1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Từ chữ nôm đến quốc ngữ châu nhuận phát đi trân châu cảng

27 435 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 552,45 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Điểm hơi lạ: Họ Châu trong Châu Nhuận Phát luôn luôn được viết đúng ‘Châu’, y như cách viết và phát âm của người Hoa.. Những nhân vật nồi tiếng, thật cũng như tiểu thuyết, mang họ Châu Z

Trang 1

Từ chữ Nôm đến quốc ngữ (4): Châu Nhuận Phát đi Trân Chu Cảng

Nguyên Nguyên

Trân Châu Cảng (Pearl Harbor), hải cảng thuộc quần đảo Hạ Uy Di (Hawaii), đi vào lịch

sử sau cuộc dội bom của quân đội Nhật vào các tàu chiến, máy bay và cơ sở quân sự Mỹ tại Thái Bình Dương, vào sáng ngày chủ nhật 7 Tháng Chạp 1941

Liên hệ giữa Mỹ và Nhật đã trở nên căng thẳng nhiều tháng trước đó Nhất là khi Nhật thiết lập liên minh với Đức quốc xã, bắt đầu đe dọa các thuộc địa của Anh quốc tại Thái Bình Dương, và gây sức ép với Pháp tại Đông Dương Mỹ cấm vận xăng dầu chở đến Nhật, hy vọng sẽ ngăn chận được bước tiến của Nhật Nhưng từ tháng 11 Nhật đã âm thầm gởi các lực lượng tấn công đến phía Nam biển Thái Bình Dương Trong khi cũng gởi một phái đoàn sứ thần đến Hoa-Thịnh-Đốn thương thuyết

Ngày 6 tháng 12, Mỹ bắt được một tài liệu mật gồm 14 phần gửi qua toà đại sứ Nhật Nhưng chỉ khai thác được có 13 phần và biết chắc Nhật sẽ tấn công tại Thái Bình Dương Nhưng không biết khi nào tấn công Đến 9 giờ sáng hôm sau, chủ nhật mồng 7, Mỹ mới biết hết phần 14, và 10 giờ sáng được chỉ đạo của Nhật ra lệnh tấn công Trân Châu Cảng

Mỹ mới phát hiện được Nhật sẽ tấn công trong chốc lát, bởi chính vào lúc đó, chỉ mới tờ

mờ sáng tại Trân Châu Cảng Lại rủi, đường dây thép bị hư hỏng nên phải chuyển báo động đến Pearl Harbor bằng đường dây thương mại dân sự Đến trưa mới tới, khoảng 4 giờ sau khi Nhật đã bắt đầu dội bom

Dưới kế hoạch của Đô Đốc Yamamoto, và quyền chỉ huy của Đô Đốc Nagumo, Nhật tấn công Trân Châu Cảng thuộc đảo Oahu của Hạ Uy Di, bằng 2 đợt oanh tạc bằng máy bay, xuất phát từ 6 chiếc hàng không mẫu hạm, 230 dặm phía Bắc đảo Oahu Chuyến đầu gồm 183 máy bay, tấn công sân bay và tàu chiến từ 7 giờ 53 đến 9 giờ 45 Và chuyến sau, 167 máy bay oanh tạc tàu chiến và các cơ sở quân sự trên đảo Dưới khẩu hiệu Tora! Tora! Tora! (Hổ, Hổ, Hổ) Mỹ bị thiệt hại khủng khiếp trong một khoảng thời gian rất ngắn, trước sau khoảng 4 tiếng đồng hồ Tổng cộng 2335 binh sĩ thiệt mạng, 68 thường dân, và 1178 bị thương

Chỉ 4 ngày sau, Đức và Ý chính thức tuyên chiến với Mỹ

Cuộc tấn công Trân Châu Cảng gây nên nỗi kinh hoàng khắp nơi, nhất là tại Mỹ Bởi tấn công bất ngờ đã xảy ra trong thời chiến tranh quy ước Thanh niên chen chúc đăng ký tòng quân nhập ngũ, và dân chúng đoàn kết sau lưng tổng thống Roosevelt Tấn công Trân Châu Cảng cũng kết thúc chính sách cô lập của Mỹ, và đánh thức một ngài khổng

lồ

“Trân Châu Cảng” đọc theo quan thoại: Zhen Zhu Gang, mang nghĩa ‘Cảng có nhiều Ngọc Trai’ Phiên âm trở lại, gần đúng, sang quốc ngữ: Tchân ChU cảng Để ý: ‘Chu’

Trang 2

chứ không phải ‘Châu’ Nhưng quốc ngữ, đã phiên âm và đánh vần trệt sang thành

‘Châu’ Và người Việt từ lâu vẫn quen gọi: Trân Châu Cảng

‘Châu’ và ‘Chu’, họ Châu như Châu Ân Lai, Châu Chỉ Nhược, Châu Nhuận Phát,… và

họ Chu như Chu Nguyên Chương, Chu Dung Cơ, … vẫn thường được báo chí sách vở Việt in ấn lộn xộn lẫn lộn với nhau Khi thì Châu, lúc lại Chu

Trong bài này, chúng ta sẽ quan sát những lộn xộn đã do chính việc chuyển hệ từ Nôm sang quốc ngữ gây ra Chính những lộn xộn này cùng với những thiếu thốn trong nghiên cứu việc ‘chuyển hệ’ cho tận nơi tận gốc, đã làm bao nhiêu thế hệ người Việt, kể cả những học giả hàng đầu, lầm tưởng khác biệt do ở ‘phương ngữ’ gây nên

1 Chu chỉ Nhược và Châu Nhuận Phát

Khi xem phim tập Ỷ Thiên Đồ Long Ký, có thể để ý tên nhân vật Chu Chỉ Nhược được

viết ở phần phụ đề, và phát âm Châu Chỉ Nhược Họ Châu chứ không phải Chu Châu

như Châu Bá Thông, Châu Ân Lai, Châu Nhuận Phát

Nhắc đến Châu Nhuận Phát tức nhắc đến một ngôi sao sáng của điện ảnh Á Châu Châu Nhuận Phát sinh năm 1955, gốc người ‘bán du mục’ Hakka (Hẹ) Được ‘lăng xê’, lên như diều nhờ ở nhà đạo diễn tài ba John Woo Nổi tiếng nhất với các phim: Một ngày mai tươi sáng hơn (A better tomorrow), Sát nhân (The Killer), Thành phố bốc lửa (City

on Fire), Hongkong 1941, Câu chuyện Mùa Thu (An Autumn’s tale), Hard-boiled, Đã từng là ăn trộm (đóng chung với tài tử đoản mệnh: Leslie Cheung tức Trương Quốc Vinh), Sát nhân thay thế (Replacement Killers), Ngọa Hổ Tàng Long (đạo diễn Lý An – Ang Lee), Anna & Vua Xiêm (đóng chung với Jodie Foster) Đoạt giải Kim Mã của Đài Loan 1985 & 1987 Giải Đại Hội Điện Ảnh Á Châu Thái Bình Dương năm 1985 Từ chối vai trò Morpheus trong phim The Matrix (với Keanu Reeves, Laurence Fishburne)

