1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh các trường tiểu học quận hai bà trưng, thành phố hà nội

129 247 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 129
Dung lượng 338,6 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các phương pháp nghiên cứu lý luận Bằng việc nghiên cứu đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước phát triển giáo dục nói chung và phát triển giáo dục tiểu học nói riêng trong giai đoạn

Trang 1

HÀ NỘI, NĂM 2016

QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC

CHO HỌC SINH CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC

QUẬN HAI BÀ TRƯNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC sĩ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Trang 2

QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC

CHO HOC SINH CÁC TRƯỜNG TIÊU HOC

LUÂN VĂN THAC sĩ KHOA HOC GIÁO DUC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Phó Đức Hòa

Chuyên ngành: Quản lý giáo dục Mã số :

60140114

Trang 3

phạm Hà Nội 2, quý Thày, Cô phòng sau đại học, khoa Quản lý giáo dục và quý Thầy,

Cô đã tham gia giảng dạy lớp Cao học Quản lý giáo dục của trường Đại học sư phạm

Hà Nội 2 đã tận tình giảng dạy, tạo mọi điều kiện giúp đỡ tác giả trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Đặc biệt tác giả xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Phó Đức Hòa - người Thầy đáng kính đã bỏ nhiều công sức tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tác giả trong quá trình nghiên cứu, hoàn thành luận văn

Tác giả xin chân thành cảm ơn các đồng chí lãnh đạo, chuyên viên phòng Giáo dục & Đào tạo Quận Hai Bà Trưng, các đồng chí trong Ban Giám hiệu, các đồng chí giáo viên, Bí thư Đoàn TNCS HCM, Tổng phụ trách Đội, giáo viên giảng dạy các trường tiểu học Quận Hai Bà Trưng đã giúp đỡ, động viên tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất để tác giả hoàn thành luận văn

Trong quá trình thực hiện đề tài, chắc chắn luận văn không sao tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót, tác giả mong nhận được sự thông cảm, đóng góp ý kiến của các nhà khoa học, quý Thầy Cô và bạn bè đồng nghiệp

Trang 4

Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu ừong luận văn này là trung thực và không trùng lặp với các đề tài khác Tôi cũng xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn ừong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc.

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Thu Hảo

Trang 5

Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ

Trang 6

1.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh

PHỤ LỤC

Trang 7

Bảng 2.16 Nhận xét của cán bộ quản lý về mức độ ảnh hưởng của các nguyên nhân đến

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước, Đảng, Nhà nước và nhân dân ta luôn tập trung mọi nguồn lực xã hội để thực hiện mục tiêu xây dựng những con ngưòi Việt Nam thiết tha với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội,

có đạo đức trong sáng, có ý chí kiên cường xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, thực hiện công nghiệp hóa - hiện đại hóa (CNH - HĐH) đất nước, giữ gìn và phát huy các giá trị độc lập dân tộc, có năng lực tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại, phát huy được tiềm năng của dân tộc, có ý thức cộng đồng và phát huy tính tích cực của cá nhân để làm chủ tri thức khoa học và công nghiệp hiện đại, có tư duy sáng tạo, có kỹ năng thực hành giỏi, có tác phong công nghiệp, có tổ chức kỷ luật, có sức khoẻ, kiên định với Chủ nghĩa xã hội và tư tưởng Hồ Chí Minh

Từ xa xưa, cha ông ta vẫn luôn đề cao vấn đề đạo đức của con người “Tiên học

lễ, hậu học văn” Tiếp bước các bậc tiền bối, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng rất quan tâm đến thế hệ trẻ, Bác nói “Có đức mà có không có tài thì làm gì cũng khó, có tài mà không có đức là người vô dụng” Bác cũng dạy “ công tác giáo dục đạo đức trong nhà trường là một bộ phận quan ttọng có tính chất nền tảng của giáo dục trong nhà trường

xã hội chủ nghĩa, dạy cũng như học phải biết cả đức lẫn tài”

Giáo dục đạo đức là trách nhiệm của toàn xã hội mà nhà trường giữ vai trò quan trọng Nhà trường là nơi tạo nguồn nhân lực cho đất nước, nhiệm vụ của nhà trường là phải làm thế nào để tìm ra được những biện pháp quản lý hoạt động ừong đó

có quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh nhằm góp phàn tạo ra lớp ngưòi phát huy trí tuệ và đạo đức có năng lực để xây dựng và làm chủ xã hội mới

Học sinh tiểu học ở trường tiểu học là lớp thiếu niên đang trong giai đoạn hình thành nhân cách, bộc lộ về tính cách, các em có xu hướng thích tìm hiểu xung quanh, thích tham gia các hoạt động tập thể Trong bối cảnh xã hội phức tạp hiện nay, mặt trái của nền kinh tế thị trường với những tác động tiêu cực của nó đã làm ảnh hưởng

Trang 9

không nhỏ đến tàng lớp thiếu niên Nhà trường noi bồi dưỡng đạo đức, lý tưởng nhân cách, hoài bão ước mơ, trí tuệ của học sinh nhưng cũng không tránh khỏi sự xâm nhập tấn công của các tệ nạn xã hội và các hiện tượng tiêu cực, nhất là hiện nay việc

sử dụng facbook tràn lan, các em dễ bị lôi cuốn vào các hoạt động có hại và nguy hiểm cho bản thân và xã hội Hơn bao giờ hết chúng ta những người làm công tác giáo dục đều nhận thức rằng: Nhà trường đóng vai ừò quan ừọng trong việc giáo dục đạo đức cho học sinh Những người làm công tác quản lý nói chung và chỉ đạo công tác giáo dục đạo đức trong nhà trường nói riêng phải nhận thức rõ trách nhiệm tạo nên những tác động giúp học sinh hình thành nhân cách để tạo ra lớp người mói là chủ đất nước

1.2 Hà Nội là thủ đô là trung tâm kinh tế, chính trị văn hóa của cả nước, bên cạnh những mặt tích cực về một nền kinh tế năng động, môi trường văn hóa văn minh,

xã hội phát triển tạo thuận lợi cho việc học tập sinh hoạt của học sinh, thì những tác động tiêu cực của nền kinh tế thị trường, những ảnh hưởng của phim ảnh bạo lực, của

tệ nạn xã hội, mạng xã hội ít nhiều đang tấn công vào gia đình và trường học của các học sinh Nó làm cho một số học sinh chưa nhận thức được đúng hướng đi của mình,

dễ làm lệch lạc nhân cách của các em Là một quận nội thành của Hà Nội, nơi tập trung nhiều đàu mối kinh tế, văn hóa, giao thông của Thủ đô, quận Hai Bà Trưng cũng chịu nhiều ảnh hưởng của sự sa sút về đạo đức của giói trẻ Trách nhiệm đầy lùi sự suy thoái về đạo đức đó đầu tiên phải thuộc về những người làm công tác giáo dục Muốn làm được điều đó đòi hỏi người cán bộ quản lý giáo dục phải đánh giá đứng thực trạng việc quản lý hoạt động giáo dục đạo đức, tìm ra biện pháp tháo gỡ, khắc phục để nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức tại môi trường mình quản lý

Hiện nay, đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về giáo dục đạo đức và quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh; Tuy nhiên việc nghiên cứu cụ thể về thực hạng và các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh nói chung và cho học sinh tiểu học quận Hai Bà Trưng - thành phố Hà Nội nói riêng đến

Trang 10

nay vẫn chưa có công trinh khoa học nào cụ thể.

1.3 Xuất phát từ những vấn đề trên, chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài:

“Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh các trường tiểu học quận Hai

Bà Trưng - thành phố Hà Nội”.

2 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và khảo sát, đánh giá thực trạng công tác quản

lý hoạt động giáo dục đạo đức ở các trường tiểu học quận Hai Bà Trưng - thành phố

Hà Nội từ đó đề xuất biện pháp nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh các trường tiểu học quận Hai Bà Trưng - thành phố Hà Nội

3 Khách thể và đối tượng nghiền cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu

Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức ở trường tiểu học

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức ở các trường tiểu học quận Hai

Bà Trưng thành phố Hà Nội

4 Giả thuyết khoa học

Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh các trường tiểu học ừên địa bàn quận Hai Bà Trưng thành phố Hà Nội hiện nay đã có đổi mói và thu lại một số kết quả đáng khích lệ, tuy nhiên vẫn còn những hạn chế nhất định Nếu đề xuất được các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức phù họp với thực trạng hiện nay của địa bàn quận sẽ góp phần nâng cao chất lượng hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh các trường tiểu học trên địa bàn quận Hai Bà Trưng thành phố Hà Nội

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

5.1. Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh tại các trường tiểu học

5.2. Khảo sát, đánh giá thực trạng giáo dục đạo đức cho học sinh các trường tiểu học và thực trạng quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh

Trang 11

trên địa bàn quận Hai Bà Trưng thảnh phố Hà Nội.

5.3. Đẻ xuất biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh các trường tiểu học tại quận Hai Bà Trưng thành phố Hà Nội

6 Giới hạn phạm vỉ nghiền cứu

6.1 Giới hạn về đối tượng nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh các trường tiểu học ừên địa bàn quận Hai Bà Trưng thành phố Hà Nội của Hiệu trưởng các trường tiểu học quận Hai Bà Trưng thành phố Hà Nội

6.2 Giới hạn đĩa bàn nghiên cứu

Khối các trường tiểu học ừên địa bàn quận Hai Bà Trung thành phố Hà Nội

6.3 Giới hạn khách thể khảo sát

Trong đề tài này tác giả chỉ nghiên cứu để đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh các trường tiểu học trên địa bàn quận Hai Bà Trưng thành phố Hà Nội

Trong điều tra thu thập số liệu, tác giả tập trung vào những kết quả giáo dục đạo đức của 03 trường tiểu học trong các năm học 2013 - 2014 đến 2015-2016:

- Trường tiểu học Lương Yên - quận Hai Bà Trung;

- Trường tiểu học Lê Ngọc Hân - quận Hai Bà Trưng;

- Trường tiểu học Tô Hoàng - quận Hai Bà Trưng;

7 Phương pháp nghiền cứu

7.1 Các phương pháp nghiên cứu lý luận

Bằng việc nghiên cứu đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước phát triển giáo dục nói chung và phát triển giáo dục tiểu học nói riêng trong giai đoạn hiện nay; các công trình khoa học về giáo dục, giáo dục đạo đức cho học sinh, các công trình khoa học về quản lý, quản lý giáo dục, quản lý trường học, quản lý giáo dục đạo đức

cho học sinh; phương pháp phân tích, tổng hợp, phân loại, hệ thống hóa, khái quát

hóa được sử dụng với mục đích xác định cơ sở lý luận về hoạt động quản lý giáo dục

Trang 12

đạo đức cho học sinh các trường tiểu học.

