Xây dựng và thử nghiệm trò chơi hình thành biểu tượng chữ cái cho trẻ lớp lá tại Tây NinhXây dựng và thử nghiệm trò chơi hình thành biểu tượng chữ cái cho trẻ lớp lá tại Tây NinhXây dựng và thử nghiệm trò chơi hình thành biểu tượng chữ cái cho trẻ lớp lá tại Tây NinhXây dựng và thử nghiệm trò chơi hình thành biểu tượng chữ cái cho trẻ lớp lá tại Tây NinhXây dựng và thử nghiệm trò chơi hình thành biểu tượng chữ cái cho trẻ lớp lá tại Tây NinhXây dựng và thử nghiệm trò chơi hình thành biểu tượng chữ cái cho trẻ lớp lá tại Tây NinhXây dựng và thử nghiệm trò chơi hình thành biểu tượng chữ cái cho trẻ lớp lá tại Tây Ninh
Trang 1TỈNH ĐOÀN TÂY NINH ĐOÀN TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM TÂY NINH
Nguyễn Ngọc Phương Linh
XÂY DỰNG VÀ THỬ NGHIỆM TRÒ CHƠI HÌNH THÀNH BIỂU TƯỢNG CHỮ CÁI CHO TRẺ LỚP LÁ TẠI TÂY NINH
ĐỀ TÀI DỰ THI TRI THỨC TRẺ VÌ GIÁO DỤC
TÂY NINH 9/2016
Trang 2MỤC LỤC
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục các biểu đồ
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA TRÒ CHƠI HÌNH THÀNH BIỂU TƯỢNG CHỮ CÁI CHO TRẺ LỚP LÁ 7
1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 7
1.2 Cơ sở lý luận của việc xây dựng trò chơi HTBTCC cho trẻ lớp Lá tại Tây Ninh 11
1.2.1 Hình thành biểu tượng chữ cái 11
1.2.2 Trò chơi của trẻ em 19
1.2.3 Trò chơi hình thành biểu tượng chữ cái 23
1.2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc hình thành BTCC cho trẻ lớp Lá 27
1.2.5 Sự cần thiết của việc hình thành BTCC cho trẻ lớp Lá 28
1.3 Các cơ sở thực tiễn của việc xây dựng trò chơi hình thành biểu tượng chữ cái cho trẻ lớp Lá tại Tây Ninh 30
1.3.1 Quan niệm của giáo viên về việc xây dựng trò chơi hình thành biểu tượng chữ cái cho trẻ lớp Lá tại Tây Ninh 30
1.3.2 Tập hợp một số trò chơi hình thành BTCC tại Tây Ninh 44
Tiểu kết chương 1 49
Chương 2 XÂY DỰNG TRÒ CHƠI HÌNH THÀNH BIỂU TƯỢNG
CHỮ CÁI CHO TRẺ LỚP LÁ TẠI TỈNH TÂY NINH 50
2.1 Căn cứ, nguyên tắc xây dựng trò chơi HTBTCC cho trẻ lớp Lá tại Tây Ninh 50
2.1.1 Căn cứ các chuẩn phát triển của trẻ 5 tuổi lĩnh vực ngôn ngữ 50
2.1.2 Quan điểm về việc dạy chữ cho trẻ lớp Lá 51
2.1.3 Quan điểm dạy học từ nguyên vật liệu thiên nhiên 53
2.2 Nguyên tắc xây dựng trò chơi 54
2.3 Quy trình xây dựng trò chơi hình thành BTCC 55
Trang 32.5 Hướng dẫn sử dụng các trò chơi hình thành BTCC 77
2.5.1 Hướng dẫn sử dụng trò chơi thu nhận BTCC qua tri giác 77
2.5.2 Trò chơi lưu giữ, khắc sâu BTCC qua tương tác với BT 77
2.5.3 Trò chơi khái quát hóa BTCC thành khái niệm 77
2.5.4 Trò chơi vận dụng BTCC vào tình huống thực tế 78
Tiểu kết chương 2 79
Chương 3 THỬ NGHIỆM TRÒ CHƠI HÌNH THÀNH BIỂU TƯỢNG CHỮ CÁI CHO TRẺ LỚP LÁ TẠI TÂY NINH 80
3.1 Chọn mẫu thử nghiệm 80
3.1.1 Tiêu chí chọn mẫu 80
3.1.2 Phương pháp chọn mẫu 80
3.1.3 Mô tả mẫu 86
3.2 Tổ chức thử nghiệm 87
3.2.1 Nguyên tắc thử nghiệm 87
3.2.2 Phương pháp thử nghiệm 87
3.2.3 Quy trình thử nghiệm 87
3.3 Nội dung thử nghiệm 89
3.4 Kết quả thử nghiệm và bàn luận kết quả 90
3.4.1 Về thái độ 90
3.4.2 Về tiêu chí mức độ hình thành BTCC 90
3.4.3 Đánh giá của giáo viên về hệ thống trò chơi HTBTCC cho trẻ lớp Lá tại Tây Ninh 97
Tiểu kết chương 3 100
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 102
TÀI LIỆU THAM KHẢO 107 PHỤ LỤC
Trang 4DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BTCC Biểu tượng chữ cái
HTBTCC Hình thành biểu tượng chữ cái
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Chữ cái tiếng Việt 16
Bảng 1.2 Đánh giá mức độ cần thiết của việc sử dụng trò chơi với việc hình thành BTCC cho trẻ 33
Bảng 1.3 Đánh giá về nhận thức của giáo viên trong việc lựa chọn và sử dụng các loại trò chơi để hình thành BTCC cho trẻ lớp Lá 34
Bảng 1.4 Đánh giá về mức độ sử dụng trò chơi hình thành BTCC trong các hoạt động hằng ngày 35
Bảng 1.5 Đánh giá về mức độ GVMN sử dụng các dạng trò chơi hình thành BTCC tại Tây Ninh 36
Bảng 1.6 Các nguồn tài liệu về trò chơi hình thành BTCC mà GVMN đang sử dụng 37
Bảng 1 7 Mức độ sử dụng trò chơi hình thành BTCC có chất liệu từ thiên nhiên 38
Bảng 1.8 Những khó khăn khi xây dựng và tổ chức trò chơi HTBTCC của GV 39
Bảng 1.9 Những nguyên nhân làm hạn chế hiệu quả tổ chức các TCHTBTCC cho trẻ lớp Lá tại Tây Ninh 40
Bảng 1.10 Đánh giá của giáo viên về các tiêu chí để xây dựng trò chơi HTBTCC cho trẻ lớp Lá tại Tây Ninh 41
Bảng 1.11 Đánh giá của giáo viên về mức độ HTBTCC của trẻ lớp Lá tại Tây Ninh 43
Bảng 1.12 Số liệu tập hợp các dạng trò chơi HTBTCC 45
Bảng 2.1 Chuẩn phát triển trẻ 5 tuổi 50
Bảng 3.1 Bảng kết quả khảo sát tiêu chí về kiến thức trước thử nghiệm 81
Bảng 3.2 Bảng kết quả khảo sát về tiêu chí kĩ năng trước thử nghiệm 82
Bảng 3.3 Bảng kết quả tiêu chí về thái độ tham gia vào trò chơi 83
Bảng 3.4 Kết quả tiêu chí đánh giá mức độ hình thành BTCC trước thử nghiệm 84
Bảng 3.5 Kết quả về tiêu chí đánh giá kiến thức sau thử nghiệm 90
Bảng 3.6 Kết quả về tiêu chí đánh giá kiến thức sau thử nghiệm 92
Bảng 3.7 Bảng kết quả về đánh giá thái độ của trẻ tham gia trò chơi HTBTCC 94
Bảng 3.8 Bảng kết quả chung các tiêu chí hình thành BTCC của 2 trường trước và sau TN 95
Trang 6Tây Ninh 98
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 1.1 Tập hợp các trò chơi HTBTCC một số trường mầm non tại
Tây Ninh 45Biểu đồ 3.1 So sánh kết quả mức độ hình thành BTCC ở mỗi tiêu chí của nhóm
ĐC và nhóm TN trước TN - Trường MN Thái Chánh 85Biểu đồ 3.2 So sánh kết quả mức độ hình thành BTCC ở mỗi tiêu chí của nhóm
ĐC và nhóm TN trước TN - Trường MN Hướng Dương 86Biểu đồ 3.3 So sánh kết quả sau TN của nhóm ĐC và nhóm TN trường MN
Thái Chánh 96Biểu đồ 3.4 So sánh kết quả sau TN của 2 nhóm ĐC và TN trường MN
Hướng Dương 96
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Hệ thống ngôn ngữ gồm ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết Trong đó, ngôn ngữ viết
là hệ thống các ký hiệu để ghi lại ngôn ngữ theo dạng văn bản, là sự miêu tả ngôn ngữ thông qua việc sử dụng các ký hiệu hay các biểu tượng Đối với lịch sử phát triển của xã hội loài người, chữ viết có một vai trò rất to lớn Chữ viết là phương tiện ghi lại thông tin Chữ viết chính là chìa khóa để con người nhận thức Vì vậy, việc rèn luyện, phát triển ngôn ngữ viết cho trẻ là hết sức quan trọng và phải bắt đầu từ rất sớm Việc học đọc, học viết của trẻ ở trường mầm non giúp cho trẻ có những hiểu biết ban đầu về tiếng mẹ đẻ, đồng thời tạo điều kiện để trẻ tham gia các hoạt động liên quan đến đọc, viết giúp trẻ có niềm vui trong học tập Đây là nhiệm vụ quan trọng để chuẩn bị cho trẻ bước vào lớp 1 một cách thuận lợi, thích ứng nhanh với việc học tập Nhận thức được vai trò vô cùng quan trọng của sự chuẩn bị tiền học đọc, học viết, trong chương trình GDMN đề cập đến nội dung làm quen chữ viết cho trẻ lớp Lá cụ thể giúp trẻ nhận biết hệ thống chữ cái Tiếng Việt, cách ngồi, cầm sách, bút, tô đồ chữ cái… Đây cũng là những tiền đề chuẩn bị cho trẻ học đọc, học viết ở trường tiểu học [2]
Vấn đề cho trẻ làm quen tiền đọc, viết còn được nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới quan tâm từ rất lâu với những tên gọi và mức độ khác nhau: Morrow, Berverly (Hoa Kì), Marie Clay (New Zealand), Phùng Đức Toàn (Trung Quốc), Uchida (Nhật Bản), Xokhin (Nga), Lê Thị Ánh Tuyết, Phan Lan Anh (Việt Nam) Các tác giả trên đều quan tâm đến việc cho trẻ làm quen với khả năng tiền đọc, viết từ rất sớm Đồng thời thống nhất quan điểm cần chuẩn bị cho trẻ học đọc, viết trước khi vào lớp 1, trong
đó có nội dung chuẩn bị cho trẻ làm quen với hệ thống chữ cái Đó là những tiền đề vững chắc để trẻ có thể học tốt ở bậc học tiểu học và là nền tảng vững chắc cho các cấp học tiếp theo
Giai đoạn trẻ ở tuổi lớp Lá, hoạt động chủ đạo của trẻ vẫn là vui chơi Qua chơi trẻ được học, qua học trẻ được chơi Nếu việc học trở nên bắt buộc, khô khan thì trẻ sẽ không có niềm vui và hứng thú trong học tập Ph.Phroebel (1782-1852), nhà giáo dục
