1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận kinh nghiệm của các nước trong việc điều trị và phục hồi chức năng cho bệnh nhân tâm thần phân liệt

34 421 1
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 34
Dung lượng 5,37 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lịch sử phát triển của ngành tâm thần học e Trên thế giới Lịch sử nghiên cứu bệnh TTPL thực chất là lịch sử phát triển về những khái niệm và các hội chứng bệnh lý tâm thần.. Về sau xuất

Trang 2

CHUYEN DE 2

KINH NGHIỆM CỦA CÁC NƯỚC TRONG ĐIỀU TRỊ VÀ PHỤC HÔI CHỨC NĂNG CHO BENH NHAN TAM THAN PHAN LIET

TINH HINH NGHIEN CUU TRONG VA NGOAI NUGC

1.1 Khai quat vé bénh nhan tam than phan liét

1.1.1 Lịch sử phát triển của ngành tâm thần học

e Trên thế giới

Lịch sử nghiên cứu bệnh TTPL thực chất là lịch sử phát triển về

những khái niệm và các hội chứng bệnh lý tâm thần Bệnh TTPL có từ khi

loài người xuất hiện [42, 55], việc phân loại và thống nhất các quá trình

bệnh lý của TTPL có một lịch sử lâu dài Các tác giả ngày xưa đã mô tả các

thể khác nhau, đã nêu lên các trạng thái mà cho đến nay gọi là bệnh TTPL

Thời Trung cổ

Cuối thời Trung cổ, người bệnh bị xem là do ma qui nhập Phần lớn những

bệnh nhân tâm thần được tập trung vào các tu viện và các nhà cứu tế, họ bị

đối xử rất tàn bạo và nhiều khi còn bị đánh chết hoặc thiêu sống

Thế kỷ 18 và 12

Ở Pháp, dưới ảnh hưởng của cách mạng tư sản, những quan điểm duy vật và khoa học về bệnh tâm thần bắt đầu chiếm ưu thế Esquirol sơ bộ phân loại các bệnh tâm thần, thực hiện chế độ làm bệnh án và theo dõi người

bệnh hàng ngày Về sau xuất hiện nhiều nhà tâm thần học nổi tiếng như:

Charcot với lâm sàng người bệnh Hysteria, Morel (1857) mô tả chứng mất

trí sớm (Dementiapraecox) ở người trẻ tuổi mà ông cho rằng do suy thái đi

truyền [9], cũng từ dé Morel va Magnan bat đầu đặt nền tảng cho nghiên

cứu vai trò của đi truyền trong việc phát sinh các bệnh tâm thần

Ở Anh, Henry Maudsley sáng lập ra ngành tâm thân pháp y và tâm thần học trẻ em, ông vận dụng thuyết tiến hoá của Darwin vào việc nghiên

Trang 3

cứu các bệnh tâm thần và khẳng định rằng bệnh tâm thần phát sinh do rối

loại các trung khu thần kinh ở não

Ở Đức năm 1764, Volgel mô tả hội chứng Paranoid mà ông gợi là

"lý trí lầm lạc" Wilhelm Griesinger trong cuốn sách tâm thân học xuất bản

ở Đức năm 1845 đã khẳng định rằng, bệnh tâm thần là bệnh của não bộ

Ông quan niệm đó là "sự điên loại tiên phát

K Kahlbaum (1863) và E Hecker (1871), mô tả hội chứng thanh xuân ở

nhất là Emil Kraepelin đã có công đúc kết những qui luật tiến triển lâm

sàng của bệnh tâm thần về các mặt bệnh nguyên, bệnh sinh, tiên lượng và điều trị Năm 1898, Emil Kraepelin đã thống nhất các bệnh độc lập được

mô tả trước đây thành một bệnh, gọi chung là bệnh "mất trí sớm” và đã nêu khá đầy đủ những triệu trứng lâm sàng của bệnh này Quan niệm "mất trí

sớm” nhanh chóng được các nhà tâm thần học Đức hưởng ứng, nhưng các tác giả có khuynh hướng hội chứnh luận của pháp cho rằng "mất trí sớm"

