1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xung đột tâm lý giữa vợ và chồng trong gia đình trí thức trên địa bàn thành phố hà nội

128 711 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 128
Dung lượng 429,71 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mỗi người vợ/ chồng trí thức sẽ có những biểu hiện, cách thức giải quyết XĐkhác nhau tùy thuộc vào thế giới quan, những trải nghiện, kinh nghiệm của họ.Nguyên tắc hệ thống: Nghiên cứu m

Trang 1

MỤC LỤC

DANH MỤC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT iii

DANH MỤC BẢNG BIỂU iv

DANH MỤC BIỂU ĐỒ vi

DANH MỤC SƠ ĐỒ vii

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 2

3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 2

4 Giả thuyết khoa học 3

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 3

6 Giới hạn nghiên cứu 3

7 Phương pháp nghiên cứu 3

8 Cấu trúc luận văn 4

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XUNG ĐỘT TÂM LÝ GIỮA VỢ VÀ CHỒNG TRONG CÁC GIA ĐÌNH TRÍ THỨC 5

1.1 Sơ lược lịch sử nghiên cứu vấn đề 5

1.1.1 Những nghiên cứu nước ngoài 5

1.1.2 Những nghiên cứu trong nước 8

1.2 Một số vấn đề lý luận về xung đột tâm lý giữa vợ và chồng trong gia đình trí thức 11

1.2.1 Gia đình trí thức 11

1.2.2 Xung đột tâm lý giữa vợ và chồng trong gia đình trí thức 15

1.2.3 Các biểu hiện và các mức độ xung đột tâm lý giữa vợ và chồng trong các gia đình trí thức 21

1.2.4 Cách thức giải quyết xung đột tâm lý giữa vợ và chồng trong gia đình trí thức 27

1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến xung đột tâm lý giữa vợ và chồng trong các gia đình trí thức 33

1.3.1 Các yếu tố chủ quan 33

1.3.2 Các yếu tố khách quan 36

Tiểu kết chương 1 37

CHƯƠNG 2 TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 39

2.1 Vài nét về địa bàn nghiên cứu 39

Trang 2

2.2 Tổ chức nghiên cứu 39

2.2.1 Giai đoạn nghiên cứu lý luận 39

2.2.2 Giai đoạn khảo sát thực tiễn 40

2.2.3 Giai đoạn viết và hoàn thành luận văn 41

2.3 Các phương pháp nghiên cứu 41

2.3.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu 41

2.3.2 Phương pháp chuyên gia 41

2.3.3 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi 42

2.3.4 Phương pháp phỏng vấn sâu 43

2.3.5 Phương pháp quan sát 43

2.3.6 Phương pháp phân tích dữ liệu 43

Tiểu kết chương 2 47

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG XUNG ĐỘT TÂM LÝ GIỮA VỢ VÀ CHỒNG TRONG CÁC GIA ĐÌNH TRÍ THỨC TRÊN ĐỊA BÀN TP HÀ NỘI 48

3.1 Thực trạng xung đột tâm lý giữa vợ và chồng trong các gia đình trí thức trên địa bàn thành phố Hà Nội 48

3.1.1 Các mặt biểu hiện của xung đột tâm lý giữa vợ và chồng trong các gia đình trí thức 48

3.1.2 Cách thức giải quyết xung đột tâm lý giữa vợ và chồng trong gia đình trí thức trên địa bàn thành phố Hà Nội 82

3.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến xung đột tâm lý giữa vợ và chồng trong gia đình trí thức trên địa bàn thành phố Hà Nội 101

3.2.1 Mối quan hệ giữa các yếu tố với mức độ xung đột tâm lý 101

3.2.2 Ảnh hưởng của các yếu tố đến mức độ xung đột tâm lý 103

3.3 Các biện pháp nhằm phòng ngừa hoặc giảm thiểu xung đột tâm lý giữa vợ và chồng trong gia đình trí thức 108

3.3.1 Nguyên tắc đề xuất biện pháp 108

3.3.2 Một số biện pháp được đề xuất 108

Tiểu kết chương 3 113

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 115

1 Kết luận 115

2 Kiến nghị 116

TÀI LIỆU THAM KHẢO 117

PHỤ LỤC 120

Trang 3

DANH MỤC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT

Trang 4

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 3.4 Tương quan giữa mức độ XĐ trong quan niệm về vấn đề

quan hệ nội ngoại với sự hài lòng về ứng xử đối với hai bên nội ngoại 54Bảng 3.5 Tương quan giữa mức độ XĐ trong quan niệm về vấn đề

Bảng 3.6 Tương quan giữa mức độ XĐ trong quan niệm về vấn đề

quan hệ xã hội với sự hài lòng về cách ứng xử trong quan hệ xã hội 57Bảng 3.7 Tương quan giữa mức độ XĐ trong quan niệm về vấn đề

chăm sóc giáo dục con và sự hài lòng về cách chăm sóc giáo dục con 57Bảng 3.8 Bất đồng trong quan niệm về giao tiếp ứng xử giữa vợ

Bảng 3.9 Tương quan giữa mức độ XĐ trong quan niệm về vấn đề

Bảng 3.10 Tương quan giữa mức độ XĐ trong quan niệm về vấn đề

Bảng 3.11 Bất đồng trong quan niệm về vấn đề liên quan đến tình dục 63Bảng 3.12 Tương quan giữa mức độ hài lòng về đời sống tình dục với

mức độ XĐ trong nhận thức về các lĩnh vực trong đời sống hôn nhân 65Bảng 3.13 Tương quan giữa mức độ XĐTL trong quan niệm về vấn

Bảng 3.15 XĐTL biểu hiện ở mặt cảm xúc kèm hành vi 70Bảng 3.16 XĐTL giữa vợ chồng trí thức biểu hiện qua hành vi ngôn

Trang 5

Bảng 3.19 Mối quan hệ giữa mức sống và mức độ biểu hiện

Bảng 3.32 Ảnh hưởng của các yếu tố đến mức độ XĐTL 107

Trang 6

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 3.1 Các mặt biểu hiện XĐTL giữa vợ và chồng 48

Biểu đồ 3.3 Phân bố mức độ thể hiện hành vi phi ngôn ngữ của gia đình

Biểu đồ 3.5 Số lượng biểu hiện cảm xúc trong XĐTL giữa vợ và chồng 77Biểu đồ 3.6 Số lượng biểu hiện hành vi trong XĐTL giữa vợ và chồng 78

Biểu đồ 3.8 Sự hài lòng trong cuộc sống gia đình 104

Trang 7

DANH MỤC SƠ ĐỒ

Sơ đồ 3.1 Mối tương quan giữa các mặt nhận thức, cảm xúc, hành vi 79

Sơ đồ 3.2: Tương quan giữa các cách thức giải quyết với các biến số

Sơ đồ 3.3 Tương quan giữa cảm nhận hạnh phúc với XĐTL 101

Sơ đồ 3.4 Tương quan giữa mức độ XĐTL với các biến số trong XĐTL 102

Sơ đồ 3.5 Tương quan giữa mức độ XĐTL với các yếu tố 102

Trang 8

mô Sự phát triển lành mạnh của gia đình là nền móng cho sự phát triển bền vữngcủa một quốc gia, của toàn nhân loại.

Gia đình cùng với việc thực hiện những chức năng của nó là cơ sở để xâydựng đất nước vững mạnh và phát triển về kinh tế, văn hóa – xã hội, giáo dục vàcon người Để thực hiện tốt những chức năng trên, thì yêu cầu tất yếu phải là mộtgia đình tốt mà thể hiện trong đó là những mối quan hệ tích cực, lành mạnh

Gia đình tồn tại và phát triển được thể hiện thông qua các mối quan hệ có sựtác động, ảnh hưởng qua lại với nhau Trong đó, mối quan hệ vợ chồng là mối quan

hệ xuất hiện đầu tiên và chi phối sâu sắc đến những mối quan hệ xuất hiện tiếp theo

đó

Một mối quan hệ vợ chồng lành mạnh, hòa thuận sẽ tạo điều kiện thuận lợi để

có một gia đình bền vững, hạnh phúc Ngược lại, một mối quan hệ xung đột, bấtđồng sẽ kéo theo đó là những hệ lụy không chỉ cho riêng họ mà còn ảnh hưởng đếnmọi thành viên, rộng hơn là mang lại cả những hệ lụy cho xã hội

Theo kết quả nghiên cứu của nhiều tác giả, XĐTL giữa vợ và chồng để lạinhiều hậu quả: mang lại những tổn thương tâm lý cho con trẻ về mặt nhận thức,hành vi như tự ti, mặc cảm, lo hãi, xuất hiện những hành vi chống đối…Bên cạnh

đó, khiến mối quan hệ vợ chồng trở nên căng thẳng, kém hạnh phúc

Trang 9

báo động cho sự phát triển thiếu bền vững của gia đình nói riêng và của xã hội nóichung.

Theo thống kê của ngành tòa án cho thấy, nếu năm 2000 chỉ có 51.361 vụ thìnăm 2005 đã tăng lên 65.929 vụ; đến năm 2010, con số này lên tới 126.325 vụ Còntheo một công trình nghiên cứu xã hội học của Tiến sĩ Nguyễn Minh Hòa (trườngĐại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TP HCM): tỉ lệ ly hôn so với kết hôn ở ViệtNam là 31% - 40%, tức là cứ 3 cặp kết hôn lại có 1 cặp ly hôn – một con số khôngthể tin nổi nhưng lại là sự thật

Từ một số nghiên cứu cho biết những nguyên nhân dẫn đến ly hôn trong đómâu thuẫn về lối sống là nguyên nhân hàng đầu (27,7%), ngoại tình (25,9%), kinh

tế (13%), bạo lực gia đình (6,7%), sức khỏe (2,2%), do xa cách lâu ngày (1,3%) Dù

là những nguyên nhân nào thì nó cũng trở thành vấn đề hay yếu tố dẫn đến nhữngxung đột tâm lý giữa vợ và chồng XĐTL là ngòi nổ kích hoạt sự tan rã của giađình

Những con số trên cho thấy, xã hội đang có nguy cơ phải đối mặt với sự pháttriển kém bền vững ảnh hưởng từ sự phát triển không lành mạnh của gia đình Vìvậy, làm sao để giảm thiểu XĐTL giữa vợ và chồng? làm sao để giảm thiểu tỉ lệ lyhôn? là bài toán cần được giải đáp không chỉ của xã hội mà còn là của mỗi cá nhân.Đặc biệt là đối với tầng lớp trí thức - những người có vị trí quan trọng và quyết địnhtrong việc tăng trưởng và phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội thì việc đi đầu trong vấn

đề xây dựng gia đình hạnh phúc càng phải được ý thức hơn ai hết

Với mong muốn tìm hiểu thực trạng XĐTL giữa vợ và chồng trong các giađình trí thức, trên cơ sở đó đề xuất một số kiến nghị nhằm giảm thiểu những hệ lụy

do XĐ mang lại chúng tôi lựa chọn đề tài " Xung đột tâm lý giữa vợ và chồng trong

gia đình trí thức trên địa bàn Thành phố Hà Nội” để nghiên cứu.

2 Mục đích nghiên cứu

Chỉ ra thực trạng biểu hiện XĐTL giữa vợ và chồng ở các mặt nhận thức, cảmxúc và hành vi; phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến XĐTL giữa vợ và chồng Trên

cơ sở đó, đề xuất một số biện pháp tác động nhằm góp phần giảm thiểu XĐTL giữa

vợ và chồng trong các gia đình trí thức tại Tp Hà Nội

3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Xung đột tâm lý giữa vợ và chồng trong gia đình trí thức

Trang 10

3.2 Khách thể nghiên cứu

Điều tra trên 163 khách thể trí thức đã xây dựng gia đình trên địa bàn Tp HàNội

4 Giả thuyết khoa học

4.1 XĐTL giữa vợ và chồng thể hiện ở các mặt nhận thức, cảm xúc và hành vi.

Trong đó XĐTL biểu hiện ở mặt nhận thức là cao hơn cả

4.2 Số lượng biểu hiện XĐTL có mối liên hệ với mức độ XĐTL giữa vợ và

chồng

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

5.1 Hệ thống hóa cơ sở lý luận về XĐTL giữa vợ và chồng trong các gia đình

trí thức; các cách thức giải quyết XĐ và các yếu tố ảnh hưởng đến XĐTL giữa vợ

và chồng

5.2 Nghiên cứu thực trạng XĐTL giữa vợ và chồng trong các gia đình trí thức

trên địa bàn Tp Hà Nội Phân tích những yếu tố tác động đến XĐTL giữa vợ vàchồng

5.3 Đề xuất một số biện pháp nhằm hạn chế và giải quyết XĐTL giữa vợ và

chồng

6 Giới hạn nghiên cứu

6.1 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu về XĐTL theo góc độ liên cá nhân chứ không nghiên cứuXĐTL bên trong mỗi cá nhân

XĐ có thể thể hiện hai mặt: tích cực hoặc tiêu cực Trong khuôn khổ đề tàichúng tôi tập trung vào mặt tiêu cực

Đề tài tập trung nghiên cứu khía cạnh cảm xúc và hành vi được thể hiện khidiễn ra XĐ và cách thức giải quyết XĐ của vợ/ chồng trí thức

6.2 Khách thể và địa bàn nghiên cứu

Chúng tôi không nghiên cứu theo cặp vợ chồng mà nghiên cứu ngẫu nhiênnhững người vợ hoặc chồng trí thức đang chung sống với người bạn đời trên địabàn Tp Hà Nội

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Phương pháp luận nghiên cứu

Nghiên cứu được dựa trên một số nguyên tắc phương pháp luận trong tâm lýhọc sau:

Trang 11

Nguyên tắc luận duy vật biện chứng: Nghiên cứu XĐTL giữa vợ chồng trongcác gia đình trí thức luôn gắn với tính chủ thể, tính lịch sử, tính xã hội của tâm lýngười Mỗi người vợ/ chồng trí thức sẽ có những biểu hiện, cách thức giải quyết XĐkhác nhau tùy thuộc vào thế giới quan, những trải nghiện, kinh nghiệm của họ.