Trang 8tài ba đã từng nói, cần phải kết hợp giữa việc dạy học và trò chơi thì mới mang đến niềm vui và năng lực trí tuệ cho người học Chính trò chơi sẽ đem lại sự hứng thú cho trẻ và mang đến hiệu quả cao trong giáo dục
Hiện nay, những trò chơi hình thành BTCC được các GV tham khảo trong các tài liệu hướng dẫn, các sách tham khảo, và chiếm phần nhiều áp dụng trên các giờ học LQCC ở trẻ lớp Lá mà chưa được quan tâm nhiều trong các giờ chơi tự do ở các góc chơi Bên cạnh đó, những chất liệu thiên nhiên, gần gũi, mang đặc trưng của địa phương để xây dựng những trò chơi hình thành BTCC ít được sử dụng và có chăng thì vẫn chưa phát huy được tính tích cực, thu hút được sự hứng thú của trẻ
Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài: “ Xây dựng và thử nghiệm trò chơi hình thành biểu tượng chữ cái cho trẻ lớp Lá tại tỉnh Tây Ninh”
2 Mục đích nghiên cứu
Xây dựng một số trò chơi hình thành BTCC từ chất liệu thiên nhiên, có độ mở và linh hoạt, tạo cơ sở, nền tảng để chuẩn bị tiền đọc, viết cho trẻ bước vào lớp 1
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu đã đặt ra, người nghiên cứu tiến hành thực hiện các nhiệm
vụ sau:
- Tìm hiểu cơ sở lí luận về trò chơi HTBTCC cho trẻ lớp Lá
- Tìm hiểu thực trạng lựa chọn và sử dụng trò chơi HTBTCC cho trẻ lớp Lá tại một số trường mầm non tỉnh Tây Ninh
- Xây dựng hệ thống trò chơi HTBTCC từ chất liệu thiên nhiên, gần gũi, có độ
mở và linh hoạt
- Thử nghiệm một số trò chơi tiêu biểu từ hệ thống đã xây dựng
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
4.1 Khách thể nghiên cứu
Quá trình dạy học cho trẻ lớp Lá làm quen chữ viết
Trang 94.2 Đối tượng nghiên cứu
Trò chơi hình thành BTCC cho trẻ lớp Lá
5 Giả thuyết khoa học
Nếu xác định được quy trình xây dựng hệ thống trò chơi HTBTCC phù hợp và thúc đẩy mức độ hình thành BTCC của trẻ lớp Lá thì sẽ nâng cao khả năng tiền đọc, viết cho trẻ
6 Giới hạn đề tài
6.1 Giới hạn về nội dung nghiên cứu
Đề tài tập trung khảo sát và phân tích các trò chơi HTBTCC được tổ chức trên các giờ hoạt động chung và hoạt động góc Từ đó xây dựng hệ thống trò chơi HTBTCC cho trẻ lớp Lá từ chất liệu thiên nhiên ở một số trường mầm non tỉnh Tây Ninh
6.2 Giới hạn mẫu nghiên cứu
Việc khảo sát thực trạng tìm hiểu về các trò chơi HTBTCC được tiến hành ở các trường mầm non tại tỉnh Tây Ninh:
Hai trường mầm non ở thị xã, thành phố:
- Trường mầm non Thái Chánh - Thành phố Tây Ninh
- Trường mầm non 1/6 - Thành phố Tây Ninh
Hai trường mầm non ở thị trấn của huyện:
- Trường mầm non Thị Trấn - Tân Châu - Tây Ninh
- Trường mầm non Trần Thị Sanh - Gò Dầu - Tây Ninh
Hai trường mầm non ở huyện nông thôn
- Trường mầm non Hướng Dương - Dương Minh Châu - Tây Ninh
- Trường mầm non Sơn Ca - Tân Châu - Tây Ninh
Thử nghiệm sư phạm được tiến hành tại 2 lớp của 2 trường mầm non thuộc địa bàn thành phố và nông thôn tại tỉnh Tây Ninh
- Trường mầm non Thái Chánh - Thành phố Tây Ninh
- Trường mầm non Hướng Dương - Dương Minh Châu - Tây Ninh
Trang 10Ngoài ra, chúng tôi gửi phiếu thăm dò ý kiến cho một số trường mầm non ngoài các trường kể trên để thăm dò ý kiến đủ 97 giáo viên đang dạy lớp Lá trong địa bàn tỉnh Tây Ninh
7 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu, đạt được mục tiêu nghiên cứu, chúng tôi sử dụng các phương pháp chủ yếu sau:
7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu tài liệu
Chúng tôi thu thập, đọc, phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa các tài liệu nhằm tìm hiểu cơ sở lý luận của việc xây dựng trò chơi HTBTCC cho trẻ lớp Lá Tài liệu bao gồm: các tài liệu có liên quan đến trò chơi của trẻ em, trò chơi phát triển khả năng tiền đọc, viết cho trẻ, các nguyên tắc xây dựng và thiết kế trò chơi, trò chơi với chữ cái, chương trình GDMN mới, kế hoạch GD của GVMN, các giáo án hoạt động làm quen chữ viết
7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1 Phương pháp điều tra
Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Chúng tôi sử dụng bảng hỏi để thu thập
những cứ liệu, tìm hiểu về nhận thức của GV về các trò chơi HTBTCC cho trẻ lớp Lá, việc lựa chọn và sử dụng các trò chơi HTBTCC, thuận lợi và khó khăn khi xây dựng
và tổ chức các trò chơi HTBTCC cho trẻ lớp Lá, ghi nhận sự đánh giá của GVMN mức độ hình thành BTCC qua các trò chơi HTBTCC của trẻ lớp Lá, từ đó đưa ra các nhìn tổng quan về trò chơi HTBTCC cho trẻ lớp Lá tại một số trường mầm non tỉnh Tây Ninh
7.2.2 Phương pháp phỏng vấn
Phỏng vấn Ban giám hiệu, tổ trưởng chuyên môn về việc tổ chức các hoạt động cho trẻ LQCC thông qua các hoạt động ở trường và lớp học; về các trò chơi sẵn có và các trò chơi được các cô tự xây dựng để hình thành BTCC cho trẻ Lắng nghe và ghi nhận khó khăn, đề xuất, giải pháp từ GV và Ban giám hiệu về vấn đề xây dựng các trò chơi HTBTCC cho trẻ lớp Lá
Trang 117.2.3 Phương pháp quan sát
Dự giờ quan sát một số hoạt động LQCC ở trường mầm non: giờ học, giờ chơi tự
do ở góc chữ viết, vui chơi ngoài trời… để quan sát, ghi nhận và đánh giá những biểu hiện hình thành BTCC của trẻ, sự hứng thú tích cực của trẻ khi tham gia các trò chơi với chữ cái Đồng thời, đây cũng là phương pháp chính để ghi lại những biểu hiện của trẻ khi được thử nghiệm hệ thống trò chơi được tác giả xây dựng Từ đó đưa ra kết luận tính khả thi của hệ thống trò chơi
7.3 Phương pháp thử nghiệm sư phạm
Mục đích thử nghiệm: Đánh giá hiệu quả của việc vận dụng một số trò chơi tiêu biểu từ hệ thống trò chơi HTBTCC đã xây dựng, nhằm chứng minh cho giả thuyết khoa học đã đề ra
Mô hình thử nghiệm: thử nghiệm có tác động
Chọn nhóm đối chứng và nhóm thử nghiệm tương đồng nhau về các mặt như: trình độ - thâm niên công tác của giáo viên, mức độ phát triển nhận thức, đặc điểm tâm sinh lý, điều kiện giáo dục của trẻ Ngoài ra, chúng tôi còn tiến hành đo đầu vào thử nghiệm để đảm bảo trẻ ở hai nhóm có mức độ phát triển ngôn ngữ ngang nhau
Tiến hành thử nghiệm: Nhóm đối chứng GV sẽ tổ chức các hoạt động LQCC theo các trò chơi mà họ thường sử dụng Nhóm thử nghiệm trẻ sẽ chơi các trò chơi mà chúng tôi xây dựng
Tác động và đo kết quả ở cả hai nhóm sau khi thử nghiệm
Kiểm nghiệm số liệu:
Kết quả thử nghiệm được phân tích và tổng hợp theo các tiêu chí đánh giá, xếp loại cho trẻ cả về định lượng và định tính
Về mặt định tính: phân tích và đánh giá kết quả các tư liệu thu thập được dựa vào phiếu điều tra, các biên bản quá trình thử nghiệm, các biên bản ghi chép, trao đổi với giáo viên thử nghiệm
Về mặt định lượng: đánh giá hiệu quả của việc sử dụng tài liệu bằng một số công
thức thống kê toán học như: tính %, tính độ lệch chuẩn, tính giá trị kiểm định T-test…
Thử nghiệm là một phương pháp quan trọng trong đề tài nhằm đánh giá tính khả
Trang 12thi và hiệu quả của việc vận dụng một số trò chơi tiêu biểu từ hệ thống trò chơi HTBTCC đã được xây dựng Thông qua quá trình thử nghiệm có thể thấy được những
ưu điểm và khuyết điểm của các trò chơi, từ đó phát huy được những ưu điểm đồng thời khắc phục những khuyết điểm để hệ thống trò chơi ngày càng hoàn thiện hơn Một số trò chơi tiêu biểu sẽ trong hệ thống trò chơi mới đã xây dựng, sẽ được thử nghiệm trên 4 lớp ở 2 trường :
+ Trường mầm non Thái Chánh - Thành phố Tây Ninh
+ Trường mầm non Hướng Dương - Dương Minh Châu - Tây Ninh
Mỗi trường sẽ thử nghiệm trên 2 nhóm, 1 đối chứng và 1 thử nghiệm
7.4 Phương pháp thống kê toán học
Các dữ liệu thu thập được sẽ được xử lý trên Excel 2010 và phần mềm SPSS 16
Xây dựng được hệ thống trò chơi HTBTCC cho trẻ lớp Lá Trò chơi được thiết
kế từ chất liệu thiên nhiên, dễ tìm, gần gũi, có độ mở và linh hoạt
9 Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận - kiến nghị, danh mục tài liệu tham khảo, đề tài được bố cục thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của trò chơi HTBTCC cho trẻ lớp Lá
Chương 2: Xây dựng trò chơi HTBTCC cho trẻ lớp Lá tại Tây Ninh
