1. Lý do chọn đề tài Hội nhập kinh tế quốc tế đang trở thành một xu thế khách quan của quá trình phát triển hiện đại, mở ra nhiều cơ hội phát triển cũng như những thách thức to lớn cho mỗi quốc gia, đặc biệt là đối với các nước đang phát triển trước sức ép cạnh tranh gay gắt. Thực tiễn đang đòi hỏi chúng ta phải có các biện pháp tăng cường sự chủ động của nền kinh tế, tái cấu trúc lại mô hình phát triển. Trong đó, phát triển CNHT được coi là một giải pháp thiết thực. Tuy nhiên, ở Việt Nam, CNHT mới chỉ đang bắt đầu phát triển, quy mô nhỏ lẻ, chủ yếu sản xuất các linh kiện chi tiết đơn giản, GTGT thấp. Bên cạnh đó, hệ thống luật pháp và chính sách chưa đủ mạnh để tạo điều kiện về môi trường pháp lý, định hướng và khuyến khích đầu tư, phát triển CNHT. Nhà nước cần hỗ trợ mạnh mẽ, mang tính chiến lược và có hiệu quả hơn, thể hiện bằng các chính sách cụ thể, riêng cho từng ngành CNHT. Dệt may là một ngành công nghiệp quan trọng trong thời kỳ đầu của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Việt Nam. Với tốc độ tăng trưởng trung bình trong giai đoạn 2008-2013 là 14,5%/năm, Việt Nam là một trong những quốc gia có tốc độ tăng trưởng ngành dệt may lớn nhất thế giới. Trong bối cảnh ngành dệt may trên thế giới đang diễn ra quá trình cạnh tranh giữa các quốc gia nhằm giành giật và chiếm lĩnh thị trường, nhưng ngành CNHT dệt may Việt Nam vẫn chưa phát triển là một trong những thách thức lớn trong việc khai thác những lợi ích từ các Hiệp định thương mại tự do như TPP, FTA EU – Việt Nam được kỳ vọng sẽ thông qua trong thời gian tới. Để đảm bảo sự phát triển cân đối và bền vững, đặc biệt trong điều kiện cạnh tranh gay gắt, Việt Nam cần phải có một chiến lược phát triển CNHT dệt may phù hợp để nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành dệt may trong hội nhập quốc tế, quyết định sự thắng lợi của quá trình CNH - HĐH đất nước. Vì những lí do như trên, tôi chọn đề tài: “Chính sách phát triển công nghiệp hỗ trợ ngành Dệt may Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn cao học của mình. * Tình hình nghiên cứu Liên quan đến chủ đề về công nghiệp hỗ trợ, đã có một số đề tài trong nước tiến hành nghiên cứu như: - “Chính sách phát triển công nghiệp hỗ trợ ở Việt Nam đến năm 2020”, Đề tài NCKH cấp Nhà nước năm 2010 do GS.TS Hoàng Văn Châu chủ biên. Đề tài đã khái quát chung về chính sách phát triển CNHT, thực trạng phát triển CNHT và chính sách phát triển CNHT các ngành chủ chốt của Việt Nam, đề xuất chính sách phát triển CNHT của Việt Nam đến năm 2020. - “Công nghiệp hỗ trợ - Kinh nghiệm từ các nước và giải pháp” của tập thể giáo viên trường Đại học Ngoại thương do GS.TS Hoàng Văn Châu chủ biên năm 2009. Đề tài đã mô tả bức tranh chân thực về CNHT của Việt Nam, kinh nghiệm phát triển CNHT của một số nước trên thế giới. -“Phát triển công nghiệp phụ trợ trong chính sách phát triển công nghiệp Việt Nam” – một bài viết của GS.TS Nguyễn Kế Tuấn đăng trên Tạp chí Kinh tế và Phá triển số 85 (tháng 7, năm 2004). Trong bài viết này, tác giả đã khái quát các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển CNHT của các ngành công nghiệp nói chung, trong đó có dệt may, trên cơ sở đó đưa ra các quan điểm lựa chọn chiến lược và chính sách phát triển CNHT. - Sách chuyên khảo “Phát triển công nghiệp hỗ trợ ở Việt Nam: Lý thuyết, thực tiễn và chính sách” của PGS.TS Lê Thế Giới, NXB Chính trị Quốc gia 2010. Trên cơ sở giới thiệu các khái niệm, bản chất, đặc điểm, hệ thống lý luận và hệ thống chính sách về CNHT, tác giả đề xuất các giải pháp về chính sách vĩ mô và thị trường nhằm thúc đẩy sự phát triển của CNHT ở Việt Nam hiện nay. Tuy nhiên, chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách cụ thể, toàn diện về Chính sách phát triển CNHT Việt Nam, đặc biệt là gắn với phân tích thực trạng phát triển của CNHT ngành Dệt may Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, chuẩn bị gia nhập TPP. 2. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu - Xây dựng khung lý luận về chính sách phát triển CNHT ngành dệt may; - Phân tích thực trạng chính sách phát triển CNHT ngành Dệt may Việt Nam; - Đề xuất phương hướng và giải pháp hoàn thiện chính sách phát triển công nghiệp hỗ trợ ngành Dệt may đến năm 2025. 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu a. Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu: Chính sách phát triển CNHT ngành Dệt may. b. Phạm vi nghiên cứu - Về nội dung: luận văn tập trung nghiên cứu một số chính sách cơ bản phát triển CNHT, bao gồm các chính sách: Chính sách thu hút vốn đầu tư; Chính sách phát triển khoa học công nghệ; Chính sách phát triển nguồn nhân lực; Chính sách tài chính; Chính sách tăng cường thông tin và liên kết các doanh nghiệp. - Về thời gian, không gian: Nội dung nghiên cứu được gắn với thực trạng tại Việt Nam trong giai đoạn 2010 - 2014. Từ những đánh giá thu được luận văn đề xuất một số giải pháp hoàn thiện chính sách phát triển CNHT dệt may Việt Nam tầm nhìn đến năm 2025.
Trang 1nguyÔn ph¬ng hoa
chÝnh s¸ch ph¸t triÓn c«ng nghiÖp hç trî
ngµnh dÖt may viÖt nam
Chuyªn ngµnh: qu¶n lý kinh tÕ vµ chÝnh s¸ch
Ngêi híng dÉn khoa häc :
PGS.TS MAI V¡N B¦U
Trang 3Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi Các số liệu sử dụng phân tích trong luận văn có nguồn gốc rõ ràng, đã công bố theo quy định Những kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là hoàn toàn trung thực, khách quan, không vi phạm bất cứ điều gì trong Luật sở hữu trí tuệ
và pháp luật Việt Nam
Hà Nội, ngày tháng năm 2015
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Nguyễn Phương Hoa
Trang 4Trong suốt thời gian nghiên cứu và học tập tại Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, dưới sự chỉ dạy, hướng dẫn tận tình của các thầy cô tại Khoa Khoa học Quản
lý, Viện Đào tạo Sau Đại học, tôi đã nghiên cứu và tiếp thu được nhiều kiến thức bổ ích để vận dụng vào công việc hiện tại nhằm nâng cao trình độ năng lực năng lực của bản thân
Luận văn “Chính sách phát triển công nghiệp hỗ trợ ngành Dệt may Việt Nam” là kết quả của quá trình nghiên cứu trong những năm học vừa qua
Tôi xin dành lời cảm ơn trân trọng nhất tới PGS.TS.Mai Văn Bưu - người đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi về mọi mặt trong quá trình thực hiện luận văn
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo đã tham gia giảng dạy, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập
Xin cảm ơn các đồng nghiệp, bạn bè và gia đình đã giúp đỡ, động viên, tạo điều kiện cho tôi trong quá trình học tập và hoàn thành bản luận văn này
Hà Nội, ngày tháng năm 2015
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Nguyễn Phương Hoa
Trang 5Ký hiệu Chú thích (Tiếng việt) Chú thích (Tiếng Anh)
DNNN Doanh nghiệp Nhà nước
DNVVN Doanh nghiệp vừa và nhỏ
ĐTNN Đầu tư nước ngoài
FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài Foreign Direct InvestmentFTA Hiệp định thương mại tự do Free Trade AgreementGTGT Giá trị gia tăng
GTSX Giá trị sản xuất
KH&CN Khoa học công nghệ
NSNN Đầu tư nước ngoài
TNDN Thu nhập doanh nghiệp
TPP Hiệp định đối tác kinh tế chiến lược
xuyên Thái Bình Dương
Trans-Pacific Strategic Economic PartnershipVDF Diễn đàn phát triển Việt Nam Vietnam Development
ForumVITAS Hiệp hội Dệt may Việt Nam Vietnam Textile &
Apparel Association
Trang 6nguyÔn ph¬ng hoa
chÝnh s¸ch ph¸t triÓn c«ng nghiÖp hç trî
ngµnh dÖt may viÖt nam
Chuyªn ngµnh: qu¶n lý kinh tÕ vµ chÝnh s¸ch
Ngêi híng dÉn khoa häc :
PGS.TS MAI V¡N B¦U
Trang 8TÓM TẮT LUẬN VĂN
CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN
CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ NGÀNH DỆT MAY
Chương này của luận văn đã làm rõ khái niệm và đặc điểm, vai trò của CNHT ngành dệt may; khái niệm, mục tiêu, tiêu chí đánh giá, một số chính sách của chính sách phát triển CNHT ngành dệt may và những yếu tố ảnh hưởng đến chính sách phát triển CNHT ngành dệt may Bên cạnh đó, từ kinh nghiệm của một số nước như Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam về chính sách phát triển CNHT dệt may
Các yếu tố ảnh hưởng đến chính sách:
- Yếu tố trong nước: thể chế kinh tế - chính trị - xã hội trong nước, mục tiêu và
chiến lược phát triển kinh tế, quy hoạch phát triển công nghiệp quốc gia, quy hoạch phát triển CNHT, quy hoạch phát triển ngành dệt may; điều kiện về các nguồn lực
- Yếu tố nước ngoài: các hiệp định thương mại tự do Việt Nam đã ký kết và
những quy định liên quan; xu hướng phát triển và trình độ phát triển CNHT dệt may thế giới và chuỗi giá trị dệt may toàn cầu
Bài học kinh nghiệm về chính sách phát triển CNHT ngành dệt may cho Việt Nam:
- Thứ nhất, cần có sự hỗ trợ mạnh mẽ từ phía Nhà nước;
- Thứ hai, đầu tư có trọng điểm và đầu tư theo hướng hiện đại;
- Thứ ba, xây dựng các quan hệ liên kết kinh tế chặt chẽ;
- Thứ tư, thu hút vốn ĐTNN, thúc đẩy buôn bán và tạo điều kiện khuyến khích xuất khẩu;
- Thứ năm, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho CNHT dệt may
CHƯƠNG II THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ NGÀNH DỆT MAY VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2010 – 2014
Trong chương này, luận văn trình bày thực trạng về ngành CNHT dệt may Việt Nam chủ yếu trong giai đoạn 2010 – 2014 Từ kết quả phát triển của ngành CNHT dệt may Việt Nam, luận văn đi sâu phân tích thực trạng các chính sách tác động đến
Trang 9ngành CNHT dệt may trong giai đoạn 2010 – 2014, bao gồm các chính sách: chính sách thu hút FDI, chính sách phát triển KH&CN, chính sách phát triển nguồn nhân lực, chính sách tăng cường thông tin, liên kết doanh nghiệp, chính sách tài chính Luận văn cũng thực hiện đánh giá chính sách phát triển CNHT dệt may theo hai hướng: đánh giá kết quả thực hiện mục tiêu chính sách (theo tiêu chí đánh giá) và đánh giá các chính sách phát triển CNHT ngành dệt may (điểm mạnh, điểm yếu, nguyên nhân).