Nguyên tắc hệ thống: Nghiên cứu mức độ XĐTL vợ chồng trong mối quan

hệ tác động qua lại với các yếu tố khác như văn hóa ứng xử, đặc điểm nghề nghiệp,điều kiện kinh tế…

Nguyên tắc phát triển: Nhìn nhận XĐTL giữa vợ chồng không phải là mộthiện tượng tâm lý tĩnh, mà có thể thay đổi dưới sự tác động của nhiều nhân tố khácnhư thời gian, trình độ nhận thức…

7.2 Phương pháp nghiên cứu

Để nghiên cứu đề tài, chúng tôi sử dụng các phương pháp sau:

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu

- Phương pháp chuyên gia

- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

- Phương pháp quan sát

- Phương pháp phỏng vấn sâu

- Phương pháp phân tích dữ liệu

8 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị Đề tài được cấu trúc 3 chương nhưsau:

Chương 1: Cơ sở lý luận về xung đột tâm lý giữa vợ và chồng trong các giađình trí thức

Chương 2: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu

Chương 3: Kết quả nghiên cứu thực trạng xung đột tâm lý giữa vợ và chồngtrong các gia đình trí thức trên địa bàn thành phố Hà Nội

Trang 12

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XUNG ĐỘT TÂM LÝ GIỮA VỢ VÀ CHỒNG

TRONG CÁC GIA ĐÌNH TRÍ THỨC

1.1.Sơ lược lịch sử nghiên cứu vấn đề

1.1.1 Những nghiên cứu nước ngoài

XĐTL là một hiện tượng phổ biến, được nghiên cứu dưới nhiều góc độ như

XĐ liên cá nhân, XĐ giữa các nhóm nhỏ, XĐ giữa các quốc gia, dân tộc…và đượcquan tâm bởi nhiều ngành khoa học như Tâm lý học, Xã hội học, Triết học, Vănhóa, Kinh tế học, Chính trị học Dưới sự nghiên cứu của ngành khoa học Tâm lýtheo góc độ tiếp cận XĐ liên cá nhân Có thể tổng hợp những nghiên cứu này theohai hướng sau:

1.1.1.1 Hướng nghiên cứu thứ nhất: Nghiên cứu về XĐ và XĐTL

Đầu tiên cần nhắc đến đó là nghiên cứu của Mác (1818 – 1883) và Ph.Ăng –ghen (1820 – 1899) Trong những nghiên cứu của mình, hai ông đã xây dựng họcthuyết về các quy luật phát triển của tự nhiên và xã hội, những phạm trù khoa học

về tồn tại xã hội, ý thức xã hội và sự vận động của nó Trong đó, mâu thuẫn xã hội

là một trong những vấn đề trung tâm được Mác và Ph.Ăng – Ghen nghiên cứu.Những công trình nghiên cứu của hai ông đã trở thành kim chỉ nam cho mọi nghiêncứu khoa học cả về lĩnh vực tự nhiên và xã hội nói chung và nghiên cứu về XĐTLnói riêng [2]

Theo đánh giá của A.Kauzer (1956), xung đột là một bộ phận không thể táchrời của tồn tại xã hội và của sự tác động qua lại giữa các cá nhân và các nhóm.Trường phái tâm lý học nhận thức khẳng định XĐ chỉ trở thành hiện thực khi và chỉkhi nó được nhận thức rõ ràng, đi vào ý thức của các bên tham gia XĐ [34]

Theo E.Mayo, trong cuốn “ Các vấn đề xã hội của nền văn minh công

nghiệp” đã chỉ ra sự XĐ giữa các nhóm và các cá nhân trong nhóm đó là sự căm

ghét, bất hòa, nghi kỵ và thù địch, mà lẽ ra phải được thay thế bằng sự hợp tác Điềunày đòi hỏi phải có những chú ý đặc biệt đến đời sống và hoạt động của nhóm [11].Hai nhà tâm lý học A Rapport (1974), Jacob Becrcovich (1984) đi sâu vàonghiên cứu những ảnh hưởng của XĐ đến bầu không khí tâm lý trong tập thể Theohai ông, những tập thể ổn định và phát triển nhanh là những tập thể ít xuất hiện XĐ.Ngược lại, những tập thể đang trong giai đoạn hình thành, ổn định và phát triển thìthường xuất hiện nhiều mâu thuẫn và đạt tới ngưỡng XĐ là không ít

Trang 13

Ph.Sam – bô (1991) cho rằng: Sự phát triển của nhóm là kết quả từ sự đụng độcủa những khuynh hướng đối lập nhau do sự bất đồng giữa hành vi của thủ lĩnh vớinhững mong đợi của thành viên trong nhóm Sự bất đồng này khiến nhóm bất ổnđịnh và XĐ Nhóm sẽ đi vào ổn định chỉ khi nào nhóm trải qua một loạt các giaiđoạn XĐ và hình thành ở mỗi thành viên trong nhóm những “Tiêu chuẩn văn hóachung” [dẫn theo 34].

Theo thuyết so sánh xã hội của G.N Fischer, trong mỗi nhóm có một hệ thốngchuẩn mực riêng, do các thành viên trong nhóm xây dựng lên Chuẩn mực có ýnghĩa hết sức quan trọng, nhằm ràng buộc các cá nhân trong nhóm, tạo sự thốngnhất, duy trì trật tự, quyết định phương hướng ứng xử, giảm bớt tính hỗn tạp Sựxuất hiện chuẩn mực chính là kết quả mà các cá nhân chấp nhận và gặp nhau ở cácđáng giá, chính kiến, sau khi đã gạt bỏ những XĐ [dẫn theo 34]

Theo Follet, mâu thuẫn tự bản thân nó không xấu mà cũng chẳng tốt Mâuthuẫn không phải là một tranh chấp, mà cần xem nó như sự khác biệt ý kiến và lợiích Bà đã ví mâu thuẫn như “ma sát” của con người Không phải tất cả các ma sátđều có hại Follet cho rằng, có ba phương pháp chủ yếu để giải quyết mâu thuẫntrong nhóm là: áp chế; thỏa hiệp; thống nhất Theo bà, muốn thống nhất thì phải có

sự thính nhạy đặc biệt, trí thông minh cao độ, óc suy xét sắc sảo “Trên tất cả, nóđòi hỏi tính sáng tạo lỗi lạc” [34] Quan điểm của Follet có một số tương đồng vớiD.dich – may – e và D.Cac – xơn Chúng tôi hoàn toàn đồng ý với Follet về tínhchất của mâu thuẫn và những gợi ý về những giải pháp tháo gỡ XĐ

Ngoài ra còn có nhiều tác giả đã nghiên cứu sự ảnh hưởng của XĐ đến đờisống tình cảm của con người như Mandler, Herbart, Deway, D.Hebb với tư tưởngcốt lõi đó là, khi một hoạt động của cơ thể bị cản trở thì cảm xúc cũng bị ảnh hưởngtheo [10]

Qua đây có thể thấy, XĐ là hiện tượng tất yếu nảy sinh trong quá trình hìnhthành và phát triển tâm lý của mỗi cá nhân và của toàn xã hội, đồng thời nó manglại ảnh hưởng trực tiếp tới xã hội (nhóm, tập thể) nói chung và mỗi cá nhân nóiriêng Để ổn định và phát triển thì những XĐ này phải được giải quyết nếu không sẽdẫn đến sự mất cân bằng và những ảnh hưởng tiêu cực đến bầu không khí tâm lý tậpthể cũng như trạng thái tâm lý cá nhân, thậm chí dẫn đến sự tan rã nhóm

1.1.1.2 Hướng nghiên cứu thứ hai: nghiên cứu về XĐTL giữa vợ và chồng

Khi nghiên cứu về XĐTL giữa vợ và chồng, các tác giả đã đề cập đến nhữngnguyên nhân chủ yếu dẫn đến XĐTL, cũng như sự ảnh hưởng của nó đến các thành

Trang 14

viên trong gia đình, bên cạnh đó là những nghiên cứu về cách thức giải quyết và canthiệp XĐTL giữa vợ và chồng.

Các tác giả tiêu biểu nghiên cứu về nguyên nhân dẫn đến XĐTL giữa vợ vàchồng như: Harville Hendrix (1997), Jacques Gauthier (2000), John Gray (2003),Fincham (2003), Maurice Porot (2004), Szilagy Vilmos (2005), Knuds S Larsen và

Lê Văn Hảo (2010)…Những nghiên cứu này tiếp cận theo hai hướng nguyên nhân

đó là: bên trong và bên ngoài

Theo hướng tiếp cận những yếu tố bên trong là nguyên nhân gây ra XĐTL cócác tác giả như: Harville Hendrix cho rằng XĐ xuất hiện do sự thiếu hiểu biết vềngười bạn đời và chính mình, nhất là không thấu hiểu được những chấn thương tuổithơ, những mong muốn trong cuộc sống hôn nhân [14] Jacques Gauthier [21] vàJohn Gray [23] xem sự nhận thức không đầy đủ, đúng đắn và có sự khác biệt ởnhiều lĩnh vực giữa hai vợ chồng là nguyên nhân dẫn đến XĐTL, còn Fincham lạinhấn mạnh đến sự khác nhau về sở thích, những ưu tiên giữa vợ và chồng, sự khácnhau này làm cho vợ và chồng cảm thấy người bạn đời đang can thiệp và cản trởmình đạt mục tiêu đã định Szilagy Vilmos [40] cho rằng XĐTL giữa vợ và chồng

có nguyên nhân từ sự không thỏa mãn và hài lòng, bên cạnh đó tác giả còn nhấnmạnh – những người không được chuẩn bị tinh thần, không được giáo dục về cáchkhắc phục, giải quyết những bất đồng và XĐ trong hôn nhân sẽ dẫn đến nguy cơhôn nhân đổ vỡ càng cao Theo Knuds S Larsen và Lê Văn Hảo, hai tác giả lại xem

sự khác nhau trong quan niệm về trách nhiệm và quyền lợi là nguyên nhân dẫn đến

XĐ [26]

Theo hướng tiếp cận những yếu tố bên ngoài là nguyên nhân gây ra XĐTL cócác tác giả như: Maurice Porot cho rằng sự thiếu thốn vật chất là nguyên nhân dẫnđến XĐ và sự phân ly trong gia đình, ngoài ra sự nhầm lẫn giữa vai trò làm bố, làm

mẹ cũng dẫn đến những XĐ Kết quả nghiên cứu của tác giả cho thấy, để đảm bảocho cuộc sống hôn nhân hạnh phúc thì người vợ/ chồng cần nhận thức và thực hiệnđúng vai trò của mình Bên cạnh đó cần đảm bảo tốt đời sống kinh tế, vật chất củagia đình [29] Knuds S Larsen và Lê Văn Hảo nhấn mạnh đến những yếu tố nhưhành vi sử dụng rượu hay chất ma túy dễ dẫn đến XĐ giữa vợ và chồng [26]

Khi nghiên cứu về XĐTL vợ chồng, hai tác giả B.Henring và H.Wessel loạitrừ yếu tố tình dục ra ngoài 4 mâu thuẫn chính: Mâu thuẫn vì con cái; mâu thuẫn vìkhả năng tiếp nhận; mâu thuẫn vì trình độ không đồng đều; mâu thuẫn vì tình yêu,hứng thú không phù hợp [34]

Trang 15

Một số tác giả nghiên cứu về cách thức giải quyết và can thiệp XĐTL giữa vợ

và chồng như:

D.Dich – May – e và D Cac – Xơn (1989) đề cập đến những trục trặc trongquan hệ vợ chồng Hai ông cho rằng có ba cách giải quyết xung đột chủ yếu là : Đốiđầu; tránh né; giải quyết tích cực [34]

Harriet Goldhor Lerner (1997) cho rằng, để giải quyết tốt những XĐTL giữa

vợ và chồng cần chú ý đến hai vấn đề Thứ nhất: Giữ được sự trong sáng trong khixảy ra XĐ Muốn giữ được sự trong sáng cần phải trả lời những câu hỏi sau: Tôi làai? Tôi muốn gì? Tôi xứng đáng được hưởng cái gì? Theo tác giả, những ngườikhông giữ được sự trong sáng, thay vì tập trung giải quyết vấn đề họ lại ca thán, đổlỗi, chỉ trích dẫn đến XĐ ngày càng tăng và không thể tháo gỡ Thứ hai: Cần thayđổi những ứng xử theo lề thói mang tính tiêu cực trước đây như giọng nói thay đổidịu dàng hơn, những cử chỉ gần gũi và thoải mái hơn… [13]

Tác giả Erik J Van Slyke (2004) đưa ra phương pháp giải quyết XĐ dựa trênnguyên tắc lắng nghe, lắng nghe được xem là bí quyết để tạo nên những giải phápcho XĐ Tác giả lý giả, XĐ nảy sinh do sự thiếu hiểu biết Do đó, lắng nghe ngườikhác giúp chúng ta thấu hiểu đối phương [12]

John Gottman và Nan Silver (2013) cho rằng, giải pháp phổ biến nhất chonhững mâu thuẫn trong hôn nhân là đặt mình vào vị trí của người bạn đời khi lắngnghe những gì người ấy bày tỏ, sau đó đáp lại một cách cảm thông rằng bạn hiểuvấn đề theo cách nhìn của người ấy [22]

Dựa vào những nghiên cứu trên của các tác giả, giúp chúng tôi hiểu rõ hơn vềnhững nguyên nhân, những cách thức giải quyết, can thiệp XĐTL giữa vợ vàchồng Từ đó làm cơ sở để xây dựng lên cơ sở lý luận về các yếu tố ảnh hưởng đếnXĐTL, biểu hiện XĐTL và các giải pháp để giải quyết, phòng ngừa XĐTL giữa vợ

và chồng

1.1.2 Những nghiên cứu trong nước

Cùng với các nhà khoa học trên thế giới, các nhà tâm lý học Việt Nam cũngrất quan tâm và có nhiều hướng nghiên cứu về XĐ và XĐTL Có thể tổng hợpnhững nghiên cứu này theo hai hướng sau

1.1.2.1 Hướng nghiên cứu thứ nhất: Nghiên cứu về XĐ và XĐTL

Trong công trình nghiên cứu “Xung đột và không khí tâm lý trong tập thể” của

tác giả Trần Trọng Thủy (1987), ông cho rằng XĐ là hiện tượng nảy sinh trong hoạt

Trang 16

động cùng nhau của các cá nhân trong tập thể và nó liên quan đến bầu không khítrong tập thể [43].

