NỘI DUNG ĐỀ CƯƠNG CHI TIẾT Nội dung thực hiện và tài liệu thực hiện luận văn: Phần Mở đầu: - Tình hình quản lý trong giai đoạn bồi thường giải phóng mặt bằng của các dự án xây dựng trên
Trang 1ttk1204@gmail.com
Tài liệu tham khảo
PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài:
Hiện nay một trong những nguyên nhân gây chậm trến tiến độ, tăng chi phí trong quá trình đầu tư xây dựng là công tác bồi thường giải phóng mặt bằng Đây là công tác phức tập, liên quan đến nhiều vấn đề Đặc biệt trên địa bàn tỉnh Đồng Nai nhu cầu về đầu tư xây dựng cao, những dự án liên quan đến bồi thường giải phóng mặt bằng nhiều
do đó làm thê nào để nâng cao công tác này là một vấn đề cần giải quyết
Đề tài “Nâng cao công tác quản lý trong giai đoạn bồi thường giải phóng mặt bằng của các dự án xây dựng trên địa bàn tỉnh Đồng Nai “ ra đời nhằm hoàn thiện hơn nữa các quy trình, trình tự cũng như các vấn đề liên quan đến bồi thường giải phóng mặt bằng để việc thực hiện các dự án xây dựng trên địa bàn tỉnh Đồng Nai được hoàn thiện đúng yêu cầu được giao
2 Đối tượng nghiên cứu
Dự án đầu tư xây dựng trên địa bàn tỉnh Đồng Nai
3 Phạm vi nghiên cứu
Ông tác bồi thường giải phóng mặt bằng
4 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Nâng cao công tác quản lý trong giai đoạn bồi thường giải phóng mặt bằng của các
dự án xây dựng trên địa bàn tỉnh Đồng Nai
5 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu lý thuyết và luật quy định
6 Kết cấu của luận văn:
Trang 2NỘI DUNG ĐỀ CƯƠNG CHI TIẾT
Nội dung thực hiện và tài liệu thực hiện luận văn:
Phần Mở đầu: - Tình hình quản lý trong giai đoạn bồi thường giải phóng mặt bằng của các dự án xây dựng trên địa bàn tỉnh Đồng Nai
- Sự cần thiết tiến hành đề tài
Chương 1: Cơ sở lý luận về bồi thường giải phóng mặt bằng
1.1 Công tác đền bù giải phóng mặt bằng và các khái niệm liên quan
1.1 1 Công tác đền bù giải phóng mặt bằng
- Giải phóng mặt bằng: Là quá trình thực hiện các công việc liên quan đến việc di
dời nhà cửa, cây cối, các công trình xây dựng và một bộ phận dân cư trên một phần đất nhất định để trả lại mặt bằng thực hiện các quy hoạch cho việc cải tạo, mở rộng hoặc xây dựng một công trình mới
Quá trình giải phóng mặt bằng được tính từ khi bắt đầu hình thành hội đồng giải phóng mặt bằng đến khi giải phóng xong và giao cho chủ đầu tư mới Đây là một quá trình đa dạng và phức tạp thể hiện sự khác nhau giữa các dự án và liên quan trực tiếp đến các bên tham gia và của toàn xã hội
- Ý Nghĩa: Trong điều kiện nước ta hiện nay, “Giải phóng mặt bằng” là một trong
những công việc quan trọng phải làm trên con đường công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Sự cần thiết triển khai xây dựng nhiều công trình cơ sở hạ tầng, nhiều khu kinh
tế, khu công nghiệp, khu công nghệ cao, theo đó các cơ sở văn hoá giáo dục, thể dục thể thao cũng đuợc phát triển, tốc độ đô thị hoá cũng diễn ra nhanh chóng
Công tác giải phóng mặt bằng mang tính quyết định tiến độ của các dự án, là khâu đầu tiên thực hiện dự án Có thể nói: “Giải phóng mặt bằng nhanh là một nửa dự án” Việc làm này không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của Nhà nước, của chủ đầu tư,
mà còn ảnh hưởng đến đời sống vật chất cũng như tinh thần của người bị thu hồi đất
- Vai trò của công tác giải phóng mặt bằng trong việc phát triển kinh tế - xã hội của
đất nước :
Đối với sự phát triển cơ sở hạ tầng
Trang 3Ở mỗi một giai đoạn phát triển kinh tế xã hội có một sự phát triển thích ứng của
hạ tầng kinh tế xã hội Với tư cách là phương tiện vật chất kỹ thuật, hạ tầng kinh tế xã hội lại trở thành lực lượng sản xuất quyết định đến sự phát triển của nền kinh tế xã hội
mà trong đó giải phóng mặt bằng là điều kiện tiên quyết để dự án có được triển khai hay không
- Về mặt tiến độ hoàn thành của dự án
+ Tiến độ thực hiện các dự án phụ thuộc vào nhiều điều kiện khác nhau như: Tài chính, lao động, công nghệ, điều kiện tự nhiên, tập quán của người dân trong diện bị giải toả… Nhưng nhìn chung, nó phụ thuộc nhiều vào thời gian tiến hành giải phóng mặt bằng
+ Giải phóng mặt bằng thực hiện đúng tiến độ đề ra sẽ tiết kiệm được thời gian và việc thực hiện dự án có hiệu quả Ngược lại giải phóng mặt bằng kéo dài gây ảnh hưởng đến tiến độ thi công các công trình cũng như chi phí cho dự án, có khi gây ra thiệt hại không nhỏ trong đầu tư xây dựng Chẳng hạn một dự án dự kiến hoàn thành đến hết mùa khô nhưng do giải phóng mặt bằng chậm, kéo dài nên việc xây dựng phải tiến hành vào mùa mưa gây khó khăn cho việc thi công cũng như tập trung vốn, lao động, công nghệ cho dự án này và ảnh hưởng đến việc thực hiện dự án khác
- Về mặt kinh tế của dự án: Giải phóng mặt bằng thực hiện tốt giảm tối đa chi phí cho việc giải toả đền bù, có điều kiện tập trung vốn đầu tư cho các công trình khác giải phóng mặt bằng kéo dài dẫn đến chi phí bồi thường lớn, không kịp hoàn thành tiến độ
dự án dẫn đến sự quay vòng vốn chậm gây khó khăn cho các nhà đầu tư Đặc biệt, các nhà đầu tư trong nước có nguồn vốn hạn hẹp thì việc quay vòng vốn là rất cần thiết để đảm bảo tận dụng cơ hội đấu thầu của các công trình khác
Đối với sự phát triển kinh tế - xã hội
Nếu công tác giải phóng mặt bằng không được thực hiện tốt sẽ xảy ra hiện tượng
“treo” công trình làm cho chất lượng công trình bị giảm, các mục tiêu ban đầu không
thực hiện được, từ đó gây lãng phí rất lớn cho ngân sách Nhà nước Mặt khác, khi giải quyết không thoả đáng quyền, lợi ích hợp pháp của người có đất bị thu hồi sẽ dễ dàng
nỗ ra những khiếu kiện, đặc biệt là những khiếu kiện tập thể, làm cho tình hình chính trị
- xã hội mất ổn định
Trang 4- Sự cần thiết của việc thực hiện chính sách bồi thường, hỗ trợ tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất
Việc hoàn thiện chính sách phát luật quản lý đất đai nói chung, trong đó có chính sách về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trong Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng cộng sản Việt Nam đã nêu rõ Đảng và Nhà nước chủ trương rà soát lại toàn bộ hệ thống chính sách pháp luật về đất đai lấy mốc từ thời điểm năm 1987 Tháng 09 năm 2002 Trung ương Đảng giao cho Ban chỉ đạo về "Đổi mới chính sách pháp luật đất đai" có kế hoạch chuẩn bị đề án về chính sách đất đai và chuẩn bị đề cương báo cáo tổng kết chính sách đất đai, kiến nghị về chủ trương sửa đổi Luật Đất đai từ Trung ương đến các địa phương Trên cơ sở đó, trong Nghị quyết về "Tiếp tục đổi mới chính sách, pháp luật đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước" được thông qua tại Hội nghị lần thứ 7 (phần 2) Ban chấp hành Trung ương Đảng, đã khẳng định đường lối, chủ trương đổi mới chính sách và pháp luật đất đai của Đảng và Nhà nước đã từng bước đi vào cuộc sống, thúc đẩy phát triển kinh tế, góp phần ổn định chính trị xã hội Đồng thời chỉ rõ những hạn chế về hiệu quả sử dụng đất đai, những yếu kém trong công tác quản lý Nhà nước về đất đai, nguyên nhân của những hạn chế này là do một số chủ trương, chính sách quan trọng của Đảng còn chưa được thể chế hoá hoặc văn bản pháp luật thể chế ban hành nhiều, nhưng còn thiếu đồng bộ
Đến năm 2003 Luật đất đai mới đã được Quốc hội thông qua thay thế Luật Đất đai
1993, trong Luật đã quy định đầy đủ hơn các nguyên tắc bồi thường, hỗ trợ và tái định
cư khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng và phát triển kinh tế; việc thu hồi đất để sử dụng vào mục đích phát triển kinh tế của đất nước và quản lý quỹ đất thu hồi; chính sách bồi thường,
hỗ trợ và tái định cư cho người có đất bị thu hồi để sử dụng vào mục đích quốc phòng,
an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng và phát triển kinh tế và những trường hợp thu hồi đất mà không bồi thường hoặc chỉ xử lý tiền sử dụng đất còn lại và giá trị tài sản trên đất.v.v… Để hướng dẫn cụ thể quy định của Luật đất đai năm 2003 và chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng và phát triển kinh tế, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29 tháng 10 năm 2004 hướng dẫn thi hành Luật Đất đai; Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03 tháng 12 năm 2004
về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất Tiếp tục hoàn thiện thể chế chính sách phục vụ nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tăng cường
sự chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, huy động các nguồn lực cho đầu tư phát triển đất
Trang 5nước, trong Báo cáo của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng tại Kỳ họp thứ 10
Quốc hội khoá XI Ngày 17 tháng 10 năm 2006 tại phần nhiệm vụ và giải pháp để tiếp
tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, huy động các nguồn lực cho đầu tư phát triển, đã nêu rõ chủ
trương chỉ đạo của Chính phủ: “Chú trọng đào tạo nghề, tạo việc làm cho lao động nông thôn; tiếp tục hỗ trợ thích hợp cho người dân ở những nơi Nhà nước đã thu hồi đất để sớm ổn định cuộc sống; kiểm tra chặt chẽ các dự án tái định cư bảo đảm cuộc sống của dân khi quyết định thu hồi đất” Triển khai thực hiện chủ trương của Đảng
