BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG LUẬN ÁN TIẾN SĨ NÂNG CAO NĂNG LỰC XUẤT KHẨU NGÀNH DA GIẦY VIỆT NAM SAU KHI VIỆT NAM GIA NHẬP WTO Ngành: KINH TẾ QUỐC TẾ LÝ HOÀNG THƯ HÀ NỘI – 2016 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG LUẬN ÁN TIẾN SĨ NÂNG CAO NĂNG LỰC XUẤT KHẨU NGÀNH DA GIẦY VIỆT NAM SAU KHI VIỆT NAM GIA NHẬP WTO Chuyên ngành: KINH TẾ QUỐC TẾ Mã số: 62.31.01.06 LÝ HOÀNG THƯ Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. NGUYỄN VĂN HỒNG HÀ NỘI – 2016 LỜI CẢM ƠN Hoàn thành luận án này, tôi xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS. TS. Nguyễn Văn Hồng đã tận tình giúp đỡ, chỉ bảo tôi trong suốt thời gian vừa qua. Tôi cũng xin được chân thành cảm ơn các nhà khoa học, tác giả các công trình công bố đã được trích dẫn trong luận án này vì đã cung cấp nguồn tư liệu quý báu, những kiến thức liên quan trong quá trình nghiên cứu. Tôi xin được gửi lời cảm ơn tới Trường Đại học Ngoại thương, Khoa Sau Đại học cùng toàn thể các thầy cô giáo trong trường Đại Học Ngoại Thương đã trang bị kiến thức viết bài, giúp đỡ và tạo điều kiện để cho tôi hoàn thành luận án này. Tôi cũng xin trân trọng cảm ơn Lãnh đạo Công ty CP Đầu tư XNK Da Giầy Hà Nội, Quỹ Đầu tư Phát triển TP Hà Nội vì đã tạo điều kiện về thời gian và tinh thần trong quá trình hoàn thiện chuyên đề. Tôi cũng xin trân trọng gửi lời cảm ơn tới Hiệp Hội Da Giầy Việt Nam, Bộ Công Thương, Vụ Công Nghiệp Nhẹ Bộ Công Thương và các đơn vị, doanh nghiệp ngành Da giầy đã cung cấp cho tôi những tài liệu và thông tin hữu ích liên quan đến đề tài. Qua quá trình thực hiện đề tài, tôi đã tích luỹ được nhiều kinh nghiệm quý báu trong công tác thực tế và phương pháp nghiên cứu, góp phần nâng cao trình độ và năng lực chuyên môn. Tuy nhiên, do sự hạn chế về thời gian, điều kiện nghiên cứu và khả năng bản thân có hạn nên nội dung luận án khó tránh khỏi những sai sót và khiếm khuyết. Tôi rất mong nhận được sự chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo cùng sự góp ý của đông đảo bạn đọc và xin chân thành cảm ơn. Hà Nội, ngày 10 tháng 10 năm 2016 LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận án là trung thực, khách quan và chưa từng để bảo vệ ở bất kỳ học vị nào. Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận án đã được cám ơn, các thông tin trích dẫn trong luận án này đều được chỉ rõ nguồn gốc. Hà Nội, ngày 10 tháng 10 năm 2016 Tác giả MỤC LỤC LỜI CẢM ƠN i LỜI CAM ĐOAN ii DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT SỬ DỤNG TRONG LUẬN ÁN vi DANH MỤC BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ vii PHẦN MỞ ĐẦU 1 PHẦN A: TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 6 1. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 6 2. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam 8 3. Đánh giá tổng quan về tình hình nghiên cứu 13 PHẦN B: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 15 CHƯƠNG 1: MỘT SỐ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC XUẤT KHẨU CỦA NGÀNH DA GIẦY 15 1.1. Những vấn đề lý luận về năng lực xuất khẩu 15 1.1.1 Khái niệm năng lực xuất khẩu 15 1.1.2. Các chỉ tiêu đánh giá năng lực xuất khẩu 18 1.1.3. Mô hình đánh giá năng lực xuất khẩu và các nhân tố ảnh hưởng 28 1.2. Sự cần thiết phải nâng cao năng lực xuất khẩu ngành da giầy Việt Nam 50 1.2.1. Năng lực xuất khẩu là yếu tố quyết định đến sự tồn tại và phát triển của ngành. 50 1.2.2. Việc gia nhập WTO và các Hiệp định thương mại tự do tạo ra sức ép cạnh tranh đối với ngành da giầy Việt Nam. 52 1.2.3. Nâng cao năng lực xuất khẩu ngành da giầy góp phần thúc đẩy sự phát triển của các ngành kinh tế khác, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. 54 1.3. Kinh nghiệm nâng cao năng lực xuất khẩu ngành da giầy của Trung Quốc và Brazil 55 1.3.1. Năng lực xuất khẩu ngành da giầy của Trung Quốc 55 1.3.2. Năng lực xuất khẩu ngành da giầy của Brazil 60 1.3.3. Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 62 CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG NĂNG LỰC XUẤT KHẨU NGÀNH DA GIẦY VIỆT NAM SAU KHI GIA NHẬP WTO 66 2.1. Tổng quan về ngành da giầy của Việt Nam sau khi gia nhập WTO 66 2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển 66 2.1.2 Khái quát về hoạt động sản xuất của ngành da giầy Việt Nam 68 2.1.3. Những đặc điểm cơ bản của ngành da giầy Việt Nam 75 2.1.4. Những cam kết của Việt Nam khi gia nhập WTO liên quan đến ngành da giầy 77 2.2. Tình hình xuất khẩu của ngành da giầy Việt Nam sau khi gia nhập WTO đến nay 80 2.2.1 Hoạt động xuất khẩu: 80 2.2.2 Chuỗi giá trị ngành da giầy Việt Nam 84 2.2.3 Một số thị trường chính 86 2.3. Đánh giá năng lực xuất khẩu ngành da giầy Việt Nam qua mô hình 4 bánh xe tương tác 93 2.3.1. Các yếu tố bên trong phạm vi ngành (Borderin issues) 94 2.3.2. Các yếu tố bên ngoài phạm vi ngành (Borderout issues) 97 2.3.3. Các yếu tố liên quan đến ngành (Border issues) 100 2.3.4. Các yếu tố phát triển (Development issues) 103 2.4. Kết luận chung về năng lực xuất khẩu ngành da giầy Việt nam 106 2.4.1. Kết quả đạt đuợc 106 2.4.2. Những tồn tại và hạn chế đối với xuất khẩu da giầy của Việt Nam. 107 CHƯƠNG 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC XUẤT KHẨU NGÀNH DA GIẦY VIỆT NAM 111 3.1. Triển vọng xuất khẩu và định hướng nâng cao năng lực xuất khẩu ngành da giầy Việt Nam trong thời gian tới 111 3.1.1. Quan điểm quy hoạch, định hướng phát triển của nhà nước đối với ngành da giầy Việt Nam 111 3.1.2. Xuất khẩu của ngành da giầy Việt Nam khi tự do hoá thương mại ngày càng mở rộng 114 3.1.3. Mục tiêu và định hướng nâng cao năng lực xuất khẩu của ngành da giầy Việt nam 118 3.2. Các giải pháp nâng cao năng lực xuất khẩu ngành da giầy 119 3.2.1. Nhóm giải pháp đối với các yếu tố bên trong phạm vi ngành 119 3.2.2. Nhóm giải pháp đối với các yếu tố bên ngoài phạm vi ngành 126 3.2.3. Nhóm giải pháp đối với các yếu tố liên quan đến ngành 130 3.2.4. Nhóm giải pháp đối với các yếu tố phát triển 135 3.3. Các kiến nghị cụ thể nhằm thực hiện các giải pháp nâng cao năng lực xuất khẩu ngành da giầy 137 3.3.1. Đối với Nhà nước 137 3.3.2. Đối với Hiệp hội da giầy 139 3.4.3. Đối với các doanh nghiệp 139 KẾT LUẬN 148 DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH Đà CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ 151 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 152 DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT SỬ DỤNG TRONG LUẬN ÁN Danh mục viết tắt bằng tiếng Anh AFTA ASEAN Free Trade Area Khu vùc mËu dÞch tù do ASEAN APEC Asia Pacific Economic Cooperation DiÔn ®µn kinh tÕ ch©u ¸ Th¸i B×nh D¬ng ASEAN Association of Southeast Asian Nations HiÖp héi c¸c quèc gia §«ng Nam ¸ AEC ASEAN Economic Community Cộng đồng kinh tế ASEAN EC European Community Céng ®ång ch©u ¢u EU European Union Liªn minh ch©u ¢u LEFASO Vietnam Leather and Footwear Association HiÖp héi Da GiÇy ViÖt Nam RD Research and Development Nghiên cứu và phát triển TPP TransPacific Partnership Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương WTO World Trade Organization Tæ chøc th¬ng m¹i thÕ giíi Danh mục viết tắt bằng tiếng Việt CN C«ng nghiÖp CNHT C«ng nghiÖp hç trî DNVN Doanh nghiÖp ViÖt nam DN Doanh nghiÖp DNNN Doanh nghiệp nhà nước DNNVV Doanh nghiệp nhỏ và vừa NLXK Năng lực xuất khẩu NXK Nhà xuất khẩu TP HCM Thµnh phè Hå ChÝ Minh XTTM Xóc tiÕn Th¬ng m¹i XK, NK XuÊt khÈu, NhËp khÈu DANH MỤC BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ Bảng biểu TÊN BẢNG Trang Bảng 1.1: Bảng tổng kết các tiêu chí đánh giá năng lực xuất khẩu theo các yếu tố cấu thành 22 Bảng 1.2: Chiến lược hoạt động 39 Bảng 2.1: Cơ cấu lao động trong doanh nghiệp da giầy Việt Nam 69 Bảng 2.2: Doanh nghiệp trong ngành da giầy Việt Nam 74 Bảng 2.3: Cam kết thuế nhập khẩu của Việt Nam khi gia nhập WTO đối với ngành da giầy 78 Bảng 2.4: Xuất khẩu hàng da giầy sang một số thị trường chính năm 2015 81 Bảng 2.5: Những mặt hàng da giầy chính xuất khẩu của Việt Nam năm 2014 83 Bảng 2.6 : Kim ngạch xuất khẩu da giầy của Việt Nam ở một số thị trường châu Á và nước khác trong năm 2015 90 Bảng 2.7: Số liệu kim ngạch nhập khẩu da giầy của Brazil từ thế giới và từ Việt Nam 93 Bảng 2.8 Nhập khẩu da thuộc và máy móc thiết bị 101 Bảng 3.1: Chỉ tiêu dự báo ngành da giầy Việt Nam 115 Bảng 3.2 Tốc độ tăng trưởng sản phẩm bình quân đến năm 2020 116 Bảng 3.3 Tham gia sâu chuỗi giá trị ngành da giầy 121 Bảng 3.4: Những yếu tố ảnh hưởng đến quyết định mở rộng thị trường bằng phương thức xuất khẩu 141 Bảng 3.5: Các tiêu chí lựa chọn thị trường xuất khẩu 142 Bảng 3.6. Các yếu tố đánh giá cơ hội và rủi ro của thị trường 143 Hình TÊN HÌNH Trang Hình 1.1: Mô hình kim cương 29 Hình 1.2: Mô hình bốn bánh xe tương tác 33 Hình 2.1: Tính hiện đại của thiết bị sản xuất da giầy 70 Hình 2.2: Thời gian khấu hao của thiết bị sản xuất da giầy 71 Hình 2.3: Tỷ trọng nhập khẩu Da thuộc từ các nước trên thế giới năm 2014 72 Hình 2.4: Cơ cấu ngành da giầy Việt Nam và các cơ cấu hỗ trợ 76 Hình 2.5: Kim ngạch xuất khẩu mặt hàng da giầy của Việt Nam 81 Hình 2.6: Xuất khẩu da giầy vào một số thị trường chính của Việt Nam 82 Hình 2.7: Chuỗi giá trị ngành giầy dép toàn cầu 84 Hình 2.8: Chuỗi giá trị ngành da giầy Việt Nam 85 Hình 2.9: Đường cong giá trị gia tăng theo từng giai đoạn trong chuỗi giá trị ngành da giầy 85 Hình 2.10: Thị phần nhập khẩu da giầy của EU (năm 2013) 87 Hình 2.11: Tỷ trọng xuất khẩu theo các loại hình của hàng da giầy năm 2012 95 Hình 3.1: Mô hình xuất khẩu cho doanh nghiệp da giầy Việt Nam 140 PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của Đề tài Trong những năm gần đây, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam liên tục tăng, tốc độ tăng trưởng bình quân từ 2011 đến tháng 102015 là 18,2%. Các sản phẩm xuất khẩu chủ lực là dệt may, da giầy, thủ công mỹ nghệ, điện tử, nông sản và hải sản. Tuy nhiên, xuất khẩu của Việt Nam vẫn phần lớn dựa vào các sản phẩm phụ thuộc vào lao động, hàng hóa chủ yếu là gia công xuất khẩu, ít giá trị gia tăng. Do đó, kim ngạch xuất khẩu những năm vừa qua mặc dù tăng nhanh nhưng chưa tương xứng với tiềm năng của đất nước, chưa đảm bảo tính vững chắc, hiệu quả đạt được chưa cao. Trong các ngành công nghiệp xuất khẩu, ngành da giầy chiếm vị trí thứ tư về kim ngạch xuất khẩu, sau ngành điện thoại, dệt may và vi tính, sản phẩm điện tử. Năm 2015, tổng kim ngạch xuất khẩu da giầy của Việt Nam đạt 12,2 tỷ USD, chiếm 7% trong tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa các loại của cả nước, tăng 16,3% so với năm 2014. Trong 6 tháng đầu năm 2016, ngành da giầy xuất khẩu 6,27 tỷ USD, tăng 7,2% so với cùng kỳ năm 2015, dự kiến cả năm 2016 xuất khẩu đạt 14 tỷ USD. Từ năm 2013, Việt Nam đứng thứ ba thế giới với giá trị xuất khẩu trung bình hằng năm khoảng 10 tỷ USD, chiếm 8,5% thị phần xuất khẩu thế giới. Việt Nam đứng thứ ba (sau Trung Quốc và Indonexia ) trong số các nước xuất khẩu da giầy nhiều nhất vào EU, đứng thứ hai về xuất khẩu vào thị trường Mỹ. Kim ngạch xuất khẩu sang một số thị trường khác như Nhật Bản, Chile, Hy Lạp, Ba Lan cũng tăng mạnh. Tuy nhiên, dù là nước xuất khẩu lớn, nhưng năng lực xuất khẩu của các doanh nghiệp da giầy Việt Nam vẫn còn tồn tại nhiều yếu tố phát triển không bền vững chủ yếu là do sản xuất và xuất khẩu theo phương thức gia công, không chủ động được nguồn nguyên liệu, bị hạn chế về vốn và công nghệ. Ngoài ra, cơ cấu các thành phần tham gia ngành có sự chênh lệch rõ rệt, các doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vẫn chiếm 79,3% tỷ trọng xuất khẩu. Khối doanh nghiệp trong nước chủ yếu là gia công. Ngoài ra, do chủ yếu cạnh tranh bằng giá rẻ nên các sản phẩm xuất khẩu của Việt Nam thường bị áp đặt các rào cản thương mại. Hiện nay, dù Việt Nam đã là thành viên của WTO và đang tích cực tham gia TPP, FTA với EU nhưng Việt Nam cũng rất khó khăn trong việc tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu do chưa thực sự liên kết từ khâu thiết kế nguyên phụ liệu sản xuất phân phối với các nước thành viên của WTO và TPP. Trong bối cảnh một loạt các hiệp định thương mại quan trọng đang trong giai đoạn hoàn tất, trong đó có Hiệp định Đối tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP), Hiệp định thương mại tự do Việt NamLiên minh châu Âu (EU), Việt Nam với Liên minh thuế quan Nga (Belarus Kazakhstan), ngành da giầy Việt Nam đang đứng trước nhiều thuận lợi. Để ngành da giầy phát triển bền vững, các doanh nghiệp ngành da giầy Việt Nam cần chủ động hơn nữa trong việc tham gia chuỗi sản xuất toàn cầu, đa dạng nguồn cung nguyên liệu nhằm tận dụng ưu đãi từ các hiệp định thương mại, đồng thời cần có chiến lược nghiên cứu, nắm bắt thị hiếu tiêu dùng trên thế giới để cung cấp các sản phẩm mà thị trường cần, nâng cao hơn nữa giá trị gia tăng cho sản phẩm xuất khẩu. Nếu muốn nắm bắt cơ hội từ các hiệp định thương mại song phương và đa phương thì ngành da giầy Việt Nam phải xác định rõ được vai trò của ngành trong chuỗi sản xuất, phân phối toàn cầu, các điểm mạnh, hạn chế và xây dựng các giải pháp chiến lược tổng thể trong đó sản xuất để xuất khẩu vẫn là nhiệm vụ trọng tâm. Với những lý do trên, tác giả quyết định chọn đề tài: “Nâng cao năng lực xuất khẩu ngành da giầy Việt Nam sau khi Việt Nam gia nhập WTO” làm đề tài luận án tiến sỹ khoa học kinh tế của mình. 2. Mục đích và câu hỏi nghiên cứu Mục đích nghiên cứu của luận án là làm rõ khái niệm và hệ thống hóa những vấn đề lý luận về năng lực xuất khẩu, phân tích thực trạng và những yếu tố tác động đối với năng lực xuất khẩu của ngành da giầy Việt Nam trong bối cảnh gia nhập WTO và các hiệp định thương mại mới ký kết. Qua đó đánh giá triển vọng xuất khẩu trong điều kiện hội nhập và đề xuất các giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao năng lực xuất khẩu của ngành da giầy Việt Nam. Luận án cũng đề xuất quy trình cụ thể để doanh nghiệp trong ngành chủ động nâng cao năng lực xuất khẩu có hiệu quả nhất. 2.1 Các nhiệm vụ nghiên cứu cần hoàn thành Làm rõ khái niệm, các tiêu chí đánh giá, các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực xuất khẩu thông qua nghiên cứu, phân tích các mô hình đánh giá năng lực xuất khẩu. Nghiên cứu kinh nghiệm nâng cao năng lực xuất khẩu của Trung Quốc và Brazil. Vận dụng mô hình đánh giá năng lực xuất khẩu đã lựa chọn vào nghiên cứu thực trạng năng lực xuất khẩu ngành da giầy Việt Nam trong điều kiện tham gia WTO và các hiệp định FTA mới ký kết. Phân tích cơ hội và thách thức đối với năng lực xuất khẩu ngành da giầy trong xu thế tự do hóa thương mại Đề xuất các giải pháp nâng cao năng lực xuất khẩu ngành da giầy Việt Nam. 2.2 Các câu hỏi nghiên cứu được đặt ra Các mô hình, tiêu chí đánh giá và nhân tố ảnh hưởng đến năng lực xuất khẩu của một ngành là gì? Đâu là các bài học kinh nghiệm, thành công và không thành công mà Việt Nam có thể học hỏi từ các nước khác (Trung Quốc, Braxin)? Năng lực xuất khẩu của ngành da giầy Việt Nam hiện nay như thế nào và chịu ảnh hưởng của các nhân tố nào? Những cơ hội và thách thức đối với năng lực cạnh tranh xuất khẩu của ngành da giầy Việt Nam là gì? Cần có những giải pháp gì, cả vĩ mô và vi mô để nâng cao năng lực cạnh tranh xuất khẩu của ngành da giầy Việt Nam? 