Và trong năm 2004, Châu Nhuận Phát đóng một phim từng được quay đi quay lại nhiều lần: Hoa Mộc Lan Châu Nhuận Phát thành công trên nhiều vai trò khác nhau Vai hiền, vai ác, vai hài Rất nhiều vai trò Châu thủ diễn phải … chết trước khi vãn hát! Dáng bộ gần như chữ ký của Châu trong nhiều phim cho đạo diễn John Woo là Châu Nhuận Phát

ưa ngậm tăm xỉa răng Và chính John Woo đã rủ rê Châu Nhuận Phát đi Hollywood đóng phim [3]

Điểm hơi lạ: Họ Châu trong Châu Nhuận Phát luôn luôn được viết đúng ‘Châu’, y như cách viết và phát âm của người Hoa Áp dụng cho nhiều ngài khác lại không Khi thì Châu Ân Lai, lúc thì Chu Ân Lai, khi thì Đông Châu liệt quốc, rồi lúc Đông Chu liệt quốc Không biết đâu mà mò Lộn xộn như vậy thường khiến người Việt tưởng hai họ là một Muốn đánh vần hay đọc cách nào cũng được

Nhưng nếu tiếp tục tra cứu, bằng cách đơn giản: hỏi bất kỳ một người Hoa chính gốc nào

đó, ta sẽ thấy người Việt thường dễ nhầm những điểm căn bản sau đây:

Trang 3

(a) Họ Châu và Chu là hai họ hoàn toàn khác nhau, từ cách viết, phát âm đến ý nghĩa [Châu] mang nhiều nghĩa, nhưng nghĩa chính: cứu tế, hoặc: vòng, giáp đi một vòng Tuần lễ= Zhou, cuối tuần (weekend)= zhou mo [25] [Chu] mang nghĩa khác, nghĩa chính: Chu hồng, màu đỏ thắm Thường thường ‘Chu’ đi đôi với ‘ngọc’ Họ Châu xuất hiện ngay từ thời cổ đại, với nhà Tây Châu (1027-771 T.C.N.) rồi Đông Châu (770-221 T.C.N.) như trong ‘Đông Châu Liệt Quốc’ Những nhân vật nồi tiếng, thật cũng như tiểu thuyết, mang họ Châu (Zhou) gồm có: Châu Ân Lai (Tổng Lý Quốc Vụ Viện), Châu Nhuận Phát (tài tử Chou Yun Fat [1]), Châu Bá Thông (Xạ Điêu Anh Hùng), Châu Chỉ Nhược (Ỷ Thiên Đồ Long), v.v

Họ Chu (Zhu) cũng rất nhiều: Chu Nguyên Chương (Minh Thái Tổ), Chu Dung Cơ (Tổng Lý), v.v

(b) Người An-Nam ở Nam Hà có lẽ bởi kị húy chúa Nguyễn Phúc Chu (1691-1725), nên tống tất cả họ Chu sang Châu Người phía Bắc, ngược lại, thay đổi toàn bộ họ Châu qua Chu Mấy Thầy quốc ngữ ban đầu cũng bị lâm vào tình trạng lộn xộn bởi một số không được tinh tường về tiếng Hoa Hoặc họ bị sức ép của khối học trò đông đảo, không biết chữ Nho Họ dạy người nước Nam những sai lầm họ vướng phải về từ nguyên:

+ Một số từ đáng lẽ phải viết và đọc CHU, họ cho là Châu: Châu báu, Trân Châu Cảng, Bích Châu, viết và đọc thật đúng phải Chu báu, Trân Chu Cảng, Bích Chu

‘Chu’ (chứ không phải Châu) ở đây thường mang nghĩa ‘ngọc trai’ (pearl) [15]

+ Rất nhiều từ khác đáng nhẽ phải viết CHÂU, họ lại dạy ChU: Chu Kỳ, Chu vi, Chu toàn, Chu đáo, v.v Thật ra: Châu kỳ, châu vi, châu toàn, châu đáo, v.v theo đúng tiếng Hán

+ Nhưng cũng nên để ý: Những từ dùng Chu, như chu kỳ, chu vi, chu toàn, chu đáo,

… có vẻ những từ mới Xuất hiện sau thời chúa Nguyễn Phúc Chu, nên việc kị huý có

lẽ không còn nữa Nhưng cách dùng có vẻ thả cửa và lại không chính xác với từ

nguyên thủy chữ Hán Đáng lẽ dùng Châu

(c) Một điểm cần nhấn mạnh: “Học trò nước Nam từ bao nhiêu đời khi học tiếng Việt, chỉ

học B là B, và không bao giờ học B chính là dạng mới (quốc ngữ) của A cũ (Nôm)”,

Bởi vậy, nhầm lẫn về Châu/Chu cũng như bao nhiêu nhầm lẫn khác về V/W/By, về TR/Ch, về X/Th, về Liu/Lưu, về Dù hay Ô, Hoa hay Quả, v.v tiếp diễn từ đời này sang đời kia, và qua mặt được bao nhiêu học giả hàng đầu của nước Việt Nam Thí dụ: Trong quyển tự điển Hán Việt của Đào Duy Anh, ta thấy những từ kê khai dưới

‘Châu’ như: châu báu, châu ngọc, với từ Hán viết và đọc theo CHU (tức /Zhu/ trong

tự điển có pinyin) Và đúng ra phải viết theo CHU: chu báu, chu ngọc, Trân Chu

Cảng Ngược lại, dưới từ mục ‘Chu’ quyển tự điển lại kê khai tất cả những từ viết

theo Hán tự và đọc ‘Châu’ (tức /Zhou/): Chu kỳ, chu toàn Học giả Hoàng Xuân Hãn cũng không thoát được lộn xộn giữa Chu & Châu, có lẽ cho rằng tiền nhân trước thời quốc ngữ vẫn phát âm như vậy Họ Hoàng đã đưa vào quyển sách classic ‘Danh từ khoa học’ từ ‘Chu-Kỳ’, nhại theo lối phiên dịch trước đó của người Hoa cho từ khoa học: ‘cycle’ hay ‘period’ Đúng theo tiếng Tàu, ‘cycle’ hoặc ‘period’ đáng lẽ dùng Châu: Châu kỳ