Chương 3: Thử nghiệm một số trò chơi HTBTCC cho trẻ lớp Lá tại Tây Ninh Bên cạnh các trang chính, đề tài còn có các trang phụ lục gồm các nhóm khác nhau: phiếu thăm dò ý kiến, câu hỏi phỏng vấn, tập hợp các trò chơi HTBTCC qua quan sát dự giờ bằng hình ảnh và kế hoạch giáo dục, giáo án thử nghiệm, bảng kết quả nhóm đối chứng - thử nghiệm trước và sau thử nghiệm, hình ảnh quá trình thử nghiệm
Trang 13Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA TRÒ CHƠI HÌNH THÀNH
BIỂU TƯỢNG CHỮ CÁI CHO TRẺ LỚP LÁ
1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Ngôn ngữ và sự phát triển nhận thức của trẻ em luôn được các nhà nghiên cứu quan tâm Trong đó, sự hình thành biểu tượng (BT) cho trẻ đã được đề cập rất sớm trong các nghiên cứu của những nhà tâm lý học, giáo dục học Với J Piaget (1962) cho rằng đứa trẻ không thể có những BT khi chúng không trực tiếp được chạm các sự vật vào bằng các giác quan và vận động khi ở tuổi dưới 2 Thông qua hoạt động vui chơi, luyện tập thực hành, trẻ em hình thành BT Nhờ đó, trẻ có thể giao tiếp và tương tác với thế giới xung quanh Theo ông, BT có thể có trong những đồ vật, lời nói, kí hiệu, chữ cái; BT bằng tranh ảnh như màu sắc, đường nét; BT trong trò chơi: sử dụng vật này để thay thế vật khác trong trò chơi giả vờ, tưởng tượng
Đồng quan điểm với Piaget, các tác giả Kendler & Kendler (1962), Wenner & Kaplan (1963), Bruner (1966), Luria & Youdovich (1972), Fishser (1980), Berk (1996), cũng cho rằng hình thành BT cho trẻ em là một sự kết nối đứa trẻ với thế giới xung quanh Với trẻ càng nhỏ, các BT càng gần gũi Họ thống nhất cách hiểu chung
BT là khả năng mô tả, biểu trưng, là các kí hiệu, có tính trung gian và là hệ thống tín hiệu thứ hai Đó là sự khác biệt trong sự phát triển nhận thức của con người Cho đến hiện tại, BT được hiểu như là một yếu tố, một kí hiệu cơ thể giống như từ, chữ cái, cử chỉ, điệu bộ có thể biểu thị một khái niệm Một cá thể sống và tiếp nhận nền văn hóa, tiếp nhận những mối quan hệ có ý nghĩa và những yếu tố tương tự khác sẽ cấu trúc nên
hệ thống BT Mối quan hệ đó có hai ý nghĩa: một là loại chứa đựng những thông tin thuộc về kinh nghiệm của thế giới, hoặc minh hoạ những đặc tính của sự vật (có nghĩa, chỉ chất lượng, cảm xúc) và hai là không có trong kinh nghiệm của con người Tuy nhiên BT chỉ rõ được chủ đề hoặc nơi được nói đến (Gardner 1974 & Goodman 1986) [54]
Nói về BT trong ngôn ngữ, Morrow (1997) được biết đến với vai trò là nhà nghiên cứu nổi tiếng về ngôn ngữ trẻ em của Hoa Kì đã nói rằng: biết chữ là một quá
Trang 14trình giao tiếp diễn ra từ lúc sinh ra và tiếp tục trải qua toàn bộ thời thơ ấu Quá trình này diễn ra từ giao tiếp không lời đến giao tiếp có lời, từ trò chơi, kí hiệu và tiếp theo
là xuất hiện vẽ, kí hiệu các con chữ, mã hóa lời nói bằng chữ viết và có thể sử dụng chữ viết Biết chữ cần phải có sự giao tiếp, cụ thể là với những người xung quanh Bằng cách này, trẻ có thể hiểu chữ viết là sự mã hóa lời nói và thể hiện lời nói Biết chữ còn là cơ hội để trẻ có thể hiểu được thế giới xung quanh và phải diễn ra bởi một quá trình với nhiều yếu tố tác động
Cùng quan điểm xem việc học chữ cho trẻ là quan trọng, giáo sư Phùng Đức
Toàn (1998), cha đẻ của “Phương án 0 tuổi” cũng đã đề cập đến vấn đề dạy chữ cho
trẻ em Theo ông, việc học chữ không phải chỉ ở lứa tuổi 5-6 tuổi mà còn có thể ở mọi lứa tuổi, có thể bắt đầu càng sớm càng tốt Ông cho rằng, việc học chữ diễn ra tốt nhất trước khi trẻ biết nói thông qua ngôn ngữ thị giác Ông nêu lên quan điểm, trẻ học chữ một cách tự nhiên cũng giống như với các kích thích khác từ môi trường và dần tiến đến việc đọc Việc học chữ diễn ra ở trẻ sẽ giúp cho trẻ phát triển các khả năng chú ý, ghi nhớ, tưởng tượng, yêu thích việc đọc sách…
Trong công trình nghiên cứu của Bradley & Stahl (2001) đã nhận định về vai trò của việc học chữ cái của trẻ em, nếu không có kiến thức vững chắc về chữ cái trẻ sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong tất cả các khía cạnh của tiền đọc, viết Đồng quan điểm trên, Truman, Kessler & Pollo (2006) cho rằng năng lực trẻ nhận biết được các chữ cái mang đến cho trẻ cơ hội học đọc, học viết một cách dễ dàng Nghiên cứu của Bradley
& Stahl (2001) chỉ ra sự hiểu biết về chữ cái của trẻ mầm non là:
Biết tên gọi chữ cái
Biết hình dạng của chữ cái
Biết âm phát ra của chữ cái
Viết được chữ cái
Gọi tên nhanh chóng chữ cái
Bên cạnh đó, Pinnell & Foutas (1998) chỉ ra khả năng biết viết, vẽ, in ấn chữ cái của trẻ mầm non là:
Biết các nét thẳng, cong, tròn, móc khuyết
Trang 15 Biết định hướng trong không gian khi thực hành trên chữ cái
Biết cách để tạo thành chữ cái
Biết mỗi chữ cái có 1 tên gọi và 2 hình thức: in hoa và in thường
Biết mỗi chữ cái tương ứng với 1 âm thanh phát ra
Qua đó, nghiên cứu còn đưa ra các hoạt động nhằm tăng cường kiến thức về chữ cái như: hoạt động trên nhóm nhỏ - chia sẻ kinh nghiệm đọc: đọc truyện, hát, cho trẻ luyện tập trong giờ chơi với chữ cái, đọc sách Hoạt động cùng cả lớp – chia sẻ kinh nghiệm viết: chơi bán hàng (trẻ nói tên – cô ghi lên tờ giấy), luyện tập chữ ở góc chơi Nghiên cứu về phương pháp dạy cho trẻ em về chữ cái, đáng chú ý là công trình nghiên cứu của Jones, C D & Reutzel, D R (2012) đã đưa ra 3 bước để dạy trẻ học chữ cái hiệu quả:
Bước 1: xác định tên và âm thanh của chữ hoa và in thường của mỗi chữ cái
Bước 2: trẻ xác định tên chữ cái và chữ cái theo sách hoặc văn bản Ví dụ: khoanh tròn, gạch chân những chữ cái đặc biệt, dùng bút dạ tô lên những chữ cái trong sách báo
Bước 3: trẻ tìm cách tạo ra chữ cái để sử dụng trong văn bản Ví dụ: viết các chữ cái lên bảng trắng, tạo chữ từ đất sét…
Với các nghiên cứu trên cho thấy được sự quan tâm của nhiều nhà khoa học đã nhìn nhận vai trò quan trọng của BTCC đối với trẻ em và việc cho trẻ tiếp xúc với BTCC càng sớm càng tốt Vì đây chính là cơ hội tốt, vững vàng để trẻ học đọc, học viết trong tương lai Các nghiên cứu còn chú trọng đến các hoạt động nhằm tăng cường kiến thức về chữ cái, không chỉ trên hoạt động cá nhân mà còn tương tác với những người xung quanh qua các hình thức khác nhau Đáng chú ý là công trình của Jones, C D & Reutzel, D R (2012) đưa ra các bước để dạy chữ cái cho trẻ nhỏ đi từ mức độ dễ đến khó, từ đơn giản đến khái quát hơn, giúp cho trẻ hình thành được BTCC bên trong đầu của chúng
Ở Việt Nam, cũng có nhiều tác giả nghiên cứu liên quan đến BTCC cho trẻ nhưng ở nhiều góc độ khác nhau
Trang 16Tác giả Nguyễn Xuân Khoa [20] đã xác định một trong những nhiệm vụ quan trọng để chuẩn bị cho trẻ bước vào lớp 1 là chủ yếu cho trẻ LQCC Với tác giả Đinh Hồng Thái trong giáo trình “Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non” cũng đã khẳng định việc cho trẻ làm quen với 29 chữ cái là một trong những nội dung chủ yếu của việc học đọc, học viết trước khi vào lớp 1 Trong giáo trình này, ông còn đưa ra các phương pháp và biện pháp hướng dẫn dạy trẻ LQCC mới và tô đồ chữ cái trên giờ học Trong đó cũng đề cập đến việc sử dụng các trò chơi để dạy trẻ học chữ
Theo tác giả Nguyễn Ánh Tuyết [16], việc cho trẻ LQCC không phải để trẻ nhận biết được mặt chữ mà còn tạo ra hứng thú để trẻ có thể học đọc, học viết ở lớp 1 Nội dung cho trẻ LQCC là: nhận biết, phát âm đúng chữ cái Tiếng Việt; nhận biết chữ cái qua tri giác âm thanh; nhận biết các kiểu chữ in hoa, in thường, viết thường; dạy trẻ làm quen tách âm, ghép âm thông qua vị trí các âm trong từ, và một số kĩ năng ban đầu
về đọc, viết: cách ngồi, cầm bút, cách đọc, mở sách…
Đề cập đến nội dung, phương pháp của quá trình cho trẻ LQCC, tác giả Trần Thị Nga [28] cho rằng việc cho trẻ làm quen với BTCC phải được tiến hành tích hợp và tự nhiên bắt đầu từ những ý tưởng, kinh nghiệm gần gũi và có ý nghĩa đối với trẻ Tạo ra môi trường ngôn ngữ nói và môi trường chữ phong phú, các hoạt động trải nghiệm với việc viết (vẽ nghệch ngoạc, vẽ sáng tạo), và trải nghiệm với việc đọc (đọc mò) Đây là những hoạt động cần thiết giúp cho trẻ trải nghiệm với các BTCC và mang lại sự hứng thú trên trẻ