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3.1 Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hoạt động xuất khẩu của ngành da giầy và năng lực xuất khẩu da giầy Việt Nam trong bối cảnh gia nhập WTO và các hiệp định thương mại mới ký kết gần đây. Luận án cũng nghiên cứu việc tham gia các hiệp định tự do thương mại của Việt Nam để thấy được sự tác động và mối liên quan giữa việc tự do hóa thương mại với năng lực xuất khẩu của ngành da giầy 3.2 Phạm vi nghiên cứu: Về mặt thời gian, đề tài giới hạn phạm vi nghiên cứu kể từ khi Việt Nam đã gia nhập WTO đến nay và tầm nhìn đến năm 2030. Về phạm vi nội dung nghiên cứu, luận án không tập trung nghiên cứu hoạt động xuất khẩu da thành phẩm, cặp, túi xách, mà chỉ tập trung nghiên cứu hoạt động xuất khẩu sản phẩm giầy dép các loại. Đồng thời luận án cũng giới hạn nghiên cứu hoạt động xuất khẩu ngành da giầy của Trung Quốc và Braxin chứ không phải tất cả các nước. Về mặt không gian, đề tài nghiên cứu các hoạt động xuất nhập khẩu của ngành, các doanh nghiệp trong ngành từ Trung ương, địa phương, các khu công nghiệp. 4. Phương pháp nghiên cứu 4.1 Phương pháp luận nghiên cứu của Luận Án: Trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa MácLê Nin. Các quan điểm chỉ đạo, định hướng của Đảng và Nhà nước về nền kinh tế thị trường, hội nhập kinh tế quốc tế và phát triển các ngành công nghiệp cũng là kim chỉ nam cho phương pháp luận nghiên cứu của Luận Án. 4.2 Các phương pháp nghiên cứu cụ thể Để thực hiện luận án, NCS đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu tổng hợp, cụ thể: Phương pháp phân tích tổng hợp: Phương pháp này được sử dụng trong tất cả các chương của dự án, từ các số liệu, hoạt động cụ thể của ngành trong từng giai đoạn cụ thể với những chính sách đặc thù, khái quát để phân tích, rút ra những vấn đề bản chất, qua đó đánh giá, kết luận và đưa ra các kiến nghị đề xuất. Phương pháp đối chiếu – so sánh: được sử dụng tại Chương I và Chương II nhằm làm rõ các vấn đề thực trạng, các nhận xét, đánh giá và bài học kinh nghiệm cụ thể của ngành Da giầy Việt Nam trong bối cảnh cạnh tranh quốc tế Phương pháp hệ thống hóa: được sử dụng chủ yếu trong Chương I để trình bày các nội dung liên quan đến khái niệm và các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực xuất khẩu. Phương pháp diễn giải – quy nạp: được sử dụng trong các chương của Luận án nhằm củng cố một số luận điểm. Phương pháp nghiên cứu tình huống: được sử dụng trong chương 1 để phân tích các trường hợp của Trung Quốc và Braxin (2 nước xuất khẩu da giầy hàng đầu thế giới) để rút ra các bài học kinh nghiệm đề xuất với ngành da giầy Việt Nam. 5. Những đóng góp mới của Luận án Trên cơ sở các phương pháp nghiên cứu, đánh giá về năng lực xuất khẩu của ngành da giầy, Luận án có một số đóng góp mới, cụ thể: Thứ nhất: Luận án đã hệ thống hoá những vấn đề lý luận về năng lực xuất khẩu, làm rõ mối quan hệ giữa năng lực cạnh tranh và năng lực xuất khẩu, từ đó đưa ra mô hình, các chỉ tiêu đánh giá, các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực xuất khẩu ngành da giầy Việt Nam. Thứ hai: Luận án đã tổng kết một số kinh nghiệm về nâng cao năng lực xuất khẩu ngành da giầy của Trung Quốc và Braxin (2 nước đứng đầu thế giới về xuất khẩu giầy), qua đó rút ra những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam. Thứ ba: Luận án đã phân tích thực trạng sản xuất, xuất khẩu, các đặc điểm của ngành da giầy Việt Nam. Thông qua mô hình “FOUR GEARS” của Trung tâm thương mại quốc tế ITC (UNCTADWTO), đánh giá thực trạng năng lực xuất khẩu ngành da giầy Việt Nam trong thời gian qua, qua đó thấy được những điểm mạnh, điểm hạn chế trong năng lực xuất khẩu của ngành da giầy. Đồng thời Luận án cũng phân tích các yếu tố thuận lợi, thách thức và các yêu cầu đối với ngành da giầy khi Việt Nam gia nhập WTO và các hiệp định tự do thương mại đã ký kết gần đây. Thứ tư: Luận án đã phân tích việc tham gia của ngành da giầy Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu, làm rõ những vấn đề cần giải quyết và đề xuất các biện pháp nhằm nâng cao giá trị sản phẩm, tham gia sâu vào chuỗi giá trị ngành trên thị trường thế giới. Thứ năm: Luận án đã phân tích bối cảnh quốc tế, khu vực, các yêu cầu từ những hiệp định thương mại đa phương, triển vọng phát triển của ngành da giầy để đề xuất phương hướng và giải pháp nâng cao năng lực xuất khẩu ngành da giầy Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế. Luận án cũng đưa ra một số kiến nghị cụ thể với các doanh nghiệp của ngành trong việc xác định và xây dựng chiến lược xuất khẩu 6. Kết cấu của luận án Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, các phụ lục, kết cấu của Luận án gồm bao gồm 2 phần: PHẦN A: TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU PHẦN B: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU Phần này gồm 3 chương Chương 1: Cơ sở lý luận về năng lực xuất khẩu và sự cần thiết phải nâng cao năng lực xuất khẩu Chương 2: Thực trạng năng lực xuất khẩu ngành da giầy sau khi gia nhập WTO Chương 3: Phương hướng và giải pháp nâng cao năng lực xuất khẩu ngành da giầy Việt Nam PHẦN A: TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 1.1. Các công trình nghiên cứu liên quan đến mô hình và các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh cấp ngành Năm 1990, Michael Eugene Porter xuất bản: “The competitive of advantage of Nations” được dịch ra tiếng Việt “Lợi thế cạnh tranh quốc gia” (2008) NXB Trẻ, trong đó tác giả vận dụng những cơ sở lý luận cạnh tranh trong nước vào cạnh tranh quốc tế, giải thích sự thành công của ngành kinh doanh nào đó tại mỗi quốc gia phụ thuộc vào 3 vấn đề cơ bản: lợi thế cạnh tranh quốc gia, năng suất lao động và sự liên kết trong trong nội bộ ngành. Khi kinh tế thế giới mang tính chất toàn cầu hóa, thì cạnh tranh sẽ chuyển từ các lợi thế tuyệt đối hay lợi thế so sánh do điều kiện địa lý, tự nhiên mang lại sang những lợi thế cạnh tranh đến từ tính ưu việt của thể chế và trình độ khoa học kỹ thuật cao. Các quốc gia thành công ở một số ngành trên thị trường toàn cầu vì môi trường trong nước có nhiều ưu điểm vượt trội so với các nước khác, qua đó họ có các doanh nghiệp mạnh, nhu cầu ổn định và sự liên kết chặt chẽ của các ngành phụ trợ. Qua đó, tác giả đưa ra “Mô hình Kim cương” để phân tích các nhân tố tác động đến năng lực cạnh tranh của ngành; các yếu tố quyết định của Mô hình là các điều kiện về các yếu tố sản xuất, điều kiện về cầu, các ngành hỗ trợ và bối cảnh cạnh tranh, chiến lược và cơ cấu doanh nghiệp, ngoài ra, còn có 2 yếu tố bổ sung là vai trò của nhà nước và yếu tố thời cơ. Năm 1985, Michael Eugene Porter xuất bản: “The competitive advantage” được dịch ra tiếng Việt “Lợi thế cạnh tranh”(2008) NXB Trẻ, tác giả chỉ rõ lợi thế cạnh tranh không chỉ ở mỗi hoạt động, mà còn ở cả mối liên kết giữa các hoạt động với nhau, với các hoạt động của nhà cung cấp và của khách hàng. Qua đó tác giả đưa ra khái niệm “chuỗi giá trị”, chia hoạt động chung của một doanh nghiệp thành những nhóm hoạt động khác nhau đại diện cho từng yếu tố tạo nên lợi thế cạnh tranh, qua đó đánh giá được lợi thế để xây dựng các chiến lược cạnh tranh của doanh nghiệp. Cũng trong tác phẩm này, tác giả phân tích sâu về cấu trúc ngành: khái niệm ngành, cấu trúc ngành và nhu cầu của người mua, cấu trúc ngành và sự cân bằng cung cầu, ma trận phân khúc ngành, mối quan hệ giữa công nghệ và lợi thế cạnh tranh. Năm 1980, Michael Eugene Porter xuất bản: “The competitive stratergy” được dịch ra tiếng Việt “Chiến lược cạnh tranh”(2008) NXB Trẻ, trong đó tác giả đã khái quát hoát cạnh tranh trong các ngành công nghiệp trong năm yếu tố nền tảng, đồng thời giới thiệu một trong những công cụ cạnh tranh mạnh mẽ nhất đó là ba chiến lược cạnh tranh: chi phí thấp, khác biệt hóa và trọng tâm, những chiến lược đã biến định vị chiến lược trở thành một hoạt động có cấu trúc. Tác giả cũng chỉ ra phương pháp xác định lợi thế cạnh tranh theo chi phí và giá tương đối, qua đó thể hiện mối liên hệ trực tiếp đối với lợi nhuận và trình bày một góc nhìn hoàn toàn mới về cách thức tạo ra và phân chia lợi nhuận. Cũng trong tác phẩm này, tác giả đưa ra những phương pháp mới nhằm phân tích ngành và đối thủ cạnh tranh của ngành, qua đó phân tích cơ cấu ngành, những yếu tố quyết định mức độ cạnh tranh cấp ngành, chu kỳ sống của sản phẩm, khung phân tích dự báo sự vận động của ngành Năm 1993, John H. Dunning, trong tác phẩm “International Porter’s Diamond” đăng trên tạp chí Management International Review số đặc biệt (special issue, volume 33, paper 8 – 15), cho rằng, mô hình Kim cương kiểu cũ khi sử dụng để đánh giá năng lực cạnh tranh của một ngành doanh nghiệp đã không còn chính xác trong điều kiện toàn cầu hóa và hội nhập của kinh tế thế giới và đề xuất bổ sung thêm nhân tố đầu tư nước ngoài vào mô hình để đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh. Năm 2003, tổ chức International Trade Center phát hành ấn phẩm “The Secret of Strategy Template” trong đó đưa ra mô hình “Four Gear” chỉ ra bốn yếu tố quyết định năng lực xuất khẩu của một quốc gia ngành: các yếu tố trong phạm vi ngành (borderin), các yếu tố liên quan đến ngành (border), các yếu tố bên ngoài phạm vi ngành (borderout) và các yếu tố phát triển (development). Mô hình này nhằm giúp các nhà hoạch định chính sách đề ra được các chiến lược nâng cao năng lực xuất khẩu phù hợp với năng lực thực tế của quốc gia ngành, thực lực năng lực cạnh tranh và các nguồn lực hiện có để thúc đẩy xuất khẩu và nắm được rõ chính sách nào sẽ có tác dụng, chính sách nào không. Đây là lý thuyết quan trọng sẽ được vận dụng vào luận án để làm rõ lý luận về năng lực xuất khẩu ngành. Năm 2004, tác giả Owen Skae trong công trình “Measuring the impact of National export strategy” trong đó phân tích các yếu tố ảnh hưởng trong mô hình “Four Gear” của ITC, đánh giá và định lượng mức độ ảnh hưởng của mỗi nhân tố trong mô hình, từ đó đưa ra kết luận về các chính sách tác động phù hợp với từng nhóm nhân tố để thúc đẩy năng lực xuất khẩu phù hợp với từng nền kinh tế, xã hội. 1.2. Các công trình nghiên cứu liên quan xuất khẩu và năng lực xuất khẩu ngành da giầy Năm 2012, nhóm tác giả Mark J. Roberts, Daniel Yi Xu, Xiaoyan Fan, Shengxing Zhang, công bố công trình nghiên cứu “A structural model of demand, cost and export market selection for Chinese footwear producers” trong đó sử dụng các số liệu mẫu thu thập từ các doanh nghiệp sản xuất ngành da giầy để xây dựng mô hình toán học tính toán mức tăng trưởng nhu cầu xuất khẩu, giá cả, thị phần tại những thị trường mục tiêu cụ thể, trong đó có phân tích việc tái cơ cấu ngành sau khi hạn ngạch nhập khẩu vào EU được dỡ bỏ. Hiệp hội các nhà sản xuất da giầy Brazil (Abicalçados) hằng năm có các ấn phẩm “Footwear Industry in Brazil” các năm từ 20102015 trong đó tổng hợp các số liệu liên quan đến ngành da giầy Brazil và phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến việc sản xuất, tiêu thụ, cạnh tranh của các sản phẩm Brazil, đây là một trong những bài học kinh nghiệm đối với ngành da giầy Việt Nam. Năm 2009, Tập đoàn Deloite phối hợp với Trung tâm cạnh tranh sản xuất quốc gia Ấn Độ (National Manufacturing Competitivenes Council) xuất bản ấn phẩm “Enhancing firm level competitiveness Indian leather and footwear industry” trong đó đưa ra một số giải pháp nhằm thúc đẩy cạnh tranh trong ngành da giầy Ấn Độ như: cạnh tranh về chi phí thông qua tham gia có hiệu quả vào chuỗi giá trị, phát triển đồng thời ngành sản xuất da giầy và sản xuất da, tập trung vào đào tạo, phát triển công nghiệp thuộc da và thu hút đầu tư nước ngoài. Trang World Footwear (www.worldfootwear.com) hằng năm có các báo cáo về ngành da giầy trên toàn thế giới, trong đó phân tích tình hình sản xuất, tiêu thụ, xuất khẩu của các nước, năng lực cạnh tranh của từng quốc gia xuất khẩu chính như Trung Quốc, Brazin, Việt Nam, ... 2. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam 2.1 Các công trình nghiên cứu về năng lực xuất khẩu Năm 2005, tác giả Bùi Ngọc Sơn trong cuốn “Năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp Việt Nam trong điều kiện kinh tế thị trường” NXB Thông tin và Truyền thông trong đó đưa ra mô hình và các tiêu chí đánh giá năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp, các vấn đề hội nhập kinh tế quốc tế và năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp. Năm 2011, nhóm tác giả Nguyễn Đình Cung, Nguyễn Thị Tuệ Anh, Lưu Minh Đức, Nguyễn Minh Thảo, Lê Phan dưới sự tài trợ của Quỹ Châu Á và Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Chiến lược Trung Ương có Báo cáo nghiên cứu “Năng lực cạnh tranh của Doanh nghiệp xuất khẩu trong ba ngành may mặc, thủy sản và điện tử ở Việt Nam” trong đó phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp xuất khẩu ngành may mặc, thủy sản và điện tử, đồng thời đưa ra một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp xuất khẩu của các ngành này. Năm 2006, tác giả Trần Sửu trong cuốn “Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong điều kiện toàn cầu hóa” trong đó nêu ra các nhóm nhân tố ảnh hướng tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, các yếu tố cấu thành năng lực cạnh tranh và tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Năm 2016, Luận án Tiến sĩ Kinh tế của tác giả Hoa Hữu Cường (bảo vệ năm 2016 tại Học viện khoa học xã hội – Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam) với đề tài “Nâng cao khả năng xuất khẩu hàng hóa chủ lực của Việt Nam vào EU trong giai đoạn 20112020”, trong đó đã đề cập đến khả năng xuất khẩu của hàng hóa một cách đầy đủ hơn, phân tích thực trạng xuất khẩu của ba mặt hàng chủ lực của Việt Nam vào EU (dệt may, da giầy, cà phê) trong giai đoạn từ năm 2006 đến 2015 dựa trên 3 nhóm tiêu chí đánh giá, qua đó dự báo các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng xuất khẩu hàng hóa chủ lực của Việt Nam và đề xuất một số giải pháp. Năm 2006, tác giả Nguyễn Thị Tuyết Mai, Mai Thế Cường có Báo cáo “Ngành rau quả” thuộc Dự án VIE 6194 Hỗ trợ xúc tiến thương mại và phát triển xuất khẩu tại Việt Nam – Chiến lược xuất khẩu Hướng dẫn tiếp thị xuất khẩu do Chính phủ Thụy Sỹ và Chính phủ Thụy Điển đồng tài trợ trong giai đoạn 20042010, triển khai bởi Cục Xúc tiến Thương mại Việt Nam (VIETRADE) phối hợp với Trung tâm Thương mại Quốc tế (ITC ), Hội nghị Liên hợp quốc về Thương mại và Phát triển(UNCTAD WTO). Trong báo cáo phân tích hoạt động sản xuất, xuất khẩu, năng lực cạnh tranh, chuỗi giá trị hiện tại và tương lai của ngành rau quả, chiến lược hỗ trợ ngành và chính sách của Nhà nước, đồng thời cũng giới thiệu mô hình 4 bánh xe của ITC trong phân tích, tuy nhiên, trong báo cáo lại chưa sử dụng mô hình này để phân tích năng lực xuất khẩu của ngành mà lại sử dụng ma trận SWTO để nghiên cứu năng lực cạnh tranh. Năm 2006, Cục xúc tiến thương mại có Báo cáo “Chiến lược xuất khẩu quốc gia ngành thủ công mỹ nghệ Việt Nam” thuộc Dự án VIE 6194 Hỗ trợ xúc tiến thương mại và phát triển xuất khẩu tại Việt Nam – Chiến lược xuất khẩu Hướng dẫn tiếp thị xuất khẩu do Chính phủ Thụy Sỹ và Chính phủ Thụy Điển đồng tài trợ trong giai đoạn 2004 2010. Trong báo cáo đánh giá những yếu tố có tầm quan trọng nhất quyết định sự thành bại tăng trưởng xuất khẩu của ngành thủ công mỹ nghệ, đề ra những khuyến nghị nhằm khai thác hiệu quả nhất tiềm năng của ngành, trong đó đề cập đến việc sử dụng 4 yếu tố “Border”, “Border In”, “Border out” và “Development” để xây dựng chiến lược xuất khẩu cho ngành thông qua phát triển chuỗi giá trị. Tuy nhiên báo cáo cũng chỉ mới tập trung nghiên cứu chuỗi giá trị của ngành, đánh giá hoạt động xuất khẩu, xây dựng các đề xuất nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành mà chưa phân tích về năng lực xuất khẩu, các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực xuất khẩu cũng như sử dụng mô hình 4 bánh xe trong việc phân tích năng lực xuất khẩu, từ đó đề xuất các giải pháp phù hợp với hiện trạng của ngành. 