1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu ảnh hưởng của hàm lượng protein và lipid trong thức ăn lên sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá hồng mỹ sciaenops ocellatus (linnaeus, 1766) giai đoạn giống

82 1,1K 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 82
Dung lượng 2,62 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG TRẦN NGỌC SƠN NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA HÀM LƯỢNG PROTEIN VÀ LIPID TRONG THỨC ĂN LÊN SINH TRƯỞNG VÀ TỶ LỆ SỐNG CỦA CÁ HỒNG MỸ Sciaenops

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

TRẦN NGỌC SƠN

NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA HÀM LƯỢNG PROTEIN

VÀ LIPID TRONG THỨC ĂN LÊN SINH TRƯỞNG VÀ TỶ LỆ

SỐNG CỦA CÁ HỒNG MỸ Sciaenops ocellatus (Linnaeus, 1766)

GIAI ĐOẠN GIỐNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ

KHÁNH HÒA - 2016

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

TRẦN NGỌC SƠN

NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA HÀM LƯỢNG PROTEIN

VÀ LIPID TRONG THỨC ĂN LÊN SINH TRƯỞNG VÀ TỶ LỆ

SỐNG CỦA CÁ HỒNG MỸ Sciaenops ocellatus (Linnaeus, 1766)

GIAI ĐOẠN GIỐNG

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công công trình nghiên cứu của tôi Các kết quả thu

được trong luận văn này là thành quả nghiên cứu của Đề tài cấp tỉnh “Chuyển giao

công nghệ sản xuất giống nhân tạo cá hồng Mỹ (Sciaenops ocellatus) tại Khánh Hòa” Tôi là thành viên tham gia với tư cách làm luận văn cao học, nằm trong kế

hoạch hoạt động đào tạo của đề tài Tôi được sự đồng ý của ông Chủ nhiệm đề tài (TS Ngô Văn Mạnh) cho phép sử dụng tất cả các số liệu nghiên cứu được cho luận văn cao học của mình

Tôi xin cam đoan các kết quả, số liệu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào

Khánh Hòa, ngày 19 tháng 6 năm 2016

Tác giả luận văn

Trần Ngọc Sơn

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu trường Đại học Nha Trang, Khoa Sau đại học và Viện Nuôi trồng Thủy sản đã quan tâm giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Phó Giáo sư – Tiến sĩ Lại Văn Hùng và Tiến sĩ Ngô Văn Mạnh những người đã tận tình hướng dẫn, động viên và dìu dắt tôi trong thời gian nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Tôi xin trân trọng cảm ơn các thành viên tại Trại thực nghiệm sản xuất giống Hải sản Đường Đệ - Đại học Nha Trang (Kỹ sư Hoàng Văn Dần, Kỹ sư Nguyễn Văn Vinh,

Kỹ sư Trần Văn Toàn, Kỹ sư Nguyễn Văn Quân, Kỹ sư Nguyễn Văn Thắng, Kỹ sư Phùng Văn Nghiệp …) đã nhiệt tình giúp đỡ về cơ sở vật chất phục vụ học tập, nghiên cứu và sinh hoạt trong thời gian tôi thực hiện đề tài

Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn đến gia đình, bạn bè và các thành viên lớp CHNT2013-3 đã động viên và giúp đỡ tôi cả về vật chất lẫn tinh thần để tôi luôn học tập và làm việc thật tốt

Tôi xin chân thành cảm ơn !

Khánh Hòa, ngày 19 tháng 6 năm 2016

Tác giả luận văn

Trần Ngọc Sơn

Trang 5

DANH MỤC CÁC TỪ VÀ THUẬT NGỮ VIẾT TẮT

DHA: Docosahexaenoic acid

EPA: Eicosapentaenoic acid

FCR: Hệ số thức ăn

IU: Đơn vị quốc tế

SE: Sai số chuẩn

SGR: Tốc độ sinh trưởng đặc trưng

SGRL: Tốc độ sinh trưởng đặc trưng về chiều dài

SGRW: Tốc độ sinh trưởng đặc trưng về khối lượng

TB: Trung bình

TLS: Tỷ lệ sống

TN: Thí nghiệm

We: Khối lượng cuối (khối lượng cá khi kết thúc thí nghiệm)

Ws: Khối lượng ban đầu (khối lượng cá khi bắt đầu thí nghiệm)

Trang 6

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN iii

LỜI CẢM ƠN iv

DANH MỤC CÁC TỪ VÀ THUẬT NGỮ VIẾT TẮT v

DANH MỤC CÁC BẢNG ix

DANH MỤC CÁC HÌNH x

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN xi

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1 Đặc điểm sinh học của cá hồng Mỹ 3

1.1.1 Vị trí phân loại 3

1.1.2 Đặc điểm hình thái 3

1.1.3 Đặc điểm phân bố 4

1.1.4 Tập tính sống 4

1.1.5 Đặc điểm dinh dưỡng 4

1.1.6 Đặc điểm sinh trưởng 5

1.1.7 Đặc điểm sinh sản 5

1.2 Các nghiên cứu về dinh dưỡng trên cá biển 6

1.2.1 Protein 6

1.2.2 Lipid 8

1.3 Các nghiên cứu về dinh dưỡng ở cá hồng Mỹ 11

CHƯƠNG 2: VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 14

2.1 Địa điểm, thời gian và đối tượng nghiên cứu 14

2.2 Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu 14

2.3 Bố trí thí nghiệm 14

2.3.1 Hệ thống thí nghiệm 14

Trang 7

2.3.3 Nguồn cá giống 16

2.3.4 Bố trí thí nghiệm 17

2.3.4.1 Nghiên cứu ảnh hưởng của hàm lượng protein trong thức ăn lên sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá hồng Mỹ giai đoạn giống 17

2.3.4.2 Nghiên cứu ảnh hưởng của hàm lượng lipid trong thức ăn lên sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá hồng Mỹ giai đoạn giống 17

2.4 Chăm sóc và quản lý 18

2.5 Phương pháp thu thập và xử lý số liệu 18

2.5.1 Phương pháp thu thập số liệu 18

2.5.2 Phương pháp xử lý số liệu 19

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 21

3.1 Ảnh hưởng của hàm lượng protein trong thức ăn lên sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá hồng Mỹ giai đoạn giống 21

3.1.1 Các yếu tố môi trường trong thời gian thí nghiệm 21

3.1.2 Ảnh huởng của hàm lượng protein lên tốc độ sinh trưởng của cá 21

3.1.3 Ảnh huởng của hàm lượng protein đến khối lượng cuối (We) của cá hồng Mỹ giai đoạn giống 23

3.1.4 Ảnh huởng của hàm lượng protein đến hệ số thức ăn (FCR) của cá hồng Mỹ giai đoạn giống 23

3.1.5 Ảnh huởng của hàm lượng protein đến tỷ lệ sống của cá hồng Mỹ giai đoạn giống 24

3.2 Ảnh hưởng của hàm lượng lipid trong thức ăn lên sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá hồng Mỹ giai đoạn giống 27

3.2.1 Các yếu tố môi trường trong thời gian thí nghiệm 27

3.2.2 Ảnh huởng của hàm lượng lipid lên tốc độ sinh trưởng của cá 27

3.2.3 Ảnh huởng của hàm lượng lipid đến khối lượng cuối (We) của cá hồng Mỹ giai đoạn giống 29

Trang 8

3.2.4 Ảnh huởng của hàm lượng lipid đến hệ số thức ăn (FCR) của cá hồng Mỹ

giai đoạn giống 29

3.2.5 Ảnh huởng của hàm lượng lipid trong thức lên tỷ lệ sống của cá hồng Mỹ giai đoạn giống 30

CHƯƠNG 4 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT Ý KIẾN 33

4.1 Kết luận 33

4.2 Đề xuất ý kiến 33

TÀI LIỆU THAM KHẢO 34

PHỤ LỤC 44

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Bảng thành phần các nguyên liệu sản xuất thức ăn protein 17 Bảng 2.2 Bảng thành phần các nguyên liệu sản xuất thức ăn lipid 18 Bảng 3.1 Các yếu tố môi trường trong thời gian thí nghiệm ảnh hưởng của protein 21 Bảng 3.2 Các yếu tố môi trường trong thời gian thí nghiệm ảnh hưởng của lipid 27

Trang 10

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 1.1 Hình dạng bên ngoài cá hồng Mỹ 3