Từ việc phân tích các vấn đề lý luận và thực tiễn, nhóm nghiên cứu đứng đầu là PGS.TS Lê Ánh Tuyết [43] đã đề xuất một số định hướng xoay quanh việc cho trẻ LQCC như sau:
- Vấn đề cho trẻ LQCC cũng như việc chuẩn bị cho trẻ học đọc, học viết là một trong những bộ phận của việc phát triển ngôn ngữ của trẻ mầm non Vì vậy cần xác định được yêu cầu cần đạt về hiểu biết chữ viết ở cuối tuổi lớp Lá trong mối quan hệ nghe, nói, tiền đọc, tiền viết
- Việc cho trẻ LQCC diễn ra bởi nhiều hoạt động: quan sát, chơi, luyện tâp… Vì vậy cần tạo ra môi trường phù hợp để trẻ có thể hoạt động
Trang 17- Cần phải có phương tiện, học cụ, trò chơi nhằm góp phần thúc đẩy các hoạt động LQCC cho trẻ
Nhìn chung, ở Việt Nam cũng có khá nhiều công trình nghiên cứu về BTCC của trẻ MN, với những góc độ nghiên cứu khác nhau Tựu trung đều nhận thấy được tầm quan trọng của việc làm quen chữ viết, trong đó cụ thể có nội dung làm quen BTCC là nhiệm vụ quan trọng trong phát triển ngôn ngữ Đồng thời cũng chỉ ra các phương pháp và hình thức tổ chức để giúp trẻ 5 – 6 tuổi làm quen với BTCC Gần đây nhất có
đề tài nghiên cứu của TS Phan Thị Lan Anh [1] “Sử dụng trò chơi nhằm phát triển khả năng tiền đọc viết ở trẻ 5-6 tuổi trong trường mầm non” Có thể nói đây là công trình đầu tiên ở Việt Nam nghiên cứu một cách hệ thống, công phu, có những đóng góp mới
về lý luận cũng như thực tiễn việc chuẩn bị khả năng tiền đọc viết tuổi mầm non nước
ta Ở cấp độ một luận án tiến sĩ, tác giả đã giải quyết những vấn đề rất cơ bản, đi từ các khái niệm công cụ, nghiên cứu cơ sở lý luận, thực tiễn vận dụng các biện pháp cụ thể
sử dụng trò chơi, một phương tiện hữu hiệu để phát triển khả năng tiền đọc viết cho trẻ 5-6 tuổi Có thể coi đậy là công trình khoa học có đóng góp quan trọng, thiết thực vào một lĩnh vực của khoa học GDMN nước ta đang cần cập nhật, phát triển theo kịp các nước trong khu vực và trên thế giới
Như vậy, một số công trình nghiên cứu cũng có đề cập đến trò chơi nhưng vẫn chưa đề cập một cách cụ thể đến các trò chơi HTBTCC, nhất là những trò chơi được xây dựng từ những chất liệu thiên nhiên gần gũi, dễ tìm, dễ thực hiện thì chưa mấy đề cập đến Bên cạnh đó hệ thống trò chơi sẵn có chưa thật sự lấy đứa trẻ làm trung tâm
để phát huy đúng mức sự tích cực hứng thú của đứa trẻ
Vì vậy, trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, chúng tôi tiến hành xây dựng một
số trò chơi HTBTCC dựa trên chất liệu thiên nhiên, gần gũi, dễ tìm, có độ mở và linh hoạt, kích thích sự tích cực của trẻ góp phần chuẩn bị tốt hơn khi bước vào lớp 1
1.2 Cơ sở lý luận của việc xây dựng trò chơi HTBTCC cho trẻ lớp Lá tại Tây Ninh
1.2.1 Hình thành biểu tượng chữ cái
1.2.1.1 Biểu tượng
Trang 18Nhà tâm lí học Nguyễn Xuân Thức cho rằng sản phẩm được tạo ra trong quá trình trí nhớ là các BT “BT của trí nhớ chính là hình ảnh của sự vật hiện tượng nảy sinh trong óc ta khi không có sự vật hiện tượng tác động trực tiếp vào giác quan ta”[40] BT là kết quả của sự chế biến và khái quát hóa các hình ảnh tri giác trước đây Không có tri giác thì không có BT BT khác với hình tượng của tri giác ở chỗ: BT phản ánh sự vật một cách khái quát hơn Nó phản ánh những dấu hiệu đặc trưng trực quan của sự vật hiện tượng Như vậy, BT vừa mang tính chất trừu tượng, vừa mang tính chất khái quát Nó giống hình ảnh của cảm giác và tri giác ở tính trực quan, nhưng
nó cao hơn ở tính khái quát
Theo J.Piaget [19], BT là khả năng biểu đạt của trẻ Trong BT có cái biểu đạt và
có cái không biểu đạt Cái được biểu đạt là những hình ảnh tri giác, cái biểu đạt là ngôn ngữ, hình ảnh tinh thần hay cử chỉ tượng trưng Theo ông, thuật ngữ BT bao gồm các tượng trưng và kí hiệu, chức năng biểu đạt là điểm chung giữa chúng
Maurice Reuchin [22] đã tiếp nối và phát triển quan điểm của J.Piaget Ông cho rằng BT bao gồm hai khái niệm: theo nghĩa hẹp và nghĩa rộng Theo nghĩa hẹp: BT là cái gợi lên một yếu tố (một hình ảnh, một khái niệm…) được lưu giữ lâu dài trong trí nhớ được chủ thể gợi lên và sử dụng trong hoàn cảnh cần thiết Theo nghĩa rộng: BT là một quá trình mà qua đó các cá thể có thể hiểu biết về thế giới, được hình thành ngay trong cấu trúc tâm lý
A.Bandura [49] cho rằng BT là mô hình hành vi có tính khái quát của một mẫu người nào đó và các hành vi của trẻ em được hình thành dựa trên hình mẫu đó
Như vậy, đã có nhiều nghiên cứu về những khía cạnh khác nhau của BT Nhưng các nghiên cứu đó đều có điểm chung:
BT là quá trình chuyển các sự vật bên ngoài vào trong bên trong trí óc (nội tâm hóa) BT là sự kết tinh giữa phản ánh bản thân sự vật, hiện tượng với sự phản ánh của chủ thể trên sự vật, hiện tượng đó
BT là sự phản ánh chủ quan các hình ảnh khách quan của thế giới Để lưu lại hình ảnh đó, chủ thể phải khôi phục và lưu giữ các hình ảnh trong trí nhớ, sau
đó cấu trúc lại để tạo thành hình ảnh mới trong ý thức
Trang 19 BT cũng có chức năng là nhận thức thế giới và điều chỉnh hành vi của cá nhân sao cho phù hợp với thế giới đó
Từ những khái niệm trên, trong phạm vi của đề tài, chúng tôi hiểu khái niệm BT
là những hành ảnh của những sự vật, hiện tượng của thế giới xung quanh, được hình thành trên cơ sở các cảm giác và tri giác đã xảy ra trước đó, được giữ lại trong ý thức
hay là những hình ảnh mới được hình thành trên cơ sở những hình ảnh đã có trước 1.2.1.2 Sự hình thành biểu tượng
Theo tâm lý học, BT được hình thành theo hai bình diện: BT được hình thành theo cơ chế từ ngoài vào trong và BT được hình thành theo quá trình phát triển của trẻ
em theo các lứa tuổi
Sự hình thành BT của trẻ theo cơ chế từ ngoài vào trong
Dưới góc độ tâm lý học và giáo dục học, nhận thức của con người được thể hiện qua sơ đồ: Hình ảnh tri giác Biểu tượng Khái niệm Theo sơ đồ này có quan điểm về sự hình thành biểu tượng theo quan điểm hoạt động
- Sự hình thành BT theo quan điểm hoạt động: Tâm lý người có bản chất là hoạt động
Tức là hình ảnh tri giác, BT và khái niệm đều có tính chất hoạt động Quan điểm của các nhà tâm lý học hoạt động cho rằng: tâm lý là sự phản ánh thế giới khách quan vào não thông qua hoạt động Tâm lý người được hình thành và phát triển theo hoạt động
và giao lưu của con người trong xã hội Đại diện cho trường phái tâm lý học hoạt động, P.Ia.Ganperin [9] đã đưa ra các bước hình thành hành động trí tuệ để chứng minh luận điểm: coi hoạt động tâm lý là kết quả của việc chuyển các hành động vật chất bên ngoài vào lĩnh vực phản ánh – vào lĩnh vực tri giác, BT và khái niệm với các bước như sau:
Bước 1: Lập cơ sở định hướng các hành động
Bước 2: Hành động với vật thật
Bước 3: Hành động nói to không dùng đồ vật
Bước 4: Hành động với lời nói thầm
Bước 5: Hành động rút gọn với lời nói bên trong
Trang 20Như vậy theo P.Ia.Ganperin, về nguyên tắc thì việc hình thành hành động trí tuệ mới nhất thiết trải qua các bước nêu trên, mặc dù trên thực tế, tùy theo đối tượng, một vài bước đầu của quá trình có thể được chủ thể tiếp nhận trước đó Những thao tác trí tuệ đã hình thành trước đây có thể được “mang ra dùng” với tư cách là những năng lực
tư duy vốn có để nắm lấy hành động mới Đây là cơ sở hình thành BT nói riêng, trí tuệ nói chung
Sự hình thành BT theo quá trình phát triển của trẻ em theo các lứa tuổi
Jean Piaget đã chỉ ra quá trình hình thành và phát triển BT thông quá các giai đoạn phát triển theo lứa tuổi của trẻ Có 4 giai đoạn:
Giai đoạn 1: Giai đoạn cảm giác - vận động (sơ sinh - 2 tuổi) Đây là giai đoạn trẻ nhận biết thế giới thông qua sự phối hợp cảm giác - vận động Ở giai đoạn đầu thì trẻ chỉ thu nhận hình ảnh qua tri giác, chưa có BT Cuối giai đoạn thì trẻ có khả năng bắt chước chứng tỏ trẻ đã lưu giữ và khôi phục hình ảnh
Giai đoạn 2: Giai đoạn tiền thao tác (2 - 6 tuổi hoặc 7 tuổi) lúc này trẻ đã có thể nhận biết thế giới qua các BT, đặc biệt là BT bằng ngôn ngữ
