1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đề xuất phương pháp hiệu quả cho chương trình tiếng Anh phổ thông

31 498 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 31
Dung lượng 1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trang chủSản phẩmPhương pháp họcPhương pháp học263 Đề xuất phương pháp hiệu quả cho chương trình tiếng Anh phổ thôngTên sản phẩm: 263 Đề xuất phương pháp hiệu quả cho chương trình tiếng Anh phổ thôngTác giả: Ngô Tùng DươngTên đơn vị: Hải DươngSố lượt bình chọn: 8Giới thiệu về sản phẩm:Mã xác nhận: Đổi mãChia sẻ với bạn bè qua: Chi tiết sản phẩmHiện nay, Tiếng Anh đang trở thành một trong những chìa khóa hiệu quả nhất trong việc kết nối với thế giới và phát triển bản thân. Trong thời kì hội nhập sâu, Tiếng Anh trở thành tiêu chuẩn gần như bắt buộc với mỗi công dân Việt Nam. Vì thế ngay từ nhiều năm trước khi tiến vào hội nhập với thế giới, Bộ Giáo dục và đào tạo nói riêng và Chính phủ nước ta nói chung đã rất chú trọng vào việc phổ cập hóa ngôn ngữ Anh trong toàn dân, cụ thể nhất là việc đưa vào giảng dạy môn Tiếng Anh từ các cấp tiểu học và đang dần đưa môn học xuống các độ tuổi nhỏ hơn, nhằm chuẩn bị cho các công dân mới các kĩ năng cần thiết trong việc giao tiếp quốc tế. Mục tiêu đó được cụ thể trong đề án Dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân (20082020). Như vậy phổ cập Tiếng Anh là hướng đi đúng đắn của chính phủ ta.Tuy nhiên nhìn vào thực trạng việc học tiếng Anh hiện nay, chúng ta thấy có nhiều vấn đề lớn. Cụ thể nhất là việc môn Tiếng Anh là môn thi có số thí sinh trên điểm trung bình thấp nhất trong các môn của kì thi THPT Quốc gia 2016 (với 90% số thí sinh dưới điểm trung bình là 5) . Đó là một dấu hiệu của việc dạy và học tiếng Anh phổ thông đang có vấn đề. Ngoài ra, chúng ta không khó để bắt gặp các bài báo và những lời phê bình gần đây rằng học sinh Việt Nam có kĩ năng giao tiếp bằng tiếng Anh khá kém, thiếu tự tin và đáng buồn là môn tiếng Anh trong nhà trường được một bộ phận lớn học sinh coi là môn học khó và muốn tránh nhất.Nắm bắt khái quát các vấn đề trên, trên phương diện là một người học và nghiên cứu ngôn ngữ, tôi có nguyện vọng góp ý thay đổi căn bản quan điểm và cách học môn tiếng Anh – hay chính xác là ngôn ngữ Anh cho học sinh nói riêng và cộng đồng nói chung, dựa trên quá trình tôi tìm hiểu từ thực tiễn các nghiên cứu khoa học.