và chỉ đạo của Chính phủ về đổi mới hoàn thiện chính sách bồi thường, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 17/2006/NĐ-CP ngày 27 tháng 01 năm 2006 ; Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25 tháng 5 năm 2007 quy định bổ sung về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai;Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13/08/2009 về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường hỗ trợ tái định cư ; tại các nghị định này đã sửa đổi bổ sung một
số quy định về chính sách bồi thường, quy định bổ sung các trường hợp Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng và mục đích phát triển kinh tế; sửa đổi quy định bồi thường đất, giá đất tính bồi thường, cơ chế hỗ trợ cho người bị thu hồi đất và cải cách trình tự thực hiện thu hồi đất, thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư ngày càng phù hợp với yếu cầu phát triển khinh tế - xã hội của đất nước
1.1.2 Các khái niệm liên quan
- Thu hồi đất: Là việc Nhà nước ra quyết định hành chính để thu lại quyền sử dụng
đất hoặc thu lại đất đã giao cho tổ chức, Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn quản lý theo quy định (trích theo khoản 5 điều 4 luật đất đai 2003)
- Bồi thường: Là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích
đất bị thu hồi cho người bị thu hồi đất (trích theo khoản 6 điều 4 luật đất đai 2003) Bồi thường là đền bù những tổn hại đã gây ra Đền bù là trả lại tương xứng với giá trị hoặc công lao Như vậy, bồi thường là trả lại tương xứng với giá trị hoặc công lao cho một chủ thể bị thiệt hại vì hành vi của một chủ thể khác
- Hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất : Là việc Nhà nước giúp đỡ người bị thu hồi đất
thông qua đào tạo nghề mới, bố trí việc làm mới, cấp kinh phí để di dời đến địa điểm mới (trích theo khoản7 điều 4 luật đất đai 2003)
Trang 6- Tái định cư:
TĐC là việc di chuyển đến một nơi khác với nơi ở trước đây để sinh sống và làm ăn TĐC bắt buộc đó là sự di chuyển không thể tránh khỏi khi Nhà nước thu hồi hoặc trưng thu đất đai để thực hiện các dự án phát triển
TĐC được hiểu là một quá trình từ bồi thường thiệt hại về đất, tài sản; di chuyển đến nơi ở mới và các hoạt động hỗ trợ để xây dựng lại cuộc sống, thu nhập, cơ sở vật chất, tinh thần tại đó Như vậy, TĐC là hoạt động nhằm giảm nhẹ các tác động xấu về kinh tế
- xã hội đối với một bộ phận dân cư đã gánh chịu vì sự phát triển chung
Hiện nay ở nước ta, khi Nhà nước thu hồi đất mà phải di chuyển chỗ ở thì người sử dụng đất được bố trí TĐC bằng một trong các hình thức sau:
- Bồi thường bằng nhà ở
- Bồi thường bằng giao đất ở mới
- Bồi thường bằng tiền để người dân tự lo chỗ ở
TĐC là một bộ phận không thể tách rời và giữ vị trí rất quan trọng trong chính sách GPMB Các dự án TĐC cũng được coi là các dự án phát triển và phải được thực hiện như các dự án phát triển khác
1.1.3 Cơ sở lý luận bồi thường
Khi các công trình được xây dựng nhằm phục vụ cho mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích công cộng, lợi ích quốc gia được triển khai thì Nhà nước cần phải có mặt bằng để thực hiện dự án Thế nhưng đất đai thuộc sở hữu toàn dân, với tư cách là người quản lý, nhằm đảm bảo được lợi ích của Nhà nước, lợi ích của nhân dân, khi đó Nhà nước sẽ ra quyết định thu hồi quyền sử dụng đất của người dân hoặc đất được Nhà nước giao quản lý
Theo điều 4, Luật đất đai năm 2003 “Thu hồi đất là việc Nhà nước ra quyết định hành chính để thu hồi quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất đã giao cho tổ chức, Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn quản lý”
Việc xây dựng những khu công nghiệp cho mục tiêu phát triển kinh tế, những con đường quốc gia để phục vụ lợi ích chung là rất cần thiết nhưng không vì thế mà phải hy sinh quyền lợi của những cá nhân, những nhóm người Do đó, khi quyền sử dụng đất của người dân bị thu hồi thì Nhà nước sẽ bồi thường thiệt hại
Trang 7Vậy, “ Bồi thuờng khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền
sử dụng đất đối với diện tích đất bị thu hồi cho người bị thu hồi đất ”
“Bồi thường” là sự đền trả lại tất cả những thiệt hại mà chủ thể gây ra một cách tương xứng, trong quy hoạch xây dựng thiệt hại gây ra có thể là thiệt hại vật chất và thiệt hại phi vật chất Trong giải phóng mặt bằng, cùng với chính sách hỗ trợ và tái định cư, chính sách bồi thường là một phần quan trọng trong chính sách đền bù thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất Chính sách này nhằm giúp cho người bị thu hồi đất có thể tái lập, ổn định cuộc sống mới do những thiệt hại vật chất hoặc thiệt hại phi vật chất do việc thu hồi đất gây ra, mặt khác giúp họ giải quyết được những khó khăn khi phải thay đổi nơi
ở mới
Bản chất của việc bồi thường
Mục tiêu phát triển kinh tế và xây dựng đất nước của Đảng và Nhà nước ta đó là:
“Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” Trong nhiều chiến lược phát triển của đất nước có chiến lược phát triển nhà ở nhằm tạo điều kiện cho nhân dân
có chỗ ở rộng rãi hơn, tiện nghi hơn qua mỗi thời kỳ phát triển
Ăn và ở là hai nhu cầu tối thiểu của con người, trong đó nhu cầu về nhà ở có tầm quan trọng trong việc ổn đời sống của mỗi người dân Câu nói tuy giản dị từ bao đời nay của ông cha ta “Có an cư, mới lạc nghiệp” nhưng trong hoàn cảnh nào cũng đúng vì sự
du canh, du cư của con người khó làm nên sự nghiệp Do đó trong quá trình thu hồi đất
để giải phóng mặt bằng, người dân phải di chuyển chỗ ở và kéo theo đó là những khó khăn mà họ sẽ, gặp phải trong cuộc sống hiện tại cũng như tương lai không có chỗ ở ổn định thì con người sẽ không có điều kiện tốt nhất cho việc học tập, lao động, nghiên cứu khoa hoc…
Bài học của một số nước phát triển cho ta cách nhìn mới, đó là bên cạnh những công sở nguy nga tráng lệ, những cao ốc trọc trời là những khu nhà “ổ chuột” của dân lao động – công bằng và dân chủ không thể chỉ thông qua việc hô hào mà thực tế lại không thực hiện
Đất nước ta đang bước vào thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Chúng
ta không thể chỉ có những đô thị đẹp, hiện đại, những khu chế xuất khổng lồ, những công trình công cộng khang trang mà kèm theo đó chỗ ở của người dân phải được nâng
Trang 8cấp tiện nghi hơn, rộng rãi hơn… Chính vì vậy phải tính một cách toàn diện, không thể
có một hiện tượng một công trình mới ra đời lại kéo theo những người dân không có chỗ ở hoặc chỗ ở kém hơn nơi ở cũ
Nếu không nhìn rõ bản chất vấn đề, mỗi năm chúng ta có hàng ngàn dự án cần giải phóng mặt bằng, mỗi dự án chỉ kéo theo một gia đình không có chỗ ở thì đã có hàng ngàn gia đình thiếu chỗ ở hoặc chỗ ở tạm bợ Như vậy là sự phát triển sẽ thiên lệch, lợi ích của quốc gia, lợi công cộng không hài hoà với lợi ích cá nhân, gia đình Từ đó mục tiêu lớn của quốc gia sẽ không đạt được
Từ những nhận thức trên có thể giúp chúng ta hiểu được bản chất quan trọng của vấn đề, chính sách đền bù giải phóng mặt bằng nói chung và chính sách bồi thường giải phóng mặt bằng nói riêng cơ bản phù hợp với nguyện vọng chính đáng của người dân, nhưng để chính sách đi vào cuộc sống cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các nghành, các cấp có liên quan Đồng thời cần có sự chỉ đạo kịp thời, sự quan tâm đúng mức của những người đứng đầu các cơ quan, tổ chức trong việc xảy ra những vướng mắc, khó khăn nhằm có những giải pháp phù hợp cho từng khu vực, từng dự án và cả từng hộ dân trong công tác bồi thường giải phóng mặt bằng
1.1.4 Cơ sở pháp lý về bồi thường giải phóng mặt bằng
Sau một thời gian dài thực hiện Luật đất đai 1993 đã thấy những thiếu sót, những khó khăn về phạm vi bồi thường, nên đến Luật đất đai 2003 và cùng với đó Chính phủ ban hành Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 đã khắc phục được những thiếu sót, khó khăn trên
Hiện nay cùng với Nghị định 197/2004/NĐ-CP, Nghị định 181/2004/NĐ-CP, Nghị định 84/2007/NĐ-CP là sự ra đời của Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13/08/2009 của Chính phủ, trong đó công tác bồi thường giải phóng mặt bằng đã có nhiều thay đổi khi UBND cấp tỉnh có dự án được thoả thuận với người dân về mức bồi thường Qua đó kéo gần thêm khoảng cách giữa chủ đầu tư với người có đất bị thu hồi, hạn chế những
“dự án treo” trên giấy mà nguyên nhân chủ yếu là việc bồi thường giải phóng mặt bằng gặp khó khăn
1.2 Đặc điểm của công tác bồi thường giải phóng mặt bằng
Trang 9Giải phóng mặt bằng là quá trình đa dạng và phức tạp nó thể hiện khác nhau đối với mỗi dự án, nó liên qua đến lợi ích bên tham gia và lợi ích toàn xã hội
- Sự cấn thiết của công tác đền bù giải phóng mặt bằng:
Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do nhà nước thống nhất quản lý, do đó chỉ có Nhà nước mới có quyền định đoạt đối với tài sản quốc gia này Nhà nước có thể giao cho các đối tượng sử dụng theo quy định đã ghi trong luật đất đai nhưng khi cần nhà nước sẽ thu hồi lại để phục vụ cho mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng Trong quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước, nhu cầu sử dụng đất để xây dựng các công trình cở sở hạ tầng kỹ thuật và các công trình kiến trúc khác luôn thay đổi nhà nước giao đất cho các chủ sử dụng với một mục đích nhất định phù hợp với quy hoạch Tuy nhiên khi quy hoạch thay đổi cũng đồng nghĩa với việc thay đổi mục đích sử dụng Nhà nước phải thu hồi lại đất để phục vụ cho mục đích sử dụng mới Ví