Nghiên cứu về tâm lý gia đình, tác giả Ngô Công Hoàn (1993) đã bàn đến XĐthế hệ Tác giả đưa ra khái niệm XĐ thế hệ là những quan điểm, thái độ, hành độngtrái ngược nhau giữa các thành viên trong gia đình không cùng độ tuổi về các vấn

đề như đạo đức, nếp sống, thói quen…trong đời sống sinh hoạt của gia đình Tác giảphân chia một cuộc XĐ thành 3 giai đoạn gồm: Thứ nhất – Giai đoạn nhận thức ranhững trái ngược trong sinh hoạt ăn uống, việc làm, tổ chức cuộc sống; thứ hai –Giai đoạn XĐ thể hiện qua ngôn ngữ lời nói; thứ ba – Giai đoạn XĐ thể hiện quahành động chân tay Nguyên nhân là do tính tình không hợp nhau và do nền kinh tế[15]

Tác giả Nguyễn Khắc Viện (1994) đã quan tâm nghiên cứu và đưa ra kháiniệm XĐ, ảnh hưởng của XĐ đối với những tâm bệnh của trẻ em và những rốinhiễu tâm lý ở người lớn Tác giả cho rằng, chất lượng của những mối quan hệ giađình quyết định trên thực tế tương lai đứa trẻ Quan hệ lành mạnh giảm bớt nhữngchấn thương tâm lý đau đớn nhất; quan hệ xấu lại tăng cường những cái nhỏ nhấtgiữa chúng [45]

Nguyễn Đình Xuân (1997) với nghiên cứu về các loại XĐ điển hình và phổbiến trong gia đình, ông cho rằng: XĐ trong giao tiếp giữa cha mẹ - con cái, XĐgiữa mẹ chồng – nàng dâu, XĐ dì ghẻ với con chồng, XĐ giữa cha dượng và conriêng của vợ là những hình thức XĐ dễ xảy ra Nghiên cứu của tác giác về nhữngloại XĐ này dừng lại ở việc liệt kê các XĐ trong đời sống [47]

Tác giả Đỗ Hạnh Nga (2005, 2007) đã có hai công trình nghiên cứu về XĐTLgiữa cha mẹ và con cái, tác giả đã chia XĐTL giữa cha mẹ và con thành ba giaiđoạn: (1) Giai đoạn tiền XĐTL; (2) Giai đoạn phát triển XĐTL; (3) Giai đoạn giảiquyết XĐTL Bên cạnh đó, tác giả chia biểu hiện hành vi của XĐ thành hai loạigồm: Hành vi phi ngôn ngữ và hành vi ngôn ngữ Trong đó, hành vi phi ngôn ngữgồm: hành vi không tác động trực tiếp lên đối tượng – cử chỉ, điệu bộ, ánh mắt(mức độ 1) và hành vi bạo hành tác động trực tiếp lên đối tượng bằng cách xô đẩy,đánh, đá, tát…(mức độ 2) Hành vi ngôn ngữ cũng thể hiện ở hai mức độ gồm: Mức

độ 1 – thể hiện như sự la mắng, cằn nhằn…; mức độ 2 – thể hiện như chửi mắng,lăng mạ, xỉ nhục [31]

Từ những nghiên cứu trên giúp chúng tôi hiểu hơn về XĐTL và những ảnhhưởng của nó trong tập thể nói chung và cá nhân nói riêng Bên cạnh đó, đây là

Trang 17

những gợi ý giúp luận văn có cơ sở để phân chia các mực độ biểu hiện của XĐTLgiữa vợ và chồng.

1.1.2.2 Hướng nghiên cứu thứ hai: nghiên cứu về XĐTL giữa vợ và chồng

Ở Việt Nam, vấn đề XĐTL giữa vợ và chồng cũng được rất nhiều tác giả quantâm, nghiên cứu, khai thác các khía cạnh như nguyên nhân, biểu hiện, mức độXĐTL giữa vợ và chồng và sự ảnh hưởng của XĐTL đến các thành viên trong giađình, được thể hiện ở một số nghiên cứu dưới đây:

Tác giả Hồ Ngọc Đại (1991) có những kiến giải sâu sắc về nguồn gốc, bản chấtcủa XĐ đó là mâu thuẫn giữa ý thức cá nhân và ý thức vợ chồng, sự không ăn khớpgiữa hai khái niệm gia đình và cá nhân [8]

Tác giả Nguyễn Đình Xuân (1997) đã lý giải XĐ dưới 3 nguyên nhân: Thứ nhất– Mâu thuẫn với nhau về tâm lý từ đó không có sự hòa hợp về tình cảm, nhận thức

sẽ tạo ra muôn vàn XĐ; thứ hai – Mâu thuẫn về quyền lợi; thứ ba – Mâu thuẫn vềdục vọng, tác giả cho rằng chính những ham muốn của con người đã làm nảy sinh

XĐ [48]

Theo tác giả Văn Thị Kim Cúc (2003), bản chất của gia đình có bố mẹ ly hôn là

XĐ và nó tạo nên các căng thẳng trong mối quan hệ gia đình, đặc biệt là sự bất ancho những đứa trẻ Sự XĐ gia đình triền miên để lại những hệ quả là sự phát triểnlệch lạch của những thành viên trong gia đình, điều mà không phải ai cũng ý thứcđược [3]

Trong luận án Tiến sĩ của mình, tác giả Cao Huyền Nga (2001) đã chỉ ra nhữngnguyên nhân dẫn đến XĐTL giữa vợ và chồng đó là: Ngoại tình, đời sống kinh tếkhó khăn, thiếu kĩ năng giao tiếp ứng xử, thiếu tôn trọng, thiếu tin tưởng vào nhau,

sự khác biệt giữa hai vợ chồng [34]

Tác giả Nguyễn Đình Mạnh (2007) với luận án Tiến sĩ nghiên cứu về “XĐTLtrong tình yêu nam nữ của sinh viên” đã đưa ra bốn giai đoạn của một quá trình tiếntriển XĐ gồm có: Giai đoạn 1 – Xuất hiện nguyên nhân sâu xa gây ta quá trình XĐ;giai đoạn 2 – Tình huống XĐ xuất hiện; giai đoạn 3 – XĐ bùng nổ; giai đoạn 4 –Giải quyết XĐ Bên cạnh đó, tác giả phân chia XĐ thành 3 mức độ: Mức độ 1 – Có

sự không phù hợp về quan điểm, nhu cầu, khí chất, tính cách, hành vi…giữa haingười; mức độ 2 – Có sự khác biệt lớn về quan điểm, nhu cầu, khí chất, tính cách,hành vi…giữa hai người; mức độ 3 (mức độ XĐ cao nhất) – Có sự đối lập về quanđiểm, nhu cầu, khí chất, tính cách, hành vi…giữa hai người [28]

Trang 18

XĐTL giữa các thành viên trong gia đình nói chung và giữa vợ - chồng nóiriêng luôn để lại những hệ quả trong đó có những hậu quả tiêu cực, vì vậy việcnghiên cứu những biện pháp can thiệp và thực hiện hỗ trợ, tham vấn, trị liệu tâm lýnhằm khắc phục và hạn chế XĐTL gia đình là rất thiết thực Ở Việt Nam, tác giảNguyễn Khắc Viện (1994) là người tiên phong trong việc nghiên cứu và giới thiệucác học thuyết trị liệu gia đình Theo ông, gia đình là một hệ thống mở - có khảnăng tiếp nhận năng lượng từ ngoài vào nên tồn tại lâu dài và cũng là một hệ thốngvới những mối quan hệ chằng chịt có thể dẫn đến những rối loạn Kết quả nghiêncứu của tác giả cho thấy, trong gia đình các luồng thông tin không được truyền tảikịp thời, các mạch liên lạc bị gián đoạn sẽ làm cho mối quan hệ bị ảnh hưởng, giaotiếp là kênh quan trọng đảm bảo cho mối quan hệ được duy trì hay phá vỡ Nghiêncứu của tác giả là cơ sở để chúng tôi đề xuất một số biện pháp phòng ngừa và giảiquyết XĐTL giữa vợ và chồng [45].

Tác giả Trần Thị Minh Đức (2012) trong cuốn “Giáo trình tham vấn tâm lý”cũng đã hướng dẫn một cách chi tiết về các kỹ năng tham vấn như kỹ năng lắngnghe, kỹ năng thấu cảm, kỹ năng đặt câu hỏi, kỹ năng phản hồi…đây là những kỹnăng không chỉ dành cho tham vấn mà nó còn là những kỹ năng để mỗi người ứngdụng vào cuộc sống, trong đó có đời sống hôn nhân Nghiên cứu của tác giả lànhững gợi ý giúp chúng tôi xây dựng cơ sở lý luận về các giải pháp, biện phápphòng ngừa và cách thức ứng xử tích cực trong XĐTL vợ chồng [9]

1.2.Một số vấn đề lý luận về xung đột tâm lý giữa vợ và chồng trong gia đình trí thức

1.2.1 Gia đình trí thức

1.2.1.1 Gia đình

Gia đình là vấn đề rất được quan tâm bởi nó là hạt nhân của xã hội, và đượcnghiên cứu bởi nhiều chuyên ngành khác nhau như Xã hội học, Tâm lý học, Vănhóa học…Mỗi ngành khoa học nghiên cứu về gia đình theo hướng tiếp cận riêng vàdưới những bình diện khác nhau Trong đó, khoa học tâm lý tập trung nghiên cứu

về các mối quan hệ, bầu không khí tâm lý trong gia đình; cơ chế tác động về mặttâm lý giữa các thành viên trong gia đình và ảnh hưởng của nó đến trạng thái tâm lý

và sự hình thành, phát triển nhân cách của các thành viên đặc biệt là trẻ em; nghiêncứu về tham vấn và trị liệu gia đình… Dưới đây là một số định nghĩa về gia đìnhtheo những hướng tiếp cận khác nhau của một số ngành khoa học:

Trang 19

Trong Luật hôn nhân và gia đình (2010) có đề cập: “Gia đình là tập hợp nhữngngười gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc do quan hệ nuôidưỡng làm phát sinh các nghĩa vụ và quyền giữa họ với nhau theo quy định củaLuật này” [20] Trong định nghĩa này, gia đình được xem xét trên hai khía cạnhgồm quan hệ chính thức (kết hôn hợp pháp) và khía cạnh trách nhiệm, quyền lợi củacác thành viên trong các mối quan hệ đó.

Theo từ điển Tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên 2011) gia đình được hiểu là

“Tập hợp người cùng sống chung thành một đơn vị nhỏ nhất trong xã hội, gắn bóvới nhau bằng quan hệ hôn nhân và dòng máu, thường gồm có vợ chồng, cha mẹ vàcon cái” [37] Định nghĩa trên nhấn mạnh đến tính chất của mối quan hệ là hônnhân và huyết thống

Theo từ điển tâm lý (Nguyễn Khắc Viện chủ biên 2001) gia đình gồm bố, mẹ,con và có hay không một số người khác ở chung một nhà [46] Định nghĩa này nhấnmạnh đến số thành viên trong gia đình

Trong cuốn “Tâm lý học gia đình” tác giả Ngô Công Hoàn định nghĩa: Gia

đình là một nhóm xã hội, các thành viên trong nhóm đó có quan hệ gắn bó về hônnhân hoặc huyết thống, tâm sinh lý, có cùng chung các giá trị vật chất, tinh thần ổnđịnh trong các thời điểm lịch sử nhất định [15]

Tác giả Nguyễn Đình Xuân đã nêu ra định nghĩa gia đình trong cuốn “Tâm lý

học tình yêu gia đình” như sau: Gia đình là một đơn vị, một nhóm xã hội với số

lượng thành viên ít nhất là hai người: vợ và chồng Sau đó sinh sôi nảy nở thêm concái, trong đó mối quan hệ vợ chồng là giường cột [47]

Dưới quan điểm Xã hội học, Levy Strauss định nghĩa: Gia đình là một nhóm

xã hội được quy định bởi 3 đặc điểm thường thấy nhiều nhất: Hôn nhân; quan hệhuyết thống; những ràng buộc về mặt pháp lý, nghĩa vụ, quyền lợi có tính chất kinh

tế, sự cấm đoán tình dục gắn với các thành viên và những ràng buộc về mặt tìnhcảm, tâm lý, tình yêu, tình thương và sự kính trọng, sợ hãi

Theo Yvone Castellan, gia đình như một cộng đồng những người: Có quan hệhuyết thống; chung sống dưới mái nhà hay cùng một nơi cư ngụ; cùng chung một sốdịch vụ [49]

E W Burgess và H J Locke định nghĩa: Gia đình là một nhóm người đượcthống nhất với nhau bởi những mối liên hệ hôn nhân, huyết thống, hoặc nhận connuôi; tạo thành một hộ duy nhất, tác động qua lại và giao tiếp với nhau theo vai trò

xã hội của riêng từng người trong số họ: là chồng và vợ, là mẹ và cha, anh trai và

Trang 20

em gái; tạo thành một nền văn hóa chung [38] Định nghĩa này nhấn mạnh đến vịtrí, vai trò của mỗi thành viên trong gia đình.