Trang 1

Ngô Tùng Dương

Trang 2

MỤC LỤC

MỤC LỤC 2

MỞ ĐẦU 3

TÓM TẮT 4

1 Khái quát nội dung 4

2 M ục tiêu 4

CHI TIẾT ĐỀ TÀI 5

I Một số vấn đề về chương trình và phương pháp học 5

1 Khái quát về quá trình dạy và học tiếng Anh hiện nay ở nước ta 5

2 Phương pháp truyền thống 7

II Các phương pháp mới 10

1 Phương pháp tiếp cận trực tiếp 10

2 Phương pháp tiếp cận qua ngữ liệu dễ hiểu 11

3 Phương pháp phản hồi tổng hợp 15

4 Phương pháp kể chuyện 16

5 Tổng kết các phương pháp mới 19

III Xây dựng một mô hình tiếng Anh trường học mới 20

1 Khái quát đề xuất 20

2 Chi tiết đề xuất 22

IV Tổng kết 30

CÁC TÀI LIỆU ĐƯỢC DÙNG 31

Trang 3

MỞ ĐẦU

Hiện nay, Tiếng Anh đang trở thành một trong những chìa khóa hiệu quả nhất trong việc kết nối với thế giới và phát triển bản thân Trong thời kì hội nhập sâu, Tiếng Anh trở thành tiêu chuẩn gần như bắt buộc với mỗi công dân Việt Nam Vì thế ngay từ nhiều năm trước khi tiến vào hội nhập với thế giới, Bộ Giáo dục và đào tạo nói riêng và Chính phủ nước ta nói chung đã rất chú trọng vào việc phổ cập hóa ngôn ngữ Anh trong toàn dân, cụ thể nhất là việc đưa vào giảng dạy môn Tiếng Anh từ các cấp tiểu học và đang dần đưa môn học xuống các độ tuổi nhỏ hơn, nhằm chuẩn bị cho các công dân mới các kĩ năng cần thiết trong việc giao tiếp quốc tế Mục tiêu đó được cụ thể trong đề án "Dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân (2008-2020)" Như vậy phổ cập Tiếng Anh là hướng đi đúng đắn của chính phủ ta

Tuy nhiên nhìn vào thực trạng việc học tiếng Anh hiện nay, chúng ta thấy có nhiều vấn đề lớn Cụ thể nhất là việc môn Tiếng Anh là môn thi có số thí sinh trên điểm trung bình thấp nhất trong các môn của kì thi THPT Quốc gia 2016 (với 90%

số thí sinh dưới điểm trung bình là 5) Đó là một dấu hiệu của việc dạy và học tiếng Anh phổ thông đang có vấn đề Ngoài ra, chúng ta không khó để bắt gặp các bài báo và những lời phê bình gần đây rằng học sinh Việt Nam có kĩ năng giao tiếp bằng tiếng Anh khá kém, thiếu tự tin và đáng buồn là môn tiếng Anh trong nhà trường được một bộ phận lớn học sinh coi là môn học khó và muốn tránh nhất

Nắm bắt khái quát các vấn đề trên, trên phương diện là một người học và nghiên cứu ngôn ngữ, tôi có nguyện vọng góp ý thay đổi căn bản quan điểm và cách học môn tiếng Anh – hay chính xác là ngôn ngữ Anh cho học sinh nói riêng

và cộng đồng nói chung, dựa trên quá trình tôi tìm hiểu từ thực tiễn các nghiên cứu khoa học

Trang 4

TÓM TẮT

1 Khái quát nội dung

a) Phân tích các nhược điểm của phương pháp học truyền thống

b) Trình bày các phương pháp mới:

- Phương pháp tiếp cận trực tiếp (Direct Method)

- Phương pháp tiếp cận ngữ liệu dễ hiểu (Comprehensible Input)

- Phương pháp kể chuyển và phản hồi thể chất (TPR - TPRS)

Ngoài ra tôi sẽ phân tích thêm vai trò của yếu tố tâm lí trong quá trình học

c) Đưa ra mô hình chương trình tiếng Anh mới

2 Mục tiêu

- Thay đổi quan niệm về cách học ngôn ngữ

- Nhấn mạnh vai trò của yếu tố tâm lí

- Áp dụng các phương pháp có cơ sở khoa học và nghiên cứu từ thực tiễn

- Thay đổi cách nhìn của học sinh trong môn tiếng Anh nhà trường, cải thiện trình độ tiếng Anh theo hướng gắn với thực tiễn và khả thi hơn

Trang 5

CHI TIẾT ĐỀ TÀI

I Một số vấn đề về chương trình và phương pháp học

1 Khái quát về quá trình dạy và học tiếng Anh hiện nay ở nước ta

Như đã đề cập, môn tiếng Anh đã được phổ cập xuống cấp tiểu học và đã có nhiều trường thực hiện dạy tiếng Anh cho học sinh ngay từ lớp 1 Tôi đồng ý rằng đây là hướng đi đúng đắn, vì khi các em nhỏ được học tiếng Anh từ sớm, các kĩ năng sẽ được hoàn thiện tốt hơn Chúng ta cũng thấy những năm gần đây, sách giáo khoa tiếng Anh cho học sinh tiểu học và trung học đang được thay đổi khá nhiều và đã tích hợp nhiều hơn các kĩ năng giao tiếp Trình độ các giáo viên cũng cải thiện đáng kể khi nhiều lớp học đã sử dụng đa phần thời gian là ngôn ngữ Anh, tạo cho các em một môi trường gần với thực tế hơn Những trường chất lượng cao còn tích hợp ngoại ngữ trong các bộ môn, đem đến những hiệu quả tích cực cho kết quả học tập chung Vậy ta có thể khẳng định là chất lượng chương trình và giáo viên tiếng Anh đang từng bước cải thiện và đây là chủ trương hoàn toàn đúng đắn của

bộ Giáo dục

Trái lại, với số liệu gần đây nhất về số học sinh dưới điểm trung bình môn tiếng Anh trong kì thi THPT quốc gia 2016 mà tôi đã nhắc đến, việc dạy và học tiếng Anh dường như không đi cùng với các bước cải thiện trên Tôi sẽ đánh giá lí do qua hai mặt sau

