1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đồ gốm men thời lý và thời trần trong kho bảo tàng hà nội

294 441 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 294
Dung lượng 6,01 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trên cơ sở các đồ gốm men thời Lý và thời Trần khai quật đang được lưu giữ ở kho Bảo tàng Hà Nội tác giả cố gắng tổng hợp, hệ thống, phân loại để có nhận thức bước đầu về mối quan hệ giữ

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGÔ THỊ THANH THÚY

ĐỒ GỐM MEN THỜI LÝ VÀ THỜI TRẦN TRONG KHO BẢO TÀNG HÀ NỘI

Chuyên ngành : Khảo cổ học

Mã số : 60.22.03.17

LUẬN ÁN TIẾN SỸ KHẢO CỔ HỌC

HÀ NỘI, 2016

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGÔ THỊ THANH THÚY

ĐỒ GỐM MEN THỜI LÝ VÀ THỜI TRẦN TRONG KHO BẢO TÀNG HÀ NỘI

Chuyên ngành : Khảo cổ học

Mã số : 60.22.03.17

LUẬN ÁN TIẾN SỸ KHẢO CỔ HỌC

Người hướng dẫn khoa học:

PGS.TS Tống Trung Tín

HÀ NỘI, 2016

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình tổng hợp tư liệu và kết quả nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu và tư liệu nêu trong luận án là trung thực Những ý kiến khoa học chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Hà Nội, ngày tháng năm 2016 Tác giả luận án

Ngô Thị Thanh Thúy

Trang 4

MỤC LỤC Trang phụ bìa

Lời cam đoan

9

1.1 Một số khái niệm chuyên ngành 9 1.2 Tình hình phát hiện, sưu tầm và nghiên cứu đồ gốm men thời Lý, thời Trần ở Thăng Long - Hà Nội

93

3.1 Đặc trưng và kỹ thuật sản xuất 93 3.2 Đôi nét về giá trị lịch sử-văn hóa của đồ gốm men thời Lý, thời Trần trong kho Bảo tàng Hà Nội

128

3.3 Vấn đề bảo quản hiện vật và phát huy giá trị bộ sưu tập 139

TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ

Trang 5

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU

BTLSVN Bảo tàng Lịch sử Việt Nam

BTLSQG Bảo tàng Lịch sử Quốc gia

CTQG Chính trị Quốc gia

ĐHQG Đại học quốc gia

ĐHKHXH & NV Đại học khoa học Xã hội và Nhân văn

VHNT Văn hóa nghệ thuật

VHTT Văn hóa thông tin

VHTT&DL Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU, BẢN ĐỒ, BẢN ẢNH, BẢN VẼ, KẾT QUẢ PHÂN TÍCH MỘT SỐ MẪU GỐM MEN THỜI LÝ VÀ THỜI TRẦN

Bảng 3: Kết quả phân tích thành phần hóa học phân tích xương gốm thời Lý và

thời Trần qua phương pháp phổ xạ plasma ICP-MS

Bảng 4: Đặc điểm chất liệu qua quan sát bề ngoài một số mẫu gốm men thời

Trần

Bảng 5: Kết quả phân tích thành phần hóa học phân tích men gốm bằng phương

pháp phân tích nhiễu xạ tia A-XRD

Bảng 5.1: Kết quả phân tích lát mỏng thạch học thành phần khoáng vật xương

gốm

Bảng 5.2: Kết quả phân tích thành phần hóa học phân tích men gốm

Bảng 5.3: Kết quả phân tích thành phần hóa học phân tích xương gốm

Bảng 6: Kết quả phân tích chất liệu gốm celadon ở Xóm Hống

Bảng 7: Thống kê gốm men thời Lý tại di tích Văn Cao-Hoàng Hoa Thám

Bảng 8: Thống kê gốm men thời Trần tại di tích Văn Cao-Hoàng Hoa Thám Bảng 9: Thống kê gốm men thời Lý (Tk 11-13) còn dáng

Bảng 10: Thống kê gốm men thời Lý (Tk 11-13)

Bảng 11: Thống kê gốm men thời Trần (Tk 13-14) còn dáng

Bảng 12: Thống kê mảnh gốm men thời Trần (Tk 13-14)

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

1.1 Bảo tàng Hà Nội hiện nay là nơi lưu giữ nhiều di vật được phát hiện hoặc sưu tầm trên địa bàn Hà Nội (bao gồm cả Hà Tây cũ, sáp nhập vào năm 2008) Trong số các di vật của Bảo tàng có một khối lượng không nhỏ đồ gốm men thuộc giai đoạn Lý, Trần với nhiều nguồn khác nhau Đó là những sưu tập thu được từ các cuộc điều tra, thám sát, khai quật do các cơ quan nghiên cứu tiến hành như: Viện Khảo cổ học, Bảo tàng Lịch sử Quốc gia, Trường Đại học Khoa học xã hội & Nhân văn, ĐHQG Hà Nội, Bảo tàng Nhân học với hàng trăm hiện vật (gồm những mảnh

đế, miệng, thân gốm…) Ngoài ra trong kho Bảo tàng Hà Nội còn lưu giữ khoảng

720 đồ gốm men còn khá nguyên dáng thuộc thời Lý và thời Trần được tiếp nhận từ các cơ quan Công an, Hải quan và một số tập thể, cá nhân hiến tặng [90]

Có thể nói các hiện vật lưu giữ trong Bảo tàng Hà Nội hiện nay trong đó bao gồm sưu tập gốm men thời Lý, thời Trần nói trên là những di sản vô cùng quý giá của dân tộc nói chung và của di sản Thăng Long - Hà Nội nói riêng, vì đó là những

di vật phản ảnh nhiều giá trị lịch sử - văn hóa do tiền nhân để lại còn lưu truyền đến ngày nay

Song, vì nhiều nguyên nhân khác nhau, việc nghiên cứu bộ sưu tập này trong thời gian qua là rất ít, mới chỉ có một đợt năm 1992 Việc nhận diện giá trị của bộ sưu tập mới chỉ là bước đầu dựa trên kết quả nghiên cứu cách đây đã 24 năm, nhiều kết quả giám định đã lạc hậu, nhiều thành tựu mới được bổ sung, việc lập hồ sơ khoa học với bộ sưu tập này vẫn còn sơ sài, do vậy rất cần được nghiên cứu bổ sung hoàn thiện Thêm nữa, việc công bố phát huy giá trị của bộ sưu tập này hiện nay gần như rất hạn chế, chỉ dừng ở một vài di vật trong một vài ấn phẩm [50,77,89…]

Trong nhiều năm qua, việc tìm hiểu và giới thiệu chi tiết của các nhà nghiên cứu về bộ sưu tập vẫn chưa được tiến hành Việc phân tích từng di vật, từng sưu tập theo các dòng men, theo niên đại thời Lý và thời Trần, việc đánh giá giá trị còn rất nhiều vấn đề chưa rõ ràng, rất hạn chế việc tìm hiểu giá trị của bộ sưu tập và cũng

do vậy, việc nghiên cứu tổng hợp để đánh giá giá trị về bộ sưu tập là rất cần thiết

Trang 9

Là một người làm công tác nghiên cứu tại bảo tàng trong nhiều năm qua, chúng tôi rất quan tâm đến bộ sưu tập này và đã tập trung nhiều thời gian thu thập đối chiếu

để làm rõ hơn về loại hình và niên đại từng hiện vật

1.2 Trong một số năm gần đây, ngành khảo cổ học đã tiến hành nghiên cứu

đồ gốm men thời Lý, thời Trần tại hàng loạt các địa điểm thuộc kinh đô Thăng Long và các vùng phụ cận của kinh đô Đó là những tư liệu quý giá hàng đầu góp phần chứng minh thuyết phục tình hình sản xuất và sử dụng gốm men Thăng Long thời Lý, thời Trần, chứng minh Thăng Long là một trung tâm sản xuất gốm men lớn

và đẹp vào bậc nhất thời Lý và thời Trần Trên cơ sở các đồ gốm men thời Lý và thời Trần khai quật đang được lưu giữ ở kho Bảo tàng Hà Nội tác giả cố gắng tổng hợp, hệ thống, phân loại để có nhận thức bước đầu về mối quan hệ giữa đồ gốm trong các di tích khảo cổ với các đồ gốm trong sưu tập ngẫu nhiên thu được từ các nguồn các nhau, qua đó tăng thêm việc đánh giá các giá trị xác thực của tổng thể đồ gốm men thời Lý, thời Trần được lưu trữ trong kho Bảo tàng Hà Nội [96,97,99,101,102,104,105,107,111]

1.3 Về mặt lịch sử-văn hóa, gốm men nói chung, gốm men thời Lý, thời Trần nói riêng là một nguồn sử liệu vật chất quan trọng góp phần nghiên cứu lịch sử

- văn hóa và văn minh thời Lý, thời Trần Thông qua việc nghiên cứu đồ gốm men thời Lý, thời Trần, tác giả cố gắng liên hệ, so sánh để hiểu thêm đôi nét về lịch sử - văn hóa thời Lý, thời Trần ở Thăng Long nói riêng cũng như văn hóa thời Lý, thời Trần nói chung

1.4 Cuối cùng, chúng ta biết rằng, hiện nay Bảo tàng Hà Nội đã có cơ sở khang trang, rộng rãi Nhu cầu trưng bày phục vụ khách tham quan và công tác nghiên cứu đang được đặt ra cấp thiết, nhu cầu trưng bày các sưu tập hiện vật trong

đó có gốm men càng cấp thiết hơn Thực tế, nếu không đi sâu vào nghiên cứu hơn nữa, bộ sưu tập gốm men thời Lý, thời Trần trong kho Bảo tàng Hà Nội chưa thể phát huy được tác dụng hữu hiệu, đáp ứng yêu cầu cấp bách nói trên Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn công tác quản lý hiện vật và phát huy trưng bày của Bảo tàng Hà Nội, mặc dù biết rằng đây là một đề tài rất khó, bản thân không phải là một nhà

Trang 10

khảo cổ học nhưng tôi mạnh dạn lựa chọn đề tài nghiên cứu: “Đồ gốm men thời Lý

và thời Trần trong kho Bảo tàng Hà Nội”

Thực hiện đề tài nghiên cứu này, luận án hy vọng có những đóng góp nhất định vào việc hiểu biết một cách tương đối toàn diện và hệ thống về sưu tập gốm men thời Lý, thời Trần hiện đang lưu giữ tại kho Bảo tàng và qua đó góp phần hiểu thêm về một thời kỳ quan trọng trong tiến trình lịch sử gốm sứ Việt Nam, góp phần hoàn thiện nội dung hệ thống phích phiếu hiện vật gốm thời Lý, thời Trần; đáp ứng yêu cầu công tác phát huy trưng bày trong hệ thống chính và trưng bày chuyên đề; tăng cường nội dung cho công tác thuyết minh, hướng dẫn tham quan tại Bảo tàng Hà Nội

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án

Nghiên cứu “Đồ gốm men thời Lý và thời Trần trong kho Bảo tàng Hà Nội” nhằm 3 mục đích sau đây:

- Hệ thống hóa những kết quả nghiên cứu đã có về gốm men thời Lý, thời Trần trong kho Bảo tàng Hà Nội

- Bước đầu nghiên cứu tổng hợp, phân loại và so sánh để xác định các đặc trưng của sưu tập gốm thời Lý, thời Trần ở kho Bảo tàng Hà Nội trên các phương diện dòng men, loại hình, trang trí và kỹ thuật chế tạo để qua đó đóng góp vào việc nghiên cứu lịch sử gốm sứ Thăng Long nói riêng và lịch sử phát triển của đồ gốm Việt Nam nói chung Cũng qua đó góp phần hiểu thêm về lịch sử - văn hóa Thăng Long nói riêng và lịch sử - văn hóa Việt Nam nói chung

- Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, đề xuất các giải pháp bảo quản, bảo tồn và phát huy giá trị của các sưu tập gốm men thời Lý, thời Trần trong kho Bảo tàng Hà Nội

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án

3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Các hiện vật gốm men thuộc thế kỷ 11 - 14 thu thập được từ các cơ quan Công an, Hải quan trong những năm 1989 - 1990 cùng các hiện vật gốm men do các nhà sưu tầm tư nhân hiến tặng hiện đang lưu giữ tại kho Bảo tàng Hà Nội,

- Các hiện vật gốm men thuộc thế kỷ 11 - 14 do các cuộc khai quật, khảo sát thuộc địa bàn Thủ đô Hà Nội đã được bàn giao cho Bảo tàng Hà Nội quản lý như: các địa điểm khảo cổ học đàn Nam Giao, đàn Xã Tắc, Văn Cao - Hoàng Hoa Thám,

Trang 11

di tích Kim Lan, Đền Thượng (Cổ Loa), di tích Bến Long Tửu, Đầu Vè… hiện đang lưu giữ lại Bảo tàng Hà Nội,