Giai đoạn 3: Giai đoạn thao tác cụ thể (7 - 11 tuổi): trẻ có thể hiểu được thế giới theo cách lí luận hơn là tri giác đơn giản thông thường qua các ý niệm về đối tượng bên ngoài Lúc này trẻ tư duy trực giác dựa vào các BT
Giai đoạn 4: Giai đoạn thao tác hình thức hay giai đoạn tư duy logic (13-15 tuổi): Trong giai đoạn này, trẻ có khả năng khái quát hóa các ý tưởng và cấu trúc các điều trừu tượng Trẻ có khả năng đưa ra kết luận từ việc dựa vào thực tế
Với J.Piaget, sự xuất hiện và phát triển của trí tuệ nói chung và sự hình thành BT nói riêng là kết quả của hai cơ chế cơ bản: đồng hoá (assimilation) và điều ứng (accommodation) Trong phạm vi đề tài, đồng hóa là sự tiếp nhận thông tin về hình ảnh chữ cái thông qua các yếu tố môi trường bên ngoài như trò chơi với chữ cái, môi trường chữ viết, các hoạt động chơi tập với các biểu tượng… trẻ sẽ tiếp nhận biểu tượng chữ cái về hình ảnh (kí hiệu là các nét chữ) và âm thanh Khi tiếp nhận một thông tin mới, một biểu tượng chữ cái mới, quá trình điều ứng diễn ra để trẻ có thể so sánh, phân tích với thông tin cũ là hình ảnh biểu tượng chữ cái trước đó, điều ứng đến
Trang 21thế cân bằng thì tạo ra sự thích nghi hay nói cách khác chính là trẻ tiếp nhận biểu tượng chữ cái mới Đây chính là quá trình học tập, phát triển trí tuệ cho trẻ
J.Piaget cho rằng trẻ em là những người học chủ động khám phá tri thức Bản thân trẻ em có tính tò mò tự nhiên đối với thế giới xung quanh Trong khi chơi, các trẻ phát triển tri giác, trí thông minh, những khuynh hướng trải nghiệm, những bản năng
xã hội Trò chơi là đòn bẩy thúc đẩy trẻ luyện tập đến mức ở bất cứ nơi nào mà ngưởi
ta thành công trong việc biến đổi sự khai tâm về học đọc, học làm tính… thành trò chơi thì người ta đều thấy trẻ em say mê với những việc làm mà bình thường đối với chúng là khổ sai Ở trẻ lớp Lá, khả năng biểu trưng (symboles) hay kí hiệu đã phát triển mạnh mẽ Thông qua các trò chơi với chữ cái là trò chơi kí hiệu tượng trưng cái được biểu đạt là ngôn ngữ viết, đứa trẻ tiếp nhận được khái niệm về biểu tượng chữ cái
và ý nghĩa của nó trong đời sống Chính thông qua chơi, trẻ hình thành BTCC nói riêng, nhận thức về BT thế giới xung quanh nói chung hay đó chính là sự phát triển trí tuệ ở trẻ [59], [29]
Từ các quan điểm trên, trong phạm vi của đề tài, chúng tôi rút ra kết luận về sự hình thành BT như sau:
Sự hình thành BT cho trẻ mầm non là quá trình tiếp diễn theo các giai đoạn phát triển của trẻ Quá trình đó xảy ra liên tục từ các việc tiếp xúc với thế giới bên ngoài, những hình ảnh về sự vật - hiện tượng sẽ được khái quát hóa trở thành
Đây cũng là cách hiểu về sự hình thành BT mà chúng tôi chọn để xây dựng các trò chơi hình thành BTCC trên cơ chế hình thành BTCC được hình bày ở mục 1.2.3.2
1.2.1.2 Chữ cái
Trang 22Chữ viết Tiếng Việt là chữ viết ghi âm vị, được xây dựng trên hệ thống chữ cái
La Tinh Chữ cái Tiếng Việt chính là đơn vị chữ viết nhỏ nhất [28] Chữ cái còn được
gọi là kí tự, con chữ
Hệ thống chữ viết Tiếng Việt gồm 29 chữ cái, được sắp xếp theo thứ tự : a, ă, â,
b, c, d, đ, e, ê, g, h, i, k, l, m, n, o, ô, ơ, p, q, r, s, t, u, ư, v, x, y
Trong đó có :
12 nguyên âm: a, ă, â, e, ê, i, o, ô, ơ, u, ư, y
Có 27 nguyên âm đôi là iê, ươ, oe, ai, au, ua, ưa, ưu, âu, uâ, ia, ui, ưi, iu, êu, oi, ôi, ơi,
ay, ây, uy, uô, oa, oă, ao, eo, uê
Và 10 nguyên âm ba là: uya, ươi, uyê, iêu, oai, oay, uây, uôi, uyu, ươu
17 phụ âm: b, c, d, đ, g, h, k, l, m, n, p, q, r, s, t, v, x
Các phụ âm ghép chuẩn là ch, gh, kh, ng, ngh, nh, ph, th, tr, gi và qu
Bảng 1.1 Chữ cái tiếng Việt
STT Chữ cái in thường Tên chữ cái Ghi âm Ghi chú
Trang 23STT Chữ cái in thường Tên chữ cái Ghi âm Ghi chú
1.2.1.3 Biểu tượng chữ cái
Theo tác giả Richard Colombini giải thích rằng BTCC là một khái niệm trừu tượng nhưng nó đại diện cho những chữ cái cụ thể bao gồm âm thanh (ngữ âm của chữ cái) và hình ảnh về chữ cái Mỗi BTCC có một ngữ âm riêng Việc chuyển từ những hình ảnh chữ cái cụ thể có kết hợp cho trẻ nghe ngữ âm sẽ tạo thành BTCC cho trẻ Trẻ em tiếp nhận một cách tự nhiên khả năng nói qua việc lắng nghe các âm thanh ngôn ngữ bằng tai nghe là chính Vì vậy, để dạy thành công cho trẻ biết đọc và viết một ngôn ngữ thì không thể theo tự nhiên mà cần có nhiều cách cho trẻ luyện tập thực hành tiếp xúc với các BTCC [71]
Theo tác giả Nguyễn Hưng Quốc cho rằng: “Chữ viết là hệ thống các kí hiệu để ghi lại ngôn ngữ theo dạng văn bản, là sự miêu tả ngôn ngữ thông qua việc sử dụng kí hiệu hay các BT Chữ viết trong môi trường ngôn ngữ được cấu thành từ bảng chữ cái đặc trưng của ngôn ngữ đó”[34] Vì vậy, BTCC chính là những kí hiệu nhận biết ngôn
Trang 24ngữ dưới dạng văn bản Chữ viết được cấu thành từ các chữ cái Việc nhận biết BTCC
là bước đầu tiên giúp người học một ngôn ngữ dưới dạng ngôn ngữ viết
Vì thế, trong phạm vi đề tài, chúng tôi hiểu BTCC là hình ảnh, âm thanh của chữ cái được hình thành trên cơ sở cảm giác và tri giác đã xảy ra trước đó, được giữ lại trong ý thức hay là những hình ảnh, âm thanh chữ cái mới được hình thành trên cơ sở
những hình ảnh, âm thanh chữ cái đã có trước thông qua các hoạt động tiếp xúc, luyện
tập thực hành với chữ cái
1.2.1.4 Cơ chế hình thành biểu tượng chữ cái
BTCC cần trải qua các một quá trình để hình thành, chứ không phải nhanh chóng
mà có được Các giai đoạn hình thành BTCC của trẻ đi từ các mức độ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp, từ thu nhận, lưu trữ và khôi phục lại các hình ảnh chữ cái đến khái niệm, nhận biết ý nghĩa của chúng trong cuộc sống xung quanh thông qua kí hiệu
là chữ cái
Dựa trên cơ chế hình thành BT từ ngoài vào trong của sự phát triển nhận thức, và thuyết phát sinh nhận thức của J.Piaget, chúng tôi đưa ra cơ chế hình thành BTCC theo
4 bước như sau:
Bước 1: Thu nhận biểu tượng chữ cái qua tri giác
Thông qua các hoạt động cảm giác, tri giác trẻ có thể nhận biết được mặt chữ, cách phát âm chữ cái, biết nguyên âm, phụ âm và thanh điệu; nhận biết các nét cấu tạo nên chữ cái; nhận biết mặt chữ in hoa, in thường, viết thường; biết được sự giống và khác nhau giữa cách phát âm chữ cái và cấu tạo các chữ cái tương tự
Ở bước này, trẻ chủ yếu làm quen và nhận biết ở mức độ đơn giản, hình thành BTCC thông qua tri giác với các hình ảnh bên ngoài để trẻ tiếp xúc, nhận biết chữ cái
Bước 2: Lưu giữ khắc sâu biểu tượng chữ cái thông qua tương tác với biểu
tượng
Ở bước này trẻ có thể sử dụng các vận động các ngón tay, bàn tay để cầm bút, tô
đồ, xếp, dán, tạo hình trên các đồ vật, nguyên liệu nhằm khắc sâu BTCC: tên gọi, phát
âm, cấu tạo các nét, vị trí không gian của các nét cấu tạo chữ cái
Bước 3: Khái quát hóa biểu tượng chữ cái bên trong đầu trở thành khái niệm
Trang 25BT được khái quát hóa chuyển thành khái niệm bên trong đầu của trẻ Trẻ có thể dùng thao tác tư duy để so sánh, phân tích để nhận biết sự giống và khác nhau giữa các chữ cái tương tự về phát âm và cấu tạo các nét Biết vị trí không gian của các nét cấu tạo nên chữ cái Nhanh chóng tìm được chữ cái khi được nghe hoặc miêu tả về cấu tạo
Bước 4: Trừu suất khái niệm ra bên ngoài và vận dụng biểu tượng chữ cái vào
những tình huống thực tế
Trẻ gọi tên, vẽ, viết một cách nhanh chóng các chữ cái khi không có chữ mẫu bên ngoài Trẻ có thể viết lại các chữ cái một cách nguệch ngoạc, có thể viết được tên mình, hoặc viết theo ý thích những chữ cái đã biết.Vận dụng vào các hoạt động: sao chép chữ có mẫu, không có mẫu, viết thực đơn, đơn thuốc, tên (bằng những nét vẽ nguệch ngoạc, theo ý thích)
Đây cũng chính là cơ sở để phân loại các trò chơi HTBTCC mà đề tài nghiên cứu, phân tích các trò chơi sẵn có Đồng thời cũng là cơ sở để chúng tôi xây dựng hệ thống trò chơi HTBTCC cho trẻ lớp Lá tại Tây Ninh
1.2.2 Trò chơi của trẻ em
1.2.2.1 Khái niệm trò chơi