do Emil Kraepelin mô tả không chỉ kết thúc bằng mất trí, mà còn có thể

dừng lại ở một số giai đoạn phát triển nào đó

Ở Nga, năm 1857, khoa tâm thần đầu tiên được thành lập tại Viện

Hàn lâm nội khoa Pêtecbua do giáo sư I M Balinky lãnh đạo Năm 1882,

Kandinski mô tả BN tâm thần tư duy (Ideophrenia) là một bệnh độc lập mà

các triệu chứng cơ bản phù hợp với bệnh TIPL hiện nay đã có các công trình về ảo giác giả vào năm 1887 Mecgieepski đã bước đầu nghiên cứu trong lĩnh vực giải phẫu sinh lý của não, đã vận dụng thôi miên và ám thị

vào điều trị bệnh Năm 1891, Coocxacôp mô tả bệnh Dysnoia như một bệnh

Trang 4

loạn thần cấp có nhiều nét lâm sàng phù hợp với bệnh TTPL tiến triển cấp,

ông đã tập trung vào nghiên cứu giải phẫu vi thể và các quá trình sinh lý

của não để đi sâu vào bản chất của bệnh tâm thần và chứng minh luận điểm

bệnh tâm thần là bệnh của não bộ và toàn cơ thể, ông nghiên cứu kỹ bệnh

loạn thần do rượu và bệnh này gọi là bệnh "loạn thần Coocxacôp"

Từ thế ký 20

Năm 1911, Bleuler căn cứ vào sự phân tích các diễn biến lâm sàng của các ca 'mất trí sớm" đã chỉ ra rối loạn chủ yếu của bệnh là sự chia cắt

về mặt tâm thần, ông đề xuất tên gọi mới là bệnh TTPL (Schizophrenia) với

hội chứng 4 chữ A đặc trưng Từ đó thuật ngữ này nhanh chóng được nhiều nước thừa nhận và được dùng đến ngày nay [42] Năm 1939, Schneider da

nêu một loạt các triệu chứng hàng đầu đặc trưng cho bệnh TTPL như:

Hoang tưởng bị chi phối, tư duy vang thành tiếng, ảo thanh có nội dung

bình phẩm hay ra lệnh cho BN, những biểu hiện của tâm thần tự động

Năm 1968, trong bảng phân loại bệnh quốc tế lần thứ 8, TTPL được

xếp vào mục 29 mang mã số 29.5 [6]

Năm 1992, trong bảng phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10 (ICD - 10) TTPL được xếp vào chương F2 mục F20 [26]

Ngày nay, nhiều chuyên gia tâm thân học quan niệm rằng:TTPL là

một bệnh loạn thần nặng, tiến triển từ từ, có khuynh hướng mạn tính, căn nguyên chưa rõ ràng, làm biến đổi nhân cách người bệnh một cách sâu

sắc: Người bệnh tách dần ra khỏi cuộc sống bên ngoài, thu dần vào thế giới

bên trong (thế giới tự kỷ), tình cảm trở lên khô lạnh dần, khả năng làm việc, học tập ngày một giảm sút, có những hành vi kì dị, khó hiểu [37, 39]

e Tại Việt Nam

Trong những thế kỷ trước, nước ta không có một cơ sở chữa bệnh tâm thần, không có thầy thuốc và không có sách báo tài liệu về tâm thần

Trang 5

Thời kỳ thực dân Pháp xâm chiếm nước ta, có xây dựng 2 nhà thương

"điên" ở Biên Hoà và ở Vôi (huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang) Ngoài ra còn một khu điên ở BV Bạch Mai, Hà Nội Các cơ sở này thực chất là nơi

giam giữ bệnh nhân Trong nhân dân không có hiểu biết gì về bệnh tâm

thần [42]

Sau ngày giải phóng thủ đô Hà Nội năm 1945 và giải phóng Sài Gòn

năm 1975, Đảng, Chính phủ và Bộ Y tế đã quan tâm đến ngành Tâm thần

học Ngành Tâm thần học Việt Nam đã phát triển nhanh chóng

Năm 1962 Hội thần kinh, tâm thần và phẫu thuật thần kinh ra đời

Năm 1963 BV tâm thần Thường Tín được thành lập, lúc đầu là 100 giường, sau là 450 giường và từ năm 1969 trở thành BV tâm thần Trung ương giúp Bộ Y tế trong việc chỉ đạo phát triển mạng lưới chăm sóc sức

khoẻ tâm thần ở Việt Nam

Các BV tâm thần ở các tỉnh và thành phố lần lượt ra đời và lớn mạnh

Khoa tâm thần Viện quân y 103 cũng được thành lập và sau đó là khoa tâm

thần kinh ở các bệnh viện quân khu

Bộ môn Tâm thần Trường Đại học Y khoa Hà Nội thành lập năm

1957 Bộ môn Tâm thần trường Đại học Y thành phố Hồ Chí Minh ra đời

năm 1977 [42]