7.2 Các phương pháp nghiên cứu cơ sở thực tiễn

7.2.1 Phương pháp điều tra bằng phiếu khảo sát

Phương pháp điều tra bằng phiếu khảo sát là một phương pháp rất hiệu quả nhằm nắm rõ những nhìn nhận về công tác quản lý hoạt động giáo dục đạo đức của phòng Giáo dục & Đào tạo, Ban Giám hiệu, Tổng phụ trách Đội, một số giáo viên và đại diện CMHS các trường tiểu học trên địa bàn quận Hai Bà Trưng - thành phố Hà Nội, để từ đó có những điều chỉnh sát thực, kịp thời trong luận văn

7.2.2 Phương pháp phỏng vấn

Phương pháp này được sử dụng để thu thập thêm thông tin về thực trạng công tác quản lý hoạt động giáo dục đạo đức học sinh của Lãnh đạo, chuyên viên phòng GD&ĐT quận, Hiệu trưởng các trường tiểu học quận Hai Bà Trưng - thành phố Hà Nội

7.2.3 Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia

Bằng phương pháp xin ý kiến chuyên gia, trao đổi, thu nhập các số liệu thực tiễn; các phương pháp này được sử dụng với mục đích đánh giá thực trạng đạo đức và thực trạng quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh của Hiệu trưởng các trường tiểu học quận Hai Bà Trưng - thành phố Hà Nội; đồng thời xem xét mức độ cần thiết và khả thi của các biện pháp mà tác giả sẽ đề xuất trong luận văn

7.3 Phương pháp thống kê toán học trong quản lý giáo dục

Bằng việc sử dụng phương pháp thống kê toán học, một số phần mềm tin học; các phương pháp này nhằm xử lý các số liệu đã điều tra và ý kiến chuyên gia trong luận văn

8 Ý nghĩa của đề tài

8.1 Ỷ nghĩa khoa học.

Góp phần hệ thống hóa các quan điểm cơ bản về quản lý hoạt động giáo dục đạo đức trong dạy học ở trường tiểu học

Trang 13

8.2 Ỷ nghĩa thực tiễn.

Đe xuất các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức ở các trường tiểu học trên địa bàn quận Hai Bà Trưng thành phố Hà Nội

9 Cấu trúc của luận văn

Ngoài mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, các phụ lục, luận văn còn được trình bày trong 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh

các trường tiểu học

Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh các

trường tiểu học quận Hai Bà Trưng - thành phố Hà Nội

Chương 3 ĩ Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh các

trường tiểu học quận Hai Bà Trưng - thành phố Hà Nội

Chương 1

Cơ SỞ LÝ LUẬN VÈ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC

CHO HỌC SINH TIỂU HỌC

1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề

1.1.1 Các nghiên cứu ở nước ngoài

Đạo đức là một hiện tượng xã hội - một hình thái ý thức đặc biệt, giáo dục đạo đức cho các thế hệ con người luôn là mối quan tâm của cả xã hội và đặc biệt các nhà giáo dục, từ xã hội cổ đại tới xã hội hiện đại ngày nay

Ở phưomg Đông thời cổ đại, Khổng Tử (551 - 479 TCN) nhà tư tưởng, nhà chính trị, nhà giáo dục nổi tiếng, đã đặc biệt quan tâm tới vấn đề đạo đức và giáo dục đạo đức cho con người Tư tưởng về đạo đức, giáo dục đạo đức của ông thể hiện rõ ừong các tác phẩm: “Dịch, Thi, Thư, Lễ, Nhạc Xuân Thu” Ông xây dựng học thuyết

“Nhân- Lễ- Chính danh”, trong đó, “Nhân”- Lòng thương người - là yếu tố hạt nhân,

là yếu tố cơ bản nhất của con người Đứng trên lập trường coi trọng giáo dục đạo đức, Ông có câu nổi tiếng truyền lại đến ngày nay “Tiên học lễ, hậu học văn”.[2].[3]

Trang 14

Ở phương Tây thời cổ đại, nhà triết gia Hy Lạp Socrates (469-399 TCN) cho rằng cái gốc của đạo đức là tính thiện Bản tính con người vốn thiện, nếu tính thiện ấy được lan tỏa thì con người sẽ có hạnh phúc Muốn xác định được chuẩn mực đạo đức, theo Socrate, phải bằng nhận thức lý tính với phương pháp nhận thức khoa học.

Aritstốt (384-322 TCN) là một nhà triết học, bác học Hy Lạp cổ đại cũng khẳng định rằng, phải giáo dục con người ta về đạo đức, phát triển ý chí, giảng dạy văn hóa để phát triển lý trí, giảng dạy thể dục thể thao để phát triển thể lực Ông xem đạo đức là cái thiện của cá nhân, còn chính trị là cái thiện của xã hội Ông cho rằng không phải hy vọng vào Thượng đế áp đặt để có người công dân hoàn thiện về đạo đức, mà việc phát hiện nhu càu trên ừái đất, phát triển những quyền lợi chính trị, khoa học mới tạo nên được con người hoàn thiện trong quan hệ đạo đức

Trong xã hội cận đại, J.A Comenxki (1592-1670) nhà sư phạm lỗi lạc, nhà giáo dục nổi tiếng phương Tây thế kỷ XVII cho rằng con người là một tác phẩm hoàn thiện nhất, đẹp đẽ nhất của thiên nhiên - là tiểu vũ trụ và phải giáo dục con người để tạo ra nhân đạo, chế tạo ra hạnh phúc, chế tạo ra con người chân chính Những quy tắc trong ứng xử, trong sinh hoạt đối với mọi người, trong cách nói năng và im lặng chính

là những giá trị đạo đức mà ông muốn mọi người đều phải đạt được

Ông đã có nhiều đóng góp cho công tác giáo dục đạo đức qua tác phẩm: “Khoa

sư phạm vĩ đại” Ông đã đề ra nhiều biện pháp cụ thể trong việc giáo dục làm cơ sở cho nền giáo dục hiện đại sau này Ông nhấn mạnh việc tôn trọng con người phải bắt đầu từ sự tôn trọng trẻ em Những trẻ em ý thức kém về học tập và hạnh kiểm giống như những trái chín muộn Chính vì vậy, nhà giáo phải có thái độ trân ừọng, kiên nhẫn thì mới có thể xoá bỏ những thói xấu ở học sinh và khơi dậy tiềm năng của các em [23]

Theo quan niệm của học thuyết Mác - Lênin: đạo đức là một hình thái ý thức

xã hội có nguồn gốc từ lao động sản xuất và đời sống cộng đồng xã hội, nó phản ánh

và chịu sự chi phối của tồn tại xã hội Nếu tồn tại xã hội thay đổi thì đạo đức cũng

Trang 15

thay đổi theo Do vậy, đạo đức mang tính lịch sử, tính giai cấp và tính dân tộc.

1.1.2 Các nghiên cứu ở trong nước

Vấn đề đạo đức, giáo dục đạo đức và quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh, sinh viên ở Việt Nam đã được nhiều nhà khoa học, nhà giáo dục quan tâm nghiên cứu, chúng ta cũng biết rằng đạo đức xuất hiện từ buổi bình minh của lịch sử loài người, nó là một hình thái ý thức xã hội Nó được phát triển song hành cùng với

xã hội đồng thời nó giúp xã hội loài người tiến cao hơn Chính vì vậy đã có nhiều công trình nghiên cứu về giáo dục đạo đức của nhiều tác giả trong và ngoài nước từ nhiều góc độ khác nhau

Tác giả Hà Thế Ngữ [34] đã nghiên cứu về vấn đề tổ chức quá trình giáo dục đạo đức thông qua giảng dạy các môn khoa học đặc biệt là các môn khoa học xã hội

và nhân văn, giáo dục thế giới quan, nhân sinh quan, bồi dưỡng ý thức đạo đức cách mạng, hướng dẫn các hành vi đạo đức cho học sinh;

Nhà Tâm lý học Phạm Minh Hạc [20] đã nghiên cứu đạo đức trong cấu trúc nhân cách, thực hiện giáo dục trong phát triển nhân cách Công trình nghiên cứu của ông và các cộng sự về phát ữiển toàn diện con người Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa - hiện đại hóa (CNH - HĐH) đã dành một chương cho vấn đề đạo đức, giáo dục đạo đức, các giải pháp nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức trong giai đoạn hiện nay nhằm tìm ra các giải pháp về giáo dục đạo đức các tác giả đã tìm những cách tiếp cận khác nhau tạo nên sự phong phú về nội dung và phương pháp nghiên cứu giáo dục đạo đức trong các công ừình nghiên cứu của mình;

Cố tác giả Hà Nhật Thăng [40] đã đề cập đến những vấn đề chung như phương pháp luận của giáo dục đạo đức, xây dựng các chuẩn mực đạo đức của con người Việt Nam ừong thời kỳ CNH - HĐH, các giải pháp nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức trong giai đoạn hiện nay

Nhìn chung các tác giả đã nghiên cứu mối quan hệ giữa nhận thức khoa học với giáo dục đạo đức, những biểu hiện nhân cách trong lối sống và đưa ra dự báo mô

Trang 16

hình nhân cách thanh niên Đặc biệt những năm gàn đây nhiều nhà nghiên cứu, nhà hoạt động xã hội đã hết sức nhức nhối trước những hiện tượng suy thoái đạo đức của một số thanh niên đã có những bài viết đáng quan tâm.

