1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số biện pháp dạy học kể chuyện cho học sinh dân tộc thiểu số lớp 4 trường tiểu học vô tranh i huyện lục nam tỉnh bắc giang

76 1,8K 8

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 76
Dung lượng 797,72 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu dạy học phân môn Kể chuyện là luôn tạo hứng thú cho HS trong học tập, mỗi giờ học Kể chuyện là một món ăn tinh thần không thể thiếu được đối với học sinh lứa tuổi tiểu học.. Th

Trang 1

Xin cảm ơn sự giúp đỡ của các thầy cô giáo và các em học sinh trường Tiểu học

Vô Tranh I - huyện Lục Nam - tỉnh Bắc Giang đã tham gia hợp tác trong quá trình khảo sát, dạy thể nghiệm đề tài tại nhà trường

Xin chân thành cảm ơn!

Sơn La, tháng 5 năm 2015

Sinh viên

Hoàng Thị Hằng

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn khóa luận 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3

3 Mục đích nghiên cứu 5

4 Nhiệm vụ nghiên cứu 5

5 Đối tượng nghiên cứu 5

6 Giả thuyết khoa học 5

7 Phạm vi nghiên cứu 6

8 Phương pháp nghiên cứu 6

9 Cấu trúc khóa luận 6

NỘI DUNG 7

Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 7

1.1 CƠ SỞ LÍ LUẬN 7

1.1.1 Quan niệm về hoạt động kể chuyện ở tiểu học 7

1.1.2 Nhu cầu kể chuyện đối với học sinh tiểu học trong cuộc sống 8

1.1.3 Mục tiêu, nhiệm vụ, nội dung và phương pháp dạy học Kể chuyện ở tiểu học 9

1.1.3.1 Mục tiêu 9

1.1.3.2 Nhiệm vụ 10

1.1.3.3 Nội dung 11

1.1.3.4 Quan niệm về đổi mới phương pháp dạy học kể chuyện cho học sinh lớp 4 …12 1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN 14

1.2.1 Mục đích khảo sát 14

1.2.2 Đối tượng khảo sát 14

1.2.3 Nội dung khảo sát 14

1.2.4 Phương pháp khảo sát 14

1.2.5 Thời gian, địa bàn khảo sát 15

1.2.6 Kết quả khảo sát 15

1.2.6.1 Hoạt động học tập của học sinh 15

1.2.6.2 Hoạt động dạy học của giáo viên 20

Chương 2 BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC KỂ CHUYỆN CHO HỌC SINH LỚP 4, TRƯỜNG TIỂU HỌC VÔ TRANH I - HUYỆN LỤC NAM - TỈNH BẮC GIANG 27

2.1 Đối với kiểu bài nghe - kể lại câu chuyện vừa nghe trên lớp 27

2.1.1 Hướng dẫn học sinh nắm vững cốt truyện 27

Trang 4

2.1.3 Sử dụng bài tập trắc nghiệm giúp học sinh nghe (hiểu và nhớ) 29

2.1.4 Sử dụng câu hỏi gợi ý hướng dẫn học sinh đặt lời thuyết minh cho tranh ……29

2.2 Đối với kiểu bài kể chuyện đã nghe đã đọc 31

2.2.1 Lập tủ sách để cung cấp tư liệu cho giáo viên và học sinh của trường học ……… 31

2.2.2 Tổ chức các hoạt động ngoại khóa nói chuyện về các anh hùng, các danh nhân, các gương người tốt việc tốt nhân các ngày lễ, các ngày kỉ niệm 32

2.2.3 Sử dụng câu hỏi hướng dẫn học sinh lập dàn ý của câu chuyện và kể lại câu chuyện 34

2.3 Đối với kiểu bài Kể chuyện chứng kiến hoặc tham gia 35

2.3.1 Tổ chức tham quan, du lịch và hoạt động ngoại khoá cho học sinh 35

2.3.2 Định hướng và hiện thực hiện hoá bằng cách đặt học sinh vào tình huống cụ thể, phân tích tình huống 36

2.3.3 Xây dựng các bước kể một câu chuyện được chứng kiến hoặc tham gia 37

2.3.4 Sử dụng câu hỏi hướng dẫn học sinh xây dựng cốt truyện 39

2.4 Chữa lỗi diễn đạt cho học sinh 40

2.5 Luyện kể chuyện diễn cảm 41

TIỂU KẾT 45

Chương 3: THIẾT KẾ GIÁO ÁN THỂ NGHIỆM 46

3.1 Mục đích của dạy học thể nghiệm 46

3.2 Đối tượng, địa bàn và thời gian thể nghiệm 46

3.3 Nội dung của dạy học thể nghiệm 46

3.4 Giáo án thể nghiệm 46

3.5 Kết quả thể nghiệm ……… 46

TIỂU KẾT 62

KẾT LUẬN 63

TÀI LIỆU THAM KHẢO 64

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Kể chuyện là một trong những phân môn rèn luyện cho học sinh (HS) tổng

hợp rất nhiều kĩ năng tiếng Việt (TV) Môn học không chỉ góp phần hình thành và phát triển bốn kĩ năng cơ bản sử dụng TV đó là: Nghe, nói, đọc, viết không những để

HS tiếp tục học lên các bậc học cao hơn hoặc để giao tiếp trong sinh hoạt hàng ngày

mà còn giúp HS rèn luyện các thao tác tư duy như: Phân tích, tổng hợp, khái quát, hệ thống Đồng thời phân môn Kể chuyện góp phần không nhỏ trong việc nâng cao phẩm chất tư duy và năng lực về nhận thức cho HS Khi học Kể chuyện, các em còn tiếp thu được những hiểu biết sơ giản về xã hội, tự nhiên và con người, về văn hoá, văn học Việt Nam và nước ngoài Học tốt phân môn Kể chuyện còn góp phần hỗ trợ đắc lực cho quá trình học phân môn Tập làm văn với hai hình thức luyện văn nói, và văn viết Điều quan trọng là tình yêu TV của các em sẽ được hình thành và phát triển vững thông qua quá trình việc học bộ môn Từ đó các em có ý thức giữ gìn sự trong sáng của TV, góp phần hình thành nên nhân cách của con người Việt Nam xã hội chủ

nghĩa

1.2 Mục tiêu dạy học phân môn Kể chuyện là luôn tạo hứng thú cho HS trong

học tập, mỗi giờ học Kể chuyện là một món ăn tinh thần không thể thiếu được đối với học sinh lứa tuổi tiểu học Môn học nhằm thoả mãn nhu cầu được nghe kể chuyện, đồng thời nó còn mang lại những xúc cảm thẩm mĩ cho tâm hồn trẻ thơ Đặc biệt những câu chuyện kể sẽ góp phần giáo dục các em một cách hết sức tự nhiên, nhẹ nhàng và thoải mái Góp nhặt từng chút màu sắc của cuộc sống từ ý nghĩa của mỗi câu chuyện, thấm dần vào tâm hồn trẻ thơ, ám ảnh mãi giúp các em sẽ ngày càng tự hoàn thiện nhân cách của mình Hơn thế nữa, giờ Kể chuyện còn góp phần tích luỹ vốn văn học, mở rộng vốn sống cho trẻ Thông qua việc kể lại các câu chuyện dưới các dạng bài khác nhau các em được tiếp xúc với nhiều tác phẩm văn học, điều này đồng nghĩa với việc vốn văn học của các em được tích luỹ dần trong dạy học Kể chuyện Đồng thời thông qua các giờ Kể chuyện còn mở ra cho các em một tầm hiểu biết mới hơn, rộng hơn về cuộc sống xung quanh, trí tưởng tượng của các em cũng ngày càng trở nên phong phú nhờ vào việc được nghe hoặc được kể lại các câu chuyện trong những giờ học hấp dẫn Nhiều câu chuyện đã được nghe kể sẽ gieo vào tâm hồn trẻ thơ những

Trang 6

lời của mình đã góp phần rèn luyện và phát triển kĩ năng nói, kỹ năng kể trước đám đông Từ đó, giúp các em tự tin, mạnh dạn trong giao tiếp, say sưa, chủ động, sáng tạo trong lời kể phấn đấu có lời kể hấp dẫn nhất Chính vì vậy có thể nói kể chuyện là một hoạt động nghệ thuật, dạy Kể chuyện cho HS tiểu học là dạy một môn học mang nhiều

yếu tố nghệ thuật, giúp cho HS hiểu sâu sắc hơn về xã hội, về con người và cuộc sống

xung quanh Giờ học Kể chuyện ngoài mục tiêu giúp HS cảm thụ, thưởng thức những câu chuyện bổ ích bên cạnh đó đòi hỏi HS (trình độ lớp 4, 5) phải có kỹ năng kể chuyện, có khả năng thể hiện lại câu chuyện đó cho người khác nghe bằng tất cả vốn ngôn ngữ, sự cảm thụ, kỹ thuật thể hiện và tình cảm, cảm xúc của mình một cách hiệu

quả và có tính sáng tạo nhất

1.3 Tuy nhiên, thực tế dạy học Kể chuyện ở nhiều trường tiểu học hiện nay vẫn

chưa đáp ứng được hết những yêu cầu của môn học Một số GV còn coi nhẹ môn Kể chuyện cho rằng đây là môn học phụ không thật sự quan trọng đối với HS Vì lẽ đó nên GV chưa đầu tư cho việc dạy học Kể chuyện (từ việc rèn luyện kĩ năng kể chuyện cho bản thân người dạy đến việc tìm ra những biện pháp dạy học phù hợp để hướng dẫn cho HS) Đặc biệt ở một số trường tiểu học miền núi GV dạy Kể chuyện vẫn còn mang tính khuôn mẫu công thức, đề cao tính chất môn học, chưa coi trọng tính nghệ thuật nên giờ dạy ít khi đem lại cho HS một giờ học Kể chuyện thật sự thú vị, lôi cuốn, thu hút các em Điều này đã tác động rất lớn tới HS làm cho các em chưa hào hứng với tiết học, thậm chí còn không thích học mặc dù Kể chuyện là món ăn tinh thần hấp dẫn

nhất, không thể thiếu được đối với trẻ thơ

Việt Nam là đất nước có đặc điểm về địa lý và sự phân bố về các thành phần dân cư trên các vùng miền khác nhau, sự phát triển về mọi mặt kinh tế, chính trị, văn hóa,… trong đời sống không đồng đều giữa đồng bằng và miền núi, giữa thành thị và nông thôn nhất là trong lĩnh vực giáo dục ở các tỉnh miền núi hiện nay còn đang gặp nhiều khó khăn Bắc Giang là một tỉnh miền núi phía Bắc, nơi tập trung nhiều thành phần dân tộc thiểu số (DTTS) cùng sinh sống như: Dân tộc Tày, Nùng, Dao, Sán Dìu, Hoa,… Mỗi dân tộc đều có tiếng nói và chữ viết, bản sắc văn hóa riêng Do đó đối với

HS nơi đây tiếng Việt là công cụ, phương tiện để tiếp thu tri thức nhưng lại đóng vai trò là ngôn ngữ thứ hai Bởi thế việc dạy và học tiếng Việt nói chung và dạy học Kể chuyện nói riêng làm sao cho đạt hiệu quả là khó khăn lớn nhất của thầy và trò vùng này Vậy việc vận dụng đổi mới phương pháp dạy học đối với từng phân môn tiếng

Trang 7

Việt như thế nào cho phù hợp với đối tượng HS, và đặc biệt làm thế nào để nâng cao chất lượng, hiệu quả dạy học Kể chuyện cho HS người dân tộc thiểu số? Đó là một vấn

đề đang được các nhà trường tiểu học và các thầy cô giáo trăn trở, quan tâm

Là một sinh viên đang học năm cuối chuyên ngành Giáo dục tiểu học, xác định sau này ra trường sẽ dạy học trên địa bàn có những tính đặc thù trên nên tôi đã mạnh

dạn tìm hiểu, nghiên cứu đề tài “Một số biện pháp dạy học Kể chuyện cho học sinh

dân tộc thiểu số lớp 4 trường Tiểu học Vô Tranh I - huyện Lục Nam - tỉnh Bắc Giang”