Trang 4

Lộn xộn giữa Chu & Châu, cũng như dễ nhầm ‘Dù’ là lối gọi cây dù (umbrella) của người Nam bộ và ‘Ô’ là lối gọi của người phía Bắc [2], cho ta thấy những điểm đặc trưng trong việc ‘chuyển hệ từ Nôm đến quốc ngữ’ như sau:

(a) Việc phân cực kiểu Chu & Châu không mang tính nhất quán: Phía Bắc vẫn dùng Châu cho những sự vật không phải Họ, hoặc ngay cho tên người: Bích Châu, Hồng Châu, châu báu, Trân Châu Cảng,… Phía Nam vẫn dùng Chu cho: chu kỳ (danh từ khoa học), chu đáo, … (Cả hai phía đều không kiêng kị gì nữa hết sau khi Nguyễn

Huệ, rồi Nguyễn Ánh nhất thống sơn hà) Phía Bắc ưa dùng Ô cho umbrella nhưng vẫn dùng Dù cho: lính nhảy dù Phía Nam không dùng ‘Ô’ bởi đợt di tản chạy giặc

Mãn Thanh (1644) của người Phúc Kiến - tức những người nói ‘Ô-san’ để chỉ ‘dù che mưa’ - tập trung rất nhiều ở Bắc Hà, trong lúc đàng Trong hãy còn đất mới (Xem bài

2, 3 & 5)

(b) Việc lộn xộn ‘Chu & Châu’ và ‘Dù & Ô’ cho thấy những người xử dụng nó biết rất ít

hay không biết gì về chữ Hán Tức quốc ngữ đã đến với đông đảo khối quần chúng - trước khi đến với giới sĩ phu, hay được giới này chấp nhận Cũng bởi giới sĩ phu, chữ

nghĩa cùng mình, xử dụng quốc ngữ hơi muộn, họ bị sức ép của khối đa số trước đó

mù tuồng chữ Nôm-chữ Hán Thêm vào đó, giới thông thạo Hán-Nôm còn bị một ‘hội chứng panic’ của người bị trễ tàu: Họ phải học thật nhanh chữ quốc ngữ và đánh mất thói quen khắt khe so sánh ‘hư thật’: Dạng cũ của từ này là gì? Hồi trước đọc từ này theo Nôm theo Hán ra làm sao? Họ đều không có dịp kiểm chứng Hoặc cũng có thể, giới sĩ phu, và trí thức chưa được làm quen với tinh thần khoa học của Tây Phương

Và cũng có lẽ bởi họ đã khám phá ra tầm mức quan trọng của thứ chữ có thể đến với tuyệt đại đa số quần chúng - họ đã phải học chữ quốc ngữ thật nhanh

(c) Lộn xộn ‘Chu & Châu’ tiếp tục truyền sang đến thế kỷ 21 cũng cho thấy một thứ

‘truyền thống học hỏi’ một mặt vừa thực tiễn, một mặt thiếu tính khắt khe của khoa học Chung qui cũng bắt nguồn ở chỗ việc truyền bá kiến thức chịu ảnh hưởng từ chương của Nho phong, và cũng ở việc chữ quốc ngữ được dấu triện chuẩn nhận, bất đắc dĩ, của những nhà Nho cuối thế kỷ 19 Chuẩn nhận đó đã để trôi qua luôn câu hỏi

thiết yếu: B là B Nhưng B thật ra dùng để thay cho từ nào trong chữ Nôm? Thí dụ:

người học quốc ngữ chỉ biết ‘Vua, Voi’ được đọc ‘Vua, Voi’ (kiểu Bắc) và ‘Byua, Byoi’ (kiểu Nam) Nhưng thông thường, không một ai được chỉ dẫn tường tận rằng, tiền nhân ở nước An Nam, thế kỷ 18 trở về trước, đã phát âm ‘Byua & Woi’ Thí dụ khác: Người sinh trưởng phía Bắc khi di cư vào Nam sau năm 1954 thường lấy làm lạ tại sao ở phía Nam người ta gọi Hoa bằng Bông, và Quả là Trái Họ không được biết

cả Bông lẫn Trái xuất hiện từ thời Văn Lang, tại ngay đồng bằng Bắc bộ - và ngày nay ngài Mường hãy còn dùng (xem bài số 5) Cũng giống như lộn xộn giữa ‘Mập’ và

‘Béo’, giữa ‘Cây’ và ‘Gỗ’, xuất phát từ tiếng Mã Lai [3]

2 Bổ xung hay bổ sung

Đa số người Việt đều biết: Tại một số khu vực, đặc biệt phía Bắc, người ta có khuynh

hướng lẫn lộn phát âm giữa X và S Sự lộn xộn này rất có thể do việc tiếng Pháp thiếu

Trang 5

thốn hay ít dùng âm S phát âm như SH tiếng Anh (show, share, shine, etc) Và âm tiếng Hoa hay tiếng Nôm, cũng có lộn xộn giữa X và S

Dẫn chứng:

- Bởi trong tiếng Pháp S được đọc như X (Sans famille, la Seine), nên các Thầy quốc

ngữ ban đầu khi gặp phải âm S như suông sẻ, sắp sửa đi săn bắn, họ có khuynh hướng đọc lớ thành xuông xẻ, xắp xửa đi xăn bắn, do ở thói quen bẩm sinh với tiếng

mẹ đẻ Phát âm lớ giọng này sẽ được lớp học trò đầu tiên hấp thụ, và lan truyền đến

đời sau, đến những khu vực lân cận

- Mặt khác, ngay như trong đánh vần tiếng Nôm: âm S và X thường hoán chuyển, vay

mượn lẫn nhau [4], tức phát âm Nôm không có phân biệt /S/ và /X/:

+ Sướng= vay mượn từ tiếng Hán: Xướng, với phát âm bắt đầu bằng X

+ Suất= mượn từ tiếng Hán: Xuất, phát âm X

+ Xô (đẩy)= viết theo lối vay mượn từ Sô (vải sô - tiếng Nôm, có âm S)

+ Xỉ (vả)= viết theo Sỉ, âm S

+ Xẻ (chia xẻ)= viết theo Nôm: Phân (chia) + Sĩ => âm X (xẻ) vay mượn âm S (sĩ)