M Horkheimer coi: Gia đình là một thiết chế xã hội nghĩa là một đơn vị cơ sởđược mọi người công nhận để thực hiện những chức năng xã hội nhất định mà trướchết là sự tái sinh các đặc trưng của loài người [38]

Hai tác giả Đặng Cảnh Khanh và Lê Thị Quý (2009) đưa ra định nghĩa: Giađình là một thiết chế xã hội đặc thù liên kết con người lại với nhau nhằm thực hiệnviệc duy trì nòi giống, chăm sóc và giáo dục con cái Các mối quan hệ gia đình cònđược gọi là mối quan hệ họ hàng Đó là những sự liên kết ít nhất cũng là của haingười dựa trên cơ sở huyết thống, hôn nhân và việc nhận nuôi con Những ngườinày có thể sống cùng hoặc khác mái nhà với nhau [24] Hai tác giả đã tiếp cận địnhnghĩa gia đình trên 3 khía cạnh: Thứ nhất – xem gia đình là một thiết chế xã hội tứcluôn có những quy định, quy chế giữa các thành viên trong gia đình; thứ hai – xemxét gia đình trên cơ sở có mối liên kết giữa các thành viên về huyết thống, hôn nhân

và nhận nuôi con; thứ ba – xem xét gia đình ở khía cạnh thực hiện các chức năngcủa nó

Tác giả Lê Ngọc Văn định nghĩa về gia đình như sau: Gia đình là một nhómngười, có quan hệ với nhau bởi hôn nhân, huyết thống hoặc quan hệ nghĩa dưỡng,

có đặc trưng giới tính qua quan hệ hôn nhân, cùng chung sống, có ngân sách chung[44]

Từ việc tìm hiểu các định nghĩa trên về gia đình, chúng tôi hiểu về gia đình

như sau: Gia đình là một nhóm người, có quan hệ với nhau bởi hôn nhân, huyết

thống hoặc quan hệ nghĩa dưỡng, cùng chung sống với nhau và phải có những quy định, quy chế giữa các thành viên, có ngân sách chung và thực hiện các chức năng: Duy trì nòi giống; chăm sóc, bảo vệ; giáo dục; chức năng kinh tế; chức năng thỏa mãn và đảm bảo sự cân bằng tâm lý.

Như vậy, gia đình được hiểu dựa trên các tiêu chí sau:

Thứ nhất: Gia đình bao gồm những thành viên có mối quan hệ với nhau đặctrưng nhất là quan hệ hôn nhân (được pháp luật thừa nhận)

Thứ hai: Gia đình là nơi thực hiện các chức năng gồm: Chức năng tái sản xuấtcon người; chức năng kinh tế; chức năng chăm sóc, bảo vệ; chức năng giáo dục;chức năng đảm bảo sự cân bằng đời sống tâm lý

1.2.1.2 Trí thức

Định nghĩa trí thức

Trang 21

Khái niệm trí thức đã được bàn đến từ rất lâu Trong lịch sử Việt Nam thời Lê,nghề nghiệp được chia thành 4 loại gồm: Sĩ (trí thức); nông; công; thương và vai tròcủa trí thức cũng được đề cập “Nhất sĩ nhì nông” Ngày nay, sự phân loại nghềnghiệp đa dạng hơn rất nhiều với các lĩnh vực chuyên môn khác nhau Điều đặc biệt

là trí thức có thể làm việc ở tất cả mọi lĩnh vực, mọi ngành nghề còn các tầng lớpnông, công, thương thì phạm vi hoạt động nghề nghiệp hạn chế hơn Ở mỗi thời đạikhác nhau với mỗi tác giả khác nhau lại đưa ra những định nghĩa khác nhau về tríthức dưới những góc độ tiếp cận khác nhau: Có tác giả chú ý đến trình độ học vấn;đặc thù nghề nghiệp; có tác giả lại nhấn mạnh đến các thuộc tính nhân cách nhưnăng lực tư suy, sáng tạo… Dưới đây là một số định nghĩa trí thức của một số tácgiả:

Theo tác giả Phạm Tất Dong (1995) cho rằng Trí thức là những người: Sángtạo, phổ biến và vận dụng văn hóa; học vấn đại học – điều kiện cần để được xếp vàođội ngũ trí thức; năng lực tư duy sáng tạo, năng lực đặt ra và giải quyết vấn đề, dámbảo vệ ý kiến của mình; không chỉ trăn trở với những vấn đề chuyên môn mà cả vớinhững vấn đề của xã hội, của đất nước, dân tộc [4] Trong định nghĩa này, tác giả đãđịnh nghĩa trí thức trên các bình diện: Trình độ học vấn; đặc thù hoạt động laođộng; và các thuộc tính nhân cách

Theo tác giả Đặng Hùng Võ: Trí thức là người lao động bằng trí óc, phươngthức lao động là tư duy, đối tượng và sản phẩm lao động là tri thức [18] Quan điểmcủa tác giả nhấn mạnh đến đặc điểm của lao động trí thức

Trong từ điển Tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên, trí thức được định nghĩa: Tríthức là người chuyên làm việc lao động trí óc và có tri thức chuyên môn cần thiếtcho hoạt động nghề nghiệp của mình [37]

Trong nghị quyết 27, Đảng và Nhà nước đã xác định: Trí thức là những ngườilao động trí óc, có trình độ học vấn cao về lĩnh vực chuyên môn nhất định, có nănglực tư duy độc lập, sáng tạo, truyền bá và làm giàu trí thức, tạo ra những sản phẩmvật chất và tinh thần có giá trị đối với xã hội [7] Trong định nghĩa này, Đảng đãnhấn mạnh đến trình độ học vấn, năng lực và phẩm chất tư duy và nhiệm vụ của tríthức

Tác giả Lã Thị Thu Thủy (2011) cho rằng: Trí thức là một tầng lớp xã hội,tầng lớp đa dạng những người lao động trí óc, có học vấn từ đại học hoặc tươngđương trở lên, có kiến thức chuyên môn trong lĩnh vực nghề nghiệp, hoạt động của

họ mang tính sáng tạo và có ý nghĩa đối với xã hội [42]

Trang 22

Từ các định nghĩa trên, trong khuôn khổ của luận văn, chúng tôi hiểu trí thức

như sau: Trí thức là những người có trình độ học vấn cao (từ bậc đại học trở lên)

phục vụ trực tiếp cho hoạt động nghề nghiệp; có năng lực tư duy độc lập, sáng tạo.

Với cách hiểu trên về trí thức, chúng tôi nhấn mạnh đến các khía cạnh sau:

- Thứ nhất: Trình độ học vấn – trình độ học vấn từ bậc đại học trở lên

- Thứ hai: Đặc thù nghề nghiệp – sử dụng tri thức ở những trình độ học vấntrên phục vụ trực tiếp cho hoạt động nghề nghiệp

- Thứ ba: Thuộc tính nhân cách – Có năng lực tư duy độc lập, sáng tạo

Chúng tôi lựa chọn những trí thức có ba đặc điểm trên là khách thể nghiêncứu Với khách thể này, chúng tôi muốn tìm hiểu xem với khả năng nhận thức cao,

có nghề nghiệp, có năng lực tư duy, sáng tạo thì họ có những biểu hiện và cách thứcgiải quyết như thế nào trước những XĐTL giữa vợ chồng

Phân loại trí thức

Căn cứ theo lĩnh vực hoạt động nghề nghiệp, tác giả Phạm Tất Dong chia tríthức thành năm loại sau:

(1) Trí thức trong lĩnh vực khoa học tự nhiên và kỹ thuật;

(2) Trí thức trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn;

(3) Trí thức trong lĩnh vực văn học và nghệ thuật;

(4) Trí thức trong các lực lượng vũ trang;

(5) Trí thức trong lĩnh vực doanh nghiệp [4]

Theo tác giả Lê Thị Thanh Hương cùng với các cộng sự đã phân chia tầng lớptrí thức theo lĩnh vực hoạt động gồm 5 loại như sau:

(1) Hoạt động chủ yếu là nghiên cứu khoa học;

(2) Hoạt động chủ yếu là giảng dạy;

(3) Hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực quản lý xã hội;

(4) Hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực kinh doanh;

(5) Hoạt động trong lĩnh vực văn hóa – nghệ thuật [18]

Từ việc tìm hiểu về định nghĩa gia đình và định nghĩa trí thức, chúng tôi hiểu

về gia đình trí thức như sau: Gia đình trí thức là gia đình mà tối thiểu có vợ và

chồng đều là những người có trình độ học vấn từ bậc đại học, có khả năng tư duy độc lập và sáng tạo trọng hoạt động nghề nghiệp.

Trong luận văn này, chúng tôi thực hiện nghiên cứu đề tài trên khách thể tríthức theo cách phân loại của tác giả Lê Thị Thanh Hương Chúng tôi lựa chọnkhách thể trí thức ở 2 lĩnh vực hoạt động nghề nghiệp: Giảng dạy; quản lý nhànước, xã hội

Trang 23

1.2.2 Xung đột tâm lý giữa vợ và chồng trong gia đình trí thức

- Thứ nhất: XĐ là sự đánh nhau giữa các lực lượng đối địch

- Thứ hai: XĐ là sự va chạm, chống chọi nhau do có mâu thuẫn gay gắt [37].Theo từ điển tâm lý học do tác giả Nguyễn Khắc Viện chủ biên cho rằng: XĐ

là sự tranh chấp giữa những xu hướng lợi ích trong đó chủ thể thấy mình bị giằng xégiữa những sức mạnh ngược chiều và ngang sức nhau [46] Trong định nghĩa trên,tác giả bàn đến XĐ ở khía cạnh XĐ nội tâm của chủ thể

Trong từ điển tâm lý học do tác giả Vũ Dũng chủ biên định nghĩa: XĐ là sựmâu thuẫn về các mục tiêu, lợi ích, quan điểm, ý kiến, cách nhìn có khuynh hướngđối lập của những người đối lập hoặc các chủ thể có tác động qua lại với nhau [6].Định nghĩa này tiếp cận dưới góc độ các yếu tố tạo nên XĐ

Erik J Van Slyke: XĐ là sự cạnh tranh giữa các phe liên quan, phụ thuộc lẫnnhau, có nhận thức XĐ với nhau về mục đích, ước mơ hay ý kiến Nó là tình trạng

mà người ta không thể tán thành hay hòa thuận với ai khác [12] Trong định nghĩanày, tác giả đã nhấn mạnh nhận thức là nguyên nhân dẫn đến XĐ, ngoài ra XĐ xuấthiện ở mối quan hệ mà giữa những cá nhân có sự phụ thuộc lẫn nhau

Tác giả Văn Kim Cúc định nghĩa: XĐ là sự bất đồng quan điểm, bất đồngnhận thức, từ đó dẫn đến những ứng xử không phù hợp với nhau, không hòa đồngvới nhau [3] Tác giả đã tiếp cận XĐ dưới góc độ nhận thức và ứng xử - khi nhậnthức bất đồng sẽ dẫn đến việc xuất hiện những ứng xử không không phù hợp Nhưvậy, trong XĐ, có mối quan hệ giữa nhận thức với cảm xúc và hành vi

Từ các định nghĩa trên về XĐ, có thể tiếp cận XĐ theo hai hướng:

- XĐ nội tâm: Diễn ra trọng nội tại của chủ thể, chủ thể cảm thấy bị giằng xégiữa những sức mạnh ngược chiều và ngang sức nhau

- XĐ liên cá nhân: Là XĐ diễn ra giữa chủ thể này với chủ thể khác, giữanhóm này với nhóm khác và nó có đặc điểm như sau:

 Có sự khác nhau giữa các cá nhân

 Tạo ra trạng thái căng thẳng ở mỗi cá nhân khi diễn ra XĐ

Trang 24

 XĐ diễn ra ở các cá nhân có mối liên quan với nhau và tạo ra những biếnđổi tâm lý ở mỗi cá nhân.

