Trong Luận án tiến sĩ, tác giả giới hạn đối tượng nghiên cứu là thị trường công cụ phái sinh đối với tài sản cơ sở là ngoại hối và trên cơ sở lý luận, khái quát hóa sự hình thành và phát triển thị trường CCPS trên thế giới để tập trung nghiên cứu sự hình thành và phát triển thị trường CCPS ngoại hối Việt Nam. Phạm vi nghiên cứu: Do tài sản cơ sở trong các hợp đồng phái sinh đa dạng, phong phú nên nội dung nghiên cứu về thị trường các CCPS cũng rất rộng. Để nội dung đề tài có tính tập trung, tác giả giới hạn phạm vi nghiên cứu ở thị trường CCPS ngoại hối. Lý do, nhu cầu sử dụng CCPS ngoại hối có thể phát sinh trong các doanh nghiệp thuộc bất kỳ lĩnh vực nào (xuất nhập khẩu, thương mại, đầu tư, sản xuất, dịch vụ). Trong khi đó, thị trường CCPS ngoại hối tại Việt Nam đang hình thành nhưng chưa phát triển. Mặt khác, theo nghiên cứu của Bodnar (2011), trong lĩnh vực ngoại hối, các doanh nghiệp có xu hướng sử dụng nhiều các công cụ phái sinh này để phòng vệ rủi ro hơn là sử dụng các biện pháp nghiệp vụ khác. Về mặt thời gian, phần thực trạng thị trường CCPS thế giới và tại Việt Nam tác giả sử dụng liệu từ năm 2008 cho đến năm 2014. Tuy nhiên, tùy theo yêu cầu của một số nội dung cụ thể như phần phân tích về lịch sử hình thành và phát triển thị trường công cụ phái sinh trên thế giới và Việt Nam, dữ liệu được sử dụng từ khi các thị trường mới được thành lập. Một số số liệu thống kê được dùng trong bài có thể khác nhau nhưng không đáng kể và không làm ảnh hưởng đến việc phân tích sự phát triển của toàn thị trường. Sự chênh lệch giữa các số liệu này là do việc làm tròn số trong quá trình thống kê và phân tích của tác giả. 4. Phương pháp nghiên cứu Trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, để hoàn thành đề tài luận án tiến sĩ này, tác giả đã sử dụng kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu, cụ thể như sau: Tác giả thu thập số liệu thứ cấp từ các nguồn đáng tin cậy như các đề tài nghiên cứu khoa học, kỷ yếu hội thảo, bài đăng tạp chí, các nghiên cứu của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước, đồng thời tham gia các hội thảo trong nước và quốc tế liên quan đến việc phát triển thị trường CCPS tại Việt Nam nhằm thu thập thông tin và số liệu về lịch sử hình thành và thực trạng phát triển của thị trường CCPS trên thế giới và Việt Nam. Thực hiện việc điều tra, khảo sát thực tế thông qua mẫu phiếu khảo sát đối với các doanh nghiệp trên địa bàn Tp. Hồ Chí Minh, Bình Dương và Đồng Nai để thu thập thông tin, lấy ý kiến đánh giá về việc sử dụng các CCPS tại các doanh nghiệp này. Đối tượng trả lời phiếu khảo sát là các cán bộ quản lý (trưởngphó phòng ban, Giám đốc bộ phận, Giám đốc công ty) chịu trách nhiệm mảng hoạt động tài chính kinh doanh của doanh nghiệp hoặc cán bộ, nhân viên các phòng ban XNK, kinh doanh, tài chính. Tác giả đã tiến hành khảo sát 135 doanh nghiệp trong các lĩnh vực như xuất nhập khẩu, thương mại, dịch vụ, xây dựng và đã thu về được 120 phiếu trả lời, trong đó có 105 phiếu trả lời hợp lệ. Dữ liệu trong 105 phiếu trả lời hợp lệ này đã được tác giả dùng để phân tích bằng công cụ phân tích định lượng. Phỏng vấn trực tiếp hoặc qua điện thoại, email các chuyên gia về công cụ phái sinh tại một số Ngân hàng thương mại Việt Nam như Vietcombank, Maritimebank, Techcombank, Vietinbank, BIDV, VIB về việc cung cấp các sản phẩm công cụ phái sinh ngoại hối, những thuận lợi khó khăn, những bất cập trong việc triển khai các giao dịch phái sinh ngoại hối tại các ngân hàng. Sử dụng các phương pháp nghiên cứu truyền thống như phương pháp thống kê, phương pháp phân tích – tổng hợp, phương pháp đối chiếu – so sánh để phân tích, đánh giá thực trạng thị trường CCPS trên thế giới trong mối liên hệ so sánh, đối chiếu các đối tượng được phân tích với nhau; phân tích các điều kiện phát triển một số thị trường CCPS trên thế giới và Việt Nam nhằm đề xuất các giải pháp có tính khả thi giúp phát triển thị trường CCPS tại Việt Nam. Trong phần dự báo quy mô thị trường công cụ phái sinh toàn cầu, tác giả đã sử dụng mô hình ARIMA và phần mềm SPSS để xử lý chuỗi số liệu về quy mô thị trường thông qua chỉ tiêu về giá trị danh nghĩa của các hợp đồng đang còn hiệu lực từ năm 1998 đến năm 2014. Số liệu thứ cấp tác giả tổng hợp từ các báo cáo (báo cáo quý, báo cáo năm, báo cáo 3 năm) của Ngân hàng thanh toán bù trừ BIS. 5. Tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực đề tài Các nghiên cứu ở nước ngoài Trên thế giới đã có các một số công trình nghiên cứu về CCPS và thị trường CCPS ở nhiều khía cạnh khác nhau: Nghiên cứu về lợi ích và cả những tác động tiêu cực của CCPS nói chung đối với thị trường tài chính cũng như toàn bộ nền kinh tế có các tác giả như Randall (2001), Eric Junghoon (2005), Chow, Li and Liu (2005) hay Anna (2009). Các công trình này tập trung nghiên cứu nguyên nhân gây ra các cuộc khủng hoảng tài chính châu Á năm 19971998, cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008 và một số cuộc khủng hoảng kinh tế tại một số nước khác và vai trò của CCPS trong các cuộc khủng hoảng này. Các nghiên cứu này không đề cập riêng đến CCPS ngoại hối. Một số các tác giả khác lại nghiên cứu các ứng dụng thực tiễn của công cụ phái sinh trong phòng vệ rủi ro thông qua phân tích các ảnh hưởng của công cụ phái sinh đối với rủi ro và giá trị của doanh nghiệp, như Sohnke, Gregory và Jennifer (2009), Peter M. Garber (1998), Mark (1995) hay Rene (2004). Trong một số nghiên cứu khác của Söhnke, Gregory và Frank (2006), Bodnar, Gregory, Richard và Charles W (1995), Bodnar, Gregory và Richard (1996), Bodnar, Gordon và Gunther Gebhardt (1998), Bodnar. và Giambona (2012), Downi David, McMillanvà Ed Nosal (1996) hay Yahagida Munehiko và Koji Inui (1995) phân tích về tình hình sử dụng các công cụ phái sinh cũng như thái độ về việc sử dụng các công cụ phái sinh của các doanh nghiệp trên thế giới, đặc biệt nhấn mạnh các doanh nghiệp tại Mỹ, Đức, Canada, Nhật Bản. Tuy vậy, chưa có nghiên cứu nào đề cập cụ thể và trực tiếp về tình hình sử dụng các CCPS, đặc biệt là CCPS ngoại hối tại Việt Nam. Các nghiên cứu này cũng không đề cập đến điều kiện để phát triển thị trường CCPS. Liên quan đến các điều kiện phát triển thị trường CCPS, trong Báo cáo nghiên cứu “Derivatives market development” ở dạng sách trắng, do Tổ chức Giải pháp thị trường Aberta (Aberta Market solutions Ltd) của Vancouver, Cananda ấn hành vào năm 2003 có đã đề cập đến một số yếu tố chủ yếu trong xây dựng một thị trường phái sinh mới như các thành phần tham gia thị trường, nguồn luật điều chỉnh, vai trò của việc tạo ra các CCPS mới. Tuy nhiên, nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở việc mô tả sơ lược các yếu tố tạo nên thị trường, chứ chưa đề cập và phân tích sâu đến các điều kiện đó. Trong báo cáo nghiên cứu The world’s commodity exchanges: past present – future của UNCTAD (2006) có đề cập đến các điều kiện thành lập Sàn giao dịch, tuy nhiên, chưa nhấn mạnh đến các yếu tố thúc đẩy sự phát triển của các Sàn giao dịch, đặc biệt là các Sàn giao dịch CCPS ngoại hối. Một số nghiên cứu khác đề cập đến các khía cạnh liên quan trực tiếp đến sự phát triển thị trường CCPS, đó là yếu tố về hệ thống pháp luật điều chỉnh CCPS, như Paul Latimer (2008) nghiên cứu về các quy định đối với các giao dịch phái sinh OTC tại Úc; Hui (2012) phân tích quá trình phát triển thị trường CCPS cũng như sơ lược về các quy định pháp lý với thị trường CCPS tại Trung Quốc. Đây là những các công trình nghiên cứu nổi trội về các vấn đề liên quan đến nội dung của luận án mà tác giả tiếp cận được, nhưng trong số này chưa có nghiên cứu nào đề cập toàn diện đến các điều kiện phát triển thị trường CCPS nói chung và thị trường CCPS ngoại hối nói riêng tại Việt Nam, đặc biệt trong thời kỳ mở cửa và hội nhập với thị trường tài chính thế giới. 5.2 Các nghiên cứu ở Việt Nam Tại Việt Nam cũng đã có một số các nghiên cứu về thị trường CCPS và CCPS ngoại hối, như Hồ Thúy Ái (2007) phân tích các ứng dụng công cụ ngoại hối phái sinh vào việc bảo hiểm rủi ro tỷ giá, Việt Bảo (2007) phân tích về tình hình phát triển nghiệp vụ tài chính phái sinh ở Việt Nam, Nguyễn Thị Thanh Hương (2007) đề cập đến giải pháp kế toán nhằm phát triển thị trường công cụ tài chính phái sinh ở Việt Nam, Nguyễn Thúy (2008) bàn về việc phát triển các công cụ phái sinh trên thị trường ngoại hối Việt Nam, hay Phạm Thu Thủy (2011) nghiên cứu kinh nghiệm phát triển thị trường công cụ phái sinh ở các nền kinh tế mới nổi và đưa ra những định hướng cho thị trường Việt Nam, Đinh Thị Thanh Long (2014) đề cập đến thực trạng giao dịch phái sinh ngoại hối tại Việt Nam. Tuy nhiên, hầu hết các nghiên cứu kể trên chỉ tập trung vào một số khía cạnh cụ thể và các giải pháp mang tính chất gợi ý trong việc phát triển thị trường CCPS tại Việt Nam, mà chưa phân tích sâu và toàn diện về thực trạng phát triển thị trường CCPS của Việt Nam cũng như phân tích và đánh giá các điều kiện để phát triển thị trường này. Một số nghiên cứu khác chỉ mới dừng lại ở cấp độ là Luận văn thạc sỹ và khóa luận tốt nghiệp đại học, như Bùi Thị Xuân (2010) bàn về ứng dụng các công cụ ngoại hối phái sinh ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, Lê Thị Khánh Phương (2009) phân tích các biện pháp phát triển công cụ phái sinh trong phòng ngừa rủi ro tỷ giá tại các NHTM Việt Nam, Vũ Trần Thanh Long (2012) tìm hiểu về một số thị trường chứng khoán phái sinh trên thế giới và khả năng áp dụng tại Việt Nam. Đề tài NCKH cấp cơ sở của Huỳnh Thị Hương Thảo (2014) cũng chỉ bàn về việc sử dụng công cụ tài chính phái sinh trong quản lý rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại ở Việt Nam chứ không đi sâu vào phân tích thị trường CCPS ngoại hối cũng như các điều kiện hình thành và phát triển thị trường này tại Việt Nam. Kỷ yếu Hội thảo Phát triển hoạt động và mở rộng mặt hàng giao dịch qua Sở giao dịch hàng hóa trong thời kỳ hội nhập, Bộ Công Thương phối hợp với MUTRAP, 2012 lại tập trung vào phát triển thị trường CCPS hàng hóa thông qua việc mở rộng danh mục mặt hàng được giao dịch qua Sở giao dịch. Nghiên cứu của Phạm Nguyễn Hoàng (2011) đã đề cập đến điều kiện hình thành và phát triển thị trường tương lại tại Việt Nam, tuy nhiên, chỉ mới nêu các điều kiện để phát triển thị trường đối với hợp đồng tương lai, bao gồm (1) điều kiện về thể chế, luật pháp, (2) điều kiện về kinh tế tài chính, (3) điều kiện về kỹ thuật. Kết quả nghiên cứu của Phạm Nguyễn Hoàng (2011) và của Tổ chức Giải pháp thị trường Aberta, Canada (2003) là cơ sở và gợi ý quan trọng về các điều kiện phát triển thị trường CCPS nói chung; trên nền tảng đó, tác giả đã lựa chọn và phân tích kỹ các điều kiện quan trọng quyết định đến sự phát triển thị trường CCPS ngoại hối của Việt Nam, đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam đang hội nhập vào thị trường tài chính toàn cầu. Như vậy, trong phạm vi nghiên cứu của tác giả, qua các công trình nghiên cứu kể trên chưa có công trình nào nghiên cứu đầy đủ cả về lý thuyết lẫn thực tiễn áp dụng các CCPS ngoại hối trên thế giới và Việt Nam; các nghiên cứu trên chưa đánh giá toàn diện các điều kiện phát triển của thị trường các CCPS ngoại hối ở Việt Nam trong tương quan so sánh, đối chiếu với sự các điều kiện phát triển của thị trường CCPS ngoại hối của một số nước trên thế giới. 6. Bố cục của đề tài: Nhằm giải quyết các mục tiêu đề ra, đề tài được bố cục theo 3 chương (chưa bao gồm Lời mở đầu và kết luận, nội dung): Chương 1: Cơ sở lý luận về công cụ phái sinh và thị trường các công cụ phái sinh ngoại hối Chương 2: Thực trạng phát triển thị trường các công cụ phái sinh ngoại hối trên thế giới và Việt Nam Chương 3: Giải pháp và kiến nghị nhằm phát triển thị trường các công cụ phái sinh ngoại hối tại Việt Nam 7. Những điểm mới của luận án Nhằm giải quyết mục tiêu đề ra của Luận án, nghiên cứu của tác giả trong Luận án tiến sĩ này đã đạt được một số điểm mới như sau: Hệ thống lại cơ sở lý luận về CCPS và CCPS đối với tài sản cơ sở là ngoại hối, đưa ra được các định nghĩa cụ thể gắn liền với các dạng thức của CCPS ngoại hối đồng thời phân tích và đưa ra được các điều kiện để phát triển thị trường CCPS ngoại hối trong bối cảnh Việt Nam mở cửa và gia nhập thị trường tài chính toàn cầu nói chung và ngoại hối nói riêng. Phân tích và đánh giá được tình hình phát triển chung của thị trường CCPS trên thế giới và thị trường CCPS ngoại hối nói riêng (có phân tích 3 trường hợp điển hình là Nhật Bản, Ấn Độ và Trung Quốc), qua đó rút ra được những bài học kinh nghiệm về phát triển thị trường CCPS cho Việt Nam. Tác giả không chỉ phân tích về thực trạng phát triển CCPS ngoại hối của Việt Nam mà còn đánh giá được các điều kiện để phát triển thị trường này dựa trên các phân tích so sánh và nghiên cứu thực tiễn qua kết quả khảo sát các DN và phỏng vấn các chuyên gia trong lĩnh vực phái sinh tại các NHTM của Việt Nam. Dựa trên đánh giá các điều kiện phát triển thị trường CCPS ngoại hối tại Việt Nam, tác giả đã đề xuất các giải pháp cụ thể, chặt chẽ và có tính khả thi theo các điều kiện đó để nhằm phát triển thị trường CCPS ngoại hối, đặc biệt là các giải pháp này gắn với bối cảnh Việt Nam đang gia nhập vào thị trường tài chính thế giới nói chung và thị trường ngoại hối nói riêng. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG CỤ PHÁI SINH VÀ THỊ TRƯỜNG CÔNG CỤ PHÁI SINH NGOẠI HỐI 1.1 Công cụ phái sinh 1.1.1 Lịch sử hình thành công cụ phái sinh Mặc dù được xem là sản phẩm của nền kinh tế tài chính hiện đại, nhưng công cụ phái sinh manh nha hình thành từ rất lâu đời. Các hợp đồng tương lai hàng hóa được cho là xuất hiện đầu tiên tại Nhật Bản vào khoảng những năm 1700. Những người nông dân có thể mang gạo đến các thành phố lớn như Osaka, nơi mà gạo được lưu trữ và bán tại những cuộc đấu giá. Những nhà buôn được cấp phép sẽ đấu giá và người thắng cuộc sẽ bán gạo và nhận được một biên nhận để sau đó có thể đổi sang tiền mặt. Dần dần, những phiếu biên nhận này trở thành vật được giao dịch chính. Nhà buôn mua bán các giấy biên nhận này trên một thị trường riêng và gạo trở thành tài sản cơ sở. Đến khoảng năm 1730, sàn giao dịch gạo Dojima tại Nhật được hình thành, cho phép tiến hành mua bán gạo theo hai hình thức: giao ngay và kỳ hạn. Với hình thức giao ngay, các bên sẽ tiến hành giao nhận hàng hóa và biên nhận hàng sẽ được đổi thành tiền trong vòng 4 ngày. Với hình thức giao sau, các giao dịch sẽ được lưu vào sổ sách tại phòng thanh toán bù trừ. Kỳ hạn của các hợp đồng gạo này tối đa là 4 tháng. Các điều khoản của hợp đồng này cũng đã được tiêu chuẩn hóa, như số lượng, chất lượng và kỳ hạn hợp đồng tối đa là 4 tháng. Các hợp đồng này được thanh toán theo một trong hai cách: thanh toán bù trừ bằng tiền mặt khi đáo hạn hoặc ký một hợp đồng đối ứng. Tuy nhiên, sau hơn 200 năm hoạt động, thị trường đóng cửa vào năm 1937. Vào thập niên 40 thế kỷ XIX, Chicago đã trở thành một trung tâm thương mại lớn của Hoa Kỳ, do vậy, những người nông dân trồng lúa mì từ khắp nơi đều quy tụ về Chicago để bán sản phẩm của họ. Nếu giá cả tăng lên, nông dân luôn sẵn sàng đẩy mạnh sản xuất, nhưng ngược lại nếu giá cả giảm sút sẽ xảy ra hiện tượng bán tống bán tháo hàng loạt dẫn đến những trường hợp không đủ nhà kho chứa lúa mì của nông dân. Ngoài ra, sự tồn tại những phương pháp nghèo nàn trong việc cân và phân loại hàng hóa đã đẩy người nông dân vào tình thế phải chịu sự định đoạt của các thương nhân. Cũng tương tự, những thương nhân luôn đối mặt với những rủi ro tiềm ẩn do biến động trong giá cả gây nên. Một cơ chế để có thể giảm thiểu hay hạn chế những rủi ro trên là nhu cầu bức thiết. Bằng những thoả thuận trước về giá cả, người mua cũng như người bán có thể phòng ngừa được những rủi ro do biến động giá cả trong tương lai gây nên. Nhờ đó, nông dân xác định được một mức giá chắc chắn cho lượng hàng họ sẽ sản xuất ra mà không phải lo ngại về tình trạng nguồn cung quá lớn sẽ dẫn đến giảm giá, gây thiệt hại cho đời sống của họ. Những thương nhân đóng vai trò trung gian giữa nông dân và người tiêu dùng cuối cùng sẽ không còn phải lo ngại về những biến động bất lợi của giá cả khi họ có thể phải thu mua với giá cao và bán ra với mức giá thấp không được dự tính trước. Năm 1848, Sở giao dịch thương mại Chicago (CBOT) được thành lập nhằm mục đích trước hết là quy tụ các nông dân và thương nhân trong buôn bán ngũ cốc. Sở đã tiêu chuẩn hóa khối lượng và chất lượng sản phẩm giúp các bên dễ dàng trong việc định giá và thúc đẩy hoạt động mua bán hàng hóa. Chỉ sau đó một vài năm, loại hợp đồng future đầu tiên, hợp đồng giao sau (toarrive contract) được ra đời. Hợp đồng toarrive này cho phép bên bán được giao hàng sau tại một thời điểm nhất định đã được thỏa thuận trước trong hợp đồng. Ngay lập tức, loại hợp đồng này đã thu hút sự quan tâm đặc biệt của các nhà đầu cơ, giao dịch với loại hợp đồng này hấp dẫn hơn là chỉ mua bán hàng hóa đơn thuần, bởi lẽ người ta có thể mua đi bán lại các hợp đồng này trước đến hạn. Vào năm 1973, Sở giao dịch quyền chọn Chicago (The Chicago Board Options Exchange CBOE) bắt đầu giao dịch các hợp đồng quyền chọn mua (call options) đối với 16 loại cổ phiếu. Thực tế thì trước đó các loại hợp đồng quyền chọn đã được giao dịch, nhưng chỉ đến năm này Sở giao dịch quyền chọn Chicago (CBOE) mới áp dụng thành công các mẫu hợp đồng đã được Sở tiêu chuẩn hóa. Còn hợp đồng quyền chọn bán (put options) bắt đầu được giao dịch trên sàn từ năm 1977. Giờ đây Sở giao dịch quyền chọn Chicago cung cấp các hợp đồng quyền chọn với hơn 1.000 loại cổ phiếu và nhiều chỉ số cổ phiếu khác nhau. Quyền chọn tiền tệ lần đầu tiên được đưa vào giao dịch tập trung trên thị trường chứng khoán Philadenphia vào tháng 12 năm 1982. Đó là các quyền chọn Bảng Anh. Các quyền chọn tiền tệ cũng được kinh doanh trên Sở giao dịch quyền chọn Chicago (Chicago Board Options Exchange) và Sở giao dịch tài chính tương lai Quốc tế ở Luân Đôn (London International Financial Futures Exchange – LIFFE). Cũng giống như hợp đồng tương lai, các hợp đồng quyền chọn giờ đây cũng trở nên phổ biến và được giao dịch ở nhiều sàn giao dịch trên khắp thế giới. Từ các tài sản cơ sở đầu tiên chỉ là nông sản, đến nay, có thể nói bất kỳ một loại hàng hóa, dịch vụ nào cũng có thể trở thành tài sản cơ sở của các giao dịch phái sinh. Tài sản cơ sở của các hợp đồng quyền chọn có thể là ngoại hối, các hợp đồng tương lai, các loại chứng khoán hay chỉ số chứng khoán (Hull, 2009). Ngày nay, các công cụ đã vượt xa khỏi giới hạn của hợp đồng nông sản ban đầu, nó trở thành công cụ tài chính để phòng vệ rủi ro biến động giá cả hàng hóa, lãi suất, chứng khoán và tỷ giá. 1.1.2 Khái niệm Trên thế giới, phái sinh là một khái niệm quen thuộc đối với nhiều nhà đầu tư, đầu cơ, các tổ chức tài chính và phi tài chính. “Phái sinh” được dịch từ nguyên gốc tiếng Anh là “derivative”, có nghĩa là “bắt nguồn từ” hay “phát sinh từ”. Phái sinh được định nghĩa là một công cụ tài chính mà giá trị của nó phụ thuộc vào (bắt nguồn từ) giá trị của các biến cơ sở hay tài sản cơ sở (underlying assets) (Hull 2012), là một công cụ tài chính có khoản thu nhập trong tương lai được phát sinh từ giá trị của các tài sản cơ sở (Rene 2004, tr.3) hay là các công cụ tài chính mà khoản thu nhập của chúng sẽ bắt nguồn từ khoản thu nhập của các công cụ tài chính khác (Don 2009). Trong trường hợp này “phái sinh” được coi là các công cụ. Có tác giả cho rằng phái sinh là một loại chứng khoán phát sinh giá trị của nó từ giá trị hoặc khoản lãi của các tài sản hay chứng khoán khác (CFA 2009, tr.159) và là các tài sản mà giá trị của chúng được xác định bởi giá trị của một số tài sản khác, gọi là tài sản cơ sở (KPMG 2009, tr.3). Còn theo Philippe Jorion (2003, tr.105): Công cụ phái sinh được xác định chung là một loại hợp đồng mà giá trị của nó được phát sinh từ giá cả của một vài tài sản cơ sở, tỷ giá tham chiếu hoặc giá trị của các chỉ số, như cổ phiếu, trái phiếu hay hàng hóa. Tại Việt Nam, trong Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 (khoản 23. Điều 4) thuật ngữ sản phẩm phái sinh được giải thích là công cụ tài chính được định giá theo biến động dự kiến về giá trị của một tài sản tài chính gốc như tỷ giá, lãi suất, ngoại hối, tiền tệ hoặc tài sản tài chính khác. Về mặt ngôn ngữ, từ “phái sinh” (derivative hoặc derivatives) trong các tài liệu trên được dùng như một danh từ và hầu hết các định nghĩa đều thừa nhận phái sinh là một loại công cụ tài chính; số còn lại coi đó là một dạng tài sản hay một loại chứng khoán hoặc hợp đồng. Tuy khác nhau trong cách diễn đạt và chưa hoàn toàn thống nhất trong mô tả và gọi tên khái niệm này, song tất cả định nghĩa đều có một điểm chung là giá trị của phái sinh đều được bắt nguồn từ giá trị của các công cụ khác hoặc từ giá trị của các tài sản khác. Vậy nên hiểu “phái sinh” như thế nào cho đúng? Theo tác giả, nên hiểu “phái sinh” là một dạng công cụ vì ngay từ khi ra đời, bản thân “phái sinh” đã trở thành phương tiện giúp cho các đối tượng sở hữu nó đạt được một mục đích nhất định là phòng ngừa rủi ro về biến động giá cả. Không nên chỉ xem phái sinh là một dạng tài sản vì nếu như vậy thì phái sinh phải luôn đem lại giá trị dương về tiền như tất cả các loại tài sản khác, trong khi rõ ràng phái sinh có thể đưa lại giá trị âm. Phái sinh cũng không hoàn toàn giống như chứng khoán, vì bản chất của hai loại này là khác nhau. Chứng khoán như cổ phiếu hay trái phiếu ra đời nhằm mục đích huy động hay tăng vốn, trong khi phái sinh ra đời từ yêu cầu bảo hiểm rủi ro về giá. Là một công cụ tài chính, có nghĩa là giá trị của công cụ phái sinh không nằm ở hình thái vật chất của nó, mà ở các quyền pháp lý gắn với đối tượng được đề cập trong công cụ. Như giá trị của cổ phiếu không nằm ở hình thái vật chất là tờ giấy chứng nhận cổ phiếu mà phụ thuộc vào quyền lợi hay thu nhập hợp pháp trong tương lai từ cổ phiếu đó. Tương tự như vậy, giá trị công cụ phái sinh được “phát sinh” từ các quyền pháp lý trong tương lai liên quan đến tài sản cơ sở. Trong giai đoạn đầu phát triển của công cụ phái sinh, các tài sản cơ sở thường là hàng hóa hữu hình, như hàng nông sản, nguyên liệu đầu vào cho hoạt động sản xuất... Giá trị của các công cụ phái sinh lúc này cũng dễ xác định vì nó có liên quan đến các quyền lợi pháp lý đối với các tài sản cơ sở dạng vật chất, ví dụ như quyền mua, bán, trao đổi các hàng hóa cơ sở. Tuy nhiên, ngày nay tài sản cơ sở của các công cụ phái sinh phát triển rất đa dạng, không những là các hàng hóa có thể mua bán và giao nhận bằng vật chất, mà còn là các hàng hóa vô hình, thậm chí cả những hàng hóa không bao giờ có thể mua bán được trên thị trường giao ngay như rủi ro tín dụng, chỉ số chứng khoán, chỉ số thời tiết, lượng khí các bon phát thải... Trong trường hợp này, giá trị của công cụ phái sinh sẽ phụ thuộc vào sự thay đổi giá trị của các biến số cơ sở. Tại sao lại như vậy? Công cụ phái sinh hàm chứa trong nó quyền đối với những lợi ích mà những người sở hữu công cụ phái sinh nhận được trong tương lai. Một khi công cụ hàm chứa các lợi ích trong tương lai thì sẽ làm phát sinh các nhu cầu đối với lợi ích đó, như nhu cầu trao đổi, chuyển nhượng và mua bán công cụ phái sinh. Như vậy, thị trường công cụ phái sinh hình thành khi xuất hiện nhiều nhu cầu về trao đổi, chuyển nhượng, mua bán các công cụ phái sinh. Lúc này, các công cụ phái sinh sẽ được thể hiện dưới dạng các hợp đồng, trong đó quy định cam kết thực hiện nghĩa vụ của một hoặc các bên tham gia hợp đồng. Giá cả của tài sản cơ sở trong các hợp đồng phái sinh đều được xác định và thỏa thuận trước tại thời điểm ký kết hợp đồng; tuy nhiên việc thực hiện các cam kết thường được diễn ra sau một khoảng thời gian nhất định nên giá cả thị trường của các tài sản cơ sở hoặc giá trị các biến số cơ sở khi đó sẽ thay đổi. Sự thay đổi này sẽ làm thay đổi dòng tiền trong tương lai của các công cụ phái sinh, hay nói cách khác thu nhập trong tương lai của các công cụ phái sinh cũng sẽ thay đổi theo. Nói tóm lại, công cụ phái sinh là một công cụ tài chính mà thu nhập trong tương lai của nó phụ thuộc vào sự thay đổi của các biến số cơ sở, như giá của hàng hóa, tỷ giá, lãi suất, chỉ số chứng khoán hay các loại chỉ số khác. Phân loại Ngày nay, công cụ phái sinh phát triển rất đa dạng và vẫn không ngừng xuất hiện những loại công cụ phái sinh mới. Chúng ta có nhiều cách để phân loại công cụ phái sinh, nhưng phổ biến hơn cả là hai cách phân loại dựa vào 2 tiêu chí sau: Thứ nhất, dựa theo sự quy chuẩn của các công cụ phái sinh, chúng ta có thể chia chúng thành 2 nhóm lớn là phái sinh tiêu chuẩn và phái sinh phi tiêu chuẩn. Nhóm công cụ phái sinh tiêu chuẩn bao gồm: các hợp đồng tương lai (futures contracts) và hợp đồng quyền chọn tiêu chuẩn (plain vanilla options) được giao dịch trên thị trường có tổ chức hay các sàn giao dịch; nhóm còn lại bao gồm hợp đồng kỳ hạn (forward contracts), hợp đồng hoán đổi (swap contracts), quyền chọn ngoại lai (exotic options) và các công cụ phái sinh ngoại lai khác... được giao dịch trên thị trường phi tập trung (overthecounter). Thứ hai, dựa vào mối quan hệ giữa thu nhập của các công cụ phái sinh với giá trị của các biến cơ sở, chúng ta có hai loại chính: (1) công cụ phái sinh có thu nhập quan hệ tuyến tính với sự biến động của giá trị các biến cơ sở, bao gồm các cam kết kỳ hạn như công cụ kỳ hạn, công cụ tương lai, công cụ hoán đổi; (2) công cụ phái sinh có thu nhập quan hệ phi tuyến tính là công cụ quyền chọn. Đối với các công cụ nhóm 1, khi giá của tài sản cơ sở thay đổi thì lập tức khoản thu nhập của công cụ phái sinh cũng sẽ thay đổi tương ứng. Những hợp đồng dạng này nhìn chung tương đối dễ hiểu và dễ dàng trong việc định giá. Đối với nhóm 2, giá của tài sản cơ sở và khoản thu nhập của công cụ phái sinh có thể không biến động cùng tỷ lệ với nhau. Trên thực tế, các công cụ phái sinh ngoại lai (các công cụ lai tạo giữa các phái sinh cơ bản) thì gần như thay đổi thường xuyên, nhưng các công cụ cơ bản thì hầu như không thay đổi nhiều. Và cho dù các công cụ phái sinh được phân nhóm như thế nào thì tựu trung lại chúng cũng có những loại cơ bản sau đây: công cụ kỳ hạn (forwards), công cụ hoán đổi (swaps), công cụ tương lai (futures), công cụ quyền chọn (options). 