Hình 1.2 Bản đồ phân bố của cá hồng Mỹ trên thế giới 4

Hình 2.1 Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu 14

Hình 2.2 Hệ thống bể thí nghiệm 15

Hình 2.3 Hệ thống bể xử lý nước 15

Hình 2.4 Máy sản xuất thức ăn 16

Hình 2.5 Quy trình chế biến thức ăn 16

Hình 2.6 Cá hồng Mỹ giống 16

Hình 2.7 Xác định khối lượng cá 19

Hình 2.8 Xác định chiều dài cá 19

Hình 3.1 Ảnh hưởng của hàm lượng protein lên SGRL (%/ngày) 21

Hình 3.2 Ảnh hưởng của hàm lượng protein lên SGRW (%/ngày) 22

Hình 3.3 Ảnh huởng của hàm lượng protein đến khối lượng cuối (We) của cá 23

Hình 3.4 Ảnh huởng của hàm lượng protein đến hệ số thức ăn (FCR) của cá 24

Hình 3.5 Ảnh huởng của hàm lượng protein lên tỷ lệ sống của cá 24

Hình 3.6 Ảnh hưởng của hàm lượng lipid đến SGRL (%/ngày) 27

Hình 3.7 Ảnh hưởng của hàm lượng lipid đến SGRW (%/ngày) 28

Hình 3.8 Ảnh huởng của hàm lượng lipid đến khối lượng cuối (We) của cá 29

Hình 3.9 Ảnh huởng của hàm lượng lipid đến hệ số thức ăn (FCR) của cá 29

Hình 3.10 Ảnh hưởng của hàm lượng lipid trong thức ăn đến tỷ lệ sống của cá 30

Trang 11

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN

Cá hồng Mỹ là loài có giá trị kinh tế cao, thịt thơm ngon và được nhiều người ưa chuộng Nghiên cứu sinh sản nhân tạo cá hồng Mỹ đã được thực hiện nhưng sản lượng con giống tạo ra chưa nhiều, chưa đáp ứng được yêu cầu của người nuôi Trong sản xuất giống cá biển, vấn đề dinh dưỡng có vai trò rất quan trọng, liên quan đến tỷ lệ sống và tốc độ sinh trưởng của cá Việc xác định thức ăn có hàm lượng dinh dưỡng phù hợp cho từng giai đoạn phát triển có ý nghĩa rất lớn trong việc nâng cao tỷ lệ sống

và sinh trưởng của cá Chính vì vậy, chúng tôi thực hiện đề tài “Nghiên cứu ảnh

hưởng của hàm lượng protein và lipid trong thức ăn lên sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá hồng Mỹ Sciaenops ocellatus (Linnaeus, 1766) giai đoạn giống” nhằm góp

phần vào việc nghiên cứu nhu cầu dinh dưỡng của cá hồng Mỹ giai đoạn giống, làm cơ

sở cho việc ứng dụng vào sản xuất thức ăn công nghiệp cho đối tượng này

Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 12/2014 – tháng 02/2015 trên đối tượng cá

hồng Mỹ Sciaenops ocellatus (Linnaeus, 1766) tại Nha Trang, Khánh Hòa Cá hồng

Mỹ thí nghiệm được sản xuất giống nhân tạo tại Trại thực nghiệm sản xuất giống cá biển Đường Đệ, Nha Trang, Khánh Hòa Cá giống có kích thước trung bình 5,76 cm/con, khối lượng trung bình 2,27 g/con, được bố trí ương nuôi với mật độ 40 con/bể (100L) Cá có kích cỡ đồng đều, khỏe mạnh, vận động linh hoạt, không dị tật, dị hình, màu sắc tự nhiên và không bị xây sát

Nghiên cứu đã đạt được kết quả và phân tích cụ thể Hàm lượng protein trong thức ăn ảnh hưởng đến tốc độ sinh trưởng đặc trưng và tỷ lệ sống của cá hồng Mỹ ở giai đoạn ương giống Trong đó, tốc độ sinh trưởng đặc trưng của cá hồng Mỹ tương đối cao ở nghiệm thức thức ăn có chứa 42% hàm lượng Protein có tốc độ tăng trưởng đặc trưng cao hơn và khác biệt có ý nghĩa thống kê so với các nghiệm thức còn lại (P < 0,05) Tiếp theo là ở nghiệm thức 40% và 44% Thấp nhất là tốc độ sinh trưởng đặc trưng ở 2 nghiệm thức 38% và 46 Sự khác biệt giữa các cặp nghiệm thức này là không

có ý nghĩa thống kê (P > 0,05) Tuy nhiên, sự khác biệt về tỷ lệ sống lại không có ý nghĩa thống kê giữa các nghiệm thức thí nghiệm Điều này cho thấy, hàm lượng

Protein trong thức ăn không ảnh hưởng đến tỷ lệ sống cá hồng Mỹ giai đoạn giống

Hàm lượng Lipid trong thức ăn cũng ảnh hưởng rất lớn đến tốc độ sinh trưởng đặc trưng của cá hồng Mỹ giống Cá được cho ăn thức ăn chứa hàm lượng Lipid 12%

có tốc độ tăng trưởng đặc trung cao hơn và khác biệt có ý nghĩa thống kê so với các

Trang 12

nghiệm thức còn lại (P < 0,05) Tiếp theo là ở nghiệm thức 16% Tiếp đến nữa là ở nghiệm thức 14% Và thấp nhất là ở nghiệm thức có hàm lượng Lipid trong thức ăn

chiếm 10% Chỉ tiêu về tỷ lệ sống thì không có sự khác biệt giữa các nghiệm thức

Từ khóa: cá hồng Mỹ, Sciaenops ocellatus, giai đoạn giống, protein, lipid

Trang 13

MỞ ĐẦU

Cá hồng Mỹ Sciaenops ocellatus (Linnaeus, 1766) hay còn gọi là cá đù đỏ có tên

tiếng Anh Red drum là loài cá rộng muối, rộng nhiệt, phân bố ở vịnh Mêxicô và vùng duyên hải Tây – Nam nước Mỹ Cá hồng Mỹ sống thành đàn, phạm vi phân bố rộng, khi trưởng thành thường di cư đến vùng cửa sông và vùng biển nông để sinh sản Cá

có thể sống trong nước ngọt, nước lợ, nước mặn nhưng thích hợp nhất vẫn là nước lợ

và nước mặn Với kích thước cá thể lớn, tốc độ sinh trưởng nhanh, thịt thơm ngon nên

có giá trị kinh tế cao [9]

Sản lượng cá hồng Mỹ nuôi trên thế giới không ngừng tăng trong những năm gần đây, năm 2000 sản lượng cá hồng Mỹ trên thế giới đạt 2.500 tấn, tới năm 2007 sản lượng tăng lên 52.000 tấn (FAO, 2006) Trong đó Trung Quốc, Mỹ, Israel là những nước có sản lượng nuôi lớn nhất Bên cạnh các loài cá biển nuôi có giá trị như cá mú,

cá giò… thì cá hồng Mỹ cũng là đối tượng được người nuôi chú trọng phát triển vì chúng có giá trị kinh tế, dễ nuôi, thịt thơm ngon và có giá trị dinh dưỡng cao Việt Nam lần đầu tiên di nhập, ương nuôi ấu trùng cá hồng Mỹ từ năm 1999 [9] Hiện nay, chúng ta đã làm chủ về công nghệ sản xuất giống, ương nuôi thương phẩm cá hồng

Mỹ [9]

Trong sản xuất giống cá biển, vấn đề dinh dưỡng có vai trò rất quan trọng, liên quan đến tỷ lệ sống và tốc độ sinh trưởng của cá Việc xác định thức ăn có hàm lượng dinh dưỡng phù hợp cho từng giai đoạn phát triển có ý nghĩa rất lớn trong việc nâng cao tỷ lệ sống và sinh trưởng của cá Chính vì vậy, việc xác định nhu cầu dinh dưỡng trong giai đoạn giống của cá hồng Mỹ làm cơ sơ để sản xuất thức ăn công nghiệp có ý nghĩa thực tiễn cao Hiện nay, các hộ nuôi cá hồng Mỹ tại Việt Nam chủ yếu sử dụng

cá tạp làm nguồn thức ăn chính Trong khi đó, nguồn thức ăn cá tạp lại không ổn định, giá cả biến động và ngày càng khan hiếm, đắt đỏ Khi sử dụng nguồn cá tạp còn gây hiện tượng cạnh tranh với những mục đích sử dụng khác như chăn nuôi gia súc, làm thức ăn cho người gây rất nhiều khó khăn cho các hộ nuôi, chất lượng thịt cá lại không đảm bảo về mặt dinh dưỡng, ô nhiễm môi trường nuôi, bệnh tật và làm gia tăng giá thành sản phẩm [11]

Vì những lý do trên, đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của hàm lượng protein và

lipid trong thức ăn lên sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá hồng Mỹ (Sciaenops

ocellatus Linnaeus, 1766) giai đoạn giống” là rất cần thiết Đề tài nhằm góp phần

Trang 14

vào việc nghiên cứu nhu cầu dinh dưỡng của cá hồng Mỹ giai đoạn giống, làm cơ sở cho việc ứng dụng vào sản xuất thức ăn công nghiệp cho đối tượng này

Mục tiêu của đề tài: Xác định hàm lượng protein và lipid tối ưu trong thức ăn

lên sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá hồng Mỹ giai đoạn giống

Nội dung nghiên cứu:

1 Ảnh hưởng của hàm lượng protein trong thức ăn lên sinh trưởng và tỷ lệ sống của

cá hồng Mỹ giai đoạn giống

2 Ảnh hưởng của hàm lượng lipid trong thức ăn lên sinh trưởng và tỷ lệ sống của

cá hồng Mỹ giai đoạn giống

Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài: Kết quả của đề tài sẽ cung cấp những

thông tin khoa học về nhu cầu protein và lipid của cá hồng Mỹ trong giai đoạn giống

từ đó làm cơ sở khoa học để sản xuất thức ăn công nghiệp phục vụ cho nuôi cá hồng

Mỹ giống, góp phần nâng cao năng suất, tỷ lệ sống của đối tượng nuôi này

Trang 15

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Đặc điểm sinh học của cá hồng Mỹ