Một số tác giả khác đã nghiên cứu về giáo dục đạo đức và các thành quả nghiên cứu được thể hiện tại các sách, bài báo khoa học, luận án tiến sĩ và

luận văn thạc sĩ Cụ thể:

Tác giả Huỳnh Khái Vinh đã nghiên cứu một cách hệ thống những vấn đề cơ bản của lối sống, đạo đức, chuẩn giá tri xã hội; mối quan hệ giữa lối sống, đạo đức với phát triển văn hóa và con người; sự tác động của những nhân tố chính trị, kinh tế, xã hội tới lối sống, đạo đức, chuẩn giá trị xã hội truyền thống và cách mạng; những kinh nghiệm và bài học về xây dựng lối sống, đạo đức, chuẩn giá tri xã hội và một số nước; thực trạng phương hướng, quan điểm và giải pháp xây dựng lối sống, đạo đức, chuẩn giá trị xã hội trong thời kỳ đẩy mạnh CNH - HĐH đất nước

về quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh phổ thông đã có một số

tác giả đã nghiên cứu về giáo dục đạo đức và quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh phổ thông như Lê Trung Trấn, Nguyễn Dục Quang, Tràn Đình Chiến, Nguyễn Tấn Giao, đã khẳng định vai trò của GVCN trong quá trình giáo dục đạo đức cho học sinh (HS) và đưa ra các định hướng cho GVCN ừong việc đổi mới nội dung, phương pháp giáo dục đạo đức cho học sinh ừong nhà trường phổ thông

Nghiên cứu về giáo dục đạo đức, lối sống cho sinh viên đã được các tác giả Mạc Văn Trang, Phạm Đình Đức, đề cập đến Một số tác giả như Cao Đình Trúc, Võ Tuấn Hiệp, Nguyễn Thanh Hòa, đã nghiên cứu về quản lý giáo dục đạo đức cho sinh viên các trường đại học và cao đẳng; trong đó đã xuất một số nguyên tắc và giải pháp giáo dục đạo đức cho sinh viên trường cao đẳng văn hóa nghệ thuật quân đội như: nâng cao nhận thức của cán bộ, giáo viên (GV) về tổ chức giáo dục đạo đức; xác định

rõ hơn mô hình tổ chức, chỉ đạo công tác giáo dục đạo đức; tổ chức tốt việc kết họp dạy học các môn ừên lớp và các hoạt động ngoài giờ lên lớp; thực hiện nghiêm minh

Trang 17

điều lệnh quân đội, nội quy, chế độ sinh hoạt trong học tập; tổ chức tốt các đợt thi đua, kịp thời tuyên dương những tập thể và sinh viên tốt; phối họp chặt chẽ giữa nhà trường và gia đình, xây dựng môi trường văn hóa đạo đức lành mạnh; nâng cao vai trò

và hiệu quả hoạt động của GVCN; xây dựng phong trào tự học tự tu dưỡng trong học sinh sinh viên

Trong công cuộc đổi mới kinh tế - xã hội của nước nhà, do nhận thức được tầm quan ừọng đặc biệt của nhân tố con người cho nên đã có nhiều nghiên cứu đi sâu vào nghiên cứu giáo dục đạo đức, đặc biệt là giáo dục đạo đức cho học sinh phổ thông thể hiện tại những luận văn thạc sĩ liên quan đến vấn đề giáo dục đạo đức, quản lý vấn

đề giáo dục đạo đức ở tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông Ngoài ra, còn có nhiều đề tài khác đi sâu và nghiên cứu giáo dục đạo đức và quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh, sinh viên ở các trường , trường Đại học, Cao đẳng, Trung cấp, Nhưng đề tài nghiên cứu về vấn đề này tại quận Hai Bà Trưng còn rất ít Nhất là trong giai đoạn hiện nay khi việc nghiên cứu các biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức cho học sinh tiểu học vẫn còn bỏ ngỏ Vì vậy nghiên cứu

cơ sở lý luận về giáo dục đạo đức và quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh trong các trường tiểu học; Tìm hiểu thực trạng quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh tại các trường tiểu học trên địa bàn quận Hai Bà Trưng từ đó tìm ra những biện pháp quản lý phù hợp, có tính khả thi nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức cho học sinh các trường tiểu học trên địa bàn quận Hai Bà Trưng là rất cần thiết

1.2 Một số khái niệm cơ bản về quản lý hoạt động giáo dục đạo đức

1.2.1 Quản lý

1.2.1.1. Khái niệm quản lý

Thuật ngữ “quản lý” (Tiếng Việt gốc Hán) bao gồm hai quá trình tích hợp vào nhau Quá trình “quản” gồm sự coi sóc, giữ gìn, duy trì ở trạng thái “ổn định” Quá trình “lý” bao gồm sự sửa sang, sắp xếp, đổi mới, đưa hệ thống vào thế “phát triển”

Theo Đại Từ điển Tiếng Việt: “Quản lý là tổ chức, điều khiển hoạt động

Trang 18

của một đơn vị, một tổ chức”[ 42 - tr.1363]

Quản lý là một công việc gắn liền với cuộc sống, với hoạt động của con người,

vì thế nó rất đa dạng và phức tạp Nhận thức của con người về quản lý vì thế cũng rất phong phú, các nhà nghiên cứu đã đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau về khái niệm quản lý

Theo tác giả Hà Thế Ngữ và Đặng Vũ Hoạt, “Quản lý là một quá trình định hướng, quá trình có mục tiêu nhất định Những mục tiêu này đặc trưng cho trạng thái mới của hệ thống mà người quản lý mong muốn”.[ 36]

Theo tác giả Nguyễn Văn Lê: Quản lý là một công việc vừa mang tính khoa học vừa mang tính nghệ thuật Ông viết “Quản lý một hệ thống xã hội là khoa học và nghệ thuật tác động vào hệ thống đó mà chủ yếu là vào những con người nhằm đạt hiệu quả tối ưu theo mục tiêu đề ra”.[ 33]

Theo tác giả Trần Kiểm: “Quản lý là nhằm phù họp nỗ lực của nhiều người, sao cho mục tiêu của tùng cá nhân biến thành những thành tựu của xã hội” [ 30]

Theo C.Mác, quản lý là chức năng được sinh ra từ tính chất xã hội hóa lao động, nó có tầm quan trọng đặc biệt vì mọi sự phát triển của xã hội đều thông qua hoạt động của con người và thông qua quản lý C.Mác đã khẳng định: “tất cả lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều

nó cũng càn đến một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động của toàn bộ cơ chế sản xuất Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng” [9]

Khái niệm quản lý phản ánh một dạng lao động trí tuệ của con người có chức năng bảo đảm và khuyến khích những nỗ lực của những người khác để thực hiện thành công công việc nhất định Quản lý là công tác phối họp có hiệu quả hoạt động của những người cộng sự khác cùng chung một tổ chức Quan niệm hiện đại về quản

lý thừa nhận đó là toàn bộ các hoạt động huy động, tổ chức, thực thi các nguồn lực vật chất và tinh thần, sử dụng chúng nhằm tác động và gây ảnh hưởng tích cực đến những

Trang 19

người khác để đạt được những mục tiêu của tổ chức hay cộng đồng.

Trong luận văn này tác giả sử dụng khái niệm:“Quản lý là một quá trình tác động có tổ chức, có mục đích của chủ thể quản lý lên khách thể và các đối tượng quản

lý nhằm sử dụng hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của tổ chức để đạt được mục tiêu đặt ra ừong điều kiện biến động của môi trường”

1.2.1.2. Bản chất quản lỷ

Bản chất quản lý đó chính là các hoạt động của chủ thể quản lý tác động lên các đối tượng quản lý để đạt được mục tiêu đã xác định

1.2.1.3. Chức năng quản lỷ

Quản lý gồm 4 chức năng cơ bản: Dự báo và lập kế hoạch; tổ chức thực hiện

kế hoạch; lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện kế hoạch; kiểm tra, đánh giá

Sơ đồ 1.1 Các chức năng quản lý

Lập kế hoạch là quá trình xác định mục tiêu và quy định những biện pháp tốt nhất để thực hiện mục tiêu đó

Tổ chức là sắp xếp, sắp đặt một cách khoa học những yếu tố, những con người, những hoạt động thành một hệ thống toàn vẹn nhằm đảm bảo cho

Trang 20

hiện kế hoạch; phát hiện sai sót để kịp thời uốn nắn, sửa chữa.

TT ịthông tin) được coi là sợi dây, là huyết mạch liên kết với cả 4 chức năng

quản lý

1.2.2 Giáo dục đạo đức 1.2.2.1 Đạo đức

Trong xã hội, con người bao giờ cũng phải có những quan hệ trực tiếp hoặc gián tiếp với những người xung quanh Các quan hệ đó vô cùng phức tạp Nó đòi hỏi con người phải có những ứng xử, giao tiếp và thường xuyên điều chỉnh những hành vi của mình cho phù hợp với yêu cầu và lợi ích chung của mọi người Trong trường hợp

đó con người được xem là có đạo đức Ngược lại, những cá nhân biểu hiện hành vi vì lợi ích riêng mình làm tổn hại lợi ích chung của cộng đồng, bị xã hội phê phán thì cá nhân đó bị xem là vô đạo đức

Đạo đức phản ánh những giá trị, những quan hệ tốt đẹp giữa người và người; mặt khác đạo đức còn phản ánh ý thức và hành vi tự nguyện, tự giác của con người trong mối tương quan giữa cá nhân và xã hội, giữa con người với nhau, đạo đức xuất hiện từ khi có loài người và nó không bao giờ biến mất, nó tồn tại vĩnh viễn cùng với

sự tồn tại, phát triển của xã hội loài người Vì vậy, con người càng vươn tới và sáng tạo ra những giá trị đạo đức mới

Đạo đức là một phạm trù được rất nhiều lĩnh vực khoa học nghiên cứu như: triết học, đạo đức học, giáo dục học, xã hội học, tâm lý học, giá trị học mỗi lĩnh vực

có một cách tiếp cận riêng và kết quả đã tạo ra một hệ thống rất

phong phú và sâu sắc

Theo giáo trình “ Đạo đức học ” (NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội - Năm 2000) “Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là tập họp những nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực xã hội, nhằm điều chỉnh và đánh giá cách ứng xử của con người trong quan hệ với nhau và quan hệ với xã hội, chúng được thực hiện bởi niềm tin cá nhân, bởi truyền thống và sức mạnh của dư luận xã hội” [18 tr 8]

Đạo đức là một hình thái ý thức XH, là một mặt của đời sống XH con người và

Trang 21

là một hình thái chuyên biệt của quan hệ XH, thực hiện chức năng XH, quan trọng là điều chỉnh hành vi con người trong mọi lĩnh vực của đời sống XH.