1.1.3.1 Công cụ kỳ hạn Ra đời từ rất sớm, công cụ kỳ hạn là hình thức đơn giản nhất trong các công cụ phái sinh. Công cụ kỳ hạn là công cụ tài chính được áp dụng để mua bán một số lượng nhất định tài sản cơ sở ở một thời điểm xác định trong tương lai theo một mức giá đã được thỏa thuận trước. Nghĩa là, với công cụ kỳ hạn, hai bên mua bán có thể thỏa thuận trước các điều khoản liên quan hàng hóa cũng như các điều kiện giao nhận hàng hóa và thanh toán sẽ diễn ra trong tương lai. Công cụ kỳ hạn được thể hiện trên thị trường dưới hình thức là hợp đồng kỳ hạn. Khác với hợp đồng giao ngay, hợp đồng kỳ hạn có ngày thanh toán (hay còn gọi là ngày đáo hạn hoặc ngày giá trị hợp đồng) thông thường là sau hai ngày kể từ ngày ký hợp đồng. Thời gian từ khi ký hợp đồng đến ngày thanh toán gọi là kỳ hạn của hợp đồng. Giá xác định áp dụng trong ngày thanh toán hợp đồng gọi là giá kỳ hạn. Công cụ kỳ hạn được sử dụng để mua bán một loại tài sản vào một thời điểm cụ thể trong tương lai, nhưng tại thời điểm hiện tại các bên sẽ xác định trước mức giá áp dụng cũng như cách thức thanh toán và kết thúc hợp đồng. Một số đặc điểm của công cụ kỳ hạn: Công cụ kỳ hạn là công cụ tài chính tự do thỏa thuận. Các bên tham gia được tự do thỏa thuận các điều khoản, như loại tài sản cơ sở, số lượng, chất lượng hay tiêu chuẩn hàng hóa, giá kỳ hạn, thời gian đáo hạn, cách thức giao hàng, cách thức thanh toán và kết thúc hợp đồng. Công cụ kỳ hạn không yêu cầu bất kỳ một khoản thanh toán nào từ hai phía ngay tại thời điểm ký kết hợp đồng kỳ hạn. Việc giao hàng và thanh toán giá trị của hợp đồng sẽ được tiến hành khi hợp đồng đáo hạn. Do các điều khoản của hợp đồng không được chuẩn hóa, hợp đồng kỳ hạn được giao dịch trên thị trường phi tập trung hay thị trường OTC. Khi tham gia vào hợp đồng kỳ hạn, hai bên mua bán không phải tiến hành đặt cọc để bảo bảo khả năng thực hiện hợp đồng của mình nên rủi ro đối tác, rủi ro tín dụng trong hợp đồng hoán đổi là rất lớn. Các chủ thể của thị trường chủ yếu sử dụng công cụ kỳ hạn với mục đích phòng vệ rủi ro về biến động giá cả của hàng hóa cơ sở hơn là mục đích đầu cơ và kinh doanh chênh lệch giá. Do các điều khoản của hợp đồng kỳ hạn không được chuẩn hóa nên tính thanh khoản của các hợp đồng này không cao, dẫn đến việc các nhà đầu cơ sẽ khó khăn trong việc giao dịch hợp đồng này trên thị trường thứ cấp. Có 2 cách thức phổ biến để kết thúc hợp đồng kỳ hạn khi đáo hạn: (1) kết thúc bằng việc một bên sẽ giao hàng thật sự và bên kia sẽ thanh toán giá trị hợp đồng theo giá kỳ hạn; (2) kết thúc hợp đồng bằng việc thanh toán bằng tiền mặt (bù trừ chênh lệch giữa giá giao ngay vào giá kỳ hạn). Đa số các hợp đồng kỳ hạn đều được kết thúc theo cách thứ nhất. Ngoài ra, các bên tham gia hợp đồng còn có thể chọn cách muabán lại hợp đồng trước khi đáo hạn; tuy vậy, do hợp đồng kỳ hạn là thỏa thuận riêng của hai bên mua bán trước đó nên rất khó để nó được mua bán lại. Đối với hợp đồng có thỏa thuận là giao hàng vật chất vào một ngày đã được xác định trước, một bên sẽ có nghĩa vụ nhận hàng và thanh toán và bên kia có nghĩa vụ giao hàng và nhận tiền cho một số lượng cụ thể tài sản cơ sở với mức giá mức giá đã xác định, bất chấp giá thị trường lúc đó là bao nhiêu đi nữa. Trong trường hợp nếu giao hàng thật là khó khăn hoặc có sự thỏa thuận trước của hai bên mua bán, hợp đồng kỳ hạn có thể không thực hiện việc giao hàng thực tế vào thời điểm đáo hạn mà chỉ tiến hành thanh toán bù trừ giữa giá giao ngay với giá kỳ hạn của tài sản cơ sở. Ví dụ, nếu tài sản cơ sở là chỉ số của một thị trường chứng khoán (giả sử là HNX30), việc thực hiện thanh toán bù trừ bằng tiền mặt chắc chắn sẽ được hai bên lựa chọn vì dễ dàng thực hiện hơn nhiều so với giao hàng thật. Vào ngày đáo hạn, bên mua nhận một khoản thanh toán nếu giá giao ngay cao hơn giá kỳ hạn; bên bán sẽ nhận một khoản thanh toán nếu giá giao ngay thấp hơn giá kỳ hạn của tài sản cơ sở. Như đã trình bày ở trên, các hợp đồng kỳ hạn sẽ phải chờ đến ngày đáo hạn của hợp đồng để t
Trang 1MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ
LỜI MỞ ĐẦU 1
1.1 Công cụ phái sinh 11 1.1.1 Lịch sử hình thành công cụ phái sinh 11
1.1.2 Khái niệm 13
1.1.3 Phân loại 15
1.1.3.1 Công cụ kỳ hạn 16
1.1.3.2 Công cụ tương lai 18
1.1.3.3 Công cụ hoán đổi 21
1.1.3.4 Công cụ quyền chọn 23
1.1.4 Ưu điểm và nhược điểm của các công cụ phái sinh trong nền kinh tế 26 1.1.4.1 Ưu điểm 26
1.1.4.2 Nhược điểm 30
1.2 Thị trường các công cụ phái sinh ngoại hối 32
1.2.1 Khái niệm 32
1.2.1.1 Thị trường công cụ phái sinh 32
1.2.1.2 Thị trường công cụ phái sinh ngoại hối 34
1.2.2 Phân loại thị trường công cụ phái sinh ngoại hối 34
1.2.2.1 Theo tính chất tập trung 34
1.2.2.2 Theo các loại công cụ phái sinh 35
1.2.3 Các loại giao dịch trên thị trường công cụ phái sinh ngoại hối 35
1.2.3.1 Giao dịch kỳ hạn ngoại hối 35
1.2.3.2 Giao dịch tương lai ngoại hối 36
1.2.3.3 Giao dịch hoán đổi ngoại hối 36
1.2.3.4 Giao dịch quyền chọn ngoại hối 37
1.2.4 Giá cả công cụ phái sinh ngoại hối 39
1.2.4.1 Định giá hợp đồng kỳ hạn ngoại hối 39
1.2.4.2 Định giá hợp đồng tương lai ngoại hối 40
1.2.4.3 Định giá hợp đồng hoán đổi ngoại hối 40
1.2.4.4 Định giá hợp đồng quyền chọn ngoại hối 40
1.2.5 Các chủ thể tham gia thị trường công cụ phái sinh ngoại hối 42
Trang 21.2.5.1 Theo mục đích sử dụng công cụ phái sinh 42
1.2.5.2 Theo tính chất hoạt động của chủ thể 43
1.2.6 Cách thức giao dịch trên thị trường công cụ phái sinh ngoại hối 43
1.3 Các điều kiện phát triển thị trường công cụ phái sinh ngoại hối 44
1.3.1 Nhu cầu sử dụng công cụ phái sinh ngoại hối 44
1.3.2 Tài sản cơ sở 45
1.3.3 Những cơ sở pháp lý cho các giao dịch phái sinh ngoại hối 46
1.3.4 Điều kiện vật chất, kỹ thuật và nguồn nhân lực 48
1.3.5 Các công cụ phái sinh ngoại hối 49
1.4 Sự cần thiết phải phát triển thị trường công cụ phái sinh trong điều kiện hội nhập kinh tế và tài chính quốc tế nói chung và ngoại hối nói riêng tại Việt Nam 50
1.4.1 Trào lưu hội nhập kinh tế và tài chính quốc tế ảnh hưởng đến sự phát triển thị trường công cụ phái sinh ngoại hối tại Việt Nam 50
1.4.2 Sự cần thiết phải phát triển thị trường công cụ phái sinh ngoại hối trong điều kiện hội nhập 52
1.4.2.1 Là công cụ hỗ trợ các doanh nghiệp xuất nhập khẩu thỏa mãn nhu cầu về ngoại tệ và phòng vệ rủi ro tỷ giá 52
1.4.2.2 Là công cụ hữu hiệu giúp các ngân hàng thương mại cân đối trạng thái ngoại hối và hạn chế rủi ro khi lãi suất và tỷ giá biến động 53
1.4.2.3 Là công cụ giúp hoàn thiện chức năng của thị trường ngoại hối 54
Tổng kết chương 1 55
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG CÁC CÔNG CỤ PHÁI SINH NGOẠI HỐI TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM 56
2.1 Thực trạng phát triển thị trường các công cụ phái sinh ngoại hối trên thế giới 56
2.1.1 Thực trạng về thị trường công cụ phái sinh 56
2.1.1.1 Thị trường tập trung 57
2.1.1.2 Thị trường phi tập trung 58
2.1.2 Thực trạng về thị trường công cụ phái sinh ngoại hối 60
2.1.2.1 Hệ thống văn bản pháp lý điều chỉnh giao dịch phái sinh ngoại hối 61 2.1.2.2 Quy mô thị trường và doanh số giao dịch 63
2.1.2.3 Chủ thể tham gia thị trường ngoại hối 66
Trang 32.1.3 Đánh giá về thị trường công cụ phái sinh ngoại hối trên thế giới 72
2.1.3.1 Những kết quả đạt được 72
2.1.3.2 Những hạn chế 73
2.2 Thị trường công cụ phái sinh ngoại hối của một số nước 74
2.2.1 Nhật Bản 74
2.2.1.1 Thị trường công cụ phái sinh tập trung 74
2.2.1.2 Thị trường công cụ phái sinh phi tập trung 76
2.2.2 Ấn Độ 76
2.2.2.1 Thị trường công cụ phái sinh tập trung 77
2.2.2.2 Thị trường công cụ phái sinh phi tập trung 79
2.2.3 Trung Quốc 81
2.2.3.1 Thị trường công cụ phái sinh tập trung 81
2.2.3.2 Thị trường công cụ phái sinh phi tập trung 82
2.2.4 Bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam 83
2.3 Thực trạng phát triển thị trường các công cụ phái sinh ngoại hối tại Việt Nam 85
2.3.1 Quá trình hình thành và phát triển thị trường công cụ phái sinh ngoại hối .85
2.3.1.1 Thị trường công cụ phái sinh kỳ hạn 86
2.3.1.2 Thị trường công cụ phái sinh hoán đổi 91
2.3.1.3 Thị trường công cụ phái sinh quyền chọn 94
2.3.2 Thực trạng thị trường công cụ phái sinh ngoại hối tại Việt Nam 97
2.3.2.1 Tỷ trọng và tốc độ tăng của thị trường công cụ phái sinh ngoại hối 97 2.3.2.2 Các công cụ phái sinh ngoại hối đang được các NHTM cung cấp .100
2.3.2.3 Cơ cấu doanh số giao dịch phái sinh ngoại hối 101
2.3.3 Đánh giá về thị trường công cụ phái sinh ngoại hối tại Việt Nam 106 2.3.3.1 Những kết quả đạt được 106
2.3.3.2 Những hạn chế và nguyên nhân 107
Tổng kết chương 2 110
CHƯƠNG 3: CÁC GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG CÁC CÔNG CỤ PHÁI SINH NGOẠI HỐI TẠI VIỆT NAM 111
Trang 43.1 Dự báo quy mô và xu hướng phát triển thị trường công cụ phái sinh ngoại
hối 111
3.1.1 Dự báo quy mô phát triển thị trường công cụ phái sinh ngoại hối trên thế giới và Việt Nam 111
3.1.1.1 Dự báo quy mô thị trường công cụ phái sinh ngoại hối trên thế giới 111
3.1.1.2 Dự báo quy mô thị trường công cụ phái sinh ngoại hối tại Việt Nam 113
3.1.2 Các xu hướng chính trong phát triển thị trường công cụ phái sinh ngoại hối trên thế giới 113
3.1.2.1 Thị trường công cụ phái sinh ngoại hối phi tập trung vẫn sẽ là trung tâm của thị trường phái sinh ngoại hối toàn cầu 113
3.1.2.2 Xu hướng hợp nhất các thị trường công cụ phái sinh 114
3.1.2.3 Xu hướng tiêu chuẩn hóa sản phẩm trên thị trường công cụ phái sinh .116
3.2 Quan điểm phát triển thị trường công cụ phái sinh ngoại hối tại Việt Nam .116
3.3 Phân tích các điều kiện phát triển thị trường công cụ phái sinh ngoại hối tại Việt Nam 118
3.3.1 Nhu cầu sử dụng hợp đồng phái sinh 118
3.3.2 Tài sản cơ sở 121
3.3.3 Cơ sở pháp lý cho hoạt động phái sinh 122
3.3.4 Điều kiện vật chất, kỹ thuật và nguồn nhân lực 124
3.3.5 Các công cụ phái sinh 125
3.3.6 Đánh giá các điều kiện phát triển thị trường công cụ phái sinh ngoại hối tại Việt Nam 126
3.4 Các giải pháp nhằm phát triển thị trường các công cụ phái sinh ngoại hối tại Việt Nam 128
3.4.1 Đối với các Ngân hàng thương mại 129
3.4.1.1 Các Ngân hàng thương mại cần chú trọng việc quảng bá và giới thiệu các công cụ phái sinh đến các doanh nghiệp 129
.3.4.1.3 Ngân hàng thương mại cần chú trọng phát triển nguồn nhân lực .134
Trang 53.4.1.4 Hoàn thiện cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin 135
3.4.1.5 Các Ngân hàng thương mại cần tăng cường quản trị rủi ro trong kinh doanh ngoại hối 136
3.4.1.6 Đẩy mạnh các dịch vụ ngân hàng liên quan đến ngoại tệ 137
3.4.2 Đối với các doanh nghiệp 138
3.4.2.1 Các doanh nghiệp sử dụng cần chủ động và tích cực tìm hiểu về các công cụ phái sinh 138
3.4.2.2 Cần thay đổi quan niệm về “lỗ” trên thị trường công cụ phái sinh
138 3.5
Một số kiến nghị nhằm phát triển thị trường các công cụ phái sinh ngoại hối tại Việt Nam 139
3.5.1 Đối với Ngân hàng Nhà nước 138
3.5.1.1 Hoàn chỉnh các văn bản pháp lý điều chỉnh các giao dịch phái sinh
138
3.5.1.2 Ngân hàng Nhà nước nên đẩy nhanh việc nới rộng biên độ giao động và tiến đến áp dụng chế độ tỷ giá, lãi suất linh hoạt và tự do 143
3.5.1.3 Xây dựng hành lang quản lý rủi ro về trạng thái ngoại hối mở 145
3.5.1.4 Nghiên cứu áp dụng hợp đồng khung ISDA và hoàn thiện hệ thống chuẩn mực kế toán về các nghiệp vụ phái sinh 145
3.5.2 Về phía Hiệp hội ngân hàng và doanh nghiệp 146
3.5.2.1 Làm cầu nối tổ chức các hội thảo và đào tạo chuyên đề 146
3.5.2.2 Hỗ trợ và phối hợp với các NHTM nâng cao nhận thức của doanh nghiệp, nhà đầu tư về sử dụng công cụ phái sinh 147
3.5.2.3 Hỗ trợ cung cấp thông tin và số liệu thống kê cho các doanh nghiệp, các nhà đầu tư và các nhà nghiên cứu độc lập 147
Trang 6DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
I CÁC TỪ VIẾT TẮT BẰNG TIẾNG VIỆT
Trang 7II CÁC TỪ VIẾT TẮT BẰNG TIẾNG ANH
Ngân hàng Nông nghiệp và Pháttriển Nông thôn Việt Nam
Development of Vietnam
Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam
Exchange
Sở giao dịch quyền chọn Chicago
Chicago
Analyst
Chuyên gia phân tích đầu tư tài chính
Ngân hàng Thương mại Cổ phần Xuất nhập khẩu Việt Nam
Trang 8Financial Futures Exchange quốc tế Luân Đôn
phần Quân đội
phần Hàng hải Việt Nam
gia (Ấn Độ)
Osaka
Hiệp hội mạng viễn thông tài chính liên ngân hàng toàn thế giới
Ngân hàng Thương mại Cổ phần Ngoại thương Việt Nam
Vietnam Joint Stock Commercial Bank for Industry and Trade
Ngân hàng Thương mại Cổ phần Công thương Việt Nam
III.