Đánh giá kết quả thực hiện mục tiêu chính sách phát triển CNHT ngành dệt may:
Thành công của chính sách: Tỷ lệ nội địa hóa ngành dệt may đang dần được nâng lên, góp phần xây dựng ngành dệt may trở thành ngành công nghiệp mũi nhọn, phát triển bền vững Đồng thời, từ năm 2012 Việt Nam đã bắt đầu xuất khẩu các sản phẩm CNHT dệt may có chất lượng cao
Hạn chế: là tỷ lệ nội địa hóa của ngành dệt may vẫn còn thấp, chưa đạt được mức kỳ vọng đặt ra Giá trị xuất khẩu các sản phẩm CNHT dệt may còn rất nhỏ (chiếm khoảng 10% tổng giá trị xuất khẩu toàn ngành dệt may), chủng loại còn khiêm tốn (chủ yếu là xơ sợi)
Đánh giá các chính sách phát triển CNHT ngành dệt may
Những điểm mạnh của chính sách
- Chính sách phát triển CNHT dệt may Việt Nam đang dần được hình thành
và hoàn thiện, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động đầu tư và sản xuất các sản phẩm CNHT dệt may
- Chính sách thu hút FDI vào lĩnh vực CNHT dệt may đã có nhiều giải pháp
ưu đãi về cơ sở hạ tầng, công nghệ, thu hút được số lượng lớn vốn đầu tư từ nhiều NĐT nước ngoài
- Chính sách phát triển KH&CN cho ngành CNHT dệt may thông qua các Quỹ phát triển KH&CN quốc gia đã khuyến khích được các doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư vào khâu nghiên cứu, chế tạo ra những sản phẩm mới, có hàm lượng công nghệ cao (đặc biệt là các sản phẩm xơ sợi tổng hợp), góp phần nâng cao năng lực sản xuất, nâng cao năng suất, hạ giá thành sản phẩm, tăng sức cạnh tranh
- Chính sách phát triển nguồn nhân lực đã thực hiện nhiều giải pháp thúc đẩy hoạt động đào tạo, nâng cao tay nghề, đáp ứng kịp thời nhu cầu về nguồn nhân lực ngày càng gia tăng trong lĩnh vực dệt may Hoạt động liên kết giữa các doanh nghiệp trong ngành với các trung tâm đào tạo nghề đã tạo được sự nhịp nhàng trong cung – cầu lao động, đảm bảo chất lượng lao động phù hợp với thực tế yêu cầu
Trang 10- Chính sách tăng cường thông tin, liên kết doanh nghiệp được đưa ra và thực hiện một cách quyết liệt thông qua nhiều hoạt động tọa đàm, triển lãm, hội thảo, hội chợ Các Hiệp hội được thành lập đã góp phần không nhỏ trong vai trò định hướng, liên kết hoạt động của các doanh nghiệp.
- Chính sách tài chính cho phát triển CNHT dệt may giữ vai trò quyết định thành công của chính sách phát triển CNHT dệt may Các công cụ trong chính sách tài chính được đưa ra và sử dụng linh hoạt, có hiệu quả như: ưu đãi về thuế TNDN, thuế xuất nhập khẩu, ưu đãi về tiền thuê đất, mặt bằng sản xuất… Đặc biệt là công cụ hỗ trợ tín dụng như lãi suất, bảo lãnh tín dụng đã có những hỗ trợ tích cực cho các DNVVN, tháo gỡ được khó khăn lớn nhất của các doanh nghiệp, tạo điều kiện thúc đẩy các doanh nghiệp này đầu tư phát triển sản xuất vào lĩnh vực vốn nhiều rủi ro này
Một số hạn chế trong chính sách phát triển CNHT dệt may
- Nhà nước vẫn chưa có chính sách phát triển dành riêng cho ngành CNHT dệt may, thiếu quyết tâm và các hoạt động hỗ trợ cụ thể để phát triển ngành Quá trình tổ chức thực thi các chính sách phát triển CNHT còn nhiều điểm bất cập Hiệu quả thực thi của các chính sách đã ban hành không cao
- Các giải pháp thu hút vốn FDI chưa thực sự tạo ra các sức hút lớn đối với các NĐT nước ngoài
- Chính sách phát triển KH&CN đối với lĩnh vực CNHT dệt may chưa đạt được hiệu quả cao Các sáng chế công nghệ trong lĩnh vực CNHT dệt may còn rất
ít, đặc biệt là trong lĩnh vực tạo ra các loại sợi tổng hợp nhân tạo
- Vấn đề đào tạo nhân lực để đáp ứng được yêu cầu phát triển của ngành CNHT dệt may còn yếu và thiếu
- Trong chính sách tăng cường thông tin, liên kết doanh nghiệp, các chính sách phát triển khu, cụm công nghiệp vẫn chỉ tập trung vào số lượng, thiếu quy hoạch đồng bộ trên phạm vi cả nước
- Chính sách tài chính cho phát triển CNHT dệt may với nhiều công cụ thực hiện tồn tại nhiều bất cập:
+ Chính sách hỗ trợ và bảo lãnh tín dụng đầu tư của Việt Nam tuy đã có nhưng mang tính chất đơn lẻ, đặc biệt chưa có sự gắn kết rộng rãi quyền lợi của các bên; Lãi suất ưu đãi trên thực tế vẫn còn cao đối với các doanh nghiệp
+ Các ưu đãi về thuế đã có nhưng vẫn chưa đáp ứng đủ nhu cầu hỗ trợ từ các doanh nghiệp Ưu đãi về thuế GTGT gần như chưa có đối với sản phẩm CNHT dệt may
+ Chính sách về ưu đãi miễn giảm tiền sử dụng đất, tiền thuê đất theo pháp luật về khuyến khích đầu tư, cho đối tượng chính sách cũng còn bất cập
Trang 11Nguyên nhân của các hạn chế
- Các chính sách thay đổi quá nhanh và thiếu nhất quán, thiếu sự thông tin và
tư vấn kịp thời ; sự kết hợp giữa các chính sách hỗ trợ tác động tích cực đến ngành dệt may còn yếu, khả năng tiếp cận các ưu đãi không dễ dàng do quy trình thường phức tạp và thiếu tiêu chí cụ thể
- Với nguồn lực ngân sách nhà nước còn eo hẹp, phần đầu tư cho ngành CNHT rất hạn chế Các doanh nghiệp rất khó tiếp cận sự hỗ trợ của Nhà nước
- Quá trình hoạch định các chính sách thiếu sự tham gia của cộng đồng kinh doanh và cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa các Bộ, ban ngành
CHƯƠNG III PHƯƠNG HƯỚNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ NGÀNH DỆT MAY
VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2025
Trong chương này, luận văn khái quát phương hướng và mục tiêu phát triển CNHT ngành dệt may Việt Nam đến năm 2025 Căn cứ vào phương hướng và mục tiêu phát triển nêu trên, kết hợp với thực trạng đã phân tích ở chương 2, luận văn đề xuất một số giải pháp hoàn thiện chính sách phát triển CNHT ngành dệt may Việt Nam Cụ thể:
(1) Hoàn thiện chính sách thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài
Trong mục này, luận văn nêu lên định hướng trong thu hút FDI và đề xuất một số giải pháp tăng cường thu hút FDI cho ngành CNHT dệt may liên quan đến hoàn thiện hệ thống pháp luật về đầu tư, cải thiện môi trường đầu tư, các chính sách
ưu đãi, quản lý chất lượng nguồn vốn FDI…
(2) Hoàn thiện chính sách phát triển KH&CN cho phát triển CNHT ngành dệt may
Các giải pháp được đưa ra tập trung vào hoạt động đổi mới công nghệ, thúc đẩy đầu tư ứng dụng công nghệ mới vào sản xuất Trong đó những hỗ trợ về tài chính để đổi mới công nghệ là hết sức quan trọng Bên cạnh các chương trình từ nguồn ngân sách KH&CN của Nhà nước, cần chủ động hợp tác quốc tế, kêu gọi sự
hỗ trợ về mặt công nghệ cho các doanh nghiệp trong lĩnh vực CNHT từ tài trợ của các tổ chức nước ngoài có kinh nghiệm trong phát triển CNHT ngành dệt may
Cùng với đó là việc xây dựng hệ thống tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm theo tiêu chuẩn quốc tế làm căn cứ cho việc định hướng phát triển và đổi mới công nghệ
Trang 12Cần xây dựng Chương trình mang tính quốc gia hỗ trợ toàn diện về công nghệ, quản trị và đào tạo nguồn nhân lực cho các doanh nghiệp trong lĩnh vực CNHT nói chung
và CNHT dệt may nói riêng
(3) Hoàn thiện chính sách nguồn nhân lực cho ngành CNHT dệt may
Các giải pháp đưa ra nhấn mạnh việc cần tiến hành đào tạo nguồn nhân lực
cả về công nghệ sản xuất và quản lý kinh doanh, đặc biệt tập trung việc đào tạo vào những lĩnh vực Việt Nam còn yếu và thiếu
Nâng cao hiệu quả đào tạo nguồn nhân lực thông qua nâng cao trình độ và chất lượng giảng dạy của giảng viên; Đổi mới tích cực chương trình đào tạo, mở các khoa chuyên ngành về lĩnh vực CNHT dệt may; Đẩy mạnh chương trình liên kết đào tạo với các trường đại học trong và ngoài nước, tăng cường hợp tác với các nước có ngành CNHT dệt may phát triển như Trung Quốc, Hàn Quốc, Đài Loan, Thái Lan… ; Tăng cường liên kết giữa các cơ sở đào tạo và cơ sở sản xuất, kết hợp giữa học lý thuyết và học việc; Xây dựng các trung tâm đào tạo tạo tại các KCN Khuyến khích các doanh nghiệp FDI tham gia vào công tác đào tạo
Đề xuất thành lập Quỹ Hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực phát triển CNHT
(4) Hoàn thiện chính sách tăng cường thông tin, liên kết doanh nghiệp cho CNHT ngành dệt may
- Xúc tiến thành lập một cơ quan đầu mối về CNHT trên cả nước nhằm cung cấp thông tin mọi mặt cho các doanh nghiệp hỗ trợ nội địa khi cần thiết Đẩy mạnh vai trò của các Hiệp hội
- Kết nối các doanh nghiệp thông qua các tọa đàm, hội chợ, triển lãm giới thiệu sản phẩm Nhà nước cần có các chính sách khuyến khích các doanh nghiệp sản xuất các sản phẩm dệt may trong nước thu nạp các nhà cung cấp các sản phẩm
hỗ trợ dệt may và cơ khí dệt may nội địa vào chuỗi cung ứng của họ
- Xây dựng cơ sở dữ liệu và website về danh mục các doanh nghiệp sản xuất sản phẩm CNHT dệt may, các sản phẩm CNHT dệt may, danh mục các sản phẩm CNHT cần ưu tiên phát triển để thu hút đầu tư từ các thành phần kinh tế, các loại hình doanh nghiệp có quan tâm, đặc biệt là doanh nghiệp FDI
- Phát triển các CLKN, KCN, CCN chuyên về CNHT ngành dệt may, tạo mạng liên kết sản xuất, hình thành chuỗi giá trị
(5) Hoàn thiện chính sách tài chính cho phát triển CNHT ngành dệt may
Thứ nhất, hoàn thiện khung chính sách hiện hành về Chính sách ưu đãi thuế
xuất khẩu, thuế nhập khẩu; thuế GTGT; Về chính sách ưu đãi tín dụng và bảo lãnh tín dụng Đẩy mạnh triển khai và thực hiện tốt chính sách tín dụng đầu tư của Nhà
Trang 13nước cho các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực CNHT dệt may thông qua Ngân hàng phát triển Việt Nam.