Hi vọng kết quả nghiên cứu sẽ là quá trình khám phá, tích lũy kiến thức nghiệp vụ cho bản thân, đồng thời góp phần nâng cao hiệu quả dạy học phân môn Kể chuyện cho học sinh lớp 4 vùng miền núi sau này

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Đọc và kể chuyện văn học là một loại hình nghệ thuật có từ rất lâu đời Nó xuất hiện cả trước khi con người tìm ra chữ viết Điều này được chứng minh bằng một kho tàng văn học dân gian khổng lồ mà các bậc tiền nhân đã để lại cho chúng ta Kể chuyện đã sớm được đưa vào chương trình giảng dạy trong trường tiểu học và nó đã được các em HS đón nhận rất hào hứng vì đây là một môn học lí thú và hấp dẫn Tuy nhiên để giảng dạy tốt môn học, GV cần có những hiểu biết về cơ sở lí luận và phương pháp, kĩ thuật dạy học phân môn này Xuất phát từ yêu cầu trên, nhiều nhà khoa học

đã đi sâu nghiên cứu vấn đề này nhưng số lượng các công trình hãy còn khiêm tốn

Trước hết có thể kể tới là cuốn tài liệu “Kể chuyện” của đồng tác giả Đỗ Lê

Chẩn và Nguyễn Thị Ngọc Bảo Trong phần lí luận chung, hai tác giả đã nêu tương đối đầy đủ về vị trí, nhiệm vụ cũng như phương pháp của dạy học Kể chuyện ở tiểu học Phần hướng dẫn cụ thể, có sự định hướng cho GV các bước lên lớp cho từng bài cụ thể

Cuốn sách được GV tiểu học tìm đọc nhiều nhất đó là “Dạy kể chuyện ở trường tiểu học” của tác giả Chu Huy Theo tác giả, nhu cầu kể chuyện đối với HS tiểu học là

rất lớn Ngoài việc xác định vị trí, nhiệm vụ rất quan trọng của phân môn Kể chuyện, ông còn đề ra phương pháp và kĩ thuật lên lớp với những bài soạn mẫu làm cơ sở cho

GV tiểu học tham khảo trong quá trình dạy học

Xuất phát từ quan điểm: TV - là công cụ, là phương tiện lĩnh hội tiếp thu nền văn hoá của dân tộc, nền văn minh của nhân loại, dạy học tiếng Việt phải được coi

Trang 8

non nên tác giả Nguyễn Xuân Khoa đã cho ra mắt bạn đọc cuốn “Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo” Dạy học Kể chuyện là một trong những phương

pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mà tác giả đã đề cập rất tâm đắc Trong đó đọc truyện

và kể chuyện cũng chính là một nghệ thuật của GV

Cuốn giáo trình “Phương pháp dạy học Tiếng Việt 2” do đồng tác giả Lê

Phương Nga và Nguyễn Trí biên soạn cũng đã đề cập đến đổi mới phương pháp DH

Kể chuyện Nhóm tác giả đã định hướng xây dựng cách thức tổ chức, hoạt động chủ yếu trong giờ Kể chuyện Đặc biệt là nhấn mạnh đến việc rèn kĩ năng nghe và kĩ năng

kể cho người học

Gần đây có rất nhiều sinh viên tích cực tham gia tìm hiểu nghiên cứu về dạy

học phân môn Kể chuyện ở tiểu học, tiêu biểu có: Đề tài “Truyện cổ tích và một số biện pháp dạy học Kể chuyện cổ tích cho học sinh lớp 1, 2, 3” là khóa luận tốt nghiệp

của tác giả Phạm Thị Thu Thuỷ, sinh viên K46, khoa Giáo dục tiểu học trường Đại học

Sư phạm I - Hà Nội Trong đề tài này, tác giả đã đưa ra một số biện pháp dạy học Kể chuyện cổ tích ở lớp 1, 2, 3 khá cụ thể

“Xác định quan niệm và biện pháp dạy học Kể chuyện ở tiểu học” là đề tài

nghiên cứu của tác giả Trần Thị Mến, sinh viên K47, khoa Giáo dục Tiểu học trường Đại học Sư phạm I - Hà Nội Ngoài việc thể hiện rõ quan niệm về việc dạy học Kể chuyện cho học sinh tiểu học tác giả đã đề xuất một số biện pháp dạy học cơ bản ở tiểu học, mang tính phổ biến, thông dụng, đã và đang được sử dụng ở các nhà trường tiểu học hiện nay

Tất cả các công trình nghiên cứu trên đây đều rất có giá trị và bổ ích đối với GV tiểu học Người dạy có thể tham khảo trong quá trình dạy học Kể chuyện theo chương trình cải cách giáo dục Đối với chương trình 2000 thì các công trình trên đây chỉ có

thể áp dụng với các lớp 1, 2, 3 và kiểu bài Nghe - kể lại câu chuyện vừa nghe trên lớp

ở lớp 4 - 5 Kết quả của các công trình nghiên cứu là tiền đề cơ sở, sự gợi ý cho nhiều vấn đề trong dạy học Kể chuyện được nghiên cứu trong đề tài

Ngoài việc tiếp thu, kế thừa kết quả của những công trình nghiên cứu đã trình bày ở trên, trong phạm vi nghiên cứu dạy học phân môn Kể chuyện cho HS tiểu học, tôi đã mạnh dạn đi sâu vào tìm hiểu nghiên cứu hoàn thiện và bổ sung một số biện pháp dạy học cho hai kiểu bài mới trong chương trình Kể chuyện lớp 4 đó là: Kiểu bài

Kể chuyện đã nghe, đã đọc và kiểu bài Kể chuyện được chứng kiến hoặc tham gia

Trang 9

Điều mà chúng ta quan tâm hiện nay là GV dạy tiểu học hiểu và vận dụng lý thuyết ở mức độ nào HS được rèn kỹ năng kể chuyện ra sao? Và kỹ năng này có thực sự giúp các em mạnh dạn, tự tin trong giao tiếp, thuận lợi trong học tập không? Muốn đạt được điều đó đòi hỏi GV phải thấy được vai trò, ý nghĩa, tầm quan trọng của việc dạy và học Kể chuyện ở nhà trường tiểu học, đồng thời phải có những biện pháp dạy học thật hợp lý, phù hợp với đối tượng HS và sáng tạo linh hoạt trong quá trình tổ chức các hoạt động dạy học Đó cũng chính là những nội dung cơ bản mà khóa luận này muốn gửi tới các thầy cô giáo đang dạy các trường tiểu học vùng miền núi cũng như những

ai quan tâm tới lĩnh vực này có một cách nhìn mới, toàn diện hơn về dạy học Kể chuyện ở nhà trường tiểu học

3 Mục đích nghiên cứu

Tìm hiểu thực trạng dạy và học Kể chuyện cho HS DTTS lớp 4 ở trường Tiểu học Vô Tranh I - huyện Lục Nam - Tỉnh Bắc Giang Từ đó đề xuất một số biện pháp dạy học phù hợp nhằm nâng cao chất lượng dạy học

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu lí luận: Đọc tài liệu, tổng hợp, phân tích tài liệu có liên quan đến nội dung đề tài

- Nghiên cứu tìm hiểu thực trạng dạy và học phân môn Kể chuyện ở trường Tiểu học Vô Tranh I nói chung và dạy Kể chuyện của khối lớp 4 tại trường nói riêng

- Trên cơ sở lí luận và thực tiễn đã nghiên cứu, đề tài đề xuất một số biện pháp dạy học Kể chuyện cho HS DTTS lớp 4

- Soạn thiết kế một số giáo án mẫu có vận dụng các biện pháp dạy học đã đề xuất vào dạy học một số bài cụ thể để khẳng định tính khả thi của đề tài

5 Đối tƣợng nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu toàn bộ những vấn đề liên quan tới hoạt động dạy và học Kể chuyện cho HS DTTS lớp 4 ở trường Tiểu học Vô Tranh I - huyện Lục Nam - tỉnh Bắc Giang

6 Giả thuyết khoa học

Nếu đề tài nghiên cứu thành công, đề xuất được những biện pháp dạy học cụ thể, phù hợp có tính khả thi sẽ là tài liệu tham khảo cho sinh viên khoa tiểu học, giáo viên dạy học ở các trường tiểu học miền núi trong quá trình học tập và công tác Là sinh viên được tham gia tìm hiểu, nghiên cứu và hoàn thiện đề tài chính là một quá

Trang 10

nghiệp vụ bổ ích, thiết thực cho bản thân Hi vọng đề tài nghiên cứu thành công sẽ góp công sức nhỏ bé vào công cuộc đổi mới PPDH tiếng Việt, góp phần nâng cao hiệu quả dạy học phân môn Kể chuyện cho HS tiểu học

7 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài tiến hành khảo sát hoạt động dạy học của giáo viên và hoạt động học tập của HS khối lớp 4 trường Tiểu học Vô Tranh I - huyện Lục Nam - tỉnh Bắc Giang trong phân môn Kể chuyện

Từ đó đề xuất một số biện pháp dạy học phù hợp với đối tượng HS nhằm nâng cao hiệu quả dạy học phân môn Kể chuyện cho HS lớp 4 ở trường này

8 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu dựa trên một số phương pháp như:

- Phương pháp nghiên cứu lí thuyết, đọc và tìm hiểu tài liệu có liên quan tới đề

tài, từ đó phân tích, tổng hợp, khái quát để xử lí thông tin

- Phương pháp khảo sát điều tra

Sử dụng phiếu điều tra để tìm hiểu quan niệm của GV về dạy học Kể chuyện, thực trạng hoạt động dạy và hoạt động học kể chuyện của GV và HS khối 4 trường Tiểu học Vô Tranh I – huyện Lục Nam - tỉnh Bắc Giang

- Phương pháp quan sát

Dự một số giờ Kể chuyện ở khối 4 để nắm được cách thức dạy học của GV và

kĩ năng kể chuyện của HS ở lớp 4 trường TH Vô Tranh I nhằm bổ sung tăng kiến thức nghiệp vụ, tăng độ chính xác khách quan cho việc điều tra

- Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Soạn, thiết kế mẫu một số giáo án minh

họa, dạy theo thiết kế nhằm vận dụng , kiểm tra tính khả thi của những biện pháp dạy học đã đề xuất

- Phương pháp tổng hợp thống kê

Tổng hợp các kết quả thu được từ quá trình tiến hành điều tra, quan sát và thực nghiệm sư phạm

9 Cấu trúc khóa luận

Ngoài phần mở đầu và kết luận khóa luận gồm 3 chương:

Chương I: Cơ sở lí luận và thực tiễn của khóa luận

Chương II: Một số biện pháp dạy học Kể chuyện cho HS lớp 4 vùng DTTS trường Tiểu học Vô Tranh I - huyện Lục Nam - tỉnh Bắc Giang

Chương III: Thể nghiệm

Trang 11

NỘI DUNG

Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1.1 CƠ SỞ LÍ LUẬN

1.1.1 Quan niệm về hoạt động kể chuyện ở tiểu học

Từ điển Tiếng Việt do Văn Tân chủ biên giải thích “kể” là nói rõ đầu đuôi, và nêu ví dụ: Kể chuyện cổ tích: “kể” là quá trình thuật lại một sự việc có mở đầu, diễn biến và kết thúc

Tác giả Nguyễn Trí cho rằng: Kể chuyện là một phương thức tự sự, một phương thức biểu đạt để kể lại các chuyện Theo quan niệm này, muốn kể chuyện chúng ta phải có chuyện để kể Hay nói cách khác là người ta dùng cách kể chuyện khi

có chuyện muốn kể Tác giả Chu Huy đã nói về thuật ngữ “kể chuyện” trong cuốn Dạy học kể chuyện ở trường tiểu học, ông cho rằng “kể chuyện” bao gồm bốn phạm trù

ngữ nghĩa, nó chỉ loại hình tự sự trong văn học (phân biệt với loại hình trữ tình, loại hình kịch) còn gọi là truyện hay tiểu thuyết Ngoài ra nó còn là tên một phương pháp nói trong diễn giảng, tên một loại văn thuật chuyện trong môn Tập làm văn, tên một phân môn tiếng Việt ở chương trình tiểu học