Tên tiếng Việt: Cá hồng Mỹ, cá đù đỏ,

Tên tiếng Anh: Red drum

1.1.2 Đặc điểm hình thái

Cơ thể có hình thon dài thân hơi tròn lưng có gồ cao lên, vẩy lược lớn vừa và nhỏ Vùng da nằm trên khoảng cách giữa mắt và đầu không có vẩy, bộ phận đầu (trừ mõm, xương trước mắt và xương dưới mắt ra có vẩy Vây lẻ không có vẩy hoặc vẩy bẹ thấp, đường bên hoàn toàn, đi ra sau theo vành ngoài của bộ phận lưng Mắt trung bình, miệng rộng ở phía trước hơi thấp và hơi lệch phía dưới, môi mỏng có thể co duỗi được, chúng có từ 4-6 răng nanh nhọn sắc, một số ít là răng cắt ở phía trước hàm và ở đằng trước của mỗi hàm, tiếp đó là nhiều hàng răng chóp hoặc răng tròn phía sau thì

Trang 16

bốn hàng mà hàng ngoài là răng rất chắc khoẻ Vây lưng liên tục, không có khía lõm,

bộ phận gai và tia vây cũng rất nở nang, gai vây lưng to khoẻ, chúng có khoảng 10-13 tia gai cứng, từ 9-17 tia vây mềm, vây hậu môn có 3 tia gai [9]

1.1.3 Đặc điểm phân bố

Cá hồng Mỹ thuộc họ cá đù (Sciaenidae) là loài cá có đặc điểm rộng muối, rộng nhiệt phân bố ở vịnh Mêhicô và vùng duyên hải Tây Nam nước Mỹ Trong những năm gần đây đối tượng này đã được di nhập vào các nước trong khu vực như: Đài Loan, Trung Quốc, Việt Nam và nhanh chóng trở thành đối tượng nuôi có giá trị kinh tế khá quan trọng trong khu vực Họ cá này cũng được tìm thấy ở các vùng nước đại dương

ôn đới và nhiệt đới Chúng sống đáy vùng ven bờ, vùng đá ngầm ven bờ, nơi có dòng nước ấm Cũng có thể thấy chúng sống ở các vùng đáy cát, đá cứng, vùng hỗn hợp bùn cát hoặc vùng đá san hô chết Phân bố ngang thì chúng sống từ đáy ven bờ cho đến các rạn đá hoặc bãi san hô chết ở độ sâu tới 50 – 60m nước Cũng có loài, ban đầu

ở các vùng cửa sông, phát triển lớn hơn chuyển ra các vùng nước sâu hơn, có khi tới

Trang 17

Các loài trong họ cá đù đều là cá dữ, ăn đáy, chúng chủ yếu dinh dưỡng bằng các loại động vật không xương sống như thân mềm (Mollusca), giáp xác (Crustacea), Giun nhiều tơ (Polychaeta), kể cả cá nhỏ Cá hồng Mỹ cũng như hầu hết các loài cá biển khác, trong giai đoạn ấu trùng thức ăn đầu tiên của chúng đều là động vật phù du như:

luân trùng (Brachionus plicatilis), chân chèo biển (Copepoda) Khi ấu trùng đạt chiều

dài cơ thể lớn hơn 4 mm thức ăn ưa thích là Rotifer và tiếp tục nếu sau 30 ngày kể từ khi nở Khi ấu trùng đạt chiều dài 12 mm thường ăn Copepod như: Tigriopus, Arcatia, Oithoina, Paracalanus [3]

1.1.6 Đặc điểm sinh trưởng

Tốc độ tăng trưởng của cá hồng Mỹ phụ thuộc rất lớn vào khu vực nuôi Tại các trang trại ở Florida và vịnh Mêxicô cá hồng Mỹ có thể đạt 1 - 2 kg trong thời gian 14 -

22 tháng, nhưng nếu như nuôi trong khu vực nhiệt đới thì tốc độ tăng trưởng của nó sẽ tăng lên rất nhiều.Tốc độ tăng trưởng của cá còn phụ thuộc vào mật độ nuôi, thời gian nuôi, loại thức ăn, cỡ cá thả ban đầu Chẳng hạn như cỡ cá giống 120g, thả trong lồng với mật độ 30 - 60 con/m3, tốc độ tăng trưởng trung bình là 80g/con trong vòng 6 - 7 tháng nuôi ở Israel Với mật độ 140 con/m3, cá có thể đạt 750g/con khi nuôi trong thời gianlà 10 - 14 tháng và cho ăn bằng thức cao đạm Ở các tỉnh ven biển phía bắc nước

ta, cá nuôi sau 1 năm có thể đạt từ 1,0 - 1,8 kg/con [41]

1.1.7 Đặc điểm sinh sản

Cá hồng Mỹ có thể sinh sống ở cả nước ngọt, nước lợ và nước mặn Cá hồng Mỹ thường thành thục ở tuổi 3+ - 4+ Tuy nhiên cũng đã có nghiên cứu cho thấy chúng có thể thành thục sớm hơn Gần đến giai đoạn thành thục, chúng thường không ăn hàng ngày mà chỉ ăn 3 lần/tuần Mỗi cá cái có thể thành thục hơn một lần/năm, một số báo cáo còn cho biết một số trang trại sản xuất cá giống ở bang Texas đã bắt gặp một con

cá cái có thể đẻ 7 lần trong 26 ngày Sức sinh sản của loài cá này cũng rất lớn, một cá cái 11 - 14kg có thể ñẻ 0,5 triệu trứng/lần và đạt 1-3 triệu trứng/ năm Cá hồng

Mỹ thường đẻ vào mùa thu và phụ thuộc rất nhiều vào các yếu tố môi trường như: nhiệt độ nước, tốc độ dòng chảy và thuỷ triều… [3, 41]

Dựa trên các nghiên cứu về tập tính sinh sản của cá trong bể, nhiều tác giả cho biết cá đực và cá cái thành thục sẽ tách đàn và ngừng ăn một tuần trước khi đẻ Khi cá cái thành thục sinh dục nó sẽ gia tăng các hoạt động sinh dục với cá đực Cá đực và cá

Trang 18

cái chín muồi sinh dục bơi lội thành cặp, thường xuyên ở tầng mặt khi sắp đẻ trứng cá

đẻ nhiều đợt trong ngày Thời gian đẻ trứng vào lúc chiều tối (19 - 23 giờ)

1.2 Các nghiên cứu về dinh dưỡng trên cá biển

Động vật thủy sản nói chung cần phải sử dụng nguồn thức ăn để duy trì các hoạt

động sống và chức năng sinh lý bình thường của cơ thể [5] Nghiên cứu về dinh dưỡng

cá được quan tâm nhiều từ giữa thế kỷ XX khi mà hình thức nuôi thâm canh và bán thâm canh bắt đầu được áp dụng trên nhiều loài cá Khi đó, nguồn thức ăn cần phải chủ động cung cấp thay vì chỉ dựa vào nguồn thức ăn tự nhiên [4]

1.2.1 Protein

Vai trò của protein

Protein là phần chất hữu cơ chính của cơ thể động vật thủy sản (chiếm 60 - 80%) Protein có vai trò quan trọng trong việc xây dựng cấu trúc cơ thể: tạo mô mới, thay thế các tế bào chết, tạo nên các sản phẩm có hoạt tính sinh học cao, vận chuyển hồng cầu, kháng thể, năng lượng,… [5, 24] Protein đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển của các giai đoạn đầu của ấu trùng động vật thủy sản, đặc biệt là các loài [106] Hàm lượng protein thích hợp cho giai đoạn ấu trùng của cá thường từ 50 - 60% [73] Thiếu hụt protein là nguyên nhân gây ra dị hình ở cá: dị tật xương, cong vẹo xương sống, mất nắp mang và dị tật hàm dưới [106] Tuy nhiên, sự dư thừa protein cũng làm giảm sinh

trưởng của cá liên quan đến sự bão hòa các axít amin trong ruột [108]

Nhu cầu protein

Nhu cầu protein của cá dao động trong khoảng từ 25 đến 60% tùy thuộc vào nhiều yếu tố Đối với nhóm cá ăn động vật, nhu cầu protein khoảng 40 - 60% Sở dĩ có

sự khác biệt như vậy là do một số nhân tố khác nhau như: kích cỡ, độ tuổi, trạng thái sinh lý của cá, các yếu tố sinh thái, mật độ ương, khẩu phần thức ăn hàng ngày của cá, chất lượng protein trong thức ăn cũng như nguồn gốc protein (tỉ lệ protein và năng

lượng, thành phần axít amin và khả năng tiêu hóa protein) [5]

Khi động vật thủy sản sử dụng thức ăn không có protein hoặc hàm lượng protein quá thấp, cơ thể giảm khối lượng, bởi vì chúng sẽ sử dụng protein của cơ thể để duy trì các chức năng sống tối thiểu để tồn tại Trái lại, nếu thức ăn được cung cấp quá nhiều protein thì protein dư không được cơ thể hấp thụ để tổng hợp protein mới mà sử dụng

để chuyển hóa thành năng lượng hoặc thải ra ngoài Hơn nữa, cơ thể còn phải tốn năng

lượng cho quá trình tiêu hóa protein dư thừa, vì thế sinh trưởng của cơ thể giảm [5]