- Khi cần thiết, luận án có thể mở rộng phạm vi nghiên cứu đối với một số đồ gốm men thời Lý, thời Trần được phát hiện ở các khu vực khác thuộc Hoàng Thành Thăng Long - Hà Nội đã được công bố như địa điểm 18 Hoàng Diệu, Đoan Môn-Kính Thiên, 62-64 Trần Phú, Thiên Trường (Nam Định), Chu Đậu (Hải Dương), thành nhà Hồ (Thanh Hóa), các hiện vật gốm men thời Lý, thời Trần của Thăng Long - Hà Nội hiện đang lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử Quốc gia và một số bảo tàng trong nước và thế giới đã được nghiên cứu và công bố nhằm làm rõ thêm các đặc trưng và giá trị của các sưu tập đồ gốm men thời Lý, thời Trần được lưu giữ trong kho Bảo tàng Hà Nội

3.2 Những vấn đề cần giải quyết trong luận án

- Sưu tầm, tổng hợp tình hình nghiên cứu về các sưu tập đồ gốm men thời Lý

và thời Trần trong kho Bảo tàng Hà Nội,

- Hệ thống và phân loại các loại hình gốm men thời Lý và thời Trần trong kho Bảo tàng Hà Nội,

- Nghiên cứu, so sánh, tìm hiểu các đặc trưng đồ gốm men thời Lý và thời Trần trên các phương diện chất liệu, kiểu dáng, dòng men, hoa văn và kỹ thuật sản xuất,

- Bước đầu đánh giá giá trị lịch sử văn hóa của các sưu tập gốm men thời Lý

và thời Trần ở kho Bảo tàng Hà Nội,

- Đề xuất một số giải pháp cụ thể nhằm bảo quản, bảo tồn với sưu tập đồ gốm men thời Lý và thời Trần ở kho Bảo tàng Hà Nội

4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án

- Đề tài sử dụng các phương pháp khảo cổ học truyền thống như phân loại,

thống kê, mô tả, đo vẽ, chụp ảnh hiện vật Sử dụng phương pháp phân tích so sánh giữa các sưu tập còn lưu giữ ở kho Bảo tàng Hà Nội với các hiện vật tiêu biểu phát hiện ở các khu vực khác

- Đề tài cũng sử dụng phương pháp liên ngành dân tộc - khảo cổ học trong

việc tiến hành khảo sát quy trình sản xuất ở một số lò gốm Bát Tràng hiện nay để tìm hiểu rõ hơn kỹ thuật sản xuất đồ gốm men thời Lý, thời Trần

Trang 12

- Luận án cũng chú ý tiến hành lựa chọn và phân tích thành phần hóa học

bằng các phương pháp khoa học tự nhiên một số mẫu gốm men ở các địa điểm Kim Lan, Văn Cao và 62 - 64 Trần Phú, nhằm góp phần tìm hiểu đặc trưng chất liệu xương gốm, men gốm và nhiệt độ nung, thông qua đó góp phần tìm hiểu thêm về kỹ thuật sản xuất đồ gốm men thời Lý, thời Trần được phát hiện ở Thăng Long - Hà Nội Trong luận án này được sự giúp đỡ của Th.s Lê Cảnh Lam (Viện Khảo cổ học), chúng tôi sử dụng một số phương pháp như sau (PL 5):

+ Phương pháp phân tích thạch học lát mỏng: đơn vị phân tích là Viện Địa

chất khoáng sản, địa chỉ: Đường Chiến Thắng, Hà Đông, Hà Nội Phương pháp này

sẽ cưa cắt rời mẫu gốm dưới dạng phiến mỏng, mài nhẵn và đặt lên một tấm kính để nghiên cứu kết cấu hạt dưới kính hiển vi bằng ánh sáng khúc xạ Phương pháp này cho biết kích thước các hạt trong xương gốm để đánh giá độ nghiền mịn hay thô của nguyên liệu để kết luận quy trình lọc, nghiền đất kỹ lưỡng hay đơn giản; cho biết phần trăm lỗ hổng trong xương gốm để đánh giá độ xốp và độ ngậm nước của gốm; cho biết gốm có trộn bã thực vật, mảnh vụn vỏ sò hay không trộn

+ Phân tích thành phần hóa học gốm bằng phương pháp Huỳnh quang tia XRF (X-Ray Fluorescence) Mẫu được phân tích thành phần tại Viện Nghiên cứu

X-sành sứ - thủy tinh công nghiệp, địa chỉ: 132 Nguyễn Tuân, Thanh Xuân, Hà Nội

Mẫu được phân tích thành phần bề mặt của xương gốm và men gốm Phương pháp XRF được áp dụng cho chất rắn nói chung kể như đá, hợp kim, gốm, sứ, thủy tinh Phương pháp này sử dụng thiết bị chiếu tia X vào mẫu vật Mỗi nguyên tố sẽ

bị kích thích và nhảy điện tử electron từ lớp ngoài vào lớp trong Khi điện tử chuyển lớp điện tử sẽ phát ra năng lượng Máy sẽ đo năng lượng đó để xác định nồng độ hàm lượng của các nguyên tố được chứa trong chất liệu xương gốm và men gốm

+ Phương pháp phân tích quang phổ phát xạ plasma/khối phổ ICP-MS (Inductively coupled plasma/mass spectrometry): Phương pháp này được thực hiện

phân tích tại Trung tâm phân tích thí nghiệm địa chất, địa chỉ: Km 9 - đường

Nguyễn Trãi - Thanh xuân - Hà Nội Phương pháp phân tích quang phổ phát xạ plasma/ khối phổ, dùng để phân tích thành phần các nguyên tố vô cơ, kim loại với

độ chính xác cao, có thể phân tích các nguyên tố vết với hàm lượng ppm (10-6) Cho

Trang 13

phép phân tích đồng thời 36 chỉ tiêu nguyên tố vô cơ Ứng dụng trong phân tích gốm khảo cổ cho biết các thành phần chính có trong xương và men, đồng thời cho biết các nguyên tố vi lượng có hàm lượng 10-6 trong mẫu

Từ thành phần hóa học men và xương có thể biết được nguyên tố nào tạo ra màu sắc của men, và giải thích vì sao gốm thấu quang hay không thấu quang

+ Phương pháp phân tích nhiễu xạ tia X (XRD) (X-ray diffraction): Tiến

hành phân tích tại Viện Vật liệu xây dựng, địa chỉ: 235 đường Nguyễn Trãi, P Thanh Xuân Trung, Q Thanh Xuân, TP Hà Nội

Phương pháp nhiễu xạ tia X (XRD) phân tích cấu trúc của vật chất, dạng thù hình của tinh thể từ đó xác định tên của khoáng vật tạo thành trong gốm Các khoáng chất tồn tại trong gốm cho phép đoán định nhiệt độ nung và cấu tạo tạo hình học của khoáng chất để xác định lý giải về tính hợp lý trong đơn phối liệu nguyên liệu và kết quả của quá trình nung

+ Phân tích Nhiệt trọng lượng, nhiệt vi sai, Phương pháp TG-DTA (Thermal gravimetric - Differential Thermal Analysis) Địa chỉ phân tích tại Viện Vật liệu xây

dựng, 235 đường Nguyễn Trãi, P Thanh Xuân Trung, Q Thanh Xuân, TP Hà Nội Phương pháp này nghiên cứu sự thay đổi trọng lượng và hiệu ứng nhiệt khi nung mẫu lên 1300OC Sự tăng hay giảm của trọng lượng và sự tỏa nhiệt hay thu nhiệt trong quá trình nung gắn với sự đốt cháy, bay hơi, kết tinh, chuyển pha của mẫu bị nung được máy phân tích ghi lại dưới dạng giản đồ biến thiên nhiệt độ, trọng lượng, hiệu ứng nhiệt Căn cứ vào sự thay đổi trọng lượng và nhiệt để đoán định mẫu có chứa vật liệu hữu cơ không? mẫu đã được nung đến nhiệt độ nào?

- Tổng hợp nhiều phương pháp để xác định niên đại gốm men thời Lý, thời Trần trong kho Bảo tàng Hà Nội Trong Bảo tàng học và khảo cổ học, việc nghiên cứu xác định niên đại cho từng di vật, từng sưu tập là công việc cốt lõi, cơ bản vô cùng quan trọng Để có thể thực hiện được điều này, chúng tôi đã học hỏi từ các nhà khảo cổ học và nhận thấy rằng có có rất nhiều cách tiếp cận khác nhau như:

+ Phương pháp nghiên cứu địa tầng,

+ Phương pháp phân tích C14,

+ Phương pháp so sánh loại hình học,

Trang 14

+ Phương pháp phân tích tìm hiểu các dấu vết kỹ thuật,

+ Nghiên cứu niên đại từ việc tìm hiểu các chữ Hán được ghi trên đồ gốm, + Phương pháp chuyên gia

Nhìn chung việc tổng hợp nhiều phương pháp khác nhau cho phép hiểu được niên đại của đồ gốm ngày càng chính xác hơn Ở điều kiện các sưu tập Bảo tàng, phương pháp chuyên gia được các cơ quan Bảo tàng, các nhà Bảo tàng học triệt để vận dụng Các chuyên gia đã công bố hàng loạt các sách chuyên khảo về đồ gốm với các chú dẫn cẩn thận và ảnh màu rất đẹp Chúng tôi xem đó như một cuốn cẩm nang tra cứu hỗ trợ cho việc xác định niên đại Các chuyên gia cũng trực tiếp hướng dẫn và nghiên cứu xác định niên đại cho các sưu tập gốm của Bảo tàng Hà Nội

5 Đóng góp mới về khoa học của luận án

- Tập hợp tương đối đầy đủ cho đến thời điểm hiện nay các kết quả nghiên

cứu về đồ gốm men thời Lý, thời Trần được lưu giữ tại kho Bảo tàng Hà Nội bao gồm các sưu tập ngẫu nhiên và các sưu tập khảo cổ học

- Xác định một số đặc trưng của đồ gốm men thời Lý, thời Trần trên các phương diện loại hình, chất liệu, dòng men, kỹ thuật sản xuất, diễn biến các đồ gốm men từ thời Lý sang thời Trần Xác định bằng phương pháp khoa học tự nhiên thành phần khoáng vật, thành phần hóa học của chất liệu xương gốm, men gốm và độ nung của một số mẫu gốm thời Lý, thời Trần, qua đó góp phần hiểu thêm các đặc trưng cơ bản của gốm men thời Lý, thời Trần

- Xác định bước đầu các giá trị lịch sử - văn hóa được thể hiện qua đồ gốm men thời Lý, thời Trần và qua đó góp phần hiểu thêm lịch sử - văn hóa thời Lý, thời Trần

- Từ kết quả nghiên cứu này, luận án đề xuất một vài kiến nghị góp phần

hoàn thiện bộ hồ sơ khoa học cho việc quản lý đồ gốm men trong kho Bảo tàng Hà Nội trên cơ sở đó kiến nghị công tác trưng bày, phục vụ tham quan và công tác bảo quản phục hồi các hiện vật gốm men thời Lý và thời Trần

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

- Việc hoàn thành luận án góp phần nhận thức loại hình, dòng men, hoa văn

và kỹ thuật về các sưu tập gốm men thời Lý, thời Trần trong kho Bảo tàng Hà Nội

Trang 15

- Góp phần nhất định vào việc tìm hiểu tiến trình lịch sử gốm men thời Lý, thời Trần ở Thăng Long nói riêng, thời Đại Việt nói chung và cũng góp phần hiểu thêm tiến trình lịch sử gốm men Việt Nam, tiến trình lịch sử văn hóa Việt Nam

- Góp phần vào việc bảo tồn và trưng bày phát huy giá trị lịch sử-văn hóa của gốm men thời Lý, thời Trần trong kho Bảo tàng Hà Nội

7 Bố cục của luận án

Ngoài mở đầu và kết luận, luận án dày 136 trang, được bố cục thành 3

chương như sau:

- Chương 1: Tổng quan tình hình phát hiện, nghiên cứu các sưu tập đồ gốm men thời Lý và thời Trần trong kho Bảo tàng Hà Nội

- Chương 2: Các loại hình gốm men thời Lý, thời Trần trong kho Bảo tàng

Hà Nội

- Chương 3: Đặc trưng kỹ thuật-sản xuất, giá trị lịch sử-văn hóa và vấn đề

bảo tồn, phát huy giá trị gốm men thời Lý, thời Trần trong kho Bảo tàng Hà Nội

Để hoàn thành luận án này, tôi xin trân trọng cảm ơn Học viện Khoa học xã hội, lãnh đạo Bảo tàng Hà Nội cùng các bạn đồng nghiệp ở các Bảo tàng, các chuyên gia thuộc Viện Khảo cổ học Việt Nam, Bảo tàng Lịch sử Quốc gia, UBND

xã Kim Lan, cán bộ và nhân dân xã Kim Lan, xã Bát Tràng… Đặc biệt, tôi xin bày

tỏ lòng biết ơn PGS.TS Tống Trung Tín đã hướng dẫn khoa học cho công trình nghiên cứu này Tôi cũng xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành tới các Thầy, các Cô

và đồng nghiệp đã hết lòng tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình sưu tầm tư liệu, triển khai nghiên cứu và hoàn thành luận án như: nhà Khảo cổ học Bùi Vinh, TS.Trần Anh Dũng, TS.Phạm Quốc Quân, TS.Nguyễn Đình Chiến, PGS.TS Trình Năng Chung, nhà khảo cổ học Đỗ Đức Tuệ, Ths Lê Cảnh Lam, Thư viện Viện KCH, Ths Nguyễn Mai Hương…