2.2 Các nghiên cứu về ngành da giầy Việt Nam Năm 2007, tác giả Lưu Thanh Đức Hải trong bài báo “Export Barriers: The case of the Vietnamese Footwear Industry” tạp chí Centre for ASEAN Studies trang 51 nghiên cứu về các rào cản xuất khẩu trong ngành công nghiệp da giầy Việt Nam, trong đó chỉ ra các rào cản chính là: không xác định những cơ hội tại thị trường xuất khẩu, thiếu thông tin liên quan đến các trung gian nước ngoài, nhà phân phối và khách hàng tương lai, thiếu nghiên cứu thị trường, thiếu nhân sự có đào tạo, đặc biệt về marketing quốc tế, thiếu khả năng cung ứng số lượng nhất định đối với những đơn hàng thường xuyên đồng thời chỉ ra các giải pháp để các nhà sản xuất khắc phục những rào cản này. Năm 2009, tác giả Trần Thị Huyền Trang có Báo cáo “Chiến lược xuất khẩu ngành da giầy Việt Năm cập nhật 2010 – 2015” thuộc Dự án VIE 6194 Hỗ trợ xúc tiến thương mại và phát triển xuất khẩu tại Việt Nam do Chính phủ Thụy Sỹ và Chính phủ Thụy Điển đồng tài trợ trong giai đoạn 20042010, triển khai bởi Cục Xúc tiến Thương mại Việt Nam (VIETRADE) phối hợp với Trung tâm Thương mại Quốc tế (ITC), Hội nghị Liên hợp quốc về Thương mại và Phát triển (UNCTAD WTO). Trong báo cáo phân tích tình hình sản xuất, xuất khẩu của ngành da giầy, chuỗi giá trị hiện tại, chiến lược và chính sách hỗ trợ của Chính phủ, những ưu tiên chiến lược cho việc phát triển trong tương lai, tuy nhiên cũng chưa làm rõ mối quan hệ giữa nội bộ ngành, các ngành phụ trợ, các nhà cung cấp, các đối thủ quốc tế, qua đó đề xuất được những thay đổi trong chính sách xuất khẩu để xuất khẩu bền vững ngành hàng da giầy. Năm 2010, Luận án Tiến sĩ Kinh tế của tác giả Dương Văn Hùng (bảo vệ năm 2010 tại trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân) với đề tài “Thúc đẩy xuất khẩu vào thị trường EU của các doanh nghiệp giầy dép trên địa bàn Hà Nội”, trong đó tác giả đã chỉ ra các lợi thế so sánh của doanh nghiệp giầy dép trên địa bàn Hà Nội, tầm quan trọng của việc áp dụng các tiêu chuẩn quản lý chất lượng sản phẩm, quản lý môi trường để vượt qua các thách thức rào cản khi xuất khẩu vào thị trường EU. Tuy nhiên, luận án mới chỉ tập trung nghiên cứu hoạt động xuất khẩu của một nhóm doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội, cũng như thị trường EU mà chưa có phân tích chuyên sâu về năng lực của ngành da giầy Việt Nam nói chung, các ảnh hưởng của việc gia nhập WTO và các hiệp định tự do thương mại đối với ngành da giầy,… Năm 2016, Luận án Tiến sĩ Kinh tế của tác giả Nguyễn Thị Phượng (bảo vệ năm 2016 tại Viện Nghiên cứu Thương mại – Bộ Công Thương) với đề tài “Hoàn thiện chính sách thương mại nhằm phát triển xuất khẩu bền vững sản phẩm da giầy của Việt Nam”, đã xây dựng nội dung và các tiêu chí đánh giá phát triển xuất khẩu bền vững sản phẩm da giầy, nghiên cứu thực trạng và tác động của chính sách thương mại đối với phát triển xuất khẩu bền vững của sản phẩm da giầy, kinh nghiệm của các nước Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia về chính sách thương mại trong phát triển xuất khẩu bền vững ngành da giầy. Tuy nhiên, luận án chưa khái quát hóa các lý thuyết về năng lực xuất khẩu của một ngành, các mô hình đánh giá năng lực xuất khẩu, cũng như chưa phân tích chuyên sâu đến các hoạt động trong nội bộ ngành, các tác động của các hiệp định tự do thương mại,… Quyết định số 6209QĐBCT ngày 25 tháng 11 năm 2010 của Bộ trưởng Bộ Công Thương về việc phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển ngành Da giầy Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2025. Theo đó, Quy hoạch đưa ra mục tiêu tổng quát, định hướng quy hoạch phát triển và hệ thống các giải pháp thực hiện bao gồm: giải pháp đầu tư, Giải pháp phát triển sản xuất nguyên phụ liệu và công nghiệp hỗ trợ, Giải pháp thị trường, Giải pháp đào tạo phát triển nguồn nhân lực, Giải pháp phát triển khoa học công nghệ và bảo vệ môi trường, Giải pháp quản lý ngành. Năm 2013, nhóm tác giả David Luff, Nguyễn Hiền, Nguyễn Anh Thu trong báo cáo: “Hỗ trợ nghiên cứu: Kiểm soát xuất khẩu của các thành viên WTO và khuyến nghị đối với Việt Nam” thuộc Dự án hỗ trợ chính sách thương mại và đầu tư của Châu Âu (MUTRAP), trong đó đề cập đến các quy định kiểm soát xuất khẩu của các nước tham gia WTO đối với các mặt hàng trong đó có ngành da giầy. Năm 2014, Cục xúc tiến thương mại phối hợp với Cục kinh tế liên bang Thụy Sĩ xây dựng báo cáo “Đánh giá tiềm năng xuất khẩu quốc gia” xác định những sản phẩm ngành hàng có tiềm năng xuất khẩu, tập trung cho 05 ngành hàng là nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ, thủ công mỹ nghệ và thủy sản ở cấp quốc gia và ở cấp vùng (Bắc, Trung và Nam) nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh xuất khẩu của DNNVV Việt Nam, qua đó thúc đẩy tăng kim ngạch xuất khẩu và phát triển các ngành hàng xuất khẩu chính của Việt Nam thông qua hệ thống XTTM trên phạm vi toàn quốc. Đồng thời cụ thể hóa các chính sách của Chính phủ, nhà nước Việt Nam trong giai đoạn hiện nay nhằm mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm, hỗ trợ doanh nghiệp giải phóng hàng tồn, đẩy mạnh sản xuất kinh doanh cho doanh nghiệp. Trong báo cáo đã dành 9 trang nghiên cứu về ngành da giầy, trong đó phân tích tình hình xuất khẩu ngành da giầy, xu hướng xuất khẩu, phân tích ma trận SWOT của ngành, tuy nhiên, các kết quả nghiên cứu mới dừng lại ở mức độ tổng quan, chưa phân tích cụ thể năng lực xuất khẩu của ngành, cũng chưa đề ra được các khuyến nghị cụ thể đối với ngành mà nằm trong nhóm giải pháp đối với ngành công nghiệp nói chung. Các nghiên cứu đánh giá thực trạng phát triển ngành da giầy được công bố đều đặn hàng năm hoặc theo các giai đoạn cụ thể do nhiều đơn vị thực hiện như Hiệp hội Da – Giầy Túi xách, Tổng cục Hải Quan, Viện Nghiên cứu Da Giầy,... Nguồn số liệu và báo cáo định kỳ do Hiệp hội Da – Giầy – Túi xách và Tổng cục Hải quan định kỳ công bố số liệu và báo cáo phân tính về tình hình sản xuất và xuất nhập khẩu của ngành. Các nghiên cứu đánh giá tác động của các hiệp định thương mại trên trang tin http:www.trungtamwto.vn trong đó đề cập đến nội dung của các Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – EU, Hiệp định Đối tác Kinh tế Chiến lược xuyên Thái Bình Dương – TPP, Cộng đồng kinh tế ASEAN – AEC … cũng như các khuyến cáo đối với doanh nghiệp khi những hiệp định này có hiệu lực 2.3 Các nghiên cứu khác Năm 2011, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) có “Báo cáo điều tra cộng đồng doanh nghiệp về các vấn đề hội nhập ngành da giầy” nhằm đánh giá tác động hội nhập kinh tế đến các doanh nghiệp trong ngành. Khảo sát được thực hiện với 80 doanh nghiệp ngành da giầy. Kết quả khảo sát cho thấy phần lớn các doanh nghiệp đã nhận thức được tính tất yếu của quá trình hội nhập. Đa số các doanh nghiệp được khảo sát cho biết hội nhập có tác động tích cực đến hiệu quả kinh doanh, dù gặp thuận lợi do có thị trường mới, giá thành sản phẩm rẻ và nhân lực dồi dào, tuy nhiên vẫn gặp một số khó khăn như thiếu thông tin về thị trường mới, rào cản thương mại, thủ tục hành chính… Năm 2010, Luận án Tiến sĩ Kinh tế của tác giả Trần Thanh Long (bảo vệ năm 2010 tại trường Đại Học Kinh Tế Hồ Chí Minh) với đề tài “Đánh giá tác động của gia nhập WTO đến kết quả kinh doanh xuất khẩu của doanh nghiệp Việt Nam”, trong đó tác giả đã nêu ra 6 nhân tố hưởng của WTO đến kết quả kinh doanh xuất khẩu của doanh nghiệp Việt Nam, sử dụng mô hình hồi quy tính toán tác động của WTO đến kết quả kinh doanh XK của DN Việt Nam, đề xuất các giải pháp với Chính phủ, doanh nghiệp, hiệp hội ngành hàng xuất khẩu. Tuy nhiên đây là nghiên cứu chung cho các doanh nghiệp Việt Nam, chưa gắn với đặc điểm cụ thể của từng ngành như ngành da giầy, cũng như chưa đề cập đến vai trò của các ngành công nghiệp phụ trợ, mối liên kết trong nội bộ ngành,… Năm 2013, Luận án Tiến sĩ Kinh tế của tác giả Đỗ Minh Thụy (bảo vệ năm 2013 tại Viện Nghiên cứu Quản lý Trung Ương) với đề tài “Công nghiệp hỗ trợ ngành giầy dép – nghiên cứu đối với ngành giày dép ở Hải Phòng”, trong đó tác giả đã phân tích mối quan hệ giữa phát triển công nghiệp hỗ trợ với phát triển các ngành công nghiệp, các chỉ tiêu đánh giá và nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của công nghiệp hỗ trợ, đề xuất một số giải pháp phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ ngành da giầy, dệt may. 3. Đánh giá tổng quan về tình hình nghiên cứu Như đã phân tích ở trên, các nghiên cứu liên quan đến ngành da giầy Việt Nam chủ yếu phân tích thực trạng ngành da giầy bằng các con số thống kê qua các thời kỳ, bên cạnh đó đánh giá ảnh hưởng của các hiệp định thương mại đến sự phát triển của ngành da giầy thông qua phân tích các điểm mạnh, điểm yếu còn tồn tại cũng như những cơ hội có thể tận dụng được và thách thức phải đối mặt của các doanh nghiệp da giầy khi Việt Nam tham gia một loạt các hiệp định thương mại lớn trong khu vực và trên toàn thế giới. Từ đó, nhiều giải pháp đối với Chính phủ và các doanh nghiệp da giầy Việt Nam đã được đề xuất nhằm tận dụng tối đa các cơ hội, đồng thời giảm bớt tác động tiêu cực do các thách thức mang lại. Qua tìm hiểu về tình hình nghiên cứu liên quan đến chủ đề nghiên cứu trong và ngoài nước, tác giả xin đưa ra một vài nhận xét như sau: 3.1 Những vấn đề đã được giải quyết Các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước đã có những phân tích nhất định về năng lực xuất khẩu Đã có những đánh giá, nhận định về thực trạng ngành da giầy, điểm mạnh, điểm yếu, thách thức và cơ hội khi tham gia các hiệp định tự do thương mại. Đã đưa ra một số giải pháp cụ thể đối với từng cấp: Doanh nghiệp, Hiệp Hội, Chính phủ 3.2 Những vấn đề chưa được giải quyết Chưa làm rõ được khái niệm và đặc điểm về năng lực xuất khẩu; chưa phân tích được mối quan hệ giữa năng lực xuất khẩu và năng lực cạnh tranh Áp dụng các mô hình cũ trong việc phân tích đánh giá năng lực cạnh tranh năng lực xuất khẩu của ngành da giầy, tuy nhiên các mô hình này không còn tính chính xác khi tham gia sâu rộng vào hội nhập kinh tế, nhất là có yếu tố đầu tư nước ngoài; Những kiến nghị chưa sát với đặc điểm cụ thể của ngành da giầy, nhất là khi tham gia vào các hiệp định tự do thương mại. Ba vấn đề này cũng là ba vấn đề mà Nghiên cứu sinh phải nghiên cứu, phân tích làm rõ trong luận án này. Tóm lại, Nghiên cứu sinh cho rằng cho đến nay chưa có công trình nào phân tích một cách cụ thể, chuyên sâu cả về lý luận và thực tiễn về năng lực xuất khẩu ngành da giầy. Có thể nói, đây là luận án tiến sỹ đầu tiên nghiên cứu toàn diện các vấn đề về năng lực xuất khẩu ngành da giầy trong điều kiện các hiệp định tự do thương mại có hiệu lực. PHẦN B: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CHƯƠNG 1: MỘT SỐ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC XUẤT KHẨU CỦA NGÀNH DA GIẦY 1.1. Những vấn đề lý luận về năng lực xuất khẩu 1.1.1 Khái niệm năng lực xuất khẩu Khi nói đến ngành, chung ta có thể coi ngành là một cấu phần cơ bản của nền kinh tế như ngành công nghiệp, ngành nông nghiệp, ngành dịch vụ, .... hoặc một ngành phân ngành của một ngành kinh tế như ngành công nghiệp nhẹ, công nghiệp nặng (thuộc ngành công nghiệp). Cụ thể hơn nữa, khái niệm ngành có thể được sử dụng để chỉ đến một sản phẩm hoặc nhóm sản phẩm cụ thể như ngành da giầy, dệt may, ... Trong nghiên cứu này, ngành được hiểu như là tập hợp nhóm các doanh nghiệp, cùng sản xuất, cung cấp một loại sản phẩm (hàng hóa dịch vụ) để cạnh tranh trực tiếp với nhau trong điều kiện các nguồn lợi thế cạnh tranh là tương tự nhau trong cùng một quốc gia. Đối với một nền kinh tế mở, chính các doanh nghiệp này cũng phải cạnh tranh với các đối thủ trong ngành trên những thị trường quốc tế. Để có thể cạnh tranh được trên thị trường quốc tế, ngành phải có năng lực cạnh tranh. Năng lực cạnh tranh của ngành là khả năng đạt được những thành tích bền vững của các doanh nghiệp (của quốc gia đó) trong ngành so với các đối thủ nước ngoài. Sự thành công của một số doanh nghiệp trong ngành được xem là sự thành công của ngành và thể hiện những yếu tố đặc thù có thể nhân rộng hoặc cải thiện được. Như vậy, có thể coi doanh nghiệp là nền tảng của năng lực cạnh tranh ngành. Trong bối cảnh hội nhập kinh tế toàn cầu, nền kinh tế, chính trị của một quốc gia cũng chịu những ảnh hưởng to lớn từ xu hướng biến động của thế giới. Do vậy, năng lực cạnh tranh của ngành cũng có những thay đổi khi các doanh nghiệp của ngành xuất khẩu hàng hóa dịch vụ. Tuy nhiên năng lực cạnh tranh cũng chưa đảm bảo doanh nghiệp có đầy đủ năng lực xuất khẩu trên thị trường thế giới do những rào cản trong cạnh tranh quốc tế. Khi nghiên cứu về năng lực xuất khẩu của một ngành, cần làm rõ là làm thế nào để các doanh nghiệp trong ngành đó có thể tạo ra và duy trì lợi thế xuất khẩu sản phẩm trong bối cảnh cạnh tranh trên thị trường toàn cầu. Do vậy, có thể sử dụng lý thuyết về năng lực xuất khẩu doanh nghiệp nói chung để phân tích năng lực xuất khẩu ngành. Hiện nay các nghiên cứu về năng lực xuất khẩu thường sử dụng các cơ sở lý luận khác nhau, thứ nhất: “năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp là khả năng tối đa mà doanh nghiệp có thể bán sản phẩm ra thị trường nước ngoài và doanh nghiệp tận dụng được tối đa các cơ hội mà chính phủ tạo ra khi tham gia các hiệp định tự do thương mại và các sáng kiến đẩy mạnh xuất khẩu thứ hai “năng lực xuất khẩu được hiểu là một mục tiêu kinh doanh hay mục tiêu nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh hướng tới tăng trưởng mặt hàng, kim ngạch xuất khẩu, và mở rộng thị trường” (Cục Xúc tiến Thương mại 2009), thứ ba: “năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp là khả năng doanh nghiệp khai thác và tận dụng một cách hiệu quả các nguồn lực kết hợp với các chiến lược để xuất khẩu nhằm mục tiêu lợi nhuận và mở rộng thị trường” (Bùi Ngọc Sơn 2005, tr. 18) Năng lực xuất khẩu là khả năng xây dựng, tổ chức và thực hiện các biện pháp hướng tới xuất khẩu nhằm khai thác tối đa