Trang 19

Nhu cầu protein của cá giai đoạn giống cao hơn so với cá ở giai đoạn trưởng thành, đối với các loài cá khác nhau thì nhu cầu protein trong thức ăn cũng khác nhau Thông thường những loài cá dữ có nhu cầu protein cao hơn những loài cá hiền, cá

hanh đỏ (Chrysophrys major) và cá bơn sao (Pleuronectes platessa) 50 - 55%, cá mú chuột (Cromileptes altivelis) và cá vược mõm rộng (Micropterus salmoides) 40 – 45%,

trong khi, cá nheo (Lactalurus punctatus) chỉ từ 32 – 36 %,… [103]

Nhu cầu protein ở cá có sự thay đổi tùy theo giai đoạn phát triển với xu hướng chung là giai đoạn còn non và thành thục sinh dục nhu cầu cao hơn liên quan đến việc xây dựng cấu trúc các cơ quan trong cơ thể cũng như tạo các sản phẩm sinh dục giảm [5] Hàm lượng protein trong thức ăn của cá chim Florida thương phẩm thường ở mức 40% [94] trong khi giai đoạn giống thường tối thiểu 45% [60] Nghiên cứu về ảnh

hưởng của hàm lượng protein và lipid trên cá chim vây vàng (T ovatus) giai đoạn

giống, Wang và CTV [99] nhận thấy, tốc độ sinh trưởng của cá tỷ lệ thuận với sự gia tăng của hàm lượng protein trong thức ăn (33, 37, 41, 45 và 49%) ở cùng một hàm lượng lipid (6,5 hoặc 12,5%) nhưng lại thấp hơn ở hàm lượng lipid cao hơn Hàm lượng protein trong thức ăn từ 45 và 49% cho tốc độ sinh trưởng cao hơn và hệ số FCR thấp hơn so với hàm lượng protein 33, 37 và 41% Hiệu quả sử dụng thức ăn cũng cao hơn khi gia tăng hàm lượng protein từ 33 đến 41% Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, hàm lượng protein và lipid thích hợp ở cá chim vây vàng là 45 – 49% và lipid

6,5%

Khả năng tiêu hóa protein:

Khả năng tiêu hóa protein ở ấu trùng hạn chế hơn nhiều so với cá trưởng thành

do sự kém hoàn thiện về cấu trúc và chức năng của các cơ quan chuyên hóa Do đó, hàm lượng axít amin trong thức ăn của cá giai đoạn ấu trùng cao hơn so với các giai đoạn sau Khả năng tiêu hóa protein chỉ được hoàn thiện sau đó vài tuần tùy thuộc vào

từng loài cá [83, 107]

Các thành phần dinh dưỡng khác trong thức ăn cũng có ảnh hưởng nhất định đến khả năng tiêu hóa protein ở cá Thức ăn chứa nhiều protein, ít cellulose làm tăng hoạt tính của trypsine và pepsine ảnh hưởng đến tốc độ tiêu hóa protein, trong khi đó, thức

ăn chứa nhiều tinh bột làm giảm hoạt tính của một số enzyme tiêu hóa protein [5]

Nghiên cứu khả năng tiêu hóa protein từ các nguồn khác nhau ở cá hồng bạc (Lutjanus

argentimaculatus) và cá mú (Epinephelus lanceolatus) cho thấy, hiệu quả tiêu hóa

Trang 20

protein có nguồn gốc từ các loài sinh vật biển (cá, tôm, mực) cao hơn so với nguồn

động thực vật trên cạn (bột xương, bột thịt, bột đậu nành) [75]

Nhu cầu axít amin:

Axít amin là thành phần cơ bản cấu tạo nên protein và là thành phần quan trọng khi nghiên cứu nhu cầu protein ở cá [84] Quá trình sinh trưởng và phát triển của cá chỉ được đảm bảo trong trường hợp cung cấp đầy đủ các thành phần axít amin, đặc biệt

là các axít amin không thay thế [85] Axít amin là nguồn năng lượng chính ở giai đoạn

ấu trùng của hầu hết các loài cá xương biển [85] Axít amin bao gồm 2 nhóm: axít amin thiết yếu (không thay thế) và axít amin không thiết yếu (có thể thay thế) Trong

đó, nhu cầu về axít amin thiết yếu là rất quan trọng vì cơ thể cá không thể tự tổng hợp được mà phải lấy trực tiếp từ thức ăn [5]

Động vật thủy sản nói chung cần 10 loại axít amin bao gồm: arginine, histidine, isoleucine, leucine, lysine, methionine, phenylalanine, theronine, trytophane và valine [4] Đối với các loại axít amin khác nhau thì nhu cầu của cá cũng khác nhau Nhu cầu

methionin và lysin cho cá giò (Rachycentron canadum) giai đoạn giống là 1,19% và

2,38% [109] Thức ăn có bổ sung 5% taurine cho tốc độ sinh trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn cao hơn trong ương cá giò giống [64] Thiếu hụt các axít amin thiết yếu trong khẩu phần ăn làm giảm tốc độ sinh trưởng, chuyển giai đoạn, giảm hiệu quả sử dụng thức ăn, giảm sức đề kháng, gây dị hình xương sống, đục thủy tinh thể,… ở nhiều loài cá [24, 58, 77, 81]

1.2.2 Lipid

Vai trò của lipid:

Lipid có vai trò rất quan trọng đối với cơ thể sinh vật nói chung và cá nói riêng Lipid là nguồn cung cấp năng lượng tốt nhất cho động vật thủy sản Lipid có khả năng chia sẻ vai trò năng lượng và chuyển hóa với các thành phần protein và carbohydrate

đã được chứng minh trên nhiều loài cá Do đó, khi bổ sung lượng lipid thích hợp sẽ giảm nhu cầu protein ở cá Triglyceride là thành phần chủ yếu của lipid cung cấp năng lượng cho hoạt động sống của động vật thủy sản tồn tại dưới dạng glycogen và mỡ dự trữ trong gan, cơ và mô mỡ [5]

Lipid còn đóng vai trò quan trọng trong quá trình cấu tạo và hoạt hóa các enzyme, đặc biệt là thành phần phospholipid Phosphatidyl choline có khả năng hoạt hóa enzyme glucose 6 phosphatase và adenogentriphosphatase Ngoài ra, lipid là thành

Trang 21

phần chính của nhiều hormone steroid Lipid tham gia vào quá trình cấu trúc màng tế bào, đặc biệt là lipid phân cực hay phospholipids Cấu trúc màng tế bào 2 lớp, đầu ưa nước và kỵ nước, cùng với những phân tử protein xuyên màng, đóng vai trò quan trọng trong việc vận chuyển các chất qua màng tế bào [5]

Ngoài ra, lipid còn hỗ trợ hấp thu các lipid khác và vận chuyển vitamin Phospholipids giữ vai trò quan trọng trong sự vận chuyển và hấp thụ lipid và tham gia vào các quá trình chuyển hóa chất dinh dưỡng trung gian trong cơ thể sinh vật Phospholipid đóng vai trò như chất nhũ tương hóa giúp các acid béo, muối mật và các chất hòa tan trong chất béo được hấp thu một cách dễ dàng Lipid còn là dung môi hòa tan các vitamin tan trong dầu như: A, D, E, K và hydrocarbon Do đó, trong khi hấp thu và vận chuyển trong cơ thể, lipid cũng mang theo các chất hòa tan trong lipid [5]

Nhu cầu lipid:

Nhu cầu lipid của động vật thủy sản được xác định dựa vào nhu cầu về năng lượng, acid béo cần thiết, phospholipid và cholesterol, đặc điểm sống và dự trữ lipid của loài, cá có nhu cầu năng lượng thấp hơn động vật trên cạn và có thể sử dụng lipid

để làm năng lượng Kết quả nghiên cứu về nhu cầu lipid trong thức ăn cho cá, hàm lượng lipid thay đổi tùy theo loài Đối với các loài cá có khả năng sử dụng tinh bột tốt nhu cầu lipid trong thức ăn thấp, cá ăn động vật nhu cầu lipid cao [5] Ngoài ra, nhu cầu này phụ thuộc rất lớn vào hàm lượng và chất lượng, nguồn cung cấp lipid cũng như các thành phần khác trong thức ăn, đặc biệt là protein Tỷ lệ protein/lipid thích hợp ở nhiều loài cá dao động từ 6/1 – 7/1 [5] Nhìn chung, 10 - 20% lipid trong khẩu phần của cá cho tốc độ sinh trưởng tối ưu mà không tạo ra một cơ thể quá béo [4, 27].Hàm lượng lipid quá cao sẽ ảnh hưởng xấu đến sinh trưởng, tỷ lệ sống và quá trình thành thục sinh dục của cá Hàm lượng lipid 22 và 27% cho sinh trưởng và tỷ lệ sống

cao hơn so với hàm lượng 15% ở cá tráp, (Sparus aurata) Tuy nhiên, ở hàm lượng

lipid 27%, gan cá bị nhiễm mỡ [20]

Các nghiên cứu về nhu cầu lipid trên cá chim vây vàng còn nhiều hạn chế Nhu cầu về lipid của cá chim có sự thay đổi lớn tùy theo giai đoạn phát triển với xu hướng chung là cao hơn ở giai đoạn lớn và thành thục sinh dục Ngoài ra, nhu cầu lipid có tương quan với thành phần protein và các thành phần khác có trong thức ăn Khẩu phần thức ăn chứa 8 hay 12% lipid với cùng mức protein 42% gia tăng tốc độ sinh trưởng của cá chim Florida giai đoạn giống [97] Tương tự, khẩu phần thức ăn chứa