Xin cảm ơn tất cả./

Trang 16

Chương 1

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH PHÁT HIỆN, NGHIÊN CỨU CÁC SƯU TẬP

ĐỒ GỐM MEN THỜI LÝ, THỜI TRẦN TRONG KHO BẢO TÀNG HÀ NỘI

1.1 Một số khái niệm chuyên ngành

Tiếp cận nghiên cứu đồ gốm men thời Lý và thời Trần, trước hết cần hiểu thêm một vài khái niệm chuyên ngành như “đồ gốm”, “gốm men” và “các dòng gốm men”

1.1.1 Đồ gốm

Trong khảo cổ học “đồ gốm” được dùng như một danh từ chung để chỉ các

loại đồ vật được làm từ các loại đất sét được nung qua những nhiệt độ nhất định

Nếu nói một cách hình ảnh thì “gốm” là sự hòa quyện giữa đất - nước và lửa dưới

bàn tay khéo léo của con người

Trong lịch sử, theo kết quả nghiên cứu khảo cổ học đồ gốm đã có một quá trình phát triển lâu đời, phát sinh từ thời tiền sử cách ngày nay trên dưới một vạn năm Theo các nhà khảo cổ học thì ở Việt Nam, đồ gốm bắt đầu ra đời từ văn hóa Hòa Bình hoặc hậu Hòa Bình Lúc mới ra đời, đồ gốm còn mang những đặc điểm rất thô sơ đơn giản, thuần túy chỉ là các loại đồ vật được làm từ các loại đất sét có pha trộn thêm một số loại nguyên liệu khác như cát, bã thực vật… Đồ gốm như vậy nói chung thường có chất liệu thô và có quá trình tồn tại rất lâu kéo dài cho đến tận ngày nay

1.1.2 Đồ gốm men

Đồ gốm men và đồ sứ là tên gọi phổ biến nhất hiện nay trong các văn liệu khảo cổ Thuật ngữ này chỉ loại đồ gốm có lớp men được phủ ở trong và ngoài đồ vật làm cho đồ gốm trở nên đẹp hơn, chắc chắn hơn Men gốm cơ bản là loại hợp chất gồm các thành phần khai thác từ các chất liệu thiên nhiên và pha chế theo tỷ lệ thích hợp để phủ bên ngoài đồ gốm trước khi nung

“Gốm men” cũng là một khái niệm được sử dụng khá rộng rãi trong giới

nghiên cứu khảo cổ học hiện nay Tuy nhiên, giữa các nhà nghiên cứu cũng chưa có cách gọi thống nhất do có những quan niệm khác nhau

Trang 17

Theo nhà nghiên cứu mỹ thuật Trần Khánh Chương thì đồ gốm Việt Nam

được phân chia thành 5 loại: 1 Đất nung, 2 Sành nâu, 3 Sành xốp, 4 Sành trắng, 5 Sứ

Cách phân loại này dựa trên 2 tiêu chí là xương gốm và niên đại Nhưng thực

tế lịch sử phát triển đồ gốm Việt Nam không phải trải qua 5 giai đoạn phát triển kế tiếp nhau như thế [22]

Theo nhà nghiên cứu gốm sứ Nguyễn Đình Chiến thì đồ gốm Việt Nam được

chia làm 4 loại: 1 Đất nung, 2 Sành, 3 Gốm men, 4 Sứ

Cách phân loại này khác với Trần Khánh Chương là không có sành xốp Nhìn chung cách gọi như vậy có phần khái quát hơn cách phân chia của Trần Khánh Chương

Để nhìn nhận toàn diện hơn, chúng ta có thể tham khảo thêm một số cách phân loại đồ gốm của các học giả nước ngoài

Theo nhà nghiên cứu nghệ thuật Noritake Tsuda trong cuốn Sổ tay nghệ

thuật Nhật Bản xuất bản năm 1990, trang 220 thì đồ gốm Nhật Bản cũng được chia

thành 4 loại: 1 Đất nung (Doki), 2 Đất nung có men (Toki), 3 Sành (Sekki), 4 Sứ

(Jiki)

Còn các nhà nghiên cứu Thái Lan, thì đồ gốm ở nước này lại được chia thành

4 loại như sau: 1.Gốm thô tiền sử (Terra cotta) có nhiệt độ nung < 850 0 C, 2 Đất nung bán sành (Earthenware) có nhiệt độ nung giữa 880 0 C - 1150 0 C, 3 Sành (Stonware) có nhiệt độ nung giữa 1150 0 C - 1330 0 C, 4 Sứ (Porcelan) có nhiệt độ nung giữa 1300 0 C - 1450 0 C

Đây là cách phân loại dựa trên cả 3 tiêu chí: chất liệu, nhiệt độ nung và niên đại [137, tr 171]

Ở phạm vi một luận án đi sâu vào một sưu tập hiện đang lưu giữ trong kho Bảo tàng Hà Nội, chúng tôi không có ý định đi sâu hơn về các quan niệm đã nói trên Điều đó đòi hỏi phải có các đề tài chuyên sâu ở cấp độ lớn hơn Nhưng nếu

hiểu một cách đơn giản thì “Gốm men” là loại gốm được làm bằng đất sét trắng có

thể có pha thêm một số nguyên liệu khác và được tráng một hay nhiều lớp men Khi loại gốm men được nâng lên ở một trình độ cao hơn, độ thiêu kết cao trên 12000C

thì thuật ngữ “Gốm men” được gọi là “Đồ sứ”

1.1.3 Các dòng gốm men

Trang 18

Đồ gốm men, do cách pha chế nguyên vật liệu, nhìn chung thường tạo ra nhiều dòng men có màu sắc khác nhau Vì vậy, giới nghiên cứu nói chung và các

nhà khảo cổ học Việt Nam còn phân chia đồ gốm men theo màu sắc men như “Gốm

men trắng”, “Gốm men vàng’, “Gốm men ngọc”, “Gốm men xanh lục”, “Gốm men nâu”, “Gốm hoa nâu”, “Gốm hoa lam”… Trong luận án này sẽ sử dụng các

khái niệm các dòng gốm men nói trên làm cơ sở để phân loại và nhận thức đồ gốm men thời Lý, thời Trần trong kho Bảo tàng Hà Nội

1.1.4 Đồ gốm “nguyên dáng” và đồ gốm “đủ dáng”

Đồ gốm trong các sưu tập ngẫu nhiên và sưu tập khảo có khi còn tương đối nguyên vẹn có khi bị sứt mẻ, vỡ, đặc biệt trong các di chỉ khảo cổ học chủ yếu chỉ còn các mảnh vụn Trong nhiều trường hợp các mảnh vỡ khi chắp lại vãn cho phép hiểu được một cách tương đối dáng hình của hiện vật Do vậy, các nhà khảo cổ học sử dụng hai thuật ngữ: đồ gốm “nguyên dáng” và đồ gốm “đủ dáng”:

Đồ gốm “nguyên dáng” là đồ gốm còn tương đối nguyên vẹn cho phép hiểu

một cách tương đối đầy đủ dáng, hoa văn, men và các vấn đề kỹ thuật liên quan

Đồ gốm “đủ dáng” là loại đồ gốm chỉ còn một số mảnh vỡ Từ những mảnh

vỡ này khi chắp lại có thể cho phép hiểu một cách tương đối về kiểu dáng của di vật

1.2 Tình hình phát hiện, sưu tầm và nghiên cứu đồ gốm men thời Lý, thời Trần ở Thăng Long - Hà Nội

1.2.1 Vị trí và đôi nét lịch sử Thăng Long Hà Nội

Hà Nội, Thủ đô nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và đã được mở rộng bao gồm cả đất Hà Tây cũ (năm 2008) Đó là vùng đất nằm ở trung tâm Bắc

Bộ, giới hạn trong khoảng từ 20053’ đến 21023’ vĩ độ Bắc, 105044’ đến 106002’ kinh Đông tiếp giáp với năm tỉnh là Thái Nguyên ở phía Bắc, Bắc Ninh và Hưng Yên ở phía Đông, Hà Tây (cũ) và Vĩnh Phúc ở phía Tây và phía Nam

Từ 3500 năm trước, những người tiền Việt cổ - Việt cổ thuộc văn hóa Phùng Nguyên - Đông Sơn đã đến đây khai phá Dấu vết của họ đã được khảo cổ học tìm thấy ở Văn Điển, Triều Khúc và mới đây ở di tích đàn Xã Tắc thuộc khu vực Ô Chợ Dừa (Đống Đa, Hà Nội)

Trang 19

Vùng Hà Nội đến thời thuộc Đường đã dần trở thành An nam đô hộ phủ với

thành Đại La - trung tâm đầu não thống trị của thế lực ngoại bang Nhưng ở ngay

nơi trung tâm của “An Nam đô hộ phủ”, nhân dân vùng Hà Nội đã dũng cảm đấu

tranh chống lại ách thống trị tàn bạo và chính sách đồng hóa thâm độc của phong kiến phương Bắc

Từ thế kỷ 6, cuộc đấu tranh anh dũng bảo vệ chủ quyền đất nước của Lý Nam Đế đã đưa Hà Nội cổ, miền đất cửa sông Tô Lịch ở vùng nam sông Hồng đã

bước lên hàng đầu trong lịch sử dân tộc với tên gọi là Tống Bình, Thủ đô của nhà

nước Vạn Xuân (542), nhà nước phong kiến Việt Nam độc lập đầu tiên

Thế kỷ 10, sau chiến thắng Bạch Đằng oanh liệt, Việt Nam thoát khỏi nghìn năm Bắc thuộc, trong buổi sơ khai của nhà nước phong kiến Việt Nam độc lập, Ngô Quyền đóng đô ở Cổ Loa, và sau đó Đinh Bộ Lĩnh và Lê Hoàn đóng đô ở Hoa Lư

(Ninh Bình) để rồi mùa thu năm Canh Tý, vua Lý Thái Tổ ban Chiếu dời đô về

Thăng Long mở ra một chương mới của lịch sử Việt Nam Kể từ đó, qua thời Trần (1225-1400), thời Lê sơ (1428-1527), thời Mạc (1527-1592), thời Lê Trung Hưng (1593-1789) Thăng Long luôn là Kinh đô của Đại Việt Thời Nguyễn (1802-1945) Thăng Long là trấn Bắc Thành và thành Hà Nội Từ năm 1945 đến nay, Thăng Long - Hà Nội là Thủ đô nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa, nay là Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Ngay từ những năm đầu dời đô về Thăng Long, với khí thế của một quốc gia

tự cường dân tộc mạnh mẽ, vương triều Lý (1010 - 1225) đã cho quy hoạch kinh đô, xây dựng thành quách, lâu đài, cung điện, đền đài, chùa tháp… tạo điều kiện thúc đẩy các ngành nghề thủ công phát triển, trong đó có nghề sản xuất gốm men

Thời Trần (1226 - 1400), nhà nước được chuyển giao trong hòa bình nên nhà Trần được thừa hưởng một phần di sản quý báu do nhà Lý xây dựng Trên nền tảng

đó, nhà Trần tiếp tục tiến hành xây dựng mới kinh đô và tiếp tục có nhiều biện pháp thúc đẩy mọi hoạt động chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa và quân sự

Các vòng thành của kinh đô Thăng Long thời Lý được nhà Trần chú ý củng

cố tu bổ Trong hoàng cung có hai khu cung điện chính là cung Thánh Từ của Thượng hoàng và cung Quan Triều của nhà vua Nối tiếp triều Lý, triều Trần cũng

Trang 20

đạt được các thành tích lớn trong kỹ nghệ sản xuất gốm sứ mà các phát hiện khảo cổ học đã và đang làm rõ điều đó [104]

1.2.2 Vài nét về tình hình nghiên cứu đồ gốm men thời Lý, thời Trần ở Thăng Long - Hà Nội

1.2.2.1 Khái quát đôi nét về lịch sử nghiên cứu đồ gốm men thời Lý và thời Trần

Đồ gốm men thời Lý, thời Trần nói chung đã bắt đầu được phát hiện và nghiên cứu ở Việt Nam từ cuối thế kỷ 19- đầu thế kỷ 20 Từ đó đến nay đã hơn một thế kỷ qua, các loại hình đồ gốm ở thời kỳ này ngày càng được phát hiện nhiều hơn

và nhận thức ngày một sâu sắc hơn

Trên đại thể có thể tạm phân chia lịch sử phát hiện và nghiên cứu đồ gốm men thời Lý, thời Trần ở Việt Nam thành ba giai đoạn: 1900 - 1954; 1955 - 1990;