Thứ hai, đề xuất ưu đãi tài chính cho phát triển CNHT
Thứ ba, hỗ trợ tài chính từ NSNN cho phát triển nguồn nhân lực trong ngành
CNHT dệt may
Thứ tư, ưu đãi tiền thuê đất và tiền sử dụng đất
Thứ năm, ban hành chính sách thí điểm hỗ trợ cho ngành CNHT
KẾT LUẬN
Qua quá trình nghiên cứu, luận văn đã đạt được một số kết quả sau:
1 Luận văn tổng hợp, khái quát, đồng thời làm rõ thêm cơ sở lý luận về chính sách phát triển CNHT ngành dệt may và các vấn đề có liên quan
2 Luận văn phân tích và đánh giá thực trạng phát triển CNHT ngành dệt may, thực trạng chính sách phát triển CNHT ngành dệt may Việt Nam giai đoạn
2010 – 2014, từ đó chỉ ra những điểm mạnh, hạn chế và nguyên nhân của các hạn chế của chính sách phát triển CNHT ngành dệt may Việt Nam Đồng thời đề xuất phương hướng và một số giải pháp hoàn thiện chính sách phát triển CNHT ngành dệt may Việt Nam đến năm 2025
Bên cạnh những kết quả đã đạt được và những nỗ lực của tác giả trong quá trình thực hiện luận văn, luận văn vẫn không tránh khỏi một số hạn chế:
- Luận văn nghiên cứu về chính sách phát triển CNHT ngành dệt may nhưng chỉ giới hạn ở 5 chính sách: chính sách thu hút FDI, chính sách phát triển KH&CN, chính sách phát triển nguồn nhân lực, chính sách tăng cường thông tin, liên kết doanh nghiệp, và chính sách tài chính Vẫn còn nhiều chính sách góp phần phát triển CNHT ngành dệt may cần được nghiên cứu
- Do hạn chế về mặt thời gian và nguồn lực cũng như kiến thức còn hạn hẹp nên những nhận xét và đánh giá còn đôi chút mang tính chủ quan, có những nội dung chưa đi sâu vào mặt lý luận
Những hạn chế trên cũng chính là những gợi mở để tác giả có định hướng khắc phục, mở rộng đề tài và phạm vi áp dụng cho những nghiên cứu tiếp theo
Trang 14nguyÔn ph¬ng hoa
chÝnh s¸ch ph¸t triÓn c«ng nghiÖp hç trî
ngµnh dÖt may viÖt nam
Chuyªn ngµnh: qu¶n lý kinh tÕ vµ chÝnh s¸ch
Ngêi híng dÉn khoa häc :
PGS.TS MAI V¡N B¦U
Trang 15Hµ néi – 2015
Trang 16PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Hội nhập kinh tế quốc tế đang trở thành một xu thế khách quan của quá trình phát triển hiện đại, mở ra nhiều cơ hội phát triển cũng như những thách thức to lớn cho mỗi quốc gia, đặc biệt là đối với các nước đang phát triển trước sức ép cạnh tranh gay gắt Thực tiễn đang đòi hỏi chúng ta phải có các biện pháp tăng cường sự chủ động của nền kinh tế, tái cấu trúc lại mô hình phát triển Trong đó, phát triển CNHT được coi là một giải pháp thiết thực
Tuy nhiên, ở Việt Nam, CNHT mới chỉ đang bắt đầu phát triển, quy mô nhỏ
lẻ, chủ yếu sản xuất các linh kiện chi tiết đơn giản, GTGT thấp Bên cạnh đó, hệ thống luật pháp và chính sách chưa đủ mạnh để tạo điều kiện về môi trường pháp lý, định hướng và khuyến khích đầu tư, phát triển CNHT Nhà nước cần hỗ trợ mạnh
mẽ, mang tính chiến lược và có hiệu quả hơn, thể hiện bằng các chính sách cụ thể, riêng cho từng ngành CNHT
Dệt may là một ngành công nghiệp quan trọng trong thời kỳ đầu của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Việt Nam Với tốc độ tăng trưởng trung bình trong giai đoạn 2008-2013 là 14,5%/năm, Việt Nam là một trong những quốc gia có tốc độ tăng trưởng ngành dệt may lớn nhất thế giới Trong bối cảnh ngành dệt may trên thế giới đang diễn ra quá trình cạnh tranh giữa các quốc gia nhằm giành giật và chiếm lĩnh thị trường, nhưng ngành CNHT dệt may Việt Nam vẫn chưa phát triển là một trong những thách thức lớn trong việc khai thác những lợi ích
từ các Hiệp định thương mại tự do như TPP, FTA EU – Việt Nam được kỳ vọng sẽ thông qua trong thời gian tới
Để đảm bảo sự phát triển cân đối và bền vững, đặc biệt trong điều kiện cạnh tranh gay gắt, Việt Nam cần phải có một chiến lược phát triển CNHT dệt may phù hợp để nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành dệt may trong hội nhập quốc tế, quyết định sự thắng lợi của quá trình CNH - HĐH đất nước
Vì những lí do như trên, tôi chọn đề tài: “Chính sách phát triển công nghiệp hỗ trợ ngành Dệt may Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn cao học của mình
Trang 17* Tình hình nghiên cứu
Liên quan đến chủ đề về công nghiệp hỗ trợ, đã có một số đề tài trong nước tiến hành nghiên cứu như:
- “Chính sách phát triển công nghiệp hỗ trợ ở Việt Nam đến năm 2020”,
Đề tài NCKH cấp Nhà nước năm 2010 do GS.TS Hoàng Văn Châu chủ biên Đề tài
đã khái quát chung về chính sách phát triển CNHT, thực trạng phát triển CNHT và chính sách phát triển CNHT các ngành chủ chốt của Việt Nam, đề xuất chính sách phát triển CNHT của Việt Nam đến năm 2020
- “Công nghiệp hỗ trợ - Kinh nghiệm từ các nước và giải pháp” của tập thể
giáo viên trường Đại học Ngoại thương do GS.TS Hoàng Văn Châu chủ biên năm
2009 Đề tài đã mô tả bức tranh chân thực về CNHT của Việt Nam, kinh nghiệm phát triển CNHT của một số nước trên thế giới
-“Phát triển công nghiệp phụ trợ trong chính sách phát triển công nghiệp Việt Nam” – một bài viết của GS.TS Nguyễn Kế Tuấn đăng trên Tạp chí Kinh tế và
Phá triển số 85 (tháng 7, năm 2004) Trong bài viết này, tác giả đã khái quát các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển CNHT của các ngành công nghiệp nói chung, trong đó có dệt may, trên cơ sở đó đưa ra các quan điểm lựa chọn chiến lược và chính sách phát triển CNHT
- Sách chuyên khảo “Phát triển công nghiệp hỗ trợ ở Việt Nam: Lý thuyết, thực tiễn và chính sách” của PGS.TS Lê Thế Giới, NXB Chính trị Quốc gia 2010
Trên cơ sở giới thiệu các khái niệm, bản chất, đặc điểm, hệ thống lý luận và hệ thống chính sách về CNHT, tác giả đề xuất các giải pháp về chính sách vĩ mô và thị trường nhằm thúc đẩy sự phát triển của CNHT ở Việt Nam hiện nay
Tuy nhiên, chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách cụ thể, toàn diện
về Chính sách phát triển CNHT Việt Nam, đặc biệt là gắn với phân tích thực trạng phát triển của CNHT ngành Dệt may Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, chuẩn bị gia nhập TPP
2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
- Xây dựng khung lý luận về chính sách phát triển CNHT ngành dệt may;
Trang 18- Phân tích thực trạng chính sách phát triển CNHT ngành Dệt may Việt Nam;
- Đề xuất phương hướng và giải pháp hoàn thiện chính sách phát triển công nghiệp hỗ trợ ngành Dệt may đến năm 2025
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
a Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Chính sách phát triển CNHT ngành Dệt may
b Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: luận văn tập trung nghiên cứu một số chính sách cơ bản phát
triển CNHT, bao gồm các chính sách: Chính sách thu hút vốn đầu tư; Chính sách phát triển khoa học công nghệ; Chính sách phát triển nguồn nhân lực; Chính sách tài chính; Chính sách tăng cường thông tin và liên kết các doanh nghiệp
- Về thời gian, không gian: Nội dung nghiên cứu được gắn với thực trạng tại
Việt Nam trong giai đoạn 2010 - 2014 Từ những đánh giá thu được luận văn đề xuất một số giải pháp hoàn thiện chính sách phát triển CNHT dệt may Việt Nam tầm nhìn đến năm 2025
4 Phương pháp nghiên cứu