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
7 Bảng 2.4 Giá trị giao dịch phái sinh ngoại hối của Ấn Độ
10 Bảng 2.7 Tỷ trọng giao dịch ngoại hối trên thị trường ngoại hối Việt
Trang 10DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
11 Biểu đồ 2.11 Số lượng hợp đồng ngoại hối tại một số sàn giao dịch
Trang 11LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Các công cụ phái sinh (derivatives) là một công cụ tài chính có dòng tiền trongtương lai phụ thuộc vào giá trị của một hay một số tài sản khác (Hull, 2012) Trên thế giớicác công cụ phái sinh manh nha hình thành từ rất lâu, nhưng vào khoảng những những
1970, các công cụ này bắt đầu trở nên phổ biến và có những bước phát triển mạnh mẽ chođến nay Theo số liệu thống kê của Ngân hàng thanh toán quốc tế BIS năm 2013, giá trịgiao dịch của thị trường phi tập trung đạt 710.182 tỷ USD, gấp hơn 10 lần so với quy môthị trường tập trung với 64.627,8 tỷ USD Thị trường công cụ phái sinh được đánh giá làthị trường hoạt động nhộn nhịp nhất trên thế giới với doanh số giao dịch lên đến hàngnghìn tỷ USD mỗi ngày Chỉ tính riêng thị trường ngoại hối, giá trị giao dịch trung bìnhhàng ngày năm 2013 đã đạt 6.671 tỷ USD, chiếm gần 19% doanh số toàn thị trường
Công cụ phái sinh ra đời trước hết nhằm mục đích quản trị rủi ro về giá Trong giaiđoạn đầu khi mới xuất hiện, tài sản cơ sở của các hợp đồng phái sinh chủ yếu là hàng nôngsản như gạo, ngô, bông, và mục đích đầu tiên của các công cụ phái sinh là nhằm phòngngừa rủi ro về biến động giá của các tài sản cơ sở này Nhưng cùng với sự phát triển củanền kinh tế thế giới, ngày nay hàng hóa cơ sở của các giao dịch phái sinh đã trở nên phongphú và đa dạng hơn rất nhiều, từ nguyên vật liệu đầu vào cho hoạt động sản xuất như dầu
mỏ, thép, kim loại màu, bông, đến các sản phẩm trên thị trường tài chính như ngoại tệ,chứng khoán, chỉ số chứng khoán, lãi suất Do vậy, các công cụ phái sinh có thể được sửdụng nhằm mục đích kinh doanh chênh lệch giá, đầu tư và cả mục đích đầu cơ Ngoài ra,các công cụ phái sinh được giao dịch trên thị trường là nguồn thông tin hiệu quả hìnhthành giá của tài sản cơ sở Khi các công cụ phái sinh được giao dịch trên thị trường sẽhình thành các mức giá của chính các công cụ này và trở thành nguồn thông tin hiệu quảtrong việc xác định giá của tài sản cơ sở Tính thanh khoản và giá trị giao dịch của thịtrường phái sinh trên thế giới rất lớn nên khó để một thế lực kinh tế nào có thể thao túnggiá nên các thông tin giá cả của thị trường rất đáng tin cậy, từ đó sẽ giúp nền kinh tế giúpcân đối giữa sản xuất và tiêu thụ Bên cạnh đó, công cụ phái sinh giúp tăng cường hiệu quảcủa thị trường tài chính nói chung thông qua việc các bên tham gia thị trường có cơ hộitiếp cận thông tin một cách công bằng, ngăn chặn được tình trạng độc quyền hay lũngđoạn giá Đấy cũng là lý do vì sao 92% trong số 500 công ty lớn nhất thế giới đã sử dụngcác công cụ phái sinh để quản trị rủi ro về giá (Deutsche Borse AG, 2008) và nhiều nước
Trang 12trên thế giới đã ban hành nhiều chính sách và các quy định nhằm quản lý và phát triển cácgiao dịch này Trong nền kinh tế thị trường, các yếu tố về giá cả, tỷ giá, lãi suất sẽ biếnđộng nhiều hơn theo quy luật cung cầu và do vậy các rủi ro sẽ xẩy ra nhiều hơn Khi màcác rủi ro về biến động giá có thể xẩy đến bất cứ lúc nào với các nhà đầu tư và ngày cànggia tăng trong quá trình hội nhập, thì phát triển thị trường các công cụ phái sinh được xemnhư là lá chắn quan trọng để hạn chế rủi ro của thị trường đối với những nhà đầu tư
Trong khi đó tại Việt Nam, khái niệm công cụ phái sinh chưa thực sự phổ biến vànhiều nhà đầu tư cá nhân, doanh nghiệp cũng chưa hiểu rõ về các công cụ này Một sốngười cho rằng, các công cụ phái sinh chỉ toàn mang đến lợi ích như: bảo hiểm rủi ro vềgiá hàng hóa, công cụ để đầu tư và tìm kiếm lợi nhuận Tuy nhiên, số khác lại cho rằng,tham gia thị trường này giống như đánh bạc, chủ yếu là nhờ vào vận may Tại Việt Namthị trường công cụ phái sinh hầu như chưa phát triển, mới chỉ manh nha hình thành ở mộtvài tài sản cơ sở như hàng nông sản (cà phê, cao su) và ngoại hối Đối với hàng nông sản,các giao dịch phái sinh trên thế giới chủ yếu thực hiện qua các sàn giao dịch, nhưng hiệnnay Sàn giao dịch hàng hóa Việt Nam mặc dù đã được thành lập từ năm 2010 vẫn chưathực hiện được vai trò là trung gian cho các nhà sản xuất, xuất khẩu gặp gỡ nhau để thỏamãn nhu cầu về phòng vệ rủi ro giá cả hàng hóa; cũng chưa trở thành kênh đầu tư hiệu quảcho các nhà đầu tư Các nhà sản xuất, xuất khẩu hàng nông sản của Việt Nam vẫn phảithực hiện nghiệp vụ phái sinh thông qua các sàn giao dịch hàng hóa lớn của thế giới Cònđối với những doanh nghiệp có nguồn thu chi bằng ngoại tệ lại gặp phải rủi ro về biếnđộng tỷ giá hối đoái, do vậy, nếu thị trường công cụ phái sinh ngoại hối tại Việt Nam pháttriển, các doanh nghiệp này sẽ được cung cấp đầy đủ các công cụ phòng ngừa rủi ro khi cónhu cầu Theo Bodnar (2011), khi đối mặt với rủi ro ngoại hối, tỷ lệ doanh nghiệp sửdụng công cụ phái sinh để phòng ngừa rủi ro vẫn chiếm tỷ trọng cao nhất (trên 70%)
Ngược lại, tài sản cơ sở là ngoại hối được giao dịch nhiều trên thị trường phi tậptrung nhưng doanh số vẫn còn khá khiêm tốn với các công cụ phổ biến là kỳ hạn và hoánđổi Một vài công cụ phái sinh khác như quyền chọn ngoại tệ- nội tệ được đưa vào áp dụngthí điểm trong thời gian ngắn và dừng lại cho đến nay Các doanh nghiệp Việt Nam không
có cơ hội để được sử dụng các công cụ quản trị rủi ro ngoại hối hữu hiệu mà nhiều doanhnghiệp trên thế giới đang sử dụng Sự kém phát triển của thị trường công cụ phái sinh làmột thách thức không nhỏ đối với các NHTM và doanh nghiệp Việt Nam trong quá trình
Trang 13mở cửa và hội nhập vào thị trường tài chính thế giới Vì vậy, vấn đề phát triển thị trườngcác công cụ phái sinh Việt Nam hiện nay trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết.
Như vậy, nếu không phát triển thị trường công cụ phái sinh, các doanh nghiệp củaViệt Nam sẽ mất đi cơ hội được sử dụng các công cụ hữu hiệu trong việc phòng ngừa rủi
ro về biến động giá cả hàng hóa, biến động tỷ giá và lãi suất như các doanh nghiệp trên thếgiới đang áp dụng
Xuất phát từ những nguyên nhân trên, tác giả chọn đề tài “Thị trường các công cụ phái sinh trên thế giới và giải pháp phát triển tại Việt Nam” làm Luận án tiến sĩ.
2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là trên cơ sở hệ thống hóa các vấn đề lý luận liênquan đến các công cụ phái sinh ngoại hối, phân tích thực trạng phát triển của các thịtrường công cụ phái sinh ngoại hối trên thế giới để từ đó rút ra được bài học kinh nghiệm
và đề xuất các giải pháp nhằm phát triển thị trường này tại Việt Nam
Để đạt được mục tiêu trên, tác giả đặt ra các nhiệm vụ cơ bản sau đây:
- Hệ thống lại cơ sở lý luận liên quan đến các công cụ phái sinh ngoại hối và thịtrường công cụ phái sinh ngoại hối, các điều kiện để phát triển thị trường CCPS ngoại hốitại Việt Nam
- Phân tích thực trạng phát triển của thị trường CCPS ngoại hối trên thế giới, đặcbiệt có phân tích điển hình thị trường CCPS ngoại hối của một số nước cụ thể (bao gồm cảthị trường còn phát triển non trẻ đến thị trường đã có bề dày hoạt động); phân tích thựctrạng phát triển thị trường CCPS ngoại hối của Việt Nam và đánh giá những kết quả đạtđược cũng như hạn chế và đưa ra các nguyên nhân cho thực trạng này
- Dự báo và xác định xu hướng phát triển của các thị trường CCPS nói chung và thịtrường CCPS ngoại hối trên thế giới, quan điểm về phát triển thị trường CCPS ngoại hốitại Việt Nam; đồng thời trên cơ sở kết quả khảo sát các điều kiện phát triển thị trườngCCPS ngoại hối tại Việt Nam tác giả sẽ đưa ra các giải pháp phát triển thị trường hơn nữathị trường CCPS ngoại hối
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Trong Luận án tiến sĩ, tác giả giới hạn đối tượng nghiên
cứu là thị trường công cụ phái sinh đối với tài sản cơ sở là ngoại hối và trên cơ sở lý luận,
Trang 14khái quát hóa sự hình thành và phát triển thị trường CCPS trên thế giới để tập trung nghiêncứu sự hình thành và phát triển thị trường CCPS ngoại hối Việt Nam.
Phạm vi nghiên cứu:
Do tài sản cơ sở trong các hợp đồng phái sinh đa dạng, phong phú nên nội dungnghiên cứu về thị trường các CCPS cũng rất rộng Để nội dung đề tài có tính tập trung, tácgiả giới hạn phạm vi nghiên cứu ở thị trường CCPS ngoại hối Lý do, nhu cầu sử dụngCCPS ngoại hối có thể phát sinh trong các doanh nghiệp thuộc bất kỳ lĩnh vực nào (xuấtnhập khẩu, thương mại, đầu tư, sản xuất, dịch vụ) Trong khi đó, thị trường CCPS ngoạihối tại Việt Nam đang hình thành nhưng chưa phát triển Mặt khác, theo nghiên cứu củaBodnar (2011), trong lĩnh vực ngoại hối, các doanh nghiệp có xu hướng sử dụng nhiều cáccông cụ phái sinh này để phòng vệ rủi ro hơn là sử dụng các biện pháp nghiệp vụ khác
Về mặt thời gian, phần thực trạng thị trường CCPS thế giới và tại Việt Nam tác giả
sử dụng liệu từ năm 2008 cho đến năm 2014 Tuy nhiên, tùy theo yêu cầu của một số nộidung cụ thể như phần phân tích về lịch sử hình thành và phát triển thị trường công cụ pháisinh trên thế giới và Việt Nam, dữ liệu được sử dụng từ khi các thị trường mới được thànhlập Một số số liệu thống kê được dùng trong bài có thể khác nhau nhưng không đáng kể
và không làm ảnh hưởng đến việc phân tích sự phát triển của toàn thị trường Sự chênhlệch giữa các số liệu này là do việc làm tròn số trong quá trình thống kê và phân tích củatác giả
4 Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, để hoàn thành
đề tài luận án tiến sĩ này, tác giả đã sử dụng kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu, cụ thểnhư sau:
- Tác giả thu thập số liệu thứ cấp từ các nguồn đáng tin cậy như các đề tài nghiêncứu khoa học, kỷ yếu hội thảo, bài đăng tạp chí, các nghiên cứu của các tổ chức, cá nhântrong và ngoài nước, đồng thời tham gia các hội thảo trong nước và quốc tế liên quan đếnviệc phát triển thị trường CCPS tại Việt Nam nhằm thu thập thông tin và số liệu về lịch sửhình thành và thực trạng phát triển của thị trường CCPS trên thế giới và Việt Nam
- Thực hiện việc điều tra, khảo sát thực tế thông qua mẫu phiếu khảo sát đối với cácdoanh nghiệp trên địa bàn Tp Hồ Chí Minh, Bình Dương và Đồng Nai để thu thập thôngtin, lấy ý kiến đánh giá về việc sử dụng các CCPS tại các doanh nghiệp này Đối tượng trả
Trang 15lời phiếu khảo sát là các cán bộ quản lý (trưởng/phó phòng ban, Giám đốc bộ phận, Giámđốc công ty) chịu trách nhiệm mảng hoạt động tài chính- kinh doanh của doanh nghiệphoặc cán bộ, nhân viên các phòng ban XNK, kinh doanh, tài chính Tác giả đã tiến hànhkhảo sát 135 doanh nghiệp trong các lĩnh vực như xuất nhập khẩu, thương mại, dịch vụ,xây dựng và đã thu về được 120 phiếu trả lời, trong đó có 105 phiếu trả lời hợp lệ Dữ liệutrong 105 phiếu trả lời hợp lệ này đã được tác giả dùng để phân tích bằng công cụ phântích định lượng.
- Phỏng vấn trực tiếp hoặc qua điện thoại, email các chuyên gia về công cụ pháisinh tại một số Ngân hàng thương mại Việt Nam như Vietcombank, Maritimebank,Techcombank, Vietinbank, BIDV, VIB về việc cung cấp các sản phẩm công cụ phái sinhngoại hối, những thuận lợi khó khăn, những bất cập trong việc triển khai các giao dịchphái sinh ngoại hối tại các ngân hàng
- Sử dụng các phương pháp nghiên cứu truyền thống như phương pháp thống kê,phương pháp phân tích – tổng hợp, phương pháp đối chiếu – so sánh để phân tích, đánhgiá thực trạng thị trường CCPS trên thế giới trong mối liên hệ so sánh, đối chiếu các đốitượng được phân tích với nhau; phân tích các điều kiện phát triển một số thị trường CCPStrên thế giới và Việt Nam nhằm đề xuất các giải pháp có tính khả thi giúp phát triển thịtrường CCPS tại Việt Nam
Trong phần dự báo quy mô thị trường công cụ phái sinh toàn cầu, tác giả đã sửdụng mô hình ARIMA và phần mềm SPSS để xử lý chuỗi số liệu về quy mô thị trườngthông qua chỉ tiêu về giá trị danh nghĩa của các hợp đồng đang còn hiệu lực từ năm 1998đến năm 2014 Số liệu thứ cấp tác giả tổng hợp từ các báo cáo (báo cáo quý, báo cáo năm,báo cáo 3 năm) của Ngân hàng thanh toán bù trừ BIS
5 Tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực đề tài
Các nghiên cứu ở nước ngoài
Trên thế giới đã có các một số công trình nghiên cứu về CCPS và thị trường CCPS
ở nhiều khía cạnh khác nhau:
Nghiên cứu về lợi ích và cả những tác động tiêu cực của CCPS nói chung đối vớithị trường tài chính cũng như toàn bộ nền kinh tế có các tác giả như Randall (2001), Eric
& Junghoon (2005), Chow, Li and Liu (2005) hay Anna (2009) Các công trình này tậptrung nghiên cứu nguyên nhân gây ra các cuộc khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997-
Trang 161998, cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008 và một số cuộc khủng hoảng kinh tế tại một
số nước khác và vai trò của CCPS trong các cuộc khủng hoảng này Các nghiên cứu nàykhông đề cập riêng đến CCPS ngoại hối
Một số các tác giả khác lại nghiên cứu các ứng dụng thực tiễn của công cụ pháisinh trong phòng vệ rủi ro thông qua phân tích các ảnh hưởng của công cụ phái sinh đốivới rủi ro và giá trị của doanh nghiệp, như Sohnke, Gregory và Jennifer (2009), Peter M.Garber (1998), Mark (1995) hay Rene (2004) Trong một số nghiên cứu khác của Söhnke,Gregory và Frank (2006), Bodnar, Gregory, Richard và Charles W (1995), Bodnar,Gregory và Richard (1996), Bodnar, Gordon và Gunther Gebhardt (1998), Bodnar vàGiambona (2012), Downi David, McMillanvà Ed Nosal (1996) hay Yahagida Munehiko
và Koji Inui (1995) phân tích về tình hình sử dụng các công cụ phái sinh cũng như thái độ
về việc sử dụng các công cụ phái sinh của các doanh nghiệp trên thế giới, đặc biệt nhấnmạnh các doanh nghiệp tại Mỹ, Đức, Canada, Nhật Bản Tuy vậy, chưa có nghiên cứu nào
đề cập cụ thể và trực tiếp về tình hình sử dụng các CCPS, đặc biệt là CCPS ngoại hối tạiViệt Nam Các nghiên cứu này cũng không đề cập đến điều kiện để phát triển thị trườngCCPS
Liên quan đến các điều kiện phát triển thị trường CCPS, trong Báo cáo nghiên cứu
“Derivatives market development” ở dạng sách trắng, do Tổ chức Giải pháp thị trường
Aberta (Aberta Market solutions Ltd) của Vancouver, Cananda ấn hành vào năm 2003 có
đã đề cập đến một số yếu tố chủ yếu trong xây dựng một thị trường phái sinh mới như cácthành phần tham gia thị trường, nguồn luật điều chỉnh, vai trò của việc tạo ra các CCPSmới Tuy nhiên, nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở việc mô tả sơ lược các yếu tố tạo nên thịtrường, chứ chưa đề cập và phân tích sâu đến các điều kiện đó Trong báo cáo nghiên cứu
The world’s commodity exchanges: past - present – future của UNCTAD (2006) có đề cập
đến các điều kiện thành lập Sàn giao dịch, tuy nhiên, chưa nhấn mạnh đến các yếu tố thúcđẩy sự phát triển của các Sàn giao dịch, đặc biệt là các Sàn giao dịch CCPS ngoại hối Một
số nghiên cứu khác đề cập đến các khía cạnh liên quan trực tiếp đến sự phát triển thịtrường CCPS, đó là yếu tố về hệ thống pháp luật điều chỉnh CCPS, như Paul Latimer(2008) nghiên cứu về các quy định đối với các giao dịch phái sinh OTC tại Úc; Hui (2012)phân tích quá trình phát triển thị trường CCPS cũng như sơ lược về các quy định pháp lývới thị trường CCPS tại Trung Quốc
Trang 17Đây là những các công trình nghiên cứu nổi trội về các vấn đề liên quan đến nộidung của luận án mà tác giả tiếp cận được, nhưng trong số này chưa có nghiên cứu nào đềcập toàn diện đến các điều kiện phát triển thị trường CCPS nói chung và thị trường CCPSngoại hối nói riêng tại Việt Nam, đặc biệt trong thời kỳ mở cửa và hội nhập với thị trườngtài chính thế giới.