Trong luận văn này, chúng tôi tiếp cận XĐ theo hướng XĐ liên cá nhân và

chúng tôi hiểu về XĐ như sau: XĐ là sự bất đồng quan điểm, sự va chạm, mâu

thuẫn ở mức độ cao giữa những chủ thể có mối quan hệ qua lại với nhau

1.2.2.2 Xung đột tâm lý

Nếu như XĐ theo quan điểm triết học luôn tồn tại ở mọi sự vật hiện tượng thìXĐTL chỉ xuất hiện ở con người Với những đặc trưng của con người, nên XĐTLdiễn ra dưới cơ chế đặc thù và được phân thành nhiều loại

Cơ chế xung đột tâm lý

XĐTL có thể diễn ra dưới dạng XĐTL nội tâm hay XĐTL liên cá nhân, mỗikiểu XĐ diễn ra theo cơ chế riêng Trong phạm vi đề tài, chúng tôi nghiên cứu vềXĐTL liên cá nhân và cơ chế XĐTL ở dạng này được thể hiện như sau:

Theo các nhà tâm lý học thì xung đột liên cá nhân được khởi đầu bởi sự đốilập công khai giữa các cá nhân và kéo dài cho đến khi sự đối lập này chấm dứt Cóthể hiểu cơ chế của XĐTL liên cá nhân như sau: Do sự khác nhau về nhu cầu, lợiích, sự hiểu biết, khác nhau về hệ giá trị, quan điểm sống giữa các cá nhân tronghoạt động cùng nhau đã tạo ra những mâu thuẫn, bất đồng giữa họ Những mâuthuẫn, bất đồng này thoạt đầu gây ra tâm trạng bực bội, khó chịu Những trạng tháicảm xúc tiêu cực đó tích tụ dần đến một thời điểm nào đó khi mâu thuẫn, bất đồngtrở nên gay gắt thì nó tạo thành những XĐ mạnh hơn như cãi lại, chống đối, đốikháng lại Như vậy, XĐ là hiện tượng bùng nổ mạnh mẽ của những mâu thuẫn, bấtđồng bị dồn nén và tích dần khiến trở thành những mâu thuẫn và bất đồng sâu sắchơn và gay gắt hơn

Định nghĩa xung đột tâm lý

XĐ dù diễn ra dưới dạng XĐ nội tâm hay XĐ liên cá nhân (diễn ra giữa mỗi

cá nhân, nhóm hay dân tộc) đều có biểu hiện tâm lý của cá nhân, nhóm hay dân tộc

đó Khái niệm XĐTL nhấn mạnh hơn những biểu hiện về tâm lý như xu hướng đốilập, các trạng thái cảm xúc, hành vi ứng xử và được định nghĩa theo các hướngtiếp cận khác nhau, thể hiện ở một số định nghĩa sau:

Tác giả A.V Petrovxki định nghĩa: XĐTL là sự va chạm của những quanđiểm, hoài bão, lợi ích đối lập nhau [dẫn theo 27]

Tác giả Mai Hữu Khuê (1993) nghiên cứu XĐTL trong quá trình tổ chức,quản lý cho rằng: XĐTL là mâu thuẫn giữa các chủ thể về vị thế xã hội, quyền lợi,

Trang 25

uy tín cá nhân [27] Trong định nghĩa của A.V Petrovxki và Mai Hữu Khuê, XĐTLđược tiếp cận dưới góc độ các yếu tố tạo nên XĐ.

Trong cuốn “Tâm lý học quản lý” của tác giả Vũ Dũng, XĐTL được định

nghĩa là sự va chạm, mâu thuẫn ở mức độ cao của các xu hướng đối lập nhau trongtâm lý của các cá nhân, trong hoạt động chung của tổ chức [5]

Tác giả Nguyễn Đình Mạnh (2007) trong Luận án Tiến sĩ Tâm lý học đã đưa

ra định nghĩa: XĐTL là sự va chạm, đụng độ, đấu tranh giữa những mục đích, lợiích, những xu hướng tâm lý khác biệt, tồn tại trong một cơ cấu thống nhất của bảnthân mỗi người, hoặc giữa các cá nhân trong mối quan hệ liên nhân cách hay liênnhóm, cùng với những trạng thái cảm xúc tiêu cực như: Hoang mang, lo lắng, khóchịu, bực bội, phẫn nộ, căm giận [28]

Tác giả Đỗ Hạnh Nga (2005) cho rằng: XĐTL là sự va chạm, mâu thuẫn ởmức độ cao của các xu hướng đối lập nhau trong tâm lý – ý thức của mỗi cá nhân,trong quan hệ qua lại giữa các cá nhân hay các nhóm người, nó biểu hiện trong cáctrải nghiệm cảm xúc kèm theo những chấn động về tình cảm (thường là những cảmxúc âm tính: Nóng giận, bực bội, khó chịu…) [31] Trong định nghĩa XĐTL củaNguyễn Đình Mạnh và Đỗ Hạnh Nga đã bàn dưới góc độ nguyên nhân gây XĐTL

và biểu hiện của nó

Dù mỗi tác giả sẽ có những cách tiếp cận riêng và đưa ra định nghĩa khác nhau

về XĐTL, tuy nhiên dưới phạm trù tâm lý học thì họ đều có những điểm chung sau:Thứ nhất: Nguyên nhân dẫn đến sự XĐTL là do sự khác biệt, đối lập về nhữngmục đích, lợi ích, những xu hướng tâm lý; sự khác biệt, mâu thuẫn về nhận thức,cảm xúc… của các cá nhân hay nhóm

Thứ hai: XĐTL đều dẫn đến sự biến đổi tâm lý của các cá nhân thể hiện ở mặtnhận thức, thái độ, hành vi chủ yếu theo hướng tiêu cực

Từ việc tìm hiểu về cơ chế XĐTL và những định nghĩa trên, chúng tôi hiểu về

XĐTL như sau: XĐTL là sự bất đồng, va chạm, mâu thuẫn ở mức độ cao giữa các

chủ thể có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau; biểu hiện qua nhận thức, trạng thái cảm xúc và hành vi theo xu hướng phá hủy mối quan hệ.

Phân loại xung đột tâm lý

XĐTL được phân thành nhiều loại dựa trên các tiêu chí khác nhau:

 Căn cứ vào số lượng chủ thể tham gia xung đột:

- Xung đột liên cá nhân: Những cá nhân có ảnh hưởng qua lại lẫn nhau nên đãkìm hãm mục tiêu chung hoặc đi theo những giá trị và chuẩn mực không thống nhấtvới nhau

Trang 26

- Xung đột liên nhóm: Các bên tham gia XĐ là các nhóm xã hội không theođuổi mục tiêu như nhau và bằng những hành động thực tế của mình, họ cản trởnhau.

Trong phạm vi đề tài, XĐTL giữa vợ và chồng được xếp vào loại XĐ liên cánhân

 Căn cứ vào tính chất quan trọng, XĐ được chia thành hai loại:

- XĐ chủ yếu: Do có sự va chạm lớn về quyền lợi của nhau gây ra Muốn giảiquyết XĐ này, các bên cần phải bàn bạc, phải có bên nhường nhịn, hy sinh quyềnlợi của mình

- XĐ thứ yếu: Do sự khác nhau về nhu cầu, thị hiếu nho nhỏ, mỗi người chỉcần có sự thông cảm và nhân nhượng lẫn nhau là giải quyết xong

 Căn cứ vào thời gian tồn tại XĐ, chia làm 2 loại gồm:

- XĐ diễn ra trong thời gian ngắn

- XĐ diễn ra trong thời gian dài

 Căn cứ vào biểu hiện, XĐ được chia thành:

- XĐ công khai, tức có sự biểu hiện ra bên ngoài mà có thể dễ dàng quan sátthấy

- XĐ ngấm ngầm, loại xung đột không biểu hiện ra bên ngoài, không thể quansát

 Căn cứ theo nguyên nhân chủ quan và khách quan, XĐ chia thành 7 loạigồm: XĐ về quan điểm, lối sống; XĐ về kinh tế; XĐ về tính tình; XĐ về nhu cầu,

sở thích, hứng thú; XĐ về đời sống tình dục; XĐ về quan hệ bên nội – bên ngoại;

XĐ về quan hệ bạn bè của mỗi bên Trong đó XĐ về quan điểm, lối sống có sức tácđộng mạnh nhất, ảnh hưởng nhiều nhất và có khả năng dẫn đến ly hôn [28]

1.2.2.3 Xung đột tâm lý giữa vợ và chồng

Định nghĩa xung đột tâm lý giữa vợ và chồng

XĐ vợ chồng theo nghĩa khác còn gọi là XĐ hôn nhân Theo các tác giả nướcngoài, thuật ngữ “Marital conflict” hoặc “Conflict between Spouses” được dùng đểchỉ XĐ hôn nhân hay XĐTL giữa vợ và chồng

XĐ hôn nhân là sự phản đối công khai giữa vợ và chồng, thể hiện sự bất đồngtrong mối quan hệ hoặc nguồn gốc của sự bất đồng Định nghĩa này bàn đến loạiXĐTL công khai, bộc lộ những biểu hiện của XĐ ra bên ngoài

Tác giả Tim và Joy Downs (2006) dưới góc độ tiếp cận về mặt hậu quả mà

XĐ gây ra đối với vợ và chồng, hai tác giả cho rằng: XĐ hôn nhân không chỉ khácbiệt về quan điểm mà nó còn được thể hiện ở một loạt các sự kiện được xử lý kém,

Trang 27

để gây tổn hại sâu sắc mối quan hệ vợ chồng Vấn đề hôn nhân đã trầm trọng đếnmức tổn hại lòng tự trọng, đau đớn, tức giận, để lại những tổn thương cơ thể, ngăncản sự giao tiếp hiệu quả giữa hai vợ chồng [30].

Theo tác giả Tôđor Ghêghisanốp (2002), khi bàn đến hậu quả của XĐ, ôngkhông chỉ dừng lại việc tác động của nó đến vợ và chồng mà còn có tác động đếnnhiều người xung quanh Ông định nghĩa XĐTL giữa vợ và chồng là sự khác biệthay không trùng hợp ý kiến, quan điểm giữa hai vợ chồng, gây ra sự căng thẳngtường xuyên bên trong và bên ngoài gia đình [30] Ngoài ra, tác giả còn bàn đến sựkhác nhau giữa XĐ và cãi vã Cãi vã là dạng hiện thực của XĐ, tức là biểu hiện gaygắt được bộc lộ ra bên ngoài của XĐ Cãi vã là sự kiện tạm thời có thể giải tỏanhững căng thẳng cảm xúc trong mỗi người nhưng không thể xóa được XĐ, khôngtriệt bỏ được nguyên nhân gây XĐ mà lại càng làm cho XĐ gay gắt hơn, mâu thuẫnsâu sắc hơn, khác biệt lớn thêm và làm cho mối quan hệ vợ chồng trở nên xa cáchhơn

Từ việc tìm hiểu về định nghĩa của XĐ, XĐTL, XĐTL giữa vợ và chồng,

chúng tôi hiểu XĐTL giữa vợ và chồng như sau: XĐTL giữa vợ và chồng là sự bất

đồng, va chạm, mâu thuẫn ở mức độ cao giữa người vợ và người chồng trong quá trình chung sống với nhau; được bộc lộ qua nhận thức, trạng thái cảm xúc và hành

vi theo hướng phá hủy mối quan hệ vợ chồng.

Đặc điểm cơ bản của xung đột tâm lý giữa vợ và chồng.

Xuất phát từ các nghiên cứu khác nhau về XĐTL và XĐTL vợ chồng, chúngtôi xác định những đặc điểm cơ bản của XĐTL giữa vợ và chồng như sau:

- Tính phổ biến của XĐTL giữa vợ và chồng: XĐTL là hiện tượng không thểtránh khỏi trong đời sống hôn nhân, ông bà ta có câu “ Chén bát trong chạn còn cóngày xô nhau huống chi vợ chồng” là để nói đến điều này Mỗi người là một chủ thểriêng biệt, sự riêng biệt đó đã dẫn đến tính chủ thể của mỗi người trước mọi sự vậthiện tượng, do đó mà không thể tránh được sự khác biệt, bất đồng, mâu thuẫn giữahai vợ chồng trước cùng một vấn đề nào đó, vì thế mà XĐTL là sự tồn tại hiểnnhiên Theo nghiên cứu của Drs, Charles và Elizabeth Schmitz về tình yêu và hônnhân, họ cho rằng: Cần phải có nhiều kinh nghiệm trong việc giải quyết XĐ, căngthẳng thì hôn nhân mới hạnh phúc XĐ hôn nhân còn phổ biến đến mức ở một sốquốc gia quy định: Nếu vợ chồng chưa có XĐTL thì không đủ điều kiện để nhậnnuôi con Điều kiện này có thể dựa trên mối quan hệ giữa kĩ năng giải quyết XĐ vớimức độ hạnh phúc trong đời sống hôn nhân và khả năng đảm bảo về sự phát triểnnhân cách khỏe mạnh của đứa trẻ

Trang 28

- Tính phụ thuộc: Khi sống chung trong một gia đình, các thành viên đều cóchung những mục đích và lợi ích… vì vậy mà họ luôn có mối quan hệ qua lại vàphụ thuộc nhau Để thực hiện những mục đích chung; giá trị chung; lợi ích chung

đó, người vợ và người chồng trong gia đình nói riêng cần phải cùng nhau thực hiệncác chức năng của gia đình thông qua các hoạt động, do đó giữa vợ và chồng có sựphụ thuộc lẫn nhau trong các hoạt động XĐTL giữa vợ và chồng diễn ra trongnhững hoạt động mang tính phụ thuộc giữa hai bên

- Tính cảnh báo của XĐTL giữa vợ và chồng: XĐTL xuất hiện là lúc cảnhbáo cho người vợ/ người chồng biết về tình trạng mối quan hệ vợ chồng của mình.Tính cảnh báo đó giúp cho mỗi bên cần phải xem xét lại cách ứng xử, cách tư duyvấn đề của bản thân đối với bạn đời, đối với cuộc sống gia đình và đồng thời cảcách ứng xử, cách tư duy của bạn đời đối với bản thân, đối với cuộc sống gia đình.Những XĐ đó báo hiệu cho thấy sự khác biệt giữa hai vợ chồng trong nhận thức,cảm xúc và hành vi trước mọi vấn đề Chính vì thế, nếu vợ chồng tránh né, bỏ qua,coi thường việc giải quyết mâu thuẫn thì sẽ làm cho XĐ ngày càng leo thang, đẩylên mức cao hơn, sâu sắc hơn và khó lường về mặt hậu quả XĐ còn báo hiệu choviệc nhu cầu của mỗi cá nhân chưa được thỏa mãn, chưa được đáp ứng, nhất là nhucầu được yêu thương Theo John Gray, bản chất thật sự hay nguyên nhân sâu xanhất của việc XĐTL giữa vợ và chồng là do cảm thấy mình không được yêu thương[23]

Từ những đặc điểm cơ bản của XĐTL giữa vợ và chồng ta thấy rằng, thànhcông trong cuộc sống hôn nhân không đo bằng số lượng có ít hay nhiều XĐTL giữahai vợ chồng mà điều quan trọng là thái độ nhìn nhận và cách giải quyết XĐ của hai

vợ chồng Để qua những lần XĐ là những lần hiểu nhau hơn, rút ngắn sự khác biệthơn, có cách ứng xử phù hợp để xây dựng mối quan hệ tốt đẹp và bền vững hơn.Trên cơ sở hiểu về định nghĩa XĐTL giữa hai vợ chồng và định nghĩa về giađình trí thức, chúng tôi hiểu về XĐTL giữa vợ và chồng trong gia đình trí thức như

sau: XĐTL giữa vợ và chồng trong gia đình trí thức là sự bất đồng, va chạm, mâu

thuẫn ở mức độ cao giữa vợ và chồng đều là người trí thức trong quá trình chung sống với nhau; được bộc lộ qua nhận thức, trạng thái cảm xúc và hành vi theo xu hướng phá hủy mối quan hệ vợ chồng.