- Âm S tiếng Việt vẫn chưa có tương đương rõ rệt trong tiếng Hán (quan thoại), ngay

cả sau khi tiếng Hán có pinyin ghi âm theo chữ cái Latinh:

+ xã hội => she hui (X Việt = S Hán)

dụ khác: Sơn (núi)= Shan (quanthoại)= Xan (quảng đông)

- Tra quyển tự điển Mường-Việt, ta cũng thấy tiếng Mường hoàn toàn không có âm S (hay SH), giống tiếng Quảng Đông Thí dụ: soạn bài (V)= xãn bài (M); sáng kiến (V)= xảng kiển (M); sững (V)= xẫng (M); Xấu (V)= Xẩu (M); xoa bóp (V)= Xa Póp (M); trùm sò (V)= tlùm xó (M)

Tóm lại, việc lẫn lộn giữa X và S (bổ xung và bổ sung) là một hệ quả đương nhiên khi ta

để ý tiếng Pháp, tiếng Bồ Đào Nha, của các vị Thầy quốc ngữ ban đầu, không hề dùng S như SH, nhưng lại phát âm S như X Thêm vào đó việc ‘chuyển âm’ từ Hán sang Việt cũng gặp phải lộn xộn bất chợt tương tợ giữa X và S Trong lối ‘đánh vần’ tiếng Nôm cũng vậy Cũng có sự hoán chuyển, vay mượn lẫn nhau, giữa âm S và X Và cả tiếng Mường lẫn tiếng Quảng Đông đều chỉ có một âm X

Việc dễ nhầm trong phát âm giữa X và S có thể dựa vào một giả thuyết khác: Trong môi trường tiếng Nôm xưa cũ, phân biệt giữa âm X và S đã không được rõ ràng và tiếng Nôm

có lẽ chỉ có một âm, nằm đâu ở giữa X và S Y như tiếng Quảng Đông hay tiếng Mường, chỉ có mỗi một âm X mà thôi

Trang 6

Phân biệt X và S trong tiếng Việt – như đa số các phân biệt đề cập trong bài này – có lẽ được ‘điển chế’ với mục đích giải toả cảnh đồng âm dị nghĩa đầy dẫy trong tiếng Nôm Thí dụ: Xà, con rắn, đáng lẽ phải viết Sà theo tiếng Tàu, nhưng viết Xà để phân biệt với

‘sà sà én lượn’ Xẻ, trong nghĩa ‘xé’ hoặc ‘xẻ rừng’ hay ‘chia xẻ’, viết theo X để phân biệt với Sẻ, trong ‘chim sẻ’ - mặc dù dưới thời chữ Nôm, Xẻ đã được ‘đánh vần’ với âm

S (đọc Sẻ)

3 Tây Thi vừa tjầm mình vừa uống tchà

Nếu xem các băng nhạc video thực hiện, tại hoặc bên ngoài Việt Nam, người ta sẽ để ý những âm bắt đầu bằng TR, như Trần Trân Trọng, đều được phát âm như TCH: Tchần Tchân Tchọng Phát âm này rất gần giống với phát âm người Hoa: Chen Zhen Zhong Nhưng rất khác phát âm theo đánh vần ngôn ngữ Tây Phương như tiếng Anh, tiếng Pháp:

‘Lost in TRanslation’ [5]; TRop tard; TRès bien

Mặt khác, nếu tra cứu một quyển tự điển Mường [6], ta sẽ thấy tiếng Mường, tức giống

một dạng nào đó của tiếng Việt cổ, hoàn toàn không có âm đánh vần quốc ngữ bằng: TR

Y như chữ Nôm, tiếng Mường chỉ có âm TL, chứ không có TR Thí dụ:

tlước khây= trước khi; tlướng xỏm= trưởng xóm

Như vậy: Khi quốc ngữ chưa đến nước Nam, có hai nhóm phụ âm bây giờ đã hoàn toàn

biến dạng:

- Nhóm thứ 1: vay mượn từ tiếng Hoa, tương đương với pinyin /ZH/ như Zhong Guo

(Trung Quốc), Zhang Zi (Trang Tử), Zhong liang (trọng lượng)

- Nhóm thứ 2: những từ thuần Nôm như BLời, Klọn, Blăng, thường có âm thứ nhì L,

biến dạng thành TR: Trời, Trọn, Trăng

- Cả hai nhóm đều bị quốc ngữ ký âm lại thành /TR/ Phát âm phía Bắc thiên về ZH

kiểu Hoa, giữ vững lối phát âm xưa theo Nhóm 1, trong khi phát âm phía Nam

thường theo kiểu quốc tế /TR/ (trò TRung khoái cải lương), hoặc /CH/ (chò chuiện: trò chuyện)

+ Truyện: Zhuan (Hoa) biến thành Chuyện, giữ âm ZH hay CH

+ Truyền (chuyền): từ chữ Hán ‘Chuan’ Âm TR phía Bắc, trong ‘Truyền’ vẫn giữ

CH

+ Trương: Zhang (Hoa) Zhang: trang giấy, chương sách Zhang=> Trang=>

Trương=> Chương (chương sách)

Trang 7

+ Trương Mạn Ngọc, tức tài tử Maggie Cheung của Hongkong Trương là phiên âm tiếng Việt của Cheung (Hongkong) hay Zhang (Trang) theo quan thoại

+ Trọng lượng: zhong liang Phía Bắc đọc Tchọng lượng rất gần với âm Hán Phía Nam cũng có nơi phát âm: Chọng lượng Nhưng người thành thị chấp nhận kiểu Tây:

TRọng lượng, khác với lối phát âm xưa

+ Tru (tru di tam tộc/ giết cả 3 đời)= chữ Hán: Zhu có lối viết như Zhu trong Chu Nguyên Chương Viết [Tru] nhưng vẫn đọc /Chu/ hay /Zhu/, theo kiểu Hoa

- Ở nhóm thứ 2: Lối đánh vần bắt đầu bằng /TR/, và âm TR gây ra, hoàn toàn mới /TR/ dùng để thay thế một số từ Nôm có âm phụ L:

+ Trái= Ba + Lại (Nôm đọc Blái) Để đồng nhất: Phía Bắc mượn phát âm Hán: Tchái Phía Nam, thường TRái, và đôi khi Chái

+ Trọn (trọn vẹn)= viết theo chữ Nôm: Cự + Lòn (đọc KLọn theo Nôm) Phía Bắc: Zhọn hay Tchọn, vin theo lối đọc các từ Hán thuộc nhóm 1