dụ như các dự án sử dụng đất với mục đích xây dựng một tuyến đường giao thông trong một địa phương nào đó hoặc đường quốc lộ lớn, xây dựng các trung tâm kinh tế, khu vui chơi giải trí, sân vận động quốc gia, nhà thi đấu, nhằm mục đích phát triển kinh
tế và phục vụ lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng Để thực hiện các dự án này cần có đất
Vì Nhà nước đã giao cho các đối tượng sử dụng, vì vậy đất đai thực hiện dự án Nhà nước phải thu hồi đất của người sử dụng Sau khi thu hồi đất, Nhà nước sẽ giao lại cho chủ dự án sử dụng đất mới mà có dự án đã được nhà nước phê duyệt
Khi được nhà nước giao đất thì các đối tượng sử dụng có thể sử dụng vào nhiều mục đích theo đăng ký nhằm phục vụ cho nhu cầu của cuộc sống Họ có thể xây dựng nhà ở, các công trình kiến trúc, công trình phục vụ cho đời sống, những tài sản gắn với đất Các tài sản đó thuộc sở hữu của người sử dụng
Do đó, khi nhà nước thu hồi đất người sử dụng không chỉ mất đi đất đai mà còn mất những tài sản được xây dựng trên mảnh đất đó
- Họ sẽ mất đi tư liệu sản xuất là đất đai, do đó mất đi nghề nghiệp và địa bàn sản xuất Trên mảnh đất này trước đó họ có thể trồng trọt chăn nuôi và đất đai trong trường hợp này đóng vai trò là một tư liệu sản xuất, hoặc họ có thể xây dựng các công trình phục vụ cho sản xuất mà họ sở hữu
- Để sản xuất họ cần phải đt các yếu tố phục vụ sản xuất vào đất như hệ thống tưới tiêu, phân bón làm tăng độ phì của đất và các công trình phục vụ sản xuất khác Do đó, Nhà nước phải đền bù cho họ chi phí đã đt vào đất
Trang 10- Họ xây dựng nhà ở và các công trình phục vụ sinh hoạt, khi nhà nước thu hồi đất
và buộc họ phải tháo dỡ các công trình đó thì phải đền bù thiệt hại về giá trị các công trình đó
Việc đền bù những thiệt hại trên sẽ bù đắp những thiệt hại về bất động sản và những thiệt hại khác về lợi ích gắn với đất của chủ sử dụng Mặt khác còn tạo điều kiện cho họ có thể tạo dựng lại cuộc sống ít nhất là như trước kia Bởi vì khi xét duyệt các
dự án sử dụng đất thì nhà nước cũng đã cân nhắc lợi ích mang lại sau khi thực hiện dự
án, dự án là nhằm phát triển kinh tế - xã hội, mang lại lợi ích cho người dân Vì vậy không có ly gì để cho những người phải trả lại đất để thực hiện dự án bị thiệt hại mà không đền bù cho họ
Ngoài ra, họ không chỉ bị thiệt hại do không còn đất, không còn tài sản gắn với đất mà họ còn mất chi phí để phá dỡ, di dời các tài sản đó Để giúp họ nhanh chóng ổn định lại cuộc sống và sản xuất Nhà nước có thể hỗ trợ khó khăn trong việc phá dỡ các công trình, hỗ trợ di chuyển và một số khó khăn khác
- Tính đa dạng: Mỗi một dự án được tiến hành trên một vùng đất khác nhau với
các điều kiện kinh tế, xã hội khác nhau và trình độ dân trí khác nhau Do đó công tác tổ chức bồi thường cũng có những đặc trưng nhất định với từng vùng đất từng điều kiện sống khác nhau trên khu đất đó Các tài sản gắn trên đất cũng mang tính đa dạng cao, đa dạng về mục đích sử dụng đa dạng về hình thức sở hữu các tài sản đó nên công tác định giá trong công tác đền bù cũng mang tính đa dạng cao
- Tính phức tạp thể hiện: Đất đai là tài sản có giá trị cao có vai trò quan trọng
trong đời sống kinh tế-xã hội với mọi người dân Ở các khu vực nông thôn dân cư sống chủ yếu nhờ hoạt động sản xuất kinh doanh trên đất nông nghiệp mà đất đai là tư liệu sản xuất quan trọng trong khi trình độ sản xuất người dân thấp khả năng chuyển đổi nghề nghiệp khó khăn do đó tâm lí của người dân ta là giữ đất để sản xuất
Trước tình hình đó dẫn đến công tác tuyên truyền vận động dân cư tham di chuyển
là rất khó khăn và việc hỗ trợ chuyển nghề nghiệp là điều cần thiết để đảm bảo đời sống dân cư sau này Mặt khác cây trồng vật nuôi trên vùng đất đó cũng rất đa dạng gây khó khăn cho việc định giá
- Đối với hình thức đất ở lại càng phức tạp:
Trang 11+ Đất ở là tài sản có giá trị lớn gắn bó với trực tiếp với đời sống và sinh hoạt của người dân mà tâm lí tốp quần cư nông dân là ngại di chuyển Xây dựng nhà trái phép mua bán chuyển nhượng trái phép xảy ra nhiều nên gây rất nhiều khó khăn
+ Dân cư sống bằng nghề buôn bán sống nhờ vào các trục đường giao thông nay chuyển đến ở khu vực mới thì đời sống lại bị thay đổi mà không mong muốn
+ Do chính sách pháp luật chưa phù hợp
Chính sự phức tạp này làm cho công tác đền bù càng trở nên phức tạp khó khăn hơn
1.3 Bản chất và yêu cầu của công tác bồi thường giải phóng mặt bằng
1.3.1 Bản chất của công tác bồi thường giải phóng mặt bằng
Công tác đền bù giải phóng mặt bằng thực chất là trả lại mặt bằng xây dựng để có thể xây dựng các công trình mới Việc thực hiện giải phóng mặt bằng các dự án có sử dụng đất đặc biệt là các dự án phát triển cơ sở hạ tầng, giao thông đô thị thường làm cho giá đất đai ở các khu vực xung quanh tăng lên rất cao Việc giải phóng mặt bằng trong các khu dân cư đông đúc còn làm ảnh hưởng tới mỹ quan, kiến trúc của đường phố đô thị Thông thường các dự án khục vụ kinh tế như xây dựng khu công nghiệp chế xuất thường tập trung ở bên ngoài thành phố và thường lấy đất sản xuất nông nghiệp để làm mặt bằng xây dựng Còn các dự án thực hiện trong các khu dân cư đông đúc thường là phát triển cơ
sở hạ tầng mà chủ yếu là mở rộng đường giao thông trong thành phố Khi các dự án mở đường thực hiện, những hộ gia đình ở ngay sát đường cũ thường mất hết hoặc còn một phần đất để lại Do đó họ thường tận dụng để xây nhà hoặc xây các quán nhỏ kinh doanh, hình thể này trông rất xấu như sự tự phát về kiến trúc , không có sự đồng bộ trong các thiết kế ….Nó làm ảnh hưởng đến tới mỹ quan kiến trúc của đường phố GPMB liên quan đến việc thu hồi đất và bồi thường thiệt hại về đất và tài sản trên đất Trong khi giá đất hiện nay là rất cao và thường xuyên biến động Mà các dự án thì thường phải dùng đến một lượng mặt bằng khá lớn.Hơn thế nữa còn phải bồi thường các tài sản trên đất các khoản chi phí liên quan đến công tá di dời và các khoản hỗ trợ khác như hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp tạo việc làm hỗ trợ ổn định đời sống hỗ trợ gia đình chính sách …Ngoài
ra còn có các chi phí liên quan đến việc triển khai thực hiện công tác bồi thường, GPMB Trong thực tế không ít dự án phải rơi vào chậm trễ hay khó khăn do thiếu vốn để thực hiện công tác này
Trang 121.3.2 Yêu cầu của công tác bồi thường giải phóng mặt bằng
- Đảm bảo tiến độ nhanh chóng, kịp thời và chính xác
Công tác GPMB được coi là một trong những bước đầu tiên của một dự án đầu tư xây dựng, do đó đảm bảo nhanh chóng, kịp thời và chính xác trong công tác BT GPMB
là một yêu cầu cấp thiết và rất quan trọng
Các dự án sẽ không thể thực hiện nếu không có được mặt bằng Không những đảm báo đến tiến độ thành công của các dự án mà còn ảnh hưởng rất lớn đến các vấn đề an ninh chính trị xã hội
Việc tiến hành GPMB đúng tiến độ còn giúp tiết kiệm chi phí, đẩy nhanh việc thi công, đưa vào khai thác sử dụng đúng kế hoạch nhằm đạt được hiệu quả tối đa của dự
án tiết kiệm chi phí cho xã hội cho nhà nước
- Đảm bảo công khai dân chủ và công bằng
Công khai và dân chủ nghĩa là phải công khai các văn bản pháp lý, các chế độ chính sách BT và HT, các phương án BT và HT đã được các cấp có thẩm quyền phê duyệt với mục đích để dân biết, dân tin vào chủ trương thu hồi đất của các cấp có thẩm quyền và phương án phê duyệt của Hội đồng GPMB Từ đó tạo niềm tin trong nhân dân
và khiến người dân tự giác thực hiện
Công bằng có nghĩa là phải đảm bảo tính công bằng trong các phương án bồi thường cho người bị thu hồi đất không được ưu tiên cho người này người khác mà phải làm theo các quy định của chính sách của nhà nước
Mặt khác, việc thực hiện tốt công bằng, công khai và dân chủ sẽ tránh được những tiêu cực của một số cán bộ trong việc thực hiện BT, thu hồi đất GPMB tạo niềm tin cho nhân dân
- Đảm bảo hài hòa lợi ích cho các bên liên quan
Công tác GPMB là một công tác khá phức tạp và rất nhạy cảm Nó liên quan tới nhiều cấp, ngành và đặc biệt là người dân Do đó đảm bảo hài hòa lợi ích của các bên liên quan
là một yêu cầu quan trọng trong công tác BT GPMB Khi thực hiện hiện tốt yêu cầu này thì
có thể hạn chế các khiếu kiện của người bị thu hồi đất và sẽ đẩy nhanh tiến độ của công tác bồi thường giai phóng mặt bằng
Trang 13- Đối tượng được bồi thường: Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân trong nước có đất bị
thu hồi gọi chung là người bị thu hồi đất được đền bù thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất
để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng
1.4 Dự án đầu tư xây dựng
Dự án là một quá trình đơn nhất, gồm một tập hợp các hoạt động có phối hợp và
được kiểm soát, có thời hạn bắt đầu và kết thúc, được tiến hành để đạt được một mục tiêu phù hợp với các yêu cầu quy định, bao gồm cả các ràng buộc về thời gian, chi phí
và nguồn lực
Dự án là tập hợp một số giải pháp nhằm đật được mục tiêu nhất định trong mét
thời gian nhất định với giá thành quy định và chất lượng theo yêu cầu Dự án đầu tư là mét trong những dự án quan trọng nhất
Dự án đầu tư có thể được xem xét từ nhiều góc độ Về mặt hình thức; dự án đầu
tư là một tập hồ sơ tài liệu trình bày một cách chi tiết và có hệ thống các hoạt động và chi phí theo mét kế hoạch để đạt được những kết quả và thực hiện được những mục tiêu nhất định trong tương lai