Trang 22

8% lipid cho tốc độ sinh trưởng và hiệu quả chuyển hóa thức ăn tốt hơn tương ứng với

sự gia tăng hàm lượng protein từ 30, 35, 40 lên 45% [60] Trong khi đó, khẩu phần thức ăn chứa hàm lượng protein và lipid quá cao (53% và 13%) làm giảm tốc độ sinh trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn của cá chim [39]

Ngoài cá chim, các nghiên cứu về hàm lượng và tỷ lệ protein và lipid trên các loài cá biển khác được thực hiện khá đầy đủ, đặc biệt là cá giò Nhiều nghiên cứu trên loài cá này cho thấy, hàm lượng lipid 10 hay 15% cho tốc độ sinh trưởng, phát triển và

tỷ lệ sống cao hơn so với mức lipid 5, 20 hay 25% [48, 100] Tuy nhiên, Chou và CTV [26] lại không thấy được sự khác biệt về tốc độ sinh trưởng và hệ số chuyển đổi thức

ăn khi cho cá giò ăn với các mức lipid 6, 9, 15 và 18% Nguồn lipid khác nhau cũng ảnh hưởng đáng kể đến sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá giò, trong đó, nguồn lipid từ dầu colza cho tốc độ sinh trưởng thấp hơn so với nguồn lipid từ mỡ lợn, dầu bắp, dầu đậu nành và dàu gan cá Hơn nữa, cá được cho ăn lipid từ nguồn dầu cá hay dầu đậu nành cho hiệu quả sử dụng thức ăn, đặc biệt là protein cao hơn so với các nguồn lipid còn lại [48] Hàm lượng lipid bổ sung trong thức ăn có tương quan với các thành phần dinh dưỡng khác, đặc biệt là carbohydrate và protein Theo Craig [28] tỷ lệ thích hợp lipid và cacbonhydrate trong khẩu phần thức ăn của cá giò là 3 và 36% Trong đó, tỷ lệ 8% lipid và 0% cacbonhydrate làm giảm tốc độ sinh trưởng cũng như hệ số chuyển đổi thức ăn của cá giò giống Tương tự, Ducan và CTV [33] cũng nhận thấy rằng, tỷ lệ protein và lipid tối ưu cho sinh trưởng của cá giò giống là 47 và 8%

Khả năng tiêu hóa lipid:

So với các thành phần khác trong thức ăn như protein và carbohydrate, thành phần lipid trong thức ăn có khả năng tiêu hóa được 85 – 90% [5] Khả năng tiêu hóa lipid của cá được thể hiện ngay từ khi bắt đầu ăn thức ăn bên ngoài, đặc biệt là nguồn thức ăn sống Nhiều nghiên cứu đã chỉ rõ, các enzyme sẵn có trong thức ăn sống (tảo, luân trùng, Copepda, Artemia,…) chính là nhân tố giúp cho cá có khả năng tiêu hóa được nguồn lipid ngay từ khi bắt ăn thức ăn ngoài Các nghiên cứu trên cá tráp vàng cho thấy, hệ tiêu hóa của loài cá này ở giai đoạn 45 ngày tuổi hoàn thiện hơn so với 21 ngày tuổi với sự hiện diện của tuyến chức năng trong dạ dày Khi cho cá ăn luân trùng làm giàu EPA hoặc DHA, hoạt tính của enzyme lipase tăng mạnh hơn so với luân trùng không làm giàu Ngoài ra, khả năng tiêu hóa lipid của cá còn phụ thuộc,vào thành phần, hàm lượng các axít béo có trong thức ăn [50]

Trang 23

Nhu cầu axít béo:

Các loại axít béo, đặc biệt là axít thiết yếu đóng vai trò rất quan trọng đối với sự sinh trưởng, phát triển và tỷ lệ sống của động vật thủy sản nói chung và các loài cá nói riêng Tuy nhiên, hầu hết các loài cá biển không có khả năng tổng hợp các axít béo thiết yếu mà chúng phải phụ thuộc hoàn toàn vào nguồn thức ăn cung cấp từ bên ngoài Đây là vấn đề cần được chú ý trong quá trình cung cấp thức ăn cho cá bố mẹ và

ấu trùng trong sản xuất giống nhân tạo cá biển [88, 90] Nhu cầu các axít béo thiết yếu tùy thuộc vào nhóm cá, nếu như nhóm cá nước ngọt có nhu cầu cao hơn về các axít béo họ n - 6 thì các loài cá biển lại có nhu cầu cao hơn về các axít béo không no họ n –

3, đặc biệt là giai đoạn ấu trùng Các axít béo không no giữ vai trò quan trọng trong việc cung cấp năng lượng [89] tạo nên cấu trúc và chức năng của màng tế bào [90, 105] vai trò trong quá trình dẫn truyền tín hiệu thần kinh,… [40]

Thiếu hụt axít béo không no là nguyên nhân gây ra các biểu hiện rối loạn: thối loét vẩy, vây, tăng tỷ lệ chết, tăng các biểu hiện viêm, giảm khả năng sinh sản, tăng tỷ

lệ dị hình xương và nắp mang (cá chép, cá hồi và cá tráp,…), giảm sinh trưởng, ham

ăn và tiêu thụ thức ăn [5, 21, 32, 78, 96].Đối với cá bố mẹ, sự thiếu hụt axít béo không

no ảnh hưởng cấu đến sự thành thục, đẻ trứng, sức sinh sản, chất lượng sản phẩm sinh dục, tỷ lệ thụ tinh, tỷ lệ nở, tỷ lệ sống của ấu trùng ở nhiều nhóm cá nuôi (cá bơn, cá tráp, cá mú,…) [74, 88] Thiếu hụt axít béo không no ở ấu trùng gây ra các biểu hiện hình thành bóng hơi không bình thường ở cá tráp, hình thành sắc tố không bình thường

ở cá bơn, không tụ tập thành đàn, không bắt mồi được trong điều kiện ánh sáng thấp ở

cá trích và cá đuôi vàng,… [97]

Bổ sung đầy đủ axít béo không no (DHA) trong khẩu phần thức ăn của ấu trùng giúp nâng cao tỷ lệ sống và tốc độ sinh trưởng ở cá bơn, cá mú đỏ [32, 79, 88] Đồng thời, nâng cao khả năng chịu sốc về nhiệt độ, độ mặn, ôxy thấp, sốc cơ học,… tăng cường khả năng miễn dịch ở ấu trùng cá hanh đỏ, cá bơn, cá chẽm, cá mú và cá kèn sọc [57, 58].Ngoài ra, các loại axít béo không no có trong thức ăn sống còn góp phần quan trọng trong việc cung cấp enzyme, hình thành và hoàn thiện ống tiêu hóa ở cá chẽm… [18]

1.3 Các nghiên cứu về dinh dưỡng ở cá hồng Mỹ

McGoogan and Gatlin, 1998 [67] thí nghiệm xác định ảnh hưởng của các mức protein khác nhau (35%, 40% và 45%) và các mức năng lượng dao động 35,2 – 46,4

Trang 24

kJ ảnh hưởng đến tốc độ sinh trưởng, tỷ lệ sống và thành phần sinh hóa của cá hồng

Mỹ giống (7,7 g/cá) Sau 08 tuần nuôi cá ở nghiệm thức 45% protein cho tốc độ sinh trưởng nhanh nhất và ở nghiệm thức 35% tốc độ sinh trưởng thấp nhất, tỷ lệ sống từ 97% - 100%, lipid trong cơ thịt không ảnh hưởng bởi chế độ cho ăn Nghiên cứu này cũng cho thấy rằng chế độ ăn uống năng lượng cao có thể làm giảm sản xuất amoniac

cá hồng Mỹ giống nhưng cũng có kết quả trong các loài cá khác với sự lắng đọng chất béo cao hơn và tốc độ tăng trưởng thấp hơn

Williams và Robinson, 1988 [102], thí nghiệm ảnh hưởng của các mức lipid khác nhau (7%, 11% và 18%), hàm lượng protein trong thức ăn được cố định là 40% đến tốc độ sinh trưởng cá hồng Mỹ giai đoạn giống Kết quả nghiên cứu cho thấy ở mức lipid 18% tốc độ sinh trưởng chậm hơn so với mức lipd 7% và 11% Tương tự, nghiên cứu của Lovell, 1989[63] cũng cho rằng tốc độ sinh trưởng của cá giảm khi cho cá ăn thức ăn có hàm lượng dinh dưỡng cao Shearer và cộng sự năm 1997 [91] nghiên cứu lipid trong khẩu phần ăn của cá hồi vân Kết quả nghiên cứu cho thấy khi cho cá hồi

ăn ở mức lipid cao sẽ làm giảm khă năng hấp thụ dinh dưỡng, điều này cũng tương tự với nghiên cứu của Machiels và Henken, 1987 [65]thực hiện trên cá da trơn châu Phi.Ngoài ảnh hưởng của hàm lượng protein trong thức ăn lên tốc độ sinh trưởng và tỷ lệ sống và thành phần sinh hóa của cá hồng mỹ thì hàm lượng protein trong thức ăn còn tác động đến quá trình đào thải của cá Sự gia tăng hàm lượng protein trong khẩu phần

ăn sẽ làm tăng quá trình sản xuất amonia và ure Tương tự những nghiên cứu trên chép