+ Trăm (100)= Khẩu + Lâm (viết theo chữ Nôm), xưa đọc Klâm Nay đọc Zhăm (Tchăm) hay TRăm (chăm) Để ý thêm: âm Ă và Â vẫn lẫn lộn nhau trong chữ Nôm + Trăng= Ba + Lăng (Nôm), đọc BLăng thời Nôm, và phiá Bắc đọc Zhăng/Tchăng [Blăng] xuất phát từ tiếng Mã lai: [Bulang]

Trong lúc quan sát biến chuyển các từ ‘thuần Nôm’ mang dạng sau cùng TR (như ‘trăn trở’, con Trâu), ta có thể để ý tiếng Mường hiện nay vẫn chưa có âm /TR/, và còn giữ rất nhiều phát âm xưa, theo dạng /TL/:

- tlải tất= trái đất; tlal mãi= trai gái; tli wiễn= tri huyện; tlùm xó= trùm sò

- tlãm xả= trạm xá; tlăm thuối= trăm tuổi; tlời= trời (giống tiếng Nôm: Blời => tlời)

Như vậy, trong Việt ngữ, đối với các từ bắt đầu bằng TR: Nếu Hán-Việt, như ‘TRọng tâm’, lối đọc sẽ giữ kiểu đọc người Hán: Zhọng (hay TChọng) tâm Nếu thuần Nôm, thông thường biến dạng từ BL (Blời, trời), hay TL (tlàng, tràng), hoặc KL (klọn, trọn) - lối đọc bắt buộc phải vay mượn kiểu đọc người Hoa, cho thuần nhất: Zhời, zhàng, và zhọn

Âm /TR/ hoàn toàn là một âm ‘nhập khẩu’, ít nhất trong cách đánh vần, sang tiếng của người nước Nam Trước thời quốc ngữ, hoàn toàn không có âm này Và cũng như rất nhiều trường hợp - được sắp xếp theo hệ thống của loạt bài này – phát âm mỗi phía, Bắc hoặc Nam, chỉ đúng có phân nửa của nhóm từ Trong trường hợp âm /TR/ phát âm phía Bắc rất đúng với các âm của từ gốc Hán: Tchung quốc, Tchọng lượng, … Nhưng lại

không theo với đánh vần quốc tế của /TR/ như trong ‘Lost in TRanslation’

4 Wang Txuí Kiều

Trong một bài tới chúng ta sẽ khảo sát phát âm của những từ Việt gốc Hán, để đi đến một kết luận quan trọng: ‘Tiền nhân không hề phát âm toàn bộ các từ Việt gốc Hán theo như

Trang 8

ký âm của Hán-quốc-ngữ’ Nếu lấy một thí dụ tiêu biểu, có thể nói: Tiền nhân không hề

phát âm tên nhân vật chính trong truyện Kiều của Nguyễn Du là: Vương Thúy Kiều

Giống như âm /TR/, âm /TH/ trong tiếng Việt là một âm ‘bán ngoại lai’ Vào thời chữ

Nôm chưa hẳn có âm TH Chỉ có âm /T/ hợp với H-nhẹ như trong tiếng Tàu, và tiếng

Mường Một số từ Hán-Việt, ở thời tiếng Nôm, vẫn đọc theo kiểu Tàu, như Xuí (Thúy),

Xi (Thì), Xán (Sháng/ Thượng) Biến chuyển sang quốc ngữ đã biến luôn những từ gốc Hán như Xuí, Xi, Xán, thành ra âm bắt đầu bằng TH: Thúy, Thì, Thượng, v.v Âm TH cũng như âm TR hoàn toàn âm mới xuất hiện với thời kì quốc ngữ được phát triển Trong khi âm /TR/ tương đươngvà thay thế cho /ZH/ tiếng Hán, TH thay cho SH, TX (pinyin C),

CH hoặc Q

Dẫn chứng:

- Trong tiếng Tàu, từ nào viết theo pinyin bắt đầu bằng T thường đọc như T hợp với âm H-nhẹ Sang tiếng Việt, đổi thành TH: tian qi= thiên khí= thời tiết; tu zi= thỏ; tan ming= tham danh; ta= tháp; tuo dang= thỏa đáng

- Tự điển Mường Việt cho thấy một số từ mang lối đánh vần ‘th’, tương đương với T tiếng Việt Chứng tỏ ngày trước âm /TH/ đã có sẵn nhưng không phát âm hoàn toàn như TH ngày nay Hoặc quốc ngữ đã bỏ đi bớt âm /h/ để giải toả bớt cảnh ‘đồng âm khác nghĩa’: thìm hiếu (M)= tìm hiểu (V); thiểng (M)= tiếng (V); thết (M)= Tết (V); thắc mây (M)= tóc mây (V)

- Tự điển tiếng Mường cũng cho thấy âm TH có sẵn, thường với những từ không phải gốc Hán: thuốc= thuốc; thủng= thúng; thua tlẫn= thua trận

- Một quyển tự điển chữ Hán sẽ cho thấy: đa số các âm bắt đầu bằng /SH/ hay TX (thật

ra pinyin viết /C/: cui= thúy), hoặc /CH/, đôi khi /JI/, thường biến ra TH, khi chuyển sang quốc ngữ:

+ can mou= tham mưu

+ Qing= thanh (nhà Thanh, thanh niên)

+ Xiao Jie= Tiểu Thư

- Tra một quyển tự điển chữ Nôm [5], ta sẽ thấy nhiều từ ngày nay đánh vần với TH, trong thời tiếng Nôm được ký âm với âm X:

Trang 9

+ Xống (xống áo)= viết theo chữ Nôm: mượn từ Hán Việt THống

+ Xối (xối nước)= theo Nôm: Thủy + THối X (xối) mượn âm của THối (thúi) Trong

khi Thối viết theo pinyin của quan thoại là Chou

- ĐẶC BIỆT: Quyển ‘Tiếng Việt Tuyệt Vời’ [8] ghi nhận một vài khu vực ở phía Bắc,

người ta phát âm lẫn lộn /TH/ với /S/ (hay /X/) như: ‘mưa như xế mà ra thân xì xế

nào cũng cảm mất xôi’ => ‘mưa như thế mà ra sân thì thế nào cũng cảm mất thôi’