Theo Nghị định 52/1999/NĐ- CP ngày 8/ 7/ 1999 của Chính phủ về việc ban hành quy chế quản lý đầu tư và xây dựng thì dự án đầu tư được định nghĩa như sau:
Dự án đầu tư là một tập hợp những đề xuất có liên quan đến việc bỏ vốn để tạo mới, mở rộng và cải tạo những cơ sở vật chất nhất định nhằm đạt được sự tăng trưởng
về số lượng hoặc duy trì, cải tiến, nâng cao chất lượng của sản phẩm hoặc dịch vụ trong khoảng thời gian xác định
Dự án đầu tư xây dựng công trình là tập hợp các đề xuất có liên quan đến việc bỏ
vốn để xây dựng mới, mở rộng hoặc cải tạo những công trình xây dựng nhằm mục đích phát triển, duy trì, nâng cao chất lượng công trình hoặc sản phẩm, dịch vụ trong một khoảng thời gian nhất định Dự án đầu tư xây dựng công trình bao gồm phần thuyết minh và phần thiết kế cơ sở
1.5 Sự cần thiết của công tác bồi thường giải phóng mặt bằng đối với các dự
án đầu tư xây dựng
1.5.1 Giải phóng mặt bằng là yêu cầu tất yếu đối với các dự án xây dựng
Để đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế,văn hóa xã hội phát triển cơ sở hạ tầng thì ngày càng có nhiều dự án đầu tư xây dựng được đưa vào thưc hiện.Trong khi quỹ đất
Trang 14còn có hạn và do tính đặc thù của các dự án nên khi xây dựng đều phải chuẩn bị mặt bằng Vậy mặt bằng xây dựng là yếu tố hết sức cần thiết để có thể triển khai các dự an xây dựng Không có mặt bằng thì không thể triển khai được các dự án Do đó giải phóng mặt bằng là một yêu cầu tât yếu góp phần quan trọng cho việc thực hiện thành công các
dự án Cũng như việc hoàn thành tiến độ xây dựng của các dự án nó là điều kiện kiên quyết để dự án có thể thực hiện
1.5.2 Giải phóng mặt bằng là một yêu cầu khách quan của quá trình đổi mới
Trong quá trình đổi mới thì nhu cầu xây dựng các cơ sở hạ tầng, các khu đô thị mới các khu công nghiệp ngày càng phát triển Với điều kiện quỹ đất hạn hẹp nên hầu hết các diện tích đất đều đã được sử dụng Do đó để thực hiện được các dự án trong quá trình đổi mới thì một yêu cầu khách quan được đặt ra là mặt bằng để có thể thực hiện được dự án Trong quá trình đổi mới thì nhu cầu về nhà ở, bệnh viện, trường học các dịch vụ vui chơi giải trí ngày càng cao nên công tác giải phóng mặt bằng để tạo quỹ đất lại càng cần thiết Gắn với sự phát triển đó thì hệ thống giao thông cũng cần được đầu
tư xây dựng mới và mở rộng các tuyến đường để đáp ứng nhu cầu đi lại, lưu thông hàng hóa Để thực hiện được điều đó thì chúng ta phải bồi thường, giải phóng mặt bằng để có mặt bằng thực hiện các dự án giao thông Vậy cùng với quá trình đổ mới phát triển của đất nước thì công tác giải phóng mặt bằng có vai trò quan trọng và là một yêu cầu tất yếu khách quan trong quá trình đổi mới
1.5.3 Công tác giải phóng mặt bằng góp phần thực hiện quy hoạch sử dụng đất đai nhằm sử dụng đất đai hiệu quả hơn
Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai là một trong những công cụ thống nhất quản
lý đối với toàn bộ đất đai, đảm bảo đất đai được sử dụng hợp lý tiết kiệm và có hiệu quả
Để thực hiện quy hoạch kế hoạch sử dụng đất đai hợp lý thì cần có sử chuyển đổi mục đích sử dụng qua từng thời kỳ để phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế xã hội nhất nhằm mang lại lợi ích kinh tế cao nhất Chúng ta sẽ thực hiện chuyển đổi đất có mục đích kém hiệu quả sang những mục đích có hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội cao hơn
Ví dụ như chúng ta chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp sang xây dựng các khu công nghiệp để tạo ra giá trị kinh tế cao hơn rất nhiều lần so với sản xuất nông nghiệp
Do đó công tác GPMB là yếu tố cần thiết không thể thiếu trong việc thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất Do các khu đô thị các khu dân cư, khu công nghiệp, nông
Trang 15nghiệp, lâm nghiệp, hình thành và phát triển một cách tự nhiên thiếu sự đồng bộ nên một số đất đai bị sử dụng lãng phí, kém hiệu quả Nhà nước tiến hành sắp xếp bố trí lại quy mô cơ cấu sử dụng đất thông qua các quy hoạch kế hoạch để sử dụng đất cho các
dự án cụ thể Các dự án được đưa ra luôn nhằm mục đích là nâng cao hiệu quả sử dụng đất đai cũng như tạo điều kiện sử dụng tốt hơn các nguồn lực khác trong vùng để thúc đẩy kinh tế phát triển Tóm lại công tác giải phóng mặt bằng góp phần thực hiện các quy hoạch kế hoạch sử dụng đất nhằm tăng hiệu quả sử dụng đất đai góp phần phát triển
kinh tế xã hội
1.6 Quản lý trong công tác bồi thường giải phóng mặt bằng đối với các dự
án đầu tư xây dựng
Chương 2: Hiện trạng quản lý trong giai đoạn bồi thường giải phóng mặt
bằng của các dự án xây dựng trên địa bàn tỉnh Đồng Nai
Tìm hiểu thực trạng chính sách bồi thường, giải phóng mặt bằng trên địa bàn tỉnh
Đồng Nai trong thời gian qua, tôi xin được chọn một số dự án có những đặc thù riêng làm cơ sở phân tích, đánh giá.từ đó nêu lên những mặt đã đạt được, những hạn chế, những tồn tại về mặt chính sách của Nhà nước hay quá trình thực hiện của cả chính quyền địa phương cũng như người dân bị thu hồi, giải tỏa để cùng nhau tiến tới một mục đích chung là công nghiệp hóa- hiện đại hóa đất nước, xây dựng xã hội công bằng- dân chủ- văn minh; mà ở đó cuộc sống của người dân càng ngày càng được đảm bảo và nâng cao
2.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hội của tinh Đồng Nai
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên
- Vị trí địa lý : Đồng Nai là tỉnh thuộc miền Đông Nam Bộ nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam, có diện tích 5.903.940 km2, chiếm 1,76% diện tích tự nhiên cả nước
và chiếm 25,5% diện tích tự nhiên của vùng Đông Nam Bộ Tỉnh có 11 đơn vị hành chính trực thuộc gồm: Thành phố Biên Hòa - là trung tâm chính trị kinh tế văn hóa của tỉnh; thị xã Long Khánh và 9 huyện: Long Thành; Nhơn Trạch; Trảng Bom; Thống Nhất; Cẩm Mỹ; Vĩnh Cửu; Xuân Lộc; Định Quán; Tân Phú
Là một tỉnh nằm trong vùng phát triển kinh tế trọng điểm phía Nam, Đồng Nai tiếp giáp với các vùng sau: Phía Đông giáp tỉnh Bình Thuận, Phía Đông Bắc giáp tỉnh
Trang 16Lâm Đồng, Phía Tây giáp Thành phố Hồ Chí Minh, Phía Tây Bắc giáp tỉnh Bình Dương và Bình Phước, Phía Nam giáp tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu
Đồng Nai là tỉnh có hệ thống giao thông thuận tiện với nhiều tuyến giao thông huyết mạch chạy qua như: quốc lộ 1A, quốc lộ 20, quốc lộ 51; tuyến đường sắt Bắc - Nam; gần cảng Sài Gòn, sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất đã tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động kinh tế trong vùng cũng như giao thương với cả nước đồng thời có vai trò gắn kết vùng Đông Nam Bộ với Tây Nguyên
- Địa hình : Tỉnh Đồng Nai có địa hình vùng đồng bằng và bình nguyên với những dải
núi rải rác, có xu hướng thấp dần theo hướng Bắc Nam Có thể phân biệt các dạng địa hình chính như sau:
a) Địa hình đồng bằng gồm 2 dạng:
- Các bậc thềm sông có độ cao từ 5 đến 10 m hoặc có nơi chỉ cao từ 2 đến 5 m dọc theo các sông và tạo thành từng dải hẹp có chiều rộng thay đổi từ vài chục mét đến vài km Đất trên địa hình này chủ yếu là các Aluvi hiện đại
- Địa hình trũng trên trầm tích đầm lầy biển: là những vùng đất trũng trên địa bàn tỉnh Đồng Nai với độ cao dao động từ 0,3 đến 2 m, có chỗ thấp hơn mực nước biển, thường xuyên ngập triều, mạng lưới sông rạch chằng chịt, có rừng ngập mặn bao phủ Vật liệu không đồng nhất, có nhiều sét và vật chất hữu cơ lắng đọng
b) Dạng địa đồi lượn sóng
Độ cao từ 20 đến 200m Bao gồm các đồi Bazan, bề mặt địa hình rất phẳng, thoải, độ dốc từ 30 đến 80 Loại địa hình này chiếm diện tích rất lớn so với các dạng địa hình khác bao trùm hầu hết các khối Bazan, phù sa cổ Đất phân bổ trên địa hình này gồm nhóm đất đỏ vàng và đất xám
c) Dạng địa hình núi thấp:
Bao gồm các núi sót rải rác và là phần cuối cùng của dãy Trường Sơn với độ cao thay đổi từ 200 - 800m Địa hình này phân bố chủ yếu ở phía Bắc của tỉnh thuộc ranh giới giữa huyện Tân Phú với tỉnh Lâm Đồng và một vài núi sót ở huyện Định Quán, Xuân Lộc Tất cả các núi này đều có độ cao (20–300), đá mẹ lộ thiên thành cụm với các đá chủ yếu là granit, đá phiến sét
Nhìn chung đất của Đồng Nai đều có địa hình tương đối bằng phẳng, có 82,09% đất có độ dốc < 80,92% đất có độ dốc <15o, các đất có độ dốc >15o chiếm khoảng 8%
Trang 17- Các loại đất hình thành trên phù sa cổ và trên đá phiến sét như: đất xám, nâu xám, loang lổ chiếm 41,9% diện tích tự nhiên (246.380 ha), phân bố ở phía Nam, Đông Nam của tỉnh (huyện Vĩnh Cửu, Thống Nhất, Biên Hoà, Long Thành, Nhơn Trạch) Các loại đất này thường có độ phì nhiêu kém, thích hợp cho các loại cây ngắn ngày như đậu, đỗ … một số cây ăn trái và cây công nghiệp dài ngày như cây điều …
- Các loại đất hình thành trên phù sa mới như: đất phù sa, đất cát Phân bố chủ yếu ven các sông như sông Đồng Nai, La Ngà Chất lượng đất tốt, thích hợp với nhiều loại cây trồng như cây lương thực, hoa màu, rau quả …
- Tổng diện tích toàn tỉnh có: 590.723 ha Bao gồm: đất nông nghiệp: 277.641 ha; đất lâm nghiệp: 181.578 ha; đất chuyên dùng: 49.717 ha; đất ở: 16.763 ha; đất chưa sử dụng: 897 ha; Đất sông suối và mặt nước chuyên dùng: 52.715 ha
- Tình hình sử dụng đất của tỉnh những năm qua có biến động ít nhiều, nhưng đến nay, Đồng Nai vẫn là tỉnh có quy mô đất nông nghiệp lớn nhất Đông Nam Bộ.