4.1 Mô hình nghiên cứu
Các yếu tố ảnh
hưởng đến CS phát
triển CNHT ngành
Dệt may:
- Yếu tố trong nước
- Yếu tố môi trường
quốc tế
Nội dung CS phát triển CNHT ngành Dệt may:
- Chính sách thu hút vốn FDI
- Chính sách phát triển KH&CN
- Chính sách phát triển nguồn nhân lực
- Chính sách tăng cường thông tin và liên kết DN
- Chính sách tài chính
Mục tiêu CS phát triển CNHT ngành Dệt may:
- Phát triển hệ thống các doanh nghiệp CNHT
- Xây dựng năng lực cạnh tranh quốc tế của ngành
- Xây dựng nền tảng công nghiệp, tạo động lực phát triển công nghiệp Việt Nam
Trang 194.2 Quy trình nghiên cứu
Bước 1: Thu thập, tổng hợp các tài liệu lý thuyết về CNHT và chính sách
CNHT Lựa chọn khung lý thuyết phù hợp về chính sách CNHT dệt may, xác định chính xác các yếu tố ảnh hưởng để nghiên cứu
Bước 2: Thu thập dữ liệu thứ cấp về thực trạng phát triển ngành CNHT Dệt
may Việt Nam và các chính sách phát triển CNHT Dệt may Việt Nam trong phạm
vi nghiên cứu
Bước 3: Phân tích dữ liệu, đánh giá thực trạng chính sách phát triển CNHT
Dệt may Việt Nam
Bước 4: Đề xuất phương hướng và một số giải pháp chính sách phát triển
công nghiệp hỗ trợ Việt Nam đến năm 2025
4.3 Phương pháp thu thập dữ liệu
Sử dụng dữ liệu thứ cấp lấy từ các báo cáo thống kê và các báo cáo phân tích năng lực của Tổng cục Thống kê, Bộ Công Thương, Hiệp hội Dệt may Việt Nam, Hiệp hội các doanh nghiệp ngành công nghiệp hỗ trợ Hà Nội, các tổ chức như ADB, VDF… Những dữ liệu này có tính chính xác cao và thường xuyên được cập nhật
4.4 Phương pháp phân tích và xử lý dữ liệu
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu như: điều tra xã hội học, phương pháp phân tích thống kê, sử dụng các kỹ thuật tổng hợp, so sánh, lập biểu đồ,
mô hình hóa… Kết hợp với phương pháp chuyên gia để tham khảo ý kiến từ các nhà kinh doanh trong lĩnh vực chuyên ngành đưa ra các kết luận
5 Dự kiến đóng góp của đề tài nghiên cứu
Trang 206 Kết cấu luận văn
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận văn được trình bày thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về chính sách phát triển công nghiệp hỗ trợ
Chương 2: Thực trạng chính sách phát triển công nghiệp hỗ trợ Dệt may Việt Nam giai đoạn 2010 - 2014.
Chương 3: Phương hướng và một số giải pháp chính sách phát triển công nghiệp hỗ trợ Dệt may Việt Nam đến năm 2025.
Trang 21CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN
CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ NGÀNH DỆT MAY
1.1 Công nghiệp hỗ trợ ngành dệt may
1.1.1 Khái niệm công nghiệp hỗ trợ và công nghiệp hỗ trợ dệt may
1.1.1.1 Khái niệm công nghiệp hỗ trợ
Thuật ngữ “công nghiệp hỗ trợ” (supporting industry) mặc dù đã được sử dụng rộng rãi tại nhiều quốc gia nhưng hiện nay vẫn không có một định nghĩa thống nhất mà mỗi quốc gia có thể đưa ra những cách hiểu theo nghĩa rộng, hẹp khác nhau
Hình 1.1 Công nghiệp hỗ trợ theo quan điểm của Nhật Bản
Nguồn: J.Mori, 2005
Nhật Bản, nơi lần đầu tiên thuật ngữ “công nghiệp hỗ trợ” được sử dụng vào những năm 80 của thế kỷ 19 “Công nghiệp hỗ trợ” được dịch từ thuật ngữ gốc trong tiếng Nhật là “Suso-no San-gyou” (suso-no nghĩa là chân núi, san-gyou là công nghiệp) Nếu hình dung toàn bộ quá trình sản xuất một sản phẩm như một quả núi thì các ngành CNHT nằm ở phần chân núi Chân núi là những ngành sử dụng tất cả các kỹ thuật gia công cơ bản gia công các loại vật liệu nhằm chế tạo ra các linh kiện, phụ tùng phục vụ lắp ráp (đỉnh núi) Trên cơ sơ đó, Bộ Kinh tế, thương mại và công
Trang 22nghiệp Nhật Bản (METI) chính thức định nghĩa về CNHT trong Chương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ châu Á (1993) là “các ngành công nghiệp cung cấp các yếu
tố cần thiết như nguyên vật liệu thô, linh kiện và vốn… cho các ngành công nghiệp lắp ráp (bao gồm ô tô, điện và điện tử)”
Theo một quan điểm khác của Bộ Năng lượng Mỹ, CNHT là ngành công nghiệp cung cấp nguyên liệu và quy trình cần thiết để sản xuất ra sản phẩm trước khi chúng được đưa ra thị trường Như vậy, CNHT không chỉ gồm việc sản xuất linh kiện, phụ kiện mà còn bao gồm các dịch vụ sản xuất như hậu cần, kho bãi, phân phối, bảo hiểm
Ở các nước đang phát triển trong cùng khu vực như Thái Lan, Malaysia thì CNHT được định nghĩa là “các doanh nghiệp sản xuất linh phụ kiện được sử dụng trong các công đoạn lắp ráp cuối cùng của các ngành công nghiệp” Theo cách hiểu này thì CNHT không bao hàm việc chế tạo vật liệu cơ bản
Có thể tổng kết các quan điểm về CNHT theo sơ đồ sau:
Hình 1.2 Các phạm vi của công nghiệp hỗ trợ
Nguồn: VDF, 2007
Trang 23Như vậy, xét trên nghĩa tổng quát, CNHT là thuật ngữ chỉ một hệ thống sản xuất, cung cấp những yếu tố đầu vào cho quá trình sản xuất sản phẩm cuối cùng Trong sản xuất hiện đại, hầu hết các công đoạn sản xuất các vật liệu, linh kiện được thực hiện bên ngoài nhà máy của nhà lắp ráp cuối cùng Tất cả hệ thống này tạo nên ngành CNHT.
Ở một phạm vi nhỏ hơn, khi xem xét CNHT, người ta hay đề cập tới CNHT cho một ngành cụ thể Ví dụ: CNHT cho ngành ô tô, CNHT cho ngành điện tử, CNHT cho ngành dệt may, CNHT cho ngành da giày…
Đối với những nước đang phát triển như Việt Nam, khái niệm về CNHT được du nhập từ các nước phát triển, qua các nhà đầu tư và các chính sách hỗ trợ phát triển Cách thức chủ yếu đề phát triển công nghiệp của các nước đang phát triển là việc phát triển sản xuất từ việc sản xuất linh kiện, tham gia vào chuỗi sản xuất của các nhà sản xuất nước ngoài Do đó, khái niệm CNHT được sử dụng với mục đích định hướng chính sách phát triển công nghiệp
Trong Quy hoạch tổng thể phát triển các ngành công nghiệp hỗ trợ đến năm
2010, tầm nhìn 2020 của Bộ Công Thương Việt Nam, hệ thống CNHT là hệ thống
các nhà sản xuất và công nghệ sản xuất có khả năng tích hợp theo chiều ngang, cung cấp nguyên vật liệu, linh kiện, phụ tùng cho khâu lắp ráp cuối cùng CNHT có thể được phân chia thành hai thành phần chính: Phần cứng là các cơ sở sản xuất nguyên vật liệu và linh phụ kiện lắp ráp và phần mềm bao gồm các bộ phận thiết kế sản phẩm, mua sắm, hệ thống dịch vụ công nghiệp và maketing
Trong Dự thảo Nghị định về phát triển công nghiệp hỗ trợ thì CNHT là các ngành công nghiệp sản xuất từ nguyên vật liệu đến gia công chế tạo các sản phẩm, phụ tùng, linh kiện, phụ kiện, bán thành phẩm… để nâng cấp cho ngành công nghiệp lắp ráp các sản phẩm cuối cùng là tư liệu, công cụ sản xuất hoặc sản phẩm tiêu dùng Như vậy có thể thấy rằng Dự thảo nghị định tập trung vào phần cứng của CNHT theo quan điểm trong bản quy hoạch đưa ra Quan điểm này cũng phù hợp với định nghĩa của Diễn đàn phát triển Việt Nam (Vietnam Development Forum) khi cho rằng “Công nghiệp hỗ trợ gồm một nhóm các hoạt động công nghiệp cung
Trang 24cấp các đầu vào trung gian (gồm linh kiện, phụ tùng và công cụ để sản xuất ra các linh kiện phụ tùng) cho các ngành công nghiệp lắp ráp và chế biến” Trong hoàn cảnh của Việt Nam hiện nay, việc xác định CNHT theo nghĩa hẹp, chỉ bao gồm phần cứng là hợp lý để tập trung nguồn lực phát triển đúng hướng.