Một số công trình khoa học như: Điều tra cơ bản bệnh tâm thần nói

chung và bệnhTTPL nói riêng, nghiên cứu hiệu quả của phục hồi chức năng

cho bệnh nhân tâm thần cho người bệnh xây dựng các trắc nghiệm tâm lý, tác dụng của thư giãn trong việc điều trị bằng âm nhạc và văn nghệ liệu

pháp đã được đặt ra và tiến hành từ nhiều năm trước đây

Ngành tâm thần đã xây dựng nhiều kế hoạch phát triển chính sách và địch

vụ CSSK tâm thần ở cộng đồng Năm 1999 Chính Phủ đã duyệt thông trình

quốc hội

Trang 6

Thực hiện chủ trương mở cửa, ngành tâm thần học Việt Nam có quan

hệ tốt với Tổ chức Y tế thế giới (WHO), với Hội phục hồi tâm lý xã hội thế

giới (WAPR), với liên đoàn quốc tế thế giới các Hội tâm thần nói tiếng Pháp (FIFP), và nhiều Hội tâm thần trên thế giới như: Thuy Điển, Hà Lan, Phần Lan, Pháp được mời đại biểu tham dự các hội nghị quốc tế ở Manila,

Hà Lan, Nhật Bản, Pháp đã gửi nhiều bác sĩ đi tu nghiệp ở nước ngoài và

tổ chức nhiều cuộc hội thảo có sự tham gia của các chuyên viên quốc tế tại

Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh [42]

Ngành tâm thần học nước ta ra đời rất muộn so với ngành tâm thần học của nhiều nước trên thế giới, lại phải gặp phải hoàn cảnh chiến tranh ác liệt nhưng đã đi đúng hướng và phát triển nhanh chóng Tuy vậy, ngành còn

có nhiều khó khăn trong việc thực hiện tốt công tác CSSKTT cộng đồng đặc

biệt là xây dựng chính sách và dịch vụ CSSK TT cộng đồng

1.1.2 Dịch té học bệnh tâm thần phản liệt

e Thế giới

Mặc dù đã có một thế kỷ nghiên cứu, dịch tế học bệnh tâm thần phân

liệt trên thế giới vẫn còn nghèo nàn, các số liệu khác nhau tuỳ nơi, tuỳ lúc, nhiều khi khác nhau giữa các tác giả, các trường phái trong cùng một nước Trong nghiên cứu dịch tễ học các rối loạn tâm thần nói chung và bệnh TTIPL nói riêng, WHO luôn đóng vai trò quan trọng, đề xuất chủ trương

nghiên cứu dịch tễ học, huy động nguồn lực để tiến hành nghiên cứu tầm cỡ quốc tế, đặc biệt là về bệnh TTPL

Trong những năm 1960, WHO tiến hành nghiên cứu thí điểm trên qui

mô quốc tế về bệnh tâm thần phân liệt tại 9 trung tâm với dân số

35.132.000 ở 9 nước, với tổng số BNTTPL, là 1.202 ở lứa tuổi từ 15 đến 54

nhằm cung cấp cơ sở khoa học cho các nghiên cttu dich té hoc TTPL [24]

Trang 7

Bảng 1.1 Tỷ lệ mắc bệnh tâm than phân liệt

Sjogren (Thuy Điển) 0,6% dân số

Fremming (Đan Mạch) 0,88% dân số

Harold I Kaplan (Mỹ) 1% dân số

Tuổi khởi phát trung bình của nam là: 21,4

Tuổi khởi phát trung bình của nữ

là: 26,8

Trang 8

Bang 1.4 Nguy co mac bénh theo gidi tinh

Hafner va CS Gần như nhau ở nam và nữ

(Cộng hoà Liên bang Đức 1988)

R Bland (Canada) Nam là 2,1%, ở nữ là 1,7% [56]