- Khí hậu:
- Đồng Nai nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, với khí hậu ôn hòa, ít chịu ảnh hưởng của thiên tai, đất đai màu mỡ (phần lớn là đất đỏ Bazan), có hai mùa tương phản nhau (mùa khô và mùa mưa)
- Nhiệt độ cao quanh năm là điều kiện thích hợp cho phát triển cây trồng nhiệt đới, đặc biệt là các cây công nghiệp có giá trị xuất khẩu cao
- Nhiệt độ bình quân sơ bộ năm 2009 là: 25,90C
- Số giờ nắng trung bình trong sơ bộ năm 2009 là: 2.454 giờ
- Lượng mưa tương đối lớn và phân bố theo vùng và theo vụ tương đối lớn khoảng 2.301,6mm phân bố theo vùng và theo vụ Vì thế Đồng Nai đã sớm hình thành những vùng chuyên canh cây công nghiệp ngắn và dài ngày, những vùng cây ăn quả
Trang 18nổi tiếng, cùng với nhiều cảnh quan thiên nhiên đẹp, tạo điều kiện thuận lợi cho ngành du lịch phát triển
- Độ ẩm trung bình sơ bộ năm 2009 là 82%
- Dân số:Dân số toàn tỉnh tính đến năm 2010 là 2.559.673 người Trong đó:
- Phân theo khu vực thành thị - nông thôn là: Thành thị là: 855.703 người; Nông thôn là 1.703.970 người
- Phân theo giới tính: Nam: 1.270.120 người, chiếm 49,62%; Nữ:1.289.554 người, chiếm 50,38%
- Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên năm 2010 là 1,12%
2.1.2 Đặc điểm kinh tế xã hội:
- Tổng sản phẩm quốc nội GDP của tỉnh tăng bình quân 13,2%/năm Trong đó ngành công nghiệp, xây dựng tăng 14,5%/năm, dịch vụ tăng 15%/năm, nông lâm nghiệp thủy sản tăng 4,5%/năm Quy mô GDP theo giá thực tế năm 2010 dự kiến đạt 75.137 tỷ đồng (tương đương 4,13 tỷ USD), gấp 2,5 lần năm 2005 GDP bình quân đầu người năm 2010 là 29,65 triệu đồng (1.629USD), tăng gấp 2,1 lần năm 2005
- Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo đúng định hướng, tỷ trọng các ngành công nghiệp - xây dựng tăng từ 57% năm 2005 lên 57,2% năm 2010; dịch vụ từ 28% lên 34% và giảm ngành nông - lâm - thủy sản từ 14,9% xuống còn 8,7% Cơ cấu lao động cũng chuyển dịch mạnh theo hướng giảm tỷ trọng lao động khu vực nông nghiệp từ 45,5% năm 2005 xuống còn 30% năm 2010, lao động phi nông nghiệp tăng từ 54,5% năm 2005 lên 70% năm 2010
- Kim ngạch xuất khẩu tăng bình quân là 17,2%/năm, cao hơn mức tăng của giai đoạn 2001 - 2005
- Tốc độ tăng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội bình quân 19,1%/năm Trong 5 năm 2006 - 2010 huy động tổng vốn đầu tư phát triển xã hội đạt 121.500 tỷ đồng Tốc
độ thu ngân sách bình quân 12,5%/năm, tổng thu ngân sách bình quân chiếm tỷ lệ khoảng 23% GDP hàng năm
- Trong 5 năm 2006 - 2010, đã phát triển thêm 11 khu công nghiệp, nâng tổng số khu công nghiệp được thành lập trên địa bàn tỉnh lên 30 khu với diện tích 9.573 ha Về phát triển các cụm công nghiệp, đến cuối năm 2010 toàn tỉnh có 43 cụm công nghiệp được quy hoạch với tổng diện tích là 2.143 ha trong đó có 2 cụm công nghiệp đã đầu
Trang 19tư hoàn thiện hạ tầng, 6 cụm công nghiệp đang đầu tư hạ tầng số còn lại đang trong quá trình bồi thường giải phóng mặt bằng và lập thủ tục đầu tư
- Tỷ lệ thất nghiệp thành thị năm 2010 giảm xuống còn 2,6% Cơ cấu lao động năm 2010 là: khu vực công nghiệp - xây dựng 39,1%, khu vực dịch vụ 30,9%, khu vực nông nghiệp 30%
- Nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo đến cuối năm 2010 đạt 53%, tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề đạt 40%
- Tỷ lệ phòng học kiên cố đạt 100% Kết quả xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia đến năm 2010 là mầm non 12%, tiểu học 12%, THCS 15%, THPT 20% Đến năm
2010, trên địa bàn tỉnh có 2 trường đại học, 9 trường cao đẳng, 6 trường trung cấp chuyên nghiệp, 80 cơ sở dạy nghề với năng lực đào tạo trên 58.000 học viên
- Cuối năm 2010, toàn tỉnh có 86% ấp, khu phố và 94% hộ gia đình đạt danh hiệu
ấp, khu phố, gia đình văn hóa; 98% cơ quan, đơn vị có đời sống văn hóa
- Tỷ lệ hộ nghèo tính theo chuẩn năm 2006 đến cuối năm 2009 còn dưới 1% Nuế tính theo chuẩn 2009 của tỉnh đến cuối năm 2010 còn 4,27%
- Tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ em dưới 5 tuổi cuối năm 2010 giảm còn 14,5%
- Năm 2010, dự kiến toàn tỉnh có 257 cơ sở y tế 100% xã, phường có trạm y tế, 100% trạm y tế có nữ hộ sinh, 100% ấp, khu phố có nhân viên y tế được đào tạo và hưởng chế độ trợ cấp của nhà nước Toàn tỉnh có 19 bệnh viện đa khoa, chuyên khoa và 13 phòng khám đa khoa khu vực với 5.675 giường bệnh, đạt 19 giường bệnh/vạn dân Toàn tỉnh có 5.703 cán bộ y tế, đạt 22,5 cán bộ y tế/vạn dân Trong đó số bác sỹ là 1.267 người, đạt 5 bác sỹ/vạn dân
Trang 20- Tổng số lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế xã hội của tỉnh Đồng Nai năm 2010 là 1.398.200 người Trong đó:
+ Lao động nông nghiệp chiếm 30,68%;
+ Lao động công nghiệp chiếm 39,29%, thương mại - dịch vụ chiếm 30,03 %
+ Lao động nữ trong độ tuổi khoảng 856.200 người chiếm 49,9% trong tổng số lao động trong độ tuổi
- Năm 2001, tỷ lệ lao động được đào tạo là 32% so với tổng số lao động, thì đến năm 2011, tỷ lệ này lên tới trên 50% Trong tổng số lao động đã qua đào tạo, tốc độ phát triển số lao động có trình độ công nhân kỹ thuật là nhanh nhất Năm 2001, số lao động này mới chiếm 18,22% so với tổng số lao động, thì năm 2011 chiếm tới gần 40%
- Tính đến năm 2010 tổng số lao động ngoài tỉnh về làm việc tại Đồng Nai
khoảng 237.000 người Nhìn chung số lao động do tăng tự nhiên và tăng cơ học đều có
độ tuổi dưới 30, chất lượng lao động tốt, có văn hóa, có sức khỏe, nhiều người đã qua đào tạo
Cơ sở hạ tầng:
- Trong 5 năm 2006 - 2010, đã phát triển thêm 11 khu công nghiệp, nâng tổng số khu công nghiệp được thành lập trên địa bàn tỉnh lên 30 khu với diện tích 9.573 ha Về phát triển các cụm công nghiệp, đến cuối năm 2010 toàn tỉnh có 43 cụm công nghiệp được quy hoạch với tổng diện tích là 2.143 ha trong đó có 2 cụm công nghiệp đã đầu
tư hoàn thiện hạ tầng, 6 cụm công nghiệp đang đầu tư hạ tầng số còn lại đang trong quá trình bồi thường giải phóng mặt bằng và lập thủ tục đầu tư
- Tỷ lệ phòng học kiên cố đạt 100% Kết quả xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia đến năm 2010 là mầm non 12%, tiểu học 12%, THCS 15%, THPT 20% Đến năm
2010, trên địa bàn tỉnh có 2 trường đại học, 9 trường cao đẳng, 6 trường trung cấp chuyên nghiệp, 80 cơ sở dạy nghề với năng lực đào tạo trên 58.000 học viên
- Năm 2010, dự kiến toàn tỉnh có 257 cơ sở y tế 100% xã, phường có trạm y tế, 100% trạm y tế có nữ hộ sinh, 100% ấp, khu phố có nhân viên y tế được đào tạo và hưởng chế độ trợ cấp của nhà nước Toàn tỉnh có 19 bệnh viện đa khoa, chuyên khoa
và 13 phòng khám đa khoa khu vực với 5.675 giường bệnh, đạt 19 giường bệnh/vạn dân Toàn tỉnh có 5.703 cán bộ y tế, đạt 22,5 cán bộ y tế/vạn dân Trong đó số bác sỹ
là 1.267 người, đạt 5 bác sỹ/vạn dân
Trang 21- Ngoài ra Đồng Nai còn phát triển thuỷ sản dựa vào hệ thống hồ đập và sông ngòi Trong đó, hồ Trị An diện tích 323km2 và trên 60 sông, kênh rạch, rất thuận lợi cho việc phát triển một số thủy sản như: cá nuôi bè, tôm nuôi
Hệ thống giao thông:
Đồng Nai đã có bước tiến nhanh trong đầu tư nâng cấp hệ thống giao thông, nhất
là giao thông đường bộ Hệ thống quốc lộ với tổng chiều dài 244,5 km đã và đang được nâng cấp mở rộng thành tiêu chuẩn đường cấp I, II đồng bằng (QL1, QL51), cấp III đồng bằng như QL 20 (tuyến đi Đà Lạt, trên địa bàn tỉnh dài 75km đã được trải thảm lại mặt đường) Xây dựng mới và nâng cấp 3.112 km đường nhựa và bê tông nhựa Hệ thống đường bộ trong tỉnh có chiều dài 3.339 km, trong đó gần 700km
đường nhựa Ngoài ra, hệ thống đường phường xã quản lý, đường các nông lâm
trường, KCN tạo nên 1 mạng lưới liên hoàn đến cơ sở, 100% xã phường đã có đường ô-tô đến trung tâm
Theo quy hoạch trong tương lai gần, hệ thống đường cao tốc đi Biên Hòa - Bà Rịa - Vũng Tàu và TP Hồ Chí Minh, TP Hồ Chí Minh - Long Thành - Dầu Giây, hệ thống đường sắt Biên Hòa - Vũng Tàu, hệ thống cảng nước sâu Vũng Tàu - Thị Vải -
Gò Dầu, sân bay quốc tế Long Thành, hệ thống đường dẫn khí từ Vũng Tàu đi qua tỉnh Đồng Nai về TP Hồ Chí Minh, nâng cấp tỉnh lộ 769 nối quốc lộ 20, quốc lộ 1 với quốc lộ 51 sẽ tạo nên một mạng lưới giao thông hoàn chỉnh, phục vụ nhu cầu phát triển KTXH địa phương và khu vực
Trang 22Hệ thống cảng:
- Cảng Long Bình Tân trên sông Đồng Nai: cách quốc lộ 1, phía bên phải hướng