/Xế/ => /Thế/ /Thân/ => /sân/ Việc này chứng tỏ rất rõ: Phát âm X hay SH thường lẫn lộn hoán chuyển với TH Việc thay thế TH bằng X tại một số địa phương phía Bắc cho thấy âm X (hay SH) chính là âm còn sót lại của thời tiếng Nôm xa xưa Chính quốc ngữ đã biến đổi một số âm X (hay SH) xa xưa đó thành ra TH

- Trong quyển ‘Hành Trình Nhật Ký’ viết vào khoảng 1924, Phạm Quỳnh [9] có dùng

chữ ‘SẤT’ thay vì ‘THất’: ‘sất phu’ thay vì ‘thất phu’ Âm /TH/ vẫn chưa hoàn toàn

thay thế âm /S/ của tiếng Nôm Tức, đối với Phạm Quỳnh, thay thế ‘Sất’ bằng ‘Thất’ chưa thành một thói quen Cũng có nghĩa, ở thời chữ Nôm, không có âm /TH/ mà chỉ

có một số âm liên quan mật thiết với âm /X/ hay /S/

- Để ý đến âm Hán Việt /Thanh/, dùng chỉ ‘màu Xanh’ Có hơn một sự trùng hợp cho thấy ‘Xanh’ chính phát âm xưa của ‘Thanh’

- Thêm một điểm ngồ ngộ đáng lưu ý: Nước Myanmar, tức ngày trước thường được gọi Miến Điện, gần đây có cải biến ngôn ngữ nước họ Nhất là đối với nhiều từ được phiên âm sang a-b-c bởi người Anh Gần như những lộn xộn dễ nhầm trong tiếng Việt đều được phản ánh qua tiếng Miến:

Rangoon (thủ đô) => đổi thành: Yangon

Pegu => Bago

Pagan => Bagan: Âm /P/ và /B/ thường bị lẫn lộn trong môi trường tiếng Miến, không dùng chữ cái a-b-c

Tavoy => Dawei: Âm /T/ hoán chuyển với /D/ như trình bày trong bài 6

Đặc biệt: Bassein => Pathein, và Salween => Thanlwin: Âm /S/ cũ được chuyển

sang /TH/ y như quốc ngữ dùng /TH/ cho một số âm Hán /S/, /X/, /SH/, /TX/ hay /C/, v.v

Tóm lại âm /TH/ tuy sẵn có trong tiếng Nôm, nhưng được gia tăng rất nhiều sau khi quốc ngữ phát triển, bằng cách thay thế một số từ có âm bắt đầu bằng X (hay SH) thành ra /TH/ Tuy nhiên ta có thể để ý X (hay SH) biến sang TH ít gây xáo trộn và đảo lộn bất thường như BL, KL, TL và ZH chuyển sang /TR/, hay /By/ & /W/ bị tống hết vào /V/

Do đó, Vương Thúy Kiều vào thời đại Nguyễn Du (khoảng thế kỉ 18 – sang 19) rất có thể hãy còn được phát âm như: Uuan TxuÍ Kiều (Wang Cui Qiao, quanthoại)

5 Anh nàam gì xế?

Ở một vài khu vực phía Bắc, có khuynh hướng phát âm: ‘Anh làm gì thế?’ nghe như

‘Anh nàam gì xế?’ ‘Thế’ phát âm như ‘xế’ đã được phân tích phía trên Bây giờ hãy xem

âm /N/ và /L/

Trang 10

Phát âm lẫn lộn giữa những từ bắt đầu bằng N và L, tại một số khu vực phía Bắc, cũng

do ở tác động của quốc ngữ Ở môi trường tiếng Nôm xưa, hoàn toàn không có sự phân biệt giữa âm N và L Giống y như tiếng Quảng Đông ngày nay

Trong thí dụ sau, người ta thường nhầm đó phát âm địa phương:

Chim hót níu no / Ở Hà Lội người ta lói lăng khéo nắm THAY VÌ:

Chim hót líu lo / Ở Hà nội người ta nói năng khéo lắm

Cũng lại một hiện tượng biến đổi từ Nôm sang quốc ngữ!

• Dẫn chứng 1: Hỏi một người Hongkong hoặc Quảng Đông làm ơn phát âm tên nước Việt Nam? Đa số họ sẽ nói ngay: Yuệt Làm / L (Lam) thay vì N (Nam) Một số khác cũng có thể phát âm: Yuệt Nàm Nhưng đa số thường nói: Yuịt Làm Tức lẫn lộn giữa

N và L đã có hỗ trợ của hàng triệu người Hoa gốc lưỡng Quảng và Hongkong

• Dẫn chứng 2: Xin thử phát âm LAM và NAM Ta để ý vị trí lưỡi, họng và môi trong lúc phát âm Lam và Nam: gần như y hệt nhau! Vị trí lưỡi chạm vào họng phía trên lúc phát âm Làm và Nàm gần như một chỗ Đánh lưỡi cho âm N có thể sâu hơn vào trong một tí xíu Ta có thể suy đoán, người nói tiếng Nôm không hề biết N và L, hay toàn

bộ chữ cái a-b-c Và họ không hề phân biệt âm nào là N hoặc âm nào phải L Y hệt như người Quảng Đông ngày nay, bởi tiếng Quảng ít khi được a-b-c hoá cho người bản địa Hay người Quảng thường học nói tiếng Quảng trực tiếp chứ không qua bước trung gian A-B-C Thật ra không phải chỉ người Quảng, mà người Taiwan, người Phúc Kiến, Triều Châu, Hải Nam, cũng đều giống như vậy Họ không bao giờ, hay rất

ít khi, học tiếng mẹ đẻ của họ qua môi trường A-B-C Cũng thật ra phiên âm pinyin cho tiếng quan thoại chỉ phổ thông đối với người nước ngoài Người bản địa Trung Hoa ít ai biết và dùng quan thoại pin-yin quan thoại Chính pinyin dựa trên a-b-c mới

có phân biệt các nhóm âm: /t/, /d/, /n/ hay các nhóm âm: /r/, /l/, /n/ Thí dụ: Phiên âm kiểu Wade Giles cho Mao Trạch Đông và Đặng Tiểu Bình: Mao Tse Tung & Teng Hsiao Ping Pinyin lại phiên âm, dùng /D/ thay /T/: Mao Ze Dong & Deng Xiao Ping

• Dẫn chứng 3: Lộn xộn giữa các âm /t/, /d/ & /n/ hoặc nhóm /r/, /l/, /n/ hay nhóm /b/, /p/ & /m/ vẫn thường xảy ra trong các ngôn ngữ xưa nay chỉ dùng phiên âm a-b-c như một thứ phụ Từ điển Mường cho thấy:

- Đác (M)= Nác (nước) (V) => /Đ/ lẫn lộn với /N/

- puối chỡ (M)= buổi chợ => /p/ với /b/

- puồng thổi (M)= buồng tối

- tền thờ (M)= đền thờ => /t/ lẫn với /đ/

- ti tải (M)= đi đái

Những thí dụ khác:

- /L/oger Moore= /R/oger Moore, bởi người Nhật, trong ‘Lost in Translation’ [11]

- Quảng Đông phát âm Yuệt Làm hay Yuệt Nàm lẫn lộn nhau và … không sao hết

- Zhớ lị= Sự vật này, theo quan thoại Nhưng Hải Nam đọc ‘zhớ’ nị Mường dùng ‘NI’

- Người: tiếng Mả Lai= Ourang Chuyển sang tiếng dân tộc ít người: Olang hay Ulang

Qua Phúc Kiến => Nang N đã thay cho L (xem bài 5)

• Dẫn chứng 4: lật quyển tự điển chữ Nôm [4], ta có thể tìm thấy:

Trang 11

- Nương (nương tựa)= Thủ + Lương (âm N viết theo L)

- Lom (lom khom)= Thân + Nam (âm L viết theo N)

• Dẫn chứng 5: Phát âm giữa L và N rất khó phân biệt trong tiếng Nôm đến nỗi một vài biến chuyển qua lại trở nên ‘bình thường’ qua cách kèm thêm chữ H:

- Lầm= Ngộ + Nhâm (âm L dựa trên Nh) / Nhầm= Khẩu + Lâm (đọc Lầm)

- Nhạt= Thủy + Lạt (Nh dựa L) / Nhanh= âm Hán: Linh (tức đọc Lanh)

• Dẫn chứng 6: Nguyễn Thị Chân Quỳnh [26] trong một chương về tướng Nguyễn Hữu

Chỉnh (1741-1788) có ghi việc không dứt khoát giữa âm /L/ và /N/: “(Nguyễn) Huệ

chiếm được Phú Xuân dễ dàng, nhanh chóng, một phần nhờ mưu kế của Chỉnh

Thắng trận rồi, Huệ dự tính sửa địa giới cũ ở Na-hà (có chỗ chép là La-hà, ranh giới

Nam Bắc) nhưng Chỉnh khuyên nên thừa thắng tiến ra Bắc.”

Cũng theo ghi chú [26], Thầy Cả P Bỉnh (xem bài 1) trong ‘Sách Sổ Sang Chép các

việc’ (1822) có viết: ‘Về giáo dục thì trẻ em nên 5, nên 6 cho đi học.’

• Dẫn chứng 7: Để ý Đài Loan mặc dù vẫn dùng quan thoại, nhưng không thích dùng pinyin của lục địa bởi pinyin xài a-b-c Pinyin của người Taiwan có vẻ chính xác hơn: Dùng trên dưới 30 ký âm cơ bản viết theo lối đơn giản nhất của chữ Hán Giống như kiểu Hiragana hay Katakana của Nhật Chứ không dùng a-b-c Đối với những tiếng có

phiên âm không bị lệ thuộc vào a-b-c Hoán chuyển qua lại giữa /l/, /n/ & /d/ hoặc

các nhóm khác…là một chuyện rất bình thường, được xem như hoàn toàn không hề xảy ra, không có vấn đề

• Dẫn chứng 8: Tình hình tiếng Việt hoàn toàn ngược lại với tiếng các nước vẫn dùng căn bản Hán tự: Ở tiếng Việt, căn bản Hán tự (tức chữ Nôm) hoàn toàn biến mất! Còn lại và được xử dụng chính thức là một hệ thống pinyin (phiên âm), ít ai, nếu không nói không một ai biết nó phiên âm từ những từ nào Rất ít ai biết được phát âm

nguyên thủy các từ đó ra sao? Hệ thống phiên âm đó chính là quốc ngữ Cố gắng truy tầm khuôn khổ và cách thức phát âm nguyên thủy tiếng Việt trước thế kỷ 18, chính là một trong những đề mục chính của loạt bài này

Xem kỹ các dẫn chứng trên, và đặc biệt để ý trước khi có quốc ngữ, người An-Nam không thể phân biệt L và N, bởi họ chưa biết a-b-c Họ chỉ đưa lưỡi vào một vị trí nào đó của họng và phát âm lên, thí dụ Nói và Lói Sự lẫn lộn giữa L và N hoàn toàn không có trong môi trường tiếng Nôm Nó chỉ xuất hiện bởi các giáo sĩ, có lẽ vớI dụng ý giảI tỏa nạn ‘đồng âm dị nghĩa’ đã đặt để một số âm và từ sang /L/, một số từ khác thành /N/ Hậu quả: người ở vài khu vực phía Bắc vẫn bị lộn xộn bởi quốc ngữ, khi phát âm các từ ký

âm bắt đầu bằng L hay N

Tác động này cũng có thể gây ra bởi ‘tình huống’ những lớp học thuở ban đầu Có thể lớp học bị gián đoạn bởi ruồng bố của quân lính triều đình ngăn cấm đạo Ki-Tô Hoặc một hai vị Thầy đã bị bắt bớ, hoặc vì lí do nào đó không còn tiếp tục dạy quốc ngữ cho

Trang 12

nhiều nhóm người thuộc các khu vực phụ trách Hay bởi những vị Thầy không chú tâm nhiều đến các phân biệt mới do quốc ngữ mang đến, hoặc đã dễ dãi để học trò duy trì các lối phát âm xưa cũ

Phân biệt các từ đánh vần bắt đầu bằng L hay N, do đó lại có tính cách cưỡng ép thay đổi, theo đòi hỏi của quốc ngữ để phân biệt rất nhiều từ trong tiếng Nôm mang tính đồng

âm khác nghĩa Hoặc để giải tỏa bớt một số rất nhiều từ mang âm giống nhau Thí dụ: nói năng và le lói / lên đàng và nên người / ăn năn và lăn lóc, …

Tóm tắt: Trong môi trường chữ Nôm, hoàn toàn không có phân biệt giữa âm /L/ và /N/