1.2.3 Các biểu hiện và các mức độ xung đột tâm lý giữa vợ và chồng trong các gia đình trí thức

1.2.3.1 Các biểu hiện xung đột tâm lý giữa vợ và chồng

Trang 29

XĐTL giữa vợ và chồng là sự bất đồng, va chạm, mâu thuẫn giữa người vợ vàngười chồng được biểu hiện ở việc giữa hai người có nhận thức khác nhau về nhữngvấn đề xung quanh, dẫn tới việc xuất hiện những trạng thái cảm xúc và thể hiệnhành vi tiêu cực mang tính phá hủy mối quan hệ Như vậy, XĐTL xuất phát từnhững mâu thuẫn, khác biệt về nhận thức dẫn đến xuất hiện, thể hiện những trạngthái cảm xúc và hành vi tiêu cực Từ đó ta thấy, XĐTL được biểu hiện ở ba mặt:nhận thức; cảm xúc; hành vi.

- Các biểu hiện xung đột tâm lý ở mặt nhận thức

Mỗi người vợ và người chồng là một chủ thể trong hoạt động sống của họ,chính vì thế sự nhận thức của mỗi người trước cùng một sự vật hiện tượng, trướccùng một vấn đề luôn mang tính chủ thể, do đó mà không thể tránh khỏi sự khácbiệt, va chạm, bất đồng, mâu thuẫn về cách nhìn nhận, đánh giá vấn đề giữa haingười, đồng nghĩa với việc không thể tránh khỏi sự XĐTL

Trong cuộc sống gia đình, sự khác biệt và mâu thuẫn trong nhận thức giữa vợ

và chồng đối với một số vấn đề như: Vấn đề tiền bạc; vấn đề trong quan hệ nội –ngoại; vấn đề trong quan hệ xã hội; vấn đề trong giao tiếp, ứng xử; vấn đề về chămsóc và giáo dục con; vấn đề về công việc – sự nghiệp; vấn đề liên quan đến tìnhdục…

Đối với lĩnh vực tình dục, nhiều công trình nghiên cứu đã chứng minh sự tan

vỡ gia đình là do không có quan hệ tình dục hay không có sự hòa hợp tình dục giữa

vợ chồng; do có sự phản bội nhau - có quan hệ tình dục với người khác (ngoạitình) Một số nghiên cứu còn cho thấy, nhiều gia đình bất hạnh vì không có sự hòahợp tình dục mà người bất hạnh nhiều nhất là phụ nữ [48]

Theo thống kê của một dự án lâu dài về hôn nhân, ly hôn và tình yêu (2012)tiến hành với 373 cặp vợ chồng trong vòng 26 năm, cho thấy tiền bạc và tài chính lànguồn gốc trước tiên của mọi xích mích ở các cặp vợ chồng này, đặc biệt là nhữngxích mích ở giai đoạn đầu tiên của hôn nhân Và trong số các cặp đôi đã ly hôn thì

có tới 49% lo ngại rằng tiền sẽ tiếp tục trở thành một “vấn nạn” trong những mốiquan hệ mới của họ [51] Như vậy, vấn đề kinh tế - tài chính là vấn đề khá nhạycảm trong quan hệ vợ chồng Thực tế cho thấy, nhiều vợ chồng mất niềm tin ở nhau

do sự thiếu minh bạch trong việc sử dụng tiền bạc, không hài lòng với cách chi tiêucủa nhau – lãng phí, bủn sỉn hay không đồng thuận, không có sự bàn bạc về mụcđích sử dụng tiền

Trong lĩnh vực giao tiếp ứng xử, XĐTL xuất hiện do sự chênh lệch về trình

độ học vấn; khác nhau về quan niệm sống, giá trị sống XĐ trong lĩnh vực này

Trang 30

thường được biểu hiện như: Cảm thấy không được thông cảm, không được chia sẻ,thậm chí cảm thấy không được tôn trọng lẫn nhau, nhất là khi có sự chênh lệch vềhọc vấn (vợ có trình độ học vấn cao hơn chồng) thường làm cho người đàn ông bịmặc cảm và phản ứng tiêu cực [25] Bên cạnh đó, XĐTL ở lĩnh vực này còn xuấtphát từ việc đối xử thiếu công bằng với hai bên nội – ngoại hay sự ứng xử thiếu tinh

tế, tế nhị với người bạn đời và các mối quan hệ của cả hai

- Các biểu hiện xung đột tâm lý ở mặt cảm xúc

Giữa vợ và chồng khi xảy ra XĐTL sẽ kèm theo đó là hàng loạt những trạngthái, biểu hiện cảm xúc và thường thể hiện rõ theo 2 xu hướng:

Xu hướng xuất hiện cảm xúc tích cực: Những cảm xúc tích cực như là thỏamãn, vui sướng, cảm thấy hiểu nhau hơn, yêu nhau hơn sau khi XĐ được giải quyếthoặc cảm thấy thỏa mãn, hài lòng khi người vợ/ người chồng giành được uy thế,quyền lực và các quyền lợi

Xu hướng xuất hiện cảm xúc tiêu cực: XĐTL gây nên những căng thẳng chocác thành viên trong gia đình, trong đó vợ và chồng là hai người trực tiếp tạo ra vàhứng chịu những căng thẳng đó Những cảm xúc tiêu cực trong XĐTL mang tínhchất phá hủy bản thân mỗi người vợ/chồng và mối quan hệ giữa họ Theo giới hạncủa đề tài, chúng tôi chỉ nghiên cứu những cảm xúc tiêu cực xuất hiện khi vợ vàchồng có XĐ

Từ kết quả nghiên cứu của Harriet Goldhor Lerner (1997) [13] cùng các côngtrình nghiên cứu về XĐTL giữa vợ chồng và kết hợp với ý kiến chuyên gia, chúngtôi đưa ra những cảm xúc tiêu cực có thể xuất hiện trong XĐTL giữa vợ và chồngtrí thức như:

(1) Cảm thấy bực tức, bối rối với người bạn đời;

(2) Cảm thấy ngạc nhiên vì không hiểu sao người bạn đời lại như vậy;

(3) Tức lộn ruột, nghẹn cổ vì người bạn đời;

(4) Bực tức đi ra chỗ khác khi có bất đồng;

(5) Giận dữ đe dọa nếu còn tái phạm;

(6) Cảm thấy có khoảng cách với người bạn đời;

(7) Cảm thấy coi thường, kinh bỉ người bạn đời;

(8) Cảm thấy thiếu tin tưởng vào người bạn đời;

(9) Tỏ ra không quan tâm, lạnh lùng;

(10) Coi như không có mặt của người bạn đời;

Trong các biểu hiện trên: Cảm thấy thiếu tin tưởng; không quan tâm, lạnh lùngvới người bạn đời; cảm thấy coi thường, khinh bỉ; coi như không có mặt người bạn

Trang 31

đời là những cảm xúc có tính phá hủy cao, đặc biệt nếu những cảm xúc này kéo dàithì khả năng phá hủy mối quan hệ vợ chồng là rất lớn.

- Các biểu hiện xung đột tâm lý ở mặt hành vi

Tương tự như những biểu hiện ở mặt cảm xúc, khi diễn ra XĐ, người vợ vàngười chồng cũng có hai xu hướng hành vi được thể hiện: Hành vi tích cực (phùhợp với chuẩn mực), với những biểu hiện hành vi tích cực sẽ giúp vợ và chồngthuận lợi hơn trong giải quyết những mâu thuẫn, XĐ; hành vi tiêu cực (không phùhợp chuẩn mực) mang tính phá hủy mối quan hệ vợ chồng Theo giới hạn của đềtài, chúng tôi chỉ nghiên cứu xu hướng hành vi tiêu cực

Theo nghiên cứu của tác giả Đỗ Hạnh Nga (2005, 2008) cho rằng: có hai loạihành vi thể hiện trong XĐTL đó là hành vi ngôn ngữ và hành vi phi ngôn ngữ Việcbiểu hiện hành vi phụ thuộc vào các yếu tố chủ quan như đặc điểm giới, khí chất,tính cách, trình độ học vấn…và các yếu tố khách quan như pháp luật, tình huống

XĐ, hoàn cảnh xảy ra XĐ… [31], [32]

Từ những công trình nghiên cứu về XĐTL giữa vợ và chồng [12], [14], [21],[23], [34],… và kết hợp với ý kiến chuyên gia, chúng tôi đưa ra những biểu hiện vềhành vi khi có XĐTL giữa vợ và chồng trí thức được phân chia thành hai nhóm vàsắp xếp từ mức độ phá hủy ít đến phá hủy nhiều như sau:

Các hành vi ngôn ngữ như:

(1) Dùng từ ngữ thiếu tôn trọng, không lịch sự để nói chuyện;

(2) Xưng hô thiếu tôn trọng (ví dụ: mày, tao…);

(3) Chì chiết, nói dai, nói nhiều;

(4) Chửi thề/ chửi đổng;

(5) Chê bai học vấn/ khả năng kiếm tiền;

(6) Gọi người bạn đời là “đồ ngu”, “đồ khốn nạn”;

(7) Nói với người bạn đời là “đã lấy nhầm người”, “hối hận vì đã cưới”;(8) Nhiếc móc/ chê bai khả năng tình dục/ nhu cầu tình dục;

(9) Bàn bạc đến chuyện ly thân/ ly hôn;

Trong các hành vi ngôn ngữ trên, những hành vi (5), (6), (7), (8), (9) có tínhphá hủy mối quan hệ rất lớn

Các hành vi phi ngôn ngữ như:

(1) Tôi chống tay/ khoanh tay nhìn trừng trừng vào bạn đời;

(2) Quăng, ném, đập phá đồ đạc;

(3) Quăng, ném đồ đạc vào người bạn đời;

(4) Cấu, véo người bạn đời;

Trang 32

(5) Tát người bạn đời;

(6) Dùng tay, chân đấm, đá người bạn đời;

(7) Dùng đồ vật nào đó để đánh người bạn đời

Trong các hành vi phi ngôn ngữ trên, hành vi (3), (4), (5), (6), (7) là nhữnghành vi có tính chất bạo hành và mang tính phá hủy lớn đối với mối quan hệ vợchồng Nếu những hành vi này xảy ra ở tần số thường xuyên thì nguy cơ tan vỡ làđiều khó tránh khỏi

1.2.3.2 Các mức độ xung đột tâm lý giữa vợ và chồng

Mọi XĐTL giữa vợ và chồng trước sau đều biểu hiện ra ngoài qua hành vi, cửchỉ, lời nói của con người XĐTL thường biểu hiện qua cơn tức giận, uất ức, tâmtrạng bi quan, chán nản tương ứng với mức độ XĐ khác nhau [47]

Theo V A Sisenco, XĐTL trong quan hệ vợ chồng vô cùng đa dạng, cả vềhình thức, nội dung và nguồn gốc Ông chia xung đột thành 3 cấp độ chính [dẫntheo 30]:

Cấp độ 1: XĐ do không thỏa mãn nhu cầu cá nhân.

Cấp độ 2: XĐ do mâu thuẫn, bất đồng về quyền lợi và nghĩa vụ, sự phân công

công việc gia đình và chăm sóc con cái

Cấp độ 3: XĐ do những khiếm khuyết về đạo đức, tính tình, tính cách.

Theo M Zamses, XĐ thường trải qua 4 giai đoạn [dẫn theo 34]

Giai đoạn 1: Con người phân tích các nhu cầu về thể lực và tình cảm của

mình, so sánh đối chiếu với nhu cầu của bạn đời, phát hiện sự khác biệt giữa họ

Giai đoạn 2: Phát hiện những khác biệt trong sự hiểu biết về hôn nhân, xuất

phát từ chỗ hai người thường có những quan niệm riêng về bạn đời, về nhiệm vụcủa mỗi người phải thực hiện Những quan niệm này có thể trùng hợp nhau hoặchoàn toàn bất đồng

Giai đoạn 3: Nhận thức được những khác biệt về định hướng giá trị - khác biệt

về thái độ chủ quan của con người đối với giá trị vật chất và tinh thần Định hướnggiá trị có tác động sâu sắc đến tư tưởng, tình cảm, suy nghĩ, hành vi, phương hướng

và phẩm chất của nhân cách Những mâu thuẫn giữa hai vợ chồng thường nảy sinh

từ những khác biệt lớn về định hướng giá trị, đây là những mâu thuẫn chủ yếu trongcuộc sống vợ chồng, thường làm tan vỡ cuộc sống hôn nhân

Giai đoạn 4: Bất hòa, XĐ ở đỉnh cao có thể dẫn đến ly thân, ly hôn.