5.2 Các nghiên cứu ở Việt Nam
Tại Việt Nam cũng đã có một số các nghiên cứu về thị trường CCPS và CCPSngoại hối, như Hồ Thúy Ái (2007) phân tích các ứng dụng công cụ ngoại hối phái sinh vàoviệc bảo hiểm rủi ro tỷ giá, Việt Bảo (2007) phân tích về tình hình phát triển nghiệp vụ tàichính phái sinh ở Việt Nam, Nguyễn Thị Thanh Hương (2007) đề cập đến giải pháp kếtoán nhằm phát triển thị trường công cụ tài chính phái sinh ở Việt Nam, Nguyễn Thúy(2008) bàn về việc phát triển các công cụ phái sinh trên thị trường ngoại hối Việt Nam,hay Phạm Thu Thủy (2011) nghiên cứu kinh nghiệm phát triển thị trường công cụ pháisinh ở các nền kinh tế mới nổi và đưa ra những định hướng cho thị trường Việt Nam, ĐinhThị Thanh Long (2014) đề cập đến thực trạng giao dịch phái sinh ngoại hối tại Việt Nam
Tuy nhiên, hầu hết các nghiên cứu kể trên chỉ tập trung vào một số khía cạnh cụ thể
và các giải pháp mang tính chất gợi ý trong việc phát triển thị trường CCPS tại Việt Nam,
mà chưa phân tích sâu và toàn diện về thực trạng phát triển thị trường CCPS của Việt Namcũng như phân tích và đánh giá các điều kiện để phát triển thị trường này
Một số nghiên cứu khác chỉ mới dừng lại ở cấp độ là Luận văn thạc sỹ và khóa luậntốt nghiệp đại học, như Bùi Thị Xuân (2010) bàn về ứng dụng các công cụ ngoại hối pháisinh ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, Lê Thị Khánh Phương (2009) phân tích cácbiện pháp phát triển công cụ phái sinh trong phòng ngừa rủi ro tỷ giá tại các NHTM ViệtNam, Vũ Trần Thanh Long (2012) tìm hiểu về một số thị trường chứng khoán phái sinhtrên thế giới và khả năng áp dụng tại Việt Nam
Đề tài NCKH cấp cơ sở của Huỳnh Thị Hương Thảo (2014) cũng chỉ bàn về việc
sử dụng công cụ tài chính phái sinh trong quản lý rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thươngmại ở Việt Nam chứ không đi sâu vào phân tích thị trường CCPS ngoại hối cũng như các
điều kiện hình thành và phát triển thị trường này tại Việt Nam Kỷ yếu Hội thảo Phát triển hoạt động và mở rộng mặt hàng giao dịch qua Sở giao dịch hàng hóa trong thời kỳ hội nhập, Bộ Công Thương phối hợp với MUTRAP, 2012 lại tập trung vào phát triển thị
Trang 18trường CCPS hàng hóa thông qua việc mở rộng danh mục mặt hàng được giao dịch qua Sở
giao dịch Nghiên cứu của Phạm Nguyễn Hoàng (2011) đã đề cập đến điều kiện hình thành và phát triển thị trường tương lại tại Việt Nam, tuy nhiên, chỉ mới nêu các điều kiện
để phát triển thị trường đối với hợp đồng tương lai, bao gồm (1) điều kiện về thể chế, luậtpháp, (2) điều kiện về kinh tế- tài chính, (3) điều kiện về kỹ thuật Kết quả nghiên cứu củaPhạm Nguyễn Hoàng (2011) và của Tổ chức Giải pháp thị trường Aberta, Canada (2003)
là cơ sở và gợi ý quan trọng về các điều kiện phát triển thị trường CCPS nói chung; trênnền tảng đó, tác giả đã lựa chọn và phân tích kỹ các điều kiện quan trọng quyết định đến
sự phát triển thị trường CCPS ngoại hối của Việt Nam, đặc biệt trong bối cảnh Việt Namđang hội nhập vào thị trường tài chính toàn cầu
Như vậy, trong phạm vi nghiên cứu của tác giả, qua các công trình nghiên cứu kểtrên chưa có công trình nào nghiên cứu đầy đủ cả về lý thuyết lẫn thực tiễn áp dụng cácCCPS ngoại hối trên thế giới và Việt Nam; các nghiên cứu trên chưa đánh giá toàn diệncác điều kiện phát triển của thị trường các CCPS ngoại hối ở Việt Nam trong tương quan
so sánh, đối chiếu với sự các điều kiện phát triển của thị trường CCPS ngoại hối của một
số nước trên thế giới
7 Những điểm mới của luận án
Nhằm giải quyết mục tiêu đề ra của Luận án, nghiên cứu của tác giả trong Luận ántiến sĩ này đã đạt được một số điểm mới như sau:
- Hệ thống lại cơ sở lý luận về CCPS và CCPS đối với tài sản cơ sở là ngoại hối,đưa ra được các định nghĩa cụ thể gắn liền với các dạng thức của CCPS ngoại hối đồng
Trang 19thời phân tích và đưa ra được các điều kiện để phát triển thị trường CCPS ngoại hối trongbối cảnh Việt Nam mở cửa và gia nhập thị trường tài chính toàn cầu nói chung và ngoạihối nói riêng.
- Phân tích và đánh giá được tình hình phát triển chung của thị trường CCPS trênthế giới và thị trường CCPS ngoại hối nói riêng (có phân tích 3 trường hợp điển hình làNhật Bản, Ấn Độ và Trung Quốc), qua đó rút ra được những bài học kinh nghiệm về pháttriển thị trường CCPS cho Việt Nam Tác giả không chỉ phân tích về thực trạng phát triểnCCPS ngoại hối của Việt Nam mà còn đánh giá được các điều kiện để phát triển thị trườngnày dựa trên các phân tích so sánh và nghiên cứu thực tiễn qua kết quả khảo sát các DN vàphỏng vấn các chuyên gia trong lĩnh vực phái sinh tại các NHTM của Việt Nam
- Dựa trên đánh giá các điều kiện phát triển thị trường CCPS ngoại hối tại ViệtNam, tác giả đã đề xuất các giải pháp cụ thể, chặt chẽ và có tính khả thi theo các điều kiện
đó để nhằm phát triển thị trường CCPS ngoại hối, đặc biệt là các giải pháp này gắn với bốicảnh Việt Nam đang gia nhập vào thị trường tài chính thế giới nói chung và thị trườngngoại hối nói riêng
Trang 20CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG CỤ PHÁI SINH VÀ THỊ TRƯỜNG CÔNG CỤ PHÁI SINH NGOẠI HỐI
1.1 Công cụ phái sinh
1.1.1 Lịch sử hình thành công cụ phái sinh
Mặc dù được xem là sản phẩm của nền kinh tế- tài chính hiện đại, nhưng công cụphái sinh manh nha hình thành từ rất lâu đời Các hợp đồng tương lai hàng hóa được cho
là xuất hiện đầu tiên tại Nhật Bản vào khoảng những năm 1700 Những người nông dân cóthể mang gạo đến các thành phố lớn như Osaka, nơi mà gạo được lưu trữ và bán tại nhữngcuộc đấu giá Những nhà buôn được cấp phép sẽ đấu giá và người thắng cuộc sẽ bán gạo
và nhận được một biên nhận để sau đó có thể đổi sang tiền mặt Dần dần, những phiếubiên nhận này trở thành vật được giao dịch chính Nhà buôn mua bán các giấy biên nhậnnày trên một thị trường riêng và gạo trở thành tài sản cơ sở Đến khoảng năm 1730, sàngiao dịch gạo Dojima tại Nhật được hình thành, cho phép tiến hành mua bán gạo theo haihình thức: giao ngay và kỳ hạn Với hình thức giao ngay, các bên sẽ tiến hành giao nhậnhàng hóa và biên nhận hàng sẽ được đổi thành tiền trong vòng 4 ngày Với hình thức giaosau, các giao dịch sẽ được lưu vào sổ sách tại phòng thanh toán bù trừ Kỳ hạn của các hợpđồng gạo này tối đa là 4 tháng Các điều khoản của hợp đồng này cũng đã được tiêu chuẩnhóa, như số lượng, chất lượng và kỳ hạn hợp đồng tối đa là 4 tháng Các hợp đồng nàyđược thanh toán theo một trong hai cách: thanh toán bù trừ bằng tiền mặt khi đáo hạnhoặc ký một hợp đồng đối ứng Tuy nhiên, sau hơn 200 năm hoạt động, thị trường đóngcửa vào năm 1937
Vào thập niên 40 thế kỷ XIX, Chicago đã trở thành một trung tâm thương mại lớncủa Hoa Kỳ, do vậy, những người nông dân trồng lúa mì từ khắp nơi đều quy tụ vềChicago để bán sản phẩm của họ Nếu giá cả tăng lên, nông dân luôn sẵn sàng đẩy mạnhsản xuất, nhưng ngược lại nếu giá cả giảm sút sẽ xảy ra hiện tượng bán tống bán tháo hàngloạt dẫn đến những trường hợp không đủ nhà kho chứa lúa mì của nông dân Ngoài ra, sựtồn tại những phương pháp nghèo nàn trong việc cân và phân loại hàng hóa đã đẩy ngườinông dân vào tình thế phải chịu sự định đoạt của các thương nhân Cũng tương tự, nhữngthương nhân luôn đối mặt với những rủi ro tiềm ẩn do biến động trong giá cả gây nên Một
cơ chế để có thể giảm thiểu hay hạn chế những rủi ro trên là nhu cầu bức thiết Bằngnhững thoả thuận trước về giá cả, người mua cũng như người bán có thể phòng ngừa được
Trang 21những rủi ro do biến động giá cả trong tương lai gây nên Nhờ đó, nông dân xác định đượcmột mức giá chắc chắn cho lượng hàng họ sẽ sản xuất ra mà không phải lo ngại về tìnhtrạng nguồn cung quá lớn sẽ dẫn đến giảm giá, gây thiệt hại cho đời sống của họ Nhữngthương nhân đóng vai trò trung gian giữa nông dân và người tiêu dùng cuối cùng sẽ khôngcòn phải lo ngại về những biến động bất lợi của giá cả khi họ có thể phải thu mua với giácao và bán ra với mức giá thấp không được dự tính trước.
Năm 1848, Sở giao dịch thương mại Chicago (CBOT) được thành lập nhằm mụcđích trước hết là quy tụ các nông dân và thương nhân trong buôn bán ngũ cốc Sở đã tiêuchuẩn hóa khối lượng và chất lượng sản phẩm giúp các bên dễ dàng trong việc định giá vàthúc đẩy hoạt động mua bán hàng hóa Chỉ sau đó một vài năm, loại hợp đồng future đầutiên, hợp đồng giao sau (to-arrive contract) được ra đời Hợp đồng "to-arrive" này chophép bên bán được giao hàng sau tại một thời điểm nhất định đã được thỏa thuận trướctrong hợp đồng Ngay lập tức, loại hợp đồng này đã thu hút sự quan tâm đặc biệt của cácnhà đầu cơ, giao dịch với loại hợp đồng này hấp dẫn hơn là chỉ mua bán hàng hóa đơnthuần, bởi lẽ người ta có thể mua đi bán lại các hợp đồng này trước đến hạn
Vào năm 1973, Sở giao dịch quyền chọn Chicago (The Chicago Board OptionsExchange- CBOE) bắt đầu giao dịch các hợp đồng quyền chọn mua (call options) đối với
16 loại cổ phiếu Thực tế thì trước đó các loại hợp đồng quyền chọn đã được giao dịch,nhưng chỉ đến năm này Sở giao dịch quyền chọn Chicago (CBOE) mới áp dụng thànhcông các mẫu hợp đồng đã được Sở tiêu chuẩn hóa Còn hợp đồng quyền chọn bán (putoptions) bắt đầu được giao dịch trên sàn từ năm 1977 Giờ đây Sở giao dịch quyền chọnChicago cung cấp các hợp đồng quyền chọn với hơn 1.000 loại cổ phiếu và nhiều chỉ số cổphiếu khác nhau Quyền chọn tiền tệ lần đầu tiên được đưa vào giao dịch tập trung trên thịtrường chứng khoán Philadenphia vào tháng 12 năm 1982 Đó là các quyền chọn BảngAnh Các quyền chọn tiền tệ cũng được kinh doanh trên Sở giao dịch quyền chọn Chicago(Chicago Board Options Exchange) và Sở giao dịch tài chính tương lai Quốc tế ở LuânĐôn (London International Financial Futures Exchange – LIFFE) Cũng giống như hợpđồng tương lai, các hợp đồng quyền chọn giờ đây cũng trở nên phổ biến và được giao dịch
ở nhiều sàn giao dịch trên khắp thế giới
Từ các tài sản cơ sở đầu tiên chỉ là nông sản, đến nay, có thể nói bất kỳ một loạihàng hóa, dịch vụ nào cũng có thể trở thành tài sản cơ sở của các giao dịch phái sinh Tàisản cơ sở của các hợp đồng quyền chọn có thể là ngoại hối, các hợp đồng tương lai, các
Trang 22loại chứng khoán hay chỉ số chứng khoán (Hull, 2009) Ngày nay, các công cụ đã vượt xakhỏi giới hạn của hợp đồng nông sản ban đầu, nó trở thành công cụ tài chính để phòng vệrủi ro biến động giá cả hàng hóa, lãi suất, chứng khoán và tỷ giá
1.1.2 Khái niệm
Trên thế giới, phái sinh là một khái niệm quen thuộc đối với nhiều nhà đầu tư, đầu
cơ, các tổ chức tài chính và phi tài chính “Phái sinh” được dịch từ nguyên gốc tiếng Anh
là “derivative”, có nghĩa là “bắt nguồn từ” hay “phát sinh từ”
Phái sinh được định nghĩa là một công cụ tài chính mà giá trị của nó phụ thuộc vào(bắt nguồn từ) giá trị của các biến cơ sở hay tài sản cơ sở (underlying assets) (Hull 2012),
là một công cụ tài chính có khoản thu nhập trong tương lai được phát sinh từ giá trị củacác tài sản cơ sở (Rene 2004, tr.3) hay là các công cụ tài chính mà khoản thu nhập củachúng sẽ bắt nguồn từ khoản thu nhập của các công cụ tài chính khác (Don 2009) Trongtrường hợp này “phái sinh” được coi là các công cụ
Có tác giả cho rằng phái sinh là một loại chứng khoán phát sinh giá trị của nó từ giátrị hoặc khoản lãi của các tài sản hay chứng khoán khác (CFA 2009, tr.159) và là các tàisản mà giá trị của chúng được xác định bởi giá trị của một số tài sản khác, gọi là tài sản cơ
sở (KPMG 2009, tr.3) Còn theo Philippe Jorion (2003, tr.105): Công cụ phái sinh đượcxác định chung là một loại hợp đồng mà giá trị của nó được phát sinh từ giá cả của một vàitài sản cơ sở, tỷ giá tham chiếu hoặc giá trị của các chỉ số, như cổ phiếu, trái phiếu hayhàng hóa
Tại Việt Nam, trong Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 (khoản 23 Điều 4) thuậtngữ sản phẩm phái sinh được giải thích là công cụ tài chính được định giá theo biến động
dự kiến về giá trị của một tài sản tài chính gốc như tỷ giá, lãi suất, ngoại hối, tiền tệ hoặctài sản tài chính khác
Về mặt ngôn ngữ, từ “phái sinh” (derivative hoặc derivatives) trong các tài liệu trênđược dùng như một danh từ và hầu hết các định nghĩa đều thừa nhận phái sinh là một loạicông cụ tài chính; số còn lại coi đó là một dạng tài sản hay một loại chứng khoán hoặc hợpđồng Tuy khác nhau trong cách diễn đạt và chưa hoàn toàn thống nhất trong mô tả và gọitên khái niệm này, song tất cả định nghĩa đều có một điểm chung là giá trị của phái sinhđều được bắt nguồn từ giá trị của các công cụ khác hoặc từ giá trị của các tài sản khác
Trang 23Vậy nên hiểu “phái sinh” như thế nào cho đúng? Theo tác giả, nên hiểu “phái sinh”
là một dạng công cụ vì ngay từ khi ra đời, bản thân “phái sinh” đã trở thành phương tiệngiúp cho các đối tượng sở hữu nó đạt được một mục đích nhất định là phòng ngừa rủi ro
về biến động giá cả Không nên chỉ xem phái sinh là một dạng tài sản vì nếu như vậy thìphái sinh phải luôn đem lại giá trị dương về tiền như tất cả các loại tài sản khác, trong khi
rõ ràng phái sinh có thể đưa lại giá trị âm Phái sinh cũng không hoàn toàn giống nhưchứng khoán, vì bản chất của hai loại này là khác nhau Chứng khoán như cổ phiếu haytrái phiếu ra đời nhằm mục đích huy động hay tăng vốn, trong khi phái sinh ra đời từ yêucầu bảo hiểm rủi ro về giá
Là một công cụ tài chính, có nghĩa là giá trị của công cụ phái sinh không nằm ởhình thái vật chất của nó, mà ở các quyền pháp lý gắn với đối tượng được đề cập trongcông cụ Như giá trị của cổ phiếu không nằm ở hình thái vật chất là tờ giấy chứng nhận cổphiếu mà phụ thuộc vào quyền lợi hay thu nhập hợp pháp trong tương lai từ cổ phiếu đó.Tương tự như vậy, giá trị công cụ phái sinh được “phát sinh” từ các quyền pháp lý trongtương lai liên quan đến tài sản cơ sở Trong giai đoạn đầu phát triển của công cụ phái sinh,các tài sản cơ sở thường là hàng hóa hữu hình, như hàng nông sản, nguyên liệu đầu vàocho hoạt động sản xuất Giá trị của các công cụ phái sinh lúc này cũng dễ xác định vì nó
có liên quan đến các quyền lợi pháp lý đối với các tài sản cơ sở dạng vật chất, ví dụ nhưquyền mua, bán, trao đổi các hàng hóa cơ sở Tuy nhiên, ngày nay tài sản cơ sở của cáccông cụ phái sinh phát triển rất đa dạng, không những là các hàng hóa có thể mua bán vàgiao nhận bằng vật chất, mà còn là các hàng hóa vô hình, thậm chí cả những hàng hóakhông bao giờ có thể mua bán được trên thị trường giao ngay như rủi ro tín dụng, chỉ sốchứng khoán, chỉ số thời tiết, lượng khí các bon phát thải Trong trường hợp này, giá trịcủa công cụ phái sinh sẽ phụ thuộc vào sự thay đổi giá trị của các biến số cơ sở Tại sao lạinhư vậy?