6 Tôi và Tui

Xin nhắc lại: Lộn xộn giữa âm /N/ và /L/ hoàn toàn gây ra bởi tác động của quốc ngữ Trong một môi trường ‘thuần Nôm’ trong đó không có bóng dáng của mớ chữ cái a-b-c, việc phát âm qua lại giữa /L/ và /N/ là một việc hết sức tự nhiên Người Hoa tại tất cả các khu vực hoàn toàn không có ý thức mạnh về vấn đề này Đặc biệt người Quảng Đông, Hải Nam, Phúc Kiến thường phát âm thả cửa, khi thì /N/ => Nị hẩu ma? (Anh có khoẻ không), khi thì /L/ => Lị hẩu ma? Lý do chính: tiếng của họ vẫn dựa chính yếu vào từ viết bằng chữ Hán Và không có bộ phiên âm pinyin chính thức cho tiếng ‘phương âm’ của họ Mỗi sách giáo khoa về tiếng Quảng Đông dành cho người nước ngoài dùng một kiểu phiên âm khác nhau Quan thoại lại khác, có pinyin chính thức và được phổ biến nhiều hơn, nhất là đối với giới có học Tiếng Việt còn khác hơn tất cả các thứ phương âm tiếng Tàu, hay tiếng Nhật, tiếng Hàn Bởi ở chỗ nó xuất phát từ … một thứ chữ Nôm Thứ chữ Nôm này:

• Thời nó còn thịnh hành: ít người biết tuồng chữ, và xử dụng thuần thục Mỗi làng có

độ một hai vị thạo chữ Nôm Đa số: mù chữ

• Chính nó không được định chế đàng hoàng Mỗi một từ có ít lắm 3 lối viết khác nhau

• Nó cũng không phải là ngôn ngữ chính thức trong việc khoa bảng và hành chánh

• Và rất đặc biệt: Khi quốc ngữ đến thay thế chữ Nôm, nó biến đi đâu mất tiêu!

Từ những đặc tính kể trên, có thể suy ra rất nhiều hệ luận Nhưng quan trọng nhất, những người thông thạo chữ Nôm ngày nay, thường thiếu thốn một dụng cụ nghiên cứu hữu hiệu: ‘tinh thần và phương pháp khoa học của Tây phương’

Rất nhiều ‘lộn xộn’ rất cơ bản rất đương nhiên, gây ra trong việc chuyển hệ từ một môi trường dùng ‘nguyên tự’, như chữ Nôm / Hán tự, sang quốc ngữ, dựa trên ráp chữ a-b-c, những nhà Nho học hay Nôm học vẫn thấy lúng túng như thường Cách dễ nhất và thông thường nhất là cứ cho ‘khác biệt đó do ở … phương ngữ’ gây nên

Tiêu biểu trong những lộn xộn này: /L/ và /N/ như đã ghi ở trên

Ngoài ra còn một lô thí dụ khác:

Trang 13

• Phân biệt /Đ/ và /N/: Mường: đác; Việt: nác (một vài nơi ở bắc Trung bộ) Nhiều nơi khác: nước

• Phân biệt /Đ/ và /T/: Lộn xộn trong Hoa ngữ nhiều hơn ‘Mao Tse Tung’ trong phiên

âm Wade Giles, nhưng ‘Mao Ze Dong’ trong pinyin Nhưng đối với người Hoa, không thành vấn đề bởi họ vẫn dùng hệ thống ‘nguyên tự’

• Phân biệt giữa nguyên âm /U/ và /O/ Xin vào chi tiết như sau

Một trong những kết luận quan trọng của loạt bài này: Đa số các ‘lộn xộn’ trong tiếng Việt đều phản ánh ‘lộn xộn’ tương tự trong tiếng Hoa Thí dụ: Hoa cũng có lộn xộn giữa /W/: Wân (mây, quảng đông) và /Y/: Yun (mây, nhiều nơi khác) Cũng có lộn xộn giữa /J/: Jzuan Fen (duyên phận, Hải Nam) và /Y/: Yuan Fen (Bắc Kinh) Biến đổi theo vùng giữa âm /IU/: Andy Liu (Triều Châu, quan thoại) và /AU/: Andy Lau (Quảng Đông) Và

có biến chuyển giữa âm /U/ và /O/: Họ ‘Tô’ quảng đông gọi ‘So’, quan thoại phát âm

‘Su’

Âm /u/ và /o/ không có phân biệt trong môi trường Hán-Nôm Thêm vài thí dụ:

• ‘Ông’ (Mr) xuất từ tiếng Quảng Đông: Yung, quan thoại đọc: Weng ‘Yung’ quảng đông bị lột /Y/ thành: Ung Ung => Ông, do phân biệt đặt ra bởi quốc ngữ [19]

• Sông: từ ‘thuần Nôm’ xuất phát từ tiếng Mã Lai: Sunga Âm /u/ biến sang /ô/ Những hoán chuyển khác: tui => tôi; thối => thúi; rún => rốn; thụ => thọ (chịu) [13]; gong (quảng đông) => cung (cây cung); mooi (mũi - quảng đông) => mỗi; kung-fu (quảng đông) => công phu; kung => công (tác); v.v Đặc biệt:

• Vui= vui vẻ Thời chữ Nôm, đọc: Byui Nhưng /y/ bị loại bỏ ngay từ thời tự điển của Alexandre de Rhodes (1651): [Byui] => [Bui] [Bui] lại biến chuyển qua lại với [Bôi],

và tự điển chữ Nôm viết [Bui]= dựa theo âm và cách viết của [Bôi]

[Vui]= viết y theo [Bui]= [Khẩu] + [Bôi] (ý: miệng cười ‘bôi bẻ’ {vui vẻ}), hoặc: [Bui]= [Tâm] + [Bôi] (ý: tâm hồn vui vẻ)

Hương Giang Thái Văn Kiểm [10] trong câu chuyện gốc tích ‘cầu Bông’, có ghi nhạc phụ vua Minh Mạng là Hồ văn Vui – cũng có tên khác: Hồ văn Bôi Rất rõ: Thời đó, phát âm hãy còn theo dạng Nôm: Hồ văn Byui (hay Bui) và ‘Bui’ trong môi trường Nôm, không phân biệt với: ‘Bôi’

• Tra một quyển tự điển chữ Nôm [4], ta thấy gần như tất cả các âm /u/ và /ô/ ưa biến chuyển qua lại và dựa vào nhau:

Cút = viết theo [Cốt], hoặc= [khẩu] + [cốt]

Phui= [Khẩu] + [Phối]

Âm /o/ và /ô/ cũng vậy Thường thường không, hoặc rất khó phân biệt dưới chế độ chữ Nôm: [toán cọng] & [toán cộng] Tương tự, rất khó phân biệt [Nhứt] và [Nhất], [cày bừa]

Ngày đăng: 02/11/2016, 21:12

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w