Ấn Độ Chakraborty và Chakraborty, 1998 [23], cá da trơn châu Phi Buttle et al., 1995 [19], cá hồi vân Medale et al., 1995 [69], cá vược biển châu Âu Ballestrazzi et al 1994 [14] và cá chép Chakraborty et al., 1992 [23]

McGoogan và cộng sự (1998) [67] thí nghiệm ảnh hưởng của các các mức protein và năng lượng khác nhau lên tốc độ sinh trưởng, thành phần sinh hóa thịt cá và mức độ đào thải ammonia của cá hồng Mỹ giai đoạn giống Thí nghiệm đầu tiên cá hồng Mỹ có khối lượng ban đầu là 35g được cho ăn thức ăn có hàm lượng protein là 45% và năng lượng là 15,1 – 18,4 kJ Sau 06 tuần thí nghiệm kết quả cho thấy không

có sự khác biệt giữa các mức năng lượng khác nhau đến tốc độ tăng trưởng Tuy nhiên lượng mỡ trong bụng tăng lên khi tăng mức năng lượng trong khẩu phần ăn của cá trên 15,1 kJ/ngày nhưng không có sự khác biệt trong thành phần sinh hóa thịt cá Thí nghiệm thứ 02 khối lượng ban đầu của cá là 3,5g cá được cho ăn khẩu phần có protein

Trang 25

(%) và mức năng lượng tiêu hóa (DP/kJ) lần lượt là: 33/13, 40/15,5 và 50/18 tại mức 6%, 5% và 4% khối lượng thân (BW/ngày) tương ứng Sau 08 tuần thí nghiệm kết quả cho thấy không có sự khác biệt về tốc độ sinh trưởng khi cho cá ăn thức ăn có chứa 40% 50% DP, thấp nhất là cho cá ăn thức ăn chứa 33% DP, sự đào thải ammonia cũng không có sự khác biệt giữa các nghiệm thức Từ 02 thí nghiệm trên kết luận rằng

ở mức năng lượng cao trong thức ăn không cải thiện được tốc độ sinh trưởng, tăng hàm lượng protein kết hợp với tăng mức độ năng lượng trong thức ăn sẽ giúp cá có tốc

độ sinh trưởng nhanh và tăng hiệu quả sử dụng thức ăn của cá hồng mỹ Trong thí

nghiệm của Haley (1991) [43] khi tăng mức lipid trong thức ăn từ 5 – 12% trên cá

Oreochromis niloticus không có sự khác biệt về tốc độ sinh trưởng Khi tăng mức

lipid trong thức ăn thì sẽ làm tăng lượng mỡ bụng ở nhiều loài cá như cá tuyết [51, 52,

53, 54], và cá hồi Đại Tây Dương [38]

Trang 26

CHƯƠNG 2: VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Địa điểm, thời gian và đối tượng nghiên cứu

Địa điểm nghiên cứu: Trại thực nghiệm sản xuất giống cá biển Đường Đệ, Nha Trang, Khánh Hòa

Thời gian thực hiện: Thí nghiệm được tiến hành từ tháng 12/2014 đến 02/2015

Đối tượng nghiên cứu: Cá hồng Mỹ Sciaenops ocellatus (Linnaeus, 1766) giai

đoạn giống

2.2 Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu

Hình 2.1 Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu 2.3 Bố trí thí nghiệm

2.3.1 Hệ thống thí nghiệm

Thí nghiệm được bố trí trong các bể composit có thể tích 120L/bể, thể tích hoạt động của mỗi bể là 100L, gắn sục khí và che lưới phía trên các bể Hệ thống bể nuôi được sục khí 24/24 giờ

Nguồn nước: Nước biển được bơm vào bể chứa, xử lý chlorine với nồng độ 20 ppm và sục khí liên tục kết hợp với phơi nắng đến khi hết hoàn toàn chlorine thì để lắng 02 ngày, kế đến nước biển được xử lý qua hệ thống lọc cát và được bơm vào các

bể thí nghiệm qua túi siêu lọc

Trang 27

Hình 2.2 Hệ thống bể thí nghiệm

Hình 2.3 Hệ thống bể xử lý nước 2.3.2 Thức ăn thí nghiệm

Nguyên liệu thí nghiệm chính gồm bột cá, bột đậu nành, bột cám gạo, dầu mực, dầu đậu nành, vitamin, khoáng và một số các chất bổ sung khác Thành phần và tỷ lệ các nguyên liệu xem bảng 2.1 và bảng 2.2

Thức ăn được sản xuất bằng máy HASAKA nằm trong dự án thử nghiệm sản xuất thức ăn công nghiệp cho tôm hùm bông của Phó Giáo Sư - Tiến Sĩ Lại Văn Hùng làm chủ nhiệm

Trang 28

Hình 2.4 Máy sản xuất thức ăn

Hình 2.6 Cá hồng Mỹ giống

Vít tải 1 Sàng sơ Máy nghiền Xả liệu

Cấp liệu máy ép Trộn hơi máy ép Vít tải 2 Máy trộn liệu

Bơm nước Máy ép viên Cắt viên Sấy thức ăn

Trang 29

03 lần (cùng thời điểm)

 Công thức thức ăn nghiên cứu ảnh hưởng của hàm lượng Protein

- Gồm 5 mức protein: 38%, 40%, 42%, 44% và 46%

- Mức lipid cố định trong thí nghiệm: 12%

Bảng 2.1 Bảng thành phần các nguyên liệu sản xuất thức ăn protein

06 tuần (từ ngày 09/12/2014 – 24/01/2015) Mỗi nghiệm thức được lặp lại 03 lần (cùng thời điểm)

 Công thức thức ăn nghiên cứu ảnh hưởng của hàm lượng lipid

- Gồm 4 mức lipid: 10%, 12%, 14% và 16%

- Mức lipid cố định trong thí nghiệm: 42%

Trang 30

Bảng 2.2 Bảng thành phần các nguyên liệu sản xuất thức ăn lipid

2.5 Phương pháp thu thập và xử lý số liệu

2.5.1 Phương pháp thu thập số liệu

- Số liệu thứ cấp: Được thu thập từ sách báo, tạp chí, tài liệu tham khảo, các báo cáo khoa học, đề tài dự án có liên quan đến sản xuất giống và nuôi cá hông Mỹ, các tài liệu

kỹ thuật nuôi cá biển khác có liên quan,…

- Số liệu sơ cấp: Được thu thập từ việc đo môi trường hàng ngày và theo dõi, xác định khối lượng thân, chiều dài toàn thân của cá thí nghiệm định kỳ 07 ngày/lần

- Phương pháp thu thập các thông số môi trường:

+ Nhiệt độ (to) và ôxy hòa tan (DO) được đo định kỳ 02 lần/ngày vào 6h và 14h

+ Các yếu tố khác như: pH, NH3, NO2 và độ mặn (S‰) được đo 02 ngày/lần hoặc khi có sự cố bất thường xảy ra

+ Nhiệt độ (to) được đo bằng nhiệt kế thủy ngân, chính xác đến 1oC

+ Độ mặn (S‰) được đo bằng tỷ trọng kế, chính xác đến 1‰

+ Ôxy hòa tan (DO) được đo bằng máy DO 200, chính xác đến 0,01 mg/L + pH được đo bằng test pH có độ chính xác là 0,1

Trang 31

+ NO2 và NH3 được đo bằng test Sera NH3 và NO2

- Phương pháp xác định tốc độ sinh trưởng của cá:

+ Cá được cân khối lượng và đo chiều dài (tất cả số cá trong bể) trước và sau khi kết thúc thí nghiệm để tính toán các chỉ tiêu sinh trưởng Hàng tuần cá được đo chiều dài toàn thân và cân khối lượng để xác định tốc độ tăng trưởng

+ Khối lượng cá được xác định bằng cân điện tử có độ chính xác đến 0,01 g

2.5.2 Phương pháp xử lý số liệu

- Xác định các chỉ tiêu tăng trưởng:

Trang 32

+ Tốc độ tăng trưởng đặc trưng về khối lượng (SGRW: %/ngày)

+ Tốc độ tăng trưởng đặc trưng về chiều dài (SGRL: %/ngày)

- Tỷ lệ sống (%):

Trong đó X: Số lượng cá tại thời điểm xác định

Y: Số lượng cá thả ban đầu

- Hệ số thức ăn (FCR):

Trong đó Wtasd: Khối lượng thức ăn sử dụng (g: theo khối lượng khô)

WG: Khối lượng cá gia tăng (g: theo khối lượng tươi)

Trang 33

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

3.1 Ảnh hưởng của hàm lượng protein trong thức ăn lên sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá hồng Mỹ giai đoạn giống

3.1.1 Các yếu tố môi trường trong thời gian thí nghiệm

Bảng 3.1 Các yếu tố môi trường trong thời gian thí nghiệm ảnh hưởng của

protein

Nhiệt độ

(oC)

Độ mặn (S‰)

pH Ôxy hòa tan

3.1.2 Ảnh huởng của hàm lượng protein lên tốc độ sinh trưởng của cá

Tốc độ sinh trưởng đặc trưng:

Ảnh hưởng của hàm lượng protein trong thức ăn lên tốc độ sinh trưởng đặc trưng của cá hồng Mỹ giống được thể hiện ở Hình 3.1 và Hình 3.2

Trang 34

Hình 3.2 Ảnh hưởng của hàm lượng protein lên SGR W (%/ngày)