Công cụ phái sinh hàm chứa trong nó quyền đối với những lợi ích mà những người
sở hữu công cụ phái sinh nhận được trong tương lai Một khi công cụ hàm chứa các lợi íchtrong tương lai thì sẽ làm phát sinh các nhu cầu đối với lợi ích đó, như nhu cầu trao đổi,chuyển nhượng và mua bán công cụ phái sinh Như vậy, thị trường công cụ phái sinh hìnhthành khi xuất hiện nhiều nhu cầu về trao đổi, chuyển nhượng, mua bán các công cụ pháisinh Lúc này, các công cụ phái sinh sẽ được thể hiện dưới dạng các hợp đồng, trong đóquy định cam kết thực hiện nghĩa vụ của một hoặc các bên tham gia hợp đồng Giá cả của
Trang 24tài sản cơ sở trong các hợp đồng phái sinh đều được xác định và thỏa thuận trước tại thờiđiểm ký kết hợp đồng; tuy nhiên việc thực hiện các cam kết thường được diễn ra sau mộtkhoảng thời gian nhất định nên giá cả thị trường của các tài sản cơ sở hoặc giá trị các biến
số cơ sở khi đó sẽ thay đổi Sự thay đổi này sẽ làm thay đổi dòng tiền trong tương lai củacác công cụ phái sinh, hay nói cách khác thu nhập trong tương lai của các công cụ pháisinh cũng sẽ thay đổi theo
Nói tóm lại, công cụ phái sinh là một công cụ tài chính mà thu nhập trong tương lai của nó phụ thuộc vào sự thay đổi của các biến số cơ sở, như giá của hàng hóa, tỷ giá, lãi suất, chỉ số chứng khoán hay các loại chỉ số khác.
1.1.3 Phân loại
Ngày nay, công cụ phái sinh phát triển rất đa dạng và vẫn không ngừng xuất hiệnnhững loại công cụ phái sinh mới Chúng ta có nhiều cách để phân loại công cụ phái sinh,nhưng phổ biến hơn cả là hai cách phân loại dựa vào 2 tiêu chí sau:
Thứ nhất, dựa theo sự quy chuẩn của các công cụ phái sinh, chúng ta có thể chia
chúng thành 2 nhóm lớn là phái sinh tiêu chuẩn và phái sinh phi tiêu chuẩn Nhóm công cụphái sinh tiêu chuẩn bao gồm: các hợp đồng tương lai (futures contracts) và hợp đồngquyền chọn tiêu chuẩn (plain vanilla options) được giao dịch trên thị trường có tổ chứchay các sàn giao dịch; nhóm còn lại bao gồm hợp đồng kỳ hạn (forward contracts), hợpđồng hoán đổi (swap contracts), quyền chọn ngoại lai (exotic options) và các công cụ pháisinh ngoại lai khác được giao dịch trên thị trường phi tập trung (over-the-counter)
Thứ hai, dựa vào mối quan hệ giữa thu nhập của các công cụ phái sinh với giá trị
của các biến cơ sở, chúng ta có hai loại chính: (1) công cụ phái sinh có thu nhập quan hệtuyến tính với sự biến động của giá trị các biến cơ sở, bao gồm các cam kết kỳ hạn nhưcông cụ kỳ hạn, công cụ tương lai, công cụ hoán đổi; (2) công cụ phái sinh có thu nhậpquan hệ phi tuyến tính là công cụ quyền chọn Đối với các công cụ nhóm 1, khi giá của tàisản cơ sở thay đổi thì lập tức khoản thu nhập của công cụ phái sinh cũng sẽ thay đổi tươngứng Những hợp đồng dạng này nhìn chung tương đối dễ hiểu và dễ dàng trong việc địnhgiá Đối với nhóm 2, giá của tài sản cơ sở và khoản thu nhập của công cụ phái sinh có thểkhông biến động cùng tỷ lệ với nhau
Trên thực tế, các công cụ phái sinh ngoại lai (các công cụ lai tạo giữa các phái sinh
cơ bản) thì gần như thay đổi thường xuyên, nhưng các công cụ cơ bản thì hầu như không
Trang 25thay đổi nhiều Và cho dù các công cụ phái sinh được phân nhóm như thế nào thì tựu trunglại chúng cũng có những loại cơ bản sau đây: công cụ kỳ hạn (forwards), công cụ hoán đổi(swaps), công cụ tương lai (futures), công cụ quyền chọn (options).
1.1.3.1 Công cụ kỳ hạn
Ra đời từ rất sớm, công cụ kỳ hạn là hình thức đơn giản nhất trong các công cụ pháisinh Công cụ kỳ hạn là công cụ tài chính được áp dụng để mua bán một số lượng nhấtđịnh tài sản cơ sở ở một thời điểm xác định trong tương lai theo một mức giá đã được thỏathuận trước Nghĩa là, với công cụ kỳ hạn, hai bên mua bán có thể thỏa thuận trước cácđiều khoản liên quan hàng hóa cũng như các điều kiện giao nhận hàng hóa và thanh toán
sẽ diễn ra trong tương lai Công cụ kỳ hạn được thể hiện trên thị trường dưới hình thức làhợp đồng kỳ hạn Khác với hợp đồng giao ngay, hợp đồng kỳ hạn có ngày thanh toán (haycòn gọi là ngày đáo hạn hoặc ngày giá trị hợp đồng) thông thường là sau hai ngày kể từngày ký hợp đồng Thời gian từ khi ký hợp đồng đến ngày thanh toán gọi là kỳ hạn củahợp đồng Giá xác định áp dụng trong ngày thanh toán hợp đồng gọi là giá kỳ hạn
Công cụ kỳ hạn được sử dụng để mua bán một loại tài sản vào một thời điểm cụ thểtrong tương lai, nhưng tại thời điểm hiện tại các bên sẽ xác định trước mức giá áp dụngcũng như cách thức thanh toán và kết thúc hợp đồng Một số đặc điểm của công cụ kỳ hạn:
- Công cụ kỳ hạn là công cụ tài chính tự do thỏa thuận Các bên tham gia được tự
do thỏa thuận các điều khoản, như loại tài sản cơ sở, số lượng, chất lượng hay tiêu chuẩnhàng hóa, giá kỳ hạn, thời gian đáo hạn, cách thức giao hàng, cách thức thanh toán và kếtthúc hợp đồng
- Công cụ kỳ hạn không yêu cầu bất kỳ một khoản thanh toán nào từ hai phía ngaytại thời điểm ký kết hợp đồng kỳ hạn Việc giao hàng và thanh toán giá trị của hợp đồng sẽđược tiến hành khi hợp đồng đáo hạn
- Do các điều khoản của hợp đồng không được chuẩn hóa, hợp đồng kỳ hạn đượcgiao dịch trên thị trường phi tập trung hay thị trường OTC
- Khi tham gia vào hợp đồng kỳ hạn, hai bên mua bán không phải tiến hành đặt cọc
để bảo bảo khả năng thực hiện hợp đồng của mình nên rủi ro đối tác, rủi ro tín dụng tronghợp đồng hoán đổi là rất lớn
- Các chủ thể của thị trường chủ yếu sử dụng công cụ kỳ hạn với mục đích phòng
vệ rủi ro về biến động giá cả của hàng hóa cơ sở hơn là mục đích đầu cơ và kinh doanh
Trang 26chênh lệch giá Do các điều khoản của hợp đồng kỳ hạn không được chuẩn hóa nên tínhthanh khoản của các hợp đồng này không cao, dẫn đến việc các nhà đầu cơ sẽ khó khăntrong việc giao dịch hợp đồng này trên thị trường thứ cấp.
- Có 2 cách thức phổ biến để kết thúc hợp đồng kỳ hạn khi đáo hạn: (1) kết thúcbằng việc một bên sẽ giao hàng thật sự và bên kia sẽ thanh toán giá trị hợp đồng theo giá
kỳ hạn; (2) kết thúc hợp đồng bằng việc thanh toán bằng tiền mặt (bù trừ chênh lệch giữagiá giao ngay vào giá kỳ hạn) Đa số các hợp đồng kỳ hạn đều được kết thúc theo cách thứnhất Ngoài ra, các bên tham gia hợp đồng còn có thể chọn cách mua/bán lại hợp đồngtrước khi đáo hạn; tuy vậy, do hợp đồng kỳ hạn là thỏa thuận riêng của hai bên mua bántrước đó nên rất khó để nó được mua bán lại
Đối với hợp đồng có thỏa thuận là giao hàng vật chất vào một ngày đã được xácđịnh trước, một bên sẽ có nghĩa vụ nhận hàng và thanh toán và bên kia có nghĩa vụ giaohàng và nhận tiền cho một số lượng cụ thể tài sản cơ sở với mức giá mức giá đã xác định,bất chấp giá thị trường lúc đó là bao nhiêu đi nữa Trong trường hợp nếu giao hàng thật làkhó khăn hoặc có sự thỏa thuận trước của hai bên mua bán, hợp đồng kỳ hạn có thể khôngthực hiện việc giao hàng thực tế vào thời điểm đáo hạn mà chỉ tiến hành thanh toán bù trừgiữa giá giao ngay với giá kỳ hạn của tài sản cơ sở Ví dụ, nếu tài sản cơ sở là chỉ số củamột thị trường chứng khoán (giả sử là HNX-30), việc thực hiện thanh toán bù trừ bằngtiền mặt chắc chắn sẽ được hai bên lựa chọn vì dễ dàng thực hiện hơn nhiều so với giaohàng thật Vào ngày đáo hạn, bên mua nhận một khoản thanh toán nếu giá giao ngay caohơn giá kỳ hạn; bên bán sẽ nhận một khoản thanh toán nếu giá giao ngay thấp hơn giá kỳhạn của tài sản cơ sở
- Như đã trình bày ở trên, các hợp đồng kỳ hạn sẽ phải chờ đến ngày đáo hạn củahợp đồng để thanh toán và kết thúc Nhưng một bên của hợp đồng có thể kết thúc vị thếtrong hợp đồng của mình trước hạn bằng việc sử dụng một công cụ kỳ hạn khác đối ứng
có ngày đáo hạn trùng với thời gian trên hợp đồng gốc Trong hợp đồng gốc, bên muađang nắm giữ vị thế trường và nếu bên mua muốn kết thúc vị thế của mình trước khi hợpđồng gốc đáo hạn thì anh ta sẽ tham gia vào vị thế đoản trong một hợp đồng khác Hợpđồng đối ứng này có thể được ký kết với một đối tác khác hoặc có thể với chính đối táctrong hợp đồng gốc
1.1.3.2 Công cụ tương lai
Trang 27Công cụ tương lai có thể coi là một hình thức đặc biệt của công cụ kỳ hạn, là hìnhthức chuẩn hóa của công cụ kỳ hạn được giao dịch trên thị trường có tổ chức Công cụtương lai là thỏa thuận mua bán các tài sản cơ sở trong tương lai với mức giá được xácđịnh trước và khi giao dịch trên thị trường thì sẽ được thể hiện dưới dạng hợp đồng tươnglai.
Những đặc điểm giống nhau giữa công cụ kỳ hạn và tương lai:
- Cả hai công cụ đều được dùng để phòng vệ rủi ro trong biến động giá, bằng cách
cố định mức giá mà các bên kỳ vọng trong tương lai ngay tại thời điểm ký kết hợp đồng.Nếu hợp đồng tương lai được duy trì và kết thúc vào lúc đáo hạn thì bên bán sẽ có nghĩa
vụ bán và bên mua có nghĩa vụ mua tài sản cơ sở theo giá đã ký kết, bất chấp giá thịtrường của tài sản đó là bao nhiêu
- Hợp đồng tương lai có thể thỏa thuận giao hàng vật chất hoặc thanh toán bù trừbằng tiền
- Mỗi bên của hợp đồng không nhất thiết phải giữ vị thế của mình cho đến thờiđiểm đáo hạn, mà có thể kết thúc vị thế của mình trước khi đáo hạn bằng cách ký các hợpđồng đối ứng
Ngoài những điểm chung như vậy, hợp đồng tương lai còn có những điểm khác biệt
so với hợp đồng kỳ hạn:
- Hợp đồng tương lai được chuẩn hóa rất cao Nội dung các điều khoản trong hợpđồng tương lai sẽ được Sở giao dịch công bố công khai trước, như loại hàng hóa, số lượnghàng hóa cơ sở, chất lượng hay tiêu chuẩn của hàng hóa, thời gian giao hàng và phươngthức giao hàng (đối với các tài sản cơ sở có thể thực hiện giao hàng thực tế)
Bảng 1.1: Hợp đồng cà phê Robusta loại 1 của Sở giao dịch hàng hóa Việt Nam
Tháng giao hàng Tháng 1, tháng 3, tháng 5, tháng 7, tháng 9, tháng 11
Trang 28Ký quỹ/ký quỹ bổ sung Theo quy định của VNX
Giới hạn vị thế
- Đối với cá nhân:<= 5,000 lô mua ròng hoặc bán ròng
- Đối với tổ chức:<=20,000 lô mua ròng hoặc bán ròng
- VNX có thể điều chỉnh vị thế theo điều kiện thực tế
Ngày giao dịch cuối cùng
Ngày làm việc cuối cùng của tháng giao hàng (Nếungày này rơi vào ngày nghỉ thì ngày làm việc trước đó
sẽ là Ngày giao dịch cuối cùng)
Nguồn: Website của Sở Giao dịch hàng hóa Việt Nam, vnex.com.vn
- Đối với hợp đồng kỳ hạn, mọi khoản lãi hay lỗ của hợp đồng đều được thanh toánvào lúc đáo hạn Ngược lại, đối với hợp đồng tương lai, các khoản lãi hay lỗ được tínhhàng ngày (cộng vào hay trừ đi từ tài khoản của các bên tham gia hợp đồng) theo sự biếnđộng của giá tương lai Việc tính toán này là để loại trừ một phần rủi ro cho công ty thanhtoán bù trừ trong trường hợp một bên của hợp đồng không có khả năng thanh toán khi đáohạn Các bên khi giao dịch hợp đồng tương lai đều phải tiến hành ký quỹ tại Sàn giao dịchhay công ty thanh toán bù trừ và nếu tài khoản của một bên vào cuối ngày thấp hơn so vớiyêu cầu ký quỹ tối thiểu (maintenance margin) thì sẽ phải ký quỹ bổ sung (variationmargin) để được giao dịch tiếp
- Hợp đồng tương lai phải được đăng ký giao dịch trên sàn tập trung, các điềukhoản được công bố công khai nên các chủ thể tham gia thị trường biết chính xác nhữngđiều kiện giao dịch Sự tiêu chuẩn hóa của các hợp đồng tương lai đã làm tăng tính thanhkhoản của của thị trường
- Giao dịch hợp đồng tương lai phải được thực hiện thông qua nhà môi giới và phảitrả phí giao dịch Công ty môi giới sẽ chỉ thị cho người mua bán trên sàn giao dịch thựchiện lệnh mua hay bán hợp đồng tương lai Hoạt động giao dịch được thực hiện thông quamột tổ chức trung gian gọi là công ty thanh toán bù trừ (clearing house)
- Trung tâm thanh toán bù trừ luôn là một bên mua hoặc bán của các hợp đồngtương lai Khi tham gia vào hợp đồng tương lai, mỗi bên đều phải tiến hành ký quỹ vớitrung tâm thanh toán bù trừ, do vậy đã loại bỏ được rủi ro đối tác Tuy nhiên, rủi ro tíndụng trong các giao dịch tương lai vẫn tồn tại nếu trường hợp giá trong ngày biến động
Trang 29mạnh, mức lãi lỗ đánh giá theo ngày của hợp đồng tương lai thấp hơn nhiều so với mức kýquỹ duy trì.
- Trung tâm thanh toán bù trừ cho phép một trong hai bên tham gia đảo ngược vị trívào một ngày trong tương lai mà không cần phải liên lạc với bên đối tác của giao dịch muabán ban đầu Chính đặc điểm này của hợp đồng tương lai đã làm cho nó trở thành mộtcông cụ phòng ngừa rủi ro giá cả rất hữu hiệu. Công cụ phái sinh tương lai hàng hóa được
sử dụng trong phòng vệ bán (short hedges) khi nhà đầu tư sở hữu sẵn hàng hóa hoặc dựkiến bán hàng hóa đó vào một thời điểm trong tương lai; hoặc sử dụng trong phòng vệmua (long hedges) khi nhà đầu tư biết chắc sẽ mua một hàng hóa xác định trong tương lai
và muốn cố định mức giá vào ngày hôm nay Hiệu quả của việc phòng vệ rủi ro về giá vẫnphát huy ngay cả khi hợp đồng tương lai không kết thúc bằng việc giao hàng vật chất nhưđối với hợp đồng kỳ hạn
Những người tham gia hợp đồng tương lai không nhất thiết phải giữ hợp đồngtương lai đến lúc đáo hạn và cũng không bắt buộc phải kết thúc bằng việc giao hàng vậtchất khi đáo hạn
1.1.3.3 Công cụ hoán đổi
Công cụ hoán đổi được xem là một chuỗi các thỏa thuận giữa hai bên tham gia đểtrao đổi các dòng tiền trong tương lai Theo đó, hai bên sẽ xác định cơ chế hoán đổi cácchuỗi dòng tiền theo những ngày thanh toán định kỳ trong một thời gian nhất định (ví dụ,các khoản thanh toán hàng tháng, hàng quý hay nửa năm trong khoảng thời hạn của hợpđồng là hai năm) Trong công cụ hoán đổi, thông thường một bên sẽ thực hiện thanh toándòng tiền ngẫu nhiên (random outcome), bên còn lại có thể thực hiện thanh toán bằngnhững khoản cố định (fixed payments) hoặc cũng có thể thanh toán bằng những khoảnbiến đổi khác (floating or variable payments)
Thời hạn hiệu lực, kỳ hạn thanh toán, cơ chế xác định các luồng tiền trao đổi rấtquan trọng đối với công cụ hoán đổi Hợp đồng hoán đổi chấm dứt vào ngày đáo hạn,nhưng nó có thể được chia thành chuỗi các hợp đồng kỳ hạn mà mỗi hợp đồng kỳ hạn sẽđáo hạn vào các ngày thanh toán cụ thể Cũng giống như công cụ kỳ hạn, công cụ hoán đổiđược giao dịch trên thị trường phi tập trung Dựa vào các tài sản cơ sở sẽ có các loại công
cụ hoán đổi khác nhau, phổ biến nhất là hoán đổi lãi suất, hoán đổi tiền tệ Bên cạnh đó,các nhà đầu tư còn thực hiện các công cụ hoán đổi vốn (equity swaps), hoán đổi hàng hoá
Trang 30(commodity swaps) và hoán đổi các loại hàng không lưu trữ được (non-storablecommodity swaps) như điện và thời tiết.