Ở phạm trù ngữ nghĩa thứ nhất, tác giả cho rằng kể chuyện là một loại hình trong sáng tác văn học mà đặc trưng của nó là phải có tình tiết, tức là sự việc đang xảy

ra, đang diễn biến, có nhân vật với ngôn ngữ, tâm trạng, tính cách riêng Theo đó thì phạm trù ngữ nghĩa này chỉ đề cập tới “chuyện” mà chưa nói tới hoạt động “kể”

Ở phạm trù ngữ nghĩa thứ hai, tác giả cho rằng kể chuyện là một phương pháp trực quan sinh động bằng lời nói Theo cách hiểu này, tác giả đã quan niệm kể chuyện

là một phương pháp dùng lời để trình bày một vấn đề một cách sinh động nhằm thu hút sự chú ý của người nghe

Nếu ở phạm trù ngữ nghĩa thứ nhất, tác giả xem kể chuyện chỉ hàm chứa nội dung thì trong phạm trù ngữ nghĩa thứ hai, tác giả lại cho rằng kể chuyện là một hành động nói Vậy cộng hai phạm trù ngữ nghĩa trên lại với nhau chúng ta sẽ được một cách hiểu đầy đủ về kể chuyện

Ở thuật ngữ thứ ba và thứ tư thì kể chuyện được sử dụng là một danh từ để gọi tên một thể loại văn trong phân môn Tập làm văn (văn kể chuyện) hoặc một phân môn

Trang 12

chuyện hay (phân môn) Kể chuyện là do bản thân của chúng mang những nét đặc trưng của kể chuyện Điều đó có nghĩa là tên gọi có sau và nó phản ánh bản chất mà môn học

đó chứa đựng

Tóm lại, dù theo quan điểm nào thì chúng ta cũng phải hiểu: Kể chuyện là một hoạt động của lời nói, nhằm trình bày một sự việc có mở đầu, diễn biến và kết thúc

1.1.2 Nhu cầu kể chuyện đối với học sinh tiểu học trong cuộc sống

Trong cuộc sống sinh hoạt của xã hội loài người, con người hằng ngày luôn trao đổi thông tin với nhau Để thoả mãn nhu cầu con người cần một phương tiện đó là ngôn ngữ Như ta đã biết, ngôn ngữ tồn tại dưới hai dạng là nói và viết Việc sử dụng lời nói để trao đổi với nhau về các vấn đề của cuộc sống, thật ra lúc đó con người đang

kể chuyện cho nhau nghe Vì sao có thể khẳng định như vậy? Vì khi đó con người đang tiến hành một hoạt động lời nói để trình bày một sự việc sao cho người nghe hiểu được ý của mình

Trong cuộc sống và lao động của người xưa, khi mà xã hội chưa phân chia giai cấp, con người sống với nhau theo bầy đàn, sau một ngày săn bắt hái lượm, họ cùng quây quần với nhau bên bếp lửa để kể cho nhau nghe những câu chuyện về những cuộc săn bắt, hái lượm của họ

Xã hội ngày càng phát triển, cùng với ngôn ngữ trình độ nhận thức của con người cũng phát triển Khi đó, trong quá trình lao động sản xuất của mình, họ lại kể cho nhau nghe những câu chuyện có thể tự mình nghĩ ra hoặc của thế hệ trước để lại Những câu chuyện này chủ yếu nói về kinh nghiệm sản xuất hoặc giải thích các hiện tượng thiên nhiên hay ước mơ chinh phục thiên nhiên của người xưa Đó chính là kho tàng văn học dân gian đồ sộ và vô cùng quý giá mà nhân loại bao thế hệ đã dành tặng cho hậu thế

Khi chữ viết xuất hiện cũng là lúc nền văn học viết ra đời, hơn bao giờ hết nhu cầu kể chuyện của con người là rất cao Điều này thể hiện ở việc con người ghi lại những câu chuyện dân gian để tiếp tục kể lại và lưu truyền lâu dài cho đời sau Song song đó, con người luôn không ngừng đua nhau sáng tác thêm rất nhiều câu chuyện mang hơi thở của thời đại nhằm đáp ứng nhu cầu về kể chuyện ngày càng cao của con người

Trẻ em từ khi bập bẹ tập nói, các em đã rất thích nghe kể chuyện Những câu chuyện của bà, của mẹ luôn là niềm hứng khởi đối với các em và nó đã để lại trong

Trang 13

lòng trẻ thơ những tình cảm tốt đẹp Khi đến tuổi mẫu giáo, nhu cầu được nghe cũng như được nói của các em lại tăng lên Bộ môn Phương pháp cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học, định hướng cho GV mầm non tổ chức, hướng dẫn cho trẻ làm quen với truyện và thơ là bộ môn quan trọng ở bậc mẫu giáo - giai đoạn đầu đời của con người

Đến khi bước vào tuổi tiểu học, nhu cầu kể chuyện lại tiếp tục tăng, đặc biệt là đối với các loại truyện cổ dân gian Vì những truyện kể dân gian là những câu chuyện rất gần gũi với các em, nó được ví như dòng nước mát bổ dưỡng tâm hồn với thế giới

cổ tích hoang linh kì diệu, các em đã được làm quen với chúng từ rất sớm Những câu chuyện này giúp các em nhận thức thế giới và chúng cũng giúp các em chính xác hoá những biểu tượng đã có về tự nhiên và xã hội Đồng thời truyện cổ từng bước cung cấp thêm những khái niệm mới, mở rộng kinh nghiệm sống cho các em, đặc biệt là đối với

HS vùng DTTS thì đây lại là vốn kiến thức rất quan trọng Những câu chuyện ấy luôn

ám ảnh, có tác dụng hình thành cho các em thái độ đối với cuộc sống xung quanh Puskin - một nhà thơ vĩ đại của Nga đã từng bộc bạch: “Buổi tối, tôi nghe kể những câu chuyện cổ tích và lấy việc đó bù đắp những thiếu sót trong sự giáo dục đáng nguyền rủa của mình Mỗi truyện cổ tích ấy mới đẹp đẽ làm sao, mỗi câu truyện là một bài ca”

Tóm lại, trong cuộc sống hiện đại, xã hội ngày càng phát triển như ngày nay thì nhu cầu được nghe, được kể chuyện ngày một lớn, không thể thiếu được đối với cuộc sống của tất cả mọi người, mọi giới tính, mọi lứa tuổi trong xã hội Đặc biệt nhu cầu

đó lại lớn hơn bao giờ hết và càng quan trọng đối với lứa tuổi học sinh tiểu học, giúp trẻ được cảm thụ, thưởng thức văn học, rèn luyện nhiều kỹ năng trong học tập, là nền móng vững chắc cho những kĩ năng sống của trẻ sau này

1.1.3 Mục tiêu, nhiệm vụ, nội dung và phương pháp dạy học Kể chuyện ở tiểu học

1.1.3.1 Mục tiêu

Theo tác giả Hoàng Hoà Bình, dạy học Kể chuyện ở tiểu học giúp các em đạt được một số kiến thức, kĩ năng cơ bản về việc cảm thụ ngôn ngữ văn học, có thái độ yêu thích môn học

Cùng với phân môn Tập đọc, Kể chuyện bước đầu giúp trẻ được tiếp xúc với ngôn ngữ văn học, đó là ngôn ngữ nghệ thuật chứa đựng đầy ắp tính thẩm mĩ Đồng thời rèn luyện kỹ năng nghe hiểu để vận dụng trong việc tiếp nhận các tác phẩm văn

Trang 14

học, cũng như sự chủ động linh hoạt trong từ ngữ, lời nói phục vụ cho hoạt động giao tiếp

Thông qua nghệ thuật ngôn từ HS được tiếp xúc với hình tượng văn học, phát huy sự hình dung, tưởng tượng, sự rung động với những cảm xúc vui, buồn, yêu, ghét của con người Từ đó trẻ được hình thành và phát triển nhận thức, với những tình cảm

và thái độ đúng đắn trong cuộc sống như biết phân biệt đẹp xấu, thiện ác, đúng sai; biết yêu thương, quý trọng tình cảm đối với trường lớp, thầy cô, bạn bè, quê hương, đất nước; có lòng nhân ái vị tha; có ý thức về bổn phận, sự hiếu thảo với ông bà, cha

mẹ, người thân, biết tôn trọng nội quy, tôn trọng pháp luật, bảo vệ của công, bảo vệ môi trường; Hướng tới cách sống tự tin, năng động, trung thực, dũng cảm; có ý thức

và nhu cầu nhận thức bản thân Bước đầu rèn luyện và hình thành các kĩ năng cơ bản như biết kể chuyện, biết tóm tắt câu chuyện, biết ghi nhớ, rút ra bài học ý nghĩa của câu chuyện, biết nhận xét, nêu cảm nghĩ của mình về các nhân vật có trong truyện để vận dụng trong học tập trên lớp và cũng như trong cuộc sống

1.1.3.2 Nhiệm vụ

Trong cuốn “Dạy Kể chuyện ở trường tiểu học”, tác giả Chu Huy đã chỉ ra

nhiệm vụ cơ bản của phân môn Kể chuyện đó là: bồi dưỡng tâm hồn, đem lại niềm vui, trau dồi vốn sống và vốn văn học, phát triển ngôn ngữ và tư duy cho trẻ Các nhiệm vụ cụ thể của Kể chuyện là bồi dưỡng đời sống tâm hồn, đem lại niềm vui cho các em Phân môn Kể chuyện đã đáp ứng nhu cầu nghe kể chuyện của trẻ Đối với các

em nhu cầu này rất lớn (như đã nói đến ở phần trên) Các câu chuyện được sử dụng để

kể cho trẻ là các tác phẩm văn học nghệ thuật đã được chọn lọc kỹ để đưa vào chương trình SGK Các tác phẩm này có tác động rất lớn, làm lay động đến tâm hồn và xúc cảm của trẻ, đồng thời nó còn lưu giữ, thúc đẩy trẻ phấn đấu vươn tới những điều tốt đẹp trong tương lai

Dạy học Kể chuyện còn góp phần trau rồi vốn sống và vốn văn học cho các em Trẻ được học kể chuyện từ khi chưa biết đọc biết viết, điều này cũng có nghĩa là trẻ được tiếp xúc rất sớm với các tác phẩm văn học ở bậc cao hơn Trong chương trình tiểu học, học sinh được nghe và kể rất nhiều câu chuyện với nhiều thể loại khác nhau,

từ truyện cổ tích đến hiện đại, các tác phẩm văn học được chọn lọc trong nước và các tác phẩm văn học trên thế giới Nhờ đó vốn văn học của trẻ được mở rộng vô cùng phong phú Các câu chuyện kể với nhiều đề tài khác nhau đã đưa các em tới một thế

Trang 15

giới muôn sắc màu, lung linh và sống động của cuộc sống xung quanh về lĩnh vực tự nhiên và xã hội Các câu chuyện phản ánh trực tiếp hoặc gián tiếp chân thực cuộc sống khách quan đó là: Nỗi khổ cực, bị áp bức bóc lột của người dân lao động xưa, bộ mặt ích kỉ, tham lam, gian tà của giai cấp bóc lột, những phong tục tập quán, truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam, những tấm gương trong thời chiến oanh liệt,… Tất cả đã tích lũy cho cảm xúc được thăng hoa để chiến đấu hi sinh bảo vệ đất nước tươi đẹp hôm nay Vốn sống, vốn ngôn ngữ của các em được mở rộng cũng nhờ đó

Chính vì vậy có thể khẳng định rằng Kể chuyện là phát triển ngôn ngữ và tư duy cho trẻ Qua việc nghe và kể các câu chuyện, trẻ được tiếp xúc với các hình tượng nghệ thuật được thể hiện qua chất liệu ngôn từ đã được các nhà văn, nhà thơ say mê lao động, gọt rũa, cô đúc một cách công phu Các chi tiết, các hình ảnh nghệ thuật, tính cách của nhân vật tạo nên một thế giới sống động trong tâm hồn trẻ thơ một cách hợp

lý, lô gic và tự nhiên Trong quá trình nghe, kể trẻ được dấn thân, bị lôi cuốn vào câu chuyện, trẻ hiểu sâu sắc nội dung và vận dụng nó một cách ngộ nghĩnh, đáng yêu theo cách nhìn nhận của trẻ thơ