các lợi thế về năng lực cạnh tranh trên phạm vi quốc tế nhằm làm tăng doanh thu xuất khẩu, chiếm lĩnh thị phần, thị trường. Như vậy, có thể hiểu năng lực xuất khẩu là năng lực cạnh tranh kết hợp với các biện pháp triển khai xuất khẩu, là khả năng tiêu thụ sản phẩm trên thị trường quốc tế và thu được lợi nhuận trong khi vẫn đối mặt với cạnh tranh quốc tế. Năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp có đầy đủ các yếu tố của năng lực cạnh tranh như năng lực tài chính, trình độ nhân lực, giá cả, chất lượng hàng hóa… nhưng tập trung sâu hơn vào một số yếu tố liên quan đến thị trường quốc tế như năng lực và kinh nghiệm tổ chức xuất khẩu, năng lực nghiên cứu thị trường quốc tế, năng lực giải quyết các vấn đề pháp lý quốc tế,… Ở một cách tiếp cận khác, tác giả Lê Nhật Thức sử dụng khái niệm sức để làm rõ năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp gồm: Sức tạo ra lợi nhuận và nâng cao thị phần trên thị trường xuất khẩu bằng việc kinh doanh hàng hóa dịch vụ của mình. Sức đã, đang và sẽ có trong việc tận dụng các cơ hội từ việc xây dựng hoặc điều chỉnh chiến lược kinh doanh phù hợp với tình hình thực tế. Khái niệm sức nói trên được sử dụng trong quan hệ so sánh với các doanh nghiệp khác cùng ngành, trong cùng một thời điểm và trên cùng một thị trường. Tóm lại, dù cách định nghĩa có khác nhau, nhưng các nghiên cứu đều có một điểm chung đó là doanh nghiệp muốn có năng lực xuất khẩu thì doanh nghiệp phải có lợi thế cạnh tranh. Nói cách khác, năng lực cạnh tranh chính là điều kiện cần để doanh nghiệp có năng lực xuất khẩu. Từ những phân tích nêu trên, dù được phân tích dưới góc độ nào thì năng lực xuất khẩu cũng thể hiện khả năng của doanh nghiệp trong việc xuất khẩu. Khả năng đó có được do cách kết hợp nội lực của doanh nghiệp cùng với ngoại lực đến từ môi trường bên ngoài. Khả năng đó phải được thể hiện ở những kết quả cuối cùng là doanh thu, là hiệu quả, là lợi nhuận, là quy mô thị trường... Như vậy theo quan điểm của tác giả, có thể hiểu, năng lực xuất khẩu doanh nghiệp là khả năng huy động và sử dụng các nguồn lực sẵn có một cách hiệu quả, kết hợp với việc xây dựng, hoàn thiện các chiến lược phù hợp môi trường kinh doanh trong và ngoài nước để thực hiện sản xuất kinh doanh cung ứng trao đổi hàng hoá dịch vụ với nước ngoài nhằm mục tiêu tối đa lợi nhuận và không ngừng mở rộng thị trường. Ngành là tập hợp nhóm các doanh nghiệp có chung các yếu tố sản xuất, kinh doanh và cùng cung cấp một loại sản phẩm dịch vụ trên thị trường trong nước và quốc tế, các doanh nghiệp này cạnh tranh với nhau và cạnh tranh với các đối thủ khác. Năng lực xuất khẩu ngành được sử dụng để nói tới phạm vi rộng hơn, đánh giá mức độ mạnh, yếu của một ngành sản phẩm của một quốc gia trên phạm vi thị trường xuất khẩu quốc tế, thể hiện qua các chỉ số như quy mô sản xuất sản phẩm, tổng kim ngạch xuất khẩu, tốc độ phát triển ngành, thị phần và thị trường của ngành trên thị trường thế giới, chất lượng và giá bán sản phẩm, năng lực nghiên cứu phát triển sản phẩm mới, cơ cấu cấu trúc của ngành, mức độ tham gia vào chuỗi giá trị sản phẩm toàn cầu, ... Hiểu rộng hơn, năng lực xuất khẩu của ngành là khả năng ngành đó có thể bán được sản phẩm dịch vụ của ngành trên thị trường quốc tế, có thể cạnh tranh với đối thủ nước ngoài và thu được lợi nhuận. Như vậy, năng lực xuất khẩu của ngành là năng lực của ngành trong việc sản xuất, cung ứng sản phẩm dịch vụ có lợi thế xuất khẩu trên thị trường quốc tế nhằm duy trì sự tăng trưởng, tối đa lợi nhuận và không ngừng mở rộng thị trường. Năng lực xuất khẩu của ngành thường xuyên thay đổi theo các điều kiện sản xuất kinh doanh. Ngành chỉ có năng lực xuất khẩu tốt khi có nhiều doanh nghiệp có năng lực xuất khẩu tốt. Nếu sản phẩm không có khả năng cạnh tranh, doanh nghiệp không có năng lực xuất khẩu thì ngành cũng sẽ không có năng lực xuất khẩu. 1.1.2. Các chỉ tiêu đánh giá năng lực xuất khẩu Để đánh giá năng lực xuất khẩu, tác giả Bùi Ngọc Sơn xây dựng bộ tiêu chí đánh giá năng lực xuất khẩu. Tuy nhiên, bộ tiêu chí này còn thiên về định tính và không cố định về số lượng nhóm tiêu chí và các tiêu chí phụ trong nhóm. Mỗi nhóm tiêu chí có số điểm tối đa là 5, chia làm năm mức từ 1 đến 5: kém, trung bình, khá, tốt và cao. Doanh nghiệp nào có điểm cao hơn sẽ có năng lực xuất khẩu cao hơn. Bộ tiêu chí được tác giả xây dựng gồm các nhóm tiêu chí sau: tổ chức doanh nghiệp, trình độ đội ngũ lãnh đạo, tỉ lệ nhân viên, công nhân lành nghề, số sáng kiến cải tiến, đổi mới hàng năm, chất lượng cơ sở vật chất, kỹ thuật, năng lực tài chính, chất lượng sản phẩm, thị phần, năng suất lao động, chất lượng môi trường sinh thái và các giá trị vô hình của doanh nghiệp. Nghiên cứu này sử dụng bộ số liệu từ cuộc điều tra 1.200 doanh nghiệp tại Hà Nội, Hải Phòng và Thành phố Hồ Chí Minh. Từ kết quả khảo sát, năng lực xuất khẩu của các doanh nghiệp trong các ngành công nghiệp, dịch vụ và thương mại được đánh giá theo bộ tiêu chí đã đề xuất. Đối với nghiên cứu này, các chỉ tiêu chưa được sắp xếp hệ thống. Nhiều chỉ tiêu khó đo lường cụ thể hoặc đo lường thông qua ý kiến của doanh nghiệp như chỉ tiêu về thị phần, về môi trường sinh thái. Điều này ảnh hưởng đến việc so sánh năng lực xuất khẩu của các doanh nghiệp hoặc các ngành kinh tế. Như đã phân tích ở trên, ranh giới phân tách khái niệm năng lực xuất khẩu và năng lực cạnh tranh quốc tế là rất khó khăn nên nhóm chuyên gia Cục Xúc tiến thương mại đề xuất hai bộ chỉ số cơ bản để đánh giá đồng thời năng lực cạnh tranh quốc tế và năng lực xuất khẩu của các doanh nghiệp Việt Nam. Nghiên cứu này sử dụng bộ số liệu điều tra từ hai cuộc khảo sát doanh nghiệp do Tổng cục Thống kê và Cục Xúc tiến thương mại, Bộ Công thương tiến hành năm 2008 và bổ sung số liệu khảo sát của 50 doanh nghiệp trong ngành trong năm 2012. Trong nhóm chỉ tiêu định tính, bốn chỉ tiêu có ảnh hưởng lớn đến khả năng xuất khẩu của doanh nghiệp được xem xét và phân tích bao gồm: chất lượng nguồn nhân lực, đầu tư cho công nghệ, phát triển sản phẩm mới và chất lượng công tác tiếp thị, xúc tiến thương mại. Về phương pháp định lượng, tác giả sử dụng một số chỉ số phổ biến trong việc đánh giá năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp. Đó là tỷ lệ xuất khẩu trên doanh thu và khoảng thời gian từ khi doanh nghiệp được thành lập tới khi doanh nghiệp bắt đầu xuất khẩu. Nghiên cứu chỉ ra doanh nghiệp có khả năng xuất khẩu cao (tỷ lệ xuất khẩu trên doanh thu cao, thời gian từ khi thành lập đến khi xuất khẩu ngắn); trình độ nguồn nhân lực cao; tỷ lệ doanh nghiệp đầu tư cho công nghệ, phát triển sản phẩm mới, RD và xây dựng thương hiệu cao; chất lượng sản phẩm đư
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
LUẬN ÁN TIẾN SĨ
NÂNG CAO NĂNG LỰC XUẤT KHẨU NGÀNH DA GIẦY VIỆT NAM
SAU KHI VIỆT NAM GIA NHẬP WTO
Chuyên ngành: KINH TẾ QUỐC TẾ
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Hoàn thành luận án này, tôi xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS
TS Nguyễn Văn Hồng đã tận tình giúp đỡ, chỉ bảo tôi trong suốt thời gian vừa qua Tôi cũng xin được chân thành cảm ơn các nhà khoa học, tác giả các công trình công bố
đã được trích dẫn trong luận án này vì đã cung cấp nguồn tư liệu quý báu, những kiến thức liên quan trong quá trình nghiên cứu
Tôi xin được gửi lời cảm ơn tới Trường Đại học Ngoại thương, Khoa Sau Đại học cùng toàn thể các thầy cô giáo trong trường Đại Học Ngoại Thương đã trang bị kiến thức viết bài, giúp đỡ và tạo điều kiện để cho tôi hoàn thành luận án này
Tôi cũng xin trân trọng cảm ơn Lãnh đạo Công ty CP Đầu tư XNK Da Giầy Hà Nội, Quỹ Đầu tư Phát triển TP Hà Nội vì đã tạo điều kiện về thời gian và tinh thần trong quá trình hoàn thiện chuyên đề
Tôi cũng xin trân trọng gửi lời cảm ơn tới Hiệp Hội Da Giầy Việt Nam, Bộ Công Thương, Vụ Công Nghiệp Nhẹ - Bộ Công Thương và các đơn vị, doanh nghiệp ngành Da giầy đã cung cấp cho tôi những tài liệu và thông tin hữu ích liên quan đến đề tài Qua quá trình thực hiện đề tài, tôi đã tích luỹ được nhiều kinh nghiệm quý báu trong công tác thực tế và phương pháp nghiên cứu, góp phần nâng cao trình độ và năng lực chuyên môn Tuy nhiên, do sự hạn chế về thời gian, điều kiện nghiên cứu và khả năng bản thân có hạn nên nội dung luận án khó tránh khỏi những sai sót và khiếm khuyết
Tôi rất mong nhận được sự chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo cùng sự góp ý của đông đảo bạn đọc và xin chân thành cảm ơn
Hà Nội, ngày 10 tháng 10 năm 2016
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận án là trung thực, khách quan và chưa từng để bảo vệ ở bất kỳ học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận án đã được cám
ơn, các thông tin trích dẫn trong luận án này đều được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày 10 tháng 10 năm 2016
Tác giả
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT SỬ DỤNG TRONG LUẬN ÁN x
DANH MỤC BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ xi
PHẦN MỞ ĐẦU 1
PHẦN A: TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 6
1 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 6
2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam 8
3 Đánh giá tổng quan về tình hình nghiên cứu 13
PHẦN B: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 15
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC XUẤT KHẨU CỦA NGÀNH DA GIẦY 15
1.1 Những vấn đề lý luận về năng lực xuất khẩu 15
1.1.1 Khái niệm năng lực xuất khẩu 15
1.1.2 Các chỉ tiêu đánh giá năng lực xuất khẩu 17
1.1.3 Mô hình đánh giá năng lực xuất khẩu và các nhân tố ảnh hưởng 27
1.2 Sự cần thiết phải nâng cao năng lực xuất khẩu ngành da giầy Việt Nam 48
1.2.1 Năng lực xuất khẩu là yếu tố quyết định đến sự tồn tại và phát triển của ngành 48
1.2.2 Việc gia nhập WTO và các Hiệp định thương mại tự do tạo ra sức ép cạnh tranh đối với ngành da giầy Việt Nam 49
1.2.3 Nâng cao năng lực xuất khẩu ngành da giầy góp phần thúc đẩy sự phát triển của các ngành kinh tế khác, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa 52
1.3 Kinh nghiệm nâng cao năng lực xuất khẩu ngành da giầy của Trung Quốc và Brazil 53
1.3.1 Năng lực xuất khẩu ngành da giầy của Trung Quốc 53
1.3.2 Năng lực xuất khẩu ngành da giầy của Brazil 57
1.3.3 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 59
Trang 6CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG NĂNG LỰC XUẤT KHẨU NGÀNH DA GIẦY
VIỆT NAM SAU KHI GIA NHẬP WTO 64
2.1 Tổng quan về ngành da giầy của Việt Nam sau khi gia nhập WTO 64
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển 64
2.1.2 Khái quát về hoạt động sản xuất của ngành da giầy Việt Nam 66
2.1.3 Những đặc điểm cơ bản của ngành da giầy Việt Nam 72
2.1.4 Những cam kết của Việt Nam khi gia nhập WTO liên quan đến ngành da giầy 74
2.2 Tình hình xuất khẩu của ngành da giầy Việt Nam sau khi gia nhập WTO đến nay 77
2.2.1 Hoạt động xuất khẩu: 77
2.2.2 Chuỗi giá trị ngành da giầy Việt Nam 81
2.2.3 Một số thị trường chính 83
2.3 Đánh giá năng lực xuất khẩu ngành da giầy Việt Nam qua mô hình 4 bánh xe tương tác 90
2.3.1 Các yếu tố bên trong phạm vi ngành (Border-in issues) 91
2.3.2 Các yếu tố bên ngoài phạm vi ngành (Border-out issues) 94
2.3.3 Các yếu tố liên quan đến ngành (Border issues) 97
2.3.4 Các yếu tố phát triển (Development issues) 100
2.4 Kết luận chung về năng lực xuất khẩu ngành da giầy Việt nam 103
2.4.1 Kết quả đạt đuợc 103
2.4.2 Những tồn tại và hạn chế đối với xuất khẩu da giầy của Việt Nam .104
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC XUẤT KHẨU NGÀNH DA GIẦY VIỆT NAM 108
3.1 Triển vọng xuất khẩu và định hướng nâng cao năng lực xuất khẩu ngành da giầy Việt Nam trong thời gian tới 108
3.1.1 Quan điểm quy hoạch, định hướng phát triển của nhà nước đối với ngành da giầy Việt Nam 108
Trang 73.1.2 Xuất khẩu của ngành da giầy Việt Nam khi tự do hoá thương mại
ngày càng mở rộng 110
3.1.3 Mục tiêu và định hướng nâng cao năng lực xuất khẩu của ngành da giầy Việt nam 114
3.2 Các giải pháp nâng cao năng lực xuất khẩu ngành da giầy 116
3.2.1 Nhóm giải pháp đối với các yếu tố bên trong phạm vi ngành 116
3.2.2 Nhóm giải pháp đối với các yếu tố bên ngoài phạm vi ngành 122
3.2.3 Nhóm giải pháp đối với các yếu tố liên quan đến ngành 126
3.2.4 Nhóm giải pháp đối với các yếu tố phát triển 130
3.3 Các kiến nghị cụ thể nhằm thực hiện các giải pháp nâng cao năng lực xuất khẩu ngành da giầy 132
3.3.1 Đối với Nhà nước 132
3.3.2 Đối với Hiệp hội da giầy 134
3.4.3 Đối với các doanh nghiệp 134
KẾT LUẬN 143
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ 146
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 147
154
1 Foreign research status 3
In additions, in some articles, researches also the export, export capacity and recommended some solutions to footwear industry in some country such as: Mark J Roberts, Daniel Yi Xu, Xiaoyan Fan, Shengxing Zhang – “The Role of Firm Factors in Demand, Cost, and Export Market Selection for Chinese Footwear Producers” (2012) or Brazilian Shoe Manufacturers Association annual reports (2010 – 2015), Deloite, India National Manufacturing Competitiveness Council “Enhancing firm level competitiveness, Indian leather and footwear industry” (2009), 4
2 Vietnam research status 4
PART B: RESEARCH CONTENT 5
Trang 8CHAPTER 1: THEORETICAL BASIS OF EXPORT CAPACITY AND
THE NECESSARY TO IMPROVE THE EXPORT CAPACITY 5
1.1 The basis of export capacity 5
1.1.1 The concept of export capacity 5
1.1.3 Export Capacity assessment model and the influence factors 8
1.2.2 Joining to WTO and other Free Trade Agreements create competitive pressure for Vietnam’s footwear industry 10
1.2.3 Improving the export capacity of Vietnam’s footwear industry will promotes the development of other economic sectors, restructuring the economy towards industrialization and modernization 10
1.3 Experience of improving export capacity of the footwear industry in other countries 11
1.3.1 Export capacity of the China’s footwear industry 11
1.3.2 Export capacity of the Brazil’s footwear industry 11
1.3.3 Lessons learned to Vietnam 11
CHAPTER 2: THE CURRENT STATUS OF EXPORT CAPACITY OF VIETNAM’S FOOTWEAR INDUSTRY AFTER VIETNAM JOINED WTO11 2.1 Overview of Vietnam’s footwear industry after Vietnam joined WTO 11
2.1.2 Overview of footwear production in Vietnam 12
2.1.3 The main characters of Vietnam’s footwear industry 12
2.1.4 The commitment of Vietnam in footwear industry when joining the WTO 12
2.2 Export status of Vietnam’s footwear industry since Vietnam joined WTO 13
2.2.1 Export activities: 13
Vietnam currently only engage the production stage - the lowest added value stage in the global value chain Supporting services such as transportation, logistics, banking, customs clearance plays an important role in the value chain of the industry 13
Trang 9Vietnam’s footwear industry is considered to have a firmly position in the global value chain and contribute to job creation and economic
development 13
2.2.3 Some major markets 13
2.3 Using “Four Gear” model to assess the export capacity of Vietnam’s footwear industry 14