Dulcan (1991) Ở trẻ em TTPL, xu hướng nghiêng

Theo P.E Chanoit 1985, xác suất mắc bệnh là: 0,3% - 1,87% dân số

Theo O Gureje (1991), khoảng 90% BN nam và 67% BN nữ bị bệnh TTPL

trước tuổi 30 [48]

e Việt Nam

Chuyên khoa tâm thần ra đời muộn so với các chuyên khoa khác Tháng

12 năm 1956 mới thành lập khoa tinh-than kinh BV Bach Mai va từ đó Tâm

thần học mới được giảng dạy ở Trường Đại học Y khoa Hà Nội [42]

Từ những năm 1964 đến nay, Việt Nam đã có trên 50 công trình điều tra

cơ bản về bệnh tâm thần Tuyệt đại đa số các công trình tiến hành điều tra

đồng thời từ 2 - 10 loại bệnh tâm thần khác nhau, trong đó có mục bệnh

TTPL Các điều tra đã được tiến hành trên nhiều miền khác nhau (Bắc, Trung, Nam), nhiều vùng khác nhau (nông thôn, thành thị, đồng bằng,

miền núi) [23, 24]

Các điều tra dịch tễ lâm sàng bệnh TTPL có thể phân thành 3 loại theo cỡ

mẫu, phương pháp nghiên cứu và tiêu chuẩn chẩn đoán

Loại thứ nhất : Điều tra tại các xã, phườngvới 300 - 500 dân Là các điều tra

dựa vào cán bộ, nhân dân địa phương phát hiện giúp sau khi nghe phổ biến

kiến thức cơ bản về các bệnh tâm thần Các điều tra lập bàn khám tâm thần

Trang 9

sau khi thông báo cho nhân dân về mục đích nghiên cứu Các điều tra dựa

vào số BN đến khám và chữa bệnh ở đội ngoại viện Kết quả các điều tra

loại này cho tỷ lệ bệnh TTPL là: 0,15% - 0,23% dân số (ty lệ thấp so với quốc tế ) [23, 24]

Loại thứ hai: Gồm các nghiên cứu tại xã, phường với 4.000 - 10.000 dân,

dựa vào điều tra từng hộ Bao gồm: Điều tra Handicap tâm thần của

Trân Văn Cường và CS ở xã Hoà Bình năm 1981, điều tra các bệnh tâm

thần ở Khoái Cầu năm 1981 của Nguyễn Văn Siêm và CS, điều tra Handicap tâm thần ở 4 xã, phường Hà Nội năm 1981 của Lã Thị Bưởi và

CS, điều tra một số bệnh tâm thần ở Tân Mai năm 1985 của Nguyễn Thị Mai và CS, điều tra của Nguyễn Thị Mai và CS năm 1987, về các bệnh nhân

tâm thần ở phường Lê Đại Hành - Hà Nội Các công trình loại này cho biết

tỷ lệ mắc bệnh TTPL là 0,3% - 0,37% dân số Hạn chế loại nay là chỉ có 80% - 90% dân số được điều tra theo báo cáo Vì nhận thức không đúng hoặc mặc cảm về bệnh TTPL, gia đình không khai sự thật, BN tâm thần lại phủ định bệnh, không chịu đi khám nên trong 10% - 20% dân số không được điều tra này có thể có một số không ít người bệnh bị TTPL [23, 24] Loại thứ ba: Gồm các điều tra tại các xã, phường với dân số 4.500 - 12.000