Như vậy, chúng ta có thể thấy rằng mục tiêu và nhiệm vụ dạy học Kể chuyện ở hai bậc học trên có những nét tương đồng Vì chương trình được thiết kế theo xu hướng đồng tâm (lặp lại và nâng cao) Mục tiêu, nhiệm vụ dạy học Kể chuyện ở tiểu học là sự tiếp nối phát triển ở mức cao hơn so với bậc học mầm non, Kể chuyện trong trường tiểu học ngoài việc góp phần hoàn thiện nhân cách cho học sinh, Kể chuyện còn là môn học tạo hứng thú, được thư giãn, giải trí phát huy tất cả sự thích thú và đam

mê của trẻ mà không có bất kỳ môn học nào có được ưu thế của nó

1.1.3.3 Nội dung

Nội dung dạy học Kể chuyện nhằm củng cố kĩ năng kể đã được hình thành ở các lớp dưới: Kiểu bài tập Kể chuyện, câu chuyện có độ dài khoảng trên dưới 500 chữ, được in trong SGV Sách giáo khoa chỉ trình bày tranh hoặc tranh kèm lời dẫn giải ngắn gọn, HS phải nghe kể và trình bày lại câu chuyện

Đồng thời nội dung dạy học Kể chuyện lớp 4 nhằm hình thành những kĩ năng khó hơn như: Các em phải kể lại những câu chuyện đã được nghe hoặc đã đọc, hoặc những câu chuyện các em đã được chứng kiến hoặc tham gia, khuyến khích sưu tầm những câu chuyện ngoài SGK có nội dung hấp dẫn, mang tính cập nhật với đời sống,

Trang 16

kiểu bài này, các em phải nhớ lại các tình tiết những câu chuyện mà mình đã được đọc, nghe, kể, chứng kiến hoặc tham gia Khi có ý tưởng, các em dựa vào cách thức xây dựng câu chuyện đã được học ở phân môn Tập làm văn để sắp xếp lại các chi tiết và

kể Tất nhiên nội dung của những câu chuyện này phải phù hợp với chủ điểm mà các

em được học

Các chủ điểm học tập của lớp 4 gồm: Thương người như thể thương thân (lòng

nhân ái); Măng mọc thẳng (trung thực, tự trọng); Trên đôi cánh ước mơ (ước mơ);

Tiếng sáo diều (vui chơi); Người ta là hoa đất (năng lực, tài trí); Vẻ đẹp muôn màu (óc thẩm mĩ); Những người quả cảm (lòng dũng cảm); Khám phá thế giới (du lịch, thám

hiểm) và tình yêu cuộc sống (lạc quan, yêu đời)

Như vậy phân môn Kể chuyện có sự hỗ trợ bổ sung đắc lực cho phân môn Tập làm văn Thông qua những câu chuyện sinh động các em nắm bắt, rung động sẽ là những bài viết sinh động thuyết phục nhất

1.1.3.4 Quan niệm về đổi mới phương pháp dạy học kể chuyện cho học sinh lớp 4

Như đã nói trên, kể chuyện là một hoạt động lời nói Cho nên có thể nói phương pháp đặc trưng của dạy học Kể chuyện là phương pháp dùng lời (kể) Tuy nhiên, do

dặc trưng của Kể chuyện là kể nên phương pháp này được sử dụng không giống như

đối với các phân môn khác Điểm khác biệt đó là GV không phải dùng lời để thuyết trình nội dung dạy học mà là dùng lời để kể và sau đó hướng dẫn học sinh cũng dùng lời của mình để kể lại câu chuyện vừa được nghe giáo viên kể hoặc kể lại các câu chuyện đã được nghe, đã được đọc hoặc được chứng kiến, tham gia Nói như thế có nghĩa là phương pháp kể là phương pháp của cả GV lẫn HS và điều quan trọng hơn cả

là làm sao rèn cho HS biết cách kể có được một kĩ năng kể chuyện như mục tiêu dạy

học đề ra Do đó có thể xem kể vừa là phương pháp dạy học vừa là mục tiêu mà dạy

học phải hướng tới Chính vì lẽ đó, việc sử dụng lời kể của GV mang tính chất làm mẫu phải thật chuẩn mực GV phải lựa chọn ngôn ngữ sao cho chính xác, trong sáng, giản dị, dễ hiểu và có tính thẩm mĩ cao, đặc biệt là phải phù hợp với đặc điểm tâm sinh

lí của HS Đồng thời lời kể của GV phải truyền tải được nội dung, ý nghĩa của câu chuyện Giọng kể có ngữ điệu truyền cảm tác động trực tiếp tới người nghe, kết hợp với tín hiệu không lời

Phương pháp thứ hai có thể kể đến trong dạy học Kể chuyện là phương pháp gợi mở, vấn đáp Phương pháp này được sử dụng để giúp HS tìm hiểu truyện và để

Trang 17

hướng dẫn HS kể lại Thông qua việc hướng dẫn trả lời hệ thống câu hỏi của GV, HS

sẽ ghi nhớ được cốt truyện, các tình tiết quan trọng của truyện để kể lại, từ đó rút ra được ý nghĩa của câu chuyện Trong lúc HS kể, nếu các em có quên một vài chi tiết thì câu hỏi sẽ có tác dụng khơi gợi như cách dạy truyền thống giúp các em nhớ lại, tái hiện lại để tiếp tục phát triển lời kể thay vì GV phải nhắc nội dung cho các em Phương pháp này còn được sử dụng trong việc hướng dẫn HS lập dàn ý, gạch những ý chính về cốt truyện câu chuyện Như vậy phương pháp gợi mở, vấn đáp trong kể chuyện ngoài tác dụng giúp cho các em khắc sâu hơn nội dung, ý nghĩa của câu chuyện nó còn góp phần hình thành kĩ năng kể chuyện cho các em từ thấp đến cao, từ

dễ đến khó, giúp cho HS em nào cũng có thể tự tin tham gia vào tiết học này

Một phương pháp không thể thiếu trong dạy học Kể chuyện đó là phương pháp quan sát Trong khi kể chuyện, GV luôn hướng dẫn các em quan sát tranh ảnh coi đó

là điểm tựa để kết hợp nghe, tái hiện và ghi nhớ nội dung câu chuyện Ngoài ra tranh ảnh còn có tác dụng kích thích sự chú ý và trí tưởng tượng bay bổng, phát huy sự sáng tạo trong lời kể của người học

Trong dạy học Kể chuyện, GV còn sử dụng phương pháp sắm vai, hoạt động hợp tác nhóm Phương pháp này được sử dụng khi HS tập kể lại câu chuyện theo lối phân vai

Mỗi phương pháp có một ưu thế riêng chính vì vậy GV cần sử dụng phối hợp nhuần nhuyễn và linh hoạt các phương pháp trên

Tóm lại: Kể chuyện là hoạt động sử dụng lời nói để trình bày một sự việc có

mở đầu, diễn biến và kết thúc Thông qua kể chuyện người ta trao đổi thông tin với nhau đồng thời nó giúp cho con người tự hoàn thiện và phát triển nhân cách cho mình

Vì Kể chuyện có tầm quan trọng rất to lớn, cần thiết diễn ra hàng ngày nên nhu cầu về

kể chuyện của tất cả mọi người (kể cả trẻ nhỏ cho đến người lớn) là rất cao Kể chuyện không phải là một hình thức giải trí thông thường mà nó là một hoạt động lời nói, là một hình thức sinh hoạt văn hoá và là một hoạt động sáng tạo nghệ thuật Kể chuyện ở tiểu học có nội dung và phương pháp rất riêng, cho nên người GV cần phải nắm vững

lý thuyết, vận dụng sáng tạo để việc dạy học Kể chuyện đạt hiệu quả cao nhất

Kể chuyện là một hoạt động lời nói Cho nên kể chuyện là hoạt động nghệ thuật của lời nói có ngữ điệu, cách ngắt giọng, cường độ giọng, cử chỉ, điệu bộ màu sắc

Trang 18

lẫn cảm xúc Sản phẩm đó là do sự kết hợp giữa cảm thụ, thưởng thức tác phẩm kết hợp với sự tái hiện, kỹ năng kể chuyện của người kể Cái đích mà người dạy Kể chuyện luôn muốn hướng tới cho người học của mình đó là sáng tạo sáng tạo trong kể chuyện là yếu tố cực kỳ quan trọng

1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN

1.2.1 Mục đích khảo sát

Đề tài tiến hành khảo sát hoạt động dạy học và học tập phân môn Kể chuyện của GV và HS khối lớp 4 trường Tiểu học Vô Tranh I - huyện Lục Nam - tỉnh Bắc Giang Tìm hiểu về các phương pháp, hình thức tổ chức dạy học của GV, cũng như sự hợp tác học tập của HS trong phân môn Kể chuyện

Quá trình khảo sát đề tài đi sâu tìm hiểu về tâm lý HS, mức độ hứng thú và khả năng nhận thức của các em trong quá trình học phân môn Kể chuyện Từ đó, nhằm tìm

ra những ưu điểm và hạn chế cụ thể trong quá trình dạy và học để từ đó có những định hướng đề xuất biện pháp dạy học thích hợp nhằm nâng cao hiệu quả đối với môn học

1.2.2 Đối tượng khảo sát

Đề tài khảo sát dựa trên các đối tượng:

- Khảo sát hoạt động dạy Kể chuyện của GV dạy học khối lớp 4

- Khảo sát hoạt động học tập của HS lớp 4

- Hoạt động dạy - học Kể chuyện của GV, HS khối 4

1.2.3 Nội dung khảo sát

Đề tài tiến hành khảo sát những nội dung sau:

- Chương trình SGK các bài học của phân môn Kể chuyện lớp 4

- Tìm hiểu các phương pháp, hình thức dạy và học phân môn Kể chuyện lớp 4, tại trường Tiểu học Vô Tranh I - huyện Lục Nam - tỉnh Bắc Giang

- Tìm hiểu các thiết bị dạy học được sử dụng hỗ trợ minh họa trong dạy Kể chuyện lớp 4

- Tìm hiểu về tâm lý và nhận thức hứng thú của HS khi học phân môn Kể chuyện

1.2.4 Phương pháp khảo sát

- Phương pháp dự giờ

- Phương pháp trò chuyện, quan sát, phỏng vấn trực tiếp

- Phương pháp trắc nghiệm

Trang 19

- Phương pháp điều tra

1.2.5 Thời gian, địa bàn khảo sát

- Thời gian khảo sát:

Tháng 1, 2 năm 2015: Tham quan trường lớp, trò chuyện với GV và HS

Tháng 3 năm 2015: Dự giờ, phát phiếu điều tra

Tháng 4 năm 2015: Khảo sát giáo án và thể nghiệm dạy học

- Địa bàn khảo sát:

Thực hiện khóa luận này tôi tiến hành tìm hiểu, khảo sát thực tế hoạt động dạy

và học của GV và HS lớp 4 tại trường Tiểu học Vô Tranh I - huyện Lục Nam - tỉnh Bắc Giang

1.2.6 Kết quả khảo sát

1.2.6.1 Hoạt động học tập của học sinh

Qua quá trình dự giờ, khảo sát bằng phiếu điều tra về hứng thú học tập phân môn Kể chuyện cho HS lớp 4 Trường Tiểu học Vô Tranh I - huyện Lục Nam - tỉnh Bắc Giang Tôi nhận thấy rằng: 73,2% các em HS khối lớp 4 trong nhà trường đều có hứng thú học phân môn Kể chuyện Tuy nhiên hoạt động dạy học ở đây chưa được đề cao, những tiết dạy Kể chuyện GV thường cho HS học các môn tự chọn khác như ôn Toán, ôn tiếng Việt, Tập làm văn Khi trao đổi trực tiếp, các thầy cô lí giải: Do HS học môn Toán, Tập làm văn chưa đạt yêu cầu, ở lớp luôn thiếu thời gian, thời gian tự học ở nhà ít, hoặc không hiệu quả Một số GV trong trường lại cho rằng môn Kể chuyện là môn phụ, không quan trọng đối với HS Đồng thời qua tìm hiểu chúng tôi nhận thấy 90% HS là con em vùng nông thôn, nguồn sống dựa vào sản xuất nông nghiệp là chủ yếu Chính vì vậy điều kiện sống của HS còn gặp rất nhiều khó khăn Ngoài thời gian học tập trên lớp về nhà các em còn phải phụ giúp bố mẹ công việc đồng áng, việc nhà