2.3.1 Border-in issues 14
2.3.2 Border-out issues 15
2.3.3 Border issues 15
2.3.4 Development issues 15
2.4 General conclusion about the export capacity of Vietnam’s footwear industry 16
2.4.1 Achievements 16
2.4.2 The disadvantages and limits of Vietnam’s footwear export 16
CHAPTER 3: DIRECTIONS AND SOLUTIONS TO IMPROVE THE EXPORT CAPACITY OF VIETNAM’S FOOTWEAR INDUSTRY 17
3.1.1 Perspective planning and development orientation of Vietnamese government on footwear industry 17
3.2 The solutions to improve the export capacity of the footwear industry 18
3.2.1 Solutions for Border – in issues 18
3.2.2 Solutions for Border-out issues 19
3.2.3 Solutions for Borders issues 20
3.2.4 Solutions for Developments 20
3.3 The specific recommendations to implement solutions to improve the export capacity of the footwear industry 21
3.3.1 To the Government 21
3.3.2 To Leather Footwear and Handbag Association 21
3.4.3 To enterprises 21
25
1 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 4
2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam 5
Trang 10PHẦN B: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 7
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC XUẤT KHẨU VÀ 7
SỰ CẦN THIẾT PHẢI NÂNG CAO NĂNG LỰC XUẤT KHẨU 7
1.1 Những vấn đề lý luận về năng lực xuất khẩu 7
1.1.1 Khái niệm năng lực xuất khẩu 7
1.1.3 Mô hình đánh giá năng lực xuất khẩu và các nhân tố ảnh hưởng 9
1.2.2 Việc gia nhập WTO và các Hiệp định thương mại tự do tạo ra sức ép cạnh tranh đối với ngành da giầy Việt Nam 11
1.2.3 Năng lực xuất khẩu ngành da giầy góp phần thúc đẩy sự phát triển của các ngành kinh tế khác, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa 11
1.3 Kinh nghiệm nâng cao năng lực xuất khẩu ngành da giầy của các nước trên thế giới 12
1.3.1 Năng lực xuất khẩu ngành da giầy của Trung Quốc 12
1.3.2 Năng lực xuất khẩu ngành da giầy của Brazil 12
1.3.3 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 12
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG NĂNG LỰC XUẤT KHẨU NGÀNH DA GIẦY 13
VIỆT NAM SAU KHI GIA NHẬP WTO 13
2.1 Tổng quan về ngành da giầy của Việt Nam sau khi gia nhập WTO 13
2.1.2 Khái quát về hoạt động sản xuất của ngành da giầy Việt Nam 13
2.1.3 Những đặc điểm cơ bản của ngành da giầy Việt Nam 13
2.1.4 Những cam kết của Việt Nam khi gia nhập WTO đối với ngành da giầy 13
2.2 Tình hình xuất khẩu của ngành da giầy Việt Nam sau khi gia nhập WTO đến nay 14
2.2.1 Hoạt động xuất khẩu: 14
2.2.3 Một số thị trường chính 14
2.3 Đánh giá năng lực xuất khẩu ngành da giầy Việt Nam qua mô hình 4 bánh xe tương tác 15
Trang 112.3.1 Các yếu tố bên trong phạm vi ngành (Border-in issues) 15
2.3.2 Các yếu tố bên ngoài phạm vi ngành (Border-out issues) 15
2.3.3 Các yếu tố liên quan đến ngành (Border issues) 16
2.3.4 Các yếu tố phát triển (Development issues) 16
2.4 Kết luận chung về năng lực xuất khẩu ngành da giầy Việt nam 17
2.4.1 Kết quả đạt đuợc 17
2.4.2 Những tồn tại và hạn chế đối với xuất khẩu da giầy của Việt Nam .17
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC XUẤT KHẨU NGÀNH DA GIẦY VIỆT NAM 17
3.1 Triển vọng xuất khẩu và định hướng nâng cao năng lực xuất khẩu ngành da giầy Việt Nam trong thời gian tới 17
3.1.2 Xuất khẩu của ngành da giầy Việt Nam khi tự do hoá thương mại ngày càng mở rộng 18
3.1.3 Mục tiêu và định hướng nâng cao năng lực xuất khẩu của ngành da giầy Việt nam 18
3.2 Các giải pháp nâng cao năng lực xuất khẩu ngành da giầy 19
3.2.1 Nhóm giải pháp đối với các yếu tố bên trong phạm vi ngành 19
3.2.2 Nhóm giải pháp đối với các yếu tố bên ngoài phạm vi ngành 20
3.2.3 Nhóm giải pháp đối với các yếu tố liên quan đến ngành 20
3.2.4 Nhóm giải pháp đối với các yếu tố phát triển 21
3.3 Các kiến nghị cụ thể nhằm thực hiện các giải pháp nâng cao năng lực xuất khẩu ngành da giầy 21
3.3.1 Đối với Nhà nước 21
3.3.2 Đối với Hiệp hội da giầy 21
3.4.3 Đối với các doanh nghiệp 21
TRANG THÔNG TIN NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN 26
Trang 12DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT SỬ DỤNG TRONG LUẬN ÁN
Danh mục viết tắt bằng tiếng Anh
Dương
Danh mục viết tắt bằng tiếng Việt
Trang 13DANH MỤC BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ
Bảng biểu
Bảng 1.1: Bảng tổng kết các tiêu chí đánh giá năng lực xuất khẩu
Bảng 2.1: Cơ cấu lao động trong doanh nghiệp da giầy Việt Nam 69Bảng 2.2: Doanh nghiệp trong ngành da giầy Việt Nam 74Bảng 2.3: Cam kết thuế nhập khẩu của Việt Nam khi gia nhập
Bảng 2.4: Xuất khẩu hàng da giầy sang một số thị trường chính
Bảng 2.5: Những mặt hàng da giầy chính xuất khẩu của Việt Nam
Bảng 2.6 : Kim ngạch xuất khẩu da giầy của Việt Nam ở một số thị
Bảng 2.7: Số liệu kim ngạch nhập khẩu da giầy của Brazil từ thế
Bảng 2.8 Nhập khẩu da thuộc và máy móc thiết bị 101Bảng 3.1: Chỉ tiêu dự báo ngành da giầy Việt Nam 115Bảng 3.2 Tốc độ tăng trưởng sản phẩm bình quân đến năm 2020 116Bảng 3.3 Tham gia sâu chuỗi giá trị ngành da giầy 121Bảng 3.4: Những yếu tố ảnh hưởng đến quyết định mở rộng thị
Bảng 3.5: Các tiêu chí lựa chọn thị trường xuất khẩu 142Bảng 3.6 Các yếu tố đánh giá cơ hội và rủi ro của thị trường 143
Trang 14Hình 2.4: Cơ cấu ngành da giầy Việt Nam và các cơ cấu hỗ trợ 76Hình 2.5: Kim ngạch xuất khẩu mặt hàng da giầy của Việt Nam 81Hình 2.6: Xuất khẩu da giầy vào một số thị trường chính của Việt Nam 82Hình 2.7: Chuỗi giá trị ngành giầy dép toàn cầu 84Hình 2.8: Chuỗi giá trị ngành da giầy Việt Nam 85Hình 2.9: Đường cong giá trị gia tăng theo từng giai đoạn trong
Hình 2.10: Thị phần nhập khẩu da giầy của EU (năm 2013) 87Hình 2.11: Tỷ trọng xuất khẩu theo các loại hình của hàng da giầy
Hình 3.1: Mô hình xuất khẩu cho doanh nghiệp da giầy Việt Nam 140
Trang 15PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của Đề tài
Trong những năm gần đây, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam liên tục tăng, tốc
độ tăng trưởng bình quân từ 2011 đến tháng 10/2015 là 18,2% Các sản phẩm xuất khẩu chủ lực là dệt may, da giầy, thủ công mỹ nghệ, điện tử, nông sản và hải sản Tuy nhiên, xuất khẩu của Việt Nam vẫn phần lớn dựa vào các sản phẩm phụ thuộc vào lao động, hàng hóa chủ yếu là gia công xuất khẩu, ít giá trị gia tăng Do đó, kim ngạch xuất khẩu những năm vừa qua mặc dù tăng nhanh nhưng chưa tương xứng với tiềm năng của đất nước, chưa đảm bảo tính vững chắc, hiệu quả đạt được chưa cao
Trong các ngành công nghiệp xuất khẩu, ngành da giầy chiếm vị trí thứ tư về kim
ngạch xuất khẩu, sau ngành điện thoại, dệt may và vi tính, sản phẩm điện tử Năm
2015, tổng kim ngạch xuất khẩu da giầy của Việt Nam đạt 12,2 tỷ USD, chiếm 7% trong tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa các loại của cả nước, tăng 16,3% so với năm
2014 Trong 6 tháng đầu năm 2016, ngành da giầy xuất khẩu 6,27 tỷ USD, tăng 7,2%
so với cùng kỳ năm 2015, dự kiến cả năm 2016 xuất khẩu đạt 14 tỷ USD
Từ năm 2013, Việt Nam đứng thứ ba thế giới với giá trị xuất khẩu trung bình hằng năm khoảng 10 tỷ USD, chiếm 8,5% thị phần xuất khẩu thế giới Việt Nam đứng thứ
ba (sau Trung Quốc và Indonexia ) trong số các nước xuất khẩu da giầy nhiều nhất vào
EU, đứng thứ hai về xuất khẩu vào thị trường Mỹ Kim ngạch xuất khẩu sang một số thị trường khác như Nhật Bản, Chile, Hy Lạp, Ba Lan cũng tăng mạnh
Tuy nhiên, dù là nước xuất khẩu lớn, nhưng năng lực xuất khẩu của các doanh nghiệp da giầy Việt Nam vẫn còn tồn tại nhiều yếu tố phát triển không bền vững chủ yếu là do sản xuất và xuất khẩu theo phương thức gia công, không chủ động được
nguồn nguyên liệu, bị hạn chế về vốn và công nghệ Ngoài ra, cơ cấu các thành phần
tham gia ngành có sự chênh lệch rõ rệt, các doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vẫn chiếm 79,3% tỷ trọng xuất khẩu Khối doanh nghiệp trong nước chủ yếu là gia công Ngoài ra, do chủ yếu cạnh tranh bằng giá rẻ nên các sản phẩm xuất khẩu của Việt Nam thường bị áp đặt các rào cản thương mại Hiện nay, dù Việt Nam đã là thành viên của WTO và đang tích cực tham gia TPP, FTA với EU nhưng Việt Nam cũng rất khó khăn trong việc tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu do chưa thực sự liên kết từ khâu thiết kế - nguyên phụ liệu - sản xuất - phân phối với các nước thành viên của WTO và TPP
Trang 16Trong bối cảnh một loạt các hiệp định thương mại quan trọng đang trong giai đoạn hoàn tất, trong đó có Hiệp định Đối tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP), Hiệp định thương mại tự do Việt Nam-Liên minh châu Âu (EU), Việt Nam với Liên minh thuế quan Nga (Belarus - Kazakhstan), ngành da giầy Việt Nam đang đứng trước nhiều thuận lợi
Để ngành da giầy phát triển bền vững, các doanh nghiệp ngành da giầy Việt Nam cần chủ động hơn nữa trong việc tham gia chuỗi sản xuất toàn cầu, đa dạng nguồn cung nguyên liệu nhằm tận dụng ưu đãi từ các hiệp định thương mại, đồng thời cần có chiến lược nghiên cứu, nắm bắt thị hiếu tiêu dùng trên thế giới để cung cấp các sản phẩm mà thị trường cần, nâng cao hơn nữa giá trị gia tăng cho sản phẩm xuất khẩu Nếu muốn nắm bắt cơ hội từ các hiệp định thương mại song phương và đa phương thì ngành da giầy Việt Nam phải xác định rõ được vai trò của ngành trong chuỗi sản xuất, phân phối toàn cầu, các điểm mạnh, hạn chế và xây dựng các giải pháp chiến lược tổng thể trong đó sản xuất để xuất khẩu vẫn là nhiệm vụ trọng tâm Với những lý do
trên, tác giả quyết định chọn đề tài: “Nâng cao năng lực xuất khẩu ngành da giầy Việt Nam sau khi Việt Nam gia nhập WTO” làm đề tài luận án tiến sỹ khoa học
kinh tế của mình
2 Mục đích và câu hỏi nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận án là làm rõ khái niệm và hệ thống hóa những vấn đề lý luận về năng lực xuất khẩu, phân tích thực trạng và những yếu tố tác động đối với năng lực xuất khẩu của ngành da giầy Việt Nam trong bối cảnh gia nhập WTO và các hiệp định thương mại mới ký kết Qua đó đánh giá triển vọng xuất khẩu trong điều kiện hội nhập và đề xuất các giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao năng lực xuất khẩu của ngành da giầy Việt Nam Luận án cũng đề xuất quy trình cụ thể để doanh nghiệp trong ngành chủ động nâng cao năng lực xuất khẩu có hiệu quả nhất
2.1 Các nhiệm vụ nghiên cứu cần hoàn thành
Làm rõ khái niệm, các tiêu chí đánh giá, các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực xuất khẩu thông qua nghiên cứu, phân tích các mô hình đánh giá năng lực xuất khẩu
Nghiên cứu kinh nghiệm nâng cao năng lực xuất khẩu của Trung Quốc và Brazil.Vận dụng mô hình đánh giá năng lực xuất khẩu đã lựa chọn vào nghiên cứu thực trạng năng lực xuất khẩu ngành da giầy Việt Nam trong điều kiện tham gia WTO và các hiệp định FTA mới ký kết
Trang 17Phân tích cơ hội và thách thức đối với năng lực xuất khẩu ngành da giầy trong xu thế tự do hóa thương mại
Đề xuất các giải pháp nâng cao năng lực xuất khẩu ngành da giầy Việt Nam
2.2 Các câu hỏi nghiên cứu được đặt ra
Các mô hình, tiêu chí đánh giá và nhân tố ảnh hưởng đến năng lực xuất khẩu của một ngành là gì?
Đâu là các bài học kinh nghiệm, thành công và không thành công mà Việt Nam có thể học hỏi từ các nước khác (Trung Quốc, Bra-xin)?
Năng lực xuất khẩu của ngành da giầy Việt Nam hiện nay như thế nào và chịu ảnh hưởng của các nhân tố nào?
Những cơ hội và thách thức đối với năng lực cạnh tranh xuất khẩu của ngành da giầy Việt Nam là gì?
Cần có những giải pháp gì, cả vĩ mô và vi mô để nâng cao năng lực cạnh tranh xuất khẩu của ngành da giầy Việt Nam?
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hoạt động xuất khẩu của ngành da giầy và năng lực xuất khẩu da giầy Việt Nam trong bối cảnh gia nhập WTO và các hiệp định thương mại mới ký kết gần đây Luận án cũng nghiên cứu việc tham gia các hiệp định tự do thương mại của Việt Nam để thấy được sự tác động và mối liên quan giữa việc tự do hóa thương mại với năng lực xuất khẩu của ngành da giầy
Về mặt không gian, đề tài nghiên cứu các hoạt động xuất nhập khẩu của ngành, các doanh nghiệp trong ngành từ Trung ương, địa phương, các khu công nghiệp
4 Phương pháp nghiên cứu
4.1 Phương pháp luận nghiên cứu của Luận Án:
Trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác-Lê Nin Các quan điểm chỉ đạo, định hướng của Đảng và Nhà nước về nền kinh
Trang 18tế thị trường, hội nhập kinh tế quốc tế và phát triển các ngành công nghiệp cũng là kim chỉ nam cho phương pháp luận nghiên cứu của Luận Án.
4.2 Các phương pháp nghiên cứu cụ thể
Để thực hiện luận án, NCS đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu tổng hợp, cụ thể:
- Phương pháp phân tích - tổng hợp: Phương pháp này được sử dụng trong tất cả các chương của dự án, từ các số liệu, hoạt động cụ thể của ngành trong từng giai đoạn
cụ thể với những chính sách đặc thù, khái quát để phân tích, rút ra những vấn đề bản chất, qua đó đánh giá, kết luận và đưa ra các kiến nghị đề xuất
- Phương pháp đối chiếu – so sánh: được sử dụng tại Chương I và Chương II nhằm làm rõ các vấn đề thực trạng, các nhận xét, đánh giá và bài học kinh nghiệm cụ thể của ngành Da giầy Việt Nam trong bối cảnh cạnh tranh quốc tế
- Phương pháp hệ thống hóa: được sử dụng chủ yếu trong Chương I để trình bày các nội dung liên quan đến khái niệm và các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực xuất khẩu
- Phương pháp diễn giải – quy nạp: được sử dụng trong các chương của Luận án nhằm củng cố một số luận điểm
- Phương pháp nghiên cứu tình huống: được sử dụng trong chương 1 để phân tích các trường hợp của Trung Quốc và Braxin (2 nước xuất khẩu da giầy hàng đầu thế giới) để rút ra các bài học kinh nghiệm đề xuất với ngành da giầy Việt Nam
5 Những đóng góp mới của Luận án
Trên cơ sở các phương pháp nghiên cứu, đánh giá về năng lực xuất khẩu của ngành da giầy, Luận án có một số đóng góp mới, cụ thể:
Thứ nhất: Luận án đã hệ thống hoá những vấn đề lý luận về năng lực xuất khẩu, làm rõ mối quan hệ giữa năng lực cạnh tranh và năng lực xuất khẩu, từ đó đưa ra mô hình, các chỉ tiêu đánh giá, các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực xuất khẩu ngành da giầy Việt Nam
Thứ hai: Luận án đã tổng kết một số kinh nghiệm về nâng cao năng lực xuất khẩu ngành da giầy của Trung Quốc và Braxin (2 nước đứng đầu thế giới về xuất khẩu giầy), qua đó rút ra những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Thứ ba: Luận án đã phân tích thực trạng sản xuất, xuất khẩu, các đặc điểm của ngành da giầy Việt Nam Thông qua mô hình “FOUR GEARS” của Trung tâm thương mại quốc tế - ITC (UNCTAD/WTO), đánh giá thực trạng năng lực xuất khẩu ngành da giầy Việt Nam trong thời gian qua, qua đó thấy được những điểm mạnh, điểm hạn chế trong năng lực xuất khẩu của ngành da giầy Đồng thời Luận án cũng phân tích các yếu tố thuận lợi, thách thức và các yêu cầu đối với ngành da giầy khi Việt Nam gia nhập WTO và các hiệp định tự do thương mại đã ký kết gần đây
Trang 19Thứ tư: Luận án đã phân tích việc tham gia của ngành da giầy Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu, làm rõ những vấn đề cần giải quyết và đề xuất các biện pháp nhằm nâng cao giá trị sản phẩm, tham gia sâu vào chuỗi giá trị ngành trên thị trường thế giới.