Loại nghiên cứu này tiến hành trên từng hộ làm như điều tra dân số, điểm

tên từng người để phỏng vấn phát hiện BN Dùng các câu hỏi có tính đến

mặc cảm dấu bệnh của gia đình BN (nhất là các trường hợp bị bệnh trong

quá khứ nay đã ổn định) Tham khảo số đăng kí khám bệnh, nằm viện của

các cơ sở tâm thần địa phương Cách này đòi hỏi nhiều thời gian, nhân lực

nhưng phát hiện được cả những bệnh nhân bị bệnh nhẹ hoặc các bệnh nhân

ốn định, cho phép thu nhập các thông tin để phân tích cặn kẽ hơn Các công

trình sau đây thuộc loại này: Điều tra các bệnh nhân tâm thần ở xã Cao

Dương năm 1972 của Đào Đình Huy Nguyễn Văn Trí và CS, điều tra cơ

bản bệnh tâm thần ở Nghĩa Bình năm 1981 - 1985 Điều tra các bệnh tâm

Trang 10

10

thần ở xã Lam Sơn, xã Bắc Sơn và phường Lê Đại Hành (Hải Phòng) năm

1985 của Nguyễn Duy Hoà và CS Điều tra của Nguyễn Văn Trí và CS

ở Bình Định năm 1985 Trần Bá Mạc và CS điều tra ở Hà Nam Ninh năm

1986 [20] Quản lý BNTTPL tại xã Phượng Dực của Trần Văn Cường Bùi Đức Trình và CS điều tra ở 1 xã tỉnh Bắc Thái năm 1990 [31] Điều tra bệnh TTPL ở Bình Thuận (phúc tra năm 1992), ở Tự Nhiên năm 1994 và ở Tiên

Kiên năm 1995 của Nguyễn Văn Siêm và CS [25] Bùi Thế Khanh điều tra

tại Duyên Thái năm 1997 [17] Các nghiên cứu thuộc loại này chẩn đoán theo các tiêu chuẩn ICD Kết quả cho tỷ lệ mắc chung của bệnh TTPL là 0,52% - 0,72% dân số Loại nghiên cứu này còn đề cập đến các chỉ số dịch

tế học khác của bệnh TTPL như:

- Tỷ lệ mắc điểm: 0,47% - 0,53% dân số

- Tỷ lệ mới mắc: 0,029% - 0,056% dân số

- Nguy cơ mắc: 1,25% - 1,44% dân số [23, 24]

Các số liệu của loại nghiên cứu thứ 3 này tương tự như các số liệu của các nước khác trên thế giới Ngoài ra còn có các phân tích về tuổi, giới,

thể di truyền, thể lâm sàng, thuyên giảm và tái phát, các yếu tố ảnh hưởng

tới tiến triển và tiên lượng bệnh Tại các địa điểm nghiên cứu loại này, BN tâm thần được tổ chức chăm sóc cấp thuốc tại xã, theo dõi và đánh giá

Theo Nguyễn Viết Thiêm (1995), Pineruaschuhaibar (1992) nhận thấy: Trong số BN tâm thần điều trị nội trú tỷ lệ BNTTPL chiếm 14,1% - 61,2% [301]

Tại các cơ sở chuyên khoa có tới 80% - 90% số BN nằm viện là BNTTPL va 70% - 80% số BN đến khám 14 BNTTPL [24]

Theo Nguyễn Việt (1990), TTPL chủ yếu là bệnh ở tuổi trẻ, đa số các

trường hợp phát bệnh từ 15 - 25 tuổi [37] Cũng với nhận định này, Nguyễn Viết Thiêm (1995) cho biết lứa tuổi thường gặp của bệnh nhân TTPL là 16

đến 35 chiếm 65,9% [30]

Trang 11

11

Giới tính: Nguyễn Viết Thiêm, Nguyễn Đăng Dung, Geddes và Black J 1993 cho biết: ở tuổi trưởng thành tỷ lệ BN nam/BN nữ tương đương nhau [12] Nguyễn Việt, Trân Viết Nghị và CS cũng

nhận xét tương tự: Giới nam và nữ cho tỷ lệ xấp xỉ như nhau [38] Tuy nhiên một số tác giả khác lại cho kết quả tỷ lệ mắc ở giới nam cao hơn so với giới nữ như:Nguyễn Văn Siêm, Bùi Thế Khanh, La Đức Cương và Trần Cao Cường

1.1.3 Bệnh nguyên - bệnh sinh bệnh tâm thần phán liệt

Mặc dù đã có hơn một thế kỷ, với rất nhiều các công trình nghiên cứu về

bệnh sinh - bệnh nguyên của bệnh TTPL nhưng cho đến nay vấn đề vẫn chưa được chứng minh rõ ràng Nhiều tác giả đã đi đến thống nhất bệnh

TTIPL do nhiều nguyên nhân gây ra, do sự tác động qua lại của các nhân tố

thuộc tính cơ thể (yếu tố bẩm sinh) với các nhân tố ngoại lai Các giả thiết

ở anh chị em ruột, 12% con cái và 6% bố mẹ những người mắc

bệnh TIPL Nhưng khi cả bố và mẹ bị bệnh có tới 30% - 40% số con nguy

cơ bị bệnh [36]

Nghiên cứu sự phát bệnh 'TTPL trên những trẻ sinh đôi cùng trứng và

khác trứng cho thấy sự tương đồng (cả hai cùng bị TTPL) ở tỷ lệ

nhu sau: [42].