1991 đến nay

- Giai đoạn 1: 1900 - 1954

Đây là giai đoạn mở đầu những phát hiện và nghiên cứu của người Pháp Đặc điểm những phát hiện về đồ gốm men thời Lý, thời Trần trong giai đoạn này là đều do thu lượm hoặc sưu tầm thông qua các phát hiện ngẫu nhiên do làm đường xá, cầu cống, xây dựng nhà cửa ở khu vực thành Thăng Long mà không qua khai quật

Hiện nay, theo tài liệu đã công bố của Bảo tàng Lịch sử Việt Nam (nay là Bảo tàng Lịch sử Quốc gia) thì nhiều đồ gốm men thời Lý, thời Trần do người Pháp sưu tầm được ở khu vực Thăng Long đã được thu thập về Bảo tàng Louis Finot và sau đó đã được Bảo tàng tiếp nhận từ sau ngày miền Bắc được giải phóng Rất nhiều di vật trong số đó mang rõ đặc điểm nghệ thuật thời Lý, thời Trần và có xuất

xứ sưu tầm ghi trên hiện vật ở các địa điểm như Quần Ngựa, Ngọc Hà, Vạn Phúc, Hữu Tiệp, Kim Mã, Cống Vị, Liễu Giai, Vĩnh Phúc… Nay, những hiện vật đó đã được Bảo tàng Lịch sử Quốc gia đăng ký trong hệ thống tài sản quốc gia và đang được trưng bày trong hệ thống chính hiện nay của Bảo tàng [12; tr 59:73]

Cũng theo nhiều văn liệu khảo cổ học, ngoài sưu tập nằm ở Bảo tàng Lịch sử Quốc gia, còn có một số đồ gốm men thời Lý, thời Trần sưu tầm được dưới thời Pháp thuộc hiện đang lưu giữ ở một số tổ chức, cá nhân nước ngoài, trong đó đáng chú ý có Bảo tàng Guimet (Paris - Pháp) hoặc Bảo tàng Hoàng gia Bỉ Những di vật

Trang 21

này đều là những tài liệu rất có giá trị cần được khai thác, nghiên cứu [119,120,122]

- Giai đoạn 2: từ năm 1955 đến năm 1990

Giai đoạn này được bắt đầu từ khi miền Bắc được giải phóng Năm 1991, GS.Hà Văn Tấn, Viện trưởng Viện Khảo cổ học Việt Nam lúc đó đã đánh giá

“trong một thời gian khá dài, khảo cổ học lịch sử Việt Nam đã không có một định hướng rõ ràng” [83; tr: 1-6] do đó trong suốt vài thập kỷ đầu tiên (1955 - 1990) của

giai đoạn này hầu như không có một chương trình nghiên cứu chuyên sâu nào về đồ gốm men giai đoạn Lý, Trần Khi Viện Khảo cổ học thành lập năm 1968, các nhà khảo cổ học bắt đầu chú ý tới đồ gốm men Nhưng các phát hiện ban đầu rất ít ỏi Nếu cố gắng kiểm tra lại các hồ sơ khảo cổ học, chúng ta thấy trong giai đoạn này cũng chỉ có một số phát hiện lẻ tẻ về đồ gốm men thời Lý, thời Trần như ở khu di tích mộ Tam Đường, Thái Bình [24; tr.202], ở xã Đa Tốn, huyện Gia Lâm, ở Tức Mặc (Nam Định) [9; tr 343, 10; tr 232] Vì vậy, những hiểu biết về đồ gốm men

Lý, thời Trần giai đoạn này rất hạn chế và việc đoán định niên đại cũng thường chỉ dựa vào loại hình trang trí nghệ thuật và nhiều khi chỉ là cảm tính chung chung với không ít các lầm lẫn

Kết quả nghiên cứu đồ gốm men thời Lý, thời Trần trong giai đoạn này hầu như chủ yếu thuộc về giới nghiên cứu nghệ thuật Do đó mà trong gần 20 năm (1973 - 1990), họ đã liên tục công bố nhiều công trình nghiên cứu của mình có liên

quan đến nghệ thuật đồ gốm men thời Lý, thời Trần như: Mỹ thuật thời Lý [65], Mỹ

thuật thời Trần [66], Nghệ thuật gốm Việt Nam [20]

Trong các công trình nghiên cứu về gốm men của các nhà nghiên cứu lịch sử nghệ thuật cũng đã phần nào tiếp cận với khảo cổ học và có một số bài viết được

công bố trên tạp chí chuyên ngành hoặc tạp chí Khảo cổ học như các chuyên đề về

Kỹ thuật và nghệ thuật có liên quan đến lịch sử phát triển gốm cổ Việt Nam [117]

hay các đặc điểm trang trí trên gốm Lý Trần [82,90,91]… Từ đó có thể nói rằng

giới nghiên cứu lịch sử nghệ thuật cũng đã có những đóng góp nhất định cho việc nhận thức chung về đồ gốm men thời Lý và thời Trần trong thời kỳ còn non trẻ của

Trang 22

ngành khảo cổ học Việt Nam Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu không tránh khỏi những hạn chế sai sót, nhất là về niên đại của đồ gốm men

- Giai đoạn 3: từ 1991 đến nay

Cũng có thể gọi đây là giai đoạn phát triển bùng nổ các nghiên cứu về đồ gốm men nói chung và của giai đoạn Lý, thời Trần nói riêng

Bắt đầu từ những “định hướng” mới của khảo cổ học lịch sử Việt Nam trong năm 1991 [83], nhiều cuộc điều tra, khảo sát, khai quật các di chỉ cư trú của các thời

kỳ lịch sử đã được tiến hành trên phạm vi cả nước và tốc độ ngày một gia tăng

Không chỉ khu vực Thăng Long - Hà Nội, trong thời kỳ này, nhiều đồ gốm men thời Lý, thời Trần đã được phát hiện ở nhiều tỉnh miền Bắc Việt Nam như: Quảng Bình, Nghệ An, Thanh Hóa, Nam Định, Hải Dương, Hải Phòng, Quảng Ninh, Thái Bình, Hà Nội Trong đó có thể kể đến những sưu tập ngẫu nhiên lưu giữ

ở các Bảo tàng Quảng Bình, Thanh Hóa, Quảng Ninh và các sưu tập lớn có giá trị nghiên cứu do được phát hiện qua đào thám sát, khai quật ở khu vực Thiên Trường (Nam Định), xóm Hống (Hải Dương) [3,30,36,38,39,48,52,73,81,84]

Đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về đồ gốm men thời Lý, thời Trần, trong đó có một số chuyên đề đi sâu vào các khía cạnh loại hình học, kỹ thuật, nghệ

thuật… được đăng tải trên các tạp chí chuyên ngành của Khảo cổ học, Nghiên cứu

nghệ thuật hoặc kỷ yếu Thông báo khoa học của Bảo tàng Lịch sử Quốc gia, của

Trung tâm Bảo tồn Di sản Thăng Long - Hà Nội Đặc biệt trong khoảng chục năm trở lại đây đã có một số công trình nghiên cứu chuyên về đồ gốm men của Việt

Nam được xuất bản, trong đó đáng chú ý là cuốn sách Gốm Bát Tràng thế kỷ XV -

XIX Nhà xuất bản Thế giới, Hà Nội xuất bản năm 1995 do GS Phan Huy Lê chủ

biên [56], Gốm hoa nâu Việt Nam, 2000 năm gốm Việt Nam do Bảo tàng Lịch sử

Việt Nam xuất bản năm 2005 mà tác giả là các tiến sỹ khảo cổ học Phạm Quốc Quân và Nguyễn Đình Chiến biên soạn [17,77] Bùi Minh Trí và Kenry Nguyễn

Long có công trình Gốm hoa lam Việt Nam, trong đó trình bày khái quát về gốm

hoa lam thời Trần với nhiều ảnh đẹp [110]

Bên cạnh đó, có nhiều bài viết về gốm của các nhà nghiên cứu như Tống Trung Tín, Bùi Minh Trí, Hà Văn Cẩn, Tăng Bá Hoành…[5,41,92,104…]

Trang 23

Cần phải nói thêm rằng, bên cạnh các nhà khảo cổ học Việt Nam, các nhà nghiên cứu nước ngoài cũng đã có những đóng góp không nhỏ đối với việc phát hiện và nghiên cứu về đồ gốm men giai đoạn Lý, Trần Trong đó đáng chú ý là các nhà nghiên cứu của Nhật Bản: đó là bà Asako Morimoto, một chuyên gia đồ gốm men thời Lý, thời Trần đã cùng với Viện Khảo cổ học và Bảo tàng Nam Hà (nay là Nam Định) tiến hành những đợt khảo sát và thu lượm, giám định hàng trăm hiện vật thời Trần ở khu vực Thiên Trường từ năm 1995 [47; tr 415] Trước đó bà có chuyên khảo chuyên về gốm men thời Lý, thời Trần được nghiên cứu tại Bảo tàng Brussel (Bỉ) [119] Tiếp sau đó là Tiến sỹ Khảo cổ học Nishimura Masanari, người

đã cùng với Viện Khảo cổ học và Bảo tàng Lịch sử Quốc gia tiến hành thám sát, khai quật, nghiên cứu địa điểm Bách Cốc (Hà Nam), di tích gốm cổ Kim Lan [33,63] và có công lớn trong việc xây dựng nhà Bảo tàng gốm sứ lịch sử xã Kim Lan (huyện Gia Lâm, Hà Nội) từ năm 2003 đến tháng 3 năm 2013

Bước ngoặt lớn trong việc nghiên cứu gốm men thời Lý, thời Trần là các phát hiện khảo cổ học ở khu vực trung tâm Hoàng Thành Thăng Long và các vùng phụ cận Hàng loạt các địa điểm như khu chính điện Kính Thiên, 18 Hoàng Diệu, Vườn Hồng, đàn Xã Tắc, đàn Nam Giao, Văn Cao - Hoàng Hoa Thám, 62-64 Trần Phú, Hoa Lâm Viên, Bến Long Tửu, Đầu Vè, Đền Thượng-Cổ Loa, Báo Ân…đã đưa lên khỏi lòng đất khá nhiều các đồ gốm men thời Lý, thời Trần, góp phần làm phong phú rất nhiều cho việc nhận thức về đồ gốm men thời Lý, thời Trần [23,27,35,40,93,94,96,97,99,102,104,107,108,109,111,113…]

Ngoài ra, còn có thể kể đến một số công trình nghiên cứu về gốm men Lý,

thời Trần đã được xuất bản do các học giả nước ngoài biên soạn như Sưu tập gốm

Việt Nam, xuất bản năm 1993; Sưu tập gốm Việt Nam và Thái Lan, xuất bản năm

1994 của Bảo tàng Narita; Gốm Việt Nam một truyền thống riêng biệt, xuất bản năm

1997 của John Stevenson và John Guy; 2000 năm gốm Việt Nam, xuất bản năm

2000 của Jochen May (Đức); 1000 năm gốm Việt Nam, xuất bản năm 2004 đăng trong tạp chí Nghệ thuật Châu Á hay Gốm thời Lý - Trần, xuất bản năm 2013 của

Kerry Nguyên Long đăng trong tập sách Nghệ thuật Việt Nam từ 1909 - 1945 do Nhà xuất bản Thế giới ấn hành [120,121,125,126,127,130,132,137,138]

Trang 24

Nhìn chung, các công trình do các học giả nước ngoài biên soạn đã cung cấp nhiều thông tin về đồ gốm Việt Nam, từ đồ gốm men thời Lý, thời Trần được thu lượm từ đầu thế kỷ 20 còn lưu giữ ở các Bảo tàng Pháp, Bỉ đến các đồ gốm men đang được nghiên cứu ở Việt Nam Về nhận thức, họ đã có sự thay đổi quan điểm đánh giá và thừa nhận đồ gốm Việt Nam đã có truyền thống lâu đời, riêng biệt so với đồ gốm Trung Hoa Gốm men thời Lý, thời Trần được định niên đại rõ hơn, chính xác hơn, các loại hình được nhận diện ngày một rõ hơn Thành tựu đặc biệt là