Thứ nhất, việc dạy học của chúng ta đang có vấn đề Thực trạng chung của các lớp tiếng Anh trong nhà trường hiện nay là việc hạn chế rất nhiều phần kĩ năng giao tiếp (nghe, nói) Chương trình của sách giáo khoa (SGK) tích hợp cả bốn kĩ năng Nghe – Nói – Đọc – Viết, nhưng thực tế thì các giáo viên không dành nhiều thời gian cho hai kĩ năng giao tiếp, mà thay vào đó là các bài tập ngữ pháp, bài viết luận đơn thuần Các tiết Nghe – Nói dù đã theo phân phối chương trình, song nhiều giáo viên chỉ đảm bảo 50% giờ học là luyện giao tiếp, thời gian còn lại của tiết học vẫn là các bài tập viết Chưa kể đến việc khoảng thời gian cho các bài tập Nghe – Nói không

Trang 6

được khai thác hiệu quả Ví như học sinh chỉ được nghe qua bằng đĩa một vài lần trong khoảng thời gian ngắn để làm bài tập, chứ không thường xuyên sử dụng các bài tập giao tiếp đã được thiết kế trong sách Hệ quả là tiết học không khác nhiều tiết ngữ pháp thông thường

Thứ hai, về phía các học sinh, các em không thực sự tỏ ra hứng thú với môn học này Trong mỗi lớp học thường chỉ có một tỉ lệ học sinh cảm thấy hào hứng học, tỉ lệ còn lại thì chiếm đa số Điều này xảy ra phổ biến ngay cả những lớp của trường chuyên, và còn nhiều hơn ở các trường thuộc vùng huyện, vùng trung du Vì thế điểm trung bình học kì môn tiếng Anh khá thấp ở đa số địa phương Song song với

đó, chúng ta thấy rất ít những học sinh có khả năng giao tiếp tự tin, sử dụng tiếng Anh cơ bản thành thạo Số lượng có kĩ năng thì đều từ quá trình đi học ở các trung tâm ngoại ngữ ngoài nhà trường Đa phần các em đều thấy lúng túng khi gặp người nước ngoài và thiếu tự tin ngay cả việc dùng tiếng Anh với nhau trong những câu chào đơn giản Ta còn thấy là với những học sinh định hướng thi khối A1 (Toán – Lý – Anh) của kì thi đại học và THPT quốc gia, cũng cảm thấy áp lực và chán nản khi phải học Các em chỉ định hướng học để qua một kì thi chứ chưa đặt mục tiêu rõ ràng là học để có thể sử dụng một ngôn ngữ

Nguyên nhân cho thực trạng đáng buồn này mà theo tôi, bắt nguồn từ việc định hướng nội dung giảng dạy và tư tưởng về tiếng Anh Chương trình của chúng ta dù

có đủ các kĩ năng, song thiếu tính thực tiễn vì chưa gắn với quá trình học một ngôn ngữ Bởi ngôn ngữ không đơn thuần là một danh sách các thứ cần học và có thể học trực tiếp qua từng bài giảng Việc học ngôn ngữ Anh của ta gần với việc học một môn khoa học gồm có lí thuyết, bài tập và ghi nhớ bằng cách học thuộc Chính điều này dẫn tới cách dạy và học gắn liền với kiểu kiểm tra kiến thức của một môn khoa học Do đó ngay từ thời gian bắt đầu học, học sinh được định hướng tư duy học theo hệ thống bài tập của một bài kiểm tra Và chính từ định hướng học để phục vụ cho các kì thi, giáo viên sẽ chỉ chú trọng các mảng kĩ năng, kiến thức thuộc phần nội dung thi cử Tâm lí chung của học sinh là ngại thi cử, cùng đặc thù khác biệt tiếng