J.Piaget cho rằng, trò chơi là hoạt động trí tuệ thuần túy là một nhân tố quan trọng đối với sự phát triển trí tuệ Hoạt động chơi là hoạt động thiết yếu và an toàn nhất cho trẻ nhiều cơ hội vui thú để trải nghiệm và khám phá không ngừng, thúc đẩy liên tục sự phát triển trí tuệ của trẻ
Với tác giả Đặng Thành Hưng thì trò chơi là một thuật ngữ có hai nghĩa khác nhau tương đối xa:
Thứ nhất, kiểu loại phổ biến của chơi, chính là các trò chơi có luật, tập hợp quy tắc định rõ mục đích, kết quả và yêu cầu hành động và có tính cạnh tranh hoặc tính thách thức đối với người tham gia
Thứ hai, những nhiệm vụ công việc được tổ chức và tiến hành dưới hình thức chơi, chẳng hạn: học bằng chơi, giao tiếp bằng chơi, rèn luyện thân thể dưới hình thức chơi
Các trò chơi đều có luật lệ, quy tắc, nhiệm vụ, yêu cầu tức là có tổ chức và thiết
Trang 26kế, nếu không có những thứ đó thì không có trò chơi mà chỉ có sự chơi đơn giản Như vậy, trò chơi là tập hợp các yếu tố chơi, có hệ thống và có tổ chức, vì thế luật hay quy tắc chính là phương tiện tổ chức tập hợp đó [17]
Tổng hợp các lý thuyết nghiên cứu về trò chơi dạy học của các nhà nghiên cứu
Xô Viết, tác giả Trương Thị Xuân Huệ trong công trình nghiên cứu: “Sử dụng phương pháp trò chơi trong công tác chuẩn bị trí tuệ cho trẻ em học toán lớp 1”, khẳng định rằng trò chơi dạy học được hiểu là trò chơi có nhiệm vụ giáo dục, trò chơi dạy học là trò chơi có nội dung và luật chơi cho trước do người lớn sáng tác và đưa vào cuộc sống của trẻ [15]
Trong phạm vi đề tài, chúng tôi cho rằng trò chơi được hiểu là trò chơi dạy học với các nhiệm vụ giáo dục, trò chơi với những nội dung và luật chơi cho trước được sử dụng như một biện pháp nhằm kích thích tính tích cực của trẻ trong quá trình làm quen với BTCC
1.2.2.2 Đặc điểm trò chơi của trẻ em
Từ định nghĩa của trò chơi ta rút ra được các đặc điểm của trò chơi như sau: Thứ nhất, trò chơi mang tính chất tượng trưng - kí hiệu Ở đó, tính hiện thực được tái hiện ở dạng BT hay là các dấu hiệu Các trò chơi được hoàn thiện ở hình thức tượng trưng trừu tượng
Thứ Thứ nhất, trò chơi mang tính chất tượng trưng - kí hiệu
J.Piaget [19] là người có công lớn trong việc phát triển các luận điểm về trò chơi khi ông đưa ra khái niệm trò chơi kí hiệu (symbolic play) với bản chất biểu trưng (tượng trưng) và giả bộ Theo ông, tính tượng trưng là một trong năm tổ hợp hành vi
“mang sự gợi ý biểu tượng về một đồ vật hay một sự kiện vắng mặt do đó mang lại sự cấu tạo hay chức năng của những cái biểu đạt được phân biệt Sự xuất hiện hành vi tượng trưng đánh dấu việc kết thúc thời kì giác động và bắt đầu một trình độ mới trong
sự phát triển trí tuệ của trẻ - chức năng kí hiệu tượng trưng của tư duy Với Vưgotky, ông chỉ ra tính tượng trưng của trò chơi thể hiện qua hoàn cảnh tưởng tượng và cùng với nó là các luật lệ chơi là hai dấu hiệu đặc trưng quan trọng của trò chơi Bàn về quan hệ giữa các yếu tố ký hiệu tượng trưng của trò chơi và sự hình thành phát triển
Trang 27ngôn ngữ viết ở trẻ, ông viết : “Hệ thống tín hiệu thứ hai phát triển trong trò chơi và do vậy trò chơi kí hiệu tượng trưng có thể coi là một yếu tố góp phần vào sự phát triển ngôn ngữ viết - hệ thống tín hiệu thứ hai” [47]
Như vậy, trong trò chơi với tính chất kí hiệu tượng trưng, với các hoàn cảnh chơi tưởng tượng, cùng với các luật chơi, trẻ hoàn toàn có thể lĩnh hội được ngôn ngữ viết,
cụ thể hình thành được BTCC là kí hiệu để giải mã những thông tin, thông qua BTCC trẻ có thể hiểu ngôn ngữ viết của con người
Thứ hai, trò chơi mang bản chất xã hội sâu sắc
Trò chơi của trẻ gắn liền với cuộc sống xã hội Nội dung của trò chơi phản ánh những gì đang diễn ra xung quanh trẻ và rất gần gũi với trẻ Những hành động trong các trò chơi đều gắn liền với những gì đang diễn ra trong đời sống của trẻ Do đó, khi tham gia vào các trò chơi, trẻ thật sự cảm thấy gần gũi, yên tâm và tha hồ được chơi, được trải nghiệm với những hoàn cảnh chơi, đồ chơi cũng rất quen thuộc
Thứ ba, trò chơi mang tính giải trí cao Khi chơi, nhu cầu chơi của cá nhân được thỏa mãn Đứa trẻ luôn luôn có nhu cầu được chơi Trong quá trình chơi, trẻ được thể hiện mình, được khẳng định mình và thỏa mãn được nhu cầu chơi Trong khi chơi, trẻ luôn tỏ ra thoải mái, thích thú vì những yếu tố vui tươi, hóm hỉnh, hấp dẫn, hồi hộp của trò chơi Trò chơi mang tính ép buộc không thoải mái, không mang tính giải trí, sẽ không thể giữ chân đứa trẻ ở lại được lâu trong hoạt động chơi
Thứ tư, trò chơi có cấu trúc: chủ đề chơi, luật chơi, nội dung chơi, mối quan hệ khi chơi, đồ chơi, hoàn cảnh chơi Trò chơi có nội dung, chủ đề chơi càng hấp dẫn sẽ khiến trẻ càng hứng thú hơn Trong trò chơi có yêu cầu của luật chơi, đòi hỏi trẻ phải
nổ lực thực hiện để tuân theo luật chơi đã đề ra, khi hoàn thành trò chơi trẻ cảm thấy thỏa mãn vì đã chinh phục được yêu cầu của luật chơi Trong khi chơi, trẻ có thể giao tiếp, chia sẻ, lắng nghe, thỏa thuận, phối hợp để thực hiện được nhiệm vụ chơi, phát triển khả năng làm việc nhóm của trẻ Đồng thời, hoàn cảnh chơi và đồ chơi cũng ảnh hưởng rất lớn đến trò chơi của trẻ Đồ chơi càng phong phú hấp dẫn, hoàn cảnh chơi càng thực càng mang đến hiệu quả, kích thích trẻ tham gia chơi hết mình và hứng thú
1.2.2.3 Phân loại của trò chơi
Trang 28Có nhiều cách phân loại trò chơi khác nhau Đại hiện cho cách phân loại theo chức năng giáo dục và phát triển, hai tác giả Phrobel và Montesori chia trò chơi trẻ em thành 3 nhóm Nhóm 1: Gồm các trò chơi nhằm rèn luyện và phát triển các giác quan cho trẻ Nhóm 2: Gồm các trò chơi vận động nhằm phát triển và tập luyện vận động cho trẻ Nhóm 3: Gồm các trò chơi học tập nhằm phát triển trí tuệ cho trẻ
Đại diện cho cách phân loại trò chơi theo nguồn gốc, cấu trúc của trò chơi, tác giả J.Piaget phân làm 3 nhóm trò chơi Nhóm 1: gồm các trò chơi luyện tập dành cho trẻ dưới 2 tuổi Nhóm 2: Gồm trò chơi kí hiệu dành cho trẻ từ 2 - 4 tuổi Nhóm 3: Trò chơi có quy tắc (có luật) dành cho trẻ từ 7 - 12 tuổi
Trong chương trình hiện hành của nước ta, trò chơi của trẻ MG gồm 3 nhóm Nhóm 1: Nhóm trò chơi sáng tạo
Trò chơi đóng vai theo chủ đề (phản ánh sinh hoạt)
Nhóm 3: Nhóm trò chơi dân gian
Như vậy, trò chơi HTBTCC chính là trò chơi học tập với các luật chơi quy định giúp cho trẻ phát triển trí tuệ, cụ thể là hình thành BTCC cho trẻ
1.2.2.4 Trò chơi là phương tiện dạy học cho trẻ
Nhà sư phạm nổi tiếng người Tiệp Khắc J.A.Komenxki(1592-1670) coi trò chơi dạy học là một dạng hoạt động trí tuệ nghiêm túc, là nơi mọi khả năng của trẻ em được phát triển, mở rộng phong phú thêm vốn hiểu biết Đó là phương tiện phát triển toàn diện cho trẻ, là hình thức hoạt động cần thiết, phù hợp với bản chất và khuynh hướng của trẻ I.A.Komenxki đã khuyên người lớn phải chú ý đến trò chơi dạy học cho trẻ và phải hướng dẫn, chỉ đạo đúng đắn cho trẻ chơi
Ph.Phroebel (1782-1852) cho rằng cần kết hợp dạy học với trò chơi cho trẻ Theo ông, những trò chơi này mang lại cho người học niềm vui và phát triển năng lực trí tuệ
Trang 29của chúng, đáp ứng được nhu cầu và phù hợp với đặc điểm của người học và tất nhiên hiệu quả giờ học sẽ cao hơn Do vậy ở giờ học, giáo viên cần sử dụng các phương pháp, biện pháp chơi hoặc tiến hành tiết học dưới hình thức chơi Ông đã đưa ra hệ thống trò chơi học tập dùng lời như: trò chơi gọi tên, trò chơi phát triển kỹ năng khái quát tên gọi của cá thể, trò chơi đoán từ trái nghĩa, điền những từ còn thiếu [11] Thực vậy, khi tham gia vào các trò chơi, những tri thức, kỹ năng mà trẻ lĩnh hội được qua trò chơi diễn ra một cách tự nhiên Mặt khác, hoạt động học tập của trẻ nảy sinh và phát triển trong lòng hoạt động chơi, do vậy nó mang màu sắc chơi rõ rệt: học trong niềm vui được tham gia vào trò chơi Giữa chơi và học có sự gắn kết chặt chẽ với nhau Trong học trẻ chơi và trong chơi trẻ được học Điều này cho thấy giá trị của trò chơi mang lại cho trẻ đáp ứng phù hợp với tâm lý của trẻ và mang lại hiệu quả học tập.