từ Thành phố Hồ Chí Minh đi Hà Nội 800 mét; công suất 460.000 T/năm với tàu 2000 GRT đã xây xong và đưa vào khai thác một cầu cảng 60m, một bến xà lan
- Cảng Gò Dầu A trên sông Thị Vải: cách quốc lộ 51, phía bên phải hướng từ Biên Hòa đi Vũng Tàu cách 2 km Hiện tại, cỡ tàu lớn nhất tiếp nhận được khoảng 2.000 GRT; tương lai sau khi nạo vét luồng là 10.000 DWT
- Cảng Gò Dầu B trên sông Thị Vải: cách quốc lộ 51, phía bên phải hướng từ Biên Hòa đi Vũng Tàu 2,5 km; đã đưa vào khai thác và sẽ nâng cấp lên đạt công suất thiết kế 10 triệu tấn/năm, 2 bên có khả năng tiếp nhận tàu 15.000 DWT
Ngoài ra, còn có Cảng Phước Thái, Cảng Supe Lân Long Thành…
Hệ thống đường sắt quốc gia đi qua tỉnh:
Với tổng chiều dài là 87,5 km với 12 ga: Gia Huynh, Trảng Táo, Gia Ray, Bảo Chánh, Xuân Lộc, An Lộc, Dầu Giây, Bàu Cá, Trảng Bom, Long Lạc, Hố Nai và Biên Hoà Tuyến đường sắt này là mạch máu giao thông quan trọng nối tỉnh Đồng Nai với
miền Bắc và TP Hồ Chí Minh
2.2 Thực trạng chính sách bồi thường giải phóng mặt bằng trên địa bàn tỉnh Đồng Nai
I Những quy định của Luật Đất đai năm 2003 về bồi thường hỗ trợ và tái định
cư và những quy định hướng dẫn thi hành Luật Đất đai có liên quan đến nay:
* Cơ sở áp dụng:
Cơ sở pháp lý để xây dựng quy định pháp luật về bồi thường giải phóng mặt bằng
Hiến pháp 1992 đặt nền móng cho việc xây dựng chính sách bồi thường giải
phóng mặt bằng qua những điều khoản quy định cụ thể sau:
Điều 17: “Đất đai, rừng núi, sông hồ, nguồn nước, tài nguyên trong lòng đất, nguồn lợi ở vùng biển, thềm lục địa và vùng trời, phần vốn và tài sản do Nhà nước đầu
tư vào các xí nghiệp, công trình thuộc các ngành và lĩnh vực kinh tế văn hoá, xã hội, khoa học kỹ thuật, ngoại giao, quốc phòng, an ninh, cùng các tài sản khác mà pháp luật quy định là của Nhà nước thuộc sở hữu toàn dân”
Trang 23Điều 18: “ Nhà nước giao đất cho các tổ chức, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài… tổ chức, cá nhân… được chuyển quyền sử dụng đất được Nhà nước giao theo quy định của pháp luật
Điều 23: “… trường hợp thật cần thiết vì lý do quốc phòng an ninh và vì lợi ích quốc gia Nhà nước trưng mua hoặc trưng dụng có bồi thường tài sản của cá nhân hoặc
tổ chức theo thời giá thị trường”
Điều 58: “Công dân có quyền sở hữu về thu nhập hợp pháp của cải để dành, nhà
ở, tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất, vốn và tài sản khác trong doanh nghiệp hoặc trong các tổ chức kinh tế khác, đối với đất được Nhà nước giao sử dụng thì theo quy định tại Điều 17 và Điều 18
Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu hợp pháp và quyền thừa kế của công dân
Luật đất đai 1993: Trên cơ sở quy định của Hiến pháp, Luật Đất đai được Quốc
hội thông qua ngày 14/7/1993 đã có những quy định liên quan đến vấn đề bồi thường giải phóng mặt bằng như sau:
Điều 12: Nhà nước xác định giá các loại đất để tính thuế chuyển quyền sử đất, thu tiền khi giao đất hoặc cho thuê đất, tính giá trị tài sản khi giao đất, bồi thường thiệt hại về đất khi thu hồi đất
Điều 27: Trong trường hợp thật cần thiết, Nhà nước thu hồi đất đang sử dụng của người sử đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng thì người bị thu hồi đất được đền bù thiệt hại
Điều 28: Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định giao đất nào thì có quyền thu hồi đất đó
…Trước khi thu hồi đất phải thông báo cho người đang sử dụng biết về lý do thu hồi, thời gian, kế hoạch di chuyển, phương án đền bù thiệt hại
Trong trường hợp có nhu cầu khẩn cấp của chiến tranh, chống thiên tai hoặc trong tình trạng khẩn cấp, thì việc trưng dụng đất do UBND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh trở lên quyết định Hết thời hạn trưng dụnh, người sử dụng đất được trả lại đất và được đền bù thiệt hại do việc trưng dụng gây ra theo quy định của pháp luật
Điều 73: Người sử đất có những quyền sau đây:
Trang 24…6- Được Nhà nước bảo vệ khi bị người khác xâm phạm đến quyền sử đất hợp pháp của mình, được bồi thường thiệt hại về đất khi bị thu hồi
Điều 79: Người sử đất có những nghĩa vụ sau đây:
…6- Đền bù cho người có đất bị thu hồi để giao cho mình…
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật đất đai 2001
Những quy định về bồi thường, giải phóng mặt bằng của Luật Đất đai 1993(được
cụ thể hoá tại Nghị định số 22/1998/NĐ-CP) tuy đã thu được những thành tựu quan trọng trong giai đoạn đầu thực hiện, nhưng càng về sau, do sự biến đổi mau lẹ của tình hình kinh tế xã hội, đã dần mất đi vai trò làm động lực cho sự phát triển, đã nảy sinh nhiều vướng mắc như: Giá đất để tính đền bù thấp hơn nhiều so với thực tế, giải quyết tái định cư, đời sống việc làm cho người có đất bị thu hồi, xử lý các trường hợp cố tình không thực hiện quyết định thu hồi đất làm chậm trễ việc Giải phóng mặt bằng trong quá trong quá trình thực hịên các dự án đầu tư, phát sinh nhiều khiếu kiện của nhân dân Một số vấn đề mới xuất hiện nhưng chưa có quy định để điều chỉnh như tại một số địa phương, các cộng đồng dân cư khi xây dựng các công trình phục vụ lợi ích công cộng của cộng đồng đã sử dụng đất của một số hộ gia đình, cá nhân, trong nhiều trường hợp người bị mất đất không đòi hỏi đền bù thiệt hại về đất đai, tài sản hoặc đền bù có mức
độ Để tạo điều kiện đẩy nhanh tốc độ giải phóng mặt bằng, đẩy nhanh tiến độ thi công các công trình, đồng thời đảm bảo quyền lợi hợp pháp của người sử dụng đất, tại kỳ họp thứ 9 Quốc hội khoá X đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đất đai( ngày 29/6/2001) Trong đó:
Điều 12 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“1, Chính phủ quy định khung giá các loại đất cho từng vùng, theo từng thời gian và nguyên tắc, phương pháp xác định giá các loại đất
2, Căn cứ vào quy định của Chính phủ về khung giá và nguyên tắc, phương pháp xác định các loại đất, UBND tỉnh ,Thành phố trực thuộc Trung ương quy định giá các loại đất phù hợp với tình hình thực tế tại địa phương để tính thuế chuyển quyền sử dụng đất, thu tiền khi giao đất, chuyển mục đích sử dụng đất, tiền thuê đất, lệ phí trước bạ, tính giá trị tài sản khi giao đất, bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất”
Trang 25Điều 17 được sửa dổi, bổ sung như sau:
“ 1, Trong trường hợp thật cần thiết, Nhà nước thu hồi đất đang sử dụng của người sử dụng đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng thì người bị thu hồi đất được bồi thường hoặc hỗ trợ Việc bồi thường hoặc hỗ trợ được thực hiện theo quy định của Chính phủ
2, Nhà nước có chính sách để ổn định đời sống cho người có đất bị thu hồi Trong trường hợp người bị thu hồi đất phải di chuyển chỗ ở thì được mua nhà ở thuộc
sở hữu Nhà nước hoặc được giao đất có thu tiền sử dụng đất để làm nhà ở
Trong trường hợp phương án bồi thường đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt, được công bố công khai và có hiệu lực thi hành theo quy định của pháp luật mà người bị thu hồi đất không thực hiện quyết định thu hồi đất thì cơ quan quyết định thu hồi đất có quyền ra quyết định cưỡng chế Trong trường hợp Chính phủ quyết định thu hồi đất thì UBND tỉnh, Thành phố trực thuộc trung ương ra quyết định cưỡng chế
Trong trường hợp cộng đồng dân cư xây dựng các công trình phục vụ lợi ích công cộng của cộng đồng thei quy hoạch bằng nguồn vốn do nhân dân đóng góp hoặc Nhà nước có hỗ trợ thì việc bồi thường hoặc hỗ trợ cho người có đất được sử dụng để xây dựng công trình do cộng đồng dân cư và người có đất đó thoả thuận
*Các quy định về bồi thường, giải phóng mặt bằng theo Nghị định số 90/CP ngày 17/8/1994( áp dụng từ 17/8/1994 đến 8/5/1998)
Để đảm bảo nhu cầu về đất xây dựng các công trình quốc phòng, an ninh các công trình phục vụ mục đích công cộng, lợi ích quốc gia, đồng thời đảm bảo quyền lợi của người sử dụng đất, ngày 17/8/1994, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 90/CP ban hành quy định về việc đền bù thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào nục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng
Về phạm vi áp dụng, Điều 1 của bản quy định ban hành kèm theo Nghị định số 90/CP quy định như sau:
“ Quy định này chỉ áp dụng để đền bù thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng…”