Theo quan điểm học thuyết Mác - Lê Nin: “Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội có nguồn gốc từ lao động sản xuất và đời sống cộng đồng xã hội Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội phản ánh và chịu sự chi phối của tồn tại xã hội Vì vậy tồn tại

xã hội thay đổi thì ý thức xã hội (đạo đức) cũng thay đổi theo Và như vậy đạo đức xã hội luôn mang tính lịch sử, tính giai cấp và tính dân tộc”

Tác giả Phạm Minh Hạc cho rằng: Đạo đức theo nghĩa hẹp là luân lý, những quy định và chuẩn mực ứng xử ừong quan hệ của con người Nhưng bên trong điều kiện hiện nay, chính quan hệ của con người cũng đã mở rộng và đạo đức bao gồm những quy định, những chuẩn mực ứng xử của con người với con người, với công việc và với bản thân, kể cả với thiên nhiên và môi trường sống

Theo nghĩa rộng, khái niệm đạo đức liên quan chặt chẽ với phạm trù chính ữị, pháp luật đời sống Đạo đức là thành phần cơ bản của nhân cách, phản ánh bộ mặt nhân cách của một cá nhân đã được xã hội hoá Đạo đức được biểu hiện ở cuộc sống tinh thần lành mạnh trong sáng, ở hành động giải quyết họp lý, có hiệu quả những mâu thuẫn

Theo Từ điển Tiếng Việt (Nxb Khoa học XH) thì: “Đạo đức là những tiêu chuẩn, những nguyên tắc quy định hành vi quan hệ của con người đối với nhau và đối với xã hội Đạo đức là những phẩm chất tốt đẹp của con người theo những tiêu chuẩn đạo đức của một giai cấp nhất định” [42.tr 211]

Theo tác giả Phạm Khắc Chương: “Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là tổng họp những quy tắc, nguyên tắc chuẩn mực xã hội, nhờ nó con người tự giác điều chỉnh hành vi của mình sao cho phù họp với lợi ích, hạnh phúc của con người và tiến

bộ xã hội trong quan hệ xã hội giữa con người với con người, giữa cá nhân và xã hội.” [12.tr 51]

Như ừên đã trình bày, có nhiều định nghĩa khác nhau về đạo đức Tuy nhiên ta

Trang 22

có thể hiểu khái niệm này dưới hai góc độ:

Một là góc độ xã hội: ĐĐ là một hình thái ý thức xã hội đặc biệt, phản ánh

dưới dạng những nguyên tắc, yêu cầu, chuẩn mực điều chỉnh hoặc chi phối hành vi của con người trong các mối quan hệ giữa con người với tự mhiên, giữa con người với

xã hội và với chính bản thân mình

Hai là góc độ cá nhân: ĐĐ chính là những phẩm chất, nhân cách của con

người, phản ánh ý thức, tình cảm, ý chí, hành vi, thói quen và cách ứng xử của họ trong các mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, với xã hội, giữa bản thân họ với người khác và với chính bản thân mình

ĐĐ biến đổi và phát triển cùng với sự biến đổi và phát triển của các điều kiện kinh tế xã hội, cùng với sự phát triển của xã hội Khái niệm ĐĐ ngày càng được hoàn thiện đầy đủ hơn Các giá trị ĐĐ trong XH của chúng ta hiện nay là thể hiện sự kết hợp sâu sắc truyền thống ĐĐ tốt đẹp của dân tộc với xu thế tiến bộ của thời đại, của nhân loại Lao động sáng tạo, nguồn gốc của mọi giá trị là một nguyên tắc đạo đức có

ý nghĩa chỉ đạo trong giáo dục và tự giáo dục của con người hiện nay

ĐĐ có ba chức năng: Nhận thức, giáo dục và điều chỉnh hành vi Trong đó, điều chỉnh hành vi hết sức quan ừọng vì nó điều chỉnh hành vi con người trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội

Chức năng nhận thức: Nhận thức ĐĐ đem lại tri thức ĐĐ, ý thức ĐĐ cho chủ

thể, các cá nhân nhờ tri thức ĐĐ, ý thức ĐĐ xã hội đã nhận thức mà tạo thành ĐĐ cá nhân Cá nhân hiểu và tin ở các chuẩn mực, lý tưởng, giá trị ĐĐ xã hội trở thành cơ sở

để cá nhân điều chỉnh hành vi, thực hiện ĐĐ

Chức năng giáo dục: Trên cơ sở nhận thức ĐĐ, chức năng giáo dục giúp con

người hình thành những phẩm chất nhân cách, hình thành hệ thống định hướng giá trị

và các chuẩn mực ĐĐ, điều chỉnh ý thức hành vi ĐĐ Hiệu quả giáo dục ĐĐ phụ thuộc vào điều kiện KT- XH, cách thức tổ chức, giáo dục mức độ tự giác của chủ thể

và đối tượng giáo dục ừong quá trình giáo dục

Trang 23

Chức năng điều chỉnh hành vi đạo đức: Sự điều chỉnh hành vi ĐĐ làm cho cá

nhân và xã hội cùng tồn tại và phát triển, đảm bảo quan hệ lợi ích cá nhân và cộng đồng Chức năng này thể hiện bằng hai hình thức chủ yếu Trước hết là bản thân chủ thể ĐĐ phải tự giác điều chỉnh hành vi của mình trên cơ sở những chuẩn mực ĐĐ xã hội Thứ hai là tập thể cần tạo ra dư luận để khen ngợi, khuyến khích, đánh giá hoặc phê phán những biểu hiện cụ thể của hành vi ĐĐ trên cơ sở những chuẩn mực giá trị

ĐĐ Đây là chức năng xã hội cơ bản, hết sức quan họng của ĐĐ: “Mục đích điều chỉnh của đạo đức nhằm đảm bảo sự tồn tại và phát triển xã hội bằng việc tạo nên sự hài hoà quan hệ lợi ích cộng đồng và cá nhân (và khi cần phải ưu tiên lợi ích cộng đồng)” [18 tr 41]

về bản chất, đạo đức là những quy tắc, những chuẩn mực xã hội, nó được hình

thành, tồn tại và phát triển trong cuộc sống, được xã hội thừa nhận và tự giác thực hiện Đạo đức chính là văn hóa trong cuộc sống, là biểu hiện của trình độ nhận thức của cá nhân và trình độ dân trí xã hội

Ngày nay, trong nền kinh tế thị trường và sự hội nhập quốc tế, khái niệm đạo đức cũng có thay đổi theo tư duy và nhận thức mới Tuy nhiên, không có nghĩa là các giá trị đạo đức cũ hoàn toàn mất đi, thay vào đó là các giá trị đạo đức mới Theo quan điểm của Đảng và Nhà nước ta, các giá trị đạo đức hiện nay là sự kết hợp sâu sắc truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc với xu hướng tiến bộ của thời đại, của nhân loại Đó là tinh thần càn cù lao động, sáng tạo, tình yêu quê hương đất nước gắn liền với chủ nghĩa xã hội, sống và làm việc theo hiến pháp và pháp luật, có tinh thần nhân đạo và tinh thần quốc tế cao cả

Như vậy, từ các quan niệm trên ta có thể hiểu: "Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội đặc biệt bao gồm một hệ thống những quan điểm, quan niệm, những quy tắc, nguyên tắc, chuẩn mực xã hội Nó ra đời, tồn tại và biến đổi từ nhu cầu của xã hội, nhờ đó con người tự giác điều chỉnh hành vi của mình cho phù hợp với lợi ích, hạnh phúc của con người và sự tiến bộ của xã hội trong mối quan hệ giữa con người với con người, giữa cá nhân với xã hội" [30]

Trang 24

1.2.2.2 Giáo dục đạo đức

“Giáo dục đạo đức là những tác động sư phạm một cách có mục đích, có hệ

thống và có kế hoạch của nhà giáo dục tới người được giáo dục (học sinh) để bồi dưỡng cho họ những phẩm chất đạo đức (chuẩn mực, hành vỉ đạo đức) phù họp với

yêu cầu của xã hội” [26]

Theo tác giả Đặng Vũ Hoạt và Hà Thị Đức “Giáo dục đạo đức là quá trình biến các chuẩn mực đạo đức từ những đòi hỏi bên ngoài của xã hội đối với cá nhân thành những đòi hỏi bên trong của bản thân, thành niềm tin, nhu cầu, thói quen của người được giáo dục” [22]

Giáo dục đạo đức là quá trình hai mặt, mặt tác động của nhà sư phạm và mặt tiếp nhận tích cực của người được giáo dục, đó là sự chuyển hoá những nhu càu của

xã hội thành những phẩm chất bên trong của cá nhân Giáo dục đạo đức được thực hiện trong gia đình, nhà trường và trong môi trường xã hội, với những hình thức đa dạng và những phương pháp phong phú, trong đó giáo dục trong nhà trường có một vị trí đặc biệt quan trọng

Bản chất giáo dục đạo đức là chuỗi tác động có định hướng của chủ thể giáo dục và yếu tố tự giáo dục của học sinh, giúp học sinh nhận thức đúng, tạo lập tình cảm

và thái độ đúng, hình thành những thói quen hành vi văn minh trong cuộc sống, phù họp với chuẩn mực xã hội Trong cuộc sống, trong hoạt động, thông qua giao lưu nhân cách con người mới được hình thành và phát triển

Ngày nay, giáo dục đạo đức cho học sinh là giáo dục đạo đức xã hội chủ nghĩa Nâng cao chất lượng giáo dục chính trị, đạo đức, pháp luật, làm cho học sinh có tinh thần yêu nước, thấm nhuần lý tưởng xã hội chủ nghĩa, thật sự say mê học tập, có ý thức tổ chức kỷ luật, kính thày, yêu bạn, có nếp sống lành mạnh, biết tôn trọng pháp luật

1.2.3 Hoạt động giáo dục đạo đức

Hoạt động giáo dục đạo đức là hình thành cho con người những quan điểm cơ

Trang 25

bản nhất, những nguyên tắc chuẩn mực đạo đức cơ bản của xã hội Nhờ đó, con người

có khả năng lựa chọn, đánh giá đúng đắn các hiện tượng đạo đức xã hội cũng như tự đánh giá suy nghĩ về hành vi của bản thân mình VI thế, công tác giáo dục đạo đức góp phần vào việc hình thành phát triển nhân các phù hợp với từng giai đoạn phát triển “Giáo dục đạo đức là quá trình tác động đến người học để hình thành cho họ ý thức, tình cảm và niềm tin đạo đức, đích cuối cùng quan trọng nhất là lập được những thói quen hành vi đạo đức”

Quá trình giáo dục đạo đức là một hoạt động có tổ chức, có mục đích, có kế hoạch nhằm biến những chuẩn mực đạo đức, từ những đòi hỏi bên ngoài của xã hội với cá nhân thành những đòi hỏi bên ừong của cá nhân, thành niềm tin, nhu cầu, thói quen của người được giáo dục

Giáo dục đạo đức có mối quan hệ chặt chẽ với giáo dục tư tưởng chính trị Từ đó là cơ

sở hình thành thế giới quan Mác- Lênin và địnhhướng chính trị theo quan điểm và đường lối của Đảng cộng sản, cho ý thức và hành động đạo đức

Giáo dục đạo đức còn gắn bó chặt chẽ với việc giáo dục pháp luật Giáo dục pháp luật giúp cho người học nắm được chuẩn mực của pháp luật, các quyền lợi và nghĩa vụ của người công dân Việt Nam Luật pháp bản thân nó cũng đã bao hàm những yếu tố đạo đức Thực hiện pháp luật một cách tự giác góp phàn vào cuộc sống bình yên của xã hội chính là thể hiện những phẩm chất đạo đức chân chính

Quá trình giáo dục đạo đức giúp cho mỗi cá nhân nhận thức đúng các giá trị đạo đức, biết hành động theo lẽ phải, công bằng và nhân đạo, biết sống vì mọi người,

vì gia đình, vì sự tiến bộ và sự phồn vinh của đất nước Trong đó mục tiêu quan trọng nhất của giáo dục đạo đức là hình thành được những thói quen hành vi đạo đức

Như vậy giáo dục đạo đức là một nhiệm vụ bao trùm và xuyên suốt toàn bộ hoạt động của gia đình, nhà trường và xã hội để hình thành và phát triển nhân cách, giáo dục đạo đức trở thành mối quan tâm của toàn xã hội, là vấn đề của mọi vấn đề

Trang 26

trong chiến lược giáo dục và đào tạo vì sự phát triển con người và phát triển xã hội.