Trên cơ sở đó, trong phạm vi đề tài xác định CNHT là công nghiệp sản xuất
ra các linh kiện, phụ tùng, sản phẩm trung gian,… đóng vai trò là đầu vào và lắp ráp chúng để trở thành sản phẩm cuối cùng
CNHT có thể phân loại theo các tiêu chí khác nhau, trong đó có phân loại theo ngành nghề sản xuất ra sản phẩm cuối cùng: CNHT là một hệ thống bao trùm chuỗi giá trị sản xuất ra một sản phẩm, một chủng loại sản phẩm cụ thể, CNHT được phân thành các ngành phù hợp với các sản phẩm cuối cùng:
- Công nghiệp hỗ trợ ngành giày da;
- Công nghiệp hỗ trợ ngành may mặc;
- Công nghiệp hỗ trợ các ngành cơ khí:
+ Công nghiệp hỗ trợ ngành đóng tàu+ Công nghiệp hỗ trợ ô tô
+ Công nghiệp hỗ trợ ngành cơ khí chế biến nông lâm thủy sản+ Công nghiệp hỗ trợ ngành cơ khí gia dụng
- Công nghiệp hỗ trợ ngành điện;
- Công nghiệp hỗ trợ ngành điện tử;
…Cách phân loại này được sử dụng khá phổ biến cả trong thực tế và trong nghiên cứu Ưu điểm của cách phân loại này là xác định rõ ràng các đối tượng tham gia một hệ thống ngành công nghiệp, đóng góp vào chuỗi giá trị để sản xuất ra sản phẩm cuối cùng Xu hướng chính sách công nghiệp nói chung là tác động trực tiếp vào từng ngành và từng đối tượng doanh nghiệp Khi xác định rõ ràng các đối tượng tham gia vào ngành CNHT của từng ngành, các chính sách trở nên trực tiếp và có hiệu quả nhanh chóng hơn Tuy nhiên, theo cách phân loại này thì có thể một doanh nghiệp hỗ trợ tham gia vào nhiều ngành sản xuất khác nhau, khó có thể xác định nhà sản xuất tham gia một ngành đơn nhất nào Điều này hình thành một ma trận
Trang 25trong hệ thống CNHT, hạn chế khả năng tiếp cận các doanh nghiệp sản xuất hỗ trợ.
1.1.1.2 Khái niệm công nghiệp hỗ trợ ngành dệt may
Ngành dệt may là ngành công nghiệp sản xuất ra các sản phẩm phục vụ cho nhu cầu thiết yếu của con người như các loại vải vóc, quần áo và đồ dùng bằng vải Sản phẩm của công nghiệp dệt may gồm: sản phẩm may mặc cuối cùng, các loại vải, các sản phẩm khác từ sợi… Đặc điểm của công nghiệp dệt may là ngành thuộc lĩnh vực công nghiệp nhẹ, sử dụng nhiều lao động
Sơ đồ 1.1 Sơ đồ mô tả toàn bộ quá trình sản xuất dệt may
Ngành dệt bao gồm các khâu sản xuất: kéo sợi, dệt vải, nhuộm và hoàn tất vải Ngành may sử dụng nguyên liệu chính là vải và một số phụ liệu khác (khuy, ren, mác…), qua các khâu thiết kế, cắt, may để tạo thành các sản phẩm may mặc cuối cùng Hai ngành dệt và may có mối quan hệ khăng khít và gắn bó với nhau, sự phát triển của ngành này là tiền đề đồng thời là động lực để phát triển ngành kia và
có ý nghĩa sống còn đối với ngành dệt may nói chung
CNHT cho ngành dệt may là ngành công nghiệp chuyên sản xuất các sản phẩm hỗ trợ cho ngành công nghiệp dệt may CNHT cho ngành dệt may bao gồm 2
Trang 26nhóm chính: ngành cơ khí sản xuất máy móc trang thiết bị sử dụng trong công nghiệp dệt may và ngành sản xuất nguyên phụ liệu cho quá trình sản xuất ra sản phẩm dệt may.
Nhóm máy móc trang thiết bị sử dụng trong công nghiệp dệt may bao gồm những sản phẩm chính như: máy may, máy kéo sợi, máy đánh ống, máy chải, máy sợi con, roto kéo sợi, cọc sợi, máy dệt, máy ghép, thiết bị thêu, thiết bị làm lạnh, điều hòa phân xưởng, hệ thống làm lạnh dạng mở, bàn ủi phẳng và bàn ủi ép
Nguyên phụ liệu, phụ kiện phục vụ quá trình sản xuất ra sản phẩm dệt may bao gồm: bông, xơ, sợi, các loại vải, khóa kéo, khuy ren, chỉ may, chỉ thêu, mác
Xét trên góc độ xem xét ngành dệt may gồm hai bộ phận là ngành may và ngành dệt thì sản phẩm của công nghiệp hỗ trợ ngành dệt may có thể chia thành 2 nhóm chính: (1) máy móc trang thiết bị ngành dệt; nguyên vật liệu ngành dệt (bông, len, lanh, tơ tằm…); các thiết bị sử dụng trong công đoạn nhuộm và hoàn tất vải; (2) máy móc thiết bị ngành may, phụ kiện ngành may (khóa kéo, khuy, chỉ may,…)
Sơ đồ 1.2 Mối quan hệ giữa ngành dệt may và công nghiệp hỗ trợ dệt may
Dựa trên quy trình sản xuất ra một sản phẩm may mặc, ta có thể phân chia ngành CNHT dệt may thành các ngành nhỏ theo từng công đoạn sản xuất như sau:
Ngành sản xuất nguyên vật liệu
Trang 27Ngành sản xuất nguyên liệu cung cấp nguyên liệu tự nhiên như bông, len, tơ sợi để xe sợi, chỉ Ngành này thường dựa trên lợi thế của các nước có điều kiện khí hậu phù hợp với sự phát triển của các loại cây bông, đay và trồng dâu nuôi tằm.
Ngành cơ khí
Ngành cơ khí cung cấp các trang thiết bị máy móc cho ngành dệt, may và cho các nhà máy hóa dầu để tạo thành xơ sợi tổng hợp Ngành cơ khí đóng vai trò rất quan trọng trong sự phát triển của ngành dệt may Cơ khí hóa ngành dệt may với các máy móc hiện đại sẽ làm cho năng suất lao động tăng lên, chất lượng sản phẩm dệt may được nâng cao, tiết kiệm chi phí và chuyên môn hóa quá trình sản xuất sản phẩm dệt may
Kéo sợi
Kéo sợi là giai đoạn từ các nguyên liệu thô ban đầu bằng các phương pháp hóa dầu để tạo thành các sản phẩm nguyên vật liệu phục vụ cho dệt may như chỉ, sợi, vải mà nhiều nhất là sợi tổng hợp Có nhiều loại tơ sợi khác nhau Tơ sợi có nguồn gốc từ thực vât hoặc động vật gọi là sợi tự nhiên Tơ sợi được làm từ các loại hóa chất gọi là sợi nhân tạo
Ngành dệt vải
Dệt vải là quá trình dệt sợi thành tấm vải, cung cấp nguyên liệu cho ngành may Đặc điểm nổi bật của ngành này là thu hút một số lượng lớn nhân lực lao đông, tỷ trọng lợi nhuận tương đối cao trong chuỗi giá trị ngành dệt may
Nhuộm, in vải
Ngành này bao gồm chuỗi dài các công đoạn sản xuất ướt với đầu vào chủ yếu
là nước, hóa chất và năng lượng Xuất phát từ yêu cầu đa dạng của lĩnh vực may thời trang nên sản phẩm của ngành này phong phú về chất liệu và màu sắc của vải
1.1.2 Đặc điểm, vai trò của công nghiệp hỗ trợ ngành dệt may
1.1.2.1 Đặc điểm của công nghiệp hỗ trợ ngành dệt may
CNHT ngành dệt may có những đặc điểm riêng từ cấu trúc tới đặc điểm phát triển của ngành:
• Tính đa cấp
Trang 28Các doanh nghiệp tham gia ngành dệt may nằm ở các vị trí khác nhau trong chuỗi giá trị dệt may Mỗi sản phẩm may mặc đều phải trải qua một quy trình sản xuất, xuất phát từ nguyên liệu thô, qua các giai đoạn chế biến, chế tạo, lắp ráp để tích lũy giá trị thành sản phẩm hoàn chỉnh Trong chuỗi giá trị này, các nhà cung cấp được phân loại theo cấp độ, vị trí tham gia vào hệ thống.
• Tính hệ thống liên kết theo quy trình sản xuất, theo khu vực và phụ thuộc vào ngành công nghiệp dệt may
Trong chuỗi giá trị dệt may, các doanh nghiệp CNHT dệt may có quan hệ liên kết với nhau trong quy trình sản xuất Mối liên hệ này dẫn đến yêu cầu phát triển CNHT ngành dệt may theo hệ thống và tập trung theo khu vực Trong hệ thống CNHT ngành dệt may, sự phát triển của các doanh nghiệp mua nguyên phụ liệu, linh kiện tạo nhu cầu và thúc đẩy sự phát triển của các doanh nghiệp cung cấp Ngược lại, sự phát triển của các nhà cung cấp tạo môi trường kinh doanh thuận lợi, đem lại lợi thế cạnh tranh cho các doanh nghiệp mua linh kiện Về mặt địa lý, việc phát triển những nhà sản xuất nguyên phụ liệu và các công ty may tại một khu vực tạo nên lợi thế về địa lý, khai thác được những ưu điểm của CCN là đáp ứng nhanh chóng, kịp thời, chính xác, tiết kiệm chi phí trên nhiều phương diện từ thông tin, công tác hậu cần và hoạt động phát triển sản phẩm mới
Khi mạng lưới sản xuất phát triển, thị trường toàn cầu được hình thành, thì
sự phụ thuộc của ngành CNHT dệt may vào ngành công nghiệp chính giảm dần theo phạm vi không gian Quá trình phát triển kinh tế khu vực và phát triển giao thông liên quốc gia cũng làm giảm những lợi thế về vị trí của các doanh nghiệp CNHT dệt may Tuy nhiên, việc phát triển các CCN vẫn mang lại những lợi thế nhất định của nó, không chỉ là tiết kiệm chi phí vận chuyển mà còn hỗ trợ tích cực trong quá trình trao đổi thông tin, giải quyết các sự cố và phát triển sản phẩm mới Đặc biệt với đặc thù ngành dệt may, việc sản xuất khép kín trong các khu, cụm công nghiệp còn tạo thuận tiện trong công tác quy hoạch, xây dựng hệ thống xử lý nước thải đảm bảo tiêu chuẩn về môi trường
• Đa dạng về công nghệ và trình độ công nghệ
Trang 29Sự đa dạng của công nghệ sản xuất trong ngành CNHT nói chung và CNHT ngành dệt may nói riêng là do đòi hỏi sự phong phú của các linh kiện để sản xuất ra một sản phẩm cuối cùng Để có một sản phẩm may mặc hoàn chỉnh cần trải qua nhiều công đoạn sản xuất từ nguyên liệu thô, chế biến thành sợi, dệt thành vải, nhuộm hoàn tất và may mà mỗi công đoạn yêu cầu công nghệ khác nhau GTGT của việc sản xuất các linh kiện cũng khác nhau rất nhiều Nhiều sản phẩm có GTGT lớn đòi hỏi công nghệ sản xuất ở trình độ cao như (các loại xơ sợi tổng hợp, các loại vải mới chuyên dụng…) và chỉ những nhà cung cấp lớn mới có thể đáp ứng Ngược lại, có những chi tiết đòi hỏi kỹ thuật sản xuất không quá khó (cúc nhựa, mếch nhựa, phụ kiện đơn giản…) có thể đặt hàng từ những nhà cung cấp cấp thấp để lắp ráp thành những cụm linh kiện.