Thứ năm: Luận án đã phân tích bối cảnh quốc tế, khu vực, các yêu cầu từ những hiệp định thương mại đa phương, triển vọng phát triển của ngành da giầy để đề xuất phương hướng và giải pháp nâng cao năng lực xuất khẩu ngành da giầy Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế Luận án cũng đưa ra một số kiến nghị cụ thể với các doanh nghiệp của ngành trong việc xác định và xây dựng chiến lược xuất khẩu
6 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, các phụ lục, kết cấu của Luận án gồm bao gồm 2 phần:
PHẦN A: TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
PHẦN B: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Trang 20PHẦN A: TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
1.1 Các công trình nghiên cứu liên quan đến mô hình và các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh cấp ngành
Năm 1990, Michael Eugene Porter xuất bản: “The competitive of advantage of
Nations” được dịch ra tiếng Việt “Lợi thế cạnh tranh quốc gia” (2008) NXB Trẻ,
trong đó tác giả vận dụng những cơ sở lý luận cạnh tranh trong nước vào cạnh tranh quốc tế, giải thích sự thành công của ngành kinh doanh nào đó tại mỗi quốc gia phụ thuộc vào 3 vấn đề cơ bản: lợi thế cạnh tranh quốc gia, năng suất lao động và sự liên kết trong trong nội bộ ngành
Khi kinh tế thế giới mang tính chất toàn cầu hóa, thì cạnh tranh sẽ chuyển từ các lợi thế tuyệt đối hay lợi thế so sánh do điều kiện địa lý, tự nhiên mang lại sang những lợi thế cạnh tranh đến từ tính ưu việt của thể chế và trình độ khoa học kỹ thuật cao Các quốc gia thành công ở một số ngành trên thị trường toàn cầu vì môi trường trong nước có nhiều ưu điểm vượt trội so với các nước khác, qua đó họ có các doanh nghiệp mạnh, nhu cầu ổn định và sự liên kết chặt chẽ của các ngành phụ trợ
Qua đó, tác giả đưa ra “Mô hình Kim cương” để phân tích các nhân tố tác động đến năng lực cạnh tranh của ngành; các yếu tố quyết định của Mô hình là các điều kiện
về các yếu tố sản xuất, điều kiện về cầu, các ngành hỗ trợ và bối cảnh cạnh tranh, chiến lược và cơ cấu doanh nghiệp, ngoài ra, còn có 2 yếu tố bổ sung là vai trò của nhà nước và yếu tố thời cơ
Năm 1985, Michael Eugene Porter xuất bản: “The competitive advantage” được
dịch ra tiếng Việt “Lợi thế cạnh tranh”(2008) NXB Trẻ, tác giả chỉ rõ lợi thế cạnh
tranh không chỉ ở mỗi hoạt động, mà còn ở cả mối liên kết giữa các hoạt động với nhau, với các hoạt động của nhà cung cấp và của khách hàng Qua đó tác giả đưa ra khái niệm “chuỗi giá trị”, chia hoạt động chung của một doanh nghiệp thành những nhóm hoạt động khác nhau đại diện cho từng yếu tố tạo nên lợi thế cạnh tranh, qua đó đánh giá được lợi thế để xây dựng các chiến lược cạnh tranh của doanh nghiệp Cũng trong tác phẩm này, tác giả phân tích sâu về cấu trúc ngành: khái niệm ngành, cấu trúc ngành và nhu cầu của người mua, cấu trúc ngành và sự cân bằng cung cầu, ma trận phân khúc ngành, mối quan hệ giữa công nghệ và lợi thế cạnh tranh
Trang 21Năm 1980, Michael Eugene Porter xuất bản: “The competitive stratergy” được
dịch ra tiếng Việt “Chiến lược cạnh tranh”(2008) NXB Trẻ, trong đó tác giả đã khái
quát hoát cạnh tranh trong các ngành công nghiệp trong năm yếu tố nền tảng, đồng thời giới thiệu một trong những công cụ cạnh tranh mạnh mẽ nhất đó là ba chiến lược cạnh tranh: chi phí thấp, khác biệt hóa và trọng tâm, những chiến lược đã biến định vị chiến lược trở thành một hoạt động có cấu trúc Tác giả cũng chỉ ra phương pháp xác định lợi thế cạnh tranh theo chi phí và giá tương đối, qua đó thể hiện mối liên hệ trực tiếp đối với lợi nhuận và trình bày một góc nhìn hoàn toàn mới về cách thức tạo ra và phân chia lợi nhuận
Cũng trong tác phẩm này, tác giả đưa ra những phương pháp mới nhằm phân tích ngành và đối thủ cạnh tranh của ngành, qua đó phân tích cơ cấu ngành, những yếu tố quyết định mức độ cạnh tranh cấp ngành, chu kỳ sống của sản phẩm, khung phân tích
dự báo sự vận động của ngành
Năm 1993, John H Dunning, trong tác phẩm “International Porter’s Diamond”
đăng trên tạp chí Management International Review số đặc biệt (special issue, volume
33, paper 8 – 15), cho rằng, mô hình Kim cương kiểu cũ khi sử dụng để đánh giá năng lực cạnh tranh của một ngành / doanh nghiệp đã không còn chính xác trong điều kiện toàn cầu hóa và hội nhập của kinh tế thế giới và đề xuất bổ sung thêm nhân tố đầu tư nước ngoài vào mô hình để đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh
Năm 2003, tổ chức International Trade Center phát hành ấn phẩm “The Secret
of Strategy Template” trong đó đưa ra mô hình “Four Gear” chỉ ra bốn yếu tố quyết
định năng lực xuất khẩu của một quốc gia / ngành: các yếu tố trong phạm vi ngành (border-in), các yếu tố liên quan đến ngành (border), các yếu tố bên ngoài phạm vi ngành (border-out) và các yếu tố phát triển (development) Mô hình này nhằm giúp các nhà hoạch định chính sách đề ra được các chiến lược nâng cao năng lực xuất khẩu phù hợp với năng lực thực tế của quốc gia / ngành, thực lực năng lực cạnh tranh và các nguồn lực hiện có để thúc đẩy xuất khẩu và nắm được rõ chính sách nào sẽ có tác dụng, chính sách nào không Đây là lý thuyết quan trọng sẽ được vận dụng vào luận án
để làm rõ lý luận về năng lực xuất khẩu ngành
Năm 2004, tác giả Owen Skae trong công trình “Measuring the impact of
National export strategy” trong đó phân tích các yếu tố ảnh hưởng trong mô hình
“Four Gear” của ITC, đánh giá và định lượng mức độ ảnh hưởng của mỗi nhân tố
Trang 22trong mô hình, từ đó đưa ra kết luận về các chính sách tác động phù hợp với từng nhóm nhân tố để thúc đẩy năng lực xuất khẩu phù hợp với từng nền kinh tế, xã hội
1.2 Các công trình nghiên cứu liên quan xuất khẩu và năng lực xuất khẩu ngành da giầy
Năm 2012, nhóm tác giả Mark J Roberts, Daniel Yi Xu, Xiaoyan Fan,
Shengxing Zhang, công bố công trình nghiên cứu “A structural model of demand, cost and export market selection for Chinese footwear producers” trong đó sử dụng
các số liệu mẫu thu thập từ các doanh nghiệp sản xuất ngành da giầy để xây dựng mô hình toán học tính toán mức tăng trưởng nhu cầu xuất khẩu, giá cả, thị phần tại những thị trường mục tiêu cụ thể, trong đó có phân tích việc tái cơ cấu ngành sau khi hạn ngạch nhập khẩu vào EU được dỡ bỏ
Hiệp hội các nhà sản xuất da giầy Brazil (Abicalçados) hằng năm có các ấn
phẩm “Footwear Industry in Brazil” các năm từ 2010-2015 trong đó tổng hợp các số
liệu liên quan đến ngành da giầy Brazil và phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến việc sản xuất, tiêu thụ, cạnh tranh của các sản phẩm Brazil, đây là một trong những bài học kinh nghiệm đối với ngành da giầy Việt Nam
Năm 2009, Tập đoàn Deloite phối hợp với Trung tâm cạnh tranh sản xuất quốc gia
Ấn Độ (National Manufacturing Competitivenes Council) xuất bản ấn phẩm
“Enhancing firm level competitiveness Indian leather and footwear industry” trong đó
đưa ra một số giải pháp nhằm thúc đẩy cạnh tranh trong ngành da giầy Ấn Độ như: cạnh tranh về chi phí thông qua tham gia có hiệu quả vào chuỗi giá trị, phát triển đồng thời ngành sản xuất da giầy và sản xuất da, tập trung vào đào tạo, phát triển công nghiệp thuộc da và thu hút đầu tư nước ngoài
Trang World Footwear (www.worldfootwear.com) hằng năm có các báo cáo về
ngành da giầy trên toàn thế giới, trong đó phân tích tình hình sản xuất, tiêu thụ, xuất khẩu của các nước, năng lực cạnh tranh của từng quốc gia xuất khẩu chính như Trung Quốc, Brazin, Việt Nam,
2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
2.1 Các công trình nghiên cứu về năng lực xuất khẩu
Năm 2005, tác giả Bùi Ngọc Sơn trong cuốn “Năng lực xuất khẩu của doanh
nghiệp Việt Nam trong điều kiện kinh tế thị trường” NXB Thông tin và Truyền thông
trong đó đưa ra mô hình và các tiêu chí đánh giá năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp, các vấn đề hội nhập kinh tế quốc tế và năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp
Trang 23Năm 2011, nhóm tác giả Nguyễn Đình Cung, Nguyễn Thị Tuệ Anh, Lưu Minh Đức, Nguyễn Minh Thảo, Lê Phan dưới sự tài trợ của Quỹ Châu Á và Viện Nghiên
cứu Quản lý Kinh tế Chiến lược Trung Ương có Báo cáo nghiên cứu “Năng lực cạnh tranh của Doanh nghiệp xuất khẩu trong ba ngành may mặc, thủy sản và điện tử ở Việt Nam” trong đó phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của các
doanh nghiệp xuất khẩu ngành may mặc, thủy sản và điện tử, đồng thời đưa ra một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp xuất khẩu của các ngành này
Năm 2006, tác giả Trần Sửu trong cuốn “Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
trong điều kiện toàn cầu hóa” trong đó nêu ra các nhóm nhân tố ảnh hướng tới năng
lực cạnh tranh của doanh nghiệp, các yếu tố cấu thành năng lực cạnh tranh và tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Năm 2016, Luận án Tiến sĩ Kinh tế của tác giả Hoa Hữu Cường (bảo vệ năm
2016 tại Học viện khoa học xã hội – Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam) với đề
tài “Nâng cao khả năng xuất khẩu hàng hóa chủ lực của Việt Nam vào EU trong giai đoạn 2011-2020”, trong đó đã đề cập đến khả năng xuất khẩu của hàng hóa một cách
đầy đủ hơn, phân tích thực trạng xuất khẩu của ba mặt hàng chủ lực của Việt Nam vào
EU (dệt may, da giầy, cà phê) trong giai đoạn từ năm 2006 đến 2015 dựa trên 3 nhóm tiêu chí đánh giá, qua đó dự báo các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng xuất khẩu hàng hóa chủ lực của Việt Nam và đề xuất một số giải pháp
Năm 2006, tác giả Nguyễn Thị Tuyết Mai, Mai Thế Cường có Báo cáo “Ngành
rau quả” thuộc Dự án VIE 61/94 "Hỗ trợ xúc tiến thương mại và phát triển xuất khẩu
tại Việt Nam – Chiến lược xuất khẩu - Hướng dẫn tiếp thị xuất khẩu" do Chính phủ Thụy Sỹ và Chính phủ Thụy Điển đồng tài trợ trong giai đoạn 2004-2010, triển khai bởi Cục Xúc tiến Thương mại Việt Nam (VIETRADE) phối hợp với Trung tâm Thương mại Quốc tế (ITC ), Hội nghị Liên hợp quốc về Thương mại và Phát triển(UNCTAD / WTO) Trong báo cáo phân tích hoạt động sản xuất, xuất khẩu, năng lực cạnh tranh, chuỗi giá trị hiện tại và tương lai của ngành rau quả, chiến lược hỗ trợ ngành và chính sách của Nhà nước, đồng thời cũng giới thiệu mô hình 4 bánh xe của ITC trong phân tích, tuy nhiên, trong báo cáo lại chưa sử dụng mô hình này để phân tích năng lực xuất khẩu của ngành mà lại sử dụng ma trận SWTO để nghiên cứu năng lực cạnh tranh
Năm 2006, Cục xúc tiến thương mại có Báo cáo “Chiến lược xuất khẩu quốc gia ngành thủ công mỹ nghệ Việt Nam” thuộc Dự án VIE 61/94 "Hỗ trợ xúc tiến thương
Trang 24mại và phát triển xuất khẩu tại Việt Nam – Chiến lược xuất khẩu - Hướng dẫn tiếp thị xuất khẩu" do Chính phủ Thụy Sỹ và Chính phủ Thụy Điển đồng tài trợ trong giai đoạn 2004 - 2010 Trong báo cáo đánh giá những yếu tố có tầm quan trọng nhất quyết định sự thành bại tăng trưởng xuất khẩu của ngành thủ công mỹ nghệ, đề ra những khuyến nghị nhằm khai thác hiệu quả nhất tiềm năng của ngành, trong đó đề cập đến việc sử dụng 4 yếu tố “Border”, “Border In”, “Border out” và “Development” để xây dựng chiến lược xuất khẩu cho ngành thông qua phát triển chuỗi giá trị Tuy nhiên báo cáo cũng chỉ mới tập trung nghiên cứu chuỗi giá trị của ngành, đánh giá hoạt động xuất khẩu, xây dựng các đề xuất nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành mà chưa phân tích về năng lực xuất khẩu, các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực xuất khẩu cũng như sử dụng mô hình 4 bánh xe trong việc phân tích năng lực xuất khẩu, từ đó đề xuất các giải pháp phù hợp với hiện trạng của ngành.
2.2 Các nghiên cứu về ngành da giầy Việt Nam
Năm 2007, tác giả Lưu Thanh Đức Hải trong bài báo “Export Barriers: The case
of the Vietnamese Footwear Industry” tạp chí Centre for ASEAN Studies - trang 51
nghiên cứu về các rào cản xuất khẩu trong ngành công nghiệp da giầy Việt Nam, trong
đó chỉ ra các rào cản chính là: không xác định những cơ hội tại thị trường xuất khẩu, thiếu thông tin liên quan đến các trung gian nước ngoài, nhà phân phối và khách hàng tương lai, thiếu nghiên cứu thị trường, thiếu nhân sự có đào tạo, đặc biệt về marketing quốc tế, thiếu khả năng cung ứng số lượng nhất định đối với những đơn hàng thường xuyên đồng thời chỉ ra các giải pháp để các nhà sản xuất khắc phục những rào cản này
Năm 2009, tác giả Trần Thị Huyền Trang có Báo cáo “Chiến lược xuất khẩu
ngành da giầy Việt Năm cập nhật 2010 – 2015” thuộc Dự án VIE 61/94 "Hỗ trợ xúc
tiến thương mại và phát triển xuất khẩu tại Việt Nam" do Chính phủ Thụy Sỹ và Chính phủ Thụy Điển đồng tài trợ trong giai đoạn 2004-2010, triển khai bởi Cục Xúc tiến Thương mại Việt Nam (VIETRADE) phối hợp với Trung tâm Thương mại Quốc tế (ITC), Hội nghị Liên hợp quốc về Thương mại và Phát triển (UNCTAD / WTO) Trong báo cáo phân tích tình hình sản xuất, xuất khẩu của ngành da giầy, chuỗi giá trị hiện tại, chiến lược và chính sách hỗ trợ của Chính phủ, những ưu tiên chiến lược cho việc phát triển trong tương lai, tuy nhiên cũng chưa làm rõ mối quan hệ giữa nội bộ ngành, các ngành phụ trợ, các nhà cung cấp, các đối thủ quốc tế, qua đó đề xuất được những thay đổi trong chính sách xuất khẩu để xuất khẩu bền vững ngành hàng da giầy
Năm 2010, Luận án Tiến sĩ Kinh tế của tác giả Dương Văn Hùng (bảo vệ năm
2010 tại trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân) với đề tài “Thúc đẩy xuất khẩu vào thị
Trang 25trường EU của các doanh nghiệp giầy dép trên địa bàn Hà Nội”, trong đó tác giả đã
chỉ ra các lợi thế so sánh của doanh nghiệp giầy dép trên địa bàn Hà Nội, tầm quan trọng của việc áp dụng các tiêu chuẩn quản lý chất lượng sản phẩm, quản lý môi trường để vượt qua các thách thức rào cản khi xuất khẩu vào thị trường EU Tuy nhiên, luận án mới chỉ tập trung nghiên cứu hoạt động xuất khẩu của một nhóm doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội, cũng như thị trường EU mà chưa có phân tích chuyên sâu về năng lực của ngành da giầy Việt Nam nói chung, các ảnh hưởng của việc gia nhập WTO và các hiệp định tự do thương mại đối với ngành da giầy,…
Năm 2016, Luận án Tiến sĩ Kinh tế của tác giả Nguyễn Thị Phượng (bảo vệ năm
2016 tại Viện Nghiên cứu Thương mại – Bộ Công Thương) với đề tài “Hoàn thiện chính sách thương mại nhằm phát triển xuất khẩu bền vững sản phẩm da giầy của Việt Nam”, đã xây dựng nội dung và các tiêu chí đánh giá phát triển xuất khẩu bền vững
sản phẩm da giầy, nghiên cứu thực trạng và tác động của chính sách thương mại đối với phát triển xuất khẩu bền vững của sản phẩm da giầy, kinh nghiệm của các nước Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia về chính sách thương mại trong phát triển xuất khẩu bền vững ngành da giầy Tuy nhiên, luận án chưa khái quát hóa các lý thuyết về năng lực xuất khẩu của một ngành, các mô hình đánh giá năng lực xuất khẩu, cũng như chưa phân tích chuyên sâu đến các hoạt động trong nội bộ ngành, các tác động của các hiệp định tự do thương mại,…
Quyết định số 6209/QĐ-BCT ngày 25 tháng 11 năm 2010 của Bộ trưởng Bộ Công Thương về việc phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển ngành Da giầy Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2025 Theo đó, Quy hoạch đưa ra mục tiêu tổng quát, định hướng quy hoạch phát triển và hệ thống các giải pháp thực hiện bao gồm: giải pháp đầu tư, Giải pháp phát triển sản xuất nguyên phụ liệu và công nghiệp hỗ trợ, Giải pháp thị trường, Giải pháp đào tạo phát triển nguồn nhân lực, Giải pháp phát triển khoa học công nghệ và bảo vệ môi trường, Giải pháp quản lý ngành
Năm 2013, nhóm tác giả David Luff, Nguyễn Hiền, Nguyễn Anh Thu trong báo
cáo: “Hỗ trợ nghiên cứu: Kiểm soát xuất khẩu của các thành viên WTO và khuyến nghị đối với Việt Nam” thuộc Dự án hỗ trợ chính sách thương mại và đầu tư của Châu
Âu (MUTRAP), trong đó đề cập đến các quy định kiểm soát xuất khẩu của các nước tham gia WTO đối với các mặt hàng trong đó có ngành da giầy
Năm 2014, Cục xúc tiến thương mại phối hợp với Cục kinh tế liên bang Thụy Sĩ
xây dựng báo cáo “Đánh giá tiềm năng xuất khẩu quốc gia” xác định những sản phẩm
Trang 26ngành hàng có tiềm năng xuất khẩu, tập trung cho 05 ngành hàng là nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ, thủ công mỹ nghệ và thủy sản ở cấp quốc gia và ở cấp vùng (Bắc, Trung và Nam) nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh xuất khẩu của DNNVV Việt Nam, qua đó thúc đẩy tăng kim ngạch xuất khẩu và phát triển các ngành hàng xuất khẩu chính của Việt Nam thông qua hệ thống XTTM trên phạm vi toàn quốc Đồng thời cụ thể hóa các chính sách của Chính phủ, nhà nước Việt Nam trong giai đoạn hiện nay nhằm mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm, hỗ trợ doanh nghiệp giải phóng hàng tồn, đẩy mạnh sản xuất kinh doanh cho doanh nghiệp Trong báo cáo đã dành 9 trang nghiên cứu về ngành da giầy, trong đó phân tích tình hình xuất khẩu ngành da giầy, xu hướng xuất khẩu, phân tích ma trận SWOT của ngành, tuy nhiên, các kết quả nghiên cứu mới dừng lại ở mức độ tổng quan, chưa phân tích cụ thể năng lực xuất khẩu của ngành, cũng chưa đề ra được các khuyến nghị cụ thể đối với ngành mà nằm trong nhóm giải pháp đối với ngành công nghiệp nói chung.