Hàm lượng protein trong thức ăn có ảnh hưởng đáng kể đến tốc độ sinh trưởng đặc trưng về chiều dài của cá hồng Mỹ giống Sau 06 tuần ương nuôi thí nghiệm, cá được cho ăn thức ăn chứa hàm lượng protein 42% (0,367 %/ngày về chiều dài và 0,587 %/ngày về khối lượng) có tốc độ tăng trưởng đặc trưng cao hơn và khác biệt có

ý nghĩa thống kê so với các nghiệm thức còn lại (p < 0,05) Tiếp theo là ở nghiệm thức 40% và 44% (0,268 và 0,323 %/ngày về chiều dài; 0,453 và 0,507 %/ngày về khối lượng) Thấp nhất là tốc độ sinh trưởng đặc trưng ở 2 nghiệm thức 38% và 46% tương ứng 0,22 và 0,232 %/ngày về chiều dài; 0,4 và 0,413 %/ngày về khối lượng Sự khác biệt giữa các cặp nghiệm thức này là không có ý nghĩa thống kê (p>0,05)

Trang 35

3.1.3 Ảnh huởng của hàm lượng protein đến khối lượng cuối (We) của cá hồng

Mỹ giai đoạn giống

Hình 3.3 Ảnh huởng của hàm lượng protein đến khối lượng cuối (We) của cá

Kết quả nghiên cứu cho thấy, hàm lượng protein có ảnh hưởng đến khối lượng cuối (We) của cá hồng Mỹ giống Cá được cho ăn thức ăn có hàm lượng protein 42% (15,257 g/con) cho khối lượng cuối lớn nhất Kế đến là nghiệm thức 44% (14,230 g/con) tiếp đến nữa là nghiệm thức 40% (13,110 g/con) (P < 0,05) Tuy nhiên, không

có sự khác biệt thống kê về khối lượng cuối đạt được giữa các mức protein 46% (11,780 g/con) và 38% (11,757 g/con) (P > 0,05)

3.1.4 Ảnh huởng của hàm lượng protein đến hệ số thức ăn (FCR) của cá hồng

Mỹ giai đoạn giống

Trang 36

Hình 3.4 Ảnh huởng của hàm lượng protein đến hệ số thức ăn (FCR) của cá

Kết quả nghiên cứu cho thấy, hàm lượng protein có ảnh hưởng đến hệ số thức

ăn của cá hồng Mỹ giống Cá được cho ăn ở hàm lượng protein 42% (1,05) cho hệ số FCR thấp nhất Kế đến là nghiệm thức 44% FCR (1,11) Tiếp đến nữa là nghiệm thức 40% có FCR (1,20) (P < 0,05) Tuy nhiên, không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê

về hệ số FCR giữa các nghiệm thức thức ăn 46% (1,34) và 38% (1,34) (P > 0,05)

3.1.5 Ảnh huởng của hàm lượng protein đến tỷ lệ sống của cá hồng Mỹ giai đoạn giống

Hình 3.5 Ảnh huởng của hàm lượng protein lên tỷ lệ sống của cá

Kết quả nghiên cứu cho thấy, hàm lượng Protein không ảnh hưởng đến tỷ lệ sống của cá hồng Mỹ giai đoạn giống Qua hình 3.5 thể hiện rõ, tỷ lệ sống cao nhất ở nghiệm thức có hàm lượng Protein chiếm 42% (96,667 ± 0,8333%); tiếp theo ở nghiệm thức 40% (95,883 ± 1,6667%) và thấp nhất ở ba nghiệm thức 46%; 44% và 38% (95,000 ± 1,4434%; 94,167 ± 0,8883% và 94,167 ± 1,5667%) Tuy nhiên, sự sai khác này không có ý nghĩa thống kê (P > 0,05)

Protein là phần dinh dưỡng quan trọng nhất kiến tạo nên cấu trúc cơ thể động vật nói chung và cá nói riêng Vai trò quan trọng của chúng có thể kể đến như xây dựng nên các mô mới, thay thế các tế bào chết, tổng hợp nên các hợp chất có hoạt tính sinh

Trang 37

lượng, [5, 24] Do đó, thành phần này có vai trò quan trọng trong quá trình sinh trưởng và phát triển của cá chim, đặc biệt là giai đoạn còn non, đã được đề cập trong nhiều nghiên cứu [39, 59, 60, 80, 99] Nhu cầu protein ở cá chim vây vàng giống có sự thay đổi khác nhau tùy theo loài và giai đoạn phát triển, dao động từ 30 – 60% [60, 62, 99]

Trong nghiên cứu hiện tại, hàm lượng protein 42% cho tốc độ sinh trưởng cao nhất Tuy nhiên, không có sự khác biệt với tốc độ sinh trưởng so với các mức protein 40% Điều này cho thấy, hàm lượng protein tốt nhất cho sinh trưởng của cá hồng mỹ tốt nhất trong khoảng 40 – 42% Kết quả này tương tự với một số nghiên cứu khác trên

các loài cá chim như T ovatus (49%) hay T carolinus (45%) [60, 99] Để đạt được tốc

độ sinh trưởng tối đa, hàm lượng protein cung cấp cần thỏa mãn nhu cầu của cá, dao động từ 40 – 50% ở các loài cá dữ [53, 72, 92, 103]

Trong nghiên cứu hiện tại, có thể thấy một xu hướng chung rằng, tốc độ sinh trưởng đạt được tốt hơn cùng với sự gia tăng hàm lượng protein trong khoảng từ 40 – 42%, nếu thấp hơn hoặc cao hơn ngưỡng này thì không tốt cho sự sinh trưởng của cá hồng mỹ giai đoạn giống Điều này tương tự với nhiều nghiên cứu về ảnh hưởng của hàm lượng protein trên các loài cá biển nói chung và cá hồng mỹ nói riêng Lazo và CTV [60] nghiên cứu ảnh hưởng của hàm lượng protein trong thức ăn 30, 35, 40 và

45% trên loài T carolinus giai đoạn giống cho thấy, tốc độ sinh trưởng của cá, và hiệu

quả sử dụng thức ăn tăng tỷ lệ thuận với mức tăng protein, đạt được cao nhất ở mức

protein 45% Tương tự, Wang và CTV [99] nghiên cứu trên loài T ovatus giai đoạn

giống với hàm lượng protein 33, 37, 41, 45 và 49% cũng cho thấy, tốc độ sinh trưởng tương đối và hệ số chuyển đổi thức ăn tốt hơn cùng với sự gia tăng của hàm lượng protein, đạt được cao nhất ở hàm lượng protein 49%

Hàm lượng protein quá cao hay thấp đều ảnh hưởng đến sinh trưởng, tỷ lệ sống

và hiệu quả sử dụng thức ăn của cá Trong nghiên cứu này, cá hồng mỹ giống được cho ăn ở hàm lượng protein 38, 44 và 46% cho tốc độ sinh trưởng chậm hơn so với các mức protein cao hơn (40 và 42%) Điều này tương tự với kết quả nghiên cứu của các tác giả khác trên một số loài cá chim khác [60, 62, 80, 99] Protein là thành phần kiến tạo nên cấu trúc cơ thể động vật nói chung, do đó, hàm lượng protein thấp là nguyên nhân làm giảm tốc độ sinh trưởng, hiệu quả sử dụng thức ăn ở cá Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra ảnh hưởng của sự thiếu hụt protein trong thức ăn đối với sinh trưởng và phát

Trang 38

triển của nhiều loài cá biển Các dấu hiệu điển hình của thiếu hụt protein có thể kể đến sinh trưởng chậm, giảm tỷ lệ sống, tăng tỷ lệ dị hình ở cá, dị tật xương, cong vẹo xương sống, mất nắp mang và dị tật hàm dưới [5, 106] Trong trường hợp thiếu protein, nguồn protein ăn vào chủ yếu được sử dụng cho việc cung cấp năng lượng cho hoạt động bình thường của cá, do đó, protein cung cấp cho việc xây dựng cấu trúc cơ thể sẽ giảm, hậu quả làm giảm tốc độ sinh trưởng của cá [5] Tuy nhiên, sự dư thừa protein cũng làm giảm sinh trưởng của cá liên quan đến sự bão hòa các axít amin trong ruột Không giống như các thành phần lipid và carbohydrate, cơ thể cá không có cơ chế tích lũy các sản phẩm protein dư thừa từ thức ăn trong cơ thể mà đào thải trực tiếp

ra ngoài môi trường Sự dư thừa hàm lượng protein không những không tăng tốc độ sinh trưởng, tỷ lệ sống của cá mà còn làm gia tăng chi phí thức ăn cũng như ô nhiễm môi trường [5, 108]

Trong nghiên cứu này, các mức protein khác nhau không ảnh hưởng đến tỷ lệ sống của cá hồng mỹ giống Điều này có thể do thời gian nghiên cứu chưa đủ để cho thấy sự khác biệt Thông thường, sự ảnh hưởng của các thành phần dinh dưỡng của thức ăn lên sinh trưởng, tỷ lệ sống của cá có thể được thể hiện trong một thời gian dài sau khi cho cá ăn Các nghiên cứu trên cá chim cũng cho thấy xu hướng tương tự, hàm lượng protein không ảnh hưởng đến tỷ lệ sống của cá chim giống trong thời gian từ 4 –

8 tuần thí nghiệm [60, 99]