Do vậy việc học tập của các em chưa được đầu tư thời gian thích đáng Chất lượng học tập môn tiếng Việt còn thấp, nhiều HS đọc còn ngọng, phát âm sai (sai phụ âm, phần vần, dấu thanh) từ đó dẫn đến việc luyện kĩ năng kể chuyện cũng bị ảnh hưởng nhiều

về khâu diễn đạt của người kể, nhút nhát, thiếu tự tin khi tham gia phần luyện tập kể

chuyện

Để khảo sát về hứng thú học tập, đề tài có câu hỏi : “Em có yêu thích phân môn

Kể chuyện hay không?” Kết quả thu được là:

Trang 20

tìm hiểu vấn đề này tôi đã đưa ra câu hỏi 3: “Ngoài những câu chuyện trong SGK em

có thường xuyên tìm đọc những câu chuyện khác trên sách, báo không?” kết quả thu

Bên cạnh sự tìm tòi khám phá của các em kết hợp với những câu chuyện GV kể

trên lớp thì các em rất cần có sự quan tâm phối hợp của ông bà, cha mẹ HS Câu hỏi 4:

“Các em có thường xuyên được ông bà, cha mẹ, anh chị… kể chuyện cho nghe không?” Kết quả là:

Trang 21

Đôi khi 20 48,8%

Câu hỏi 5: “Bố mẹ có hay mua sách báo cho em đọc không?” Kết quả là:

Chính vì vậy sự quan tâm, chăm sóc của gia đình là rất cần thiết bởi không chỉ học ở trường mà các em còn được học ở ngay cả gia đình nơi các em sinh sống Phần lớn các em đều là HS DTTS, giao tiếp hằng ngày hầu hết bằng tiếng mẹ đẻ Do vậy thói quen dùng ngôn ngữ phổ thông còn hạn chế Qua trao đổi với GV trực tiếp giảng dạy khối 4 trường Tiểu học Vô Tranh I, 100% HS phải sử dụng ngôn ngữ phổ thông trong các giờ học Mặc dù tỷ lệ các em chưa thông thạo tiếng phổ thông, thói quen sử dụng ngôn ngữ tiếng mẹ đẻ, cách dùng từ và diễn đạt từ còn chưa lưu loát chiếm 1/3

Vì phạm vi tiếp xúc , môi trường học tiếng Việt còn hẹp, ngoài phạm vi từ trường học đến làng - bản, vì xa trung tâm thi thoảng mới được đến chợ, nên vốn từ của các em còn nhiều hạn chế Chính vì vậy khi tham gia bài học về kiểu bài kể câu chuyện đã được chứng kiến, tham gia các em rất lúng túng HS chưa biết kể theo lời của từng nhân vật trong chuyện hoặc các em chủ yếu là đọc lại truyện, hoặc là học thuộc lòng từng câu, từng chữ trong sách để nói lại, chứ chưa phải kể

Vì vậy tôi đưa ra câu hỏi 6: “Trong gia đình em thường giao tiếp bằng ngôn ngữ nào?” kết quả thu được là:

Có tới 82,9% các em đều sử dụng tiếng mẹ đẻ ( tiếng dân tộc TS) Điều đó cũng

là một khó khăn đối với các thầy, cô về việc luyện tập TV ở nhà của các em

Trang 22

Ngoài việc tiếp xúc với những người thân trong gia đình, giao tiếp ngoài xã hội

cũng có vai trò quan trọng góp phần bồi dưỡng vốn TV của các em câu hỏi 7: Em có hay đi chợ cùng bố mẹ không? Kết quả thu được là:

Câu hỏi 8: Em có hay tham gia kể chuyện về bản thân, gia đình, bản làng, quê

hương mình ở lớp hoặc ở các hoạt động ngoại khóa không? Kết quả thu được :

Ngoài môi trường gia đình, nhà trường thì các phương tiện thông tin đại chúng cũng góp phần nâng cao sự hiểu biết, tiếp cận với thời đại, giúp các em phát triển một

cách toàn diện về nhân cách cũng như vốn hiểu biết tiếng phổ thông Câu hỏi 9: “Nơi

em sinh sống (gia đình, bản làng) có những phương tiện thông tin đại chúng nào?” kết

quả thu được như sau:

Trang 23

Từ việc tìm hiểu tâm lí HSTH khi học phân môn Kể chuyện, điều tra thực trạng

học phân môn Kể chuyện với câu hỏi: “Trong khi học phân môn Kể chuyện các em gặp khó khăn gì?” Thông qua số phiếu thu được tôi nhận được rất nhiều câu trả lời,

mỗi em đều gặp những khó khăn riêng Qua xử lí số liệu kết quả thu được từ 41 HS khối 4 có tới 80% các em còn gặp khó khăn khi đóng vai nhân vật trong tác phẩm và

kể lại câu chuyện, 4% các em gặp khó khăn khi nhớ cốt truyện, còn lại 16% gặp khó khăn khi nghe thầy cô kể chuyện Như vậy 80 % HS còn gặp khó khăn trong quá trình đóng vai, nhập vai nhân vật trong giờ học Kể chuyện Đó cũng là một hạn chế của HS DTTS, có thể do nhiều lí do nhưng chủ yếu do các em ngại thể hiện bản thân do cách diễn đạt, do vốn ngôn ngữ còn nhiều hạn chế

Khi hỏi về: “Các hoạt động tập thể mà em thường tham gia ở trường” đa số

các em chưa hứng thú tham gia hoạt động thi kể chuyện, do các em chưa hiểu hết ích lợi của phân môn Kể chuyện

Câu 11: “Theo em tác dụng của việc học Kể chuyện là gì ?”

Tìm hiểu về vấn đề này tôi nhận thấy 73% các em đã xác định được tác dụng của việc học Kể chuyện là “giúp các em hiểu biết hơn về thế giới xung quanh con người, tự nhiên, xã hội, các sự vật, sự việc… Đồng thời còn giúp các em nói (kể) mạnh dạn, tự tin trước đám đông” Còn lại 27% các em đều cho rằng được vui chơi, được thư giãn, được thoải mái trong giờ học của việc học Kể chuyện là chủ yếu các em được nghe những câu chuyện hấp dẫn

Các em có thể chưa tiếp cận với các phương pháp Kể chuyện phù hợp với trình

độ, khả năng của mình mà mỗi em có một cách thể hiện nội dung câu chuyện khác

nhau Trong nội dung này với câu hỏi: “Em thường kể chuyện theo như thế nào ?”

Qua điều tra tôi thu được kết quả như sau:

38% các em quan niệm là kể phải cố gắng bắt chước kể lại giống hệt thầy cô đã

kể cho các em nghe, 52% học thuộc lòng câu chuyện và kể lại thật diễn cảm, còn lại 10% là kể lại câu chuyện theo lời của mình

Qua việc khảo sát ở trên chúng ta nhận thấy rằng có rất nhiều yếu tố tác động đến hứng thú, khả năng nghe và kể lại chuyện ở trong chương trình học cũng như những câu chuyện các em được chứng kiến tham gia ngoài cuộc sống Bên cạnh sự nhiệt tình giảng dạy, tâm huyết với nghề, GV cần có sự đổi mới phương pháp dạy học

Trang 24

mặt hạn chế, trang bị cho các em vốn hiểu biết TV cũng như kĩ năng kể chuyện góp phần giúp các em học tốt môn học này ở lớp trên, rèn luyện kỹ năng nói và kể ở bậc học cao hơn

1.2.6.2 Hoạt động dạy học của giáo viên

Trường Tiểu học Vô Tranh I là một trường thuộc đơn vị hành chính xã thuộc địa bàn mền núi có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn Ngày 22 tháng 9 năm

2009 trường được công nhận là trường tiểu học đạt chuẩn quốc gia cấp độ I Năm học

2014 - 2015 trường có tổng số 17 lớp học, được phân ra làm 3 khu, điều kiện cơ sở vật chất ở đây số phòng học còn thiếu, bàn ghế cho HS ngồi chưa đúng qui cách, đồ dùng dạy học, thư viện, trang thiết bị còn thiếu Nhà trường có tổng số 28 GV trong đó có

15 GV trình độ Đại học, 5 GV trình độ cao đẳng, 8 GV trình độ trung cấp Hiện nay số

GV có trình độ trung cấp đã và đang học các lớp liên thông lên Đại học vừa học, vùa làm Trường có 3 GV đạt GV dạy giỏi cấp huyện, 5 GV dạy giỏi cấp trường

Năm học 2014 - 2015 khối lớp 4 có hai lớp với tổng số 41 HS Trong đó có 38

HS DTTS chiếm 93% HSDTTS chủ yếu là dân tộc Hoa, Sán Dìu, Nùng, Tày… 100%

HS đi học đúng độ tuổi (10 - 11 tuổi)

Trang 25

trình lĩnh hội tri thức và lĩnh hội kiến thức để có được tri thức ấy nhằm hoàn thiện nhân cách của mình

Để điều tra tôi đưa ra câu hỏi: “Khi dạy học Kể chuyện thầy, cô thường sử dụng phương pháp dạy học nào?” Thì kết quả thu được như sau:

Qua phân tích số liệu, tôi thấy rằng các PP mà các GV khối 4 trường Tiểu học

Vô Tranh I thường sử dụng vẫn là các PP truyền thống như: PP quan sát, luyện tập thực hành, trực quan, đàm thoại, thảo luận Các PP mới như PP trò chơi, PP nêu vấn đề… đang được đưa vào áp dụng Do rất nhiều nguyên nhân nhưng nguyên nhân chính

là điều kiện vật chất, kĩ thuật của trường chưa đáp ứng đầy đủ, HS chưa tích cực chủ động trong việc chiếm lĩnh tri thức Mặt khác GV chưa quan tâm đầu tư đúng mức đến công việc tìm tòi và vận dụng biện pháp tích cực để nâng cao hiệu quả dạy học môn

TV nói chung và phân môn Kể chuyện nói riêng

Với câu hỏi: “Rèn kỹ năng kể chuyện cho HS thầy (cô) thường sử dụng đồ dùng trực quan nào dưới đây?” Kết quả là:

100% các thầy cô đều sử dụng tranh minh hoạ để phục vụ cho bài dạy Kể chuyện của mình Khi được hỏi thêm về nguồn gốc của đồ dùng trực quan thì kết quả

là các thầy cô lấy từ phòng thư viện của nhà trường, chưa có sự sáng tạo, thiết kế thêm ngoài những phương tiện đó

Vận dụng các phương pháp vào dạy học phân môn Kể chuyện có đạt hiệu quả

Trang 26

“Thầy cô hay sưu tầm các câu chuyện ngoài SGK không?” Kết quả thu được như

sau:

Như vậy có 50% GV thỉnh thoảng mới sưu tầm thêm các câu chuyện ngoài SGK, hầu hết các thầy cô chưa chủ động tìm hiểu các câu chuyện thường diễn ra trong cuộc sống hằng ngày của các em cũng như các câu chuyện trong kho tàng truyện cổ tích Việt Nam Có 50% thầy cô thường xuyên sưu tầm thêm các câu chuyện ngoài SGK để giới thiệu thêm cho các em, giúp vốn hiểu biết của các em thêm phong phú hơn

Đối với HSTH, tư duy của các em chủ yếu là từ trực quan cụ thể các em mới có thể tiếp thu, lĩnh hội tri thức một cách có hiệu quả Từ những gì các em nhìn, nghe thấy, được trực tiếp tham gia, vừa học vừa chơi sẽ giúp các em ghi nhớ và hứng thú học tập hơn Ngoài những câu chuyện được quy định dạy trong chương trình SGK ,

GV cần phải kết hợp với thực tiễn, thường xuyên cho HS kể lại các câu chuyện xảy ra trong đời sống hàng ngày của các em nhằm bổ trợ kiến thức cho môn Tập làm văn,

đồng thời rèn kỹ năng nói, diễn đạt cho HS Tôi đã đưa ra câu hỏi 5: “Mức độ sử dụng các câu chuyện trong đời sống hằng ngày để luyện tập kỹ năng kể chuyện cho các em như thế nào?”