Theo ông, XĐ nảy sinh trên cơ sở khác biệt về hệ thống giá trị thì khó giảiquyết vì nó đụng chạm đến nền tảng nhân cách Căn nguyên của những mâu thuẫndạng này trên thực tế cũng không dễ dàng phát lộ, thường chúng biểu hiện dưới các

Trang 33

nguyên nhân khác nhau và rất đa dạng, có thể hoàn toàn khác biệt với nguồn gốcthực sự ban đầu Việc giải quyết những XĐ dạng này đòi hỏi một quá trình lâu dài

và những thay đổi lớn trong nhận thức và thái độ, hành vi của cá nhân vợ/chồng.Tác giả Cao Huyền Nga (2001) phân chia XĐTL trong quan hệ vợ chồngthành các mức độ sau:

Mức độ 1: Mức độ thấp nhất của sự phát triển XĐ thể hiện ở sự không hài

lòng, khó chịu nhất thời nảy sinh từ những hiểu lầm, thiếu hụt thông tin trong sinhhoạt hàng ngày, những trách cứ, phê phán, giận dỗi, xích míc, cãi cọ vụn vặt…

Mức độ 2: Sự phê phán, chỉ trích, lên án có tính chất hệ thống, sự không hài

lòng kéo dài, những cuộc cãi cọ, xô xát, va chạm… xuất phát từ sự thiếu tương hợptrong tính cách của hai vợ chồng, chưa tìm được điểm dung hòa

Mức độ 3: Sự khó chịu, không hài lòng rõ rệt, bầu không khí nặng nề, căng

thẳng giữa hai vợ chồng, khiến họ sẵn sàng quát tháo, gây gổ với nhau, với nhữngphản ứng bột phát, khó kiềm chế

Mức độ 4: XĐ bùng nổ thật sự, hai vợ chồng hành hạ nhau cả về thể xác lẫn

tinh thần, xỉ vả, miệt thị, sỉ nhục lẫn nhau, có thể “thượng cẳng chân, hạ cẳng tay”một cách thô bạo Xuất hiện sự thụt lùi trong mối quan hệ, cảm giác hụt hẫng, cămgiận, thất vọng sâu xa trong cả hai người [34]

Cách phân chia mức độ XĐ của tác giả Cao Huyền Nga dựa vào mức độ biểuhiện ở mặt nhận thức, thái độ, hành vi khi xảy ra XĐ giữa vợ và chồng

Tác giả Nguyễn Đình Mạnh (2007), phân chia XĐ thành 3 mức độ:

Mức độ 1: Có sự không phù hợp về quan điểm, thái độ, nhu cầu, khí chất…

giữa hai người Biểu hiện của mức độ này là sự tranh cãi Hậu quả là hai người rơivào tâm trạng bất ổn, lo lắng có ảnh hưởng chút ít đến sức khỏe và hoạt động

Mức độ 2: Có sự khác biệt lớn về quan điểm, thái độ, nhu cầu, khí chất… giữa

hai người Biểu hiện là sự tranh cãi quyết liệt Hậu quả là hai người rơi vào tâmtrạng hoảng hốt, chán nản, ảnh hưởng khá lớn đến sức khỏe và hoạt động

Mức độ 3: Có sự đối lập về quan điểm, thái độ, nhu cầu, tính cách, khí chất…

giữa hai người Biểu hiện là hai người có thể xỉ vả, đánh đập, hành hạ nhau Hậuquả, rơi vào tình trạng bi quan, chán nản, tuyệt vọng và ảnh hưởng lớn đến sức khỏe

và hoạt động [28]

Cách phân chia mức độ XĐTL của tác giả dựa trên sự kết hợp giữa mức độkhác biệt về quan điểm, thái độ, nhu cầu, khí chất…; biểu hiện; hậu quả của cácmức độ khác biệt đó

Trang 34

Từ định nghĩa về XĐTL giữa vợ và chồng và dựa trên các quan điểm của cáctác giả trên về mức độ XĐTL, chúng tôi phân chia mức độ XĐTL giữa vợ và chồngcăn cứ vào mức độ khác biệt; những biểu hiện với mức độ phá hủy mối quan hệ vàtần suất xuất hiện của những biểu hiện đó và XĐTL được chia thành 5 mức độ sau:

Mức độ 1: Có sự không phù hợp rất ít Ở mức độ này, trong cuộc sống hôn

nhân vợ chồng có xuất hiện những bất đồng nhưng rất hiếm khi (thậm chí là khôngdiễn ra), những bất đồng đó không lớn, không sâu sắc và rất dễ để thống nhất, hòahợp Nhìn chung, với mức độ XĐ này, cuộc sống hôn nhân vợ chồng biết cáchchung sống hòa thuận, biết thông cảm, thấu hiểu nhau Các biểu hiện XĐ ở mức độnày mang tính tích cực và tính xây dựng cho mối quan hệ như: Im lặng; đề nghị giảipháp thỏa hiệp; thể hiện sự tôn trọng… Ở mức độ này, XĐ gần như không đáng kể,các gia đình hòa thuận, hạnh phúc cũng có thể có những XĐ này (XĐTL mang tínhphổ biến, không thể tránh khỏi)

Mức độ 2: Có sự bất đồng Ở mức độ này, giữa vợ và chồng có sự khác nhau

tương đối giữa vợ và chồng về quan điểm, cách nhìn nhận, đánh giá vấn đề… Mức

độ này thỉnh thoảng có các biểu hiện XĐTL, những biểu hiện như: Cảm thấy khônghiểu người bạn đời, cảm thấy có khoảng cách, cảm thấy ngạc nhiên bởi những ứng

xử của bạn đời như do dùng từ ngữ không lịch sự, thiếu tôn trọng để nói chuyện

Mức độ 3: Có sự mâu thuẫn Ở mức độ này, giữa vợ và chồng có sự khác biệt

tương đối lớn XĐ bắt đầu thể hiện rõ nhưng chưa gay gắt, hay xuất hiện nhữngbiểu hiện như: Thái độ cáu gắt, tức giận, dễ nổi nóng, hay có những hành vi như cố

ý gây tiếng động lớn, đóng sầm cửa lại để thể hiện sự mâu thuẫn

Mức độ 4: Có sự đối lập Những cặp vợ chồng này có sự khác biệt lớn, trái

ngược hẳn về quan điểm, thái độ, cách ứng xử…giữa hai vợ chồng Thường xuyên

có các biểu hiện XĐTL như: Đe dọa; đập phá đồ đạc; coi thường, khinh bỉ ngườibạn đời…

Mức độ 5: Có sự đối kháng – XĐ bùng nổ mạnh mẽ, sâu sắc Với mức độ này,

sự đối lập giữa vợ và chồng thể hiện một cách sâu sắc, một mất một còn, không thểdung hòa được với nhau Mức độ này rất thường xuyên xuất hiện các biểu hiệnmang tính phá hủy mối quan hệ cao như: Dùng đồ vật để đánh người bạn đời; dùngtay chân đấm, đá, tát người bạn đời; xỉ vả, xúc phạm nhau – “đồ khốn”, “đồ ngu”;bàn bạc đến chuyện ly thân, ly hôn…

Trang 35

1.2.4 Cách thức giải quyết xung đột tâm lý giữa vợ và chồng trong gia đình trí thức

Khi nghiên cứu về vấn đề này, nhìn chung các tác giả đều đi đến thống nhấtrằng: Bản chất của điều hòa xung đột là tìm ra những phương pháp hữu hiệu để giảiquyết xung đột

Theo M Zamses có những phản ứng điển hình để giải quyết XĐ đó là [dẫntheo 34]

- Sự kiềm chế: Con người huy động mọi khả năng để giải quyết vấn đề nảy

sinh cả khi nó xuất hiện và phát triển ngoài ý muốn của họ Kiềm chế là phươngthức chủ yếu để bình thường hóa mối quan hệ giữa hai người

- Cự tuyệt giải quyết vấn đề: Điều này xuất phát từ nhiều động cơ khác nhau,

một số người không tin rằng mình có khả năng giải quyết các khó khăn, số khác lạinghĩ “đó không phải là việc của tôi”; một số người cự tuyệt giải quyết nó, rút lui để

có thể tỉnh táo xem xét sự việc đã xảy ra; một số khác lại muốn có thời gian thu thậpthông tin trước khi đến quyết định cuối cùng Tất cả những phản ứng cự tuyệt nhưtrên rất nguy hiểm nếu các cặp vợ chồng không nhận ra đã đến lúc giải quyết XĐ,

XĐ đã chín muồi

- Phản ứng bằng sự tấn công: Tấn công có thể giúp kìm hãm khủng hoảng đã

chín muồi, giúp người trong cuộc trở lên nhẹ nhõm nhưng điều quan trọng là làmsao những lời lẽ tấn công không trở thành sự lăng mạ, sỉ nhục

- Phản ứng tích cực bằng sự tha thứ, niềm tin, tình yêu: Nhiều cặp vợ chồng

xảy ra XĐ đã hàn gắn, giữ gìn được hạnh phúc gia đình nhờ có sự tha thứ, lòng tin

và nghị lực Lòng tin vào hôn nhân giúp hai người học cách tha thứ cho nhau Lòngtin đã giúp cho vợ chồng dám nhìn thẳng vào sự thật và giải quyết nó một cách triệt

để Những cặp vợ chồng như vậy thường hiểu nhau, ít xảy ra XĐ, nếu có XĐthường cùng nhau tìm cách giải quyết

Theo tác giả John Gray (2003), có bốn thái độ có tác dụng làm cho XĐ tạmthời dừng lại, nhưng về lâu dài chúng lại làm cho XĐ tăng lên [23]

- Cãi lại: Kiểu này thường thấy ở người chồng, khi XĐ xảy ra họ bắt đầu lớn

tiếng, lấn át người vợ Họ trách móc, phê phán, chỉ trích và đổ mọi lỗi lầm lênngười bạn đời của mình Họ hét lên và tỏ ra vô cùng tức giận Họ ép người bạn đờiphải tuân theo ý mình Sự ép buộc như thể luôn làm giảm đi sự tin tưởng vào ngườichồng Khi vợ chồng đôi co, to tiếng với nhau, họ sẽ mất đi khả năng cởi mở vớinhau và dễ bị tổn thương Phụ nữ khép mình lại để tự vệ, còn đàn ông đóng chặt củalại và thiếu quan tâm

Trang 36

- Né tránh: Cách này chủ yếu của người chồng Họ bắt đầu im lặng khi XĐ

xảy ra, “chiến tranh lạnh” bắt đầu Họ không tỏ rõ thái độ hay trực tiếp làm ngườibạn đời tổn thương như xô xát nhau mà họ làm tổn thương một cách gián tiếp bằngcách tước đoạt tình yêu Cái lợi trước mắt của việc lảng tránh có được là sự bìnhyên tạm thời, nhưng nếu vấn đề không được nói ra và chưa có người nghe, nỗi bựctức sẽ chồng chất thêm Họ chọn cách làm việc nhiều, ăn nhiều, tụ tập bạn bè, cácloại nghiện ngập để không phải cảm nhận những đau đớn do XĐ gây ra

- Giả vờ: Cách này chủ yếu là của người vợ Họ luôn thể hiện ra bên ngoài là

mọi việc đều ổn Tuy vậy, trong thâm tâm họ không hề hài lòng, càng ngày càngbực tức càng chồng chất Những cuộc hôn nhân như thế này khi mọi việc được pháthiện thường rất khó có cách để cứu vãn

- Thu mình lại: Đây là cách chủ yếu ở người vợ Họ thường là người nhún

nhường quá mức, họ tự nhận mọi sai lầm về mình miễn là không cãi nhau Họ sẵnsàng chiều theo mọi ý thích, tán dương mọi điều từ người chồng, dần dần họ đánhmất mình Họ giống như một người phục vụ, nô bộc hơn là vai trò của người vợ.Kết quả cuối cùng là họ tức giận và cảm thấy bất hạnh vì chính điều đó

Theo ông, để giải quyết triệt để vấn đề cần phải đối thoại, nói chuyện với sựhiểu biết và thái độ tôn trọng đối với người bạn đời của mình Điều người chồngcần đó là sự đồng tình, ủng hộ, chấp nhận của người vợ; điều người vợ cần đó là sựtôn trọng quan điểm và sự quan tâm của người chồng Ông đưa ra mô hình để tránh

sự XĐ theo hai giai đoạn:

- Giai đoạn 1: Trước khi xảy ra XĐ, chuẩn bị một số câu nói có tác dụng nhất

với bản thân mình và nói cho người kia biết

- Giai đoạn 2: Trong khi diễn ra XĐ cần phải:

+ Thực hiện những câu nói đã chuẩn bị với thái độ tôn trọng, yêu thương;

+ Đặt mình vào tình huống, vị trí của người kia;

+ Có thể dừng lại một chút hoặc tạm thời phớt lờ vấn đề;

+ Luôn luôn ghi nhận sự nỗ lực hòa giải của người kia.