1.2.3 Trò chơi hình thành biểu tượng chữ cái
BTCC với trẻ nhỏ là phương tiện để chúng lĩnh hội ngôn ngữ viết qua đó giải mã những thông tin về các sự vật hiện tượng xung quanh BTCC có trong ngôn ngữ viết còn là điều kiện để trẻ có thể học đọc, học viết ở bậc học tiếp theo, chuẩn bị một nền tảng tốt cho việc học tập suốt đời Thông qua hình thức vui chơi, cụ thể là các trò chơi HTBTCC giúp cho đứa trẻ có thể tiếp nhận ngôn ngữ viết cụ thể là hệ thống chữ cái Tiếng Việt một cách tự nhiên, thoải mái qua đó làm nền tảng tiếp nhận giá trị tri thức của nhân loại trong tương lai
Trong phạm vi của đề tài, chúng tôi hiểu trò chơi hình thành biểu tượng chữ cái
là một phương tiện dạy học được sử dụng để trẻ trải nghiệm qua các hình thức hoạt động vừa thỏa mãn nhu cầu chơi vừa lĩnh hội khái niệm về các biểu tượng chữ cái trên
cơ sở tự nguyện, tự do, hứng thú và dựa trên sự hiểu biết của trẻ
1.2.3.1 Phân loại trò chơi hình thành biểu tượng chữ cái
Theo TS Trần Nguyễn Nguyên Hân, hệ thống và phân loại một số trò chơi với chữ cái dựa trên phát triển các kĩ năng tiền đọc, viết như sau:
Các trò chơi phát triển kĩ năng tiền đọc
+ Trò chơi: Nghe âm tìm chữ cái
Trang 30+ Trò chơi: Nhìn chữ cái phát âm tương ứng + Trò chơi: Tìm chữ cái trong từ
+ Trò chơi: Ghép chữ thành từ + Trò chơi: Tìm từ tương ứng với tranh
Trò chơi phát triển kĩ năng tiền viết
+ Trò chơi: Tạo hình chữ cái + Trò chơi: tô màu chữ cái + Trò chơi: Đồ chữ cái + Trò chơi: Điền khuyết chữ + Trò chơi: Sao chép chữ cái + Trò chơi: viết chữ (nguệch ngoạc, viết theo ý thích, viết tên mình) Trong phạm vi đề tài, tham khảo những loại trò chơi phát triển kĩ năng tiền đọc, viết của TS.Trần Nguyễn Nguyên Hân, chúng tôi phân loại trò chơi HTBTCC theo cơ chế đã trình bày ở mục 1.2.1.4 Các loại trò chơi HTBTCC được chia làm 4 loại như sau:
- Trò chơi thu nhận hình ảnh biểu tượng chữ cái qua tri giác
Đây là dạng trò chơi buộc đứa trẻ sử dụng toàn bộ các giác quan của con người,
sử dụng mắt, tai, cảm giác… để gọi tên, phát âm được chữ cái, nhận biết được các chữ cái tìm được những chữ cái giống nhau về tên gọi và cấu tạo Biết được các kiểu chữ cái in hoa, in thường và viết thường
- Trò chơi lưu giữ, khắc sâu biểu tượng chữ cái qua tương tác với biểu tượng
Thông qua việc hành động trực tiếp với đồ vật: tô, đồ, cắt dán, xé nặn, xếp… đứa trẻ có thể tương tác với biểu tượng chữ cái nhằm khắc sâu những biểu tượng chữ cái
về tên gọi, về cấu tạo các nét chữ cái
- Trò chơi khái quát biểu tượng chữ cái thành khái niệm
Thông qua thao tác tư duy, trẻ so sánh phân tích và đưa ra những kết luận về sự giống và khác nhau giữa các chữ cái Trẻ có thể nhận ra những cặp chữ in hoa và in thường Biết vị trí không gian các nét cấu tạo nên chữ cái Nghe âm thanh và tìm được chữ cái tương ứng
Trang 31- Trò chơi vận dụng biểu tượng chữ cái vào tình huống thực tế
Với khái niệm BTCC có trong đầu, trẻ sẽ vận dụng vào các tình huống thực tế: viết thực đơn, viết tên, ghép tên, điền khuyết, sao chép chữ cái… Trò chơi này đòi hỏi trẻ vận dụng những khái niệm trừu suất ra bên ngoài bằng cách giải quyết những tình huống, những yêu cầu, và trẻ nhận ra được thông tin từ BTCC đó
1.2.3.2 Quy trình tổ chức trò chơi hình thành BTCC trẻ lớp Lá
Bước 1: Lập kế hoạch cho việc tổ chức trò chơi HTBTCC
Xác định mục đích của việc tổ chức trò chơi HTBTCC cho trẻ lớp Lá Mục đích của việc tổ chức trò chơi HTBTCC giúp trẻ phát triển các kĩ năng nghe, nói, đọc, hay viết Việc xác định mục đích cụ thể cho từng loại trò chơi thông qua các mức độ hình thành BTCC đi từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp sẽ giúp đạt được hiệu quả trong việc hình thành BTCC cho trẻ Ví dụ: mục đích giúp trẻ nhận biết chữ cái mới, mục đích củng cố BTCC đã học
Lựa chọn TC có sẵn hoặc xây dựng trò chơi theo mục đích hình thành BTCC
Lựa chọn trò chơi hình thành BTCC cần tuyên theo các nguyên tắc: phù hợp lứa tuổi, vừa sức, nâng dần yêu cầu
Xây dựng trò chơi HTBTCC cần đảm bảo các nguyên tắc: phù hợp mục tiêu chương trình, mang ý nghĩa giáo dục, phù hợp với khả năng nhận thức của trẻ, phù hợp trình độ của giáo viên và mang sự hấp dẫn hứng thú
Những trò chơi này phải có đầy đủ 3 yếu tố: nội dung chơi, hành động chơi, luật chơi
Bước 2: Chuẩn bị các đồ dùng, đồ chơi, phương tiện, vật liệu…
Bố trí địa điểm chơi (không gian chơi có thể ở ngoài sân hoặc trong lớp học), có thể trên giờ học hoặc giờ hoạt động vui chơi tự do ở góc chữ viết Sắp xếp và bố trí sao cho kích thích được sự hứng thú của trẻ đối với trò chơi
Bước 3: Hướng dẫn triển khai trò chơi bao gồm giới thiệu tên trò chơi, triển khai
cách chơi và luật chơi Nếu trong trò chơi có hành động chơi mới trẻ chưa biết cách thực hiện thì GV có thể hướng dẫn làm mẫu cho trẻ quan sát
Trang 32Bước 4: Tiến hành cho trẻ chơi
Trong quá trình trẻ chơi, cô chú ý quan sát, hướng dẫn trẻ chơi, tạo cơ hội để trẻ nào cũng được chơi Trong khi chơi cô có thể trợ giúp nếu cần: như nhắc lại luật chơi,
và hành động chơi…
Bước 5: Quan sát, đánh giá trò chơi của trẻ
Dựa trên kết quả giáo viên xác định chất lượng và hiệu quả của trò chơi với sự hình thành BTCC của trẻ Đây cũng là cơ sở để giáo viên có thể xây dựng các trò chơi cho kế hoạch tiếp theo.Việc quan sát, đánh giá tập trung vào những nội dung như: thực hiện hành động chơi, quy tắc chơi, những biểu hiện hứng thú, tích cực nhận thức của trẻ trong khi chơi
1.2.3.3 Các hoạt động nhằm hình thành BTCC của trẻ lớp Lá qua trò chơi
BTCC được tổ chức trên các hình thức như: giờ học, giờ chơi tự do, hoạt động mọi lúc mọi nơi Trên giờ học, làm quen với chữ cái, có thể các trò chơi để hình thành như các trò chơi luyện kĩ năng nghe, phát âm và nhận biết chữ cái: nghe âm tìm chữ cái, tìm chữ cái trong từ, nhìn chữ phát âm, ghép nét chữ Và một số trò chơi củng cố BTCC: tô đồ, tạo hình, sao chép chữ cái
Trên giờ chơi tự do, trò chơi cũng được sử dụng trong góc chữ viết nhằm ôn luyện, củng cố BTCC: nhận biết chữ, tô màu, tạo hình chữ cái, sao chép chữ… Ngoài
ra, việc hình thành BTCC còn được lồng ghép ở các hoạt động khác: trẻ đọc sách ở góc thư viện, làm sách ở góc nghệ thuật: cắt dán các tờ báo cũ, làm sách theo chủ đề
và ghi chữ chú thích cho nội dung quyển sách Ở góc phân vai, có thể cho trẻ chơi ghi đơn thuốc, ghi thực đơn, đơn hàng, làm vé tàu, viết thiệp chúc mừng, làm vé xem kịch…
Hoạt động mọi lúc mọi nơi, trò chơi hình thành BTCC còn được tổ chức ở các hoạt động ngoài trời, tham quan, dã ngoại Trẻ có thể chơi các trò chơi với chữ cái khi chơi ngoài trời, bằng cách tổ chức chơi kết hợp yếu tố vận động Trẻ có thể tham quan, dạo chơi, lao động, có dịp đọc được các chữ viết, hiểu được các chữ viết trong bối cảnh diễn ra Khi về, có thể trao đổi và ghi lại thành câu chuyện
Trang 33Như vậy, việc hình thành BTCC cho trẻ có thể sử dụng ở các hoạt động trên lớp học với các dạng trò chơi đa dạng, phong phú Những trò chơi này có thể được tổ chức trên giờ học, giờ vui chơi tự do hoặc kể cả những hoạt động mọi lúc mọi nơi Nghĩa là, với trò chơi, chúng ta có thể tổ chức chơi trên trẻ, thông qua đó giúp trẻ hình thành các biểu tượng và khái niệm về chữ cái
1.2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc hình thành BTCC cho trẻ lớp Lá
Học chữ là một quá trình phức tạp và cần có sự chuẩn bị trong một thời gian dài
Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến khả năng học chữ của trẻ Hall, Rovich & Raming (1979) cho rằng có sáu yếu tố ảnh hưởng đến khả năng học chữ của trẻ: thể lực, tri giác, nhận thức, xúc cảm và tình cảm, môi trường và kinh nghiệm [24]
Sẵn sàng về thể chất:
Trẻ có thể chất yếu, không đáp ứng được nhu cầu trong sinh hoạt như ăn ngủ, tự phục vụ sẽ gặp khó khăn trong việc học tập nói chung và việc hình thành BTCC nói riêng Thể chất yếu kéo theo các mặt khác cũng chậm phát triển, hoặc khó khăn như tri giác, thị giác, quá trình tư duy, trí nhớ, chú ý… Như vậy, việc hình thành BTCC đòi hỏi trẻ phải có một thể chất khỏe mạnh
Sẵn sàng về tri giác:
Việc hình thành BTCC cho trẻ đòi hỏi trẻ phải tri giác tốt, thông qua tri giác trẻ tiếp nhận những hình ảnh, nhận ra các nét cấu tạo nên chữ cái, vị trí các nét chữ cái trong không gian Điều đó cần thiết cho việc nhận biết và phân biệt được các đặc điểm của từng chữ cái và hình thành BTCC đó Nếu tri giác của trẻ không tốt sẽ rất khó khăn cho việc học chữ
Sẵn sàng về nhận thức:
Sự hiểu biết ban đầu của đứa trẻ về sự vật hiện tượng xung quanh, hiểu được những mối quan hệ của chúng với nhau một cách tương đối chính xác Trẻ có thể thể hiện những hiểu biết về sự vật hiện tượng xung quanh bằng nhiều cách khác nhau Các thao tác tư duy: so sánh, phân tích, tổng hợp… cũng cần được rèn luyện một cách nhanh nhẹn sẽ là điều kiện để trẻ dễ dàng hình thành BTCC trong quá trình học chữ