Kết quả thu được là có 1 GV chỉ đôi khi mới cho các em kể lại các câu chuyện

ở nhà, ở trường, nơi các em sinh sống, kể về bản thân cho các bạn cùng nghe Điều đó cho thấy quá trình được tự kể chuyện một cách có hứng thú và sáng tạo bằng ngôn ngữ

Trang 27

của các em vẫn còn hạn chế Chính vì vậy những khả năng tiềm ẩn sâu trong mỗi HS chưa thực sự được khai thác một cách có hiệu quả

Trong quá trình DH kể chuyện, về phía GV cũng gặp rất nhiều bỡ ngỡ, lúng

túng, khó khăn từ phía HS đem lại Đề tài thiết kế câu hỏi 6: Khi dạy học phân môn Kể chuyện thầy (cô) thấy những thuận lợi và khó khăn gì?

Về thuận lợi: Hầu hết các thầy cô đều cho rằng HS rất thích phân môn Kể chuyện, trong mỗi giờ Kể chuyện các em đều hứng thú nghe thầy (cô) kể, tham gia góp ý cho giờ Kể chuyện một cách sôi nổi nhiệt tình Đó là những thuận lợi về phía

HS bên cạnh đó thầy (cô) còn có một số thuận lợi từ bản thân như: Có kiến thức chuyên môn, có nghiệp vụ sư phạm Đây là môn học tạo hứng thú cho người dạy, cảm thấy yêu nghề, yêu trẻ khi lên lớp, khi đứng trước những câu hỏi ngây thơ, hồn nhiên

sự ngộ nghĩnh đáng yêu của các em

Về khó khăn: Theo PP dạy học mới hiện nay GV không phải thuyết trình, giảng giải cung cấp kiến thức cho HS một chiều mà đóng vai trò là người tổ chức, điều khiển, hướng dẫn HS học tập giúp các em phát hiện và chiếm lĩnh tri thức Trong phân môn Kể chuyện thiết bị dạy học chủ yếu được sử dụng thường là: tranh ảnh, bản đồ, vật thật… và một số thiết bị hiện đại như băng ghi âm, ghi hình, đèn chiếu, máy chiếu Việc sử dụng các thiết bị dạy học hiện đại còn nhiều hạn chế ở hầu hết GV nhất là GV lớn tuổi ngại sử dụng hoặc sử dụng một cách chưa hiệu quả Mặt khác nhà trường cũng

đã và đang thực hiện học 2 buổi/ ngày, GV phải soạn bài và lên lớp nhiều, việc chuẩn

bị nhiều đồ dùng DH công phu, tốn rất nhiều thời gian Hơn nữa, HS khối 4 của trường hiện nay học các môn Toán, tiếng Việt, Ngoại Ngữ chất lượng học tập chưa cao Phụ huynh và nhà trường, cũng như GV giảng dạy muốn dành nhiều thời gian tập trung cho 3 môn này (môn tiếng Việt - Chủ yếu là được ưu tiên cho các phân môn luyện viết) điều đó ảnh hưởng phần nào đến hiệu quả dạy học kể chuyện

Bàn về việc sử dụng các phương pháp dạy học, trao đổi với các thầy cô tôi đưa

ra câu hỏi Câu 7: Theo thầy (cô) nên đổi mới PPDH Kể chuyện như thế nào?

Khi hỏi về vấn đề này tôi thu được nhiều ý kiến phản hồi khác nhau như sau:

- Thầy Nguyễn văn Đồng là GV công tác lâu năm có ý kiến: “Tạo môi trường giao tiếp dưới sự hướng dẫn của thầy cô giáo Các kiến thức về ngôn ngữ, văn học, văn hoá, TNXH có thể được tiếp thu có hiệu quả thông qua quá trình giảng giải của

Trang 28

GV Nhưng HS chỉ làm chủ được kiến thức này bằng chính hoạt động hướng dẫn, chỉ đạo của GV”

- Theo ý kiến cô Nguyễn Thị Thủy lại cho rằng: “Nên đổi mới dạy học theo mô hình trường Tiểu học mới Việt Nam (VNEN)”

- Cùng ý kiến với cô Nguyễn Thị Thủy thì thầy Nguyễn văn Đồng với kinh nghiệm 15 năm công tác cũng cho rằng: “Nhà trường đang thực hiện đổi mới PPDH theo mô hình trường Tiểu học mới VN (VNEN) đây là mô hình rất khả quan”

Tiếp theo tôi đưa ra câu hỏi Câu 8: Theo thầy (cô) dạy học Kể chuyện nhằm mục đích gì?

Hầu hết các thầy cô đều cho rằng: Phân môn Kể chuyện với mục đích nhằm nâng cao hiểu biết, tích luỹ vốn văn học, kinh nghiệm sống hàng ngày cho các em Góp phần hình thành nhân cách đem lại xúc cảm thẩm mĩ lành mạnh cho tâm hồn trẻ thơ Đặc biệt nhằm rèn luyện và phát triển kĩ năng nghe nói trước đám đông và giúp các em thư giãn, thoải mái, không bị căng thẳng trong giờ học

Phân môn Kể chuyện nhằm bổ sung, hỗ trợ tối đa cho phân môn Tập làm văn bao gồm 3 dạng kiểu bài: Nghe - kể lại câu chuyện vừa nghe thầy cô kể trên lớp, kiểu bài kể chuyện đã nghe đã đọc; kiểu bài kể chuyện được chứng kiến tham gia

Với câu hỏi 9 “Những khó khăn thầy cô thường gặp ở từng kiểu bài cụ thể là gì?” Các thầy cô dạy khối 4 cho biết: Kiểu bài kể chuyện được chứng kiến tham gia

còn gặp nhiều khó khăn HS ít quan sát, để tâm vào những câu chuyện diễn ra xung quanh mình trong cuộc sống hoặc phải sử dụng những câu chuyện của người khác để

kể, HS thường bị thiếu vốn chuyện kể như: Khi HS chứng kiến câu chuyện, các em đã hiểu cốt truyện nhưng lại khó khăn trong diễn đạt, do vốn từ ngữ phổ thông ít, hay bị

bí từ nên chuyện kể chưa đạt hiệu quả, nghe rời rạc thiếu lôgic không thu hút người nghe

“Qua kiểm tra đánh giá HS trong giờ kể chuyện thầy cô dựa theo những tiêu chuẩn nào?” Tôi nhận được ý kiến phản hồi của các thầy cô như sau: Đối với HS lớp

4 trong bài học Kể chuyện HS phải nhớ được cốt truyện, biết cách kể lại, diễn đạt to,

rõ ràng, lưu loát, sáng tạo Sử dụng yếu tố phi ngôn ngữ: Cử chỉ, điệu bộ…, đa số thầy

cô cho rằng chỉ cần HS kể lại được tương đối nội dung chính của câu chuyện và bước đầu biết cách thể hiện giọng điệu, tín hiệu không lời là được Vì theo mặt bằng chung

số HS có kỹ năng kể chuyện hay không nhiều

Trang 29

Ý kiến các thầy cô đều thống nhất và hướng tới rằng: Muốn dạy tốt phân môn

Kể chuyện, đặc biệt đối với HS DTTS thì rất cần sự tìm tòi, sáng tạo trong dạy học

GV cần phải luôn tìm hiểu những mục tiêu, mục đích cần đạt, nội dung của từng bài

Kể chuyện để từ đó định hướng ra các PPDH phù hợp Bên cạnh đó GV cần có sự công phu sáng tạo trong việc tự làm những đồ dùng dạy học cần thiết như tranh ảnh, vật thật mô hình liên quan đến tiết dạy Kể chuyện của lớp mình Đồng thời GV cần tạo môi trường giao tiếp gần gũi, cởi mở với tất cả HS đặc biệt là HS DTTS, có thể quan tâm, khen thưởng, động viên kịp thời đến từng HS GV nên tổ chức nhiều hình thức

DH trong tuần nhằm huy động tất cả HS đều có thể tham gia học tập ở nhiều góc độ, hoàn cảnh khác nhau, gợi mở kích thích sự sáng tạo trong mỗi HS

Trên đây là thực trạng dạy học phân môn Kể chuyện ở khối lớp 4 trường TH

Vô Tranh I một trường miền núi ở tỉnh Bắc Giang Thực trạng này cho thấy các GV tiểu học trực tiếp giảng dạy đã có nhiều cố gắng để tìm ra PPDH mới nhằm nâng cao chất lượng DH phù hợp với mục tiêu giáo dục hiện nay, song để đạt được hiệu quả thực sự trong quá trình dạy và học phân môn Kể chuyện vẫn còn là một đáp án mở

Trang 30

TIỂU KẾT

Phần cơ sở lí luận và thực tiễn, đề tài đã đi sâu tìm hiểu nghiên cứu những vấn

đề chung của hoạt động kể chuyện về quan niệm, nhu cầu, mục tiêu, nhiệm vụ, nội dung và phương pháp dạy học Kể chuyện ở tiểu học Đồng thời đề tài đã nghiên cứu, tìm hiểu dựa trên các nội dung: Hoạt động dạy và học phân môn Kể chuyện của HS lớp 4 của thầy và trò trường Tiểu học Vô Tranh I - huyện Lục Nam - tỉnh Bắc Giang, điều kiện học tập của các em nơi đây còn gặp nhiều khó khăn, điều kiện sống còn thiếu thốn, nguồn sống dựa vào nông nghiệp là chủ yếu, vấn đề học tập của các em còn chưa được đầu tư thời gian nhiều Việc sử dụng ngôn ngữ phổ thông là ngôn ngữ thứ hai nên các em phát âm còn sai, nói còn ngọng do ảnh hưởng của ngôn ngữ địa phương

Từ những nguyên trên dẫn đến hoạt động dạy học phân môn Kể chuyện của GV cho

HS lớp 4 ở đây chất lượng, hiệu quả dạy và học chưa cao Với kết quả nghiên cứu về

cơ sở lý luận và thực tiễn ở trên chính là cơ sở, nền tảng, tiền đề là sự gợi ý để đề tài

đề xuất biện pháp dạy học ở chương sau một cách phù hợp

Trang 31

Chương 2

BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC KỂ CHUYỆN CHO HỌC SINH LỚP 4, TRƯỜNG TIỂU HỌC VÔ

TRANH I - HUYỆN LỤC NAM - TỈNH BẮC GIANG

Với ba kiểu bài dạy học cụ thể ở phân môn Kể chuyện, đề tài có những biện pháp dạy học tương ứng cho từng kiểu bài như sau:

2.1 Đối với kiểu bài nghe - kể lại câu chuyện vừa nghe trên lớp

2.1.1 Hướng dẫn học sinh nắm vững cốt truyện

Đây là việc làm đầu tiên và cần thiết trong quá trình chuẩn bị của người GV Để

có thể kể được câu chuyện thật sự hấp dẫn và cuốn hút người nghe, trước hết GV cần phải hướng dẫn HS thuộc, nắm vững các tình tiết của truyện, hiểu thấu đáo ý nghĩa và bài học rút ra từ truyện HS cần phải đọc nhiều lần để thâm nhập, thẩm thấu nội dung cốt truyện và cũng là để hoà mình, hình dung tưởng tượng để sống với nhân vật trong truyện Yêu cầu HS phải đọc thật kĩ, ghi nhớ lời thoại của nhân vật Nắm được chi tiết quan trọng trong tác phẩm