Sự đa dạng về trình độ công nghệ thể hiện trong cấp độ tham gia hệ thống cung cấp Những nhà cung cấp cấp thấp thường sở hữu những công nghệ sản xuất đơn giản, lỗi thời hơn những nhà cung cấp cấp cao Chính vì thế, sản phẩm của những nhà cung cấp cấp thấp có GTGT không cao như những nhà cung cấp cấp cao
Xu hướng này thường được thấy ở những nước đang phát triển khi những nhà sản xuất nội địa tham gia vào lĩnh vực CNHT bằng cách trở thành những nhà cung cấp cấp thấp, tận dụng lao động giá rẻ, sử dụng công nghệ không cao để tiết kiệm chi phí
• Thu hút số lượng lớn doanh nghiệp, đặc biệt là các DNVVN.
Do tính đa dạng và phong phú của các sản phẩm CNHT nên ngành CNHT dệt may đã thu hút một số lượng lớn các doanh nghiệp với nhiều quy mô khác nhau, trong đó chiếm phần lớn là các DNVVN Do tính chất đa cấp và phát triển theo hình chóp (hình quả núi) của hệ thống CNHT nên số lượng doanh nghiệp ở cấp thấp là rất lớn, đa phần là các DNVVN
1.1.2.2 Vai trò của công nghiệp hỗ trợ ngành dệt may
• CNHT dệt may đóng góp tỷ trọng lớn vào giá trị sản phẩm dệt may
Sản phẩm CNHT dệt may là các trang thiết bị, nguyên liệu, phụ liệu, phụ kiện làm đầu vào của ngành công nghiệp dệt may Chỉ khi các sản phẩm này có chất lượng tốt thì sản phẩm dệt may làm ra mới có thể đáp ứng được thị hiếu của người
Trang 30tiêu dùng cũng như khả năng cạnh tranh trên thị trường Vai trò của ngành CNHT dệt may được lượng hóa và phản ánh trong chỉ tiêu hàm lượng giá trị sản xuất CNHT trong giá thành sản xuất của sản phẩm dệt may được tiêu dùng cuối cùng.
Theo nghiên cứu về ngành dệt may của tổ chức bảo vệ môi trường Mỹ (USEPA), nguyên liệu thô chiếm khoảng 60% giá trị của sợi thành phẩm, trong khi
đó giá trị sợi và vải trung bình chiếm đến hơn 80% giá trị của sản phẩm may mặc cuối cùng Như vậy, ngoài ý nghĩa là yếu tố đầu vào thông thường, nguyên liệu dệt may còn là yếu tố đóng góp phần lớn vào giá trị thành phẩm
• CNHT dệt may góp phần nâng cao tính cạnh tranh cho sản phẩm dệt may trong nước và trên thị trường quốc tế.
Để cạnh tranh được thì sản phẩm cần có những ưu thế về giá và chất lượng, sản phẩm dệt may cũng không phải là ngoại lệ, đặc biệt là nó còn rất cần yếu tố thời trang Sản phẩm của ngành CNHT dệt may với giá trị đóng góp lên đến 80% giá trị thành phẩm trở thành một yếu tố quan trọng quyết định đến năng lực cạnh tranh của ngành may mặc Một khi chủ động được về nguồn nguyên phụ liệu, cũng như được trang bị tốt về máy móc thiết bị phục vụ quá trình dệt may, các doanh nghiệp sẽ tiết kiệm được rất nhiều cho phí bao gồm chi phí tìm kiếm thị trường, chi phí vận chuyển, chi phí bảo hiểm, chi phí nghiên cứu chế tạo… để hạ giá thành đồng thời nâng cao GTGT trong mỗi sản phẩm
• CNHT dệt may đảm bảo sự phát triển bền vững của ngành dệt may
Việt Nam lựa chọn ngành Dệt may là một trong những ngành công nghiệp mũi nhọn, cần ưu tiên phát triển Tuy nhiên, thực tế cho thấy ngành dệt may Việt Nam hiện vẫn phát triển chủ yếu dựa trên lợi thế về nguồn lao động dồi dào, giá rẻ
và người lao động Việt Nam có đặc điểm cần cù, chịu khó, khéo léo Tuy nhiên, lợi thế này đang dần bị mất đi do giá nhân công tăng lên, các doanh nghiệp phải cạnh tranh với nhau do sự dịch chuyển lao động sang các ngành công nghiệp khác Mặt khác, công nghệ sản xuất phát triển đòi hỏi người lao động phải có trình độ nhất định, tay nghề cao chứ không phải chỉ là những kỹ năng thủ công Do đó nếu không
có sự cải tiến rõ rệt chất lượng nguồn nhân lực thì lợi thế này sẽ dần trở thành vật
Trang 31cản, tạo nên sức ì đối với ngành dệt may Từ kinh nghiệm của các quốc gia đứng đầu về dệt may thì để có một ngành công nghiệp dệt may hoàn chỉnh và phát triển bền vững, quốc gia đó cần phải có ngành CNHT dệt may có khả năng cung cấp máy móc cơ khí dệt may hiện đại và khả năng sản xuất nguồn nguyên liệu tương xứng đáp ứng được yêu cầu cả về số lượng và chất lượng của ngành dệt may Hay nói cách khác, CNHT dệt may đảm bảo sự phát triển bền vững của ngành dệt may.
1.1.3 Sự cần thiết phải phát triển công nghiệp hỗ trợ cho ngành dệt may
Việt Nam
Ngành dệt may Việt Nam trong những năm gần đây đã đạt được những bước phát triển mạnh mẽ và những thành tựu đáng kể Sự phát triển của ngành dệt may kéo theo nhu cầu về nguyên phụ liệu dệt may và máy móc thiết bị phục vụ trong ngành tăng cao Một nước có ngành may mặc phát triển mạnh mà các ngành sản xuất hỗ trợ
nó trong nước không theo kịp, không đáp ứng được yêu cầu của ngành may sẽ dẫn đến làm giảm GTGT của ngành may cũng như hiệu quả sản xuất của ngành
Phát triển CNHT dệt may sẽ giúp ngành dệt may Việt Nam giảm chi phí trung gian Theo đánh giá của Hiệp hội Dệt may Việt Nam, sản phẩm may mặc xuất khẩu của Việt Nam đắt hơn sản phẩm cùng loại trong khu vực từ 10% - 15% do trong nước chưa chủ động được nguyên phụ liệu, hoặc nguyên phụ liệu sản xuất trong nước có giá thành cao
Nếu CNHT cho ngành dệt may phát triển tương xứng thì nhu cầu nhập khẩu nguyên phụ liệu, máy móc thiết bị sẽ giảm, GTGT của ngành dệt may sẽ được nâng lên đồng thời tăng sức cạnh tranh do có được nguồn cung nguyên phụ liệu ổn định, chủ động cho lĩnh vực may xuất khẩu Các doanh nghiệp dệt may Việt Nam sẽ tránh được các rủi ro trong xuất khẩu như thời gian giao hàng, giảm bớt chi phí vận chuyển, bảo hiểm, tín dụng thương mại…
Xét ở phạm vi rộng hơn, phát triển CNHT cho ngành dệt may sẽ tạo điều kiện mở rộng thị trường nguyên phụ liệu dệt may, từ đó phát triển quy mô để đạt được lợi thế về quy mô, giảm giá thành và tăng sức cạnh tranh của sản phẩm dệt may, nâng cao sức cạnh tranh, trình độ công nghệ phát triển và mở rộng thị trường
Trang 32cho ngành dệt may Việt Nam.
1.2 Chính sách phát triển công nghiệp hỗ trợ ngành dệt may
1.2.1 Khái niệm chính sách phát triển công nghiệp hỗ trợ ngành dệt may
Trên quan điểm tổng quát, chính sách kinh tế xã hội là tổng thể các quan điểm phát triển, những mục tiêu tổng quát và những phương thức cơ bản để thực hiện mục tiêu phát triển đất nước
Còn dựa trên các quan điểm cụ thể, có nhiều khái niệm khác nhau về chính sách kinh tế xã hội Theo giáo trình Chính sách kinh tế xã hội của Đại học Kinh tế Quốc dân (2012) thì “chính sách kinh tế xã hội là tổng thể các quan điểm, các giải pháp và công cụ mà Nhà nước sử dụng để tác động lên các chủ thể kinh tế xã hội nhằm giải quyết vấn đề chính sách, thực hiện các mục tiêu nhất định theo định hướng mục tiêu tổng thể của đất nước”
Chính sách công nghiệp là một thuật ngữ có thể được hiểu là những chính sách của Chính phủ nhằm thay đổi hoặc phân phối các nguồn lực giữa các ngành công nghiệp hoặc mức độ hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp trong một ngành Như vậy chính sách công nghiệp nhằm nâng cao năng lực sản xuất, tăng cường đầu tư, nghiên cứu phát triển, hiện đại hóa hoặc tái cơ cấu một số ngành công nghiệp hoặc giảm thiểu những yếu tố này ở một số ngành công nghiệp khác
Chính sách phát triển CNHT ngành dệt may là tổng thể các nguyên tắc, công
cụ, biện pháp mà nhà nước lựa chọn mang tính khuyến khích để tác động đến các doanh nghiệp đang hoạt động trong lĩnh vực CNHT dệt may nhằm đạt được mục tiêu đã định.