1.2.4 Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức

Từ khái niệm quản lý và khái niệm giáo dục đạo đức đã nêu trên đây, quản lý hoạt động giáo dục đạo đức là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý nhằm đưa hoạt động giáo dục đạo đức đạt tới mục tiêu mong muốn một cách hiệu quả nhất

về bản chất, quản lý hoạt động giáo dục đạo đức là quá trình tác động có định

hướng của chủ thể quản lý lên các thành tố tham gia vào các quá trình giáo dục đạo đức nhằm thực hiện có hiệu quả mục tiêu giáo dục đạo đức bằng việc xây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện kế hoạch, chỉ đạo thực hiện kế hoạch và kiểm ừa việc thực hiện kế hoạch đó để những yêu cầu, mục tiêu, nội dung giáo dục đạo đức theo các chuẩn mực đạo đức mà xã hội đặt ra với thế hệ ừẻ phù họp với lứa tuổi học, cấp học ừong hệ thống giáo dục quốc dân trở thảnh hiện thực

Như vậy, quản lý hoạt động giáo dục đạo đức là hoạt động điều hành việc giáo

dục đạo đức để đạo đức vừa là yêu cầu vừa là mục tiêu của nền giáo dục 1.3 Hoat đông giáo duc đao đức cho hoc sinh các trường tiểu hoc

1.3.1 Muc tiêu giáo duc đao đức

Mục tiêu của giáo dục đạo đức là chuyển hoá những nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức xã hội thành những phẩm chất đạo đức nhân cách cho học sinh, hình thành ở học sinh thái độ đúng đắn trong giao tiếp, ý thức tự giác thực hiện các chuẩn mực của

xã hội, thói quen chấp hành các quy định của pháp luật

- về nhận thức: Cung cấp cho học sinh những tri thức cơ bản về các phẩm chất

đạo đức và chuẩn mực đạo đức Giúp học sinh có nhận thức đúng đắn về bản chất, nội dung các chuẩn mực đạo đức của con người Việt Nam trong thời kỳ mới phù họp với yêu cầu phát triển của xã hội Trên cơ sở đó giúp các em hình thành niềm tin đạo đức

- về thái độ tình cảm: Giúp học sinh có thái độ đúng đắn với các quy phạm đạo

đức, có tình cảm và lòng biết ơn sâu sắc đối với các thế hệ cha anh vì độc lập tự do

Trang 27

của Tổ quốc Khơi dậy ở học sinh những rung động, những cảm xúc với hiện thực xung quanh Để các em có thái độ rõ ràng đối với các hiện tượng đạo đức, phi đạo đức trong xã hội và có thái độ đúng đắn về hành vi đạo đức của bản thân.

- về hành vi: Có các hành vi phù họp với các chuẩn mực đạo đức Có quan hệ

Giáo dục đạo đức là một nhiệm vụ quan trọng trong quá trình sư phạm, nó đóng vai ừò chủ chốt trong hoạt động giáo dục của các trường tiểu học, nó bao gồm các nhiệm vụ sau đây:

Phát triển các nhu cầu đạo đức cá nhân’ Giáo dục đạo đức là quá trình biến

các hệ thống chuẩn mực đạo đức từ những đòi hỏi của bên ngoài xã hội đối với cá nhân thành những đòi hỏi bên trong cá nhân, thành niềm tin, thói quen của người được giáo dục Từ đó họ luôn nảy nở những tình cảm hướng tới cái chân, thiện, mỹ, họ luôn rèn luyện, phấn đấu để đạt được những phẩm chất mong muốn

Hình thành và phát triển ỷ thức đạo đức và giáo dục tình cảm đạo đức giáo

dục đạo đức luôn cung cấp những tri thức về phẩm chất đạo đức, về các chuẩn mực đạo đức, từ đó giúp cho người được giáo dục hình thành và phát triển ý thức đạo đức Đồng thời khơi dậy ở họ những rung động, xúc cảm với hiện thực xung quanh, biết yêu, ghét rõ ràng, có thái độ đúng đắn với các hiện tượng phức tạp trong đời sống xã hội

Rèn luyện ỷ chỉ, hành vi, thói quen và cách ứng xử đạo đức Trong quá trình

Trang 28

giáo dục đạo đức sẽ tổ chức cho người học lặp đi, lặp lại, những hành động đạo đức trong học tập, sinh hoạt và trong cuộc sống Từ đó giúp họ rèn luyện ý chí, hành vi, thói quen đạo đức và cách ứng xử Qua việc rèn luyện thường xuyên đó giúp được giáo dục có thói quen đạo đức bền vững.

Mặt khác quá trình giáo dục đạo đức là một quá trình tiếp thu những tinh hoa văn hoá nhân loại và quá trình sáng tạo những tri thức mới Các tri thức đó luôn mang tính đặc thù dân tộc và thời đại Chính vì vậy mà giáo dục đạo đức còn có nhiệm vụ rất quan trọng là phát triển các giá trị đạo đức cá nhân theo những định hướng giá trị mang tính đặc thù dân tộc và thời đại

1.3.3 Nôi dung của hoat đông giáo duc đao đức

Nội dung giáo dục đạo đức thông qua môn đạo đức, nếp sống thanh lịch văn minh và được tích hợp từ các môn học ừong chương trình học của học sinh đảm bảo các nội dung:

- Giáo dục quan hệ cá nhân của học sinh đối với xã hội như: Giáo dục lòng yêu hương đất nước, yêu Chủ nghĩa xã hội, sẵn sàng hy sinh để bảo vệ Tổ quốc; Giáo dục niềm tự hào về truyền thống anh hùng của dân tộc; Giáo dục lòng tôn trọng, giữ gìn các di sản văn hóa của dân tộc, có thái độ tiến bộ đối với các giá trị truyền thống

và tinh thần quốc tế vô sản; Biết ơn các vị tiền liệt có công dựng nước và giữ nước, giáo dục lòng tin yêu Đảng Cộng Sản Việt Nam và kính yêu Bác Hồ

- Giáo dục quan hệ cá nhân của học sinh đối với lao động: Giáo dục học sinh

có thái độ đúng đắn đối với lao động, biết yêu thích lao động, chăm chỉ học tập, say

mê khoa học, biết quý trọng người lao động dù lao động chân tay hay lao động trí óc

- Giáo dục quan hệ cá nhân học sinh đối với tài sản xã hội, di sản văn hóa và thiên nhiên: Giáo dục yêu cầu bản thân các em phải có ý thức giữ gìn, tiết kiệm, bảo

vệ của công, không xâm phạm tài sản chung và của cải riêng của người khác Biết bảo

vệ môi trường tự nhiên nơi cư trú, học tập và nơi công cộng

Trang 29

- Giáo dục quan hệ cá nhân của học sinh đối với mọi người xung quanh: Giáo dục các em biết kính trọng ông bà, cha mẹ, anh chị và những người lớn tuổi; Biết kính ừọng, lễ phép, lòng biết ơn đối với thầy cô giáo; Đối với em nhỏ phảicó sự cảm thông, nhường nhịn, giúp đỡ, vị tha; Giáo dục tình bạn chân thành, tình yêu chân chính, dựa trên sự cảm thông, hết sức tôn ừọng và có cùng mục đích lý tưởng chung Có tinh thần khiêm tốn, luôn lắng nghe và biết học hỏi Giáo dục tính thông cảm, đoàn kết tương

ừợ, tôn ừọng lợi ích và ý chí tập thể

- Giáo dục quan hệ cá nhân đối với bản thân: Phải luôn tự nghiêm khắc đối với bản thân mình khi có sự sai phạm; bản thân có đức tính khiêm tốn, thật thà, có tính kỷ luật, có ý chí, có nghị lực, có tinh thần dũng cảm, lạc quan yêu đời

- Giáo dục cho học sinh có tính nhân văn, biết cảm thụ với cái đẹp, biết bảo vệ hòa bình, sống thân thiện với môi trường,

1.33.2 Nội dung giáo dục đạo đức thông qua các hoạt động ngoài giờ lên lớp

Các hoạt động ngoài giờ lên lớp như sinh hoạt Đội thiếu niên, Đoàn thanh niên

và các hoạt động văn nghệ, văn hoá, thể thao, các buổi ngoại khoá về các hoạt động xã hội, bảo vệ môi trường, góp phần chống các tệ nạn xã hội, các chủ đề uống nước nhớ nguồn, tìm hiểu truyền thống dân tộc

Giáo dục đạo đức thông qua các giờ lao động công ích và vệ sinh trường lớp,

vệ sinh các công trình công cộng Thông qua con đường này, giáo dục cho học sinh

có nhận thức đúng đắn về mối quan hệ giữa nghĩa vụ và quyền lợi, giữa lao động trí

óc và lao động chân tay; qua đó giáo dục lòng yêu lao động, sự trân trọng với các thành quả lao động của cá nhân, của cộng đồng và xã hội

Qua lao động, các em sẽ thu được những kinh nghiệm, đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau Thói quen phục tùng những lợi ích của tập thể Đặc biệt lao động gắn liền với học tập là một trong những nguyên lý giáo dục của chúng ta hiện nay

1.3.3.3 Giáo dục đạo đức bằng hình thức tự tu dưỡng, tự rèn luyện hoàn thiện mình

Trang 30

Đây là nhân tố quyết định trực tiếp đến trình độ đạo đức của mỗi học sinh Sự phát triển đạo đức đòi hỏi có sự tác động bên ngoài và những động lực bên trong Đó chính là giáo dục và tự giáo dục Tự giáo dục cũng mang yếu tố quyết định đến việc rèn luyện đạo đức.

