1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thiết kế và sử dụng phiếu học tập trong dạy học lịch sử ở trường THPT dựa trên phong cách học tập của học sinh

105 848 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 105
Dung lượng 2,05 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xuất phát từ những lí do trên, cùng với nhu cầu bản thân muốn trang bị cho mình kĩ năng thiết kế và sử dụng PHT vào dạy học môn Lịch sử lớp 10 THPT nên chúng tôi chọn đề tài “Thiết kế và

Trang 1

CỦA HỌC SINH

(ÁP DỤNG PHẦN LỊCH SỬ THẾ GIỚI CẬN ĐẠI - SGK LỊCH SỬ

LỚP 10, CHƯƠNG TRÌNH CHUẨN)

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp dạy học Lịch sử

Người hướng dẫn khoa học

ThS NINH THỊ HẠNH

HÀ NỘI - 2016

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới ThS Ninh Thị Hạnh đã nhiệt tình hướng dẫn, giúp đỡ, chỉ bảo và tạo điều kiện thuận lợi trong suốt quá trình em thực hiện khóa luận này

Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong khoa Lịch sử, trường Đại học

Sư phạm Hà Nội 2 đã dạy dỗ, dìu dắt em trong suốt thời gian em học tại trường giúp em có kiến thức chuyên sâu về Lịch sử

Em xin gửi lời cảm ơn đến Thư viện Quốc gia Hà Nội, Thư viện Hà Nội, Thư viện trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, Thư viện trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Thư viện trường Đại học Quốc gia Hà Nội, các thầy cô giáo và toàn thể các em học sinh trường THPT Tiên Hưng (Thái Bình), trường THPT Hưng Nhân (Thái Bình), trường THPT Thạch Thất (Hà Nội), trường THPT Tùng Thiện (Hà Nội) đã giúp đỡ nhiệt tình và tạo mọi điều kiện thuận lợi trong suốt thời gian em làm khóa luận

Em xin chân thành cảm ơn !

Hà Nội, tháng 5 năm 2016

Sinh viên

Cấn Thị Lan Hương

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2

3 Mục đích nghiên cứu 7

4 Nhiệm vụ nghiên cứu 7

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7

6 Giả thuyết nghiên cứu 8

7 Phương pháp nghiên cứu 8

8 Bố cục khóa luận 8

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG PHIẾU HỌC TẬP TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở THPT DỰA TRÊN PHONG CÁCH HỌC TẬP CỦA HỌC SINH 9

1.1 Các khái niệm cơ bản 9

1.1.1 Phiếu học tập 9

1.1.2 Phong cách học tập 15

1.2 Vai trò của việc sử dụng PHT trong DHLS dựa trên PCHT của HS 19

1.3 Định hướng đổi mới PPDH Lịch sử ở trường THPT 21

1.4 Những yêu cầu cơ bản của việc thiết kế và sử dụng PHT dựa trên PCHT của HS 22

1.4.1 Yêu cầu thiết kế PHT dựa trên PCHT của HS 22

1.4.2 Yêu cầu khi sử dụng PHT dựa trên PCHT của HS 26

1.5 Thực trạng thiết kế và sử dụng PHT trong DHLS dựa trên PCHT của HS 28

Tiểu kết chương 1 32

Trang 5

CHƯƠNG 2: THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG PHIẾU HỌC TẬP TRONG

HỌC SINH 33

(ÁP DỤNG PHẦN LỊCH SỬ THẾ GIỚI CẬN ĐẠI - SGK LỊCH SỬ LỚP 10, CHƯƠNG TRÌNH CHUẨN) 33

2.1 CẤU TRÚC CHƯƠNG TRÌNH, NỘI DUNG LỊCH SỬ LỚP 10 (CHƯƠNG TRÌNH CHUẨN ) 33

2.1.1 Cấu trúc chương trình lịch sử lớp 10 (chương trình Chuẩn) 33

2.1.2 Nội dung kiến thức Lịch sử lớp 10 (chương trình Chuẩn) 34

2.2 QUY TRÌNH THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG PHT TRONG DHLS Ở TRƯỜNG THPT DỰA TRÊN PCHT CỦA HS (ÁP DỤNG PHẦN LỊCH SỬ THẾ GIỚI CẬN ĐẠI - SGK LỊCH SỬ LỚP 10, CHƯƠNG TRÌNH CHUẨN) 38

2.2.1 Thiết kế PHT trong DHLS ở trường THPT dựa trên PCHT của HS 38

2.2.2 Sử dụng PHT dựa trên PCHT của HS hỗ trợ việc tổ chức DH theo góc 52

2.3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 54

2.3.1 Mục đích thực nghiệm 54

2.3.2 Chọn đối tượng thực nghiệm 55

2.3.3 Nội dung và phương pháp thực nghiệm 55

2.3.4 Tiến hành thực nghiệm 56

2.3.5 Kết quả thực nghiệm 58

Tiểu kết chương 2 64

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 65

1 Kết luận 65

2 Khuyến nghị 65

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 67

Trang 6

PHỤ LỤC 1PHIẾU THĂM DÒ Ý KIẾN GIÁO VIÊN

Trang 7

1

MỞ ĐẦU

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Hiện nay việc dạy và học Lịch sử đang trở thành mối quan tâm lớn của toàn

xã hội Nhiều HS ở trường phổ thông không thích học môn Lịch sử và thậm chí coi môn Lịch sử là môn phụ Có nhiều nguyên nhân dẫn đến thực trạng đó Một trong những nguyên nhân quan trọng được các nhà nghiên cứu chỉ ra đó là cách dạy của

GV chưa thực sự hiệu quả Các PP dạy, hình thức tổ chức và phương tiện hỗ trợ DH trong các giờ học Lịch sử còn chưa phong phú, chưa thu hút được người học

Trên thực tế, trong DH nói chung và DHLS nói riêng, GV không chỉ đơn thuần là người có kiến thức chuyên môn sâu rộng mà còn phải là người có kĩ năng dạy học vững vàng, mới có thể truyền đạt kiến thức, giáo dục tư tưởng, phát triển tư duy và thực hành cho HS Để làm được điều đó, người thầy nên có những công cụ

hỗ trợ cho HS trong học tập để HS phát huy được năng lực của mình PHT có thể là một công cụ hỗ trợ hiệu quả trong DH Bởi PHT dễ thiết kế và sử dụng, sử dụng được trong nhiều khâu của quá trình DH, PHT không chỉ là phương tiện truyền tải kiến thức mà còn hướng dẫn cách tự học cho HS, đồng thời thông qua đó rèn luyện năng lực tư duy, sáng tạo, xử lí linh hoạt cho người học… Mặt khác, kết quả của PHT thu được từ HS không những nhanh chóng, kịp thời mà còn thể hiện được trình độ, khả năng của từng em, từ đó giúp cho GV đánh giá chính xác và khách quan về năng lực của HS, để có những tác động tích cực đến đối tượng của mình

Đó còn là điều kiện thuận lợi cho việc tiến hành DH dựa trên PCHT của HS

Tuy nhiên, ở các trường THPT hiện nay, việc sử dụng PHT không những ít

về số lượng mà còn thiếu tính hệ thống, không phù hợp với từng đối tượng HS để

có thể giúp HS hình thành các kĩ năng cần thiết Sự phân bố HS không đồng đều, chương trình Lịch sử cồng kềnh có nhiều kiến thức cần trau dồi nhưng lượng thời gian trên lớp có hạn làm HS khó hiểu, khó tiếp thu kiến thức Những điều này dẫn đến hiệu quả giảng dạy chưa cao, chưa đáp ứng được yêu cầu mục tiêu của vấn đề đổi mới PPDH hiện nay

Trang 8

GV có thể chủ động về chuyên môn và lựa chọn được PPDH phù hợp nhằm giúp

HS tiếp cận với những thông tin, kiến thức một cách dễ dàng hơn, đáp ứng nhu cầu,

sở thích, năng lực và kinh nghiệm của các em Thiết kế và sử dụng PHT dựa trên PCHT của HS là một con đường, một cách có thể khắc phục những hạn chế này

Xuất phát từ những lí do trên, cùng với nhu cầu bản thân muốn trang bị cho mình kĩ năng thiết kế và sử dụng PHT vào dạy học môn Lịch sử lớp 10 THPT nên

chúng tôi chọn đề tài “Thiết kế và sử dụng phiếu học tập trong DHLS ở trường

THPT dựa trên phong cách học tập của học sinh (Áp dụng phần Lịch sử thế giới cận đại - SGK Lịch sử lớp 10, chương trình Chuẩn)”

2 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ

Xung quanh vấn đề đổi mới PPDH Lịch sử và thiết kế công cụ hỗ trợ hướng

HS học tập trong môn Lịch sử ở trường THPT đã được rất nhiều nhà nghiên cứu quan tâm và trình bày trong các công trình nghiên cứu của mình

Thứ nhất sách chuyên khảo về PPDH Lịch sử

Các giáo trình về PPDH Lịch sử như: “Phương pháp dạy học lịch sử phần

đại cương”, tập 2 của các tác giả Phan Ngọc Liên, Trần Văn Trị chủ biên (NXB

Giáo dục 1992), Cuốn “ Đổi mới việc dạy học lịch sử lấy học sinh làm trung tâm”

của Hội khoa học lịch sử Việt Nam do GS Phan Ngọc Liên chủ biên đã đề cập đến phương hướng, biện pháp để nâng cao chất lượng DHLS ở trường phổ thông hiện

Trang 9

3

nay trong đó nhấn mạnh tới vấn đề phát huy năng lực tư duy của học sinh – lấy người học làm trung tâm tức là tác giả đã tôn trọng sự khác biệt của người học

Cuốn “Phát huy tính tích cực của học sinh trong dạy học lịch sử ở trường

THCS” do GS Phan Ngọc Liên, PGS Trịnh Đình Tùng chủ biên đã đề cập đầy đủ

đến tầm quan trọng của các thiết bị DH, thực hành trực quan nhằm huy động mọi đối tượng HS (giỏi, khá, trung bình, yếu, kém) tham gia xây dựng bài Đồng thời đề

ra những biện pháp sư phạm cần thiết nhằm phát huy tính tích cực, khả năng tư duy

độc lập của HS THCS thông qua việc xây dựng công cụ học tập là PHT

“Phương pháp dạy học lịch sử - tập 1” của Phan Ngọc Liên (chủ biên), Trịnh

Đình Tùng, Nguyễn Thị Côi (2010) có đề cập đến những vấn đề lí luận chung về các công cụ hỗ trợ hoạt động học tập cho HS trong học môn Lịch sử Trong đó, khi viết về các biện pháp chủ yếu để phát huy tính tích cực của HS trong DHLS có