Khi đọc truyện, GV hướng dẫn HS cần phải sử dụng phối hợp hai hình thức đọc

đó là đọc thầm và đọc thành tiếng Đọc thầm được sử dụng khi HS tiếp xúc với câu chuyện ngay lần đầu tiên và nhằm mục đích giúp HS nắm toàn bộ nội dung câu chuyện Đọc thành tiếng có kết hợp với ngữ điệu phù hợp để tìm cho mình một giọng điệu chuẩn Khi phát âm thành tiếng vang bên tai, HS mới có thể thẩm thấu truyện kể

đó vào trong kí ức của mình Việc đọc thành tiếng còn tạo điều kiện cho HS tự kiểm tra khả năng và nghệ thuật phát âm thực tế của mình Ngoài ra, việc đọc truyện còn thể hiện được sắc thái ngôn ngữ của các nhân vật khác nhau, ngôn ngữ đối thoại theo tâm trạng nhân vật Khi đọc truyện, HS có thể dừng lại ở những chỗ quan trọng, cần thiết

để tìm hiểu sâu kĩ từng tình tiết, từ ngữ của truyện hoặc lời đối thoại của nhân vật trong truyện HS có thể lược ghi ra giấy nháp các tình tiết chính, cốt lõi của truyện để thấy rõ cả mạch của truyện Đồng thời trên cơ sở đó, HS có thể hình thành cho mình một sơ đồ thể hiện sự phát triển của các tình tiết và cốt truyện, cũng như xác lập được mối quan hệ giữa các tình tiết và chú ý các tình tiết cần nhấn mạnh Việc lược ghi còn nhằm mục đích loại bỏ bớt các tình tiết phụ hoặc trùng lặp, giúp cho HS xâu chuỗi các

Trang 32

trong khi kể chuyện Cũng trong quá trình đọc truyện, HS tìm hiểu những chú giải về

từ ngữ, địa danh, tên các nhân vật cũng như ý nghĩa và bài học rút ra của truyện

2.1.2 Hướng dẫn học sinh trau dồi nghệ thuật kể chuyện

Đọc để thâm nhập truyện là bước đầu làm quen với truyện kể Nhưng khi đó,

HS cũng chỉ mới có thể thuộc lòng và kể lại chuyện theo đúng văn bản truyện chứ chưa thể kể lại bằng lời của mình HS cần phải biến câu chuyện đó thành chuyện của bản thân mình bằng cách tập kể, nghĩa là HS tiến hành việc chuyển từ ngôn ngữ văn bản in ấn dùng để đọc (mang tính bút ngữ) sang ngôn ngữ nói của bản thân (mang tính khảu ngữ), làm được điều này có nghĩa là HS đã khắc phục được hiện tượng đọc thuộc vẹt câu chuyện cho người khác nghe HS cần chú ý kể chuyện trong trường học, khác với việc biểu diễn nghệ thuật của diễn viên Vì vậy HS chỉ cần dừng lại ở mức kể bằng lời của mình với ngôn ngữ giản dị, dễ hiểu, trong sáng, kể to, rõ ràng, rành mạch, lưu loát bằng tiếng Việt các tình tiết và kết hợp với các yếu tố phi ngôn ngữ (ánh mắt, nét mặt, cử chỉ, điệu bộ) phù hợp là được Thể hiện giọng kể có ngữ điệu, chú ý sự truyền cảm tới người nghe Làm được như vậy là HS đang rèn luyện kỹ năng kể chuyện diễn cảm, trau dồi yếu tố nghệ thuật

HS có thể kể cho các em nhỏ trong nhà, trong xóm nghe hoặc cho chính mình nghe Với mục đích là kể lại bằng lời của mình, tạo nên sự tự tin khi kể trước người khác hay nói khác là giúp HS rèn kĩ thuật nói cho mình Chú ý kết hợp các yếu tố phi ngôn ngữ Học sinh có tập đứng trước gương để kể, để tự điều chỉnh tư thế tác phong, những động tác thừa không cần thiết

Như tôi đã đề cập trong chương một, kể chuyện là một dạng độc thoại đặc biệt

Do đó để dạy học có hiệu quả, HS phải có một nghệ thuật nói, diễn đạt trước đông người Nói có liên quan mật thiết với thể chất cho nên nếu chúng ta có những khuyết điểm về bộ máy phát âm thì chúng ta phải luyện tập nhiều hơn những người may mắn vốn có sẵn năng khiếu trời phú cho giọng kể trầm ấm dễ đi vào lòng người Chúng ta cần hiểu rằng không phải cứ nói to là sẽ thu hút được người nghe Để đạt được điều

đó, lời nói cần có sự truyền cảm, giọng kể phải thể hiện được các cung bậc cảm xúc của nội dung câu chuyện và cảm xúc của người kể truyền thẳng, tác động trực tiếp tới người nghe, tạo ra một ấn tượng mạnh, sức lan tỏa, lây truyền mãnh liệt, để lại dư âm,

sự lắng đọng trong lòng người nghe, người thưởng thức, tạo nên một sự cộng hưởng sâu sắc giữa người kể chuyện và người nghe chuyện Không nói quá nhanh, không nói

Trang 33

quá chậm, không nói đều đều, không quá nhấn mạnh vào bất kì từ nào, chi tiết nào Không cố sức gào to trước đám thính giả ồn ào Lời nói cần kết hợp với ngữ điệu như

đã đề cập trong chương một

2.1.3 Sử dụng bài tập trắc nghiệm giúp học sinh nghe (hiểu và nhớ)

Biện pháp này chỉ áp dụng đối với HS trung bình hoặc yếu nhằm giúp các em nghe và ghi nhớ tốt hơn Đồng thời việc sử dụng biện pháp này còn nhằm mục đích tập trung sự chú ý của các em Khi sử dụng biện pháp này, GV cần lưu ý đây là biện pháp nhằm hổ trợ cho học HS trong việc nghe hiểu và nhớ nội dung câu chuyện, tuyệt đối

GV không được xem đây là bài tập kiểm tra vì như thế sẽ làm cho giờ kể chuyện nặng

nề thêm Trong biện pháp này, GV chuẩn bị một số bài tập dạng trắc nghiệm thể hiện nội dung cơ bản của truyện Những bài tập gợi ý này sẽ làm chỗ dựa giúp HS ghi nhớ một số tình tiết quan trọng cũng như nội dung chính của câu chuyện Bài tập này được

HS thực hiện khi nghe GV kể lần thứ hai Một số dạng bài tập chúng ta có thể xây dựng là:

- Trắc nghiệm về số nhân vật có trong truyện

- Yêu cầu các em sắp xếp các tình tiết cho đúng với trình tự xuất hiện của chúng trong truyện

- Yêu cầu tìm tình tiết đúng trong truyện

- Trắc nghiệm ghép đôi: Ghép các ý sao cho được các tình tiết đúng

- Điền từ ngữ thích hợp vào chỗ trống để được tình tiết đúng có trong truyện

- Tìm ý thể hiện đúng nội dung của từng đoạn

Sau đây tôi xin giới thiệu một số bài tập tôi đã xây dựng được:

BÀI 1: CON VỊT XẤU XÍ (LỚP 4)

Câu 1: Truyện con vịt xấu xí của tác giả nào?

1 Andecxen

2 Tô Hoài

3 Trần Đăng Khoa

Đáp án: a Andecxen

Câu 2: Khoanh vào chữ cái trước chi tiết có trong đoạn 2 của truyện:

a Thiên nga buồn vì không có bạn

b Thiên nga con rất vui vì chơi cùng lũ vịt con

Trang 34

Đáp án: a Thiên nga buồn vì không có bạn

Câu 3 Tại sao vợ chồng thiên nga gửi lại con cho mẹ vịt trông giúp?

a Vì thiên nga con quá nhỏ và yếu ớt không thể tiếp tục đi tránh rét được

b Vì thiên nga mẹ không muốn cho thiên nga con đi cùng

c Vì đàn vịt con quá ít nên vịt mẹ muốn nuôi thiên nga con

Đáp án: a Vì thiên nga quá nhỏ và yếu ớt không thể tiếp tục đi tránh rét được

Câu 4 Hãy sắp xếp lại các ý sau cho đúng với trình tự xuất hiện của các chi tiết trong truyện:

a Thiên nga con theo bố mẹ bay đi Đàn vịt ngước nhìn theo bàn tán ngạc nhiên

b Vịt mẹ dẫn đàn con ra ao Thiên nga con đi sau cùng trông rất cô đơn, lẻ loi

c Vợ chồng thiên nga gửi con lại cho vịt mẹ trông giúp

d Vợ chồng thiên nga xin lại thiên nga con và cảm ơn vịt mẹ cùng đàn vịt con

ra một điểm tựa giúp HS dễ dàng khi kể lại chuyện

Giới thiệu hệ thống câu hỏi hướng dẫn đặt lời thuyết minh cho tranh của một số bài như sau:

BÀI 1: CON VỊT XẤU XÍ (LỚP 4)

Tranh 1: Búp bê bị bỏ quên ở đâu?

Tranh 2: Tại sao búp bê lại khóc?

Tranh 3: Đêm tối búp bê đã làm hành động gì?

Tranh 4: Cô bé tốt bụng đã nhìn thấy búp bê nằm ở đâu?

Tranh 5: Cô bé đã làm gì cho búp bê?

Tranh 6: Trong tình yêu thương của cô chủ mới búp bê sống một cuộc sống như thế nào?

Đáp án:

Trang 35

1 Búp bê bị bỏ quên trên nóc tủ cùng các đồ chơi khác

2 Búp bê khóc ví mùa đông búp bê không có váy, áo búp bê bị lạnh cóng, tủi thân nên khóc

3 Đêm tối búp bê của cô chủ đi ra phố

4 Một cô bé tốt bụng đã nhìn thấy búp bê nằm trong đống lá khô

5 Cô bé đã may váy, áo mới cho búp bê

6 Búp bê sống một cuộc sống hạnh phúc trong tình yêu thương của cô chủ mới Như vậy việc sử dụng câu hỏi gợi ý hướng dẫn HS đặt lời thuyết minh cho tranh có vai trò, ý nghĩa rất quan trọng, qua các bức tranh trong SKG giúp các em hiểu được sâu sắc, nhớ nội dung câu chuyện tốt hơn

2.2 Đối với kiểu bài kể chuyện đã nghe đã đọc

2.2.1 Lập tủ sách để cung cấp tư liệu cho giáo viên và học sinh của trường học

Đây là một biện pháp thật sự cần thiết và có ích cho cả GV và HS Vì trong thực tế việc sưu tầm truyện của HS là rất khó, các em đa số kể các câu chuyện có trong SGK mà các em vừa được học Điều này chưa phát huy hết mục đích của kiểu bài này

là rèn thói quen ham thích đọc sách cho các em Một số HS muốn có được câu chuyện hay các em phải tìm mua bằng được những quyển sách GV giới thiệu, như thế sẽ rất tốn kém cho phụ huynh Tủ sách sẽ là nguồn cung cấp tư liệu vô cùng quí báu không chỉ cho HS mà còn cho cả GV Đối với GV, biện pháp này sẽ hạn chế được tình trạng

HS kể những câu chuyện mà bản thân GV chưa biết Tôi nghĩ mỗi trường nên có một

tủ sách chuyên phục vụ cho việc dạy học kiểu bài này

Tôi xin giới thiệu một số bản sách cần có trong tủ sách tư liệu của chúng ta: Bộ truyện đọc từ lớp1 đến lớp 4 chương trình cải cách giáo dục và chương trình 2000, đây

là hai bộ sách được nhà xuất bản giáo dục ấn hành; Truyện kể lịch sử lớp 4 chương trình cải cách giáo dục của NXB GD; Tuyển tập Việt sử giai thoại (tám tập) do Nguyễn Khắc Thuần sưu tầm biên soạn – NXB GD; Thần đồng xưa của nước ta, Quốc Chấn biên soạn, NXB GD; các loại báo dành cho tuổi thiếu niên như: Nhi đồng, Thiếu niên, Hoa học trò, một số báo trung ương hoặc địa phương có trang “Người tốt việc tốt”, sưu tầm các băng đĩa về các câu chuyện cổ tích để chiếu cho các em xem trong các giờ ngoại khóa