1.3.3.4 Giáo dục đạo đức thông qua sự gương mẫu của người thầy

Lứa tuổi này, các em đã biết nhìn nhận, đánh giá người thày với thái độ “Trọng thầy vì đạo đức của thầy Phục thầy vì kiến thức của thầy Quý mến thầy vì lòng độ lượng của thày” Các em hiểu được mặt yếu, mặt mạnh của giáo viên, biết nhận xét đánh giá từng thầy cô và có xu hướng cảm phục những giáo viên giỏi, có phẩm chất cao quý, luôn tự hào về các giáo viên đó Các em sẵn sàng làm theo sự hướng dẫn của

họ và họ - những người thầy giáo cao quý đó thực sự là tấm gương cho học sinh học tập và làm theo

Người thầy luôn là tấm gương sáng cho học sinh noi theo Nhân cách của người thày có một ảnh hưởng rất lớn đến quá trình giáo dục đạo đức cho học sinh

1.4 Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh các trường tiểu học

hoc Nội dung quản lý giáo dục đạo đức được xây dựng trên 4 chức năng

của Quản lý nói chung là: xây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện, chỉ đạo và kiểm tra, đánh giá giáo dục đạo đức

1.4.1.1 Xây dựng kế hoạch giáo dục đạo đức

Phân tích thực trạng giáo dục đạo đức trong năm học của ngành, trường, địa phương; xác định điều kiện giáo dục như cơ sở vật chất, tài chính, quỹ thời gian, sự phối hợp với lực lượng giáo dục trong trường và ngoài trường để xác định mục tiêu và các hoạt động đạt mục tiêu trong hoạt động giáo dục đạo đức Như vậy khi lập kế hoạch người quản lý cần phải chú ý:

- Đảm bảo tính thống nhất giữa mục tiêu giáo dục đạo đức với mục tiêu giáo

Trang 31

dục Cần phối họp chặt chẽ, hữu cơ với kế hoạch dạy học trên lớp.

- Lựa chọn nội dung, hình thức hoạt động đa dạng, thiết thực, phù họp với hoạt động tâm sinh lý học sinh để có hiệu quả giáo dục cao

- Thành lập được ban chỉ đạo cụ thể, để theo dõi, kiểm ừa, giám sát đánh giá việc thực hiện kế hoạch

Căn cứ vào những chú ý vừa nêu ừên người lãnh đạo cần phải xây dựng được

kế hoạch quản lý trong quá trình giáo dục đạo đức nó bao gồm các loại kế hoạch sau:

- Kế hoạch hoạt động theo chủ điểm

- Ke hoạch hoạt động theo chương trình

- Ke hoạch hoạt động theo các mặt hoạt động xã hội

Nói tóm lại, các kế hoạch phải đảm bảo tính vừa phải, tính bao quát tính cụ thể

và tính khả thi

1.4.1.2 Tổ chức thực hiện kế hoạch giáo dục đạo đức

Tổ chức thực hiện kế hoạch giáo dục đạo đức cho học sinh sau khi đã lập xong

kế hoạch, đó là lúc càn phải chuyển hoá những ý tưởng thành hiện thực

Tổ chức thực hiện kế hoạch giáo dục đạo đức cho học sinh là quá trình hình thành nên cấu trúc quan hệ giữa các thành viên, giữa các bộ phận trong nhà trường để giúp họ thực hiện thành công các kế hoạch và đạt được mục tiêu tổng thể của nhà trường về giáo dục đạo đức cho học sinh Vì vậy, các thành viên và các bộ phận cần được giải thích mục tiêu, yêu cầu của kế hoạch giáo dục đạo đức; thảo luận biện pháp thực hiện kế hoạch; sắp xếp bố trí nhân sự, phân công trách nhiệm quản lý, huy động

cơ sở vật chất, kinh tế; định rõ tiến trình, tiến độ thực hiện, thời gian bắt đầu, thời hạn kết thúc

1.4.1.3 Chỉ đạo thực hiện kể hoạch giáo dục đạo đức

Trên cơ sở văn bản kế hoạch và công tác tổ chức đã có, thực hiện việc hướng dẫn công việc, theo dõi, giám sát, động viên và uốn nắn kịp thời các hoạt động của từng cá nhân và mỗi bộ phận thực hiện kế hoạch giáo dục đạo đức đã có Cụ thể, cần

Trang 32

chỉ đạo:

Hoạt động giáo dục đạo đức thông qua các môn học trong nhà trường giúp cho học sinh hiểu biết về các khái niệm thuộc phạm trù đạo đức, nắm được các mức hành

vi trong ứng xử, trong các quan hệ, từ đó có hành động đứng

Hoạt động giáo dục đạo đức thông qua các hoạt động ngoài giờ lên lớp đó là các hình thức hoạt động vui chơi, hoạt động xã hội - chính trị, hoạt động thể dục thể thao nhằm giáo dục cho học sinh những tri thức khoa học thực tế, những chuẩn mực đạo đức, kỹ năng giao tiếp nhằm xây dựng và phát triển phẩm chất, năng lực của học sinh

1.4.1.4 Chỉ đạo công tác kiếm tra, đánh giá giáo dục đạo đức

Kiểm tra, đánh giá giáo dục đạo đức đề cập đến phương pháp và cơ chế được

sử dụng để đảm bảo rằng các hoạt động phải được tuân thủ, phù họp, nhất quán với những kế hoạch, mục tiêu giáo dục đạo đức đã xây dụng Kiểm tra, đánh giá rút kinh nghiệm giúp ta thấy được những gì còn tồn tại, những cái mới trong cái quen thuộc, những vấn đề mà thực tế đặt ra càn được giải quyết Việc kiểm tra giúp người quản lý nắm vững tình hình, kịp thời uốn nắn những sai sót; khen thưởng và kỷ luật một cách khách quan; thu thập những thông tin để điều chỉnh những tác động quản lý, kiểm nghiệm các quyết định Để kiểm ữa đánh giá một cách khách quan, chính xác cần phải

có chuẩn Vì vậy cần coi trọng việc xây dựng các chuẩn để kiểm tra đánh giá Từ đó xây dựng các công cụ đánh giá phù họp, các thủ tục quy trình đánh giá họp lý hiệu quả

1.4.2 Phương pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh tiểu học

Các phương pháp quản lý là tổng thể các cách thức tác động có thể có và có chủ đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý (cấp dưới và tiềm năng có được của hệ thống) và khách thể quản lý (các ràng buộc của môi trường, hệ thống khác )

để đạt được các mục tiêu quản lý đề ra Chỉ thông qua và bằng phương pháp quản lý

Trang 33

mà các mục tiêu, chức năng nhiệm vụ, quản lý mới đi vào cuộc sống, biến thành thực tiễn phong phú, sinh động, phục vụ lợi ích con người Người ta thường sử dụng một

số phương pháp quản lý dưới đây:

Phương pháp tổ chức hành chính là tối cần thiết trong công tác quản lý, nó được xem như những biện pháp quản lý cơ bản nhất để xây dựng nề nếp, duy trì kỷ luật trong ngành giáo dục, nhà trường, buộc các lực lượng tham gia giáo dục đạo đức

và học sinh phải làm tốt nhiệm vụ của mình

1.4.2.2 Các phương pháp tâm lỷ - xã hội

Là những cách thức tác động của người quản lý tới người bị quản lý, nhằm biến những yêu cầu của các cấp quản lý thành nghĩa vụ tự giác bên ừong, thành nhu cầu của người bị quản lý Phương pháp này thể hiện tính nhân văn trong hoạt động quản lý Nhiệm vụ của phương pháp này là động viên tinh thần chủ động, tích cực, tự giác của mọi người, đồng thời tạo ra bầu không khí cởi mở, tin cậy lẫn nhau, giúp đỡ lẫn nhau hoàn thành nhiệm vụ

Các phương pháp tâm lý - xã hội bao gồm các phương pháp: Giáo dục, Thuyết phục, Động viên, Tạo dư luận xã hội, Giao công việc yêu càu cao

Nhóm phương pháp này thể hiện tính dân chủ trong hoạt động quản lý của người lãnh đạo Ưu điểm của phương pháp này là phát huy quyền làm chủ tập thể và mọi tiềm năng của mỗi thành viên trong tổ chức, nói chung là phát huy được nội lực

Trang 34

của cá nhân và tập thể Vận dụng thành công phương pháp này sẽ mang lại hiệu quả cao trong hoạt động của tổ chức và hoạt động giáo dục đạo đức cho HS Tuy nhiên, hiệu quả của phương pháp này phụ thuộc lớn vào nghệ thuật của người quản lý.

1.4.2.3 Các phương pháp kỉnh tể

Là sự tác động một cách gián tiếp của người bị quản lý bằng cơ chế kích thích lao động qua lợi ích vật chất để họ tích cực tham gia công việc chung và thực hiện tốt nhiệm vụ được giao Thực chất của phương pháp kinh tế là dựa trên sự kết họp giữa việc thực hiện trách nhiệm nghĩa vụ của các lực lượng thực hiện giáo dục đạo đức cho học sinh tiểu học với những kích thích có tính đòn bẩy Kích thích việc hoàn thành nhiệm vụ bằng lợi ích kinh tế có ý nghĩa to lớn đối với tính tích cực của các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường Tạo động cơ mạnh cho hoạt động, mang lại lợi ích thiết thực và phát huy tính sáng tạo, nâng cao tính tự giác độc lập của mỗi tập thể,

cá nhân trong công việc Bản thân việc kích thích vật chất cũng đã chứa đựng sự cổ vũ

về tinh thần Đó là sự thừa nhận của tập thể đối với kết quả lao động, phẩm chất, năng lực của mỗi người Bằng nguồn kỉnh phí của nhà trường xây dựng cơ chế thưởng phạt trong quản lý nói chung và quản lý hoạt động giáo dục đạo đức nói riêng, khen thưởng xứng đáng cho những tập thể, cán bộ giáo viên có thành tích ừong hoạt động giáo dục đạo đức cho HS, đồng thời khiển trách phê bình, cắt thi đua đối với tập thể, những cán

bộ giáo viên thiếu trách nhiệm trong giáo dục đạo đức học sinh (nhất là GVCN)

Phương pháp kinh tế thường được kết hợp với phương pháp hành chính - tổ chức Hai phương pháp này luôn bổ sung và thúc đẩy lẫn nhau Ngày nay, ừong bối cảnh cơ chế thị trường, việc vận dụng phương pháp kinh tế phải thận trọng để một mặt khuyến khích tính tích cực lao động của cán bộ giáo viên, mặt khác vẫn đảm bảo uy tín sư phạm của giáo viên và tập thể nhà trường

1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh các trường tiểu học

1.5.1 Đặc điểm tâm lý, sinh lý cửa học sinh tiểu học

Trang 35

Học sinh tiểu học có tuổi đời ứng với tuổi thiếu niên nhi đồng Tuổi thiếu niên nhi đồng ở trong khoảng từ 6 - 11 tuổi Đối với tuổi thiếu niên nhi đồng, có một số các rối loạn tâm lý mang tính chất đặc trưng Đây là thời gian xảy ra rất nhiều các biến đổi

ở các mức độ khác nhau trong cơ thể trẻ; sự hình thành nhân cách được hoàn thiện Sự hình thành ý thức đạo đức nói chung, sự lĩnh hội tiêu chuẩn của hành vi đạo đức nói riêng là đặc điểm tâm lý quan ừọng ừong lứa tuổi thiếu niên nhi đồng Nhân cách của thiếu niên nhi đồng được hình thành phụ thuộc vào việc thiếu niên nhi đồng có được kinh nghiệm đạo đức như thế nào, thực hiện đạo đức nào?