Các nghiên cứu đánh giá thực trạng phát triển ngành da giầy được công bố đều đặn hàng năm hoặc theo các giai đoạn cụ thể do nhiều đơn vị thực hiện như Hiệp hội
Da – Giầy- Túi xách, Tổng cục Hải Quan, Viện Nghiên cứu Da Giầy, Nguồn số liệu
và báo cáo định kỳ do Hiệp hội Da – Giầy – Túi xách và Tổng cục Hải quan định kỳ công bố số liệu và báo cáo phân tính về tình hình sản xuất và xuất nhập khẩu của ngành
Các nghiên cứu đánh giá tác động của các hiệp định thương mại trên trang tin
http://www.trungtamwto.vn trong đó đề cập đến nội dung của các Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – EU, Hiệp định Đối tác Kinh tế Chiến lược xuyên Thái Bình Dương – TPP, Cộng đồng kinh tế ASEAN – AEC … cũng như các khuyến cáo đối với doanh nghiệp khi những hiệp định này có hiệu lực
Trang 27dù gặp thuận lợi do có thị trường mới, giá thành sản phẩm rẻ và nhân lực dồi dào, tuy nhiên vẫn gặp một số khó khăn như thiếu thông tin về thị trường mới, rào cản thương mại, thủ tục hành chính…
Năm 2010, Luận án Tiến sĩ Kinh tế của tác giả Trần Thanh Long (bảo vệ năm
2010 tại trường Đại Học Kinh Tế Hồ Chí Minh) với đề tài “Đánh giá tác động của gia nhập WTO đến kết quả kinh doanh xuất khẩu của doanh nghiệp Việt Nam”, trong đó
tác giả đã nêu ra 6 nhân tố hưởng của WTO đến kết quả kinh doanh xuất khẩu của doanh nghiệp Việt Nam, sử dụng mô hình hồi quy tính toán tác động của WTO đến kết quả kinh doanh XK của DN Việt Nam, đề xuất các giải pháp với Chính phủ, doanh nghiệp, hiệp hội ngành hàng xuất khẩu Tuy nhiên đây là nghiên cứu chung cho các doanh nghiệp Việt Nam, chưa gắn với đặc điểm cụ thể của từng ngành như ngành da giầy, cũng như chưa đề cập đến vai trò của các ngành công nghiệp phụ trợ, mối liên kết trong nội bộ ngành,…
Năm 2013, Luận án Tiến sĩ Kinh tế của tác giả Đỗ Minh Thụy (bảo vệ năm 2013
tại Viện Nghiên cứu Quản lý Trung Ương) với đề tài “Công nghiệp hỗ trợ ngành giầy dép – nghiên cứu đối với ngành giày dép ở Hải Phòng”, trong đó tác giả đã phân tích
mối quan hệ giữa phát triển công nghiệp hỗ trợ với phát triển các ngành công nghiệp, các chỉ tiêu đánh giá và nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của công nghiệp hỗ trợ,
đề xuất một số giải pháp phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ ngành da giầy, dệt may
3 Đánh giá tổng quan về tình hình nghiên cứu
Như đã phân tích ở trên, các nghiên cứu liên quan đến ngành da giầy Việt Nam chủ yếu phân tích thực trạng ngành da giầy bằng các con số thống kê qua các thời kỳ, bên cạnh đó đánh giá ảnh hưởng của các hiệp định thương mại đến sự phát triển của ngành da giầy thông qua phân tích các điểm mạnh, điểm yếu còn tồn tại cũng như những cơ hội có thể tận dụng được và thách thức phải đối mặt của các doanh nghiệp
da giầy khi Việt Nam tham gia một loạt các hiệp định thương mại lớn trong khu vực
Trang 28và trên toàn thế giới Từ đó, nhiều giải pháp đối với Chính phủ và các doanh nghiệp da giầy Việt Nam đã được đề xuất nhằm tận dụng tối đa các cơ hội, đồng thời giảm bớt tác động tiêu cực do các thách thức mang lại Qua tìm hiểu về tình hình nghiên cứu liên quan đến chủ đề nghiên cứu trong và ngoài nước, tác giả xin đưa ra một vài nhận xét như sau:
3.1 Những vấn đề đã được giải quyết
Các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước đã có những phân tích nhất định về năng lực xuất khẩu
Đã có những đánh giá, nhận định về thực trạng ngành da giầy, điểm mạnh, điểm yếu, thách thức và cơ hội khi tham gia các hiệp định tự do thương mại
Đã đưa ra một số giải pháp cụ thể đối với từng cấp: Doanh nghiệp, Hiệp Hội, Chính phủ
3.2 Những vấn đề chưa được giải quyết
Chưa làm rõ được khái niệm và đặc điểm về năng lực xuất khẩu; chưa phân tích được mối quan hệ giữa năng lực xuất khẩu và năng lực cạnh tranh
Áp dụng các mô hình cũ trong việc phân tích đánh giá năng lực cạnh tranh / năng lực xuất khẩu của ngành da giầy, tuy nhiên các mô hình này không còn tính chính xác khi tham gia sâu rộng vào hội nhập kinh tế, nhất là có yếu tố đầu tư nước ngoài;
Những kiến nghị chưa sát với đặc điểm cụ thể của ngành da giầy, nhất là khi tham gia vào các hiệp định tự do thương mại
Ba vấn đề này cũng là ba vấn đề mà Nghiên cứu sinh phải nghiên cứu, phân tích làm rõ trong luận án này
Tóm lại, Nghiên cứu sinh cho rằng cho đến nay chưa có công trình nào phân tích một cách cụ thể, chuyên sâu cả về lý luận và thực tiễn về năng lực xuất khẩu ngành da giầy Có thể nói, đây là luận án tiến sỹ đầu tiên nghiên cứu toàn diện các vấn đề về năng lực xuất khẩu ngành da giầy trong điều kiện các hiệp định tự do thương mại có hiệu lực
Trang 29PHẦN B: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC XUẤT KHẨU
CỦA NGÀNH DA GIẦY
1.1 Những vấn đề lý luận về năng lực xuất khẩu
1.1.1 Khái niệm năng lực xuất khẩu
Khi nói đến ngành, chung ta có thể coi ngành là một cấu phần cơ bản của nền kinh tế như ngành công nghiệp, ngành nông nghiệp, ngành dịch vụ, hoặc một ngành / phân ngành của một ngành kinh tế như ngành công nghiệp nhẹ, công nghiệp nặng (thuộc ngành công nghiệp) Cụ thể hơn nữa, khái niệm ngành có thể được sử dụng để chỉ đến một sản phẩm hoặc nhóm sản phẩm cụ thể như ngành da giầy, dệt may,
Trong nghiên cứu này, ngành được hiểu như là tập hợp nhóm các doanh nghiệp, cùng sản xuất, cung cấp một loại sản phẩm (hàng hóa / dịch vụ) để cạnh tranh trực tiếp với nhau trong điều kiện các nguồn lợi thế cạnh tranh là tương tự nhau trong cùng một quốc gia Đối với một nền kinh tế mở, chính các doanh nghiệp này cũng phải cạnh tranh với các đối thủ trong ngành trên những thị trường quốc tế
Để có thể cạnh tranh được trên thị trường quốc tế, ngành phải có năng lực cạnh tranh Năng lực cạnh tranh của ngành là khả năng đạt được những thành tích bền vững của các doanh nghiệp (của quốc gia đó) trong ngành so với các đối thủ nước ngoài Sự thành công của một số doanh nghiệp trong ngành được xem là sự thành công của ngành và thể hiện những yếu tố đặc thù có thể nhân rộng hoặc cải thiện được Như vậy, có thể coi doanh nghiệp là nền tảng của năng lực cạnh tranh ngành.Trong bối cảnh hội nhập kinh tế toàn cầu, nền kinh tế, chính trị của một quốc gia cũng chịu những ảnh hưởng to lớn từ xu hướng biến động của thế giới Do vậy, năng lực cạnh tranh của ngành cũng có những thay đổi khi các doanh nghiệp của ngành xuất khẩu hàng hóa / dịch vụ Tuy nhiên năng lực cạnh tranh cũng chưa đảm bảo doanh nghiệp có đầy đủ năng lực xuất khẩu trên thị trường thế giới do những rào cản trong cạnh tranh quốc tế
Khi nghiên cứu về năng lực xuất khẩu của một ngành, cần làm rõ là làm thế nào
để các doanh nghiệp trong ngành đó có thể tạo ra và duy trì lợi thế xuất khẩu sản phẩm trong bối cảnh cạnh tranh trên thị trường toàn cầu Do vậy, có thể sử dụng lý
Trang 30thuyết về năng lực xuất khẩu doanh nghiệp nói chung để phân tích năng lực xuất khẩu ngành.
Hiện nay các nghiên cứu về năng lực xuất khẩu thường sử dụng các cơ sở lý luận
khác nhau, thứ nhất: “năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp là khả năng tối đa mà doanh nghiệp có thể bán sản phẩm ra thị trường nước ngoài và doanh nghiệp tận dụng được tối đa các cơ hội mà chính phủ tạo ra khi tham gia các hiệp định tự do thương mại và các sáng kiến đẩy mạnh xuất khẩu"1 thứ hai “năng lực xuất khẩu được hiểu là một mục tiêu kinh doanh hay mục tiêu nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh hướng tới tăng trưởng mặt hàng, kim ngạch xuất khẩu, và mở rộng thị trường” (Cục Xúc tiến Thương mại 2009), thứ ba: “năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp là khả năng doanh nghiệp khai thác và tận dụng một cách hiệu quả các nguồn lực kết hợp với các chiến lược để xuất khẩu nhằm mục tiêu lợi nhuận và mở rộng thị trường” (Bùi Ngọc Sơn 2005, tr 18)
Năng lực xuất khẩu là khả năng xây dựng, tổ chức và thực hiện các biện pháp hướng tới xuất khẩu nhằm khai thác tối đa các lợi thế về năng lực cạnh tranh trên phạm vi quốc tế nhằm làm tăng doanh thu xuất khẩu, chiếm lĩnh thị phần, thị trường Như vậy, có thể hiểu năng lực xuất khẩu là năng lực cạnh tranh kết hợp với các biện pháp triển khai xuất khẩu, là khả năng tiêu thụ sản phẩm trên thị trường quốc tế và thu được lợi nhuận trong khi vẫn đối mặt với cạnh tranh quốc tế Năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp có đầy đủ các yếu tố của năng lực cạnh tranh như năng lực tài chính, trình độ nhân lực, giá cả, chất lượng hàng hóa… nhưng tập trung sâu hơn vào một số yếu tố liên quan đến thị trường quốc tế như năng lực và kinh nghiệm tổ chức xuất khẩu, năng lực nghiên cứu thị trường quốc tế, năng lực giải quyết các vấn đề pháp lý quốc tế,…
Ở một cách tiếp cận khác, tác giả Lê Nhật Thức sử dụng khái niệm "sức" để làm rõ năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp gồm:
- Sức tạo ra lợi nhuận và nâng cao thị phần trên thị trường xuất khẩu bằng việc kinh doanh hàng hóa - dịch vụ của mình
- Sức đã, đang và sẽ có trong việc tận dụng các cơ hội từ việc xây dựng hoặc điều chỉnh chiến lược kinh doanh phù hợp với tình hình thực tế
Khái niệm "sức" nói trên được sử dụng trong quan hệ so sánh với các doanh nghiệp khác cùng ngành, trong cùng một thời điểm và trên cùng một thị trường
Tóm lại, dù cách định nghĩa có khác nhau, nhưng các nghiên cứu đều có một điểm chung đó là doanh nghiệp muốn có năng lực xuất khẩu thì doanh nghiệp phải có lợi thế
1 http://www.trade.gov/neinext/neinext-strategic-framework.pdf ; trang 17, truy cập ngày 20/1/2015
Trang 31cạnh tranh Nói cách khác, năng lực cạnh tranh chính là điều kiện cần để doanh
nghiệp có năng lực xuất khẩu.
Từ những phân tích nêu trên, dù được phân tích dưới góc độ nào thì năng lực xuất khẩu cũng thể hiện khả năng của doanh nghiệp trong việc xuất khẩu Khả năng đó có được do cách kết hợp "nội lực" của doanh nghiệp cùng với "ngoại lực" đến từ môi trường bên ngoài Khả năng đó phải được thể hiện ở những kết quả cuối cùng là doanh thu, là hiệu quả, là lợi nhuận, là quy mô thị trường Như vậy theo quan điểm của tác
giả, có thể hiểu, năng lực xuất khẩu doanh nghiệp là khả năng huy động và sử dụng các nguồn lực sẵn có một cách hiệu quả, kết hợp với việc xây dựng, hoàn thiện các chiến lược phù hợp môi trường kinh doanh trong và ngoài nước để thực hiện sản xuất / kinh doanh / cung ứng / trao đổi hàng hoá - dịch vụ với nước ngoài nhằm mục tiêu tối đa lợi nhuận và không ngừng mở rộng thị trường.
Ngành là tập hợp nhóm các doanh nghiệp có chung các yếu tố sản xuất, kinh doanh và cùng cung cấp một loại sản phẩm / dịch vụ trên thị trường trong nước và quốc tế, các doanh nghiệp này cạnh tranh với nhau và cạnh tranh với các đối thủ khác Năng lực xuất khẩu ngành được sử dụng để nói tới phạm vi rộng hơn, đánh giá mức độ mạnh, yếu của một ngành sản phẩm của một quốc gia trên phạm vi thị trường xuất khẩu quốc tế, thể hiện qua các chỉ số như quy mô sản xuất sản phẩm, tổng kim ngạch xuất khẩu, tốc độ phát triển ngành, thị phần và thị trường của ngành trên thị trường thế giới, chất lượng và giá bán sản phẩm, năng lực nghiên cứu phát triển sản phẩm mới, cơ cấu cấu trúc của ngành, mức độ tham gia vào chuỗi giá trị sản phẩm toàn cầu,
Hiểu rộng hơn, năng lực xuất khẩu của ngành là khả năng ngành đó có thể bán được sản phẩm / dịch vụ của ngành trên thị trường quốc tế, có thể cạnh tranh với đối thủ nước ngoài và thu được lợi nhuận
Như vậy, năng lực xuất khẩu của ngành là năng lực của ngành trong việc sản xuất, cung ứng sản phẩm / dịch vụ có lợi thế xuất khẩu trên thị trường quốc tế nhằm duy trì sự tăng trưởng, tối đa lợi nhuận và không ngừng mở rộng thị trường
Năng lực xuất khẩu của ngành thường xuyên thay đổi theo các điều kiện sản xuất
kinh doanh Ngành chỉ có năng lực xuất khẩu tốt khi có nhiều doanh nghiệp có năng
lực xuất khẩu tốt Nếu sản phẩm không có khả năng cạnh tranh, doanh nghiệp không
có năng lực xuất khẩu thì ngành cũng sẽ không có năng lực xuất khẩu
1.1.2 Các chỉ tiêu đánh giá năng lực xuất khẩu
Để đánh giá năng lực xuất khẩu, tác giả Bùi Ngọc Sơn xây dựng bộ tiêu chí đánh
giá năng lực xuất khẩu Tuy nhiên, bộ tiêu chí này còn thiên về định tính và không cố
Trang 32định về số lượng nhóm tiêu chí và các tiêu chí phụ trong nhóm Mỗi nhóm tiêu chí có
số điểm tối đa là 5, chia làm năm mức từ 1 đến 5: kém, trung bình, khá, tốt và cao Doanh nghiệp nào có điểm cao hơn sẽ có năng lực xuất khẩu cao hơn Bộ tiêu chí được tác giả xây dựng gồm các nhóm tiêu chí sau: tổ chức doanh nghiệp, trình độ đội ngũ lãnh đạo, tỉ lệ nhân viên, công nhân lành nghề, số sáng kiến cải tiến, đổi mới hàng năm, chất lượng cơ sở vật chất, kỹ thuật, năng lực tài chính, chất lượng sản phẩm, thị phần, năng suất lao động, chất lượng môi trường sinh thái và các giá trị vô hình của doanh nghiệp Nghiên cứu này sử dụng bộ số liệu từ cuộc điều tra 1.200 doanh nghiệp tại Hà Nội, Hải Phòng và Thành phố Hồ Chí Minh Từ kết quả khảo sát, năng lực xuất khẩu của các doanh nghiệp trong các ngành công nghiệp, dịch vụ và thương mại được đánh giá theo bộ tiêu chí đã đề xuất Đối với nghiên cứu này, các chỉ tiêu chưa được sắp xếp hệ thống Nhiều chỉ tiêu khó đo lường cụ thể hoặc đo lường thông qua ý kiến của doanh nghiệp như chỉ tiêu về thị phần, về môi trường sinh thái Điều này ảnh hưởng đến việc so sánh năng lực xuất khẩu của các doanh nghiệp hoặc các ngành kinh tế
Như đã phân tích ở trên, ranh giới phân tách khái niệm năng lực xuất khẩu và năng lực cạnh tranh quốc tế là rất khó khăn nên nhóm chuyên gia Cục Xúc tiến thương mại
đề xuất hai bộ chỉ số cơ bản để đánh giá đồng thời năng lực cạnh tranh quốc tế và năng lực xuất khẩu của các doanh nghiệp Việt Nam Nghiên cứu này sử dụng bộ số liệu điều tra từ hai cuộc khảo sát doanh nghiệp do Tổng cục Thống kê và Cục Xúc tiến thương mại, Bộ Công thương tiến hành năm 2008 và bổ sung số liệu khảo sát của 50 doanh nghiệp trong ngành trong năm 2012 Trong nhóm chỉ tiêu định tính, bốn chỉ tiêu
có ảnh hưởng lớn đến khả năng xuất khẩu của doanh nghiệp được xem xét và phân tích bao gồm: chất lượng nguồn nhân lực, đầu tư cho công nghệ, phát triển sản phẩm mới và chất lượng công tác tiếp thị, xúc tiến thương mại Về phương pháp định lượng, tác giả sử dụng một số chỉ số phổ biến trong việc đánh giá năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp Đó là tỷ lệ xuất khẩu trên doanh thu và khoảng thời gian từ khi doanh nghiệp được thành lập tới khi doanh nghiệp bắt đầu xuất khẩu Nghiên cứu chỉ ra doanh nghiệp có khả năng xuất khẩu cao (tỷ lệ xuất khẩu trên doanh thu cao, thời gian
từ khi thành lập đến khi xuất khẩu ngắn); trình độ nguồn nhân lực cao; tỷ lệ doanh nghiệp đầu tư cho công nghệ, phát triển sản phẩm mới, R&D và xây dựng thương hiệu cao; chất lượng sản phẩm được thị trường chấp nhận; giá cả có ưu thế vươt trội hơn đối thủ cạnh tranh; năng động trong xúc tiến xuất khẩu và tìm kiếm thông tin… Tuy
Trang 33nhiên, kênh phân phối còn thiếu đa dạng, dịch vụ sau bán hàng kém, khả năng thích ứng với những thay đổi của thị trường thấp và các kế hoạch tiếp thị có tính chuyên nghiệp thấp.
Với những phân tích trên, có thể xây dựng các tiêu chí đánh giá năng lực xuất khẩu dựa theo 2 nguyên tắc sau:
1.1.2.1 Các tiêu chí đánh giá theo quá trình (các nhân tố cấu thành)
Theo cánh phân chia này, các yếu tố cấu thành năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp có thể bao gồm:
Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh xuất khẩu thì mỗi doanh nghiệp có những thế mạnh riêng để tạo nên năng lực xuất khẩu cho mình Doanh nghiệp có thể
có một hoặc nhiều năng lực xuất khẩu sau:
(1) Năng lực nghiên cứu và dự báo thị trường xuất khẩu
Công tác nghiên cứu thị trường, đặc biệt là thị trường quốc tế có vai trò hết sức quan trọng đối với các doanh nghiệp xuất khẩu trong việc xác định các thị trường mục tiêu hoặc các phân đoạn thị trường tiềm năng đối với doanh nghiệp, đồng thời có được
sự đổi mới sản phẩm, điều chỉnh chiến lược xuất khẩu phù hợp với những thay đổi trên thị trường một cách nhanh nhất Năng lực nghiên cứu thị trường là điều kiện đầu tiên đối với các doanh nghiệp trong việc thâm nhập thị trường xuất khẩu, đây cũng là mặt yếu nhất của các doanh nghiệp xuất khẩu da giầy của Việt Nam hiện nay Để có được năng lực thâm nhập thị trường quốc tế, cần phải có 2 yếu tố: (i) Có chiến lược thị trường dài hạn; (ii) Có năng lực để theo đuổi chiến lược đã xây dựng
(2) Năng lực tìm kiếm đối tác, khách hàng
Việc tìm kiếm các đối tác cung cấp đầu vào, các khách hang tiêu thụ sản phẩm luôn là một trong những vấn đề có tầm ảnh hưởng quan trọng đến hiệu quả hoạt động xuất khẩu Các phương thức tiếp cận, tìm kiếm có thể được thực hiện theo cách truyền thống như tham gia các hội chợ, triển lãm, trung tâm thương mại, … hoặc qua các biện pháp điện tử như trang web, quảng cáo online, thong tin tại các trung tâm dữ liệu… Việc duy trì mối quan hệ với khách hàng đảm bảo cho việc kinh doanh các mặt xuất khẩu được ổn định, lâu dài Tuy nhiên, để làm được điều đó, cần phải chọn đúng sản phẩm phù hợp với thị trường và nghệ thuật tiếp cận với khách hàng
(3) Năng lực tổ chức sản xuất sản phẩm
- Năng lực tổ chức sản xuất sản phẩm xuất khẩu: Một sản phẩm có thể do nhiều
doanh nghiệp cùng tham gia sản xuất, ví dụ như công ty sản xuất giầy thể thao, có thể thu mua hoặc thuê gia công một công đoạn nào đó tại các cơ sở khác Cũng như vậy, một doanh nghiệp có thể không sản xuất một sản phẩm cụ thể, nhưng vẫn có khả năng
Trang 34xuất khẩu những mặt hàng đó bằng cách thu mua từ các doanh nghiệp khác trong nước Cùng sản xuất một chủng loại mặt hàng, nhưng các doanh nghiệp khác nhau cung cấp theo những điều kiện khác nhau về giá cả, chất lượng, điều kiện giao hàng
và sự tiếp nhận sản phẩm xuất khẩu của các doanh nghiệp trên thị trường cũng có sự khác nhau Cũng là mặt hàng giầy thể thao, nhưng Biti’s không những chiếm lĩnh thị trường trong nước mà còn vươn ra chiếm lĩnh một số thị trường nước ngoài một cách vững chắc trong khi đó nhiều doanh nghiệp không thể có chỗ đứng trên thị trường quốc tế Đây chính là năng lực tổ chức sản xuất, mà không phải doanh nghiệp nào cũng cũng có Do vậy, đánh giá năng lực sản xuất của doanh nghiệp, cần phải đánh giá một cách tổng thể về ưu thế, tiềm năng của doanh nghiệp trong việc phát triển sản phẩm xuất khẩu
- Giá sản phẩm: Giá xuất khẩu là luôn một yếu tố hàng đầu để đánh giá năng lực
xuất khẩu cùa doanh nghiệp Giá xuất khẩu phải đảm bảo bù đắp chi phí sản xuất và có lợi nhuận, tuy nhiên mức giá này cũng phải đảm bảo tính cạnh tranh và hiệu quả kinh doanh đối với người nhập khẩu Do vậy, doanh nghiệp có năng lực xuất khẩu là doanh nghiệp có khả năng xuất khẩu sản phẩm với mức giá mà thị trường nhập khẩu chấp nhận được Giá xuất khẩu phụ thuộc vào nhiều yếu tố như giá thành sản xuất, thuế XNK, chi phí XNK,… tuy nhiên yếu tố giá thành sản xuất là quan trọng nhất Do vậy, khi đánh giá tiêu chí này, cần phải đánh giá đồng thời khả năng tăng năng suất lao động, giảm chi phí, hạ giá thành… của doanh nghiệp
- Chất lượng sản phẩm: Đối với các thị trường xuất khẩu, việc đảm bảo chất lượng
ổn định và giá thành hạ luôn là một trong những yếu tố quan trọng tạo nên sức cạnh tranh của sản phẩm và doanh nghiệp Việc đánh giá chất lượng sản phẩm là tương đối phức tạp do phải xem xét các đặc tính của sản phẩm liên quan đến sự thỏa mãn từng nhu cầu cụ thể, và thường được chia làm 2 nhóm chỉ tiêu: Nhóm chỉ tiêu không so sánh được
và nhóm các chỉ tiêu so sánh được Các chỉ tiêu này không tồn tại độc lập mà có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, mỗi sản phẩm sẽ có những chỉ tiêu nổi bật hơn các chỉ tiêu khác, và mỗi doanh nghiệp sẽ phải lựa chọn những chỉ tiêu quan trọng nhất làm cho sản phẩm là cơ sở phân biệt với những sản phẩm cùng loại khác trên thị trường
- Thương hiệu doanh nghiệp: Thương hiệu là tài sản vô hình của doanh nghiệp, nó
không chỉ là dấu hiệu nhận biết sản phẩm hay doanh nghiệp mà còn uy tín, giá trị của doanh nghiệp và cũng là phương tiện để cạnh tranh với các đối thủ trên thị trường
Trang 35quốc tế Việc xây dựng, phát triển và bảo vệ thương hiệu luôn là nhiệm vụ hàng đầu và lâu dài đối với mỗi doanh nghiệp Việt Nam trong quá trình vươn ra thị trường quốc tế.