Trang 7

Việt và tiếng Anh, học sinh cảm thấy khó khăn và chán nản khi học môn học này Ngoài ra, chính việc thấy khó khăn mà học sinh không được định hướng chính xác cách học một ngôn ngữ Các em chỉ học dưới cái nhìn và sự phân tích của các giao viên Việt Nam về các đặc điểm ngữ pháp, từ vựng, các câu giao tiếp, mà theo đó chỉ chú trọng vào quy luật và cách áp dụng "công thức ngôn ngữ" một cách máy móc

mà thay vì hiểu chính xác ý nghĩa nội dung của các cấu trúc đó Phần lớn sinh viên các trường đại học, cao đẳng đều chỉ chú ý tới môn tiếng Anh sao cho đủ điểm chuẩn đầu ra của trường mà vẫn chưa đề cao vào mục đích học để sử dụng thực sự trong công việc

Hệ quả của lối học thiếu hiệu quả này là việc sử dụng tiếng Anh phổ biến trong việc học và đời sống của học sinh nước ta vẫn còn ít ỏi Hầu hết không có kĩ năng sử dụng tiếng Anh để chủ động tìm kiếm các nguồn tài nguyên nước ngoài phục vụ việc học và tỏ ra e ngại khi đặt vào tình huống giao tiếp Hoàn toàn sau 12 năm học phổ thông, trình độ tiếng Anh của học sinh không đạt được mức trung bình và yếu kém so với các tiêu chuẩn chứng chỉ tiếng Anh quốc tế Điều này dẫn tới Đề án mà chính phủ đưa ra đang bế tắc và khó hoàn thành

Tổng kết lại, chúng ta nhìn nhận hướng đi đã đề ra là hoàn toàn hợp lí, song quá trình thực hiện thì còn nhiều bất cập Vậy nên rất cần một giải pháp để thay đổi tư duy thực sự chương trình, người dạy và học mà có thể áp dụng cho điều kiện nước

ta hiện nay

2 Phương pháp truyền thống

Như đã trình bày ở trên, chúng ta đã có cái nhìn chung về những điểm còn bất cập trong chương trình học tiếng Anh Tuy nhiên điểm cốt lõi ở đây là nội dung phương pháp được sử dụng trong chương trình hiện nay Chúng ta gọi đây là

Phương pháp truyền thống (Traditional Method)

Phương pháp truyền thống là phương pháp giảng dạy ngoại ngữ đầu tiên và phổ biến trên thế giới, với nội dung chú tâm tới tầm quan trọng của ngữ pháp trong một ngôn ngữ Theo đó đầu tiên, người sẽ được tiếp cận với những mẫu câu và từ vựng

Trang 8

cơ bản nhất của ngôn ngữ mình học Những mẫu câu và từ vựng đó được phân loại theo đặc điểm cấu trúc, chức năng và nội dung, thường thì được phân thành các đơn vị bài học (các loại thì, các kiểu câu, các loại từ vựng,…) Những người giảng dạy theo phương pháp này cho rằng chỉ cần trang bị cho học sinh đủ lượng câu ngữ pháp thì học sinh sẽ có khả năng giao tiếp Thường các cấu trúc được đặc trưng bởi thành phần câu và mối quan hệ các thành phần, người dạy sẽ cố gắng tìm ra một nhóm kí hiệu, công thức để đặc trưng cho kiểu câu đó Sau khi giới thiệu cho học sinh công thức câu, giáo viên cho ví dụ và các bài tập tương ứng Càng học nhiều, học sinh càng tiếp xúc với nhiều cấu trúc ngữ pháp phức tạp (đảo ngữ, các dạng chia động từ khó,…) Kĩ năng đọc hiểu văn bản gắn liền với việc học ngữ pháp Các nội dung thường được dùng trong giảng dạy:

- Các tiết học lí thuyết về ngữ pháp được học đầu tiên

- Học nhiều cấu trúc ngữ pháp, các cấu trúc được cụ thể dưới dạng công thức

- Dạng bài tập thường thấy là tập viết câu, sử dụng động từ,…

- Học từ vựng qua dịch nghĩa sang tiếng mẹ đẻ

- Chú trọng việc sửa lỗi ngữ pháp

Bên cạnh ngữ pháp, chủ đề về phát âm cũng là một nội dung trong phương pháp truyền thống Tuy nhiên phần phát âm thường được xếp vào phần phụ của chương trình học và thường không được giới thiệu tỉ mỉ Giáo viên thường ít quan tâm tới sự chính xác trong khẩu hình phát âm mà chỉ cố gắng để học sinh bắt chước

và tạo ra được khẩu âm giống với quy định Trong các kì thi có câu hỏi liên quan đến phần phát âm, giáo viên sẽ cố gắng khái quát các quy tắc phát âm nhất định để học sinh ghi nhớ và áp dụng theo dạng bài được cho Cùng với phát âm, kĩ năng nghe – nói thường không được luyện tập nhiều và phổ biến dưới dạng nghe qua băng đĩa

và làm các bài tập liên quan Đáng chú ý là các bài luyện nghe thường nhanh và khá khó để nghe Các câu nói giao tiếp có được giới thiệu, song lại là những câu hết sức đơn giản và thiếu tính linh hoạt trong tình huống thực tế (Kiểu câu "How are you"