đề cập đến vấn đề “tránh việc dạy học theo lối thầy đọc, trò chép HS dưới sự

hướng dẫn của thầy, phải biết ghi nhưng gì cảm thầy cần thiết, hiểu hoặc gợi lên những suy nghĩ về những vấn đề cần giải quyết”, nhưng các tác giả chưa nói rõ cụ

thể để làm được điều này người thầy phải làm gì để giúp HS học tập hiệu quả Đáng chú ý là những ý kiến của tác giả John Dewey (1859 – 1952) người Mĩ dẫn lại trong cuốnDạy và học tích cực và sử dụng thiết bị dạy học (tài liệu tập huấn

về dạy và học tích cực - Dự án Việt – Bỉ, Hà Nội tháng 5/2006) cho rằng: “Việc

dạy học phải kích thích được hứng thú, phải để học sinh độc lập, tìm tòi, thầy giáo

là người thiết kế, người cố vấn” [23, tr.6]

Trong cuốn “Phát huy tính tích cực trong học tập của học sinh như thế

nào”, I.F.Khar-la-mốp (1979) cho rằng học tập là quá trình nhận thức tích cực

trong đó HS phải tự khám phá kiến thức cho bản thân dù chỉ là “khám phá lại” Sự

khám phá này phải thông qua việc sử dụng các nhiệm vụ học tập chứ không phải

là học thuộc lòng PHT có thể thực hiện tốt nhiệm vụ này

Cuốn sách có nhan đề “Frames of Mind” (tạm dịch “Cơ cấu của trí tuệ”)

của tiến sĩ Howard Gardner – một nhà tâm lý học nổi tiếng của Đại học Harvard

đã công bố các nghiên cứu của mình về sự đa dạng của trí thông minh Lý thuyết

Trang 10

4

của Gardner đã chỉ ra rằng: mỗi con người chúng ta đều tồn tại một vài kiểu

thông minh tuy nhiên sẽ có kiểu thông minh trội hơn trong mỗi người Trường học đã bỏ rơi các em có thiên hướng học tập thông qua vận động, thị giác đồng thời lèo lái tất cả mọi HS đi theo cùng một con đường Nhiều HS đã có thể học tập tốt hơn nếu chúng được tiếp thu kiến thức bằng chính thế mạnh của mình Thuyết đa trí tuệ đã mang lại một cái nhìn nhân bản và cần thiết nhằm kêu

gọi GV tôn trọng sự đa dạng về trí tuệ ở mỗi HS GV phải là người giúp đỡ, khơi gợi tiềm năng, tạo điều kiện học tập theo các hướng khác nhau ở HS

Theo cuốn “Phương pháp giáo dục cho người học đa trình độ” của tác giả Dunn có nói: cách thức mỗi cá nhân tập trung và ghi nhớ những thông tin

mới và khó liên quan tới quá trình nhận thức của họ Một số HS học dễ dàng hơn khi những thông tin được trình bày theo từng bước trong một sơ đồ liên tục Những người khác học dễ dàng hơn cả khi học hiểu khái niệm sau đó tập trung vào chi tiết Hay như cuốn “Các phong cách học tập: trí tuệ đa phương tiện” của

Miller đã đề cập đến cách phân loại PCHT dựa vào bán cầu não trái và bán cầu

não phải Điều này ảnh hưởng rất lớn đến xu hướng học tập của HS Như vậy,

các tác giả đã chỉ ra rằng mỗi cá nhân đều có PCHT riêng biệt nhằm tiếp thu kiến thức một cách tốt nhất Hiểu rõ về phong cách của người học, người dạy có thể điều chỉnh PP giảng dạy nhằm tận dụng tốt nhất tình huống đang diễn ra để giúp

người học tiếp nhận thông tin, kiến thức mới một cách dễ dàng hơn

Các công trình nghiên cứu trên là những gợi mở quý báu về mặt lí luận giúp chúng tôi tìm được hướng giải quyết các nhiệm vụ của khóa luận

Thứ hai một số công trình khoa học khác có cùng hướng nghiên cứu

Trong luận văn thạc sỹ khoa học giáo dục của tác giả Đỗ Thị Hồng Hạnh

với đề tài “Thiết kế và sử dụng phiếu học tập trong phương pháp thảo luận nhóm

môn giáo dục học tại trường THSP Thanh Hóa” tác giả đã nhấn mạnh: PHT là một

công cụ hỗ trợ đắc lực cho PP dạy theo nhóm Tác giả chỉ rõ PHT đóng vai trò rất quan trọng trong hoạt động dạy – học, nó được xem như một công cụ hỗ trợ hiệu quả đối với mỗi GV và HS trong từng bài DH

Trang 11

5

Gần đây, có nghiên cứu của tác giả Lê Thị An (2012), Luận văn thạc sĩ

“Thiết kế và sử dụng phiếu học tập trong dạy học lịch sử lớp 10 ở Trung tâm Giáo dục thường xuyên Đình Xuyên, Gia Lâm, Hà Nội (vận dụng qua phần lịch sử thế giới cổ đại và trung đại - chương trình Chuẩn)” Trong đó, trên cơ sở nghiên cứu lý

luận và điều tra thực trạng sử dụng PHT trong DHLS lớp 10 ở trung tâm GDTX Đình Xuyên, tác giả đã đề xuất quy trình thiết kế và các biện pháp sử dụng PHT trong DHLS thế giới cổ đại và trung đại lớp 10 (chương trình Chuẩn ) theo hướng phát huy tính tích cực của HS

Ngoài ra, nghiên cứu về các phương tiện hỗ trợ hoạt động học tập nhằm phát huy tính tích cực của HS trong giờ học Lịch sử còn là đề tài nghiên cứu khoa học,

đề tài khóa luận tốt nghiệp đại học của một số sinh viên, khoa Lịch sử trường Đại học Sư phạm Hà Nội và trường Đại học giáo dục – Đại học Quốc gia Hà Nội Tiêu

biểu như: “Sử dụng phim tư liệu trong dạy học lịch sử ở trường THPT” của Nguyễn Tiến Trình (2008), “Xây dựng công cụ hướng dẫn học sinh tự kiểm tra đánh giá

trong học tập môn Lịch sử ở trường THPT” của Nguyễn Xuân Mạnh (2009), “ Sử dụng phương tiện dạy học để nâng cao chất lượng giảng dạy ở lớp 10 THPT” của

Phạm Minh Hiếu, Nguyễn Hoàng Long , Kỷ yếu Hội nghị khoa học sinh viên lần thứ IX – Sinh viên trường Đại học Giáo Dục – Đại học Quốc gia với nghề dạy học,

Hà Nội 2010 Trong những bài viết này, các tác giả đã đề cập đến vai trò của PHT trong việc hỗ trợ đắc lực và hiệu quả cho các phương tiện hỗ trợ trên

Các bài viết như “Những vấn đề trong dạy học lịch sử ở trường THPT hiện

nay” của GS Phan Ngọc Liên và Nguyễn Thị Côi , “Một vài suy nghĩ về đổi mới nội dung giảng dạy lịch sử ở trường phổ thông hiện nay” của tác giả Nghiêm Đình Vì

và Trịnh Đình Tùng trên tạp chí nghiên cứu lịch sử số 5/1991, “ Về biện pháp nâng

cao chất lượng dạy học lịch sử” của PGS Trịnh Đình Tùng đăng trên tạp chí nghiên

cứu giáo dục số 5/1994, “ Hướng dẫn làm bài tập lịch sử” của tác giả Nguyễn Thị

Côi và Phan Thị Kim Anh trên tạp chí nghiên cứu giáo dục số 6/1994… đã đi sâu vào các vấn đề khác nhau của PPDH Lịch sử nói chung và vấn đề công cụ hỗ trợ trong DHLS nói riêng mà cụ thể là PHT

Trang 12

6

Cụ thể hơn trong bài viết “Phiếu học tập – phương pháp dạy học có sử dụng

phiếu học tập” của tác giả Nguyễn Thị Dung được đăng trên thông tin khoa học

giáo dục số 45/1994;“Phương pháp sử dụng phiếu học tập trong dạy học Địa lí lớp

10 nhằm phát huy tính tích cực và độc lập của học sinh” của tác giả Đậu Thị Hòa, Tạp chí giáo dục số 195/2008, cho biết: Phiếu học tập là công cụ để GV tổ chức

hoạt động khai thác và lĩnh hội kiến thức theo hướng định trước của GV

Ngoài ra, trong bài viết “Mỗi người một kiểu học” (Bản tin đại học Quốc gia

Hà Nội, số 216/2009) PGS.TS Nguyễn Công Khanh đã đòi hỏi GV bằng các chiến lược dạy và học tích cực như sử dụng PHT dựa trên PCHT của người học, học thông qua hành động, học qua trải nghiệm, tìm cách đặt ra cho người học những nhiệm vụ phải giải quyết để các em suy nghĩ, tìm lý thuyết, PP phù hợp Có như vậy, người học mới có nhiều cơ hội để phát triển các chiến lược học hiệu quả tạo thành PCHT tích cực

Bài viết của Ths.Nguyễn Thị Đỗ Quyên trong Lý thuyết phong cách học tập

và khả năng ứng dụng và dạy học (Bản tin khoa học, cao đẳng Thương Mại,

23/9/2009) đã chỉ ra những đặc điểm cốt lõi của PCHT Và đây cũng là cơ sở lí luận quan trọng để GV đổi mới PP giảng dạy theo hướng tích cực hóa người học thông qua các mô hình PCHT phù hợp với đặc điểm môn học và giúp HS ý thức rõ hơn về PCHT ưu thế của bản thân để có PP tự học phát huy và hạn chế tối đa các ưu khuyết điểm trong thói quen học tập Đây là các nguồn tài liệu tham khảo hữu ích cho đề tài

Tóm lại các công trình nghiên cứu kể trên đã đề cập đến yêu cầu cần có sự

hỗ trợ tích cực của các phương tiện, công cụ trong DHLS để giờ học Lịch sử có hiệu quả hơn Tuy nhiên các công trình nghiên cứu đi trước mới chỉ dừng lại ở việc khái quát những vấn đề lí luận, chưa vận dụng cụ thể vào chương trình Lịch sử lớp

10 và chưa dựa trên PCHT của HS Tiếp thu các kết quả nghiên cứu trên, chúng tôi thực hiện đề tài của mình nhằm góp phần nâng cao hiệu quả trong DHLS nói chung

và phần Lịch sử thế giới cận đại nói riêng

Trang 13

4 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

Việc nghiên cứu đề tài nhằm thực hiện một số nhiệm vụ sau:

- Nghiên cứu cơ sở lí luận của việc thiết kế và sử dụng PHT trong DHLS dựa trên PCHT của HS

- Điều tra thực trạng thiết kế và sử dụng PHT trong DHLS dựa trên PCHT của HS

- Phân tích cấu trúc chương trình và nội dung kiến thức SGK Lịch sử lớp 10, chương trình chuẩn

- Đề xuất quy trình thiết kế và cách thức sử dụng PHT trong DHLS dựa trên PCHT của HS nhằm nâng cao hiệu quả DH