Trang 26Về khung giá các loại đất để áp dụng khi đền bù thiệt hại về đất, Giải phóng mặt bằng khi nhà nước thu hồi đất Chính phủ quy định tại Nghị định số 87/ CP ngày 17/8/1994
Điều 4 của Nghị định quy định:
“ 1…Trong trường hợp cùng một loại đô thị mà đất có khả năng sinh lợi khác nhau, mức độ hoàn thiện cơ sở hạ tầng khác nhau, thì địa phương được phép vận dụng
hệ số K điều chỉnh khung giá từ 0,8-1,2 lần mức giá của cùng loại đô thị, cùng loại đường phố và vị trí đất quy định trong bảng khung giá đất đô thị
2, Giá các loại đất do địa phương quy định không được thấp hơn giá tối thiểu và không được cao hơn giá tối đa của khung giá và hệ số điều chỉnh…"
Nhưng trong thực tế việc áp dụng khung giá đất gặp nhiều khó khăn, bất cập, các tỉnh đẫ vận dụng hệ số điều chỉnh khung giá K nhưng vẫn không sát với thực tế, không phù hợp với thị trường bất động sản Do đó ngày 13/5/1996, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 302/TTg về việc điều chỉnh hệ số K trong khung giá đất ban hành theo Nghị định số 87/CP ngày 17/8/1994 với khoảng giãn cách rộng lớn: “… từ 0,5- 1,8 lần…”
Sau gần 4 năm thực hiện Nghị định số 90/CP cho thấy việc bồi thường, giải phóng mặt bằng đã bộc lộ những tồn tại nhất định, làm chậm tiến độ giải phóng mặt bằng, chậm tiến độ thực hiện các dự án đầu tư, sau khi Nhà nước thu hồi đất và mặc dù đã được bồi thường nhưng người sử dụng đất vẫn gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là những người bị thu hồi hết đất sản xuất, phải chuyển sang ngành nghề khác Tình trạng thất nghiệp, trẻ
em phải bỏ học đối với những gia đình bị thu hồi đất khá phổ biến, gây gánh nặng cho
xã hội
Từ những vấn đề tồn tại nêu trên, đòi hỏi Nghị định số 90/CP cần được thay thế
để có chính sách, pháp luật phù hợp vừa khắc phục những tồn tại, vừa đảm bảo thời gian thi công các công trình, vừa đảm bảo quyền lợi của các người sử dụng đất, đảm bảo ổn định kinh tế, chính trị, xã hội
Các quy định về bồi thường, giải phóng mặt bằng theo Nghị định số 22/1998/NĐ- CP ngày 24/4/1998( áp dụng từ 8/5/ 1998 đến nay)
Trang 27Hệ thống văn bản pháp luật:
+Nghị định số 22/1998/NĐ - CP ngày 24/4/1998 của Chính phủ về việc đền bù thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng (Thay thế Nghị định số 90/CP ngày 17/8/1994)
+ Thông tư số 145/ TT – BTC ngày 4/11/1998 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Nghị định số 22/1998/NĐ- CP
+ Công văn số 4448/TC- QLCS ngày 4/9/1999 của Bộ Tài chính hướng dẫn xử
lý một số vướng mắc trong công tác đền bù giải phóng mặt bằng
+ Ngoài ra còn có Quyết định số 592/1999/QĐ- BGTVT ngày 12/3/1999 của Bộ trưởng Bộ giao thông vận tải về việc ban hành những quy định về kỹ thuật khi tiến hành giải phóng mặt bằng phục vụ các dự án xây dựng công trình giao thông
Nội dung của Nghị định số 22/1998/ NĐ-CP và Thông tư số 145/TT- BTC:
+ Về đối tượng phạm vi áp dụng:Chính sách đền bù thiệt hại Giải phóng mặt
bằng được áp dụng chung cho mọi trường hợp bị Nhà nước thu hồi đất Với quy định này thì trường hợp các nhà đầu tư được Nhà nước giao đất, cho thuê đất để thực hiện
dự án xây dựng, kinh doanh bằng nguồn vốn đầu tư trong nước, vốn đầu tư nước ngoài cũng được áp dụng chung chính sách vơi trường hợp sử dụng đất để xây dựng công trình công cộng do ngân sách Nhà nước đầu tư Việc áp dụng chung một chính sách đền bù trong thời điểm này là phù hợp cơ chế xác định giá đất của Nhà nước, có tác dụng tạo
ra sự thống nhất trong quá trìng thực hiện, thúc đẩy quá trình Giải phóng mặt bằng đối với các dự án xây dựng sử dụng vốn từ ngân sách Nhà nước Tuy nhiên, hiện nay quy định này đang bộc lộ những điểm không phù hợp
+ Nguyên tắc đền bù: Người được Nhà nước giao đất sử dụng vào mục đích nào
thì khi thu hồi, Nhà nước đền bù bằng cách giao đất có cùng mục đích sử dụng hoặc đền
bù bằng tiền theo giá đất cùng mục đích sử dụng hoặc đền bù bằng nhà ở, khi đền bù bằng đất hoặc bằng nhà ở mà có chênh lệch về giá trị thì người được đền bù được nhận( hoặc phải trả) phần chênh lệch giá trị đó bằng tiền
+ Về điều kiện được đền bù: Chính sách đất đai của Nhà nước Việt Nam qua các
thời kỳ lịch sử đã có rất nhiều thay đổi, từ chỗ có nhiều hình thức sở hữu đất đai nay chỉ
Trang 28còn duy nhất một hình thức sở hữu Nhà nước về đất đai, từ chỗ quản lý đất đai chỉ đơn thuần là biện pháp hành chính đến nay đã thêm các biện pháp về kinh tế và dân sự, đối tượng sử dụng đất cũng qua nhiều lần điều chỉnh trong cải cách ruộng đất, cải tạo kinh
tế tư bản tư nhân, hợp tác hoá trong nông nghiệp, khoán sản phẩm, giao đất giao rừng… Bên cạnh đó công tác quản lý đất đai, đăng ký quyền sử dụng đất, cập nhật các biến động về diện tích, loại, hạng đất, về chủ sử dụng đất lại không được thực hiện đầy đủ không được theo dõi thường xuyên dã làm cho hiện tượng quản lý, sử dụng đất thực sự
đa dạng, phức tạp Mỗi một trường hợp sử dụng đất đều có nguồn gốc, hoàn cảnh khác biệt nhau vì thế việc cụ thể, chi tiết hoá các trương hợp được đền bù thịêt hại về đất, về tài sản đã bước đầu làm cho phương án đền bù sát với thực tế và có tính khả thi cao hơn Nghị định số 22/1998/NĐ- CP đã quy định các trường hợp sử dụng đất hợp pháp phải
là người có một trong các giấy tờ theo quy định như: giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyết định giao đất, cho thuê đất của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, giấy tờ chuyển nhượng quyền sử dụng đất
+ Về giá đất để tính đền bù thiệt hại: Thông tư số 145/TT- BTC ngày 4/11/1998
của Bộ Tài chính hướng dẫn ban hành Nghị định số 22/1998/NĐ - CP quy định giá đất
để tính đền bù thiệt hại được xác định trên cơ sở giá đất do UBND cấp tỉnh quy định nhân với hệ số K Trong đó:
- Giá đất do UBND cấp tỉnh quy định là giá đất do UBND cấp tỉnh căn cứ vào khung giá các loại đất ban hành kèm theo Nghị định số 87/CP ngày 17/8/1994 đã bao hàm hệ số K quy định trong Quyết định số 302/TTg ngày 13/5/1996 của Thủ tướng Chính phủ và Nghị định số 17/1998/NĐ- CP ngày 21/3/1998( Nghị định số 17/1998/NĐ-
CP sửa đổi, bổ sung khoản 2, Điều 4 của Nghị định 87/CP ngày 17/8/1994: “ Giá các loại đất do địa phương quy định có thể thấp hơn giá tối thiểu hoặc cao hơn giá tối đa của khung giá các loại đất ban hành kèm theo Nghị định số 87/CP ngày 17/8/1994 vủa Chính phủ và hệ số K đã được điều chỉnh tại Quyết định số 302/TTg ngày 13/5/1996 của Thủ tướng Chính phủ, nhưng giảm hoặc tăng không vượt quá 50%
- Hệ số K được xác định theo quan hệ tỷ lệ giữa giá đất tính theo khả năng sinh lợi (hoặc giá chuyển quyền sử dụng đất thực tế) với giá đất do UBND cấp tỉnh quy định nêu ở trên
Trang 29Giải thích về cách tính giá đất để tính đền bù thiệt hại:
Giả sử giá đất do UBND cấp tỉnh quy định căn cứ vào khung giá các loại đất ban hành theo Nghị định số 87/CP là M
Ký hiệu hệ số K theo Quyết định số 302/TTg là K302( với 0,2 <=k302<=1,8) như vậy giá đất đã được điều chỉnh theo Quyết định số 302/TTg là M*K302 Theo Nghị định
số 17/1998/NĐ- CP, giá đất được điều chỉnh tăng hoặc giảm đến 50% sẽ là M*K302)(0%- 50%)(M*K302)
+(-Có hệ số K theo Thông tư số 145/TT – BTC khi đó giá đất để tính đền bù thiệt hại sẽ là (M*K302)+(-)(0%-50%)(M*K302)*K
Do bảng giá đất được ban hành trong một thời gian dài không được sửa đổi cập nhật( từ 1994 đến nay), dẫn đến giá đất do UBND cấp tỉnh quy định thấp hơn nhiều so với thực tế Từ đó, khi tính giá đất để đền bù thiệt hại đã phải tiếp tục đưa thêm một hệ
số k nữa Theo cách này, giá đất được đền bù đã cho phép tiến gần hơn so với thực tế thì trường hợp về giá trị quyền sử dụng đất, bước đầu đảm bảo đền bù thiệt hại đất đai tài sản sát với mức thiệt hại thực tế và được đa số nhân dân chấp thuận
Ngoài ra, Nghị định số 22/1998/NĐ- CP còn quy định nguyên tắc đền bù thiệt hại về tài sản; đền bù thiệt hại cho người thuê nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước ; đền bù thiệt hại về mồ mả, đền bù thiệt hại đối với các công trình văn hoá, di tích lịch sử, đền chùa, đền bù thiệt hại đối với các công trình kỹ thuật hạ tầng, đền bù thiệt hại về hoa màu, đền bù thiệt hại trong trường hợp giao đất tạm thời, chính sách hỗ trợ cho những người có đất bị thu hồi
+ Về tổ chức thực hiện: Những tác động tích cực của khâu tổ chức đền bù thiệt