Trang 9

hay được dạy với cách trả lời duy nhất là "I'm fine Thank you! And you?", kiểu câu chào "Hello",…) Mô hình phổ biến cho nội dung giao tiếp:

- Mỗi tiết học có một vài mẫu câu theo chủ đề của bài học lớn

- Học sinh được giới thiệu mẫu câu trong các ngữ liệu hình ảnh

- Các mẫu câu được giới thiệu dựa trên nghĩa qua tiếng mẹ đẻ

- Lớp học đọc theo sự chỉ dẫn của giáo viên

- Giáo viên yêu cầu học sinh chia nhóm và tập thực hành theo nhóm

- Bài nghe chủ yếu qua hình thức băng đĩa Nội dung về chủ đề của bài học lớn Học sinh nghe thường để làm dạng bài tập điền các từ thiếu, kiểm tra tính đúng sai

- Nội dung bài nghe liên quan đến một vài vấn đề ngữ pháp

Ưu điểm nổi bật của phương pháp này là tính phổ cập cao, không yêu cầu giáo viên có trình độ giao tiếp cao, dễ cụ thể hóa kiến thức và không đòi hỏi nhiều về các ngữ liệu tiếng Anh bản ngữ

Hiện nay, phương pháp truyền thống đang dần tỏ ra ít hiệu quả khi rất ít các công trình nghiên cứu chứng minh các cơ sở của phương pháp Nhiều học giả cho rằng phương pháp này không thuận với quá trình học ngôn ngữ tự nhiên của não người Theo giáo sư Bill VanPatten (ngành Ngôn ngữ của ĐH Michigan, Mỹ), các quy tắc ngữ pháp chỉ là do chúng ta khái quát, thống kê lại chứ không phải cái mà bộ não dựa vào để hoạt động Bởi lẽ theo lịch sử phát triển tự nhiên của loài người, ngôn ngữ xuất hiện từ quá trình lao động thực tiễn và hoàn thiện trước khi chữ viết

ra đời Việc tạo ra các quy tắc chỉ là sự cụ thể hóa cách ngôn ngữ hoạt động Ngôn ngữ tồn tại trong vùng ngôn ngữ của bộ não dưới dạng tiềm thức Việc cụ thể hóa

và học theo các quy tắc ngữ pháp sẽ không giúp chúng ta sử dụng ngôn ngữ trôi chảy mà thay vào đó sẽ phải thông qua một vùng não có ý thức Hệ quả là để có thể sản sinh ra một câu có nghĩa, người học sẽ phải nghĩ ra nội dung trong tiếng mẹ đẻ, sau đó dịch sang tiếng cần nói và điều chỉnh cho đúng ngữ pháp rồi mới phát âm ra ngoài Thực tế trong giao tiếp không cho phép chúng ta thời gian để nghĩ quá lâu

Trang 10

một câu nói Đồng thời do việc phát âm không được chú trọng nên người học theo phương pháp này thường phát âm sai và không nói được lưu loát do khẩu hình không chuẩn theo tiếng nước ngoài Mặt khác, các cách sử dụng kiểu câu trong giao tiếp rất linh hoạt và có thể có những ngoại lệ cho quy tắc ngữ pháp và sẽ gây khó khăn cho người nói

Đến đây ta có một kết luận nhỏ rằng phương pháp học truyền thống chú trọng vào quy tắc ngữ pháp không có cơ sở vững chắc cho tính hiệu quả và không đảm bảo được yêu cầu cơ bản cho việc giao tiếp nói chung bằng tiếng nước ngoài Chúng

ta sẽ có thêm cơ sở cho điều này qua các phương pháp mới mà tôi sẽ trình bày phía sau