Những nghiên cứu tâm lý học cho thấy trình độ nhận thức đạo đức của thiếu niên nhi đồng là cao Thiếu niên nhi đồng hiểu rõ những khái niệm đạo đức vừa sức đối với chúng Nhưng cũng có cả những kinh nghiệm và khái niệm đạo đức hình thành một cách tự phát ngoài sự hướng dẫn của giáo dục, do ảnh hưởng của những sự kiện trong sách, phim, bạn bè xấu Do vậy, các em có thể có những ngộ nhận hoặc hiểu phiến diện, không chính xác một số khái niệm đạo đức Trong công tác giáo dục cần chú ý giúp các em hiểu được khái niệm đạo đức một cách chính xác và tổ chức hành động để thiếu niên nhi đồng có được kinh nghiệm đạo đức đúng đắn

Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ thông tin trên Thế giới

và nhất là sự phức tạp của nền kinh tế thị trường dẫn đến sự biến đổi sâu sắc trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội: chính trị, kinh tế, văn hoá ; kéo theo đó là sự biến đổi

về tâm lý, đạo đức của thế hệ ừẻ Việt Nam mà chủ yếu là học sinh Họ có những nét tâm lý - đạo đức nói chung của thế hệ, mang truyền thống của dân tộc, song có những nét mới mang dấu ấn của thời đại

1.5.2 Điều kiện kinh tế - văn hoá - xã hội, phong tục tập quán của đìa phương

Với tư cách là một chức năng của xã hội, giáo dục chịu sự chi phối của các lĩnh vực khác trong đời sống xã hội của các quá trình xã hội khác như kinh tế, chính trị, xã hội, văn hoá

Trang 36

Kinh tế đảm bảo cho giáo dục điều kiện vật chất để thực hiện có chất lượng và hiệu quả quá trình đào tạo Với quan điểm giáo dục là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân và toàn xã hội; ngoài sự đàu tư của Nhà nước, còn phải biết khai thác các nguồn lực vật chất của cải, gia đình, cộng đồng, các tổ chức xã hội phục vụ cho hoạt động giáo dục và đào tạo theo chính sách xã hội hoá giáo dục Như vậy, nền có kinh tế phát triển mới đảm bảo nguồn lực cho giáo dục phát triển, công tác xã hội hoá giáo dục mới có kết quả Kinh tế địa phương trong đó có gia đình học sinh đã góp phần xây dựng cảnh quan sư phạm, tạo một lực lượng giáo dục hùng hậu quyết định một phần không nhỏ vào công tác giáo dục đạo đức cho học sinh.

Nói tổng quát hơn, nếu quan hệ sản xuất lành mạnh, lực lượng sản xuất giàu tiềm năng, các nghề phát triển tạo môi trường định hướng nghề nghiệp tốt, giúp học sinh tránh xa được các tệ nạn xã hội Mặt khác, sự tăng trưởng kinh tế quyết định mức sống, thu nhập của mỗi gia đình Mức sống nâng cao, các gia đình mới có điều kiện nuôi con em ăn học, dành nhiều thời gian, nhiều điều kiện chăm lo tới việc học tập, tu dưỡng đạo đức của con em mình

Tuy nhiên trong cơ chế thị trường, với nền kinh tế tăng trưởng nhanh, xu thế hội nhập đã đem lại sự phát triển nhanh về mọi mặt song mặt trái của

nó cũng tác động không nhỏ cho việc giáo dục đạo đức đến học sinh

Các phong trào văn hoá xã hội ở địa phương sẽ lôi cuốn gia đình, nhà trường

và đặc biệt là các em tham gia các phong ừào xây dựng “Gia đình văn hoá” “Giữ gìn trật tự trị an” “Bảo vệ môi trường” “Phòng chống tệ nạn”, kỷ niệm các ngày lễ lớn là điều kiện để giáo dục đạo đức cho học sinh tốt nhất Ngoài ra các truyền thống văn hoá địa phương là một môi trường để các em được giáo dục về “cội nguồn”, lòng tự hào dân tộc, về tình yêu quê hương đất nước, giữ gìn bản sắc dân tộc Nếp sống văn minh, các phong tục dòng họ, lễ hội, các phong ừào đền ơn đáp nghĩa được địa phương tổ chức tốt sẽ là một điều kiện để các em tham gia rèn luyện Qua đó tính nhân văn sẽ ngấm vào bản chất đạo đức của các em Tổ chức tốt phong trào văn hoá

Trang 37

tinh thần như thư viện, các loại hình câu lạc bộ, phong ừào thể dục thể thao Đó chính

là môi trường để các em trưởng thành về nhân cách

Tóm lại, một xã hội có văn hoá là một xã hội mà con người ta luôn sống vì cái

đẹp, cái thiện thắng cái ác Mọi hoạt động của văn hoá kể ừên sẽ giáo dục nhận thức

để hình thành ý thức đạo đức, bồi dưỡng tình cảm, hình thành và phát triển những xúc cảm, tình cảm đạo đức trong sáng, cao quý thuộc về nhân tính của con người; từ đó có giáo dục được niềm tin đạo đức, tập luyện hành vi đạo đức, trau dồi thói quen trong ứng xử của học sinh

em thu được trong quá trình học tập

Việc học tập ở trường tiểu học là một bước ngoặt quan trọng trong đời sống của ừẻ Ở trường tiểu học, việc học tập của các em phức tạp hơn một cách đáng kể Các em chuyển sang nghiên cứu có hệ thống những cơ sở của các khoa học, các em học tập có phân môn Mỗi môn học gồm những khái niệm, những quy luật được sắp xếp thành một hệ thống tương đối sâu sắc Điều đó đòi hỏi các em phải tự giác và độc lập cao

Ở đa số thiếu niên, nội dung khái niệm “học tập” đã được mở rộng; ở nhiều em

đã có yếu tố tự học, có hứng thú bền vững đối với môn học, say mê học tập Tuy nhiên, tính tò mò, ham hiểu biết nhiều có thể khiến hứng thú của thiếu niên bị phân tán và không bền vững và có thể hình thành thái độ dễ dãi, không nghiêm túc đối với các lĩnh vực khác trong cuộc sống

1.5.3.2 Hoạt động lao động của học sinh

Trang 38

Hoạt động lao động có ảnh hưởng rất lớn trong việc hình thành nhân cách của học sinh Đen tuổi này, các em đã có những vai trò nhất định, được gia đình thừa nhận như là một thành viên tích cực của gia đình, được cha mẹ, anh chị giao cho những việc như: chăm sóc các em nhỏ, nấu cơm, dọn dẹp nhà cửa, làm những việc vừa sức, các em đã ý thức được các nhiệm vụ đó và thực hiện tích cực.

Như vậy, hoạt động lao động của các em là lao động công ích ở nhà trường, lao động sản xuất, giúp đỡ gia đình Lao động của các em không những góp phần hình thảnh những phẩm chất như: tinh thần tập thể, lòng yêu lao động, óc sáng tạo, tính mục đích, tính kỷ luật, tính kiên trì Khi tham gia lao động sẽ bồi dưỡng được tình cảm tôn trọng lao động và người lao động, làm nảy nở những tình cảm mới: niềm vui

và kết quả lao động, tự hào những cái mình đã làm được, hài lòng với những thắng lợi sau những nỗ lực kiên trì; tình nguyện lao động giúp đỡ những gia đình có hoàn cảnh khó khăn Qua các hoạt động đó các em sẽ thu được những kinh nghiệm đoàn kết giúp

đỡ lẫn nhau

1.5.3.3 Hoạt động chỉnh trị - xã hội của học sinh

Đây là một loại hoạt động vô cùng quan trọng vì nó giúp các em nắm bắt được những kỹ năng hoạt động xã hội Từ đó, các em nâng cao nhận thức của mình, trách nhiệm của mình đối với xã hội Nó sẽ là hành trang để các em chuẩn bị bước vào cuộc sống

Ở lứa tuổi này, các em đã hiểu biết nhiều, muốn làm được những công việc được mọi người biết đến, nhất là những công việc cùng làm với người lớn

Hoạt động chính tậ xã hội học sinh được tiến hành qua nhiều hình thức đa dạng và phong phú từ các phong trào thi đua của lóp, của Đội thiếu niên, Đoàn thanh niên cũng như các tổ chức chính trị xã hội Từ đó, học sinh hiểu sâu thêm vốn tri thức

lý luận đã được tiếp thu đem kiểm nghiệm vào thực tiễn Đây là một sản phẩm biểu hiện sự trưởng thành về mặt xã hội của các em và cũng là động cơ để các em tự khẳng định và hoàn thiện nhân cách; đồng thời giúp các em có trách nhiệm đối với các

Trang 39

nhiệm vụ xã hội giao cho, có trách nhiệm với tập thể và có nhu cầu thường xuyên được tiếp xúc với các công việc tập thể Mặt khác, các hoạt động xã hội đó chính là các hoạt động tuyên truyền về đường lối chính sách của Đảng, Nhà nước, các vấn đề

mà toàn xã hội cần quan tâm như tuyên truyền cổ động, giữ ừật tự đường phố, giúp đỡ gia đình thương binh, liệt sĩ, phòng chống các tệ nạn xã hội, về phát triển dân số, về bảo vệ môi trường,

1.5.3.4 Các hoạt động tập thể khác

Đó là các hoạt động văn hoá, thể dục thể thao, từ thiện, phong trào mang tính hoạt động xã hội ở địa phương nhằm nâng cao tính tập thể, tinh thần trách nhiệm tạo nên nếp sống vui tươi đoàn kết thân ái Đồng thời uốn nắn các lệch lạc của mỗi cá nhân giúp mọi người hiểu và chấp hành đúng nghĩa vụ bản thân Các hoạt động ngoài giờ lên lóp là nhu cầu không thể thiếu là phương thức giáo dục đạo đức tốt nhất cho học sinh, đưa các em vào hoạt động thực tiễn để tập dượt rèn luyện hành vi thói quen giúp các em hình thành nhân cách