- Thực nghiệm sư phạm: đánh giá tính phù hợp và hiệu quả của việc sử dụng các PHT đã thiết kế vào DHLS

5 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

5.1 Đối tượng nghiên cứu

Quá trình DHLS ở trường THPT với việc sử dụng PHT dựa trên PCHT của

HS

5.2 Phạm vi nghiên cứu

- Nội dung: nghiên cứu việc sử dụng PHT nhằm sử dụng có hiệu quả dựa

trên PCHT của HS trong phần Lịch sử thế giới cận đại (SGK Lịch sử lớp 10, chương trình Chuẩn)

- Về phạm vi điều tra, khảo sát thực trạng và thực nghiệm:

+ THPT Tùng Thiện (Hà Nội)

+ THPT Thạch Thất (Hà Nội)

+ THPT Hưng Nhân (Thái Bình)

Trang 14

8

+ THPT Tiên Hưng (Thái Bình)

6 GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU

Nếu vận dụng được cách thức thiết kế và sử dụng dựa trên PCHT của HS một cách hợp lí sẽ góp phần nâng cao chất lượng DHLS nói chung và phần Lịch sử thế giới cận đại (SGK Lịch sử lớp 10, chương trình Chuẩn) nói riêng

7 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Sử dụng kết hợp các nhóm phương pháp nghiên cứu sau đây:

- Nhóm phương pháp nghiên cứu lí thuyết

Phân tích, tổng hợp, phân loại, hệ thống hóa… tài liệu có liên quan

- Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

+ Tìm hiểu, quan sát quá trình dạy và học môn Lịch sử ở trường phổ thông + Điều tra, phỏng vấn, trao đổi, hỏi ý kiến của các GV trường THPT

Chương 2: Thiết kế và sử dụng phiếu học tập trong dạy học Lịch sử ở trường trung học phổ thông dựa trên phong cách học tập của học sinh (Áp dụng phần lịch

sử thế giới cận đại - SGK Lịch sử 10, chương trình Chuẩn)

Trang 15

9

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA THIẾT KẾ VÀ

SỬ DỤNG PHIẾU HỌC TẬP TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở THPT

DỰA TRÊN PHONG CÁCH HỌC TẬP CỦA HỌC SINH

1.1 CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN

1.1.1 Phiếu học tập

1.1.1.1 Khái niệm

PHT là công cụ quen thuộc hỗ trợ người GV trong dạy học nói chung và DHLS nói riêng Có nhiều quan niệm giải thích về nội dung của khái niệm PHT Tuy nhiên hầu hết các nhà nghiên cứu đều thống nhất với cách hiểu cơ bản sau:

Thứ nhất, trong Từ điển Tiếng Việt, Hoàng Phê định nghĩa:

Phiếu là tờ giấy rời có cỡ nhất định, ghi chép những nội dung nhất định

nhằm để phân loại, sắp xếp theo một hệ thống nào đó, ghi nhận một quyền lợi của người sử dụng [39, tr 780]

Học tập là học và luyện tập để hiểu biết, để có kĩ năng [39, tr.454]

Kết hợp cách giải nghĩa từ phiếu và từ học tập, ta có thể khái quát: Phiếu học

tập là những tờ giấy rời in sẵn những nội dung, nhiệm vụ học tập

Thứ hai, một số quan điểm về PHT của các nhóm tác giả:

Nhà nghiên cứu Đậu Thị Hòa và tác giả Đỗ Thị Hồng Hạnh đều thống nhất với ý kiến :

Phiếu học tập là những thông tin bằng giấy hoặc dạng giấy do giáo viên thiết kế, gồm một hoặc một số tờ có vai trò học liệu để bổ sung cho sách và tài liệu giáo khoa quy định, có chức năng hỗ trợ giảng dạy, vừa như là công cụ hoạt động, vừa tạo điều kiện cho hoạt động của người học và người dạy mà trước hết như một nguồn thông tin học tập [20, tr.22] Trong mỗi PHT giao cho HS là những nhiệm vụ

nhận thức cụ thể nhằm dẫn dắt tới một kiến thức, tập dượt một kỹ năng, rèn luyện một thao tác tư duy hoặc thăm dò một thái độ của HS trước một vấn đề

Trang 16

10

Theo nhóm tác giả Nguyễn Thành Đạt, Nguyễn Đức Thành, Nguyễn Xuân Viết trong tài liệu bồi dưỡng thường xuyên giáo viên THPT chu kì III 2004- 2007

lại cho rằng: Phiếu học tập là những tờ giấy rời in sẵn những công tác độc lập,

được phát cho từng học sinh, nhóm học sinh, tự lực hoàn thành trong một thời gian ngắn của tiết học [tr 45] Cách quan niệm tương đối khái quát nhưng tác giả chỉ giới

hạn phạm vi sử dụng của PHT là ở trên lớp học

Còn với nhóm tác giả Nguyễn Thị Ngọc Hà và Phạm Đình Thực lại nhìn nhận PHT như một công cụ được sử dụng khá linh hoạt trong mọi thời gian chứ

không chỉ ở phạm vi trong giờ học trên lớp: Phiếu học tập là những mảnh rời được

giáo viên thiết kế sẵn các yêu cầu để học sinh trả lời bằng cách điền vào Thời điểm

sử dụng rất linh hoạt, giáo viên có thể cho học sinh làm ở nhà hay làm tại lớp [24]

Nhìn chung, các tác giả khá thống nhất với nhau trong việc xác định bản chất của PHT, gồm những đặc điểm chính: Là công cụ học tập và giảng dạy; được GV thiết kế sẵn trên giấy; giúp HS độc lập chiếm lĩnh kiến thức và GV thuận lợi trong giảng dạy

Theo đó có thể khẳng định: Phiếu học tập là công cụ hỗ trợ do giáo viên

thiết kế, gồm có một hoặc một số tờ giấy có ghi sẵn những thông tin hoặc nhiệm vụ học tập cụ thể cho học sinh

PHT đảm nhận hai chức năng chính sau:

Thứ nhất là cung cấp tư liệu cho người học nhằm phục vụ cho quá trình khai thác nội dung bài học

PHT là những phiếu thông tin, do đó trước hết nó cung cấp cho người học những thông tin cần thiết liên quan đến bài học, phục vụ thiết thực cho bài học Nó

Trang 17

11

có thể là những nội dung trong bài học mà GV muốn nhấn mạnh để HS theo dõi một cách tập trung, nó cũng có thể là những hình ảnh trực quan nhằm minh họa nội dung bài học, nó cũng có thể là những thông tin ngoài bài học nhằm bổ sung thêm kiến thức cần thiết cho HS Tiếp xúc với PHT là HS được tiếp xúc với một một kênh thông tin khác do GV tạo ra nhằm hướng HS đến những yêu cầu nhất định

Ví dụ: Một bài giới thiệu về nhân vật G Oa-sinh-tơn mà GV tìm trong các nguồn tài liệu hay một số hình ảnh ngoài SGK nói về thành tựu của cuộc cách mạng công nghiệp ở châu Âu GV yêu cầu HS đọc những thông tin đã cho và hoàn thành yêu cầu : Em hãy trình bày một vài nét ngắn gọn về G Oa-sinh-tơn hoặc Trình bày những thành tựu tiêu biểu của cuộc cách mạng công nghiệp ở châu Âu

Thứ hai là công cụ để GV và HS giao tiếp trong học tập

Hoạt động DH là hoạt động giao tiếp giữa GV và HS GV và HS có thể sử dụng nhiều phương tiện để giao tiếp, trong đó PHT là một công cụ hữu hiệu Thông qua những tờ giấy rời phát đến tận tay từng HS thì GV sẽ giao tiếp với HS, nắm bắt được tâm tư nguyện vọng cũng như khả năng của học trò Thông qua đó mà không khí lớp học sẽ sinh động hơn chứ không đơn điệu ở hình thức thầy đặt câu hỏi – trò nghe và trả lời Mặt khác, qua PHT với PP học tập trao đổi và hợp tác, HS có thể trao đổi với nhau, giao lưu kiến thức với nhau, chỉnh sửa kiến thức cho nhau để quá trình khám phá tri thức được thực hiện một cách hiệu quả

Ví dụ: Khi dạy nội dung Cách mạng công nghiệp ở Anh trong bài Cách mạng công nghiệp ở châu Âu GV thiết kế một PHT cho HS hoạt động nhóm với nhiệm vụ là thống kê các thành tựu của cuộc các mạng công nghiệp trên các lĩnh vực khác nhau: công nghiệp dệt, máy móc và giao thông vận tải HS mỗi nhóm làm

về một thành tựu và trình bày, các nhóm khác theo dõi, trao đổi, đặt câu hỏi dưới sự hướng dẫn của GV Sau đó cả lớp thống nhất ghi vào phần nội dung trống trong phiếu

Như vậy, thông qua các hoạt động học tập được tổ chức ở lớp, GV có thể nắm bắt được khả năng nhận thức và diễn đạt của HS, tâm tư nguyện vọng của HS Mặt khác, khi cho HS hoạt động hợp tác, trao đổi với nhau thông qua PHT các em

Trang 18

12

có thể mở rộng, giao lưu kiến thức Từ đó, HS sẽ trưởng thành hơn thông qua hoạt động giao tiếp này

1.1.1.3 Phân loại

Tùy theo các căn cứ khác nhau mà ta có các dạng PHT khác nhau

- Căn cứ vào chức năng của phiếu học tập, ta có thể phân phiếu học tập thành 2 dạng sau:

+ PHT cung cấp thông tin: cung cấp thông tin trong bài học hoặc liên quan đến bài học cho HS Đây chính là nguồn tài liệu tham khảo ngoài sách giáo khoa do

GV tìm kiếm và đã qua quá trình gia công sư phạm để phù hợp với nội dung bài học

và năng lực nhận thức của GV

+ Phiếu công cụ hoạt động: đề xuất những nội dung hoạt động cụ thể cho

HS, đó chính là những nhiệm vụ học tập mà HS phải thực hiện trong mỗi giờ học

- Căn cứ vào mục đích sử dụng phiếu học tập:

+ PHT để kiểm tra bài cũ: GV sử dụng PHT để kiểm tra kiến thức, kĩ năng

mà HS đã học ở bài trước Sử dụng PHT để kiểm tra có thể tạo điều kiện cho GV kiểm tra được nhiều HS một lúc, có thể cho HS làm được nhiều dạng bài tập hơn nhờ việc tiết kiệm được thời gian đọc hoặc chép bài tập

+ PHT để dạy kiến thức mới: Phiếu dùng để khám phá, xây dựng những đơn

vị kiến thức và kĩ năng trong bài mới Dạy bài mới là khâu quan trọng nhất, chiếm nhiều thời lượng nhất trong chương trình Việc sử dụng PHT sẽ tạo điều kiện cho