đã nhìn nhận rõ hơn gốm thời Lý khác với gốm thời Trần Có lẽ đây cũng là kết luận có ý nghĩa lớn nhất được rút ra từ kết quả phát hiện và nghiên cứu trong hơn một thế kỷ qua đối với đồ gốm men giai đoạn lịch sử này Hạn chế lớn là những đồ gốm men thời Lý, thời Trần chưa có công trình nghiên cứu, phân tích toàn diện và sâu sắc, nhất là đồ gốm men thời Lý Các phát hiện gốm men thời Lý chỉ lẻ tẻ, rời rạc và hiếm khi tìm thấy các di chỉ cư trú thời Lý Các di chỉ lò gốm thời Lý, thời Trần nói chung là hiếm Nếu như dấu tích lò gốm thời Trần còn phát hiện được ở Xóm Hống, Hạ Lan, Cồn Chè, thì lò gốm men thời Lý chưa tìm thấy ở đâu Các manh mối hiếm hoi ở Thăng Long - Hà Nội chưa được chú ý sưu tập, nghiên cứu và phân tích một cách thấu đáo Điều đó cũng hạn chế rất lớn cho nhận thức chung về gốm men thời Lý, thời Trần, đặc biệt là nghiên cứu đồ gốm men thời Lý

1.2.2.2 Tình hình nghiên cứu các sưu tập gốm men thời Lý và thời Trần trong kho Bảo tàng Hà Nội

Từ các nghiên cứu và phát hiện của hơn một thế kỷ qua, gốm men thời Lý, thời Trần đã được lưu giữ rải rác ở các bảo tàng trong và ngoài nước Tuy nhiên, tiếp xúc các sưu tập này là một thực tế rất xa với đối với các cán bộ Bảo tàng Hà

Nội Trong kho Bảo tàng Hà Nội hiện nay chỉ có các sưu tập gốm men thời Lý, thời

Trần được đến từ nhiều nguồn khác nhau: đó là các sưu tập ngẫu nhiên được thu

thập qua nhiều nguồn gốc khác nhau và một số sưu tập thu được thông qua một số

cuộc khai quật khảo cổ học trên địa bàn thành phố Hà Nội do các cơ quan khai quật

bàn giao cho Bảo tàng lưu giữ

* Nghiên cứu sưu tập đồ gốm men thời Lý và thời Trần thu được qua các nguồn gốc khác nhau hiện đang lưu giữ trong kho Bảo tàng Hà Nội

Trang 25

Từ khoảng thập kỷ 70-80 và 90 của thế kỷ trước, Bảo tàng Hà Nội đã tiếp nhận và lưu giữ nhiều sưu tập đồ gốm men có niên đại thời Lý, thời Trần

Đây là các sưu tập đồ gốm men thời Lý, thời Trần có nhiều nguồn gốc khác nhau nhưng không biết rõ chính xác địa điểm xuất xứ được các cơ quan Công an, Hải quan thu giữ do buôn bán trái phép Bên cạnh đó cũng có một số hiện vật do cá nhân tặng cho Bảo tàng Hà Nội vào năm 2010 Phần lớn, những đồ gốm men này là loại hiện vật trôi nổi, không rõ nguồn gốc, không rõ vị trí địa tầng Tuy nhiên, với

số lượng thống kê 720 đồ gốm thuộc nguồn gốc nói trên, có thể coi đây là bộ sưu tập đồ gốm men thời Lý, thời Trần có số lượng lớn và có nhiều giá trị phản ánh nhiều khía cạnh khác nhau của lịch sử - văn hóa dân tộc Ưu điểm nổi trội của sưu tập là hầu hết các di vật đều còn nguyên dáng Nhờ có đặc điểm này mà chúng ta có thể thấy được rất nhiều các đặc trưng về dáng, chất liệu, men, hoa văn, kỹ thuật sản xuất mà các sưu tập khảo cổ nhiều khi không thể đáp ứng được Không những thế, với số lượng lớn và nguyên lành, bộ sưu tập có giá trị lớn về thẩm mỹ trong hệ thống trưng bày phục vụ công chúng trong và ngoài nước của Bảo tàng

Nhận thấy tầm quan trọng của bộ sưu tập ngẫu nhiên về đồ gốm men thời

Lý, thời Trần tiếp nhận từ các cơ quan Công an và Hải quan, nên ngay từ năm

1992-1993, Bảo tàng Hà Nội đã chủ động phối hợp với Viện Khảo cổ học và Bảo tàng Lịch sử Việt Nam tiến hành một đợt giám định sơ bộ về số đồ gốm này Nhờ đó,

720 hiện vật gốm men thời Lý, thời Trần đã được lập phiếu đăng ký, mô tả, chụp ảnh và xác định niên đại Nhiều hiện vật tiêu biểu trong bộ sưu tập gốm men này cũng đã được đem đi trưng bày tại Bảo tàng Lịch sử Việt Nam, Khu di tích Thành

cổ Hà Nội, Trung tâm hoạt động Văn hóa khoa học Văn Miếu - Quốc Tử Giám, Trung tâm Thể thao Quần Ngựa, Trung tâm Triển lãm Hà Nội và một số lượng không nhỏ đang trong hệ thống trưng bày tạm thời của Bảo tàng Hà Nội hiện nay Một báo cáo nghiên cứu tổng thể kết quả nghiên cứu tương đối đầy đủ về nhóm gốm men này của nhóm chuyên gia giám định do PGS.TS Tống Trung Tín (Viện Khảo cổ học) phụ trách và viết đã được hoàn thành trong thời gian này [90] Báo cáo đã tiến hành phân loại, thống kê, miêu tả khái quát bộ sưu tập trên các phương diện loại hình, dòng men, hoa văn và kỹ thuật sản xuất [90] Nhưng kể từ đó đến

Trang 26

nay đã có nhiều phát hiện mới làm thay đổi một số nhận thức về gốm men thời Lý, thời Trần ngày đó, đặc biệt là dòng men và niên đại Tuy nhiên, cho đến nay, toàn

bộ hiện vật của bộ sưu tập này vẫn chưa được tiến hành nghiên cứu sâu thêm để hoàn thiện hồ sơ khoa học Hơn nữa, theo thời gian, các phát hiện khoa học mới có thể làm thay đổi phần nào các nhận thức chung về gốm men thời Lý, thời Trần Trong khi đó, các báo cáo khoa học trước đây, do hạn chế về tư liệu thường nhận xét chung về gốm men thời Lý, thời Trần, chưa tách hẳn gốm men thời Lý với gốm men thời Trần [90] Điều đó khiến cho công tác quản lý, bảo quản và phát huy giá trị đối với bộ sưu tập này là cực kỳ hạn chế, nhất là nhu cầu trưng bày mới hiện nay của Bảo tàng Hà Nội

* Nghiên cứu các sưu tập đồ gốm men thời Lý và thời Trần thu được thông qua khai quật khảo cổ học hiện đang lưu giữ trong kho Bảo tàng Hà Nội

Từ giai đoạn nghiên cứu cuối thời kỳ năm 1991 đến nay, Bảo tàng Hà Nội đã tiếp nhận thêm các sưu tập hiện vật khảo cổ học từ một số cuộc khai quật khai quật khảo cổ học trên địa bàn Thủ đô, trong đó có đồ gốm men thời Lý, thời Trần Về cơ bản những hiện vật này chủ yếu là vỡ nát chỉ còn mảnh nhỏ Rất ít hiện vật còn đủ dáng

Cũng cần nói thêm rằng, có rất nhiều cuộc khai quật thuộc khu vực Thăng Long-Hà Nội, nhưng chỉ có một số địa điểm do BTHN phụ trách thì mới có hiện vật

và báo cáo khai quật Do vậy, dưới đây xin điểm qua các phát hiện và sưu tập gốm men thời Lý, thời Trần tại các địa điểm đã nhập về kho Bảo tàng Hà Nội

- Sưu tập gốm men thời Lý, thời Trần ở di tích đàn Nam Giao

Đàn Nam Giao nằm ở khu vực ngã tư các phố Bà Triệu - Đoàn Trần Nghiệp

- Lê Đại Hành - Thái Phiên - Mai Hắc Đế

Năm 2006, Viện Khảo cổ học đã thám sát di tích này với diện tích 101.06m2 Tiếp đó, trong các năm 2007 - 2008, Viện Khảo cổ học và Ban Quản lý Di tích và Danh thắng Hà Nội đã tiến hành 3 đợt khai quật và một đợt di dời toàn bộ phần móng còn lại của kiến trúc chữ Công thời Lý với tổng diện tích đã khai quật là 1805m2 [27; tr 228:244]

Đồ gốm men thời Trần thu được ở di tích đàn Nam Giao Thăng Long có số lượng lớn hơn nhiều so với thời Lý và có mặt ở đủ các dòng gốm men như: men

Trang 27

trắng, men ngọc, men nâu-hoa nâu, men lam (lam mờ) Loại hình gốm men thời Trần ở đây chủ yếu là bát, đĩa, thạp, đài sen…[27; tr 228-244]

Số lượng hiện vật gốm men thời Lý, thời Trần thu được ở đây qua ba đợt khai quật và một đợt di dời là: gốm men thời Lý 109 mảnh hiện vật, gốm men thời Trần 927 mảnh hiện vật

- Sưu tập gốm men thời Lý và thời Trần ở địa điểm Văn Cao

Địa điểm Văn Cao nằm ngay trên đường Hoàng Hoa Thám gần ngõ 170, phường Thụy Khuê, quận Tây Hồ và phường Liễu Giai, quận Ba Đình, đoạn gần giao cắt nút Văn Cao - Hoàng Hoa Thám Viện Khảo cổ học đã tiến hành khai quật địa điểm này 200m2 từ cuối năm 2011 Tại đây còn thu được 1428 mảnh gốm men thời Lý, thời Trần, trong đó có 1278 mảnh trong lớp đất đắp và 150 mảnh trong di chỉ cư trú Điều đáng chú ý ở địa điểm Văn Cao là đã phát hiện nhiều chứng tích của việc sản xuất đồ gốm men thời Lý, thời Trần như bao nung, con kê và những chồng dính phế phẩm, trong đó có cả những đồ cao cấp in nổi hoa văn hình rồng có niên đại Trần [PL1: Bảng kê 7,8]

Sưu tập đồ gốm men này đã được giao về cho Bảo tàng Hà Nội cuối năm

2014 đầu năm 2015 [113; 86-96]

- Sưu tập gốm men thời Lý và thời Trần ở địa điểm Kim Lan

Kim Lan là tên một xã thuộc huyện Gia Lâm, ngoại thành Hà Nội Đó là vùng đất nằm ở bờ bắc sông Nhị Hà (sông Hồng) có vị trí liền kề với trung tâm sản xuất gốm sứ Bát Tràng nổi tiếng trong lịch sử từ thời Trần - Lê, cách trung tâm Hoàng thành Thăng Long khoảng 7-8 km theo đường thủy sông Hồng

Năm 2000, giới nghiên cứu khảo cổ học mới biết đến di tích này nhờ những phát hiện ngẫu nhiên trước đó của người dân địa phương Sau đó từ năm 2001 -

2003, Viện Khảo cổ học và Bảo tàng Lịch sử Việt Nam đã tiến hành khai quật di tích này 3 lần với tổng diện tích 460m2 ở khu vực Bãi Hàm Rồng, nằm sát mép bờ sông Hồng Nhà khảo cổ học Nhật Bản Nishimura cũng là người trực tiếp tham gia khai quật từ năm 2001 đến năm 2003 và sau đó tiếp tục khảo sát nghiên cứu di tích này cho đến khi qua đời vào năm 2013 Ông cũng là người đóng góp rất tích cực trong việc xây dựng Nhà trưng bày Bảo tàng gốm sứ lịch sử xã Kim Lan

Trang 28

Đồ gốm men thời Lý, thời Trần thu được ở đây là một sưu tập phong phú với các loại hình nằm trong khung niên đại thế kỷ 11 - 14, nhưng đại bộ phận thuộc thời Trần (thế kỷ 13 - 14) Đó là các loại đồ đựng như âu, bát, đĩa, ống nhổ thuộc các dòng men nâu đen, trắng ngà, xanh ngọc, xanh lục, hoa nâu, hoa lam (sắt) Trong đó phổ biến là loại đồ gốm men thông dụng, còn số ít là loại đồ gốm men cao cấp như gốm hoa lam và hoa nâu có thể đã được xuất khẩu sang Nhật Bản, Philippin, Indonesia [57; tr 392-401][63; tr.12]

Một phần bộ sưu tập thu được từ các cuộc thám sát và khai quật ở di tích Kim Lan đã được bàn giao cho Bảo tàng Hà Nội Phần còn lại, nhiều đồ gốm men thời Lý, thời Trần hiện đang được trưng bày tại Nhà Bảo tàng gốm sứ lịch sử xã Kim Lan [33;63;105]

- Sưu tập gốm men thời Lý và thời Trần ở địa điểm Hoa Lâm Viên

Hoa Lâm Viên là tên một địa danh lịch sử có liên quan tới Hành cung nhà

Lý, nằm ở tả ngạn sông Đuống, thuộc xã Mai Lâm, ngoại thành Hà Nội Hoa Lâm Viên (còn có tên là Bãi Sập), trước vốn là đất cư trú và canh tác của thôn Du Nội, nay là đất canh tác của hai thôn Du Nội và Thái Bình (thuộc xã Mai Lâm) Đây cũng là một trong ba địa điểm cùng với Bến Long Tửu và Đầu Vè được Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn Quốc gia, ĐHQG Hà Nội phát hiện và khai quật

theo chương trình “Nghiên cứu khảo cổ học trên địa bàn Hà Nội” thực hiện trong

nhiều đợt từ năm 2002 - 2009 nhằm hướng tới kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội

Tầng văn hóa ở di tích này dày từ 0,5 - 2,3m, trong đó có chứa các loại vật liệu kiến trúc, đồ sành và gốm men với niên đại kéo dài từ cuối thời Bắc thuộc (thế

kỷ 9 - 10) qua các thời Lý - Trần - Lê đến thời Nguyễn (Tk 19 - 20) Ở đây cũng đã phát hiện được dấu tích cư trú liên tục của cư dân thời Lý, thời Trần cùng với nhiều

đồ gốm men Theo số liệu thống kê phân loại thì ở Hoa Lâm Viên đã thu được 925 mảnh vở gốm men thời Lý và 1.313 mảnh gốm men thời Trần Các loại hình gồm

có âu, bát, bình, đĩa, nắp đậy, vòi ấm thuộc các dòng gốm men ngọc, men trắng, men nâu, hai mầu men trắng và nâu, với nhiều kiểu dáng và trang trí hoa văn mang những nét tương đồng với đồ gốm men thời Lý, thời Trần đã phát hiện ở khu vực Hoàng Thành - Thăng Long [PL1: Bảng kê 9,10,11,12]

Trang 29

Di tích Hoa Lâm Viên có diện tích rộng tới 10 mẫu, nhưng chỉ mới được khai quật 150m2 trong hai năm 2005 và năm 2007 Toàn bộ kết quả điều tra và khai quật đã được chỉnh lý, thông báo tại các Hội nghị thông báo Khảo cổ học hàng năm

và những di vật kèm theo báo cáo cũng đều được bàn giao cho Bảo tàng Hà Nội [45; tr 22-37]

- Sưu tập gốm men thời Lý, thời Trần ở địa điểm Bến Long Tửu

Bến Long Tửu cũng là một di tích nằm bên bờ tả ngạn sông Đuống thuộc xã Đông Hội, huyện Đông Anh cách Hoa Lâm Viên 4 km về phía Tây - Tây Nam và ngã ba sông Hồng - sông Đuống 1 km Di tích Bến Long Tửu có tọa độ

210N04’12’’ và 1050E52’92’’ [45; tr.59]

Di tích này được Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn Quốc gia - ĐHQG Hà Nội phát hiện năm 2006, Bộ môn Khảo cổ học và Bảo tàng Nhân học, Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, ĐHQG đã tiến hành khai quật với tổng diện tích 53m2 vào cuối năm 2007

Địa tầng di tích xuất lộ ngay sát mép nước bờ sông, tầng văn hóa dày 1,5 - 3m với khung niên đại kéo dài từ cuối thời Bắc thuộc (thế kỷ 9 - 10) đến thời Lê Trung Hưng (thế kỷ 17 - 18) Tại đây, trong tầng văn hóa cư trú thời Lý, thời Trần cũng đã phát hiện được nhiều di vật có liên quan tới việc sản xuất đồ gốm men tại chỗ như bao nung, nắp đậy, con kê và các phế phẩm chồng bát đĩa còn dính men nằm trong khung niên đại từ thế kỷ 12 đến thế kỷ 14 Các nhà nghiên cứu đã nhận định di tích Bến Long Tửu không chỉ là một di chỉ cư trú mà còn là nơi sản xuất đồ gốm men thời Lý, thời Trần [45; tr 59-73]

Việc phát hiện và nghiên cứu di tích Bến Long Tửu sẽ góp phần quan trọng trong việc nghiên cứu về nghề sản xuất gốm men giai đoạn Lý, Trần ở khu vực kinh thành Thăng Long và vùng phụ cận [45; tr 73]

Sưu tập di vật thu được từ cuộc khai quật ở di tích Bến Long Tửu cũng đã được bàn giao cho Bảo tàng Hà Nội năm 2007 Tuy nhiên, kết quả khai quật như vậy nhưng chủ yếu là những mảnh vỡ nát và không đầy đủ, cho nên việc nghiên cứu còn hạn chế

- Sưu tập gốm men thời Lý, thời Trần ở địa điểm Đầu Vè

Trang 30

Đầu Vè cũng là một di tích phân bố ven sông Đuống, thuộc xã Đông Hội, huyện Đông Anh (Hà Nội) Di chỉ nằm ở giữa khoảng cách của hai di tích cùng nhóm là Bến Long Tửu - Hoa Lâm Viên, cách Bến Long Tửu 1 km, còn Hoa Lâm Viên 3 km, có tọa độ 210N04’34’’ và 1050E52’60’’ Di tích Đầu Vè nằm trên phần ruộng lúa có diện tích khoảng 100.000m2

Trong đợt khảo sát năm 2006 do Bộ môn Khảo cổ học, Bảo tàng Nhân học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia, ĐHQG Hà Nội và nhận định đây là một di tích có niên đại thời Lý, thời Trần tương tự như di tích Hoa Lâm Viên và Bến Long Tửu Cuối năm 2007, di tích Đầu Vè được khai quật với tổng diện tích 34m2 [45; tr 88-120]

Kết quả khai quật di tích Đầu Vè đã cho thấy đây là di chỉ cư trú có địa tầng dày 1,6m với 2 lớp văn hóa: lớp dưới khá dày (0,8 - 1,6m) chứa di vật có niên đại cuối thời Bắc thuộc (thế kỷ 7 - 9); còn lớp trên mỏng hơn (0,2 - 0,8m) chứa sành,

sứ, đất nung, vật liệu kiến trúc thời Lý, thời Trần (Tk 11 - 14)

Đồ gốm men thời Lý, thời Trần thu được ở địa tầng này có số lượng không nhiều nhưng cũng khá phong phú về loại hình và các dòng gốm men quen thuộc thời Lý, thời Trần, bao gồm các loại bát, đĩa, âu, chậu, bình, đèn thuộc các dòng gốm men ngọc, men trắng đục, trắng ngà, nâu, hoa nâu, xanh lục

Sưu tập di vật thu được ở di tích Đầu Vè đã được bàn giao cho Bảo tàng Hà Nội năm 2008 Nhưng cũng chỉ là những mảnh gốm vỡ, nát không còn dáng (hiện nay những hiện vật này cũng chưa được vào sổ kiểm kê mà mới chỉ phân loại vào kho tham khảo phục vụ cho công việc nghiên cứu, học tập)

- Sưu tập gốm men thời Trần ở địa điểm Đền Thượng - Cổ Loa

Đền Thượng, Cổ Loa là nơi thờ An Dương Vương, nhưng di tích khảo cổ học nằm trong khu đất ở phía sau và hai bên ngôi đền này Đền Thượng nằm ở góc Tây Nam của thành Nội, có tọa độ 210N26’763’’ và 1050E52’302’’ [45; tr 132] Tại đây, Viện Khảo cổ học phối hợp với Ban Quản lý di tích danh thắng Hà Nội đã tiến hành khai quật 3 lần trong các năm 2005, 2006, 2007 với tổng diện tích 311m2

Trang 31

Kết quả của các đợt khai quật cho thấy tại khu vực Đền Thượng đã tồn tại một lớp văn hóa thời Trần dày gần 40 cm nằm kẹp giữa lớp văn hóa Lê - Nguyễn ở phía trên và lớp văn hóa chứa di tích lò đúc mũi tên đồng Cổ Loa ở phía dưới

Về các loại hình đồ đựng tiêu biểu của đồ gốm men thời Trần ở di tích này

đã được người trực tiếp khai quật mô tả tỉ mỉ, trong đó nhiều nhất là các loại bát và

âu men nâu, còn lại số ít là âu, lọ men trắng [45; tr 132-151]

Cả ba đợt khai quật khảo đã thu được một số lượng đồ gốm men thời Trần tương đối lớn, bao gồm 697 mảnh, thuộc các dòng gốm men trắng, men ngọc, men nâu, men lam (lam mờ) Trong đó dòng gốm men nâu chiếm đa số 343 mảnh, 191 mảnh men trắng, 90 mảnh men ngọc và 14 mảnh hai màu men [45; tr 144] Theo đánh giá của tác giả khai quật, đồ gốm men thời Trần thu được ở di tích Đền Thượng - Cổ Loa có mối liên hệ nhất định với những phát hiện trong khu vực các huyện Gia Lâm, Đông Anh, Sóc Sơn như Hoa Lâm Viên, Bến Long Tửu, Đầu Vè tạo nên một hệ thống di tích thời Trần có tính chất tương đồng ở phía Bắc và Đông Bắc kinh thành Thăng Long

Tuy nhiên, đây là những hiện vật vô cùng quan trọng có giá trị khoa học rất lớn Nghiên cứu các sưu tập gốm men thời Lý, thời Trần thu được từ các cuộc khai quật có thể giúp chúng ta có nhận thức cơ bản về đồ gốm men thời Lý, thời Trần trên một số phương diện như sau:

- Vấn đề sản xuất gốm men thời Lý và thời Trần tại kinh đô Thăng Long và vùng phụ cận,

- Bổ sung nhiều loại hình mới đặc biệt là loại gốm men bình dân,

- Bổ sung nhiều tư liệu gốm men thời Lý,

- Do tìm thấy trong địa tầng nên giá trị của các sưu tập này rất cao trong việc nghiên cứu niên đại, diễn biến loại hình và các giá trị lịch sử - văn hóa,

- Kết hợp nghiên cứu hai loại sưu tập này, Bảo tàng Hà Nội sẽ có thêm các hiện vật quý để trưng bày vừa tăng thêm các nhận thức chân xác giá trị tổng thể của sưu tập gốm men thời Lý, thời Trần trong kho Bảo tàng Hà Nội

Như vậy, những phát hiện và nghiên cứu gốm men thời Lý, thời Trần tại các địa điểm: Văn Cao, Nam Giao, Trung tâm Hoàng Thành Thăng Long, Hoa Lâm

Trang 32

Viên (Mai Lâm), Đầu Vè và Bến Long Tửu (Đông Hội), Đền Thượng (Cổ Loa), Bà Tấm (Gia Lâm) đã góp phần tăng cường rất nhiều cho việc nhận thức các bộ sưu tập gốm men ngẫu nhiên Trong đó, giá trị nổi bật của các sưu tập khảo cổ học là giúp nhận thức đầy đủ hơn các loại hình gốm Lý, tình hình sản xuất gốm men thời

Lý, thời Trần, vấn đề các lò nung thời Lý, thời Trần tại khu vực kinh đô Thăng Long

* Tiểu kết chương 1:

Gốm men nói chung, gốm men Việt Nam nói riêng là một loại hình di vật đặc biệt quan trọng, phổ biến trong mọi loại hình di tích khảo cổ học phản ảnh nhiều mặt lịch sử-văn hóa và văn minh Việt Nam Lịch sử nghiên cứu gốm men thời

Lý, thời Trần ở Thăng Long-Hà Nội có thể chia thành ba giai đoạn:

Giai đoạn 1 từ 1900 - 1954 là giai đoạn mở đầu với các phát hiện và nghiên

cứu của người Pháp và một số học giả phương Tây về gốm sứ ở khu vực nội thành

Hà Nội và một số nơi khác, đặc biệt là Thanh Hóa Cùng với các hiện vật khác, đồ gốm men thời Lý, thời Trần chủ yếu được sưu tập ngẫu nhiên chứ không xử lý qua khai quật khảo cổ học Do vậy, các công bố thời này không phân biệt được đồ gốm men thời Lý và thời Trần, thậm chí còn gốm men thời Lý, thời Trần là gốm Tống

“Sung ceramic”

Giai đoạn 2 được bắt đầu từ khi miền Bắc được giải phóng năm 1954 đến

nay Những chú ý đầu tiên thuộc về các nhà nghiên cứu lịch sử mỹ thuật Việt Nam với các tên tuổi lớn như Nguyễn Văn Y và Nguyễn Bá Vân Từ năm 1968, khi Việt Nam thành lập Viện Khảo cổ học thì các nhà nghiên cứu mới bắt đầu chú ý đến gốm men thời Lý, thời Trần hơn Tuy có chú ý hơn trước, nhưng do sự hạn chế bởi các cuộc khai quật còn rất ít, các phát hiện gốm men cũng rất ít nhất là đồ gốm men thời Lý Do vấn nạn đào phá đồ cổ, Công an và Hải quan Hà Nội thời kỳ này bắt rất nhiều các sưu tập gốm men phi pháp và giao nộp cho BTHN Đây chính là thời kỳ

mà BTHN thu nhận, quản lý một sưu tập gốm men khá phong phú thời Lý và thời Trần để tạo đà cho việc nghiên cứu của giai đoạn sau