Như vậy, việc tổ chức để phối hợp các hoạt động giáo dục cho các em là một

yếu tố vô cùng quan trọng trong việc giáo dục đạo đức và phát triển nhân cách Đó chính là một nhân tố ảnh hưởng tới việc quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh

1.5.4 Công tác phối hợp giữa các lực lượng tham gia giáo dục trong và ngoài nhà trường

1.5.4.1 Gia đình

Gia đình là tế bào của xã hội Đạo đức gia đình luôn gắn liền với đạo đức xã hội, gia đình có ảnh hưởng sâu sắc, trực tiếp đến việc hình thành và phát triển nhân cách của học sinh Nếp sinh hoạt của gia đình, những giá trị đạo đức của xã hội được ông, bà, cha, mẹ, anh, chị em chọn lựa là những tác động trực tiếp, thường xuyên, lâu dài và mạnh mẽ đến học sinh, được học sinh tiếp nhận và thực hiện đày đủ nhất Nhiều gia đình do cha mẹ nhận thức lệch lạc, không có tri thức về giáo dục cho con

Trang 40

cái, sự quan tâm, nuông chiều thái quá ừong việc nuôi dạy, sử dụng quyền uy của cha

mẹ một cách cực đoan; tấm gương không tốt của cha mẹ, người thân đã tác động không nhỏ đến sự hình thành và phát triển nhân cách của học sinh

Vì vậy cần có sự giáo dục đúng mức, giáo dục toàn diện của cha mẹ đến con

em mình, hình thành nề nếp đạo đức lối sống của con em mình, không ỷ lại vào nhà trường, xã hội

1.5.4.2 Nhà trường

Nhà trường ngoài nhiệm vụ cung cấp kiến thức phổ thông cho học sinh thì việc giáo dục đạo đức cho học sinh là mặt thứ hai của một vấn đề đào tạo con người mới

xã hội chủ nghĩa, có tài, có đức để phục vụ xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội

Một số cán bộ quản lý, giáo viên có những định kiến, thiếu thiện cảm; sử dụng các biện pháp hành chính thái quá; sự lạm dụng quyền lực của các thầy cô giáo, nhà quản lý; sự thiếu gương mẫu ừong mô phạm giáo dục; việc đánh giá kết quả khen thưởng, kỷ luật thiếu khách quan và không công bằng; sự phối họp không đồng bộ giữa các lực lượng giáo dục đều có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình giáo dục đạo đức cho học sinh

Môi trường xã hội bao gồm: môi trường vĩ mô và môi trường vi mô Môi trường vĩ mô được coi là nguyên nhân chung của tính quyết định xã hội, còn môi trường vi mô là những hoàn cảnh xã hội trực tiếp, mang tính đặc thù của tính quyết định xã hội Đó có thể là hệ thống giáo dục địa phương, là nhà trường, gia đình

Trong quá trình hình thành và phát triển nhân cách, môi trường xã hội (trong đó có

gia đình, nhà trường, bạn bè ) có tầm quan trọng đặc biệt vì nếu không có xã hội loài

Ngày đăng: 03/11/2016, 14:20

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
16. Đảng Cộng sản Việt Nam (1997) - Vẫn kiện hội nghị lần thứ 2 BCH TW khoá 8 - Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng Cộng sản Việt Nam" (1997) - "Vẫn kiện hội nghị lần thứ 2 BCH TW khoá 8
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
18. Giáo trình Đạo đức học (2000) - Học viện Chính trị Quốc gia - Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Đạo đức học
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội
22. Đặng Vũ Hoạt - Hà Thị Đức (2004),Ịý luận dạy học, Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặng Vũ Hoạt - Hà Thị Đức" (2004),Ịý "luận dạy học
Tác giả: Đặng Vũ Hoạt - Hà Thị Đức
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm
Năm: 2004
23. Đặng Vũ Hoạt - Phó Đức Hòa (2010), Giáo dục học tiểu học I, Nxb ĐHSP 24. Hồ ChíMinh(1976) về đạo đức cách mạng - Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ ChíMinh("1976) "về đạo đức cách mạng
Tác giả: Đặng Vũ Hoạt - Phó Đức Hòa
Nhà XB: Nxb ĐHSP24."Hồ ChíMinh("1976) "về đạo đức cách mạng" - Nxb Sự thật
Năm: 2010
26. Hồ Chí Minh (2004), về giảo dục thanh niên, Nxb Thanh niên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Chí Minh" (2004), "về giảo dục thanh niên
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Thanh niên
Năm: 2004
28. Lê Văn Hồng (2007) (chủ biên) Tâm lý học lứa tuổi và tâm lỷ học sư phạm, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lê Văn Hồng" (2007) (chủ biên) "Tâm lý học lứa tuổi và tâm lỷ học sư phạm
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia Hà Nội
29. Học viện Hành chỉnh quốc gia Hồ Chí Minh - Khoa Triết học (2000) Giáo trình đạo đức học ,Nxb Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Học viện Hành chỉnh quốc gia Hồ Chí Minh -" Khoa Triết học (2000) "Giáo trình đạo đức học
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
33. Nguyễn Văn Lê (1988), Đạo đức và lãnh đạo - Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Văn Lê" (1988), "Đạo đức và lãnh đạo
Tác giả: Nguyễn Văn Lê
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1988
38. Trần Đăng Sinh (chủ biên) (2008), Giáo trình Đạo đức học, Nxb Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trần Đăng Sinh" (chủ biên) (2008), "Giáo trình Đạo đức học
Tác giả: Trần Đăng Sinh (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm
Năm: 2008
40. Hà Nhật Thăng (1998), “Giáo dục hệ thống giá trị đạo đức nhân văn ”, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hà Nhật Thăng (1998), “Giáo dục hệ thống giá trị đạo đức nhân văn
Tác giả: Hà Nhật Thăng
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
41. Từ điển Bách khoa Việt Nam (1995), Nxb Bách khoa Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Bách khoa Việt Nam
Tác giả: Từ điển Bách khoa Việt Nam
Nhà XB: Nxb Bách khoa Việt Nam
Năm: 1995
42. Từ điển Tiếng Việt (1997) - Nxb Khoa học Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Tiếng Việt
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
17. Đảng Cộng sản Việt nam (2006), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Khác
19. Phạm Mình Hạc (1997), Giáo dục nhân cách, đào tạo nhân lực, Nxb Giáo dục, Hà Nội Khác
20. Phạm Minh Hạc (2010), về phát triển con người toàn diện thời kỳ CNH, HĐH - Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Khác
21. Đặng Vũ Hoạt (1992), Đổi mới công tác giáo viên chủ nhiệm với việc giáo dục đạo đức của học sinh -Tập san nghiên cứu giáo dục số 8/1992 Khác
25. Hồ Chí Minh (1998), Những lời Bác Hồ dạy thanh thiếu niên và học sinh, Nxb Thanh niên Hà Nội Khác
27. Nguyễn Thị Bích Hồng, Võ Văn Nam (2004), Giáo dục học đại cương, Nxb TP HCM Khác
31. Đặng Bá Lãm (2005): Quản lý Nhà nước về giáo dục, lý luận và thực tiễn - Nxb Chính trị quốc gia - Hà Nội Khác
32. Phan Huy Lê (1994 - 1996), Các giá trị truyền thống và con người Việt Nam hiện nay, (KX07-02), Hà Nội Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1.1. Các chức năng quản lý - Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh các trường tiểu học quận hai bà trưng, thành phố hà nội
Sơ đồ 1.1. Các chức năng quản lý (Trang 19)
Bảng 2.4. Đánh giá cửa giáo viên về hiệu quả thực hiện các biện pháp giáo dục đạo đức học sinh ở các trường tiểu học trên địa bàn thành phố - Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh các trường tiểu học quận hai bà trưng, thành phố hà nội
Bảng 2.4. Đánh giá cửa giáo viên về hiệu quả thực hiện các biện pháp giáo dục đạo đức học sinh ở các trường tiểu học trên địa bàn thành phố (Trang 51)
Bảng 2.7. Kêt quả đánh giá học sinh cuôi năm từ năm học 2013 đên 2015 - Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh các trường tiểu học quận hai bà trưng, thành phố hà nội
Bảng 2.7. Kêt quả đánh giá học sinh cuôi năm từ năm học 2013 đên 2015 (Trang 57)
Bảng 2.11. Đánh giá mức độ triển khai kế hoạch giáo dục đạo đức - Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh các trường tiểu học quận hai bà trưng, thành phố hà nội
Bảng 2.11. Đánh giá mức độ triển khai kế hoạch giáo dục đạo đức (Trang 62)
Bảng 2.12: Thưc trang vỉêc triển khai hoat đông giáo duc đao đức - Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh các trường tiểu học quận hai bà trưng, thành phố hà nội
Bảng 2.12 Thưc trang vỉêc triển khai hoat đông giáo duc đao đức (Trang 63)
Bảng 2.15. Nhận xét của cán bộ quản lý và giáo viên về kiểm tra - Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh các trường tiểu học quận hai bà trưng, thành phố hà nội
Bảng 2.15. Nhận xét của cán bộ quản lý và giáo viên về kiểm tra (Trang 70)
Sơ đồ phối hợp giữa Nhà trường - Gia đinh và Xã hội để giáo dục đạo đức - Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh các trường tiểu học quận hai bà trưng, thành phố hà nội
Sơ đồ ph ối hợp giữa Nhà trường - Gia đinh và Xã hội để giáo dục đạo đức (Trang 96)
Bảng 3.1. Kêt quả khảo nghiệm tính cân thiêt của  7  biện pháp đê xuât - Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh các trường tiểu học quận hai bà trưng, thành phố hà nội
Bảng 3.1. Kêt quả khảo nghiệm tính cân thiêt của 7 biện pháp đê xuât (Trang 104)
Bảng 3.3. Xét thứ bậc mối tương quan giữa tính cần thiết và tính khả thi - Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh các trường tiểu học quận hai bà trưng, thành phố hà nội
Bảng 3.3. Xét thứ bậc mối tương quan giữa tính cần thiết và tính khả thi (Trang 107)
Hình thức dưới đây đạt được kết quả ở mức độ nào? (Đánh dấu X vào ô tương ứng). - Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh các trường tiểu học quận hai bà trưng, thành phố hà nội
Hình th ức dưới đây đạt được kết quả ở mức độ nào? (Đánh dấu X vào ô tương ứng) (Trang 122)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w