HS tích cực, độc lập chiếm lĩnh kiến thức và rèn luyện các kĩ năng cơ bản

+ PHT củng cố bài học: Phiếu dùng để hệ thống hóa, củng cố những nội dung trong bài học Đây là khâu hệ thống, khái quát lại những nội dung kiến thức và

kĩ năng cơ bản nên việc sử dụng PHT sẽ giúp HS có cái nhìn bao quát và góp phần khắc sâu bài học hơn

+ Phiếu giao bài tập về nhà: Phiếu ghi những bài tập cụ thể giao cho HS thực hiện ở nhà (ngoài giờ học trên lớp) Việc chuẩn bị bài tập ở nhà sẽ tạo điều kiện cho

HS củng cố bài trước tốt hơn và chuẩn bị cho giờ học tiếp theo đạt hiệu quả hơn

Trang 19

13

Cho nên, nếu sử dụng phiếu giao việc cho HS về nhà thực hiện, HS sẽ có ý thức chuẩn bị bài tốt hơn

- Căn cứ vào nội dung của phiếu học tập có các dạng phiếu sau:

+ Yêu cầu giải quyết vấn đề: phiếu đặt ra một nhiệm vụ học tập cụ thể nào

đó mà HS phải giải quyết trong một thời gian nhất định

+ Yêu cầu trả lời câu hỏi: phiếu ghi những câu hỏi mà HS phải trả lời

+ Yêu cầu rèn luyện kĩ năng: phiếu yêu cầu HS phải thực hiện một hoặc một vài kĩ năng nhất định

Ở đây, trong đề tài, chúng tôi sử dụng cách phân loại PHT căn cứ vào mục đích sử dụng

1.1.1.4 Cấu trúc

PHT được thiết kế dưới dạng tờ giấy rời, tuỳ thuộc vào từng loại phiếu, nội dung bài học và mục đích sử dụng của GV Tuy nhiên cấu trúc của phiếu gồm các nội dung cơ bản sau:

- Thông tin chung: thông tin chung của HS (họ và tên, lớp, trường)

- Nhiệm vụ cần thực hiện: Tuỳ thuộc vào nội dung bài học, đối tượng HS

và mục đích sử dụng mà GV sẽ đưa ra nhiệm vụ cho HS

- Phần để HS thực hiện nhiệm vụ: được GV thiết kế dưới nhiều hình thức, tuỳ thuộc vào mục đích sử dụng của phiếu

- Thời gian hoàn thành: Các thao tác nêu trên phải thực hiện trong khoảng thời gian nhất định Tùy khối lượng công việc, nội dung bài học và thời gian quy định của tiết học mà GV đưa ra mức thời gian cho hợp lí

Có thể tham khảo mô hình cấu trúc PHT dưới đây:

Trang 20

14

Tùy vào mục đích sử dụng, nhiệm vụ yêu cầu và nội dung bài học, GV có thể thiết kế PHT khác nhau Nhưng nhìn chung trong cấu trúc PHT phải đủ những nội dung minh họa trên

Ví dụ: Khi dạy nội dung Diễn biến chiến tranh và sự thành lập Hợp chúng quốc Mĩ trong bài Chiến tranh giành độc lập của các thuộc địa Anh ở Bắc Mĩ, GV có thể thiết kế một PHT dưới dạng điền trống cho HS hoàn thành

PHIẾU HỌC TẬP

Họ và tên:……… Lớp………

Nhiệm vụ cần thực hiện: ………

………

………

………

Phần học sinh thực hiện nhiệm vụ: ………

………

………

………

Thời gian hoàn thành :

Trang 21

15

PHIẾU HỌC TẬP

Họ và tên:……….Lớp………

Dựa vào nội dung mục 2: Diễn biến chiến tranh và sự thành lập Hợp chúng quốc

Mĩ, em hãy hoàn thành bảng thống kê về các sự kiện chính của cuộc chiến tranh giành độc lập của các thuộc địa Anh ở Bắc Mĩ

Trên đây là một vài quan niệm, cách hiểu về PHT trong DH Tuy nhiên, trong

DH, muốn sử dụng một PPDH, hình thức tổ chức DH, hay lựa chọn phương tiện, công cụ hỗ trợ học tập một cách hiệu quả nhất thì người GV cần phải quan tâm đến đặc trưng từng môn học mà mình phụ trách Mỗi môn học có mục tiêu, đặc trưng khác nhau, chính vì vậy hiểu được mục tiêu, đặc trưng của môn học sẽ góp phần giúp GV lực chọn và sử dụng những hình thức tổ chức DH, PP, phương tiện và công cụ hỗ trợ học tập đạt được hiệu quả cao nhất

1.1.2 Phong cách học tập

1.1.2.1 Khái niệm

PCHT được dịch từ thuật ngữ tiếng Anh “Learning Styte”, là một lý thuyết

học tập hiện đại đang được quan tâm hiện nay Trên thế giới có hàng trăm mô hình PCHT khác nhau, mỗi tác giả của mỗi mô hình khi xây dựng lý thuyết của mình lại đưa ra một định nghĩa riêng cho PCHT

Trang 22

16

Thứ nhất, theo các tác giả nước ngoài

Rita Dunn (1960) đƣa ra định nghĩa về PCHT nhƣ sau: PCHT như là cách

thức mỗi người bắt đầu chú ý, xử lý, thu nhận và tái hiện nội dung kiến thức mới

Keefe (1979) quan niệm: PCHT là những đặc trưng về mặt nhận thức, tính

hiệu quả và các hành vi tâm lý học có liên quan, mang tính ổn định, chỉ dẫn cho người học cách tiếp nhận thông tin, tương tác với thông tin và phản ứng lại môi trường học tập (F.Romaneli, 2009)

Reid (1995) thì cho rằng: PCHT là những cách thức ưu thế có tính chất tự

nhiên, thói quen của cá nhân khi tiếp nhận, xử lý và lưu giữ thông tin, kĩ năng mới

(Casidy, 2004)

Casidy lại cho rằng: PCHT là các đặc điểm tâm lý của con người tương đối

bền vững, nhưng ở vài khía cạnh nào đó PCHT có thể thay đổi để đáp ứng kinh nghiệm và đòi hỏi của các tình huống khác nhau (Casidy, 2004)

Thứ hai, theo quan điểm của các tác giả Việt Nam

PGS TS Nguyễn Công Khanh trong bài viết Mỗi người một kiểu học (Bản

tin Đại Học Quốc Gia Hà Nội, số 216, tr 56 – 57, năm 2009) cho rằng: “Phong cách học tập là một cấu trúc phức hợp đa mặt, đa thành tố Đó là tổ hợp những phẩm chất/ nét cá nhân, năng lực/ kỹ năng thể hiện được cái riêng có tính ổn định

về các chiến lược học, thái độ, động cơ, hứng thú học, phương pháp giảng dạy được ưa thích của người học nhằm đáp ứng các nhiệm vụ nhận thức, tương tác và thỏa mãn các yêu cầu của môi trường học tập”

Trong Lý thuyết phong cách học tập và khả năng ứng dụng vào dạy học (Bản

tin khoa học, cao đẳng Thương Mại, 23/9/2009) Ths Nguyễn Thị Đỗ Quyên cũng

đƣa ra khái niệm về phong cách học tập nhƣ sau: “Phong cách học tập là những

đặc điểm tâm lý ưu thế, tương đối bền vững của cá nhân, quy định cách tiếp nhận

và xử lý và lưu giữ thông tin trong môi trường học tập”

Cũng bàn về PCHT, tác giả Nguyễn Thế Lộc trong Dạy theo phong cách học (Tạp chí phát triển và hội nhập, số 7, tháng 10/ 2010) lại đƣa ra quan điểm: “Phong

cách học tập có thể xem là các phương pháp học tập riêng biệt mà mỗi cá nhân

Trang 23

- PCHT là những đặc điểm riêng của cá nhân

- PCHT bao gồm các đặc điểm về nhận thức, xúc cảm, sinh lý

- PCHT chỉ ra cách thức ưu thế của cá nhân tiếp nhận, xử lí và lưu giữ thông tin trong môi trường học tập

- PCHT tương đối bền vững

Như vậy, PCHT có thể hiểu là những đặc điểm riêng có tính ưu thế, tương

đối bền vững của cá nhân quy định cách tiếp nhận, xử lý lưu giữ và phản hồi thông tin trong môi trường học tập

1.1.2.2 Mô hình PCHT VAK

Theo nghiên cứu của Coffield, hiện nay có 71 mô hình PCHT đã được xây dựng và công bố, được phân loại thành 5 nhóm:

- Nhóm 1: PCHT dựa vào yếu tố gen – môi trường

- Nhóm 2: PCHT phản ánh các đặc điểm bên trong của cấu trúc nhận thức

- Nhóm 3: PCHT là tập hợp các kiểu nhân cách tương đối bền vững

- Nhóm 4: PCHT là các ưu thế linh hoạt trong học tập

- Nhóm 5: PCHT là các chiến lược, định hướng trong học tập

Một số mô hình được nghiên cứu và sử dụng trong giáo dục như mô hình của Kolb, mô hình của Honey – Mumford, mô hình VARK: Visual – Auditory – Reading and Writing – Kinesthetic (Quan sát – Lắng nghe – Ghi chép – Hành động) Tiêu biểu nhất phải kể đến mô hình VAK của Neil Fleming (Đại học Lincoln, New Zealand) là một trong những mô hình được biết đến rộng rãi và được ứng dụng nhiều nhất trên thế giới Trong phạm vi khóa luận, chúng tôi sử dụng cách phân loại PCHT theo 3 giác quan: thị giác, thính giác và vận động (VAK)

Trang 24

18

Từ năm 1987, Fleming đã phát triển một công cụ được thiết kế nhằm giúp cho HS và những người khác có thể học được nhiều hơn từ những sự ưu thế của bản thân

VAK là ba chữ cái đầu tiên viết tắt bằng ba từ tiếng Anh là: Visual – Auditory – Kinesthetic Khi dịch sang tiếng Việt là: Quan sát – Lắng nghe – Hành động

Trong mô hình của Fleming, người học được phân loại dựa trên ưu thế về học kiểu nhìn (tranh ảnh, phim, sơ đồ), học kiểu nghe (âm nhạc, thảo luận, thuyết trình) hoặc học kiểu vận động (chuyển động, thí nghiệm, hoạt động thực hành)

Mô hình PCHT VAK là một trong những mô hình được sử dụng rộng rãi trong các trường học Mô hình đã đưa ra cách phân loại PCHT theo giác quan thị giác, thính giác, vận động nên dễ hiểu và vận dụng trong DH

Bài giảng, ghi âm, chuyện kể, âm nhạc, động

từ hoá, đặt câu hỏi…

Người học vận động

(Kinesthetic)

Hành động, đóng vai, làm mô hình đất sét…

Trang 25

19

Người học kiểu nhìn (Visual Learners)