Từ kết quả nghiên cứu này có thể thấy rằng, hàm lượng protein bổ sung vào thức

ăn cá hồng mỹ giai đoạn giống từ 40 – 42% nhằm đạt được sinh trưởng tối đa và giảm chi phí thức ăn Nghiên cứu về nhu cầu protein của động vật thủy sản nói chung, Lại Văn Hùng [5] nhận thấy, khả năng tiêu hóa protein trong thức ăn của động vật thủy sản nói chung tốt nhất khi hàm lượng protein ở mức nhu cầu Chính vì vậy, mức protein đề xuất trong nghiên cứu này nên là 42% Mặc dù không có sự khác biệt về tốc

độ sinh trưởng, tỷ lệ sống với mức protein 40% trong nghiên cứu này, các nghiên cứu tiếp theo nên tập trung vào việc làm rõ ảnh hưởng của các mức protein này lên hiệu quả sử dụng thức ăn, năng lượng tích lũy, hàm lượng thức ăn ăn vào, năng lượng tích trữ, hàm lượng nitơ tích trữ, hàm lượng protein trong thức ăn và trong cơ thịt của cá,

hệ số gan, [80, 99] Đây chính là cơ sở để khẳng định thuyết phục hơn hàm lượng protein nào thích hợp hơn đối với sinh

trưởng và tỷ lệ sống của cá hồng mỹ giai đoạn giống

Trang 39

3.2 Ảnh hưởng của hàm lượng lipid trong thức ăn lên sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá hồng Mỹ giai đoạn giống

3.2.1 Các yếu tố môi trường trong thời gian thí nghiệm

Bảng 3.2 Các yếu tố môi trường trong thời gian thí nghiệm ảnh hưởng của lipid

Nhiệt độ

(toC)

Độ mặn (S‰)

pH Ôxy hòa tan

3.2.2 Ảnh huởng của hàm lượng lipid lên tốc độ sinh trưởng của cá

Tốc độ sinh trưởng đặc trưng:

Ảnh hưởng của hàm lượng protein trong thức ăn lên tốc độ sinh trưởng đặc trưng của cá hồng Mỹ giống được thể hiện ở Hình 3.6 và Hình 3.7

Hình 3.6 Ảnh hưởng của hàm lượng lipid đến SGRL (%/ngày)

Trang 40

Hình 3.7 Ảnh hưởng của hàm lượng lipid đến SGR W (%/ngày)

Tương tư như Protein, hàm lượng Lipid trong thức ăn có ảnh hưởng đáng kể đến tốc độ sinh trưởng đặc trưng về chiều dài của cá hồng Mỹ giống Sau 06 tuần ương nuôi thí nghiệm, cá được cho ăn thức ăn chứa hàm lượng Lipid 12% (0,38 ± 0,058

%/ngày về chiều dài và 0,9 ± 0,0116 %/ngày về khối lượng) có tốc độ tăng trưởng đặc trung cao hơn và khác biệt có ý nghĩa thống kê so với các nghiệm thức còn lại (p < 0,05) Tiếp theo là ở nghiệm thức 16% (0,347 ± 0,0088 %/ngày về chiều dài và 0,845

± 0,0145 %/ngày về khối lượng) Tiếp đến nữa là ở nghiệm thức 14% (0,313 ± 0,0120

%/ngày về chiều dài và 0,840 ± 0,0158 %/ngày về khối lượng) Và thấp nhất là ở nghiệm thức có hàm lượng Lipid trong thức ăn chiếm 10% (0,250 ± 0,0046 %/ngày về chiều dài và 0,787 ± 0,0068 %/ngày về khối lượng)

Ngày đăng: 03/11/2016, 14:08

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1. Hình dạng bên ngoài cá hồng Mỹ - Nghiên cứu ảnh hưởng của hàm lượng protein và lipid trong thức ăn lên sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá hồng mỹ sciaenops ocellatus (linnaeus, 1766) giai đoạn giống
Hình 1.1. Hình dạng bên ngoài cá hồng Mỹ (Trang 15)
Hình 1.2. Bản đồ phân bố của cá hồng Mỹ trên thế giới - Nghiên cứu ảnh hưởng của hàm lượng protein và lipid trong thức ăn lên sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá hồng mỹ sciaenops ocellatus (linnaeus, 1766) giai đoạn giống
Hình 1.2. Bản đồ phân bố của cá hồng Mỹ trên thế giới (Trang 16)
Hình 2.2. Hệ thống bể thí nghiệm - Nghiên cứu ảnh hưởng của hàm lượng protein và lipid trong thức ăn lên sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá hồng mỹ sciaenops ocellatus (linnaeus, 1766) giai đoạn giống
Hình 2.2. Hệ thống bể thí nghiệm (Trang 27)
Hình 2.3. Hệ thống bể xử lý nước  2.3.2. Thức ăn thí nghiệm - Nghiên cứu ảnh hưởng của hàm lượng protein và lipid trong thức ăn lên sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá hồng mỹ sciaenops ocellatus (linnaeus, 1766) giai đoạn giống
Hình 2.3. Hệ thống bể xử lý nước 2.3.2. Thức ăn thí nghiệm (Trang 27)
Hình 2.8. Xác định chiều dài cá - Nghiên cứu ảnh hưởng của hàm lượng protein và lipid trong thức ăn lên sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá hồng mỹ sciaenops ocellatus (linnaeus, 1766) giai đoạn giống
Hình 2.8. Xác định chiều dài cá (Trang 31)
Hình 2.7. Xác định khối lượng cá - Nghiên cứu ảnh hưởng của hàm lượng protein và lipid trong thức ăn lên sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá hồng mỹ sciaenops ocellatus (linnaeus, 1766) giai đoạn giống
Hình 2.7. Xác định khối lượng cá (Trang 31)
Hình 3.1. Ảnh hưởng của hàm lượng protein lên SGR L  (%/ngày) - Nghiên cứu ảnh hưởng của hàm lượng protein và lipid trong thức ăn lên sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá hồng mỹ sciaenops ocellatus (linnaeus, 1766) giai đoạn giống
Hình 3.1. Ảnh hưởng của hàm lượng protein lên SGR L (%/ngày) (Trang 33)
Hình 3.2. Ảnh hưởng của hàm lượng protein lên SGR W  (%/ngày) - Nghiên cứu ảnh hưởng của hàm lượng protein và lipid trong thức ăn lên sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá hồng mỹ sciaenops ocellatus (linnaeus, 1766) giai đoạn giống
Hình 3.2. Ảnh hưởng của hàm lượng protein lên SGR W (%/ngày) (Trang 34)
Hình 3.3. Ảnh huởng của hàm lượng protein đến khối lượng cuối (We) của cá - Nghiên cứu ảnh hưởng của hàm lượng protein và lipid trong thức ăn lên sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá hồng mỹ sciaenops ocellatus (linnaeus, 1766) giai đoạn giống
Hình 3.3. Ảnh huởng của hàm lượng protein đến khối lượng cuối (We) của cá (Trang 35)
Hình 3.4. Ảnh huởng của hàm lượng protein đến hệ số thức ăn (FCR) của cá - Nghiên cứu ảnh hưởng của hàm lượng protein và lipid trong thức ăn lên sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá hồng mỹ sciaenops ocellatus (linnaeus, 1766) giai đoạn giống
Hình 3.4. Ảnh huởng của hàm lượng protein đến hệ số thức ăn (FCR) của cá (Trang 36)
Hình 3.6. Ảnh hưởng của hàm lượng lipid đến SGRL (%/ngày) - Nghiên cứu ảnh hưởng của hàm lượng protein và lipid trong thức ăn lên sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá hồng mỹ sciaenops ocellatus (linnaeus, 1766) giai đoạn giống
Hình 3.6. Ảnh hưởng của hàm lượng lipid đến SGRL (%/ngày) (Trang 39)
Hình 3.7. Ảnh hưởng của hàm lượng lipid đến SGR W  (%/ngày) - Nghiên cứu ảnh hưởng của hàm lượng protein và lipid trong thức ăn lên sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá hồng mỹ sciaenops ocellatus (linnaeus, 1766) giai đoạn giống
Hình 3.7. Ảnh hưởng của hàm lượng lipid đến SGR W (%/ngày) (Trang 40)
Hình 3.8. Ảnh huởng của hàm lượng lipid đến khối lượng cuối (We) của cá - Nghiên cứu ảnh hưởng của hàm lượng protein và lipid trong thức ăn lên sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá hồng mỹ sciaenops ocellatus (linnaeus, 1766) giai đoạn giống
Hình 3.8. Ảnh huởng của hàm lượng lipid đến khối lượng cuối (We) của cá (Trang 41)
Hình 3.9. Ảnh huởng của hàm lượng lipid đến hệ số thức ăn (FCR) của cá - Nghiên cứu ảnh hưởng của hàm lượng protein và lipid trong thức ăn lên sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá hồng mỹ sciaenops ocellatus (linnaeus, 1766) giai đoạn giống
Hình 3.9. Ảnh huởng của hàm lượng lipid đến hệ số thức ăn (FCR) của cá (Trang 41)
Hình 3.10. Ảnh hưởng của hàm lượng lipid trong thức ăn đến tỷ lệ sống của cá. - Nghiên cứu ảnh hưởng của hàm lượng protein và lipid trong thức ăn lên sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá hồng mỹ sciaenops ocellatus (linnaeus, 1766) giai đoạn giống
Hình 3.10. Ảnh hưởng của hàm lượng lipid trong thức ăn đến tỷ lệ sống của cá (Trang 42)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w