Sẵn sàng về ngôn ngữ:
Trang 34Ở lứa tuổi lớp Lá, đòi hỏi đứa trẻ phải có khả năng thành thạo ngôn ngữ: khả năng nghe âm thanh ngôn ngữ để có thể nghe chính xác cách phát âm về chữ cái, khả năng nói, phát âm lại chính xác các chữ cái Trẻ cần diễn đạt một cách mạch lạc trong giao tiếp Đó là điều kiện để trẻ có thể giao tiếp với bạn bè, cô giáo trong quá trình học chữ thông qua trò chơi cũng như các hoạt động khác
Sẵn sàng về tình cảm/xúc cảm:
Yếu tố về xúc cảm/tình cảm cũng ít nhiều ảnh hưởng đến quá trình hình thành BTCC của trẻ Sự tự ti, nhút nhát, lo lắng cũng làm cho đứa trẻ không thể học chữ một cách thoải mái, nhẹ nhàng vui tươi và dĩ nhiên sẽ trở thành một sự không hứng thú, chán nản, nỗi sợ hãi đối với đứa trẻ Sự động viên khuyến khích của người lớn làm cho đứa trẻ tự tin hơn, phấn khởi, thích thú trong việc học chữ sẽ mang lại hiệu quả cao hơn trong việc hình thành BTCC cho trẻ
Sẵn sàng về môi trường, kinh nghiệm:
Sẵn sàng về môi trường, kinh nghiệm có ý nghĩa to lớn trong hoạt động hình thành BTCC cho trẻ Thông qua môi trường gia đình, nhà trường, xã hội, đứa trẻ được sống trong môi trường lành mạnh: được giao tiếp, tham quan, chỉ dẫn, chia sẻ, yêu thương… trẻ sẽ tích lũy vốn kinh nghiệm sống về nhận thức, ngôn ngữ một cách vững chắc hơn Từ đó, ngôn ngữ và nhận thức của trẻ phát triển tốt, là điều kiện để trẻ có thể học chữ tốt hơn
1.2.5 Sự cần thiết của việc hình thành BTCC cho trẻ lớp Lá
Việc hình thành BTCC đối với trẻ lớp Lá trước tiên có vai trò quan trọng trong việc chuẩn bị cho trẻ học đọc, học viết ở lớp 1 - cấp học Tiểu học
Thứ nhất, trẻ nhận biết, phân biệt được 29 chữ cái trong hệ thống Tiếng Việt
Đây là cơ sở ban đầu để trẻ học ghép âm, ghép vần ở lớp 1 Khi trẻ nhớ tên và nhận diện được chữ cái, trẻ sẽ dễ dàng viết được từ, câu, hiểu được ý nghĩa lẫn cấu trúc của
từ, của câu
Thứ hai, khơi dậy hứng thú và lòng đam mê với việc học đọc, học viết Từ đó trẻ
có động cơ ham muốn học tập và trở thành một học sinh
Trang 35Trẻ hứng thú học viết khi quan sát người khác viết một say mê Khi trẻ hiểu rằng
có thể biết nhiều điều hoặc tạo ra được cái gì đó từ việc giải mã được chữ viết thì trẻ càng thích thú hơn Việc hình thành BTCC cho trẻ được tổ chức dưới các hoạt động học đọc, học viết bằng nhiều hình thức trò chơi Điều đó khơi dậy sự ham mê học tập của trẻ Trẻ có thái độ tích cực hơn đối với các hoạt động học đọc, học viết chữ cái Trẻ chú ý hơn các BTCC được thấy ở khắp nơi, biển báo, nhãn hàng, tiêu đề quảng cáo, sách vở… đến những hành động đọc viết của người lớn Trẻ sẽ cố gắng giải mã bằng cách nhận biết các nét chữ, phân biệt các nét và tên gọi, rồi bắt đầu “viết” chữ Qua đó hình thành ở trẻ ý thức và giá trị của ngôn ngữ viết, hay chữ viết trong cuộc sống và đối với bản thân Muốn khám phá được thế giới xung quanh còn có thể thông qua công cụ là ngôn ngữ viết Từ đó khơi dậy niềm đam mê học tập, khám phá tri thức, mong muốn được đi học hình thành ý thức học tập cho các cấp học tiếp theo
và việc học tập suốt đời
Một số kĩ năng tô, đồ nét, đọc chữ thông qua các trò chơi hình thành BTCC giúp cho đứa trẻ trao dồi một số kĩ năng chuẩn bị cho trẻ vào lớp 1 như: cách cầm sách, cách đọc sách: đọc từ trên xuống, đọc từ trái qua phải, kĩ năng ngồi, cầm bút sao cho đúng cách
Thứ ba, việc hình thành BTCC cho trẻ còn giúp trẻ có tâm lý ổn định, vững chắc
khi bước vào lớp 1
Một khi trẻ có trở ngại khó khăn với học đọc, học viết ở tiểu học, trẻ có thể dễ bị bạn bè chế diễu từ đó trở nên mặc cảm, tự ti, ít tham gia vào các hoạt động tập thể Dần dần dẫn đến sự thờ ơ, không hứng thú trong học tập Vì vậy, việc hình thành BTCC giúp trẻ nhận biết, ghi nhớ hệ thống chữ cái Đây là cơ sở cho việc học đọc, viết, ghép âm, ghép vần ở tiểu học Vì vậy, trẻ trở nên tự tin hơn ngay từ những buổi đầu chuyển từ giai đoạn mầm non sang tiểu học
Từ những điều đã trình bày trên, cho thấy vai trò quan trọng của việc hình thành BTCC cho trẻ lớp Lá Đây là một trong những yêu cầu trong việc chuẩn bị cho trẻ vào lớp 1 Nếu sự chuẩn bị này diễn ra một cách phù hợp với sự phát triển của đứa trẻ sẽ tạo một tiền đề vững chắc để đứa trẻ bước vào lớp 1 Thực vậy, ở bậc học Tiểu học,
Trang 36nhiệm vụ học tập là nhiệm vụ bắt buộc, hoạt động chủ đạo từ vui chơi chuyển dần sang hoạt động học tập Việc hình thành BTCC cho trẻ phải được thực hiện với các hoạt động phù hợp, khéo léo để trẻ có thể không sợ sệt, không cảm thấy nặng nề về nhiệm vụ nhận thức cần đạt Vì thế việc sử dụng trò chơi với nhiều hình thức đa dạng, phong phú, vui tươi, hứng thú được tổ chức chơi mọi lúc mọi nơi được giáo viên thiết
kế và lựa chọn sẽ mang đến hiệu quả tốt đẹp cho việc học tập của trẻ sau này
1.3 Các cơ sở thực tiễn của việc xây dựng trò chơi hình thành biểu tượng chữ cái cho trẻ lớp Lá tại Tây Ninh
1.3.1 Quan niệm của giáo viên về việc xây dựng trò chơi hình thành biểu tượng chữ cái cho trẻ lớp Lá tại Tây Ninh
1.3.1.1 Đối tượng khảo sát và phương pháp khảo sát
Để tiến hành tìm hiểu về thực trạng sử dụng trò chơi hình thành BTCC cho trẻ lớp Lá Chúng tôi khảo sát một số trường MN trên địa bàn thành phố, thị trấn, nông thôn và vùng sâu biên giới của tỉnh Tây Ninh từ tháng 1- 4/2016 Cũng trong thời gian
đó, chúng tôi tiến hành phát phiếu trưng cầu ý kiến của 97 GVMN trong tỉnh, phỏng vấn 10 GVMN, 3 hiệu phó chuyên môn, 2 hiệu trưởng, phân tích các kế hoạch giáo dục (8 lớp) và quan sát các giờ học (8 lớp)
1 Phiếu trưng cầu ý kiến 97 GVMN các lớp Lá ở một số trường
1.3.1.2 Nội dung khảo sát
Nhận thức của GV về các loại trò chơi HTBTCC đối với trẻ lớp Lá tại Tây Ninh
Việc lựa chọn và sử dụng các trò chơi HTBTCC cho trẻ lớp Lá
Những khó khăn và hạn chế khi xây dựng và tổ chức các trò chơi HTBTCC cho trẻ lớp Lá
Trang 37 Các mức độ HTBTCC của trẻ qua các trò chơi HTBTCC đang được sử dụng
Trang 38tự Giải thích được vị trí trong không gian các nét cấu tạo nên chữ cái
2 Kĩ năng
Phát âm chính xác các chữ cái
Tìm ra được chữ cái chính xác qua nhìn, xúc giác, phát âm…
Tô đồ, sao chép, điền khuyết chữ cái bằng bút chì, màu…
Tạo hình được các nét của chữ cái với các nguyên liệu khác nhau
Vẽ, viết được các BTCC trong các tình huống cụ thể khi chơi:
viết tên, đơn thuốc, thực đơn…
3 Thái độ
Thảo luận, phối hợp tốt với bạn Nhanh nhẹn, tự tin khi tham gia vào trò chơi
Hứng thú, tích tực thực hiện các nhiệm vụ của trò chơi
Trang 39Tự lập tham gia trò chơi mà không cần trợ giúp
- Giỏi (4 điểm): Có biểu hiện rất thường xuyên ở mỗi tiêu chí
- Khá (3 điểm): Có biểu hiện thường xuyên ở mỗi tiêu chí
- Trung bình (2 điểm): Có biểu hiện thỉnh thoảng ở mỗi tiêu chí
- Yếu (1 điểm): Có biểu hiện không thường xuyên ở mỗi tiêu chí
Kết quả tổng hợp chúng tôi đánh giá theo 4 mức độ sau:
Mức độ 1: Loại giỏi đạt từ 49 điểm đến 56 điểm
Mức độ 2: Loại khá đạt từ 35 điểm đến 48 điểm
Mức độ 3: Loại trung bình từ 21 điểm đến 34 điểm
Mức độ 4: Loại yếu từ đạt dưới 20 điểm
có 2 GV chọn mức độ bình thường Khi được phỏng vấn, 1 GVMN chia sẻ: “trẻ chuẩn
bị vào lớp 1 nên việc sử dụng trò chơi nên hạn chế vì nên tập cho trẻ chuyển dần sang nhiệm vụ học tập hơn là cứ cho trẻ chơi, sẽ ảnh hưởng đến sự tập trung chú ý của trẻ”
Như vậy, có thể thấy đa số GV ý thức cao về việc sử dụng trò chơi trong việc hình thành BTCC, nhưng vẫn còn số 2.1% GV có quan niệm chưa thật cần thiết về vai trò của trò chơi cho việc hình thành BTCC Như vậy, nhìn chung nhận thức của các GVMN về sự cần thiết của trò chơi trong việc HTBTCC được đánh giá là ở mức cao
Trang 40Thực vậy, ở giai đoạn lớp Lá, vui chơi vẫn là hoạt động chủ đạo Với các nội dung và hành động chơi trong trò chơi, sẽ giúp trẻ hứng thú hơn với hoạt động học tập và hình thàn BTCC cho trẻ
Bảng 1.3 Đánh giá về nhận thức của giáo viên trong việc lựa chọn và sử dụng các loại trò chơi để hình thành BTCC cho trẻ lớp Lá
Các loại trò chơi
Mức độ % (N = 97) Rất
thường xuyên
Thường Xuyên
Thỉnh thoảng
Hiếm khi
Không bao giờ
cô chọn để hình thành BTCC Như vậy, GV nhận thức được bên cạnh việc sử dụng trò chơi học tập để hình thành BTCC cho trẻ, họ còn có thể lồng ghép vào các hoạt động khác, điều đó giúp trẻ hứng thú hơn với việc học các con chữ và củng cố được chữ cái
đã được học đồng thời hiểu được ý nghĩa của các chữ cái trong các trò chơi
Tuy nhiên, qua quan sát các kế hoạch giáo dục, chúng tôi nhận thấy, trong một chủ đề, các cô chỉ lên 1 đến 2 giờ học về chữ cái Các trò chơi được lồng ghép nhiệm
vụ hình thành BTCC thì đơn điệu và nghèo nàn về nội dung Vì thế, cơ hội được trẻ