Chính sách phát triển CNHT ngành dệt may gồm tổng hợp các công cụ nhằm tập trung nguồn lực cho phát triển CNHT ngành dệt may thông qua tác động vào các yếu tố nhằm thay đổi cơ cấu ngành, tạo việc làm, nâng cao năng suất, thúc đẩy sản xuất, đẩy mạnh đầu tư… trong ngành CNHT dệt may
1.2.2 Mục tiêu chính sách phát triển công nghiệp hỗ trợ ngành dệt may
Mục tiêu của chính sách phát triển CNHT ngành dệt may nằm trong mục tiêu chung của chính sách phát triển CNHT quốc gia, cùng hướng tới mục tiêu tổng quát
Trang 33hơn là mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế xã hội đất nước Thực hiện các mục tiêu của chính sách phát triển CNHT ngành dệt may là nhằm hướng tới thực hiện mục tiêu của chính sách công nghiệp, chính sách kinh tế vĩ mô, đó là: xây dựng nền tảng công nghiệp, tạo động lực phát triển công nghiệp đất nước, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững.
Mục tiêu cụ thể của chính sách phát triển CNHT ngành dệt may:
- Định hướng phát triển ngành CNHT dệt may theo chính sách phát triển kinh tế của quốc gia
- Định hướng và ưu tiên hỗ trợ phát triển CNHT ngành dệt may dựa trên lợi thế cạnh tranh và phù hợp với các nguồn lực quốc gia
- Xây dựng hệ thống doanh nghiệp CNHT ngành dệt may lớn mạnh về số lượng và có đủ năng lực đáp ứng được nhu cầu sản xuất của các doanh nghiệp ngành công nghiệp chính Từ đó xây dựng lợi thế cạnh tranh quốc tế của ngành, lợi thế cạnh tranh quốc tế quốc gia
- Gia tăng giá trị sản xuất trong chuỗi giá trị toàn cầu, nâng cao tỷ lệ nội địa hóa của các sản phẩm công dệt may
Tiêu chí đánh giá chính sách phát triển CNHT ngành dệt may gồm 2 tiêu chí chủ yếu:
- Tỷ lệ nội địa hóa của sản phẩm công nghiệp dệt may, tính theo đơn vị %
- Kim ngạch xuất khẩu các sản phẩm của CNHT dệt may Đây là chỉ tiêu giá trị, phản ánh cả về số lượng và chất lượng Đồng tiền được dùng làm đơn vị tính toán có thể là nội tệ hoặc các ngoại tệ mạnh như: Đô la Mỹ (USD), Bảng Anh (GBP), Yên Nhật (JPY)…
1.2.2 Một số chính sách phát triển công nghiệp hỗ trợ ngành dệt may
1.2.2.1 Chính sách thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài
Chính sách thu hút FDI cho CNHT dệt may bao gồm một hệ thống các quan điểm, nguyên tắc, công cụ và phương pháp mà Nhà nước áp dụng để quản lý hoạt động thu hút FDI của quốc gia vào lĩnh vực CNHT dệt may nhằm hướng tới những mục tiêu nhất định
Trang 34Vai trò của chính sách thu hút FDI cho CNHT dệt may:
- Khuyến khích dòng vốn FDI vào trong nước, nâng cao tiềm lực vốn cho sự phát triển CNHT ngành dệt may;
- Bảo vệ thị trường trong nước trước sự phát triển mạnh mẽ của ĐTNN
- Điều chỉnh mối quan hệ giữa các loại hình đầu tư, các hình thức đầu tư cụ thể, cũng như mối quan hệ giữa các vùng lãnh thổ trong việc thu hút FDI vào ngành CNHT dệt may
Mục tiêu của chính sách thu hút FDI cho ngành CNHT dệt may:
- Huy động vốn đầu tư từ các NĐT nước ngoài, thúc đẩy chuyển giao công nghệ, trình độ quản lý tiên tiến hiện đại, tạo việc làm, thay đổi cơ cấu doanh nghiệp
Đối với CNHT tại các nước đang phát triển như Việt Nam, thu hút FDI vào lĩnh vực CNHT dệt may là một chính sách rất quan trọng và được quan tâm hàng đầu Thu hút FDI là cần thiết đối với ngành công nghiệp nói chung nhưng riêng với CNHT cần có những ưu tiên đặc biệt Các chính sách thu hút có thể từ các hoạt động quảng bá, xúc tiến đầu tư tới các quy định ưu đãi cụ thể cho đầu tư sản xuất nguyên phụ liệu Để thu hút được nguồn vốn FDI chất lượng vào lĩnh vực CNHT ngành dệt may Nhà nước cần có các chính sách thu hút gắn với những ưu đãi hỗ trợ về cơ sở hạ tầng, có quy hoạch cụ thể và xây dựng hệ thống nước, xử lý nước thải đảm bảo tiêu chuẩn môi trường, đặc biệt là đối với các dự án dệt nhuộm Bên cạnh đó là những hỗ trợ về nhân lực, thông tin…
1.2.2.2 Chính sách phát triển khoa học công nghệ
Chính sách phát triển KH&CN cho CNHT ngành dệt may là hệ thống các
Trang 35quan điểm, mục tiêu, nguyên tắc chỉ đạo, định hướng phát triển, các thể chế và biện pháp thúc đẩy việc tiếp thu, phát triển và sử dụng KH&CN và các ngành khoa học
hỗ trợ công nghệ để thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội, đồng thời phát triển năng lực KH&CN quốc gia trong lĩnh vực CNHT dệt may trong từng thời kỳ
Các giải pháp của chính sách KH&CN bao gồm:
- Xây dựng hệ thống pháp luật về KH&CN: Nhà nước ban hành một hệ thống các văn bản pháp luật về quản lý KH&CN làm cơ sở pháp lý để thực hiện sự quản lý của nhà nước đối với hoạt động KH&CN trong lĩnh vực CNHT dệt may Hệ thống văn bản này cần ngày càng hoàn thiện, tính đồng bộ cao, khuyến khích sự sáng tạo của những người làm công tác khoa học, nâng cao năng lực của các tổ chức KH&CN, và tạo ra được một thị trường công nghệ rộng lớn thúc đẩy mạnh mẽ sáng tạo khoa học
- Đổi mới cơ chế quản lý về KH&CN: Tập trung ưu tiên phát triển các nguồn lực phục vụ nghiên cứu ứng dụng và triển khai; Từng bước tạo lập thị trường cho KH&CN, kích thích các đơn vị sản xuất kinh doanh tiếp cận với KH&CN hiện đại
- Đổi mới hoạt động của các tổ chức KH&CN: Thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm đối với các tổ chức KH&CN của Nhà nước; Chuyển các tổ chức nghiên cứu ứng dụng và phát triển công nghệ có sản phẩm gắn với thị trường sang hoạt động theo cơ chế doanh nghiệp); Phát huy chức năng và nâng cao hiệu quả nghiên cứu KH&CN của các trường đại học Xây dựng cơ chế liên kết giữa các trường với tổ chức nghiên cứu, các cơ sở sản xuất và doanh nghiệp
- Giải pháp tài chính cho hoạt động KH&CN: Tăng cường ngân sách cho KH&CN, đa dạng hóa nguồn vốn đầu tư cho KH&CN; Đổi mới chính sách đầu tư
và cơ chế phân bổ NSNN cho hoạt động KH&CN; Sử dụng nguồn tài chính tạo động lực cho hoạt động KH&CN
- Tăng cường hợp tác quốc tế về KH&CN: tận dụng triệt để sự giúp đỡ của các nước, các tổ chức quốc tế, thu hút các chuyên gia nước ngoài tham gia hoạt động đào tạo và bồi dưỡng cán bộ và chuyển giao công nghệ tiên tiến, hiện đại Đồng thời tạo điều kiện cử các cán bộ trẻ đi trao đổi khoa học ở nước ngoài
Trang 361.2.2.3 Chính sách phát triển nguồn nhân lực
Nguồn nhân lực công nghệ vốn là những vấn đề khó khăn cơ bản của các doanh nghiệp CNHT dệt may, đặc biệt là với những nhà cung cấp cấp dưới Quy
mô và năng lực hạn chế của các nhà cung cấp này hạn chế khả năng sản xuất đáp ứng được những yêu cầu của người mua Phát triển nguồn nhân lực công nghệ là một trong những nội dung quan trọng của các chính sách khuyến khích phát triển CNHT ngành dệt may
Các hoạt động phát triển nguồn nhân lực công nghệ là các hoạt động đào tạo, chuyển giao tri thức, chuyển giao công nghệ thông qua các khóa học, chương trình đào tạo, các đợt tập huấn, thực tập, tham quan… của các doanh nghiệp Các chính sách này thường gắn với hoạt động của các cơ sở đào tạo cũng như các tổ chức hỗ trợ đào tạo Cụ thể hơn, chính sách hỗ trợ phát triển nguồn nhân lực cho CNHT ngành dệt may bao gồm:
- Hỗ trợ chuyển giao công nghệ, đào tạo lao động từ các doanh nghiệp FDI, công ty đa quốc gia tới các nhà cung cấp sản phẩm trung gian
- Phát triển các hình thức đào tạo lao động, đặc biệt là công nhân kỹ thuật trong các ngành cơ khí chế tạo Chủ động phát triển đào tạo công nhân kỹ thuật chất lượng cao tại địa phương gắn với nhu cầu sử dụng lao động của doanh nghiệp; khuyến khích các cơ sở đào tạo phát triển theo hình thức liên kết đào tạo, đào tạo theo yêu cầu…
- Hỗ trợ doanh nghiệp đào tạo và đào tạo lại lao động: Hỗ trợ doanh nghiệp đào tạo lao động tại chỗ, liên kết đào tạo lại lao động tại các cơ sở đào tạo, thuận lợi khi doanh nghiệp đưa lao động ra nước ngoài đào tạo
1.2.2.3 Chính sách hỗ trợ về cung cấp thông tin, liên kết doanh nghiệp
Liên kết doanh nghiệp luôn là điều kiện quan trọng trong tạo lập hệ thống CNHT ngành dệt may, tạo lập thị trường cho CNHT Khách hàng của các doanh nghiệp CNHT ngành dệt may là các nhà sản xuất lớn, trong đó đa phần là các công
ty đa quốc gia Các công ty này bao gồm cả những nhà sản xuất thành phẩm và các nhà cung cấp cấp cao Do những khác biệt về công nghệ và yêu cầu sản phẩm, yêu
Trang 37cầu sản xuất, và những thiếu hụt thông tin thường có một khoảng cách khá lớn giữa những nhà cung cấp, đặc biệt là các nhà cung cấp nội địa với khách hàng, nhất là các khách hàng nước ngoài.