Ngoài ra chúng ta cũng có thể giới thiệu và khuyến khích các em xem các

Trang 36

Việt Nam; Gương người tốt việc tốt; Làm giàu không khó; Vượt lên chính mình; Nông dân làm giàu Hoặc có thể khuyến khích các em chọn nghe các chương trình của đài phát thanh: Người tốt việc tốt; Chương trình thiếu nhi Có thể khuyến khích GV, phụ huynh HS đóng góp vào tủ sách hằng năm để tủ sách ngày càng phong phú đầu sách

Như vậy phương pháp lập tủ sách cho GV và HS là phương pháp có vai trò, ý nghĩa rất quan trọng đối với người dạy và người học Tủ sách luôn là người thầy trung thành và mẫu mực nhất đối với mỗi chúng ta và nó lại càng quan trọng hơn bao giờ hết đối với mỗi HS tiểu học

2.2.2 Tổ chức các hoạt động ngoại khóa nói chuyện về các anh hùng, các danh nhân, các gương người tốt việc tốt nhân các ngày lễ, các ngày kỉ niệm

Đây là biện pháp hết sức cần thiết nhằm giúp HS có được những thông tin bổ ích để phục vụ cho kiểu bài này Theo từng ngày lễ, ngày kỉ niệm, các em thu thập được nhiều những câu chuyện về các danh nhân, các anh hùng của dân tộc cũng như các gương người tốt việc tốt Việc làm này còn góp phần giáo dục truyền thống cho các em HS Tôi nghĩ rằng nếu một trường tổ chức tốt các buổi nói chuyện như thế thì

sẽ giúp ích HS rất nhiều trong học tập

Cụ thể việc tổ chức các buổi nói chuyện vào các ngày lễ và gắn với các chủ đề của phân môn như sau:

Ngày Tết Trung Thu: Chúng ta có thể nói cho các em nghe tấm gương biết mang lại niềm vui cho người khác (ứng với đề bài tuần 17)

Ngày 20 tháng 10: Chúng ta sẽ cho các em nghe về những nhân vật nữ có tài hoặc những nữ anh hùng của Việt Nam (ứng với đề bài tuần 30)

Ngày 20 tháng 11: Các em sẽ được nghe những câu chuyện về truyền thống tôn

sư trọng đạo của nhân dân Việt Nam ta (ứng với tuần 26)

Ngày 22 tháng 12: Những câu chuyện về quân đội nhân dân Việt Nam góp phần bảo vệ an ninh là những câu chuyện mà các em sẽ được nghe trong ngày này (ứng với tuần 23)

Ngày 26 tháng 3: Các câu chuyện về những đoàn viên thanh niên đã chăm sóc, giáo dục, bảo vệ trẻ em sẽ được giới thiệu tới các em (ứng với tuần 33)

Những câu chuyện gắn với các chủ đề như trên sẽ góp phần giải quyết những khó khăn trong việc sưu tầm văn bản truyện cho các em

Trang 37

Ví dụ:

Kể một câu chuyện em đã được nghe hoặc được đọc về tinh thần lạc quan, yêu đời

Gợi ý:

- Em hãy tìm ví dụ về tinh thần thần lạc quan yêu đời:

+ Nhân vật đó là ai? Ví dụ như người chiến sĩ cách mạng bị địch giam cầm vẫn tin vào thắng lợi của cách mạng, vui sống để tiếp tục chiến đấu (Bác Hồ trong bài Ngắm trăng, Võ Thị Sáu, Phan Đình Diện, )

+ Việc làm thể hiện tinh thần lạc quan của các nhân vật đó là gì? Ví dụ nhiều người gặp khó khăn hoặc rơi vào hoàn cảnh không may vẫn tha thiết với cuộc sống, phấn đấu để vượt qua (như nhân vật Giôn trong truyện Khát vọng sống của Lơn-đơn)

+ Tinh thần Lạc quan, yêu đời còn thể hiện ở các hoạt động gì? Tinh thần lạc quan, yêu đời còn thể hiện ở sự ham thích thể thao, văn nghệ, ưa hoạt động, ưa hài hước,

- Em hãy tìm những câu chuyện trong sách báo về tinh thần lạc quan, yêu đời? + Các truyện về anh hùng, danh nhân

+ Các truyện về gương tốt xưa và nay

+ Các nhân vật là tấm gương sáng cho mọi người noi theo ở nơi em sống

- GV tổ chức cho HS kể chuyện theo nhóm hoặc cá nhân về các nhân vật anh hùng, các tấm gương tốt

+ Em hãy giới thiệu về câu chuyện đó?

+ Tên câu chuyện đó là gì?

+ Có những nhân vật nào?

+ Diễn biến của câu chuyện đó sảy ra như thế nào?

- GV tổ chức cho HS trao đổi với các bạn trong nhóm về ý nghĩa của câu chuyện

+ Qua câu chuyện trên em rút ra được bài học cuộc sống là gì?

+ Em học được những gì qua buổi trò chuyện hoặc trao đổi với các nhân vật đó?

Như vậy phương pháp Tổ chức các hoạt động ngoại khóa nói chuyện về các anh hùng, các danh nhân, các gương người tốt việc tốt nhân các ngày lễ, các ngày kỉ

Trang 38

niệm là phương pháp có vai trò rất quan trọng trong việc khơi gợi hứng thú, không khí vui tươi cho các em trong giờ học Kể chuyện

2.2.3 Sử dụng câu hỏi hướng dẫn học sinh lập dàn ý của câu chuyện và kể lại câu chuyện

Sở dĩ tôi đưa ra biện pháp này là do HS chưa biết cách ghi nhớ nên các em khó

có thể nhớ chính xác các tình tiết cũng như diễn biến của câu chuyện Việc hướng dẫn các em lập dàn ý và kể lại sẽ giúp các em hình dung lại câu chuyện một cách đầy đủ và chính xác hơn Để từ đó các em nhớ và kể lại câu chuyện tốt hơn Lập dàn ý trong Kể chuyện khác với kiểu bài Kể chuyện trong phân môn Tập làm văn ở chỗ: Dàn ý trong

Kể chuyện khái quát hơn, không chi tiết như trong Tập làm văn

Việc sử dụng câu hỏi hướng dẫn HS kể lại có phần giống như kiểu bài Nghe -

kể câu chuyện vừa nghe thầy cô kể trên lớp, đối với những câu chuyện HS kể mà GV

biết Còn đối với những câu chuyện của HS mà GV chưa biết thì GV sẽ sử dụng câu hỏi gợi ý theo lô gic, theo chiều diễn biến của câu chuyện Ví dụ có thể hỏi những câu như: Tiếp theo nhân vật đó sẽ làm gì? Hay “Trong trường hợp ấy, người đó phản ứng (xử sự) ra sao?”

Tôi xin giới thiệu một số ví dụ chúng tôi đã xây dựng được sau đây Trong phần này tôi chỉ giới thiệu những câu hỏi hướng dẫn cho những đề tài mà SGK chưa hướng dẫn Chủ yếu tôi hướng dẫn HS kể diễn biến câu chuyện

Tuần 2 Hãy kể lại một câu chuyện em đã được nghe hoặc đã được đọc nói về tình yêu thương giữa con người với con người (Nàng tiên Ốc)

Gợi ý:

- Bà lão nghèo trong truyện làm nghề gì để kiếm sống?

- Con Ốc bà bắt được có gì lạ?

- Bà đã làm gì khi bắt được Ốc?

- Từ khi có Ốc bà lão thấy trong nhà có gì lạ?

- Khi rình xem bà lão thấy điều gì kì lạ?

- câu chuyện kết thúc như thế nào?

Như vậy phương pháp sử dụng câu hỏi hướng dẫn học sinh lập dàn ý của câu chuyện và kể lại câu chuyện là phương pháp có vai trò, ý nghĩa rất quan trọng đối với

HS Sử dụng câu hỏi hướng dẫn HS lập dàn ý giúp cho các em kể lại được câu chuyện tốt hơn, mạch lạc hơn mà không bị thiếu chi tiết trong câu chuyện

Ngày đăng: 03/11/2016, 15:55

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Duy Bình - Dạy văn dạy cái hay cái đẹp - NXB Giáo Dục, 1983 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy văn dạy cái hay cái đẹp
Nhà XB: NXB Giáo Dục
2. Hoàng Hoà Bình - Dạy văn cho học sinh tiểu học - NXB Giáo Dục, 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy văn cho học sinh tiểu học
Nhà XB: NXB Giáo Dục
3. Hoàng Văn Cẩn - Dạy học tác phẩm văn học dành cho thiếu nhi - NXB Giáo Dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học tác phẩm văn học dành cho thiếu nhi
Nhà XB: NXB Giáo Dục
4. Đỗ Lê Chẩn, Nguyễn Thị Ngọc Bảo - Kể chuyện 1 - NXB Giáo Dục, 1981 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kể chuyện 1
Nhà XB: NXB Giáo Dục
5. Phan Phương Dung, Dương Thị Hương, Lê Phương Nga, Ðỗ Xuân Thảo - Thiết kế bài giảng Tiếng Việt 5 - NXB Ðại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiết kế bài giảng Tiếng Việt 5
Nhà XB: NXB Ðại học Sư phạm
6. Phạm Đăng Dư - Lý luận văn học - NXB Đại học Sư phạm Hà Nội, 1994 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận văn học
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm Hà Nội
7. Hồ Ngọc Đại - Tâm lý học dạy học - NXB Giáo Dục, 1983 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học dạy học
Nhà XB: NXB Giáo Dục
9. Lê Văn Hồng, Lê Ngọc Lan - Tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm - NXB Giáo Dục, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm
Nhà XB: NXB Giáo Dục
11. I-A.Rez - Phương pháp luận dạy văn học (Phan Thiều dịch) - NXB Giáo Dục, 1983 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp luận dạy văn học
Nhà XB: NXB Giáo Dục
12. Ibalinốpki - Nghệ thuật nói chuyện của tuyên truyền viên - NXB VHNT, 1962 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật nói chuyện của tuyên truyền viên
Nhà XB: NXB VHNT
13. Kak-hai-nơ-dich - Dạy trẻ học nói như thế nào (Đỗ Thanh dịch) - NXB Giáo Dục, 1990 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy trẻ học nói như thế nào
Nhà XB: NXB Giáo Dục
14. Vũ Ngọc Khánh - Cách dạy Tập làm văn miệng và luyện nói cấp 2, 3 - NXB Giáo Dục, 1963 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cách dạy Tập làm văn miệng và luyện nói cấp 2, 3
Nhà XB: NXB Giáo Dục
15. Nguyễn Xuân Khoa - Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo - NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
16. M.K-bogoliupxkaia, V.V.Seplsenko - Đọc và kể chuyện văn học ở vườn trẻ (Lê Đức Mẫn dịch) - NXB Giáo Dục, 1976 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đọc và kể chuyện văn học ở vườn trẻ
Nhà XB: NXB Giáo Dục
17. Vũ Tú Nam, Phạm Hổ, Bùi Hiển, Nguyễn Quang Sáng - Văn miêu tả và kể chuyện - NXB Giáo Dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn miêu tả và kể chuyện
Nhà XB: NXB Giáo Dục
18. Lê Phương Nga, Nguyễn Trí - Phương pháp dạy học Tiếng Việt 2 - NXB Giáo Dục, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học Tiếng Việt 2
Nhà XB: NXB Giáo Dục
19. Đào Ngọc, Nguyễn Quang Ninh - Rèn luyện kĩ năng sử dụng Tiếng Việt - Vụ giáo viên, 1993 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rèn luyện kĩ năng sử dụng Tiếng Việt
20. Ngkazanski, T.S. Nazarova - Lý luận dạy học cấp một (Phan Tất Đắc dịch) - NXB Giáo Dục, 1983 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận dạy học cấp một
Nhà XB: NXB Giáo Dục
21. Nguyễn Thị Tuyết Nhung, Phạm Thị Việt - Phương pháp cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học - NXB Ðại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học
Nhà XB: NXB Ðại học Quốc gia Hà Nội
22. NS. Savin - Giáo dục học, tập1 - NXB Giáo Dục, 1983 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục học, tập1
Nhà XB: NXB Giáo Dục

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w