(4) Năng lực tổ chức hoạt động xuất khẩu
Là khả năng tổ chức triển khai hoạt động xuất khẩu theo điều kiện đã cam kết, đảm bảo đúng các tiêu chuẩn, quy định, tập quán thương mại quốc tế Năng lực tổ chức xuất khẩu là một cấu thành quan trọng trong năng lực xuất khẩu của mỗi doanh nghiệp, bao gồm:
+ Năng lực đàm phán các hợp đồng ngoại thương
+ Năng lực triển khai các nghiệp vụ xuất khẩu
+ Năng lực thực hiện thanh toán quốc tế
+ Năng lực xử lý các tranh chấp thương mại quốc tế
+ Năng lực cung cấp các dịch vụ sau bán hàng trên thị trường quốc tế
+ Năng lực và kỹ năng khác có liên quan
Để có được các năng lực nêu trên, yếu tố con người luôn là yếu tố trung tâm Để tạo nên năng lực cạnh tranh / xuất khẩu cho doanh nghiệp cần chú trọng đến nguồn nhân lực, trong đó đặc biệt là chất lượng và số lượng đội ngũ cán bộ làm công tác xuất nhập khẩu Những cán bộ này phải là những người thông thạo ngoại ngữ, có hiểu biết, kiến thức về luật pháp, tập quán thương mại quốc tế, có kinh nghiệm trong kinh doanh quốc tế, tác phong làm việc chuyên nghiệp… Chất lượng nguồn nhân lực là yếu tố quyết định trực tiếp đến hiệu quả hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp
(5) Năng lực chiếm lĩnh thị trường
Trong hoạt động sản xuất / kinh doanh xuất khẩu, thị trường xuất khẩu luôn là yếu
tố sống còn của doanh nghiệp, sản phẩm làm ra không tiêu thụ được thì năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp bị triệt tiêu Do đó, khả năng chiếm lĩnh thị trường của sản phẩm sẽ là một yếu tố cấu thành năng lực xuất khẩu Cùng một chủng loại sản phẩm, nhưng các doanh nghiệp khác nhau sẽ có khả năng chiếm lĩnh thị trường khác nhau Cùng một sản phẩm do cùng một doanh nghiệp sản xuất, nhưng ở thị trường khác nhau cũng có khả năng chiếm lĩnh khác nhau Các chỉ tiêu thường được sử dụng để đánh giá khả năng chiếm lĩnh thị trường là: thị phần, tỷ suất lợi nhuận, tỷ lệ chi Marketing / doanh thu,…
Tóm tắt hệ thống tiêu chí đánh giá năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp được trình bày trong Bảng 1.1
Bảng 1.1 Bảng tổng kết các tiêu chí đánh giá năng lực xuất khẩu theo các yếu tố cấu thành
1 Năng lực nghiên cứu và dự báo - Nghiên cứu thị trường
Trang 36thị trường xuất khẩu - Phân tích
- Năng lực thực hiện nghiệp vụ xuất khẩu
- Năng lực thanh toán quốc tế
- Năng lực xử lý tranh chấp
5 Năng lực chiếm lĩnh thị trường - Chiến lược kinh doanh
1.1.2.2 Các tiêu chí đánh giá điều kiện đầu vào và đầu ra của hoạt động kinh doanh
1.1.2.2.1 Tiêu chí đánh giá đầu vào của hoạt động sản xuất, kinh doanh
- Về chiến lược xuất khẩu: thể hiện tầm nhìn dài hạn và khả năng hoạch định mục
tiêu xuất khẩu chiến lược của doanh nghiệp, khả năng nghiên cứu, phân tích và dự báo cũng như xây dựng hệ thống các giải pháp nhằm tận dụng thời cơ, đối phó với thách thức trong tương lai trên thị trường xuất khẩu Đồng thời, cũng thể hiện khả năng của doanh nghiệp trong việc nắm bắt các đặc thù của ngành, môi trường kinh doanh, cung cầu trên thị trường, các yếu tố đầu vào, đầu ra của sản xuất
Chiến lược xuất khẩu gồm các nội dung chính: năng lực sản xuất, xuất khẩu của doanh nghiệp, dự báo cung cầu, các cơ hội & thách thức, tầm nhìn, mục tiêu hướng tới (thị trường xuất khẩu mục tiêu, các chỉ tiêu kinh doanh, các nguồn cung chiến lược,
…); phương thức triển khai; thời gian thực hiện; các đối thủ cạnh tranh tương lai; …
- Về hệ thống quản lý chất lượng: Việc áp dụng và đạt được các chứng nhận quốc
tế về hệ thống quản lý chất lượng và môi trường giúp doanh nghiệp tạo được uy tín, sự tin cậy đối với người tiêu dùng quốc tế và nâng cao vị thế trên thị trường, đồng thời cũng giúp doanh nghiệp đảm bảo sự ổn định về chất lượng sản phẩm, kiểm soát được quá trình sản xuất
Trang 37- Nhóm chỉ tiêu đánh giá sản phẩm:
+ Về chất lượng của sản phẩm: Chất lượng sản phẩm phải được đảm bảo trong
suốt quá trình sản xuất, từ khâu cung ứng nguyên vật liệu cho đến khâu đóng gói, hoàn thiện sản phẩm Tất cả các khâu, các công đoạn sản xuất phải được kiểm tra, kiểm soát nghiêm ngặt theo đúng quy trình công nghệ đã được xây dựng theo các yêu cầu chất lượng đặc thù đối với từng loại sản phẩm Việc kiểm tra, giám sát chất lượng phải được thực hiện ngay trong nội bộ doanh nghiệp, có thể có sự giám sát hoặc kiểm tra từ phía khách hàng hoặc các đơn vị, tổ chức chứng nhận chất lượng Sản phẩm phải đáp ứng các quy định chung về an toàn, môi trường và xã hội
+ Về giá sản phẩm: có vai trò quyết định đối với hành vi mua sắm của người tiêu
dung Giá bán phải phù hợp với giá trị của sản phẩm và giá cả thị trường, tuy nhiên vẫn phải đảm bảo bù đắp được chi phí sản xuất và có lợi nhuận cho doanh nghiệp
+ Về kiểu dáng, mẫu mã bao bì sản phẩm: bao bì không chỉ bảo vệ sản phẩm mà
còn là hình ảnh của doanh nghiệp, làm tăng giá trị sản phẩm, kích thích nhu cầu tiêu dùng Do vậy, nhiều doanh nghiệp đã chú ý đầu tư vào việc nghiên cứu, thiết kế kiểu dáng, mẫu mã bao bì sản phẩm phù hợp với thị hiếu và tạo điểm nhấn đối với sản phẩm
+ Về uy tín, thương hiệu: được xây dựng và hình thành cùng với hình ảnh của
doanh nghiệp, do người tiêu dùng đánh giá, bình chọn căn cứ vào chất lượng sản phẩm, dịch vụ bán hàng và sau bán hàng,… Đây cũng là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến quyết định mua hàng của người dùng cũng như là căn cứ để định vị sản phẩm của doanh nghiệp Một sản phẩm có thương hiệu, uy tín cũng có nghĩa là sản phẩm đó có năng lực cạnh tranh trên thị trường xuất khẩu
- Về nguồn nhân lực và bộ máy quản trị doanh nghiệp: Nguồn nhân lực luôn đóng
vai trò sống còn đối với bất kỳ doanh nghiệp nào Chất lượng nguồn nhân lực được thể hiện qua các nhóm tiêu chí: trình độ chuyên môn (trình độ học vấn, tỷ lệ lao động đã qua đào tạo chuyên ngành, số lao động có kinh nghiệm, có tay nghề, trình độ tin học, ngoại ngữ…); về cơ cấu lao động (độ tuổi, giới tính, …); về hiệu suất (năng suất lao động, thời gian lao động trung bình, …); …
Chất lượng bộ máy quản trị được phản ánh qua các tiêu chí: khả năng nghiên cứu
và xây dựng chiến lược, khả năng tổ chức và triển khai công việc, khả năng kiểm soát
và điều chỉnh quá trình kinh doanh, khả năng phân công và sử dụng lao động,…
Trang 38- Trình độ khoa học – kỹ thuật: Khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển và góp
phần không nhỏ trong giá trị sản phẩm, do vậy, việc năm bắt các thành tựu khoa học
kỹ thuật mới đã trở thành yêu cầu bức thiết và là một trong những yếu tố quan trọng tạo nên năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp Trình độ khoa học công được thể hiện qua: khả năng tự nghiên cứu, phát triển, áp dụng công nghệ mới; mức độ hiện đại của thiết bị, máy móc; mức chi phí cho khoa học - công nghệ; đội ngũ cán bộ khoa học, kỹ thuật;…
- Năng lực nghiên cứu, thiết kế sản phẩm: Do nguồn lực của các doanh nghiệp là
khác nhau nên khả năng nghiên cứu, thiết kế sản phẩm cũng rất khác nhau, đây chính
là yếu tố phân biệt sản phẩm của doanh nghiệp trên thị trường xuất khẩu, tạo nên năng lực xuất khẩu mà không phải doanh nghiệp nào cũng có được
- Hiệu quả của các hoạt động xúc tiến thương mại: Thông qua các hoạt động
quảng cáo, xúc tiến thương mại, doanh nghiệp tăng cường khả năng giới thiệu sản phẩm đến người tiêu dùng, mở rộng thị trường Hiệu quả hoạt động này được đánh giá qua: tỷ lệ tăng / giảm doanh thu trước và sau các chương trình quảng cáo, xúc tiến thương mại, khả năng ghi nhớ của người tiêu dùng đối với sản phẩm và doanh nghiệp, tăng / giảm thị phần sau khi thực hiện các hoạt động xúc tiến,…
1.1.2.2.2 Tiêu chí đánh giá đầu ra của quá trình kinh doanh
- Tiêu chí về khối lượng và giá trị xuất khẩu
+ Khối lượng xuất khẩu: phản ánh năng lực, quy mô, trình độ sản xuất của doanh
nghiệp, cũng như khả năng tổ chức hoạt động xuất khẩu,… Việc tăng khối lượng xuất khẩu có thể làm tăng lợi nhuận nhờ hiệu quả kinh tế do quy mô
+ Giá xuất khẩu: Với chiến lược xuất khẩu của các doanh nghiệp Việt Nam hiện
nay, giá xuất khẩu luôn có vai trò quyết định trong năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp Hiệu quả chính sách giá xuất khẩu của doanh nghiệp thường được thể hiện qua việc so sánh giá xuất khẩu qua các thời kỳ, các thị trường xuất khẩu, tương quan giữa giá xuất khẩu và khối lượng xuất khẩu, giữa giá bán của doanh nghiệp và giá thị trường,
+ Giá trị xuất khẩu: là doanh thu của doanh nghiệp trong một kỳ xuất khẩu, được
tính bằng q x p (q là khối lượng xuất khẩu, p là giá xuất khẩu) Chỉ tiêu này cũng được
sử dụng để đánh giá năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp trong việc chiếm lĩnh thị
Trang 39phần, thị trường, tốc độ tăng trưởng qua các kỳ kinh doanh so với đối thủ cạnh tranh, với mức trung bình của ngành,…
- Tiêu chí về chi phí: Cắt giảm chi phí, tối đa hóa lợi nhuận luôn là mục tiêu của
doanh nghiệp Việc kiểm soát tốt chi phí trong hoạt động sản xuất, xuất khẩu sẽ làm tăng năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp
- Tiêu chí về hiệu quả xuất khẩu:
+ Các tiêu chí phản ánh khả năng sinh lời: tỷ suất lợi nhuận xuất khẩu và hệ số sinh lời từ vốn đầu tư cho hoạt động xuất khẩu, ROE, ROA,…
+ Năng suất lao động bình quân
+ Hiệu quả từng hợp đồng, dự án: NPV, IRR,
- Các tiêu chí tài chính tổng hợp: gồm khả năng thanh toán (khả năng thanh toán
hiện thời, khả năng thanh toán nhanh), hệ số sử dụng vốn, chỉ số rủi ro, chỉ số tăng trưởng tiềm năng,
1.1.2.3 Một số tiêu chí đánh giá năng lực xuất khẩu ngành
Việc đánh giá năng lực xuất khẩu của ngành cần được xem xét trong bức tranh tổng thể của cả ngành, do vậy, cần phải xây dựng một hệ thống các tiêu chí tương đối hoàn chỉnh để có thể xem xét trên nhiều khía cạnh
Theo cách tiếp cận này, năng lực xuất khẩu được nhìn nhận qua giá trị xuất khẩu hoặc mức tăng trưởng cao Những ngành hàng xuất khẩu có thành tích xuất khẩu cao được đánh giá là có năng lực xuất khẩu và có khả năng duy trì được năng lực trong tương lai Việc đánh giá có thể dựa trên một số tiêu chí như: quy
mô, số lượng các doanh nghiệp trong ngành, giá trị xuất khẩu của ngành, khả năng sản xuất và cung ứng sản phẩm, chất lượng và giá cả xuất khẩu sản phẩm, năng suất lao động trung bình của ngành, thị phần thị trường thế giới Theo
“Báo cáo đánh giá tiềm năng xuất khẩu quốc gia năm 2014” của Cục xúc tiến thương mại – Bộ Công Thương và Cục kinh tế liên bang Thụy Sĩ, những tiêu chí này được nhóm lại thành 4 chỉ số tổng hợp, gồm: Thành tích xuất khẩu, Các điều kiện cung nội địa, Thị trường thế giới, cụ thể:
- Chỉ số 1: Thành tích xuất khẩu, được tính toán dựa trên các chỉ tiêu:
+ Giá trị xuất khẩu của ngành: giá trị xuất khẩu càng lớn thì mặt hàng càng
có năng lực xuất khẩu và có tiềm năng tăng trưởng xuất khẩu trong tương lai
Trang 40+ Thị phần trên thị trường thế giới: là tỷ lệ giữa giá trị xuất khẩu của ngành
với giá trị xuất khẩu của ngành hàng đó trên thế giới Chỉ số này kết hợp với chỉ
số giá trị xuất khẩu sẽ phản ánh chính xác hơn khả năng thực sự của ngành sản phẩm trên thị trường thế giới.
+ Tăng trưởng xuất khẩu: là tỷ lệ tăng trưởng giá trị xuất khẩu theo từng
năm / thời kỳ, phản ánh năng lực cạnh tranh của ngành hàng trên thị trường thế
giới và xu hướng tăng trưởng trong tương lai
+ Cán cân thương mại tương đối: là tỷ số giữa cán cân thương mại tuyệt đối
và tổng thương mại của ngành hàng, tức là tỷ số giữa mức chênh lệch xuất khẩu
- nhập khẩu và tổng giá trị xuất, nhập khẩu ngành hàng đó.
- Chỉ số 2: Các điều kiện cung nội địa, bao gồm các chỉ số thành phần:
+ Chất lượng sản phẩm và hiệu quả của các quy trình sản xuất: được tính
toán dựa trên việc so sánh 5 chỉ số sau với các nước xuất khẩu lớn trên thế giới
và trong khu vực: năng suất lao động; chi phí lao động; chi phí sản xuất; hiện trạng của công nghệ sản xuất; chất lượng sản phẩm xuất khẩu
+ Tầm quan trọng của các mối liên kết và của những ngành phụ trợ: được
đánh giá qua: hiệu quả của những ngành phụ trợ và tầm quan trọng của các mối liên kết theo chiều dọc và chiều ngang.
- Chỉ số 3: Thị trường thế giới
+ Giá trị nhập khẩu thế giới: Tổng giá trị nhập khẩu đối với ngành hàng trên
thế giới, phản ánh nhu cầu thế giới đối với ngành hàng, mặt hàng Việc thống kê
và phân tích tổng giá trị nhập khẩu của ngành hàng là cở sở để dự báo nhu cầu, quy mô, tổng giá trị của ngành hàng trên thế giới trong tương lai.
+ Sự thay đổi của nhu cầu quốc tế : được đánh giá qua việc xem xét 2 chỉ
tiêu: tăng trưởng khối lượng nhập khẩu và tăng trưởng giá trị nhập khẩu trong một giai đoạn nhất định Chỉ số này cho thấy tốc độ tăng trưởng, sự biến động đối với nhu cầu về ngành hàng trên thị trường thế giới
+ Tiếp cận thị trường thế giới của các nhà xuất khẩu: được tính toán từ việc
đánh giá các rào cản thương mại (thuế quan và phi thuế quan) đối với sản phẩm của Việt Nam khi thâm nhập vào các thị trường tiêu thụ trên thế giới