Giai đoạn 3 có thể tính từ năm 1991 đến nay với các định hướng đúng đắn

về khảo cổ học lịch sử, với sự ra đời của luật Di sản Văn hóa, việc nghiên cứu gốm men thời Lý, thời Trần có thể nói là bùng nổ với sự điều tra, phát hiện rộng khắp cả

Trang 33

nước và đặc biệt là có nhiều cuộc khai quật với quy mô rất lớn mà điển hình là địa điểm 18 Hoàng Diệu (Hà Nội) Vì vậy, có thể nói, trong giai đoạn 3, việc nghiên cứu gốm men thời Lý, thời Trần mở rộng khắp nơi nhưng đặc biệt phát triển với gốm men Thăng Long-Hà Nội Mở đầu, trong năm 1992-1993, BTHN, Viện Khảo

cổ học và BTLSVN phối hợp chỉnh lý quy mô, giám định và xác định được 720 hiện vật gốm men thời Lý, thời Trần Đây là sưu tập gốm men lớn nhất thuộc thời

Lý, thời Trần ở Việt Nam cho đến trước năm 2002 là thời điểm phát hiện di tích Hoàng thành Thăng Long Tiếp theo phát hiện Hoàng thành Thăng Long tại 18 Hoàng Diệu, khu vực Thăng Long-Hà Nội liên tiếp khai quật nhiều địa điểm khác như đàn Nam Giao, đàn Xã Tắc, 62-64 Trần Phú, Vườn Hồng, Văn Cao, Kim Lan, Bến Long Tửu, Đầu Vè, khu vực Đoan Môn-Kính Thiên…cung cấp rất nhiều tư liệu mới về gốm men thời Lý và thời Trần Với các phát hiện đó, việc nghiên cứu gốm men thời Lý, thời Trần có nhiều bước tiến lớn: loại hình phong phú, nhận biết

sự khác biệt lớn giữa gốm men thời Lý và gốm men thời Trần, giá trị lịch sử-văn hóa được nhận biết rõ hơn rất nhiều

Có thể nói, việc nghiên cứu gốm men thời Lý, thời Trần ở trong kho Bảo tàng Hà Nội chủ yếu và cơ bản có chuyển biến mạnh mẽ trong giai đoạn này, do vậy, những nhận thức lớn về gốm Thăng Long thời Lý, thời Trần tăng lên rất nhiều Tuy nhiên, do chưa được nghiên cứu có hệ thống và chưa được bổ sung bởi các kết quả nghiên cứu mới, cho nên rất cần thiết phải có các công trình nghiên cứu sâu sắc, toàn diện hơn mà luận án này hy vọng góp phần vào công việc có ý nghĩa đó

Trang 34

Chương 2

CÁC LOẠI HÌNH GỐM MEN THỜI LÝ, THỜI TRẦN

TRONG KHO BẢO TÀNG HÀ NỘI

Như chương 1 đã trình bày, tổng hợp các phương pháp xác định niên đại, luận án đã bước đầu xem xét, phân tích và phân loại các sưu tập gốm men thời Lý, thời Trần trong kho Bảo tàng Hà Nội ra thành hai thời kỳ: thời Lý và thời Trần

2.1 Đồ gốm men thời Lý

Gốm men thời Lý trong kho Bảo tàng Hà Nội hiện có các dòng gốm men trắng, gốm men ngọc, gốm men xanh lục, gốm men nâu, gốm hoa nâu

2.1.1 Đồ gốm men trắng

Gốm men trắng là nước men phủ ngoài sau khi nung có màu trắng Do nhiều nguyên nhân như nguyên liệu, độ nung, cách xếp nung, cách pha chế nguyên liệu

mà màu trắng có rất nhiều sắc độ khác nhau như trắng phớt xám nhạt, trắng phớt vàng nhạt (thường gọi là men ngà), trắng phớt xanh nhạt…

Đồ gốm men trắng thời Lý trong Bảo tàng Hà Nội gồm bát, đĩa, ấm, liễn, bình, thạp, đài sen… Sau đây là các kiểu loại đồ gốm men trắng thời Lý (Tk 11 - 13) tiêu biểu lưu giữ ở Bảo tàng Hà Nội

2.1.1.1 Bát

2.1.1.1.1 Một số kiểu bát nguyên dáng và đủ dáng

Bát men trắng thời Lý không tìm thấy chiếc nào trong sưu tập BTHN (sưu tập hiện vật thu từ nhiều nguồn khác nhau) mà chỉ có một số tiêu bản trong các cuộc khai quật địa điểm Văn Cao - Hoàng Hoa Thám, Hoa Lâm Viên, Bến Long Tửu và một số sưu tầm ở địa điểm Kim Lan Kết hợp kết quả nghiên cứu khảo cổ với đặc thù quản lý các di vật bảo tàng, chúng tôi xin đề cập phân chia đến một số loại bát

đủ dáng và lựa chọn đề cập tới các chân đế bát với các địa điểm đã được các nhà khảo cổ học nghiên cứu rất cẩn thận như ở địa điểm Văn Cao [97]

Bát men trắng thời Lý có khá nhiều kiểu dáng khác nhau, nhưng chung quy lại chỉ có hai dáng bát cơ bản: dáng bát có thành vát xiên và dáng bát có thành cong cân xứng

Trang 35

* Loại 1: Bát dáng vát xiên

Dáng bát có thành vát xiên tạo nên dáng mà nhiều nhà nghiên cứu gọi là dáng bát “hình phễu” hoặc gần “hình phễu” Từ phần thành bát vát xiên này, thợ gốm tạo ra một số biến thể, trong đó có hai biến thể rất cơ bản là thành bát vát thẳng

và thành bát vát cong

- Kiểu 1: Bát có dáng vát xiên thẳng Bát vát xiên thẳng, căn cứ vào miệng

có hai phụ kiểu: miệng xiên thẳng và gờ miệng vê tròn vào trong

+ Phụ kiểu 1: Bát vát xiên thẳng, miệng xiên thẳng Có hai ví dụ:

Bát phát hiện ở địa điểm Bến Long Tửu Chiếc bát

mang ký hiệu 07.BLT.H4.L8.(2).85 (PL3: Ba 1) Bát miệng

loe xiên (có hình dạng gần hình phễu), vành miệng hẹp, nhọn,

lòng sâu Chân đế thấp được tạo hình khá cẩn thận Lòng đáy

được đánh dấu son nâu hình chữ thập Bát được tráng men toàn thân và vành ngoài chân đế Trong lòng trang trí hoa văn khắc vạch hình hoa sen, tuy nhiên nét khắc đã hơi to và có dấu vết con kê 5 mấu Men mỏng, mịn

Kích thước: cao: 8; Đkm: 18; Đkđ: 6,8

Bát phát hiện ở địa điểm Văn Cao, cũng tìm thấy di vật mang

ký hiệu 11VC.G-174 (PL3: Ba 2), đủ dáng, lòng rộng, thành vát

xiên, miệng loe, mép miệng thẳng Chân đế thấp, mép chân đế vê

tròn, phần tiếp xúc giữa đáy và chân đế được vét lõm cong Men phủ

tới gần chân đế Lớp men mỏng và đã bị vôi hóa, bề mặt ráp Xương

gốm xốp, màu trắng ngà Kỹ thuật xếp nung bằng bột chống dính

Kích thước: cao: 6,0cm; Đkm: 16cm; Đkđ: 5,8cm [97]

+ Phụ kiểu 2: Bát vát xiên thẳng, gờ miệng vê tròn vào trong

Bát có ký hiệu KL.03.F3L1: 246 (PL3: Ba 3) Bát có thành bát

vát thẳng, mép miệng vuốt tròn, chân đế thấp, dày, mặt cắt chân đế

hình chữ V nhưng vết cắt phẳng Chiếc bát này bị sống men hoặc thối

men Xương gốm dày, màu trắng đục Bát được chồng nung bằng kỹ

thuật lót bột chống dính

Kích thước: cao 3,6 cm; Đkm: 15 cm; Đkđ: 6,7 cm

Trang 36

- Kiểu 2: Dáng bát vát cong: Dáng bát vát nhưng thành bát hơi cong một chút Dáng vát cong có hai phụ kiểu: dáng vát cong miệng xiên thẳng, dáng vát cong miệng bẻ ngả

+ Phụ kiểu 1: Bát thành vát cong, miệng xiên thẳng Có một số ví dụ như sau: Bát men trắng phụ kiểu 1 của kiểu 2 tìm thấy trong một số địa điểm khảo cổ học có đặc điểm chung là nước men màu trắng đục, không xuất hiện màu trắng sữa, men phủ khá đều xuống gần chân đế Kỹ thuật xếp nung về cơ bản có hai loại chính: sử dụng bột chống dính diện tiếp xúc vết kê rất nhỏ Về chân đế có kiểu chân

đế cao, có kiểu chân đế thấp Tuy nhiên, đi vào cụ thể, phụ kiểu 1 có rất nhiều biến thể khác nhau:

Biến thể 1: bát ở địa điểm Văn Cao Di vật tiêu biểu là chiếc bát có ký hiệu

11.VC.G-216 (PL3: Ba 4) Bát có thành vát hơi cong, lòng sâu,

miệng thẳng, cạnh ngoài chân đế vê, cạnh trong cắt vát, đáy lõm

để mộc Men phủ trong lòng tới gần chân đế Lớp men mỏng và

đã bị vôi hóa, bề mặt men ráp Xương gốm chắc, màu vàng ngà

Chân đế cao là đặc điểm nổi bật của tiêu bản này

Kích thước: cao 6,7 cm; Đkm: 17 cm; Đkđ: 6,7 cm [97]

Biến thể 2: bát ở địa điểm Văn Cao: Kiểu khác chân đế thấp là bát có ký hiệu

11.VC.G-080 (PL3: Ba 5), chân đế thấp, thành bát vát cong, cao, lòng rộng, miệng hơi loe, mép miệng vuốt nhọn, trong lòng trang trí hoa văn in khuôn hình hoa sen Chân đế thanh mảnh, thấp, mép chân đế gọt không đều, đáy vét lõm Men trắng phớt xanh

Kích thước còn lại: cao: 7,2 cm; Đkm: 18 cm; Đkđ: 6,8 cm [97]

Biến thể 3: bát ở địa điểm Văn Cao: tiêu biểu là hiện vật có mã số

11VC.G-040 Đặc điểm cơ bản dáng thấp, thành cong vát xiên, miệng vuốt thẳng và dày hơn kiểu 1 và kiểu 2, độ bẻ loe giảm dần, chân đế thô và dày hơn loại 1 và 2 Chân đế thấp, mép ngoài chân đế vê và cắt vát

Xương gốm chắc, màu trắng vàng Trọng lượng nặng hơn các loại trên [97]

Trang 37

Biến thể 4: bát ở địa điểm Văn Cao: (PL3: Ba 6) Lòng

rộng, thành cong vát xiên, chân đế thấp, mép chân đế vê tròn,

đáy lõm Men phủ tới gần chân đế, đáy mộc; Men mỏng, ráp, rạn

men Xương xốp, màu trắng ngà Kích thước: Chiều cao còn lại:

6,3cm, ĐKĐ :5,9cm, Chân đế:1,0cm, Dày: 0,4-1,0cm Hiện vật tiêu biểu có mã số: 11VC.G- 172 [97]

Biến thể 5: bát ở địa điểm Văn Cao: Có 1 hiện vật Hiện vật

tiêu biểu có mã số: 11VC.G-024 (PL3: Ba 7) Đủ dáng Dáng

cao, thành cong vát xiên, lòng rộng và bằng Chân đế thấp, mép

chân đế vê tròn, diện tiếp xúc nhọn Mép trong chân đế cắt vát,

góc trong chân đế vê tròn Đáy lõm Men phủ trong lòng tới gần chân đế, đáy mộc Lớp men mỏng, ráp, bề mặt bị nổ men Xương gốm xốp, màu trắng Kích thước: Cao: 6,5cm; ĐKĐ: 5,7cm; Chân đế: 1,2cm; Dày: 0,4-1,2cm [97]

Biến thể 6: bát ở địa điểm Kim Lan: Bát thành vát cong

trong sưu tập địa điểm Kim Lan Chiếc bát này có ký hiệu

KL.NVH.ST: 173 (PL3: Ba 8) Bát có dáng vát cong Chân đế

thấp, dày, mặt cắt chân đế hình chữ V nhưng được cắt phẳng,

chồng nung bằng kỹ thuật lót bột chống dính

Kích thước còn lại: Đkđ 6,6 cm

+ Phụ kiểu 2: Bát thành vát cong, miệng loe Phụ kiểu 2 cũng có một số biến thể:

Biến thể 1: bát thành cong chân đế thấp miệng loe bẻ địa điểm Văn Cao: có

4 hiện vật Dáng thanh mảnh Lòng sâu và rộng, thành cong vát xiên, mép miệng loe Trong số các loại hình bát có chân đế thấp thì kiểu 1a chân đế cao nhất, mép

chân đế vê tròn, diện tiếp xúc nhỏ

Bát được phủ men đến mép chân đế, men dày, màu trắng,

bề mặt men rạn Xương gốm màu trắng đục, được làm từ đất sét

trắng Giữa lòng và gần gờ miệng có tạo 2 đường chỉ in chìm

dưới men Kích thước của loại bát này như sau: Cao: 6,5cm; ĐKĐ:5,2cm; Chân đế: 1,2cm; Dày: 0,2-0,9cm