hại, giải phóng mặt bằng được thấy rõ nhất trong lĩnh vực giao đất, cho thuê đất để thực hiện các dự án đầu tư- đặc biệt là đầu tư nước ngoài Trước đây chủ đầu tư phải trực tiếp liên hệ giải quyết mọi vấn đề với người bị thu hồi đất mà kết quả thường là chủ đầu
tư bị gây khó khăn làm tăng chi phí đền bù, ảnh hưởng xấu đến tiến độ đầu tư và nay với quy định cụ thể về thành lập Hội đồng đền bù thiệt hại, giải phóng mặt bằng ở cấp huyện hoặc cấp tỉnh, thành phần của Hội đồng với đầy đủ các ban ngành ở địa phương
và có sự tham gia của chủ đầu tư dự án với tư cách là một thành viên đã gắn kết trách
Trang 30nhiệm của chính quyền địa phương với những dự án đầu tư trên địa bàn, khắc phục tình trạng nêu trên
Với chi phí tổ chức thực hiện đền bù, giải phóng mặt bằng Nghị định số 22/1998/NĐ- CP quy định: Mức chi phí cho việc tổ chức thực hiện đền bù, giải phóng mặt bằng và các chi phí khác có liên quan do Hội đồng đền bù giải phóng mặt bằng lập
dự toán báo cáo Giám đốc sở Tài chính - Vật giá kiểm tra, xem xét để đưa vào phương
án đền bù Bộ Tài chính hướng dẫn nội dung chi, quản lý, sử dụng khoản kinh phí này Ngoài các văn bản của Trung ương, Hà Nội đã ban hành các văn bản hướng dẫn thực hiện công tác giải phóng mặt bằng trên địa bàn Thành phố trên cơ sở những quy định chung của Nhà nước và những hướng dẫn cụ thể phù hợp đặc thù của Hà Nội Đó
là Quyết định số 2951/QĐ- UB ngày 8/11/1994 về khung giá các loại đất, có tính đến khả năng sinh lợi của đất(Sau này được thay thế bằng Quyết định số 3519/QĐ- UB ngày 12/7/1997); Quyết định số 3455/QĐ-UB ngày 20/9/1995 về đền bù thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng(được thay thế bằng Quyết định số 3528/ QĐ- UB ngày 13/7/1997), Quyết định số 20/1998/QĐ- UB ngày 30/6/1998 thực hiện Nghị định 22/1998/NĐ- CP, Quyết định số 72/2001/QĐ- UB quy định về trình tự thủ tục tổ chức thực hiện công tác bồi thường thiệt hại, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn Thành phố
1/ Cấp Trung ương:
- Điều 42, Điều 43 Luật Đất đai năm 2003;
- Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất
- Điều 44, Điều 45 …Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ quy định bổ sung về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai
- Điều 29, 30, 31 Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13/8/2009 của Chính phủ quy định bổ sung về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đấ
- Thông tư số 14/2009/TT-BTNMT-BNV-BTC ngày 08/1/2010 của Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Nội vụ và Bộ Tài chính ban hành Thông tư liên tịch số
Trang 3101/2010/TT-BTNMT hướng dẫn về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức và
cơ chế tài chính của Tổ chức Phát triển quỹ đất, trong đó có chức năng nhiệm vụ tổ chức thực hiện việc bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất
2/ Cấp địa phương:
- Quyết định số 53/2008/QĐ-UBND ngày 24/9/2008 của UBND tỉnh Đồng Nai quy định về trình tự thủ tục bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Đồng Nai;
- Quyết định số 20/2010/QĐ-UBND ngày 05/4/2010 của UBND tỉnh về việc ban hành các chính sách hỗ trợ và tiêu chuẩn, thủ tục xét tái định cư khi nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Đồng Nai;
- Quyết định số 21/2010/QĐ-UBND ngày 05/4/2010 của UBND tỉnh về việc ban hành trình tự thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất trên địa bàn tỉnh Đồng Nai;
- Quyết định số 12/2012/QĐ-UBND ngày 23/02/2012 của UBND tỉnh Đồng Nai
về việc ban hành quy định giá bồi thường, hỗ trợ tài sản khi nhà nước thu hồi đất;
* Tổ chức thực hiện:
Thực hiện quy định tại Nghị định 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ, thị xã thành lập Hội đồng đền bù; trong đó, phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân thị xã là chủ tịch hội đồng và các thành viên đúng theo quy định của Chính phủ Hội đồng chịu trách nhiệm trước Uỷ ban nhân dân thị xã và các cơ quan cấp trên về việc thực hiện bồi thường, giải phóng mặt bằng các dự án trên địa bàn thị xã
Việc thực hiện xây dựng phương án, khảo sát và tính toán giá trị bồi thường giải phóng mặt bằng các dự án trên địa bàn tỉnh Đồng Nai được giao cho Ban Đền bù giải phóng mặt bằng thị xã phối hợp với chủ dự án, chính quyền địa phương và các phòng, ban liên quan thực hiện sau đó thông qua Hội đồng đền bù của thị xã Trên cơ sở đó, Ủy ban nhân dân thị xã trình Sở Tài chính thẩm định và Ủy ban nhân dân tỉnh ra quyết định phê duyệt đối với các dự án có tổng giá trị bồi thường, hỗ trợ từ 10 tỷ đồng trở lên; các
dự án có giá trị bồi thường, hỗ trợ dưới 10 tỷ thì Ủy ban nhân dân thị xã phê duyệt sau khi được phòng Tài chính – Kế hoạch thẩm định, hỗ trợ và tái định cư
+ Tổng hợp giá trị thực hiện bồi thường, hỗ trợ và tái định cư các dự án trọng điểm trên địa bàn thị xã giai đoạn 2004 đến 2006 (phụ lục 1)
Trang 32+ Tình hình thực hiện bố trí tái định cư các dự án (phụ lục 2)
II Kết quả thực hiện:
Qua 10 năm triển khai, thi hành Luật Đất đai, công tác về bồi thường hỗ trợ và tái định cư được thực hiện cụ thể như sau:
1 Công tác bồi thường của Trung tâm Phát triển quỹ đất:
- Giao đất để bồi thường, giải phóng mặt bằng, sau đó giao cho chủ đầu tư để xây dựng hạ tầng:
Tổng số được giao 06 khu đất, với tổng diện tích: 221,8366 ha
- Đã chi tiền bồi thường 01 khu đất với diện tích: 1,3831 ha
- Đang trình thẩm định Phương án bồi thường chi tiết 02 khu đất với diện tích: 125,8035 ha
- Đang lập hồ sơ thu hồi đất và Phương án bồi thường: 03 khu đất với diện tích: 94,6500 ha
- Giao đất để bồi thường, giải phóng mặt bằng lập dự án đầu tư hạ tầng kỷ thuật để đấu giá QSDĐ:
Tổng số được giao 06 khu đất, với tổng diện tích: 37,6198 ha
Trung tâm đã lập xong hồ sơ thu hồi đất( 04 khu đất), đang kiểm kê áp giá bồi thường Hiện đang xin chủ trương UBND tỉnh để tiếp tục thực hiện
- Giao đất để quản lý:
Tổng số được giao 04 khu đất, với tổng diện tích: 108,9019 ha
- Đã giao lại Sở Tài nguyên và Môi trường và thị xã Long Khánh theo chỉ đạo của UBND tỉnh: 02 khu đất với diện tích: 1,1464 ha
- Hiện đang quản lý 02 khu đất với diện tích: 107,7555 ha
2 Công tác thẩm định,bồi thường:
Hiện nay có 5 huyện gửi báo cáo tổng hợp 7 năm thực hiện Luật Đất đai, gồm có :
- Huyện Vĩnh Cửu: Tổng diện tích đất thực hiện bồi thường khoảng 270 ha với tổng số tiền bồi thường hỗ trợ khoảng 243 tỉ đồng
- Huyện Tân Phú: Tổng diện đất thực hiện bồi thường khoảng 120,387 ha với tổng
số tiền bồi thường hỗ trợ khoảng 112 tỉ đồng
- Huyện Cẩm Mỹ: Tổng diện đất thực hiện bồi thường khoảng 981 ha với tổng số tiền bồi thường hỗ trợ khoảng 1.627 tỉ đồng
Trang 33- Huyện Xuân Lộc: Tổng diện đất thực hiện bồi thường khoảng 172,8 ha với tổng
số tiền bồi thường hỗ trợ khoảng 140 tỉ đồng
- Huyện Nhơn Trạch: Tổng diện đất thực hiện bồi thường khoảng 2.014,5 ha với tổng số tiền bồi thường hỗ trợ khoảng 1.181,6 tỉ đồng
…
III Đánh giá kết quả đạt được
Về tổng quan, Luật Đất đai năm 2003, có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm
2004, đã thực sự đi vào cuộc sống, được nhân dân đặc biệt quan tâm và đạt được một số kết quả tích cực Tuy nhiên, thực tế triển khai thi hành Luật Đất đai trong thời gian qua
đã phát sinh những nội dung cần phải điều chỉnh như: chính sách giao đất nông nghiệp, thời hạn sử dụng đất nông nghiệp trồng cây hàng năm đã giao theo Nghị định số 64/NĐ-
CP ngày 27 tháng 9 năm 1993 của Chính phủ; chính sách điều tiết lợi ích từ đất đai giữa Nhà nước, nhà đầu tư và người dân; cơ chế chính sách tạo quỹ đất của Nhà nước phục
vụ các mục tiêu công ích, chính sách xã hội, đặt biệt là công tác thu hồi đất, bồi thường,
hỗ trợ, tái định cư để thực hiện các dự án đầu tư của Nhà nước, của các doanh nghiệp
thuộc các thành phần kinh tế… cụ thể như sau:
1/ Kết quả đạt được:
-Trong 6 tháng đầu năm 2009 toàn tỉnh đã có 62 dự án được lập phương án bồi thường tổng thể, tổng giá trị dự kiến bồi thường 2.255,37 tỷ đồng, dự kiến thu hồi 1.618
ha đất, với khoảng 3.270 hộ bị ảnh hưởng
-Trong 6 tháng đầu năm 2009 toàn tỉnh đã thực hiện được 86 dự án, trong đó +Tổng giá trị bồi thường 183,68 tỷ đồng
+Tổng diện tích đất thu hồi 4.980.300 m2, trong đó dất thổ cư 162.819 m2, đất nông nghiệp 3.357.501 m2
+Tổng số hộ ảnh hưởng 5.506 hộ, trong đó có 1500 hộ giải tỏa trắng