II Các phương pháp mới

- Học từ vựng thông qua minh họa tranh ảnh, mẫu vật và mô tả qua tiếng Anh

- Sử dụng nhiều hoạt động cơ thể để thể hiện ý của từ, câu

- Các trò chơi, bài hát đơn giản được sử dụng thường xuyên

- Không giảng dạy các quy tắc ngữ pháp hoặc chỉ đề cập rất ít

- Học phát âm chuẩn theo khẩu hình

- Không sử dụng tiếng mẹ đẻ trong quá trình giảng dạy

Phương pháp này dựa trên quá trình học ngôn ngữ tự nhiên của trẻ em Theo đó

mà sẽ hình thành từ sớm cho học sinh thói quen suy nghĩ bằng tiếng Anh thay vì phải dịch qua tiếng mẹ đẻ Mặt khác học sinh tương đối tự tin và có một chuẩn phát âm

Trang 11

nhất định Tuy nhiên phương pháp này không trang bị được nhiều kiểu câu phức tạp

và khó áp dụng cho các học sinh lớn tuổi Độ tuổi áp dụng phù hợp là dưới 10 tuổi

Nó cũng đòi hỏi giáo viên có trình độ giảng dạy cao và có tính kiên nhẫn, thời gian học dài để đạt được mức hiểu nghĩa của từ ngữ

2 Phương pháp tiếp cận qua ngữ liệu dễ hiểu

Phương pháp tiếp cận qua ngữ liệu hiểu được (tên tiếng Anh là Comprehensible Input, viết tắt là C.I), được giáo sư ngôn ngữ Stephen Krashen đề xuất vào những

năm 1980 Phương pháp này thể hiện quan điểm của ông về quá trình một người học một ngôn ngữ bất kì Theo ông, mỗi người dù trình độ và độ tuổi khác nhau, nhưng

để có khả năng sử dụng một ngôn ngữ thành thạo thì đều cần quá trình gọi là thu nhận những thông tin mà mình hiểu được bằng ngôn ngữ đó Ông nhấn mạnh việc tiếp nhận một ngôn ngữ mới khác với việc học ngôn ngữ đó: tiếp nhận là theo con đường tiềm thức và học là theo có đường có ý thức của bộ não Việc học theo các phương pháp truyền thống là theo còn đường có ý thức, còn trường hợp của trẻ sơ sinh và những người di trú là con đường tiềm thức Ông mô hình hóa quan điểm của mình về các cách học theo sơ đồ:

Kiến thức đã học

Hệ thống cân nhắc

Sản sinh ngôn ngữ Kiến thức đã tiếp nhận

Trang 12

và so sánh

Quá trình tiếp nhận Quá trình học

"Thu nạp" ngôn ngữ "Biết" về ngôn ngữ

Kiến thức không rõ ràng Kiến thức rõ ràng

Theo ông, có hai loại kiến thức: kiến thức đã học, gắn liền với suy nghĩ có ý thức

và kiến thức đã tiếp nhận, gắn với suy nghĩ tiềm thức Kiến thức đã học là hệ thống những quy tắc tư duy được xây dựng từ việc học kiến thức mới Phương pháp truyền thống nhấn mạnh vào quá trình học các quy tắc ngữ pháp nên phần ngôn ngữ học sinh học được nằm ở vùng não có ý thức Để sản sinh ngôn ngữ, cụ thể là việc nói, học sinh cần định hình nội dung bằng tiếng mẹ đẻ, qua đó chuyển sang tiếng nước ngoài, qua hệ thống cân nhắc (các quy tắc) để điều chỉnh câu cho đúng ngữ pháp, sau

đó mới sản sinh ngôn ngữ (nói) Kĩ năng nghe cũng tương tự Bởi thế học sinh theo phương pháp thuần ngữ pháp khó để nói lưu loát và thường rụt rè Trong khi đó, ngôn ngữ mẹ đẻ tồn tại dưới dạng kiến thức đã tiếp nhận hoàn toàn và thuộc vùng não tiềm thức Kiến thức thuộc vùng này không thể cụ thể hóa bằng các loại hình văn bản hay số liệu Việc sản sinh ngôn ngữ hoàn toàn tự nhiên phụ thuộc vào ý định giao tiếp mà không có sự cân nhắc về quy tắc ngữ pháp có đảm bảo hay không, tuy nhiên,

độ chính xác của ngữ pháp vẫn được đảm bảo Những nhà ngôn ngữ học khác như James Asher, Harris Winitz và Robins Burling cũng cùng quan điểm