Trang 12

( Trong 5 điều tra khác nhau)

Kallmann còn cho biết thêm: Nếu sinh đôi cùng trứng mà nuôi dưỡng ở những môi trường khác nhau thì tỷ lệ này là 77,6%, nếu nuôi chung trong một gia đình thì tỷ lệ đến 91,5% [42] Trần Văn Lập và CS (1986), nghiên cứu trên 1.906 BNTIPL thấy số BN có yếu tố gia đình chiếm 40% [19]

e Yếu tố sinh hoá

Những công trình nghiên cứu về sinh hoá cho thấy, ở những người bệnh TTPL, một số triệu trứng có thể liên quan đến rối loạn sản xuất, chuyển hoá, phân huỷ các chất môi giới thần kinh, các amin sinh học, các alphaglobulin

di chuyển chậm

Nhiều nghiên cứu gần đây cho thấy rằng, rối loạn chuyển hoá dopamin (DA) đóng vai trò quan trọng trong bệnh sinh của bệnh TTPL Nếu hoạt động của các enzym tổng hợp, phân huy bị rối loạn hoặc sự tiếp nhận các DA của các receptor bị biến đổi thì sự chuyển hoá các chất trung

gian hoá học đảm bảo cho sự dẫn truyền thần kinh cũng bị rối loạn Chính

vì vậy mà chúng ta thấy có sự biến đổi rõ rệt DA trong các giai đoạn cấp tinh cua bénh TTPL [49, 50]

Một số công trình khác đi sâu nghiên cứu rối loạn chuyển hoá chất cathecholamine, serotonin, GABA trong bénh TTPL Meltzer H (1980),

Morovkin (1988), cho rằng bệnh TTPL là do rối loan chuyển hoá các chất

hoá học thần kinh trung gian cathecholamine va hé dopaminergic [49]

Trang 13

13

e Yếu tố ngoại lai

Bệnh TIPL có thể bị phát sinh sau khi bị nhiễm trùng, sau khi đẻ hay sau các sang chấn tâm thần Có những ý kiến cho rằng bệnh TTPL có nguyên nhân nhiễm trùng như: Lao, giang mai (tác giả Pháp: Marchand,

Leroy, Fursac, Abely), nhiễm trực khuẩn Coly (Claude và Baruk), nhiễm siêu vi trùng (Marchand ở Pháp, Moroxov ở Liên xô, bệnh viện Buscaino ở

Ý) Crow và CS (1979), chứng minh được sự hiện diện của một vi rút tác dụng chậm trong dịch não tuỷ của 18/47 BNTTPL

Có quan điểm cho rằng bệnh TTPL là do sự nhiễm độc (Korsakov,

Kraepelin) Trạng thái những phản ứng miễn nhiễm ở người bệnh TTPL đã

được Semenov nghiên cứu ở Liên Xô cũ [42]

Các yếu tố tâm lý xã hội, các rối loạn cấu trúc và xung đột gia đình,

các biến đổi văn hoá xã hội cũng đóng góp một vai trò nhất định trong bệnh

TTPL [45, 46]

1.1.4 Chẩn đoán và diéu tri béenh TTPL

e Chẩn đoán

Tiêu chuẩn chẩn đoán TTPL theo WHO năm 1992, chính thức công bố

ICD - 10F (bảng phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10 phần F) Theo ICD - 10E chẩn đoán TTPL phải dựa vào các tiêu chuẩn sau đây [27]:

Về lâm sàng: Có 9 nhóm triệu chứng đặc trưng của bệnh

(a) Tư duy vang thành tiếng, tư duy bị áp đặt hay bị đánh cắp, tư duy bị phát thanh

(b) Các hoang tưởng bị kiểm tra, bị chi phối hay bị động có liên quan rõ rệt tới vận động của cơ thể hoặc liên quan tới ý nghĩ, hành vi, cảm giác đặc biệt của BN hay tri giác hoang tưởng

(c) Các ảo thanh bình phẩm thường xuyên về hành vi của bệnh nhân, hay

thảo luận với nhau về BN hoặc ảo thanh giả

(d) Các hoang tuéng dai dang khác không thích hợp.