Người học kiểu nhìn học tốt nhất qua việc quan sát Những người thích kiểu học này sẽ thấy thích thú với những thông tin được trình bày dưới dạng hình ảnh hơn là dạng chữ viết Đặc điểm của người học kiểu nhìn là cần theo dõi nét mặt và ngôn ngữ cơ thể của GV để hiểu sâu bài giảng, có khả năng suy nghĩ bằng hình ảnh

và nhớ nhanh từ những thứ giàu hình ảnh

Người học kiểu nghe (Auditory Learners)

Người học kiểu nghe học tốt nhất học tốt nhất bằng việc nghe thông tin Họ

có xu hướng nắm bắt thông tin tốt từ bài thuyết trình và có khả năng ghi nhớ rất tốt các thông tin mà họ được nghe Người học kiểu nghe thích trao đổi trực tiếp dạng nghe - nói; nhạy cảm với giọng nói, âm lượng, ngữ điệu và các dạng bài viết có ít giá trị thông tin cho đến khi được đọc lên

Người học kiểu vận động (Kinesthetic Learners)

Người học kiểu vận động (hoặc xúc giác) học tốt nhất bằng việc chạm vào

và thực hành Trải nghiệm thực hành là điều quan trọng với người học kiểu vận động Người học kiểu vận động, họ học tốt nhất qua thí nghiệm, thực hành và quan sát thực tế; thích khám phá thế giới xung quanh; rất khó ngồi yên một chỗ lâu và có

thể mất tập trung vì mong muốn hoạt động, khám phá

Như vậy, việc phân chia 3 PCHT có ý nghĩa tương đối bởi trên thực tế, có

những HS có thể học theo cả 3 PCHT một cách hiệu quả

1.2 VAI TRÕ CỦA VIỆC SỬ DỤNG PHT TRONG DHLS DỰA TRÊN PCHT CỦA HS

Người GV thiết kế và sử dụng được hệ thống PHT dựa trên PCHT phù hợp trong DH nói chung và DHLS nói riêng sẽ làm cho giờ học trở nên nhẹ nhàng hơn, cũng không phải là bài học diễn ra đều đều theo lời giảng của cô và câu trả lời của trò, quá trình dạy và học diễn ra cũng có lúc cao trào, sôi nổi tuỳ vào nội dung từng phần, yêu cầu GV đặt ra cho HS, thông qua câu hỏi từ đó HS tiếp nhận kiến thức một cách tự nhiên

Trang 26

20

Đối với HS, việc sử dụng PHT dựa trên PCHT của HS là một hoạt động thú vị đối với HS Các em HS chủ động tham gia vào bài giảng chứ không ngồi nghe một cách “máy móc” Sử dụng PHT dựa trên PCHT của HS khơi dậy cho các

em sự hứng thú, sôi nổi, đúng với khả năng của bản thân và phát triển khả năng của bản thân

Sử dụng PHT dựa trên PCHT của HS là một “khâu” quan trọng của các em

HS trong việc lĩnh hội kiến thức Đòi hỏi các em trong quá trình linh hội kiến thức phải chủ động tìm tòi, suy nghĩ, đúng với khả năng của các em chứ không chịu “thụ động” ghi – chép

PHT dựa trên PCHT của HS là giúp rèn luyện cho HS những kỹ năng giao tiếp, biết lắng nghe…PHT hướng tới phong cách học như xúc giác – thính giác – thị giác giúp cho chất lượng học tập được nâng lên, HS dễ dàng lĩnh hội kiến thức và làm cho môn Lịch sử không còn khô khan và nhàm chán

Thiết kế và sử dụng PHT dựa trên PCHT hợp lý, logic sẽ giúp HS phát triển tư duy, cho phép HS dựa trên những kiến thức đã học để nêu lên những ý kiến riêng của bản thân giúp cho HS phát triển kỹ năng giao tiếp, lập luận…

Khi xây dựng PHT dựa trên PCHT của từng nhóm HS học tập theo thị giác – thính giác – xúc giác HS sẽ dễ hiểu và tiếp thu kiến thức giúp cho HS tích cực tham gia vào xây dựng bài học

Đối với GV, việc thiết kế và sử dụng PHT dựa trên PCHT của HS là một trong những PP DHLS chính khiến cho giờ học của GV trở nên sinh động, bớt nhàm chán Sử dụng PHT giúp cho GV nhận ra khả năng học tập của từng HS, khả năng tiếp thu kiến thức, từ đó đưa ra những PPDH tích cực nhẳm thẳng vào mục tiêu phát triển năng lực của HS

PHT dựa trên PCHT của HS là phương tiện trực tiếp giúp cho GV nhận ra mức độ tiếp thu kiến thức của HS trong giờ học, chỗ nào hiểu đúng vấn để, chỗ nào các em còn hiểu sai vấn đề, đánh giá mức độ hiểu bài hay lỗ hổng kiến thức, nhờ đó

mà GV có thể đưa ra PPDH tích cực

Trang 27

21

PHT dựa trên PCHT của HS là công cụ để khắc sâu kiến thức đã học và củng

cố kiến thức, đảm bảo đúng tiến độ bài giảng và đi vào đúng kiến thức trọng tâm

Nhìn chung, PHT dựa trên PCHT của HS có vai trò rất quan trọng trong DH

nói chung và DHLS nói riêng Song thực tiễn dạy và học ở các trường phổ thông chưa đặt đúng vị trí của việc sử dụng các công cụ, phương tiện dạy học trong đó có PHT Chính vì vậy, PHT chưa phát huy hết vai trò của mình trong quá trình DH đặc biệt là theo PCHT của HS

1.3 ĐỊNH HƯỚNG ĐỔI MỚI PPDH LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG THPT

Giáo dục theo định hướng phát triển năng lực người học đang là xu thế chung của các nền giáo dục tiên tiến trên thế giới Đối với nền giáo dục Việt Nam, phát triển năng lực người học được xem là một trong những mục tiêu lớn được ngành Giáo dục và Đào tạo đặt ra trong giai đoạn hiện nay và là một mục tiêu chính

đã được khẳng định trong“Nghị quyết số 29- NQ/TW” của Ban chấp hành TW Đảng Cộng sản Việt Nam ban hành ngày 4/11/2013: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ

phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học, khắc phục lối học truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực”

Dưới đây là một số định hướng cụ thể nhằm thực hiện được mục tiêu lớn của ngành Giáo dục và Đào tạo là đổi mới PPDH Thiết kế và sử dụng hệ thống PHT trong DHLS dựa trên PCHT của HS cần phù hợp với các định hướng đó

Đổi mới PPDH theo hướng phát huy cao độ tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS trong quá trình lĩnh hội tri thức Đó là quá trình DH trong đó người GV

đóng vai trò hướng dẫn, định hướng còn HS là người chủ động trong quá trình học tập dưới sự hướng dẫn của GV Trong DHLS có sử dụng PHT, HS dưới sự hướng dẫn của GV kết hợp với SGK sẽ nắm vững nội dung kiến thức của bài học Không những thế, GV có thể hướng dẫn cách thức sử dụng PHT để HS có thể làm quen với

Trang 28

kiện thực tiễn của cơ sở Thực tiễn đã chứng minh không phải cứ PP cũ là lạc hậu

và PP mới thì mới hoàn hảo Không có PP nào tồn tại mà không có ý nghĩa Vì thế,

về bản chất đổi mới PPDH là đổi mới cách thức tiến hành PP trên cơ sở khai thác triệt để ưu điểm của các PP cũ và vận dụng linh hoạt một số PP mới Do đặc thù của môn Lịch sử nên việc sử dụng PHT trong DH có ý nghĩa giúp HS trực quan dễ dàng

và tạo nên sự húng thú trong học tập, giúp người học phát triển đa trí tuệ của họ

Đổi mới PPDH theo hướng tăng cường kỹ năng thực hành Trong DHLS

cũng cần rèn luyện các kỹ năng thực hành cho HS: kỹ năng vẽ, đọc bản đồ, kỹ năng

tự làm các đồ dùng trực quan cho môn học GV sử dụng PHT dựa trên PCHT của

HS trong quá trình DH sẽ đáp ứng được những yêu cầu của định hướng này

Mặt khác, DHLS là một hoạt động mang tính đặc thù, một quá trình sư phạm phức tạp Khác với các bộ môn khác, tri thức lịch sử có những đặc trưng đó là tính quá khứ, tính không lặp lại, sự thống nhất giữa sử và luận Vì vậy, vấn đề khó của

bộ môn Lịch sử là tái hiện những sự kiện, hiện tượng và nhân vật lịch sử sao cho

HS có những hình dung sinh động về quá khứ, cụ thể hóa các sự kiện, khắc phục tình trạng “hiện đại hóa” lịch sử, đồng thời phát triển khả năng quan sát, trí tưởng tượng, tư duy và ngôn ngữ của HS làm cho các em có cảm giác như đang sống cùng với sự kiện lịch sử

Như vậy từ định hướng đổi mới PPDH lịch sử, chúng tôi nhận thấy việc thiết

kế và sử dụng PHT trong DHLS dựa trên PCHT của HS có thể đáp ứng được những yêu cầu đổi mới trên Tuy nhiên, việc triển khai thực hiện DH dựa trên PCHT của

HS sẽ là một khó khăn với GV nếu GV thiếu về năng lực sư phạm

1.4 NHỮNG YÊU CẦU CƠ BẢN CỦA VIỆC THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG PHT DỰA TRÊN PCHT CỦA HS

1.4.1 Yêu cầu thiết kế PHT dựa trên PCHT của HS

Trang 29

23

Yêu cầu khi xây dựng PHT là những tiền đề cơ bản xác định nội dung và hình thức thiết kế PHT Khi thiết kế PHT cần lưu ý đến các yêu cầu sau:

- Phải phù hợp với PCHT của HS

PHT cần được thiết kế sao cho phù hợp với PCHT của HS Vì trước một tình huống học tập được đưa ra, mỗi HS đều có những cách thức giải quyết vấn đề khác nhau tùy thuộc vào khả năng nhận thức và suy nghĩ của mỗi cá nhân Biết được mặt mạnh, mặt yếu trong phong cách học của HS, GV có thể thiết kế hệ thống PHT dựa trên PCHT của các em nhằm chọn lựa PP dạy phù hợp để giúp các em phát huy được các thế mạnh của PCHT của mình cũng như cải thiện các mặt yếu kém, đáp ứng nhu cầu, sở thích, năng lực của người học nhằm tiếp cận thông tin, kiến thức dễ dàng hơn Có như vậy thì PHT mới phát huy được hết tính hiệu quả