Stephen Krashen phân tích quá trình phát triển ngôn ngữ theo lí thuyết C.I của ông như sau: với trình độ ngôn ngữ hiện tại là i, thì trình độ kế tiếp sẽ là i+1 Theo đó, nếu chúng ta được tiếp thu (nghe, đọc) các ngữ liệu ứng với trình độ i+1 (chứa cấu trúc, từ vựng chưa biết) và hiểu được chính xác nội dung của ngữ liệu đó thì nhanh chóng khả năng ngôn ngữ sẽ tiến lên trình độ i+1 Có nghĩa là tuy gọi là các ngữ liệu hiểu được, song chúng phải chứa các đặc điểm mới mà người học chưa biết, những đặc điểm này lại có thể hiểu từ các ngữ liệu đã biết, thì khi các ngữ liệu đã biết được

Trang 13

thu nạp vào vùng tiềm thức, các kiến thức mới sẽ được xây dựng cũng trên vùng tiềm thức

Hệ quả từ quá trình tiếp nhận C.I là sự hình thành cơ sở ngữ pháp Lí do là từ sự tiếp nhận ngữ liệu hiểu được, bộ não đã dần tìm ra các đặc điểm câu từ trong ngữ liệu, và gián tiếp hiểu ra một số quy tắc ngữ pháp nhất định Song song với đó là sự hình thành kĩ năng nói Stephen Krashen cho rằng khả năng nói không thể dạy ngay

từ đầu một cách trực tiếp từng từ, từng câu một mà là một hệ quả của quá trình tiếp nhận C.I ở mức độ nhất định Bằng luận điểm của mình, ông giải thích cho trường hợp của đưa trẻ khi học tiếng mẹ đẻ:

- Trong tháng đầu đời đứa trẻ chưa nói gì

- Đứa trẻ chỉ nghe và quan sát bố mẹ nói và đưa ra cử chỉ

- Não bắt đầu hình thành nhận thức về từ ngữ với sự vật, hành động

- Đứa trẻ dần hiểu hơn các từ mà bố mẹ nói (những ngữ liệu hiểu được đầu tiên)

- Đứa trẻ hiểu được một số câu mệnh lệnh từ bố mẹ, chưa nói được

- Sau khoảng 8-10 tháng đứa trẻ nói được những từ đầu tiên

- Số từ nói được tăng lên nhanh chóng (giống quy luật dây chuyền)

Đồng thời khi đạt độ tuổi 6, trẻ em có thể nói được rất nhiều câu có nghĩa và chuẩn ngữ pháp dù chưa biết chữ Quá trình này diễn ra tương tự với những trường hợp sinh sống ở nước ngoài Tuy cho rằng phương pháp ngữ pháp truyền thống chứa nhiều nhược điểm, Stephen Krashen vẫn đồng ý rằng cần có những sự giải thích về ngữ pháp nhất định và cũng cần sử dụng tiếng mẹ đẻ trong một chừng mực để đảm bảo học sinh hiểu các cấu trúc mới Như vậy lí thuyết phương pháp của ông vẫn dựa trên phương pháp tự nhiên, nhưng ông tìm ra rằng mấu chốt là quá trình hiểu Để khắc phục nhược điểm ngữ pháp không chính xác qua cách học tiếp cận trực tiếp, Stephen đề ra giải pháp là bổ sung thêm việc luyện đọc Bởi đọc và nghe đều là hai kĩ năng của quá trình tiếp nhận ngôn ngữ Nếu như phương pháp trực tiếp chỉ có tiếp cận chủ yếu qua nghe thì phương pháp của ông sẽ có thêm cách tiếp cận qua đọc

Trang 14

Việc đọc các thông tin văn bản dễ hiểu sẽ cung cấp cả ngữ liệu và cấu trúc ngữ pháp một cách gián tiếp

Dù vậy qua quá trình quan sát cách học tự nhiên, Stephen Krashen lại tìm ra một yếu tố khác quyết định sự thành công khi học môn ngôn ngữ: tâm lí, bao gồm động lực, thái độ với bản thân và các yếu tố căng thẳng Ông nhận thấy nếu học sinh không chủ động và cảm thấy tích cực thì dù nghe hay đọc những ngữ liệu dễ hiểu, quá trình tiếp nhận ngôn ngữ cũng không xảy ra Chính yếu tố tâm lí làm nên rào cản cho việc học Đó là một thực tế tâm lí tự nhiên Khi não bộ từ chối tiếp nhận thông tin thì học sinh sẽ không học được gì Như vậy so sánh với phương pháp truyền thống, nhận định của ông cho thấy sự căng thẳng trong quá trình học ngữ pháp khiến cho đa phần học sinh theo phương pháp cũ không đạt được trình độ tiếng Anh như mong đợi Đến đây ta tổng kết lại những luận điểm trong lí thuyết tiếp cận ngữ liệu hiểu được của Stephen Krashen