Công cụ hoán đổi có thể bao gồm một thỏa thuận giao ngay với thỏa thuận kỳ hạnhoặc bao gồm một chuỗi các thỏa thuận kỳ hạn, trong đó các thỏa thuận kỳ hạn bộ phận sẽ
có những thời điểm đáo hạn riêng Như vậy, cũng dễ hiểu khi công cụ hoán đổi có nhiềuđặc điểm tương tự như công cụ kỳ hạn:
- Hoán đổi là công cụ tài chính theo thỏa thuận; nghĩa là bên mua và bên bán củahợp đồng hoán đổi có thể tự do thỏa thuận các điều khoản của hợp đồng, như đối tượnggiao dịch, quy mô hợp đồng, giá cả hàng hóa, cách thức, kỳ hạn thanh toán Do các điềukhoản của hợp đồng không được chuẩn hóa, hợp đồng hoán đổi chỉ được giao dịch trên thịtrường phi tập trung và không được giao dịch trên bất kỳ thị trường thứ cấp có tổ chức nào
- Khi tham gia vào hợp đồng hoán đổi, hai bên mua bán không phải tiến hành đặtcọc để bảo bảo khả năng thực hiện hợp đồng của mình nên rủi ro đối tác, rủi ro tín dụngtrong hợp đồng hoán đổi là rất lớn Thực tế cho thấy sử dụng các công cụ hoán đổi chủyếu là các định chế tài chính, phi tài chính lớn mà ít thấy sự tham gia của các nhà đầu tư cánhân
Đối với hợp đồng hoán đổi, có 3 cách để kết thúc hợp đồng trước thời điểm đáohạn
- Bên mua và bên bán đồng ý cùng kết thúc hợp đồng: Nếu như các bên tham giahợp đồng nhất trí không muốn duy trì hợp đồng hoán đổi đã ký kết thì có thể thỏa thuậnkết thúc trước thời điểm đáo hạn Giống như hợp đồng kỳ hạn, giá trị của hợp đồng hoánđổi có thể sẽ tăng hoặc giảm theo sự biến động của giá tài sản cơ sở (tỷ giá hoặc lãi suất).Trường hợp nếu một bên đang ở thế bất lợi do biến động của thị trường muốn kết thúctrước thời hạn bằng cách thanh toán giá trị hợp đồng cho bên kia và được bên kia đồng ýthì hai bên sẽ cùng kết thúc hợp đồng
- Tham gia một hợp đồng bù trừ: Trong trường hợp nếu một bên đưa ra đề nghị kếtthúc hợp đồng sớm hơn kỳ hạn trong hợp đồng mà không được bên kia chấp nhận thì họ
sẽ tham gia một hợp đồng bù trừ Trong hợp đồng hoán đổi lãi suất, nếu một bên đang ở vịthể trả lãi suất cố định và nhận lãi suất thả nổi muốn kết thúc hợp đồng trước khi đáo hạn
có thể tham gia một hợp đồng bù trừ, trở thành vị thế nhận lãi suất cố định và trả lãi suấtthả nổi trong hợp đồng mới Tuy nhiên, việc tham gia vào hợp đồng bù trừ có thể sẽ làm
Trang 31cho nhà đầu tư bị lỗ, khi lãi suất của hai hợp đồng này là không như nhau Ngoài ra, kếtthúc hợp đồng hoán đổi thông qua thực hiện hợp đồng hoán đổi bù trừ với người khác thay
vì đối tác ban đầu trong hợp đồng cũng khiến nhà đầu tư gặp rủi ro đối tác giống như hợpđồng kỳ hạn
- Tìm kiếm đối tác khác để bán lại hợp đồng: Bên muốn kết thúc hợp đòng có thểtìm một đối tác khác để bán lại, nghĩa là chuyển giao mọi quyền lợi và nghĩa vụ liên quanđến các cam kết trong hợp đồng hoán đổi cho đối tác khác, với sự cho phép của đối tácđầu tiên trong hợp đồng hoán đổi đã ký Tuy nhiên, điều này cũng ít khi xảy ro do các điềukhoản trong hợp đồng hoán đổi là kết quả của sự tự do thỏa thuận giữa bên mua và bênbán, mang tính cá biệt cao
1.1.3.4 Công cụ quyền chọn
Công cụ quyền chọn là một thỏa thuận mà trong đó người mua quyền chọn trả chongười bán quyền chọn một khoản tiền gọi là phí quyền chọn để có quyền lựa chọn (chứkhông có nghĩa vụ) về việc mua hay bán một loại hàng hóa nhất định tại một mức giá xácđịnh trước vào một thời điểm xác định trong tương lai hoặc bất cứ lúc nào kể từ ngày kýkết hợp đồng cho đến một thời điểm xác định trong tương lai
Khác với hợp đồng kỳ hạn và hợp đồng tương lai, hợp đồng quyền chọn không bắtbuộc các bên phải giao sản phẩm Hợp đồng chỉ quy định quyền giao hay nhận, mà khôngbắt buộc thực hiện nghĩa vụ của mình Người mua quyền có thể: thực hiện quyền, bánquyền cho một người mua khác hay không thực hiện quyền Để có quyền này, khi ký hợpđồng, người cầm hợp đồng phải trả phí quyền chọn; giá trong hợp đồng được gọi là giáthực hiện (Strike price); ngày định trong hợp đồng gọi là ngày đáo hạn hay ngày thực hiện
Về cơ bản, có hai loại quyền chọn: quyền chọn mua (call option) và quyền chọnbán (put option) Quyền chọn mua là một thỏa thuận, trong đó quy định người mua quyềnphải trả cho người bán quyền một khoản chi phí nhất định để dành quyền mua hoặc chấmdứt mua một số lượng tài sản nhất định theo giá đã thỏa thuận trước, vào lúc trước hoặckhi hợp đồng đáo hạn Tương tự, quyền chọn bán là một thỏa thuận, trong đó quy địnhngười mua quyền phải trả cho người bán quyền chọn một khoản chi phí nhất định để dànhquyền bán hoặc chấm dứt bán một số lượng tài sản nhất định theo giá đã thỏa thuận trước,vào lúc trước hoặc khi hợp đồng đáo hạn
Trang 32Như vậy, với quyền chọn mua, bên mua quyền có quyền nhưng không có nghĩa vụmua một tài sản tại mức giá xác định trước trong một khoảng thời gian hoặc tại một thờiđiểm đã xác định Với quyền chọn bán, bên mua quyền có quyền nhưng không có nghĩa vụbán một tài sản tại mức giá xác định trước trong một khoảng thời gian hoặc tại một thờiđiểm đã xác định Ngược lại, bên bán quyền phải có nghĩa vụ thực hiện quyền lựa chọntheo hợp đồng ký kết với người mua quyền chọn.
Có hai kiểu quyền chọn phổ biến, đó là quyền chọn kiểu Mỹ và quyền chọn kiểuchâu Âu Sự khác biệt giữa hai kiểu quyền chọn này không dựa vào vị trí địa lý nơi mà cácquyền chọn được ký kết Quyền chọn kiểu Mỹ cho phép người mua quyền thực hiện quyềnchọn vào bất kỳ thời điểm nào trước ngày đáo hạn; còn hợp đồng quyền chọn kiểu châu
Âu chỉ cho phép người nắm quyền thực hiện quyền chọn trong ngày đáo hạn (expirationdate hay maturity date)
Hợp đồng quyền chọn được giao dịch trên cả thị trường có tổ chức (Sở giao dịch)
và thị trường phi tập trung Tại Sở giao dịch, hợp đồng quyền chọn được tiêu chuẩn hóa vềquy mô hợp đồng, phí quyền chọn, thời gian đáo hạn Tại thị trường phi tập trung, hợpđồng quyền chọn do người bán đưa ra để đáp ứng nhu cầu cụ thể và riêng biệt của từngngười mua
Cũng giống như hợp đồng tương lai, hợp đồng quyền chọn có chứa đựng yếu tốđòn bẩy nên đã tạo được sức hút lớn cho các đối tượng tham gia thị trường nhằm mục đíchđầu cơ Tuy nhiên, ưu điểm của công cụ quyền chọn so với công cụ tương lai là giúpngười mua quyền thu được lợi nhuận rất lớn, còn lỗ thì lại được giới hạn chỉ bằng mức phíquyền chọn cho dù là giá của tài sản cơ sở biến động như thế nào Ngày nay, công cụquyền chọn phát triển rất đa dạng với nhiều hình thức khác nhau, từ những kiểu quyềnchọn tiêu chuẩn cho đến những kiểu quyền chọn phi tiêu chuẩn (quyền chọn ngoại lai)
Với mỗi một hợp đồng quyền chọn luôn có 2 vị thế: vị thế trường (long mua hợp đồng quyền chọn) và vị thế đoản (short position - bán hợp đồng quyền chọn).Như vậy, với hai loại quyền chọn cơ bản là quyền chọn mua và quyền chọn bán thì ta sẽ
position-có bốn vị thế quyền chọn như sau: (1) mua quyền chọn mua (a long position in a call option), (2) bán quyền chọn mua (a short position in a call option), (3) mua quyền chọn bán (a long position in a put option), (4) bán quyền chọn bán (a short position in a put option) Với mỗi vị thế trên, lợi nhuận của các bên tham gia quyền chọn sẽ thay đổi khi giá
của tài sản cơ sở trong hợp đồng quyền chọn thay đổi Lợi nhuận của một vị thế quyền
Trang 33chọn có thể âm hoặc dương phụ thuộc vào sự biến động của giá tài sản cơ sở giao ngaytrên thị trường và tỷ giá thực hiện quyền chọn.
Bảng 1.2: Lợi nhuận đối với bốn vị thế quyền chọn
(bỏ qua các chi phí giao dịch khác)
Trong đó: S: tỷ giá giao ngay trên thị trường tại thời điểm thực hiện quyền chọn
E: tỷ giá thực hiện quyền chọn; P: thu nhập ròng/1 đơn vị tài sản cơ sở;
π: phí quyền chọn/1 đơn vị tài sản cơ sở
Quyền chọn ngoại lai là hình thức đặc biệt của công cụ quyền chọn và được giao dịch
ở thị trường OTC, do vậy, quyền chọn ngoại lai trước hết sẽ mang bản chất của một công
cụ quyền chọn thông thường Người mua quyền chọn ngoại lai cũng sẽ có quyền chứkhông phải có nghĩa vụ thực hiện các cam kết trong hợp đồng Tuy nhiên, quyền chọnngoại lai sẽ có thêm một số đặc điểm riêng biệt khác, như có thể quy định thời gian vàđiều kiện cụ thể để quyền chọn đó có hiệu lực hoặc vô hiệu hay quy định các mức giá thựchiện khác nhau tương ứng với từng điều kiện thực hiện quyền chọn Chính những yếu tốriêng biệt của quyền chọn ngoại lai so với các quyền chọn thông thường đã hấp dẫn cácnhà đầu tư
Như vậy, quyền chọn ngoại lai là một loại quyền chọn đặc biệt, được thiết kế riêng
để phù hợp với những yêu cầu, mục đích khác nhau của các nhà đầu tư Ngày nay, cónhiều loại quyền chọn ngoại lai như quyền chọn kiểu Mỹ dạng phi tiêu chuẩn(nonstandard American options), quyền chọn kép (compound options), quyền chọn loạiquyền chọn (chooser options), quyền chọn giới hạn (barrier options), quyền chọn thôngbáo (shout options), quyền chọn kiểu châu Á (Asian options)
1.1.4 Ưu điểm và nhược điểm của các công cụ phái sinh trong nền kinh tế
1.1.4.1 Ưu điểm
Công cụ phái sinh không chỉ đóng vai trò quan trọng trong hoạt động quản trị rủi rocủa từng doanh nghiệp nói riêng mà còn đóng góp vào sự phát triển nền kinh tế nói chung
Trang 34Thứ nhất, các công cụ phái sinh được sử dụng nhằm quản trị rủi ro về giá Trong
giai đoạn đầu khi mới xuất hiện, tài sản cơ sở của các hợp đồng phái sinh chủ yếu là hàngnông sản như gạo, ngô, bông, và mục đích đầu tiên của các công cụ phái sinh là nhằmphòng ngừa rủi ro về biến động giá của các tài sản cơ sở này Nhưng cùng với sự pháttriển của nền kinh tế thế giới, ngày nay hàng hóa cơ sở của các giao dịch phái sinh đã trởnên phong phú và đa dạng hơn rất nhiều, từ nguyên vật liệu đầu vào cho hoạt động sảnxuất như dầu mỏ, thép, kim loại màu, bông, đến các sản phẩm trên thị trường tài chínhnhư ngoại tệ, chứng khoán, chỉ số chứng khoán, lãi suất Việc tạo ra các công cụ phái sinh
đã làm cho các rủi ro xảy trong tương lai có thể được mua bán, trao đổi Các doanh nghiệpsản xuất, kinh doanh xuất nhập khẩu, các tổ chức tài chính và phi tài chính, các nhà đầu tư
có thể sử dụng các công cụ phái sinh, phổ biến như: công cụ kỳ hạn, công cụ tương lai,công cụ hoán đổi để bảo vệ chính mình tránh những rủi ro do thay đổi giá nguyên vậtliệu, hàng hóa, tỷ giá, lãi suất nhằm mục đích giảm thiệt hại đối với các dòng tiền trongtương lai Chính những lợi ích này trở thành yếu tố quan trọng giúp các công cụ tài chínhphái sinh ngày càng được sử dụng rộng rãi: 92% trong số 500 công ty lớn nhất thế giới đã
sử dụng các công cụ phái sinh để quản trị rủi ro về giá (Deutsche Borse, 2008)
Tại Việt Nam, các công cụ phái sinh được sử dụng lần đầu tiên là trong các giaodịch ngoại hối với hình thái công cụ phái sinh đơn giản nhất là hợp đồng ngoại hối kỳ hạn.Việc sử dụng các hợp đồng kỳ hạn đối với mua bán ngoại tệ đã giúp các doanh nghiệpxuất nhập khẩu có thể hạch toán được chi phí đầu vào và/hoặc bảo hiểm cho các khoảndoanh thu đầu ra bằng ngoại tệ Trong hoạt động xuất nhập khẩu, việc thanh toán ít khixảy ra cùng lúc với thời điểm giao hàng và thường được yêu cầu thanh toán bằng ngoại tệ.Như vậy, bắt đầu từ thời điểm ký hợp đồng nhập khẩu, các nhà nhập khẩu phát sinh mộtkhoản phải trả bằng ngoại tệ trong tương lai Để thanh toán cho đối tác, nhà nhập khẩuphải dùng đồng nội tệ đổi sang ngoại tệ Do vậy, giá trị của khoản phải trả bằng ngoại tệnếu tính theo nội tệ có thể tăng hoặc giảm tùy theo sự biến động của tỷ giá Nhà nhập khẩulúc này đang đối mặt với rủi ro tỷ giá, bởi nếu tỷ giá biến động theo hướng bất lợi (đồngngoại tệ tăng giá so với đồng nội tệ) thì khoản phải trả tính bằng nội tệ sẽ tăng lên, nhànhập khẩu phải chịu thêm một khoản lỗ Để phòng ngừa rủi ro này nhà nhập khẩu có thể
sử dụng hợp đồng mua ngoại hối kỳ hạn để bảo hiểm Ngược lại, nếu doanh nghiệp biếtchắc có một khoản phải thu bằng ngoại tệ trong tương lai nhưng lo ngại ngoại tệ đó sẽ bịmất giá thì doanh nghiệp có thể sử dụng hợp đồng bán kỳ hạn ngoại tệ nhằm cố địnhkhoản thu đó tính theo nội tệ Như vậy, các doanh nghiệp xuất khẩu có thể sử dụng hợp
Trang 35đồng kỳ hạn để phòng ngừa rủi ro tỷ giá thông qua việc cố định tỷ giá mua/bán một lượngngoại tệ nhất định với ngân hàng, từ đó cố định khoản phải chi/thu bằng nội tệ bất chấp sựbiến động của tỷ giá giao ngay trên thị trường Đây là một trong những ứng dụng thườngxuyên của công cụ kỳ hạn trong thương mại quốc tế ngày nay.