- Phải phù hợp với mục tiêu, nội dung bài học

Mục tiêu của bài học không phải chỉ là hình thành những kiến thức, kĩ năng

mà quan trọng là phát triển tư duy, vận dụng kiến thức Do đó, khi thiết kế và sử dụng PHT phải bám sát điều đó PHT chỉ là một công cụ hỗ trợ nhằm nâng cao hiệu quả của hoat động DHLS trong nhà trường, cho nên yêu cầu trước hết là nội dung của phiếu phải phù hợp với mục tiêu, nội dung bài học PHT phải giúp HS khai thác

và nắm bắt được những nội dung cơ bản, trọng tâm của bài học thì mới có giá trị và hiệu quả

Ví dụ: Khi học bài 32: Cách mạng công nghiệp ở châu Âu, HS cần đạt được

mục tiêu:

- Lập được bảng thống kê các phát minh lớn của cuộc cách mạng công nghiệp ở châu Âu và ý nghĩa của những phát minh đó với đời sống xã hội

- Phân tích được hệ quả của cuộc cách mạng công nghiệp

Bám sát mục tiêu trên, khi thiết kế PHT GV phải chú ý: những nhiệm vụ và nội dung trong phiếu cũng phải đề cập đến những thành tựu quan trọng của cuộc cách mạng công nghiệp ở châu Âu hay những hệ quả của cuộc cách mạng công nghiệp trên lĩnh vực kinh tế, xã hội PHT có thể truyền tải nội dung của một phần bài học hoặc nội dung của cả bài học, điều này tùy thuộc vào mục đích sử dụng của GV

Trang 30

Ví dụ: Khi tìm hiểu về vai trò của những nhà tư tưởng tiến bộ Pháp trong việc chuẩn bị cho cách mạng, GV có thể sử dụng PHT để hướng dẫn HS khai thác kiến thức, ví dụ như:

“Dựa vào nội dung mục 2 – Cuộc đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng, em hãy trình bày vai trò của những nhà tư tưởng tiến bộ Pháp trong việc chuẩn bị cho cách mạng bùng nổ thông qua tư tưởng của ba đại diện tiêu biểu: Mông-te-xki-ơ, Vôn-te, Rút-xô ”

Việc hướng dẫn, gợi ý cách thức thực hiện sẽ giúp HS không lung túng khi giải quyết nhiệm vụ Nếu làm được điều này thì GV sẽ không lo lắng việc hoạt động bằng phiếu gây ảnh hưởng đến thời gian DH hay hiện tượng “cháy giáo án” khi sử dụng phương tiện DH Hơn nữa, đối với HS trung bình, yếu kém, trình độ năng lực nhận thức của các em hạn chế hơn HS khá giỏi, vì vậy nhiệm vụ trong PHT càng rõ ràng, đơn giản, sự chỉ dẫn của GV càng cụ thể bao nhiêu thì càng giúp các em dễ dàng chiếm lĩnh kiến thức bấy nhiêu

- Phải thể hiện được PP hoạt động và tiếp nhận của HS

Những câu hỏi, bài tập và tình huống đặt ra cho HS trong PHT là những mệnh lệnh, những gợi ý của GV cũng chính là những gợi ý về PP hoạt động và các thao tác tư duy để thực hiện mệnh lệnh đó Trong PHT, GV cần chỉ ra những hoạt động cụ thể nhằm hướng dẫn HS thực hiện tốt nhiệm vụ học tập Ví dụ: Hãy dựa vào….để chỉ ra, hãy liên hệ, hãy bổ sung… Như thế HS mới định hướng đúng để

hoàn thành tốt nhiệm vụ

- Phải khoa học, chính xác, phù hợp với trình độ của HS

Trang 31

25

PHT cần phải được thiết kế một cách khoa học, chính xác và vừa với sức HS

Có nghĩa là thông tin kiến thức đưa ra trong PHT phải hoàn toàn chính xác, cách trình bày phải khoa học, logic Mức độ nhiệm vụ đặt ra trong PHT phải phù hợp với đối tượng HS: tránh khó quá hoặc dễ quá đều không mang lại hiệu quả

Chẳng hạn như đối với những lớp có nhiều HS khá, giỏi, GV có thể đặt ra những yêu cầu khó hơn và ngược lại đối với những lớp nhiều HS trung bình, yếu, kém, GV cần cân nhắc khi ra những bài tập khó

Với đối tượng HS có học lực trung bình, yếu, kém, những nhiệm vụ GV đưa

ra trong PHT chủ yếu ở mục tiêu bậc 1, bậc 2 vì năng lực nhận thức của các em có phần yếu hơn so với HS khá, giỏi Có đảm bảo được tính vừa sức thì những hoạt động học tập có sự trợ giúp của PHT mới có thể đạt được hiệu quả cao

Ví dụ: Khi dạy về nội dung Cách mạng công nghiệp ở Anh – Bài 32: Cách mạng công nghiệp ở châu Âu GV thiết kế một PHT dưới dạng một bảng thống kê

để trống, yêu cầu HS hoàn thành bảng thống kê các thành tựu tiêu biểu của cuộc cách mạng công nghiệp ở châu Âu Nếu đối tượng HS có năng lực nhận thức cao hơn thì trong PHT này có thể thêm một nhiệm vụ ở mục tiêu cao hơn, ví dụ như:

Liên hệ và nêu được ý nghĩa của những thành tựu của cuộc cách mạng công nghiệp đối với ngày nay

PHIẾU HỌC TẬP

Họ và tên:………Lớp:………

Dựa vào nội dung mục 1 Cách mạng công nghiệp ở Anh và những hiểu biết của em về cuộc cách mạng này, em hãy hoàn thành bảng thống kê các thành tựu lớn của cuộc cách mạng công nghiệp ở Anh và ý nghĩa của những thành tựu đó đối với ngày nay theo gợi ý mà giáo viên đã cho trước

Lĩnh vực Thành tựu Liên hệ ngày nay

Trang 32

Thời gian hoàn thành: 10 phút

1.4.2 Yêu cầu khi sử dụng PHT dựa trên PCHT của HS

Để PHT thực sự trở thành công cụ hướng dẫn, hỗ trợ tối ưu cho HS trong môn Lịch sử, khi sử dụng PHT trong DH, GV cần lưu ý đến một số yêu cầu sau:

- Phù hợp với thời gian của tiết học

Một trong những khó khăn GV đưa ra khi sử dụng PHT đó là tình trạng thiếu thời gian hay nói cách khác là “cháy giáo án” Đó cũng chính là nguyên nhân mà ít

GV sử dụng PHT trong DH nói chung và DHLD nói riêng Chính vì vậy, khi sử dụng PHT trong mỗi tiết dạy, việc phân chia và sử dụng thời gian thật hợp lí là vô cùng quan trọng, điều này được rất nhiều GV quan tâm

Khi sử dụng PHT trong quá trình hướng dẫn HS khai thác kiến thức mới ở trên lớp người GV phải soạn trước giáo án và phân bổ thời gian hợp lí, một PHT chỉ nên dành từ 7 – 10 phút, tùy vào mục đích sử dụng của GV Trong quá trình HS nhận nhiệm vụ và thực hiện nhiệm vụ trong PHT, GV sẽ là người hướng dẫn, giúp

đỡ, gợi ý cho các em để các em hoàn thành được nhiệm vụ đúng thời gian yêu cầu trong phiếu

Đảm bảo được thời gian khi sử dụng PHT ở mỗi tiết học là hiệu quả đầu tiên khi sử dụng PHT trong DH mà tất cả GV đều muốn hướng đến

Trang 33

27

- Đánh giá được trình độ năng lực của HS

Khi sử dụng PHT trong DH cả ở lớp và ở nhà, mục tiêu đặt ra của người GV

là PHT đó phải kiểm tra được trình độ năng lực của HS Điều này thể hiện rất rõ khi PHT sử dụng cho hoạt động cá nhân Cùng một nhiệm vụ đưa ra trong PHT, mỗi

HS có một phương án, một cách giải quyết nhiệm vụ khác nhau, điều này thể hiện trong kết quả của PHT Cùng một nhiệm vụ đưa ra, cùng một thời gian quy định, nhưng có HS giải quyết nhiệm vụ rất nhanh, đạt yêu cầu của GV, bên cạnh đó có những HS hết thời gian quy định nhưng vẫn chưa xong hoặc nếu xong thì chưa đạt yêu cầu Vậy khi xử lí kết quả trong PHT của HS, GV sẽ đánh giá được trình độ năng lực của từng HS Đó chính là cơ sở để GV cải tiến giáo án, điều chỉnh PPDH trong quá trình DH Quan trọng hơn nữa, dựa vào kết quả đó, GV sẽ có sự phân hóa khi thiết kế PHT Với HS năng lực thấp hơn thì nhiệm vụ bước đầu sẽ nhẹ nhàng hơn để động viên các em cố gắng, còn với HS năng lực cao hơn so với các em khác thì nhiệm vụ của PHT có thể đưa ra thêm yêu cầu ở mục tiêu kiến thức cao hơn

Mặt khác, GV có thể sử dụng PHT để hướng dẫn HS tự đánh giá kết quả học tập cho nhau Khi HS đã hoàn thành nhiệm vụ trong PHT, HS sẽ tự trao đổi bài cho nhau và tự chấm điểm, nhận xét về kết quả bài của bạn Cuối cùng, GV sẽ đưa ra một đáp án chung nhất để HS so sánh, đối chiếu kết quả Qua đó, GV cũng sẽ đánh giá được năng lực của HS

Như vậy, khi sử dụng PHT trong DH, phải GV đánh giá được năng lực nhận thức của HS, đó là cơ sở để GV điều chỉnh cách dạy của mình phù hợp với đối tượng HS để đạt được hiệu quả DH cao nhất Làm được điều này sẽ giúp cho người

GV thành công trong DH

- Phát huy được tính tương tác tích cực của HS trong giờ học

Một trong những yêu cầu của đổi mới PPDH hiện nay đó là phải phát huy

được tính tích cực, chủ động của HS Tránh tình trạng thầy đọc, trò chép trong các giờ học Chính vì vậy, khi PHT được sử dụng như một công cụ hướng dẫn, hỗ trợ

HS trong quá trình DH thì yêu cầu đặt ra khi sử dụng là phải phát huy được tính tích cực, chủ động của HS

Trang 34

28

Muốn làm được điều này, vai trò tổ chức, hướng dẫn của GV trong quá trình

sử dụng PHT là rất quan trọng Khi cung cấp PHT để hướng dẫn HS tìm hiểu kiến thức, trong quá trình HS làm việc với PHT thì GV sẽ là người bao quát, quan sát lớp học Tránh tình trạng trong lớp có người làm người chơi hoặc chép bài của nhau Phải đảm bảo kết quả của PHT thể hiện chính xác tinh thần làm việc của các em Đối với PHT sử dụng cho hoạt động nhóm tại lớp, ngoài quan sát, bao quát nhóm,