Tiêu biểu là hiện vật mang mã số: 11VC.G-109 (PL3: Ba 9) [97]

Trang 38

Biến thể 2: bát miệng loe bẻ địa điểm Văn Cao: Có 7 hiện vật mảnh đáy và 9

mảnh miệng, trong đó có 1 hiện vật đủ dáng Dáng cao, thành

cong vát, miệng bẻ loe, lòng rộng Chân đế cao, thành chân đế vê

tròn, diện tiếp xúc phẳng, cạnh trong chân đế vê tròn Đáy lõm

Men phủ trong ngoài, đáy mộc Xương gốm xốp, màu trắng ngà

Kích thước: Cao: 5,0cm; ĐKĐ: 5,0cm; Chân đế: 1,3cm; Dày:0,3-0,8cm (PL3: Ba 10) [97]

Biến thể 3: bát miệng loe bẻ, miệng cắt khấc cánh hoa địa điểm Kim Lan:

Chiếc bát này có ký hiệu KL.NVH.ST.142 (PL3: Ba 11), bát còn đủ dáng, cao: 7,5 cm; Đkm: 18 cm; Đkđ: 6,6 cm Đó là chiếc bát được tạo dáng vát

cong, miệng loe rộng Thân bát chia thành 6 múi, miệng được cắt

tỉa tạo thành 6 đầu cánh sen, đáy lòng bát được ấn lõm xuống tạo

thành hình một đài sen Chân đế bát cao trung bình, thành đế

mỏng vát chữ V, trôn đế lõm sâu và để mộc Xương bát có chất liệu trắng mịn, tráng men trắng, mỏng đều, bóng mặt, phủ kín đến sát mép đế Điều đáng chú ý loại bát

có mẫu hình này cũng đã được phát hiện ở khu vực khảo cổ học 18 Hoàng Diệu thuộc trung tâm Hoàng Thành Thăng Long

* Loại 2: Bát dáng thành cong cân xứng

Bát loại 2 có hai kiểu miệng: miệng loe xiên thẳng và miệng loe bẻ

+ Kiểu 1: Bát dáng cong, miệng loe xiên thẳng Bát kiểu 1 có một số biến thể như sau:

Biến thể 1: bát miệng loe xiên thẳng ở địa điểm Văn Cao (PL3: Ba 12), chân

đế cao Dáng cao, lòng rộng, thành cong, miệng cong vát thẳng,

về cơ bản dáng giống kiểu 1 nhưng mép miệng tạo gờ phẳng

Mép ngoài chân đế gọt, mép trong cắt vát, cạnh trong chân đế vê

tròn, đáy lồi Men phủ trong lòng tới sát mép chân đế, do men có

độ thủy tinh hóa thấp nên bị thẩm thấu và có màu trắng đục, nhiều chỗ bị ố Xương gốm chắc, màu trắng vàng Bát được xếp nung trên cùng nên không để lại dấu kê trong lòng

Trang 39

Kích thước: Cao: 8,8cm, ĐKĐ: 7,0cm, Chân đế: 2,3cm, Dày: 0,3-1,6cm Có

1 hiện vật đủ dáng Hiện vật tiêu biểu có mã số:(11VC.G-073) [97]

Biến thể 2: bát miệng loe xiên thẳng ở địa điểm Hoa Lâm Viên: Bát có ký

hiệu 05.HLV.H3.L6.F3: 62a Bát thành cong, lòng sâu, dáng cân

xứng, miệng loe xiên thẳng, phủ men trắng đục Không trang trí hoa

văn Xương gốm mỏng và mịn Kỹ thuật nung đơn chiếc Chiếc bát

này còn tương đối nguyên dáng (PL3: Ba 13)

Kích thước: cao: 6,5 cm; Đkm: 14,3 cm; Đkđ: 5 cm

+ Kiểu 2: Bát dáng cong cân xứng, miệng loe bẻ, chân đế cao Bát kiểu 2 có một số biến thể như sau:

Biến thể 1: bát thành cong miệng loe bẻ ở Bến Long Tửu: Bát chân đế cao,

ký hiệu 07.BLT.H4.L10.16 (PL3: Ba 14) Bát miệng loe bẻ ngang,

thành miệng bằng, vành miệng cắt khấc hình 5 cánh hoa, lòng rộng

Chân đế cao, thành chân đế mỏng, không trang trí hoa văn Men phủ

toàn thân trong, ngoài và một phần vành ngoài chân đế Đây là loại

bát đặc trưng của bát gốm men thời Lý Xương gốm mỏng, mịn màu

trắng ngà Loại bát này cũng đã phát hiện được ở di tích Hoa Lâm Viên

Kích thước (cm): cao: 5,5 cm; Đkm: 12,5; Đkđ: 5,2

Biến thể 2: bát thành cong cân xứng, miệng loe bẻ địa điểm Văn Cao Bát ký

hiệu 11VC.G-203 (PL3: Ba 15) Bát thành cong cân xứng, miệng loe

bẻ, mép miệng tạo gờ bẻ ngang ra ngoài, lòng rộng Chân đế thấp, mép

trong chân đế cắt vát, cạnh trong chân đế vê tròn, diện tiếp xúc nhọn

Men phủ trong, ngoài, lớp men mỏng, nhẵn, bề mặt men rạn, đáy mộc

Xương gốm xốp màu trắng ngà Lòng bát không có dấu xếp nung

nhiều khả năng bát được xếp nung trên cùng hoặc đơn chiếc

Kích thước còn lại: cao: 5 cm; Đkm: 14 cm; Đkđ: 5,3 cm [97]

Biến thể 3: bát thành cong, miệng loe bẻ địa điểm Bến

Long Tửu Theo báo cáo khai quật địa điểm này, biến thể 2 chính

là bát loại 2 có 2 kích thước khác nhau:

Trang 40

Loại bát to: có ký hiệu 07.BLT.L10.125 (PL3: Ba 16), miệng loe bẻ, mép miệng có gờ nổi Men phủ trong, ngoài, đế mộc, vành chân đế mỏng được cạo sửa cẩn thận Trong lòng bát còn có dấu vết kê nung chồng trực tiếp rất nhỏ

Kích thước: h: 7,5; đkm: 18; đ: 6,5

Ở di tích Hoa Lâm Viên và Đầu Vè cũng phát hiện được loại bát này

2.1.1.1.2 Các kiểu chân đế bát men trắng thời Lý tiêu biểu ở địa điểm Văn Cao:

Di vật khảo cổ phần chủ yếu là di vật mảnh Các mảnh có thể phân loại được các kiểu dáng, kỹ thuật đặc biệt là chân đế Do vậy, các nhà khảo cổ học khi phân loại mảnh thường chú ý đặc biệt tới kỹ thuật chế tạo chân đế Trong các báo cáo di tích đã nộp thì báo cáo phân loại kỹ nhất là báo cáo địa điểm Văn Cao Hơn nữa ở Văn Cao còn tìm thấy một địa tầng từ thời Lý sang thời Trần Vì vậy, chúng tôi muốn sử dụng kết quả phân loại chân đế gốm thời Lý của địa điểm Văn Cao để từ

đó trong những trường hợp cần thiết đối sánh tìm hiểu thêm các loại hình chân đế bát đĩa ở các nơi khác [97,113]

Gốm men thời Lý có 368 mảnh, đứng thứ hai sau gốm thời Trần (910 mảnh), chủ yếu là gốm men trắng với 361 mảnh chiếm tuyệt đại đa số mảnh gốm thời Lý tìm thấy ở đây

Trong số 361 mảnh men trắng có 295 mảnh bát, 61 mảnh đĩa, 3 mảnh ấm, 3 mảnh nắp hộp, 1 mảnh đĩa đèn, những mảnh còn lại là men ngọc có 10 mảnh (Bát:

6 mảnh; Đĩa: 3 mảnh 1 hiện vật đĩa đủ dáng)

Qua các di vật đã phân loại chỉnh lý cho thấy sắc men trắng thời Lý có màu trắng đục, không xuất hiện loại men màu trắng sữa, men phủ khá đều xuống gần chân đế Mặc dù gốm Lý ở đây được nung ở nhiệt độ cao, men nhẵn bóng nhưng lớp thủy tinh hóa mỏng hơn so với thời Trần

Kỹ thuật xếp nung về cơ bản có 2 loại chính; sử dụng bột chống dính và con

kê vành khăn có gắn 5 mấu, tuy nhiên trong số những hiện vật thu được có một vài hiện vật không có dấu kê và bột chống dính trong lòng, nhiều khả năng chúng được xếp ở trên cùng Đặc điểm đáng chú ý nhất về kỹ thuật xếp nung trong gốm men thời Lý ở đây là các vết kê có diện tiếp xúc nhỏ kể cả sử dụng bột chống dính hoặc mấu kê

Ngày đăng: 03/11/2016, 16:08

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng kê 1: Đặc điểm chất liệu xương gốm một số mẫu gốm men thời Lý qua quan sát bằng mắt thường - Đồ gốm men thời lý và thời trần trong kho bảo tàng hà nội
Bảng k ê 1: Đặc điểm chất liệu xương gốm một số mẫu gốm men thời Lý qua quan sát bằng mắt thường (Trang 170)
Bảng kê 2: Kết quả phân tích lát mỏng thạch học thành phần khoáng vật xương gốm thời Lý và thời Trần - Đồ gốm men thời lý và thời trần trong kho bảo tàng hà nội
Bảng k ê 2: Kết quả phân tích lát mỏng thạch học thành phần khoáng vật xương gốm thời Lý và thời Trần (Trang 171)
Bảng kê 3: Kết quả phân tích thành phần hóa học phân tích xương gốm thời Lý và thời Trần qua phương pháp phổ phát xạ plasma ICP-MS - Đồ gốm men thời lý và thời trần trong kho bảo tàng hà nội
Bảng k ê 3: Kết quả phân tích thành phần hóa học phân tích xương gốm thời Lý và thời Trần qua phương pháp phổ phát xạ plasma ICP-MS (Trang 172)
Bảng kê 4: Đặc điểm chất liệu qua quan sát bề ngoài một số mẫu gốm men thời Trần. - Đồ gốm men thời lý và thời trần trong kho bảo tàng hà nội
Bảng k ê 4: Đặc điểm chất liệu qua quan sát bề ngoài một số mẫu gốm men thời Trần (Trang 173)
Bảng kê 6: Kết quả phân tích chất liệu gốm celadon ở Xóm Hống. - Đồ gốm men thời lý và thời trần trong kho bảo tàng hà nội
Bảng k ê 6: Kết quả phân tích chất liệu gốm celadon ở Xóm Hống (Trang 174)
Bảng kê 5: Kết quả phân tích thành phần hóa học phân tích men gốm bằng phương pháp phân tích nhiễu xạ tia X-XRD - Đồ gốm men thời lý và thời trần trong kho bảo tàng hà nội
Bảng k ê 5: Kết quả phân tích thành phần hóa học phân tích men gốm bằng phương pháp phân tích nhiễu xạ tia X-XRD (Trang 175)
Bảng  kê  7:  Thống  kê  gốm  men  thời  Lý  tại  di  tích  Văn  Cao-Hoàng  Hoa  Thám - Đồ gốm men thời lý và thời trần trong kho bảo tàng hà nội
ng kê 7: Thống kê gốm men thời Lý tại di tích Văn Cao-Hoàng Hoa Thám (Trang 176)
Bảng  kê  8:  Thống  kê  gốm  men  thời  Trần  tại  di  tích  Văn  Cao-Hoàng  Hoa  Thám - Đồ gốm men thời lý và thời trần trong kho bảo tàng hà nội
ng kê 8: Thống kê gốm men thời Trần tại di tích Văn Cao-Hoàng Hoa Thám (Trang 176)
Bảng kê 9: Thống kê gốm men thời Lý (Tk 11-13) còn dáng - Đồ gốm men thời lý và thời trần trong kho bảo tàng hà nội
Bảng k ê 9: Thống kê gốm men thời Lý (Tk 11-13) còn dáng (Trang 177)
Bảng kê 10: Thống kê mảnh gốm men thời Lý (Tk 11-13) - Đồ gốm men thời lý và thời trần trong kho bảo tàng hà nội
Bảng k ê 10: Thống kê mảnh gốm men thời Lý (Tk 11-13) (Trang 177)
Bảng 4: Phân tích hàm lượng khoáng trong xương gốm (~%) - Đồ gốm men thời lý và thời trần trong kho bảo tàng hà nội
Bảng 4 Phân tích hàm lượng khoáng trong xương gốm (~%) (Trang 289)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w