- Phân biệt học (lĩnh hội kiến thức) và tiếp nhận (lĩnh hội kĩ năng)

- Để sử dụng một ngôn ngữ ta cần tiếp nhận nó (hiểu biết tiềm thức) chứ không phải biết các đặc điểm của nó (hiểu biết có ý thức)

- Chúng ta xây dựng thêm kĩ năng ngôn ngữ qua việc hiểu những cấu trúc khó hơn chút so với trình độ hiện tại Sự hiểu hình thành bởi ngữ cảnh và cấu trúc đã biết

- Sự sản sinh ngôn ngữ (nói, viết) xuất hiện khi đủ lượng ngôn ngữ đã tiếp nhận (nghe, đọc) Trước đó, sự im lặng là điều tất yếu Các kĩ năng không xuất hiện đồng thời

- Yếu tố tâm lí quyết định tới quá trình tiếp nhận ngôn ngữ

Những ý kiến của Stephen Krashen dù chưa có nhiều nghiên cứu chi tiết, khách quan nhưng đã đánh dấu bước nhìn nhận mới về cách học một ngôn ngữ để sử dụng

nó thông qua các quan sát từ hoạt động tự nhiên của bộ não người Vì thế có cơ sở lí luận thực tiễn Lí luận của ông mới chỉ ở mức khái quát, chưa cụ thể là một phương pháp thực sự nhưng lại là cốt lõi của nhiều phương pháp mới khác

Trang 15

3 Phương pháp phản hồi tổng hợp

Phương pháp phản hồi thể chất tổng hợp (Total Physical Response, TPR) được

tiến sĩ James Asher (giáo sư tâm lí học tại ĐH San José) lập ra sau khi chứng kiến tỉ lệ lớn học sinh học ngôn ngữ thứ hai thất bại theo phương pháp truyền thống Ông nhận thấy phương pháp truyền thống hoàn toàn xa với cách học tiếng mẹ đẻ và tạo

ra nhiều căng thẳng lên học sinh

Để tìm ra giải pháp, Asher đã quan sát cách trẻ em học tiếng, ông nhận thấy chúng rất hào hứng và sử dụng tổng thể các bộ phận trên cơ thể khi phản ứng với tiếng nói Ông đặc biệt chú ý tới cách tương tác giữa bố mẹ và đứa trẻ, mỗi khi bố

mẹ nói, đứa trẻ nói theo cùng với những phản xạ từ cơ thể Sự tương tác chứa cả ngôn ngữ nói và ngôn ngữ cơ thể Đứa trẻ phản hồi súc giác với lời nói từ cha mẹ, và cha mẹ tác động lại phản hồi đó bằng những câu nói khác Điều này tạo một phản hồi tích cực lặp lại giữa lời nói của bố mẹ và hành động của đứa trẻ Asher cũng thấy rằng trẻ em dành nhiều thời gian để nghe trước khi cố gắng để nói, và chúng có thể hiểu và phản ứng với những biểu lộ phức tạp của từ ngữ hơn là tự mình nói ra từ ngữ

ấy Từ đó ông đưa ra lí thuyết của mình với ba luận điểm

- Ngôn ngữ được học chủ yếu qua việc nghe

- Việc học ngôn ngữ cần liên kết với bán cầu não phải

- Việc học không mang lại căng thẳng

Ngoài ra ông nhận xét là hệ thần kinh trong não người về mặt sinh học để phục vụ cho quá trình tiếp nhận ngôn ngữ, dù là ngôn ngữ thứ nhất hay thứ hai thì con đường tiếp nhận là như nhau Ba luận điểm này đưa ông tới ý niệm về phương pháp TPR Theo đó phương pháp này cũng chú trọng đến khả năng hiểu ngôn ngữ và tầm quan trọng của việc nghe, không yêu cầu học sinh phải nói trong giai đoạn đầu việc học Kĩ năng nói sẽ xuất hiện bộc phát sau một thời gian nhất định Các bài học sẽ có những giảng giải sơ bộ về ngữ pháp và từ vựng, nhưng chỉ chú tâm vào mặt ý nghĩa,

vì Asher cho rằng ngữ pháp được học lặng lẽ qua sự tiếp xúc lâu dài với ngôn ngữ

Ngày đăng: 02/11/2016, 20:40

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w