Trang 14

14

(e) Ao giác kéo dài bất cứ loại nào, dai dẫng nhiều tuần

( Ngôn ngữ gián đoạn, thêm từ khi nói, tư duy không liên quan, không thích hợp

(g) Tình trạng căng trương lực như: Kích động căng trương lực, giữ nguyên

dáng, uốn sáp hay phủ định không nói, sững sờ

(h) Các triệu chứng âm tính như vô cảm rõ rệt, ngôn ngữ nghèo nàn, các đáp ứng cảm xúc cùn mòn hay không thích hợp, cách ly xã hội, giảm sút hiệu xuất lao động Các triệu chứng trên phải rõ ràng không do trạng

thái trầm cảm hay thuốc an thần kinh gây ra

() Biến đổi thường xuyên và rõ rệt một cách toàn diện tập tính cá nhân,

biểu hiện như: Mất hứng thú, thiếu mục đích, mê mải suy nghĩ về bản

thân

e Chẩn đoán xác định bệnh TTPL: Nếu có triệu chứng rõ trong 4 nhóm triệu chứng từ a đến d hoặc 2 triệu chứng rõ trong nhóm triệu chứng từ e đến 1

Tiêu chuẩn về thời gian: Các triệu chứng trên phải tồn tại ít nhất là một tháng

Tiêu chuẩn loai trừ:

v Rối loạn cảm xúc, trầm cảm hay hưng cảm mở rộng

v Tổn thương thực thể não, động kinh

v Nghiện ma tuý

e Diéu tri

Do căn nguyên của bệnh TTPL chưa rõ ràng nên cho đến nay vấn đề

điều trị chủ yếu là điều trị triệu chứngvà phục hồi chức năng cho người

bệnh Nói cách khác là phải kết hợp nhiều liệu pháp khác nhau như: Liệu pháp hoá dược, liệu pháp lao động, liệu pháp phục hồi chức năng tâm lý tái thích ứng xã hội và lý liệu pháp Tuỳ từng thể bệnh mà ta sử dụng các liệu pháp cho thích hợp hoặc phối hợp có hiệu qủa hơn Trong những liệu pháp

Trang 15

15

trên thì liệu pháp hoá dược là quan trọng nhất, nó là nền tảng cho việc áp

dụng các liệu pháp khác [13, 16, 35, 37, 42]

Liệu pháp hoá dược

Năm 1950 Charpentier đã tổng hợp được Chlorpromazine trong quá trình tìm kiếm một chất kháng Histamine mới để sử dụng thuốc gây mê Laborit báo cáo khả năng gây ngủ của chất này Sau đó Paraire va Sigwald (1951), Delay và Deliker (1952), Lebmann và Hanranan(1954), đã ghi nhận các tác dụng của Chlorpromazine đối với các bệnh tâm thần Chlorpromazine

nhanh chóng được các nhà tâm thần Mỹ sử dụng và dẫn tới sự ra đời của

các thuốc khác có tác dụng tượng tự như Haloperidol được phát hiện bởi Janssen năm 1958 [42] Sự ra đời của Chlorpromazine đã làm thay đổi hẳn

bộ mặt Tâm thần học, kiến trúc BV thay đổi về cơ bản, tiên lượng bệnh

nhân đã khả quan hơn nhiều Người bệnh có thể điều trị và phục hồi

> Nhóm thuốc hưng thần (Psychoanaleptiquets)

> Nhóm thuốc loạn thần (Psychodysleptiquets)

Các nguyên tắc sử dụng thuốc

Trước khi dùng thuốc cần khám xét kỹ về lâm sàng, cận lâm sàng để

xác định chẩn đoán và có chỉ định phù hợp, đặc biệt để loại trừ các trường hợp chống chỉ định

Chọn thuốc và liều lượng thuốc phải phù hợp với từng bệnh nhân

Hạn chế việc kết hợp nhiều loại thuốc hướng thần để tránh tác dụng phụ do

phối hợp nhiều loại thuốc khác nhau

Trang 16

16

Theo dõi hiệu lực của thuốc để thay đổi thuốc cho thích hợp, nhất là

trong giai đoạn cấp tính, nếu có biến chứng của thuốc thì sử lý kịp thời [39]