Chính sách liên kết tập trung vào việc kết nối về thông tin, hệ thống sản xuất, tiêu chuẩn kỹ thuật giữa người mua với người bán Cụ thể là nâng cao năng lực của người bán để đạt tới tiêu chuẩn của người mua và cung cấp thông tin cho các bên để điều chỉnh hệ thống sản xuất của mình cũng như phối hợp điều chỉnh cho thích hợp với hệ thống của đối tác
Các hỗ trợ về tài chính là cơ sở cho các hoạt động đầu tư, phát triển sản xuất,
mở rộng quy mô hoạt động, tăng năng suất lao động, đầu tư dài hạn hơn vào công nghệ, năng lực của các doanh nghiệp trong CNHT ngành dệt may.Các hỗ trợ tài chính được thực hiện thông qua các công cụ của chính sách tài khóa (thuế, trợ cấp,
hỗ trợ, bảo lãnh…) và chính sách tiền tệ (lãi suất, tín dụng ưu đãi, tỷ giá…)
Chính sách ưu đãi tài chính được thể hiện thông qua các chủ trương, kế hoạch, và các biện pháp cụ thể về tài chính của Chính phủ dành cho các đối tượng
cụ thể nhằm đạt một mục đích nhất định, được thay đổi linh hoạt theo từng điều kiện và hoàn cảnh kinh tế mỗi thời kỳ
Các hình thức ưu đãi tài chính chủ yếu cho CNHT dệt may bao gồm:
- Các ưu đãi thuế: Chính phủ thực hiện các biện pháp như miễn, giãn, giảm, khấu trừ … đối với một số loại thuế như: thuế TNDN, thuế xuất nhập khẩu, thuế GTGT, thuế tài nguyên… tùy từng đối tượng ưu đãi của chính sách theo mục tiêu
Trang 38từng thời kỳ.
- Các ưu đãi liên quan đến vốn tài chính: bao gồm các hỗ trợ vốn đầu tư và tái đầu tư, hỗ trợ tín dụng với lãi suất ưu đãi, hỗ trợ tín dụng xuất khẩu, cho vay vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước và các hình thức bảo lãnh vay từ phía Nhà nước
1.2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến chính sách phát triển công nghiệp hỗ trợ
ngành dệt may
Các chính sách được xây dựng dựa trên kết quả của quá trình nghiên cứu và
dự báo nhằm xác định vấn đề và mục tiêu của chính sách Ngoài ra kết quả của quá trình nghiên cứu và dự báo còn là cơ sở thông tin để tìm kiếm các giải pháp và huy động các nguồn lực, các tiềm năng cho thực hiện mục tiêu, cũng là cơ sở thông tin
để lựa chọn phương thức tổ chức thực thi chính sách Nội dung cần nghiên cứu và
dự báo rất đa dạng tùy vào từng chính sách cụ thể Tuy nhiên có hai nội dung cơ bản cần nghiên cứu và dự báo đó là yếu tố thuộc hệ thống mà chính sách đó sẽ hoạt động và yếu tố thuộc môi trường của chính sách đó Xét về phạm vi có thể phân chia thành các yếu tố trong nước và các yếu tố ngoài nước
1.3.4.1 Các yếu tố trong nước
• Thể chế kinh tế - chính trị - xã hội trong nước
Chủ thể của chính sách kinh tế xã hội nói chung và chính sách phát triển CNHT ngành dệt may nói riêng là Quốc hội, Chính phủ, các cơ quan hành chính Nhà nước Việc xác định chủ thể của chính sách cũng như quyền hạn và phạm vi tác động của chính sách được dựa trên quy định về thể chế Nhà nước Mặt khác chính sách được ban hành nằm trong hệ thống chính sách quốc gia và có những tác động qua lại với các chính sách trong hệ thống, nó có thể làm tăng hay giảm hiệu lực của toàn bộ chính sách Chính vì vậy, yếu tố thể chế, chính trị là rất quan trọng trong quá trình làm chính sách
Thể chế kinh tế thị trường Việt Nam hiện nay chính là một thể chế mà ở đó
có các điều kiện để nền kinh tế phát triển năng động như một nền kinh tế thị trường hiện đại Ở đó, môi trường kinh doanh phải thông thoáng, phải hòa nhập với môi trường kinh doanh ở trên các thị trường thế giới và các quốc gia khác Nền kinh tế
Trang 39thị trường ở đó không có sự phân biệt đối xử đối với các đối tượng và chủ thể trên thị trường đó.
Đặc biệt thể chế kinh tế thị trường Việt Nam không có sự dị biệt, khác biệt
so với các thể chế kinh tế thị trường hiện đại trên thế giới Và như vậy là kinh tế nhà nước và kinh tế hợp tác đều được xem như mọi thành phần kinh tế khác, được đối
xử bình đẳng, cùng một sân chơi và cùng một luật chơi, không có sự ưu tiên hay phân biệt Các khu vực kinh tế đều là bộ phận hợp thành của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, hoạt động bình đẳng, đúng pháp luật, được luật pháp bảo vệ và khuyến khích phát triển như nhau
• Mục tiêu và chiến lược phát triển kinh tế, quy hoạch phát triển công nghiệp quốc gia
Có thể thấy, bất kì chính sách kinh tế nào cũng cần phải tuân theo định hướng phát triển kinh tế đất nước Thông qua mục tiêu và chiến lược phát triển kinh
tế theo từng thời kỳ, Chính phủ có thể đưa ra các chính sách phát triển CNHT cụ thể theo từng bước, từng giai đoạn Ví dụ, trong giai đoạn đầu, Chính phủ tích cực thu hút vốn ĐTNN để có vốn và công nghệ cho phát triển nền móng CNHT, mục tiêu là sản xuất thay thế nhập khẩu, gia tăng tỷ lệ nội địa hóa Khi CNHT đã phát triển thì các chính sách tập trung vào tăng cường năng lực sản xuất của các doanh nghiệp trong nước, mục tiêu là xuất khẩu các sản phẩm CNHT
Riêng đối với ngành CNHT dệt may, trong tổng thể cơ cấu ngành công nghiệp quốc gia, ngành CNHT dệt may là một bộ phận của ngành CNHT quốc gia nên các chính sách phát triển CNHT dệt may cần được xây dựng dựa trên quy hoạch phát triển công nghiệp và quy hoạch phát triển ngành CNHT nói chung Điều này giúp tạo nên một hệ thống chính sách thống nhất, nhất quán, đảm bảo thực hiện đúng đường lối, chiến lược cũng như đạt được mục tiêu đề ra Bên cạnh đó, như đã phân tích, ngành CNHT dệt may và ngành dệt may có quan hệ chặt chẽ, ngành này
là tiền đề cũng như động lực phát triển cho ngành kia Do đó, các chính sách được đưa ra để phát triển CNHT dệt may cũng chịu ảnh hưởng rất lớn từ quy hoạch phát triển ngành dệt may và các chính sách liên quan khác
Trang 40• Điều kiện về các nguồn lực
Việc đánh giá các nguồn lực của quốc gia (lực lượng lao động, nguồn tài nguyên thiên nhiên, vốn, khoa học công nghệ, kinh tế ngoại thương…) nhằm xác định và dự báo những nguồn lực và tiềm năng có thể huy động được để thực hiện chính sách Đó là nguồn nhân lực, nguồn vốn, các thiết bị, vật liệu, tài nguyên… Nếu không xác định điều này thì chính sách sẽ thiếu tính khả thi, khó thực hiện
1.3.4.2 Các yếu tố môi trường quốc tế
Thứ nhất, Các hiệp định thương mại tự do Việt Nam đã ký kết và những quy
định liên quan
Trong bối cảnh hội nhập và toàn cầu hóa hiện nay, mỗi quốc gia đều là thành viên của một tổ chức kinh tế quốc tế và có quan hệ kinh tế với nhiều nước trên thế giới Cùng với đó là các nguyên tắc, quy định liên quan mang tính ràng buộc mà quốc gia phải tuân theo Những quy định này còn có tính pháp lý cao hơn cả luật pháp quốc gia trong mối quan hê quốc tế, vì vậy nó có ảnh hưởng rất lớn đến các chính sách được ban hành tại quốc gia đó
Phát triển CNHT là một đòi hỏi cấp thiết từ thực tiễn phát triển công nghiệp đất nước, trước những cơ hội và thách thức do hội nhập quốc tế mang lại Các chính sách phát triển CNHT được xây dựng dựa trên lợi thế của ngành, quốc gia, mục tiêu đáp ứng được các yêu cầu, quy định từ của các hiệp định nhằm tận dụng các cơ hội
để hưởng ưu đãi, đồng thời kháng cự lại với các thách thức to lớn đi cùng, nhằm phát triển kinh tế một cách tự chủ, bền vững
Ngành CNHT dệt may được phát triển với mục đích làm đòn bẩy thúc đẩy sự phát triển và mang lại GTGT lớn đối với ngành dệt may – một trong những ngành mũi nhọn của công nghiệp Việt Nam Ngành dệt may, đặc biệt là dệt may xuất khẩu chịu sự tác động rất lớn từ môi trường quốc tế thông qua các quy định trong các FTA mà Việt Nam ký kết với nước ngoài như quy định về hạn ngạch, thuế, các tiêu chuẩn kỹ thuật, quy định xuất xứ, quy định về môi trường…
Thống kê trong 20 năm qua, Việt Nam đã ký kết và tham gia 10 Hiệp định FTA Việt Nam cũng đang đàm phán và kết thúc đàm phán 5 Hiệp định FTA khác