GV nên có những công cụ hỗ trợ kèm theo như phiếu ghi chép hoạt động nhóm, biên bản nhóm Căn cứ vào đó, GV có thể đánh giá được mức độ tham gia của từng thành viên trong nhóm khi giải quyết nhiệm vụ học tập của nhóm Còn đối với những PHT được thiết kế nhằm hướng dẫn HS học tập ngoài giờ lên lớp thì kết quả của PHT chính là cơ sở kiểm tra xem HS học thế nào, bên cạnh đó, nên có thêm một vài câu hỏi về vấn đề có liên quan đến nội dung trong phiếu để kiểm tra xem HS có thật sự là người tìm hiểu vấn đề hay sao chép của người khác

Tóm lại, PHT chỉ thực sự là công cụ hướng dẫn, hỗ trợ tích cực đối với HS trong học tập khi quá trình sử dụng nó được xem là hiệu quả Muốn làm được điều

đó thì quá trình sử dụng PHT phải đạt được một số yêu cầu chúng tôi vừa nêu trên

1.5 THỰC TRẠNG THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG PHT TRONG DHLS DỰA TRÊN PCHT CỦA HS

Để thực hiện đề tài nghiên cứu này, chúng tôi đã dành thời gian khảo sát, điều tra thực trạng việc thiết kế và sử dụng PHT trong DHLS ở các trường THPT như: THPT Thạch Thất và THPT Tùng Thiện trên địa bàn thành phố Hà Nội; trường THPT Hưng Nhân trên địa bàn tỉnh Thái Bình Chúng tôi tiến hành khảo sát

10 GV; 120 HS

Về PP tiến hành: tiến hành phỏng vấn GV và HS bằng phiếu thăm dò ý kiến

GV và HS (phụ lục 1, 2)

Nội dung điều tra, khảo sát tập trung vào một số vấn đề cơ bản sau: mức độ

sử dụng các loại PHT dựa trên PCHT của HS, hứng thú của HS đối với việc sử dụng PHT trong quá trình học tập môn Lịch sử, thực trạng GV sử dụng PHT dựa trên PCHT của HS

Trang 35

29

Kết quả tổng hợp các phiếu điều tra là cơ sở để đưa ra những đánh giá bước đầu về thực trạng sử dụng PHT trong DHLS dựa trên PCHT của HS ở trường THPT Qua thống kê, phân tích và xử lí số liệu, chúng tôi đã thu được kết quả và minh họa cụ thể ở biểu đồ dưới đây (bảng số liệu chi tiết xem phụ lục 8):

0 10 20 30 40 50 60

PHT thông thường

Trực quan Thực hành Âm thanh

Hình 1.1: Biểu đồ về mức độ sử dụng PHT dựa trên PCHT của HS

trong giờ Lịch sử

Thông qua biểu đồ có thể thấy, mức độ thường xuyên sử dụng PHT trong giờ dạy Lịch sử dựa trên PCHT của HS: sử dụng các PHT có nội dung là các câu hỏi, bài tập thông thường có trong SGK trong giờ học Thực chất với việc sử dụng các PHT với nội dung là các câu hỏi, bài tập trong SGK, HS chỉ vận dụng một số thao tác: nghe, đọc, ghi nhớ tương đối đơn giản, được lặp đi lặp lại, ít có tác dụng làm HS phải tư duy, vận dụng nhiều thao tác trí tuệ khác nhau và gây sự nhàm chán với môn học

Sử dụng PHT gắn với đồ dùng trực quan (sử dụng tranh ảnh, phim tư liệu ),

sử dụng PHT với kỹ năng thực hành lịch sử (đóng vai, hoàn thành lược đồ trống), PHT gắn liền với việc sử dụng âm thanh (video, nhạc nền ) giúp HS tăng cường khả năng quan sát, tư duy, phán đoán, nhận xét cũng rất ít khi được GV sử dụng trong các giờ học Lịch sử Chỉ có 42,5% ý kiến HS cho rằng GV có sử dụng tranh

Trang 36

30

ảnh, phim tư liệu trong các giờ học Lịch sử Tỷ lệ này là còn nhỏ so với mức độ quan trọng và cần thiết của PHT để đạt hiệu quả tốt nhất trong giờ học Lịch sử Trong khi đó, khi điều tra về mức độ hứng thú của HS đối với các hình thức

tổ chức DH của GV trong giờ Lịch sử, chúng tôi thu kết quả như sau:

Với việc hoàn thành các PHT có nội dung là các câu hỏi, bài tập đơn thuần như trong SGK: 72% ý kiến HS không thích, 15% ý kiến HS thích và 13% ý kiến

HS có câu trả lời là rất thích

Với PHT được thiết kế với phương pháp trực quan, thực hành lịch sử, sử dụng

âm thanh: 68% ý kiến HS rất thích, 27% HS thích và chỉ có 5% HS không thích Số liệu trên được minh họa cụ thể ở hai biểu đồ dưới đây:

Hình 1.2: Biểu đồ so sánh mức độ hứng thú của HS với các loại PHT

Như vậy, phần lớn HS rất hứng thú với PHT dựa trên PCHT VAK, không bằng lòng với những PHT chỉ có những câu hỏi, bài tập hay những nhiệm vụ học tập đã quá quen thuộc và không tạo ra nhiều hứng thú

Chúng tôi tiến hành lấy ý kiến của 10 GV giảng dạy môn Lịch sử tại 3 trường THPT: Tùng Thiện (Hà Nội), Thạch Thất (Hà Nội), Hưng Nhân (Thái Bình) (Phiếu điều tra 2): 100% ý kiến GV cho rằng sử dụng PHT dựa trên PCHT của HS

sẽ gây được hứng thú học tập và nâng cao hiệu quả bài dạy Nhưng khi được hỏi về

Trang 37

31

mức độ sử dụng PHT dựa trên PCHT của HS, có đến hơn 50% ý kiến GV trả lời là không bao giờ mặc dù PHT đã trở thành phương tiện khá phổ biến; 37% ý kiến GV trả lời là thỉnh thoảng và 37% ý kiến GV trả lời là thường xuyên sử dụng PHT dựa trên PCHT của HS trong các giờ dạy của mình Có thể thấy rõ hơn qua biểu đồ minh họa sau:

Thường xuyên Thỉnh thoảng Không bao giờ

Hình 1.3: Mức độ sử dụng PHT dựa trên PCHT đối với HS của GV (%)

Như vậy, các GV đều nhận thức được sử dụng PHT dựa trên PCHT của HS

sẽ tạo được hứng thú học tập cho HS và đạt được hiệu quả DH Nắm vững những khó khăn, trở ngại trong quá trình thiết kế và sử dụng PHT dựa trên PCHT của HS trong DHLS ở trường THPT không chỉ là cơ sở thực tế của đề tài mà còn giúp đề tài tìm ra những biện pháp tối ưu để giải quyết những khó khăn này

Trang 38

32

Tiểu kết chương 1

Từ việc tìm hiểu về hai khái niệm cơ bản là khái niệm “phiếu học tập” và

“phong cách học tập VAK” trong chương 1, chúng tôi đã khẳng định được vai trò

và chức năng của chúng trong DHLS, đồng thời đưa ra một số yêu cầu, nguyên tắc đối với việc thiết kế và sử dụng PHT trong DHLS dựa trên PCHT của HS

Đổi mới PPDH nói chung và DHLS nói riêng là yêu cầu cấp thiết hiện nay của ngành Giáo dục và Đào tạo Đổi mới PPDH bằng cách xây dựng hệ thống PHT dựa trên PCHT của HS nhằm từng bước thực hiện định hướng đổi mới trên

Tìm hiểu thực trạng DHLS ở các trường THPT, các PPDH được GV sử dụng, mức độ hứng thú của HS đối với các PPDH hiện nay, thực trạng thiết kế và

sử dụng PHT dựa trên PCHT của HS để xây dựng PHT là một trong những cơ sở quan trọng để thực hiện đề tài

Có thể thấy PHT đã là một công cụ khá quen thuộc trong các giờ dạy Lịch

sử, đa số GV và HS hưởng ứng và đánh giá tốt hiệu quả của nó đem lại trong DH Mặc dù chưa thể kiểm chứng một cách đầy đủ mức độ hiệu quả, nhưng cơ bản là chúng ta thấy được sự tích cực, sự ủng hộ của GV và HS đối với công cụ hỗ trợ DH này

Những vấn đề trên là cơ sở cho việc lựa chọn nội dung, thiết kế các loại phiếu và hình thức sử dụng PHT trong DHLS ở trường THPT theo PCHT của HS

Trang 39

33

CHƯƠNG 2 THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG PHIẾU HỌC TẬP TRONG DHLS Ở TRƯỜNG THPT DỰA TRÊN PHONG CÁCH HỌC TẬP CỦA HỌC SINH

(ÁP DỤNG PHẦN LỊCH SỬ THẾ GIỚI CẬN ĐẠI - SGK LỊCH SỬ LỚP 10,

CHƯƠNG TRÌNH CHUẨN)

2.1 CẤU TRÚC CHƯƠNG TRÌNH, NỘI DUNG LỊCH SỬ LỚP 10 (CHƯƠNG TRÌNH CHUẨN )

2.1.1 Cấu trúc chương trình lịch sử lớp 10 (chương trình Chuẩn)

Trong chương trình Lịch sử lớp 10 (chương trình chuẩn), HS được tìm hiểu khái quát Lịch sử thế giới thời cổ - trung đại cho đến hết phần lịch sử thế giới cận đại và Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến giữa thế kỉ XIX Những kiến thức được học ở lớp 10 là nền móng quan trọng giúp các em tiếp nhận kiến thức lớp 11 Chương trình Lịch sử lớp 10 có cấu trúc ba phần: Phần I: Lịch sử thế giới thời nguyên thủy, cổ đại và trung đại Phần II: Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến giữa thế kỉ XIX Phần III: Lịch sử thế giới cận đại

Phần I: Lịch sử thế giới thời nguyên thủy, cổ đại và trung đại bao gồm sáu chương với những sự kiện tiêu biểu của lịch sử thế giới thời nguyên thủy, cổ đại và trung đại và một số các quốc gia tiêu biểu ở phương Đông và phương Tây

Phần II: Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến giữa thế kỉ XIX được chia thành bốn chương: chương 1:Việt Nam từ thời nguyên thủy đến thế kỉ X; chương 2: Việt Nam từ thế kỉ X đến thế kỉ XV; chương 3: Việt Nam từ thế kỉ XV đến thế kỉ XVIII và chương 4: Việt Nam ở nửa đầu thế kỉ XIX

Phần III: Lịch sử thế giới cận đại được chia thành ba chương: chương 1: Các cuộc cách mạng tư sản (từ giữa thế kỉ XVI đến cuối thế kỉ XVIII); chương 2: Các nước Âu – Mĩ (từ đầu thế kỉ XIX đến đầu thế kỉ XX); chương 3: Phong trào công nhân (từ đầu thế kỉ XIX đến đầu thế kỉ XX)