Ngày nay người ta cố gắng rút ngắn thời gian điều trị BNTTPL tại các BV

Chỉ nằm viện để giải quyết cơn cấp tính, các trường hợp có hành vi tự sát

hoặc có hành vi gây trở ngại cho sự an toàn của bản thân BN và cho những

người xung quanh [2,10,24] Khi bệnh ổn định, họ cần được tiếp tục quản

lý và điều trị tại cộng đồng

Liệu pháp về tâm lý

Có thái độ tâm lý tốt, thông cảm tôn trọng người bệnh Tổ chức

hệ thống cửa mở làm cho họ được tự do, thoải mái Giải quyết các nhu cầu

và mâu thuẫn của BN tại gia đình và cộng đồng [8, 9, 13, 37, 39] Mục đích

của liệu pháp tâm lý làm cho BN an tâm, tin tưởng vào kết quả điều trị, chống tư tưởng bị quan lo lắng, chán đời, giúp BN hăng hái tham gia

lao động, học nghề và tham gia vào các hoạt động xã hội khác

Liêu pháp lao đông và tái thích ứng xã hôi

1.2 Hoạt động chăm sóc bệnh nhân tâm thần phân liệt tại cộng đồng

Bệnh TIPL là bệnh chưa rõ căn nguyên và có khuynh hướng

tiến triển ngày càng nặngvà trở thành mạn tính Bệnh làm tan rã sự hoà hợp vốn có của quá trình cơ bản tạo nên đời sống con người Khi bệnh ở giai đoạn cấp tính cần được điều trị tại BV chuyên khoa, đây chỉ là một phần nhỏ trong quá trình điều trị bệnh TTPL Vấn đề là phải được điều trị lâu dài

tại cộng đồng để phòng tái phát và giúp BN khắc phục những triệu chứng

âm tính, từ đó làm cho BN phục hồi được các chức năng sinh hoạt và tái

Trang 17

17

thích ứng với xã hội được tốt Vì vậy phải có một chiến lược trước mắt và

lâu đài cho điều trị TTPL, đó là CSSKTT cộng đồng [9, 11, 22, 38, 39] 1.2.1 Trên thế giới

Bệnh TTPLcó từ khi loài người xuất hiện, nhưng trong một thời gian dài việc tổ chức quản lý và điều trị bệnh cho họ hoàn toàn không có [42]

mồm để không kêu gào được, làm cho họ nôn mửa, trói vào ghế để họ kiệt

sức không kích động được, nhiều khi còn bị thiêu sống [42]

Cuối thé ky XVIII va thé ky XIX:

Thái độ đối với người bệnh tâm thân bắt đầu được cải thiện

Xuất hiện các cơ sở điều trị chuyên khoa cho các BN tâm thần là bước phát

triển đáng kể trong sự phát triển của nền văn hoá Tuy nhiên, việc giam giữ

người bệnh trong các nhà chứa "điên" mang tính chất tàn bạo và vô nhân

đạo vẫn tồn tại Thường thì người bệnh bị nhốt trong những buồng cách ly

hẹp có san bằng đá, có lỗ hở với chấn song sắt thay cho cửa sổ, rơm thay

cho chăn chiếu BN nằm lẫn phân và nước tiểu, đầy người lở loét [52]

Ở Pháp: Dưới ảnh hưởng của cuộc cách mạng tư sản Pháp,

những quan niệm duy vật và khoa học về bệnh tâm thần bắt đầu chiếm ưu thế Năm 1792, nhà tâm thần học người Pháp là Pinel P đã giải phóng người bệnh tâm thần khỏi xiêng xích và đề xuất việc cải tạo nhà cứu tế người bệnh thành những BV tâm thần Esquirol đã kế tục sự nghiệp đó,

sơ bộ phân loại các BN tâm thần, thực hiện chế độ làm bệnh án và theo dõi người bệnh hàng ngày Ảnh hưởng của Pinel và Esquirol đã thúc đẩy phong trào cải cách các BV tâm thần [41, 52]

Ngày đăng: 02/11/2016, 23:05

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w