Thứ hai, các công cụ phái sinh được sử dụng nhằm mục đích kinh doanh chênh lệch
giá Ngoài mục đích đầu tiên là phòng ngừa rủi ro về biến động giá, công cụ phái sinh cònthu hút sự quan tâm và sử dụng của nhiều doanh nghiệp, các nhà đầu tư tổ chức và cá nhânbởi mục đích kinh doanh chênh lệch giá Nếu giá của tài sản cơ sở trong các hợp đồngphái sinh không trùng khớp với giá giao ngay của tài sản cơ sở đó tính theo cùng một thờiđiểm thì các nhà đầu tư sẽ có cơ hội kinh doanh chênh lệch giá bằng cách mua với giá thấp
và đồng thời bán với giá cao
Một trong những công cụ phái sinh được sử dụng nhiều nhằm mục đích arbitrage làhợp đồng tương lai Các hợp đồng tương lai được giao dịch trên sàn tập trung và giá trị củahợp đồng sẽ được đánh giá lại vào cuối mỗi ngày giao dịch theo giá của ngày hôm đó.Khác với hợp đồng kỳ hạn, các hợp đồng tương lai có thể được tất toán trước ngày đáohạn bằng cách ký một hợp đồng đối ứng với nó và thực tế khoảng 98% hợp đồng tương laiđược thực hiện trước hạn theo cách này và cũng không cần đến việc giao hàng thực sự.Như vậy, nếu một nhà đầu tư nhận thấy giá tài sản cơ sở của một ngày giao dịch trên sàntập trung không trùng với giá giao ngay của ngày hôm đó thì nhà đầu tư có thể tiến hànhkinh doanh chênh lệch giá Giá của tài sản cơ sở trong các hợp đồng tương lai có xu hướngtiệm cận với giá giao ngay khi gần đến ngày giao hàng của hợp đồng tương lai, nhưngkhông nhất thiết hai mức giá này phải bằng nhau, cho nên công cụ này thường mang lại cơhội kinh doanh chênh lệch giá cho các nhà đầu tư
Thứ ba, các công cụ phái sinh được sử dụng nhằm mục đích đầu cơ Mục đích
nguyên thủy của các công cụ phái sinh nói chung là phòng ngừa rủi ro về giá, nhưng đầu
cơ mới là mục đích thu hút nhiều thành phần tham gia vào thị trường phái sinh Theothống kê của Ngân hàng thanh toán bù trừ quốc tế (BIS), chỉ có một phần rất nhỏ các hợpđồng tương lai được kết thúc bằng việc giao hàng thực sự, nghĩa là phần lớn các giao dịchtương lai sẽ là nhằm mục đích kinh doanh chênh lệch giá và đầu cơ Chính tính chất đònbẩy của các hợp đồng tương lai thể hiện qua tỷ lệ ký quỹ với sàn giao dịch và của hợpđồng quyền chọn thể hiện qua mức phí quyền chọn đã tạo nên công cụ đầu cơ khá hữu
Trang 36hiệu và vô hình trung điều này khiến nhiều người nghi ngại rằng công cụ phái sinh là tròmay rủi, cờ bạc.
Theo quan điểm của tác giả, không nên chỉ hiểu mục đích đầu cơ theo nghĩa tiêucực là thao túng giá, lũng đoạn thị trường mà nên nhìn nhận các nhà đầu cơ như là mộtnhân tố quan trọng tạo nên tính thanh khoản cho thị trường phái sinh Chính những nhàđầu cơ mới tạo nên sự sôi động của thị trường phái sinh, giúp thị trường này phát triển vàgián tiếp thúc đẩy thị trường hàng hóa cơ sở phát triển Thực tế, theo chia sẻ của nhiều nhàđầu tư và các chuyên gia kinh tế trong Hội thảo “Phát triển hoạt động và mở rộng mặthàng giao dịch qua Sở giao dịch hàng hóa trong thời kỳ hội nhập” được tổ chức vào ngày15/5/2012 tại thành phố Hồ Chí Minh, rất khó phân định rạch ròi mục đích đầu tư hay đầu
cơ của các thành phần khi tham gia thị trường phái sinh Tại Việt Nam, sàn giao dịch hànghóa đầu tiên (VNX) được thành lập năm 2010 nhưng đến nay doanh số của sàn giao dịchvẫn còn rất khiêm tốn và một trong những nguyên nhân của tình trạng này là số lượng cácnhà đầu tư tham gia còn quá ít Các nhà đầu tư trên sàn giao dịch hàng hóa Việt Nam vẫnchủ yếu là các nhà đầu tư cá nhân chứ không phải là các doanh nghiệp sản xuất kinhdoanh, các hội nông dân có sản phẩm cần phòng ngừa rủi ro về giá và hiển nhiên, mụcđích của hầu hết các nhà đầu tư cá nhân là nhằm mục đích đầu cơ
Thứ tư, các công cụ phái sinh được giao dịch trên thị trường là nguồn thông tin hiệu
quả hình thành giá của tài sản cơ sở Khi các công cụ phái sinh được giao dịch trên thịtrường sẽ hình thành các mức giá của chính các công cụ này và trở thành nguồn thông tinhiệu quả trong việc xác định giá của tài sản cơ sở Đặc biệt, thị trường tương lai được xem
là một công cụ quan trọng để xác định giá giao ngay của tài sản Các hợp đồng tương laiđược giao dịch trên thị trường tập trung nên giá cả được niêm yết công khai và cập nhật;trong khi thị trường giao ngay của các hàng hóa cơ sở là rất rộng lớn và phân tán nên rấtkhó có thể xác định được giá giao ngay của chúng Các chủ thể tham gia thị trường hànghóa cơ sở có thể tham khảo giá cả của các hợp đồng tương lai được giao dịch gần nhất làm
cơ sở để xác định giá giao ngay Hơn nữa, tính thanh khoản và giá trị giao dịch của thịtrường phái sinh trên thế giới rất lớn nên khó để một thế lực kinh tế nào có thể thao túnggiá nên các thông tin giá cả của thị trường rất đáng tin cậy Như vậy, những thông tin đượccung cấp trên thị trường phái sinh góp phần hình thành giá giao ngay trong tương lai mộtcách có hiệu quả mà những người tham gia thị trường có thể chốt lại trong giới hạn chấpnhận của mình Ngoài ra, thông tin giá cả sẽ giúp cân đối giữa sản xuất và tiêu thụ: dựa
Trang 37vào cung cầu trên thị trường, người sản xuất cũng như người tiêu dùng sẽ quyết định sảnxuất hoặc tiêu thụ bao nhiêu hàng hóa dựa trên giá thị trường
Thứ năm, các công cụ phái sinh giúp tăng cường hiệu quả của thị trường tài chính
nói chung Các công cụ phái sinh được xem là các công cụ tài chính và là kênh đầu tư hấpdẫn đối với nhiều nhà đầu tư trên thị trường thế giới Do tính thanh khoản của thị trườngphái sinh cao hơn hẳn so với thị trường giao ngay, thêm vào đó là chi phí giao dịch thấplàm cho việc chuyển hướng từ các giao dịch giao ngay sang phái sinh ngày càng dễ dàng
và hấp dẫn hơn Thị trường phái sinh giúp các tín hiệu thị trường khó bị bóp méo Các bêntham gia thị trường có cơ hội tiếp cận thông tin một cách công bằng, do vậy ngăn chặnđược tình trạng độc quyền hay lũng đoạn giá và gián tiếp tăng cường tính hiệu quả của thịtrường tài chính nói chung
1.1.4.2 Nhược điểm
Thứ nhất, các công cụ phái sinh khá trừu tượng, không dễ hiểu đối với mọi người,
vì thế dễ dẫn đến những nhận thức phiến diện, sai lệch về vai trò của nó
Thực tế, CCPS nói chung và CCPS ngoái hối nói riêng là những sản phẩm tài chínhkhông dễ hiểu đối với nhiều nhà đầu tư cá nhân hoặc đối với các công ty nhỏ chưa có bộphận quản trị rủi ro riêng Các CCPS khá trừu tượng về tên gọi, cách thức sử dụng,phương pháp định giá và xác định lỗ lãi, vì vậy trước khi tham gia vào thị trường pháisinh, các thành viên tham gia thị trường phải hiểu rõ bản chất của các công cụ phái sinh,những ưu điểm cũng như mặt trái của các công cụ này để có những biện pháp quản trị rủi
ro Có như vậy thì các công cụ phái sinh mới thực sự phát huy hiệu quả là công cụ phòngvệ
Trong các hợp đồng kỳ hạn, giá của hàng hóa cơ sở đã được xác định ngay từ thờiđiểm ký kết hợp đồng, còn việc chuyển giao hàng hóa sẽ được thực hiện trong tương lai
Do giao dịch kỳ hạn là giao dịch bắt buộc nên khi đến ngày đáo hạn dù giá của hàng hóa
cơ sở bất lợi cho một phía (người mua hoặc người bán) thì hai bên vẫn phải thực hiện hợpđồng Đối với hợp đồng tương lai, một hình thức đặc biệt của hợp đồng kỳ hạn được giaodịch trên các sàn tập trung thì hiệu quả phòng vệ rủi ro sẽ sẽ khó đạt 100% do:
- Các hợp đồng tương lai chỉ giao dịch đối với một số hàng hóa cơ sở nhất định,nên nhiều khi mặt hàng cần phòng vệ và mặt hàng trong các hợp đồng tương lai là khôngđồng nhất
Trang 38- Quy mô hợp đồng đã được quy định sẵn dẫn đến việc có sự lệch nhau trong quy
mô của đối tượng cần phòng vệ và đối tượng trong hợp đồng tương lai Ví dụ: quy mô mỗihợp đồng cà phê trên sàn VNX là 1.000kg/lô mà doanh nghiệp lại có nhu cầu phòng ngừarủi ro về giá cho số lượng cà phê 2.500kg
- Các doanh nghiệp cần chiến lược phòng vệ có thể không biết chắc chắn chính xácngày tháng cần phải mua/bán hàng hóa cơ sở
- Sự tồn tại rủi ro cơ bản, mức biến động của giá giao ngay và mức biến động giá
trên thị trường tương lai không hoàn toàn như nhau
Cũng như hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng hoán đổi bắt buộc các bên phải thực hiện khiđáo hạn bất chấp giá trên thị trường giao ngay lúc đó như thế nào Điều này có mặt lợi làbảo hiểm được rủi ro về giá cho khách hàng nhưng đồng thời đánh mất đi cơ hội kinhdoanh nếu như giá biến động trái với dự đoán của khách hàng Đối với hợp đồng quyềnchọn, bên bán quyền chỉ thu được khoản thu nhập tối đa bằng phí quyền chọn Trongtrường hợp nếu giá của hàng hóa cơ sở biến động không theo dự đoán và bất lợi cho ngườimua quyền, người mua quyền sẽ thực hiện quyền chọn chứ không thực hiện việc giaohàng thực sự và khi đó tổn thất tối đa của người mua quyền chỉ bằng mức phí, đồng nghĩavới việc người bán quyền thu được lợi nhuận tối đa bằng phí quyền chọn Ngược lại, nếugiá của hàng hóa cơ sở biến động theo dự đoán và có lợi cho người mua quyền, người muaquyền sẽ tiến hành thực hiện hợp đồng Trong nhiều trường hợp, giá hàng hóa cơ sở biếnđộng mạnh dẫn tới lỗ của người bán quyền rất lớn
Thứ hai, khi sử dụng các CCPS có thể đem lại những rủi ro, tổn thất cho chủ thể
kinh doanh CCPS được ra đời với mục đích ban đầu là phòng vệ rủi ro, nhưng bản thâncác công cụ này có thể mang lại những tổn thất cho chủ thể kinh doanh Tổn thất từ cácgiao dịch phái sinh cũng có thể bắt nguồn từ các nhận thức phiến diện về các công cụ pháisinh Như trường hợp công ty Procter & Gamble (Lawrence Malkin, 1994), công ty đãkhông nhận thức đầy đủ về bản chất của các công cụ phái sinh Các nhà quản lý của công
ty chỉ mới hiểu được mục đích của các sản phẩm này là phòng ngừa các rủi ro khi có sựbiến động về tỷ giá và lãi suất nhưng lại không lường trước những hậu quả có thể xẩy ranếu như việc dự báo xu hướng không chính xác Thị trường phái sinh thu được lợi nhuậnlớn nhờ công cụ đòn bẩy thì chính công cụ đòn bẩy cũng sẽ khiến cho các nhà đầu tư phảigánh chịu hậu quả khôn lường nếu dự báo sai xu hướng biến động của hàng hóa cơ sở
Trang 39Thứ ba, CCPS có thể bị lợi dụng làm sai lệch mục tiêu sử dụng ban đầu là công cụ
phòng ngừa rủi ro và kinh doanh thành công cụ đầu cơ nhằm thao túng thị trường Mặc dùđóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế, các công cụ phái sinh cũng có những mặt hạnchế mà các nhà đầu tư nên cân nhắc trước khi quyết định tham gia vào các giao dịch pháisinh Nhiều nhà đầu tư ngay từ đầu do không xác định rõ ràng mục đích tham gia thịtrường phái sinh hoặc không “kiên định” theo đuổi những mục tiêu mà họ đã lựa chọn nênnhiều trường hợp họ đã phải gánh chịu những tổn thất nặng nề Điển hình như trường hợpphá sản của Barings- ngân hàng lâu đời nhất nước Anh Vụ sụp đổ của ngân hàng 223 năm
nguyên nhân trực tiếp là do người phụ trách các giao dịch phái sinh ở chi nhánh Singaporetên là Leeson đã thay đổi từ mục đích ban đầu khi tham gia thị trường phái sinh chỉ là kinhdoanh chênh lệch giá sang hoạt động đầu cơ và nghiêm trọng hơn là đã không đặt ra mộtquy định về giới hạn lỗ Ngoài ra, thực tế còn nhiều trường hợp xẩy ra tổn thất liên quanđến giao dịch các sản phẩm phái sinh nhưng có nguyên nhân chủ yếu là do lỏng lẻo trongquản lý và giám sát nội bộ
1.2 Thị trường các công cụ phái sinh ngoại hối
1.2.1 Khái niệm
1.2.1.1 Thị trường công cụ phái sinh
Trước khi tìm hiểu khái niệm về thị trường công cụ phái sinh và thị trường công cụphái sinh ngoại hối, cần phải nắm được khái niệm về thị trường nói chung Hiểu một cáchđơn giản, thị trường là nơi diễn ra việc trao đổi, mua bán hàng hóa Tuy nhiên, trên thực
tế, cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin, người mua và người bán không cầnphải gặp gỡ trực tiếp tại một địa điểm nhất định để thỏa thuận về trao đổi hàng hóa, haynói cách khác việc mua bán không còn cần đến một nơi cụ thể về mặt địa lý như trướcnữa Do vậy, khái niệm thị trường không nhất thiết phải gắn với một nơi cụ thể về mặt địa
lý để có thể diễn ra việc trao đổi hay mua bán hàng hóa Vậy thị trường là gì?
Thị trường một hàng hóa bất kỳ là tập hợp tất cả các người mua và người bán đốivới hàng hóa đó (Frank/Bernanke 2007), cũng có thể là những người mua thực sự haynhững người mua tiềm tàng đối với một sản phẩm” (Kotler, 2000) hay đó còn là một cơchế hay là sự thỏa thuận qua đó họ sẽ tiến hành gặp nhau để buôn bán trao đổi (Hubbardand O’Brien 2013)
Trang 40Thị trường còn được định nghĩa là một thể chế thông qua đó người mua và ngườibán tương tác qua lại và cam kết về trao đổi hàng hóa (Case/ Fair 2014), là một thể chếhay cơ chế tập hợp tất cả các người mua (những người có nhu cầu) và người bán (nhữngngười cung cấp) về các hàng hóa, dịch vụ hay nguồn lực nhất định .Trong hệ thống thịtrường, mỗi thành viên tham gia đều hành động vì lợi ích của mình, nhằm tối đa hóa sựthỏa mãn và lợi nhuận thông qua các quyết định của chính mình liên quan đến việc tiêudùng và sản xuất” (McCornell & Brue, 2007) Thị trường là một cơ chế trong đó ngườimua và người bán tương tác với nhau để xác định giá cả và sản lượng của hàng hóa haydịch vụ (Samuelson, 1997), là tập hợp các sự thỏa thuận, thông qua đó người bán và ngườimua tiếp xúc với nhau để trao đổi hàng hóa và dịch vụ” (Begg, 1992),
Điểm chung trong tất cả các khái niệm về thị trường “là sự tập hợp các cam kết hay
là cơ chế, thông qua đó người bán và người mua sẽ tương tác với nhau để trao đổi hàng hóa và dịch vụ” Vậy thị trường các công cụ phái sinh được hiểu như thế nào?
Trước hết chúng ta so sánh thị trường các công cụ phái sinh và thị trường giao ngay(hay còn gọi là thị trường tiền mặt) Trên thị trường giao ngay, người bán và người mua sẽtiến hành giao nhận các loại tài sản và thực hiện việc thanh toán ngay sau khi đã đạt đượcthỏa thuận, mặc dù trong một số trường hợp cụ thể, giao hàng có thể sau đó ít lâu và/hoặc
sử dụng các điều khoản tín dụng trong thanh toán Mỗi một giao dịch mua bán trên thịtrường giao ngay sẽ chuyển quyền sở hữu các tài sản từ người bán sang người mua Nhưvậy, trên thị trường giao ngay đối tượng được mua bán là các loại tài sản Doanh số đượcthực hiện, khoản thanh toán được hoàn trả và tài sản được giao nhận Trong tình huốngkhác, người bán và người mua có thể thỏa thuận trước về những điều kiện để có thể giaonhận tài sản vào một ngày nhất định nào đó trong tương lai Các thỏa thuận giữa các chủthể tham gia giao dịch thậm chí không nhằm mục đích là mua bán hàng hóa, không đòi hỏiviệc giao nhận tài sản vật chất, nghĩa là đối tượng của giao dịch không phải là các tài sản
mà là các quyền liên quan đến tài sản (bao gồm cả hàng hóa hữu hình và vô hình) Cácthỏa thuận như vậy được diễn ra trên thị trường công cụ phái sinh Hay nói cách khác, trênthị trường công cụ phái sinh, đối tượng được mua bán là các lời hứa, các cam kết về việcchuyển giao tài sản và thanh toán với những điều kiện đã được quy định trước
Như vậy, thị trường các công cụ phái sinh là cơ chế hay tập hợp các thỏa thuận về mua bán các lời hứa, các cam kết về việc chuyển giao tài sản và thanh toán với những điều kiện đã được quy định trước.