Trang 40

34

Theo phân phối chương trình của Bộ Giáo dục và Đào tạo, khối lượng kiến thức trên sẽ được giảng dạy ở: học kì I: mỗi tuần 1 tiết trong thời gian 19 tuần , học

kì 2: mỗi tuần 2 tiết trong thời gian 18 tuần

Có thể khái quát cấu trúc chương trình SGK Lịch sử lớp 10 theo bảng thống

kê dưới đây:

Chương 4:

Ấn Độ thời phong kiến

Chương 5:

Đông Nam

Á thời phong kiến

Chương 6: Tây Âu thời trung đại

Phần 2: Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến giữa thế kỉ XIX 19 Chương 1: Việt

Nam từ thời

nguyên thủy đến

thế kỉ X

Chương 2: Việt Nam từ thế kỉ X đến thế kỉ XV

Chương 3: Việt Nam từ thế kỉ XVI đến thế kỉ XVIII

Chương 4: Việt Nam ở nửa đầu thế kỉ XIX

Phần 3: Lịch sử thế giới cận đại 13 Chương 1: Các cuộc

Chương 3: Phong trào công nhân (từ đầu thế kỉ XIX đến đầu thế kỉ XX)

2.1.2 Nội dung kiến thức Lịch sử lớp 10 (chương trình chuẩn)

Với cấu trúc chương trình như trên, nội dung kiến thức Lịch sử tập trung vào các vấn đề chính sau:

Ngày đăng: 02/11/2016, 14:28

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Thị Côi (2008), Các con đường, biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học Lịch sử ở trường phổ thông, Nhà xuất bản Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các con đường, biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học Lịch sử ở trường phổ thông
Tác giả: Nguyễn Thị Côi
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 2008
2. Dunn.R (1995), Phương pháp giáo dục người học đa trình độ, Phi Delta Kappa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp giáo dục người học đa trình độ
Tác giả: Dunn.R
Năm: 1995
3. Vũ Cao Đàm (2010), Phương pháp luận nghiên cứu khoa học, Nhà xuất bản Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp luận nghiên cứu khoa học
Tác giả: Vũ Cao Đàm
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 2010
4. Đỗ Ngọc Đạt (2010), Tiếp cận hoạt động dạy học hiện đại, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếp cận hoạt động dạy học hiện đại
Tác giả: Đỗ Ngọc Đạt
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2010
5. Phan Trọng Ngọ (2005), Dạy học và phương pháp dạy học trong nhà trường, Nhà xuất bản Đại học sƣ phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học và phương pháp dạy học trong nhà trường
Tác giả: Phan Trọng Ngọ
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học sƣ phạm
Năm: 2005
6. Nguyễn Kỳ (1994), Phương pháp dạy học tích cực, Nhà xuất bản Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học tích cực
Tác giả: Nguyễn Kỳ
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 1994
7. Phan Ngọc Liên, Trần Văn Trị (1992), Phương pháp dạy học lịch sử phần đại cương - tập 2, Nhà xuất bản Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học lịch sử phần đại cương - tập 2
Tác giả: Phan Ngọc Liên, Trần Văn Trị
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 1992
8. Phan Ngọc Liên (1999), Một số lí luận và thực tiễn về phương pháp dạy học lịch sử hiện nay, Bộ GD và ĐT xuất bản, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số lí luận và thực tiễn về phương pháp dạy học lịch sử hiện nay
Tác giả: Phan Ngọc Liên
Năm: 1999
9. Phan Ngọc Liên (chủ biên), Trịnh Đình Tùng, Nguyễn Thị Côi (2002), Phương pháp dạy học lịch sử, Nhà xuất bản Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học lịch sử
Tác giả: Phan Ngọc Liên (chủ biên), Trịnh Đình Tùng, Nguyễn Thị Côi
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 2002
10. Phan Ngọc Liên (2005), Đổi mới phương pháp dạy học Lịch sử ở trường phổ thông, Nhà xuất bản Đại học Sƣ phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới phương pháp dạy học Lịch sử ở trường phổ thông
Tác giả: Phan Ngọc Liên
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Sƣ phạm Hà Nội
Năm: 2005
11. Phan Ngọc Liên, Lương Ninh, Trương Hữu Quýnh, Đinh Ngọc Bảo, Nguyễn Hồng Liên, Nguyễn Cảnh Minh, Nghiêm Đình Vỳ (2007), Sách giáo khoa Lịch sử 10 – Ban cơ bản, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách giáo khoa Lịch sử 10 – Ban cơ bản
Tác giả: Phan Ngọc Liên, Lương Ninh, Trương Hữu Quýnh, Đinh Ngọc Bảo, Nguyễn Hồng Liên, Nguyễn Cảnh Minh, Nghiêm Đình Vỳ
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam
Năm: 2007
12. Luật Giáo dục năm 2010 (2010), Nhà xuất bản Tƣ pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Giáo dục năm 2010
Tác giả: Luật Giáo dục năm 2010
Nhà XB: Nhà xuất bản Tƣ pháp
Năm: 2010
13. Miller.P (2001), Các phong cách học tập: Trí tuệ đa phương tiện, ED 451340 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các phong cách học tập: Trí tuệ đa phương tiện
Tác giả: Miller.P
Năm: 2001
14. Phan Trọng Ngọ (2005), Phương pháp dạy học trong nhà trường, Nhà xuất bản Đại học Sƣ phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học trong nhà trường
Tác giả: Phan Trọng Ngọ
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Sƣ phạm Hà Nội
Năm: 2005
15. Nguyễn Thị Thạch (2006), Thiết kế bài giảng Lịch sử lớp 10, Nhà xuất bản Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiết kế bài giảng Lịch sử lớp 10
Tác giả: Nguyễn Thị Thạch
Nhà XB: Nhà xuất bản Hà Nội
Năm: 2006
16. Nguyễn Thị Thạch (2009), Thiết kế bài giảng lịch sử 10, Nhà xuất bản Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiết kế bài giảng lịch sử 10
Tác giả: Nguyễn Thị Thạch
Nhà XB: Nhà xuất bản Hà Nội
Năm: 2009
17. Phạm Đình Thực (2004), Dạy toán ở tiểu học bằng phiếu giao việc, Nhà xuất bản Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy toán ở tiểu học bằng phiếu giao việc
Tác giả: Phạm Đình Thực
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 2004
18. Hoàng Thanh Tú (2012), Phương pháp ôn tập Lịch sử ở trường THPT một số vấn đề lí luận và thực tiễn, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà NộiII. Bài viết, tạp chí Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp ôn tập Lịch sử ở trường THPT một số vấn đề lí luận và thực tiễn," Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội
Tác giả: Hoàng Thanh Tú
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội " II. Bài viết
Năm: 2012
19. Phạm Kim Anh (2004), Vấn đề đổi mới phương pháp dạy học ở trường THPT, Tạp chí Giáo dục Số 48, tr 34 – 36 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phạm Kim Anh (2004), "Vấn đề đổi mới phương pháp dạy học ở trường THPT
Tác giả: Phạm Kim Anh
Năm: 2004
20. Nguyễn Văn Thái Bình (2010), Thiết kế phiếu học tập trong dạy học hợp tác bài giảng phương trình bậc 2 – đại số lớp 10, Tạp chí Giáo dục Số 232, tr 38 – 40 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiết kế phiếu học tập trong dạy học hợp tác bài giảng phương trình bậc 2 – đại số lớp 10
Tác giả: Nguyễn Văn Thái Bình
Năm: 2010

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1: Biểu đồ về mức độ sử dụng PHT dựa trên PCHT của HS - Thiết kế và sử dụng phiếu học tập trong dạy học lịch sử ở trường THPT dựa trên phong cách học tập của học sinh
Hình 1.1 Biểu đồ về mức độ sử dụng PHT dựa trên PCHT của HS (Trang 35)
Hình 1.2: Biểu đồ so sánh mức độ hứng thú của HS với các loại PHT - Thiết kế và sử dụng phiếu học tập trong dạy học lịch sử ở trường THPT dựa trên phong cách học tập của học sinh
Hình 1.2 Biểu đồ so sánh mức độ hứng thú của HS với các loại PHT (Trang 36)
Hình 1.3: Mức độ sử dụng PHT dựa trên PCHT đối với HS của GV (%) - Thiết kế và sử dụng phiếu học tập trong dạy học lịch sử ở trường THPT dựa trên phong cách học tập của học sinh
Hình 1.3 Mức độ sử dụng PHT dựa trên PCHT đối với HS của GV (%) (Trang 37)
Hình 2.1:Biểu đồ thể hiện tỉ lệ khó khăn của HS - Thiết kế và sử dụng phiếu học tập trong dạy học lịch sử ở trường THPT dựa trên phong cách học tập của học sinh
Hình 2.1 Biểu đồ thể hiện tỉ lệ khó khăn của HS (Trang 47)
Hình 2.2: Biểu đồ tỉ lệ về nội dung kiến thức HS muốn tìm hiểu - Thiết kế và sử dụng phiếu học tập trong dạy học lịch sử ở trường THPT dựa trên phong cách học tập của học sinh
Hình 2.2 Biểu đồ tỉ lệ về nội dung kiến thức HS muốn tìm hiểu (Trang 48)
Bảng 2.1. Kết quả điều tra HS phân loại theo PCHT VAK - Thiết kế và sử dụng phiếu học tập trong dạy học lịch sử ở trường THPT dựa trên phong cách học tập của học sinh
Bảng 2.1. Kết quả điều tra HS phân loại theo PCHT VAK (Trang 49)
Bảng 2.2: Bảng tổng hợp kết quả điểm kiểm tra giữa lớp TN và lớp ĐC - Thiết kế và sử dụng phiếu học tập trong dạy học lịch sử ở trường THPT dựa trên phong cách học tập của học sinh
Bảng 2.2 Bảng tổng hợp kết quả điểm kiểm tra giữa lớp TN và lớp ĐC (Trang 64)
Hình 2.4: So sánh kết quả điểm kiểm tra giữa lớp TN và lớp ĐC - Thiết kế và sử dụng phiếu học tập trong dạy học lịch sử ở trường THPT dựa trên phong cách học tập của học sinh
Hình 2.4 So sánh kết quả điểm kiểm tra giữa lớp TN và lớp ĐC (Trang 66)
Bảng  biểu,  sơ  đồ, - Thiết kế và sử dụng phiếu học tập trong dạy học lịch sử ở trường THPT dựa trên phong cách học tập của học sinh
ng biểu, sơ đồ, (Trang 81)
Bảng 1.2. Mức độ sử dụng PHT và đánh giá mức độ sử dụng PHT của GV - Thiết kế và sử dụng phiếu học tập trong dạy học lịch sử ở trường THPT dựa trên phong cách học tập của học sinh
Bảng 1.2. Mức độ sử dụng PHT và đánh giá mức độ sử dụng PHT của GV (Trang 105)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w