Cách giải quyết của tác giả thường sẽ khó thực hiện, bởi khi XĐ xảy ra conngười thể hiện những xúc cảm tiêu cực một cách bản năng, do đó rất khó trong việckiềm chế những xúc cảm đó vì thế mà cũng rất khó để tuân theo những khuôn mẫu

đã đặt ra trước đó

Hai nhà nghiên cứu John M Gottman và Nan Silver (2003) đưa ra mô hìnhgiải quyết mâu thuẫn, XĐ gồm 5 bước như sau [22]:

- Bước 1: Mở lời nhẹ nhàng

Trang 37

Không nhất thiết phải khéo léo đến mức giả tạo, nịnh bợ đối phương, chỉ cầntrong sự mở lời không chưa sự khinh thường, chỉ trích là được Mở lời nhẹ nhàngđóng vai trò chủ chốt trong việc giải quyết mâu thuẫn Họ đưa ra một số gợi ý để cóthể mời lời một cách nhẹ nhàng như: Than phiền nhưng không đổ lỗi; hãy nói vềchính mình thay vì nói về người bạn đời; miêu tả những gì xảy ra, đừng đánh giáhay phán xét; hãy nói rõ ràng; tỏ ra lịch sự; thể hiện sự cảm kích; đừng dồn nén cảmxúc.

- Bước 2: Học cách thực hiện và đón nhận nỗ lực chữa cháy

Năng lực chữa cháy càng cao (trao và nhận ra) hôn nhân của cặp đôi ấy cànghạnh phúc, ngược lại các cặp đôi bất hạnh năng lực chữa cháy càng thấp Học cáchchữa cháy, chính xác học ngôn ngữ chữa cháy là cần thiết nhưng không dễ dàng đốivới mỗi người trong quá trình xảy ra XĐ Nỗ lực chữa cháy được thể hiện trên cácphương án sau:

(1) Cảm thấy – bạn nên mô tả lại cảm xúc của bạn đang trải qua cho người kianhận biết và thấu hiểu được Chẳng hạn: em/anh thấy mình đang bị đổ lỗi, em/anhthấy mình không được trân trọng…;

(2) Lấy lại bình tĩnh – đề nghị người kia giúp bạn có thể bình tĩnh hơn Chẳnghạn, làm ơn giúp em/ anh bình tĩnh lại hoặc xin anh/ em im lặng và lắng nghe;(3) Xin lỗi – đây là cách biểu hiện một cách chữa cháy hiệu quả Tuy vậy,nhiều câu nói vẫn chưa được người nghe hiểu là sự xin lỗi Chẳng hạn, anh phải làmsao để mọi chuyện khá hơn? Anh thực sự đã làm hỏng việc hoặc hãy để em thử lạixem Việc học kỹ năng nhận ra được năng lực chữa cháy là cần thiết, nó giống nhưviệc biết được ngưỡng cảm giác để điều chỉnh cường độ kích thích;

(4) Đồng thuận – đây là một kỹ năng mà mỗi người cần rèn luyện, khi XĐxảy ra việc chúng ta nói lời đồng thuận là rất khó khăn, bởi nếu đồng thuận đãkhông xảy ra XĐ Tuy nhiên, chúng ta có thể áp dụng một số cách sau: Em/ anhđồng ý với một phần những điều anh/ em nói; em cảm ơn vì anh…; em hiểu những

gì anh đang nói;

(5) Đạp thắng – ngừng cuộc tranh luận với cách nói nhẹ nhàng, chẳng hạn:Xin anh hãy ngừng lại/ chúng ta đang đi lạc đề rồi/ chúng mình đồng ý với nhau làngừng tranh cãi tại đây…;

(6) Thể hiện lòng biết ơn Chẳng hạn: một điểm mà em ngưỡng mộ ở anh đólà… Tùy thuộc vào tình huống vào cảm xúc và khả năng của mỗi người để sử dụngcác hình thức chữa cháy trên

- Bước 3: Xoa dịu bản thân và người bạn đời

Trang 38

Ngừng tranh luận là bước đầu tiên Sau đó, mỗi người cần nghỉ ngơi thư giãn

ít nhất trong hai mươi phút Kỹ thuật cơ bản để xoa dịu bản thân:

(1) Ngồi trên một chiếc ghế êm/ nằm ngữa trên sàn nhà;

(2) Tập trung điều tiết hơi thở, tập thở sâu;

(3) Thư giãn cơ bắp;

(4) Nhắm mắt lại và tập trung nghĩ về một hình ảnh hoặc một ý tưởng làm bạn

dễ chịu

Sau khi trấn tĩnh mình xong cần giúp người bạn đời trấn tĩnh (chỉ làm điều nàykhi mình đã được trấn tĩnh) bằng nhiều cách như mát xa, hướng dẫn ngồi thiền,nghe nhạc…

- Bước 4: Thỏa hiệp

Khi bạn tuân thủ các bước trên, thỏa hiệp sẽ mang lại hiệu quả cao Để việcthỏa hiệp hiệu quả, không thể không quan tâm đến ý kiến và mong muốn của ngườibạn đời, không nhất thiết phải đồng ý với tất cả những điều người bạn đời nói hoặctin tưởng, nhưng nhất thiết phải thành thật, cởi mở xem xét quan điểm của ngườibạn đời bằng cách hỏi những câu hỏi để người bạn đời có thể bộc lộ ý kiến của họmột cách rõ ràng, đồng thời phải nhìn nhận tính hợp lý của những quan điểm đómột cách khách quan

- Bước 5: Khoan dung cho những lỗi lầm của nhau

Muốn các mâu thuẫn được giải quyết cần phải có thái độ khoan dung, khôngtìm cách thay đổi người vợ/ chồng mà cần thương lượng với nhau Điều đó có nghĩa

là phải chấp nhận những khiếm khuyết và hạn chế của người kia và ngược lại

Tác giả Howard J Rankin (2004) đưa ra 12 cách cho một cuộc tranh luậnthẳng thắn nhằm giải quyết những XĐ, trong đó nguyên tắc tuyệt đối phải tuân thủ

là không dùng đến bạo lực, nếu dùng đến bạo lực thì tất cả những lý giải không còngiá trị trong cuộc tranh luận Trong khi giải quyết XĐ, các cặp vợ chồng cần dùnglời nói cẩn thận, cũng như tránh nhắc lại chuyện cũ Tuy nhiên, đây là lỗi thườnggặp ở nhiều cặp vợ chồng khi cãi nhau, luôn tìm cách khiến nhau bị tổn thương để

có cảm giác hả hê, thắng cuộc Muốn giải quyết được những mâu thuẫn thì haingười cần phải lắng nghe một cách chủ động, có khả năng chịu đựng căng thẳng,kiềm chế cảm xúc, biết xử lý vấn đề và khả năng nhận biết dấu hiệu người bạn đờimuốn chấm dứt cuộc XĐ Trong khi XĐ, tránh tuyệt đối không phân tích tội của đốiphương, không kết tội, buộc tội, đổ lỗi cho người bạn đời [16]

Tác giả Hendrix (1997) đã trị liệu tâm lý hôn nhân với “Liệu pháp quan hệhình mẫu” gồm 16 bài tập trị liệu trong 10 tuần lễ và có thể tự áp dụng tại nhà Các

Trang 39

bài tập xoay quanh 3 chủ đề: Lắng nghe, thấu hiểu về nhu cầu của bản thân và củangười bạn đời, đặc biệt là những nhu cầu bị che lấp; kỹ năng bộc lộ cảm xúc; bài tập

để thắt chặt mối quan hệ [9]

Tác giả Nguyễn Thị Oanh đưa ra bốn cách giải quyết XĐ vợ chồng là [35]:

- Lờ nó đi, bỏ qua để sống hòa thuận: Đây là kiểu “Dấu rác dưới tấm thảm”, ta

có thể không nhìn thấy nó, nhưng rác vẫn còn đó Thái độ này dẫn đến sự hời hợttrong quan hệ vợ chồng và xung đột không được giải quyết triệt để

- Khoan dung với nó: Nhiều cặp vợ chồng thừa nhận rằng không thể tránh

khỏi sự cãi nhau nhưng họ chịu đựng những khó chịu tạm thời để hưởng những giaiđoạn bình yên

- Đấu tranh một cách công bằng: Điều này khó thực hiện, vì lúc ấy khó giữ

được bình tĩnh, khách quan

- Quản lý mâu thuẫn: Bình tĩnh bày tỏ quan điểm, cân nhắc cả hai bên và tìm

cách dung hòa Quản lý mâu thuẫn giúp cuộc hôn nhân ngày càng phong phú, vợchồng hiểu nhau, tha thứ cho nhau

Tác giả Nguyễn Đình Mạnh (2007) nêu lên 3 cách thức giải quyết XĐ gồm[28]:

- Lảng tránh XĐ: Biểu hiện đặc trưng là lảng tránh, không muốn gặp mặt, im

lặng khi buộc phải gặp nhau Lảng tránh cả những người muốn giúp đỡ, hòa giải.Theo tác giả đây là cách xử lý tiêu cực

- Đấu tranh với thái độ bất cần: Biểu hiện đặc trưng của cách này là không

cần suy nghĩ để tìm hiểu nguyên nhân XĐ; không quan tâm ý kiến, quan điểm củangười khác; tranh luận đến cùng để bảo vệ ý kiến; dọa chấm dứt nếu yêu cầu khôngđược đáp ứng

- Hợp tác với thái độ chân thành: Biểu hiện là cùng nhau tìm hiểu nguyên

nhân XĐ; tìm cơ hội để ở bên nhau; cùng trao đổi, thảo luận chân thành về vấn đềXĐ; cùng tìm kiếm các biện pháp giải quyết XĐ

Từ việc tìm hiểu những nghiên cứu của những tác giả về vấn đề giải quyếtXĐTL, mỗi tác giả với những phương pháp khác nhau Nhưng để giải quyết XĐmột cách hiệu quả thì cần phải tuân theo những nguyên tắc nhất định, chúng tôitổng kết lại một số nguyên tắc trong giải quyết XĐTL giữa vợ và chồng trí thức nhưsau:

- XĐTL giữa vợ và chồng chỉ được giải quyết triệt để khi cả hai cùng đối diện

và tập trung vào vấn đề: Xác định nguyên nhân; không lảng tránh quá lâu; không đisai hướng

Trang 40

- Phải có thái độ thiện chí, hợp tác, tôn trọng, dung hòa; chân thành lắng nghe,thấu hiểu, thông cảm; khách quan, không đổ lỗi, không kết tội.

- Không dùng bạo lực

- Phải biết kiềm chế xúc cảm tiêu cực

Dựa vào những nghiên cứu trên, cùng những trải nghiệm thực tế chúng tôi đưa

ra 2 xu hướng giải quyết XĐTL đó là xu hướng tích cực và xu hướng tiêu cực với 6cách thức giải quyết dưới đây:

(1) Hợp tác, tập trung giải quyết vấn đề: Biểu hiện như là cùng nhau tìm hiểu

nguyên nhân; nói chuyện cởi mở với nhau về vấn đề; cùng nhau phân tích vấn đề;

tự phân tích vấn đề để tìm cách ứng xử phù hợp; đọc sách báo để tìm giải pháp hợplý; sử dụng tình dục để hòa giải

(2) Tìm kiếm sự trợ giúp: Biểu hiện như tâm sự với người tin tưởng; nhờ

người uy tín hòa giải; gặp chuyên viên tâm lý để hỗ trợ giải quyết; đưa tình huốnglên internet để tìm kiếm lời khuyên

(3) Bản thân chủ động bộc lộ: Biểu hiện như là chủ động chia sẻ cảm xúc với

người bạn đời; chủ động nói với người bạn đời vấn đề mình nhận thấy chưa đúng,chưa được ở bản thân; chủ động bày tỏ sự ghi nhận, sự đồng ý với người bạn đời;chủ động ngừng cuộc tranh luận, ngừng cuộc XĐ với thái độ tôn trọng người bạnđời; chủ động nói lời xin lỗi

(4) Lảng tránh: Biểu hiện như dùng chất kích thích, chất gây nghiện để quên

đi sự tức giận và đau khổ; gặp người yêu cũ/ người đang theo đuổi để tìm cảm giácmới; làm việc rất nhiều để quên đi mọi chuyện; gặp gỡ bạn bè để vui chơi, ăn uốngcho quên mọi chuyện; lờ vấn đề mâu thuẫn đi

(5) Chấp nhận chịu đựng: Biểu hiện như im lặng không giải thích muốn nghĩ

thế nào cũng được; mặc kệ mọi việc muốn ra sao thì ra; làm việc bình thường coinhư không có chuyện gì xảy ra; giả vờ đồng ý nhưng tự làm theo ý mình; mỗi người

tự làm theo ý tiêng của mình; chiều theo ý muốn của người bạn đời mặc dù bản thânkhông đồng thuận

(6) Cách giải quyết tiêu cực: Biểu hiện như gay gắt phê phán, chỉ trích đối

phương; không tìm hiểu nguyên nhân; không quan tâm đến quan điểm của ngườibạn đời; dọa sẽ ly thân/ ly hôn nếu không theo ý mình; viết đơn ly hôn và ký sẵn.1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến xung đột tâm lý giữa vợ và chồng trong các gia đình trí thức

Trong tác phẩm Anna Karennina, Leptônxtôi có viết: “Tất cả những gia đình

Ngày đăng: 02/11/2016, 12:45

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Mai Huy Bích (2009), Giáo trình xã hội học gia đình, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình xã hội học gia đình
Tác giả: Mai Huy Bích
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia HàNội
Năm: 2009
2. C.Mác và Ph.Ăng – Ghen – Toàn tập, Tập III (1995), NXB Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: C.Mác và Ph.Ăng – Ghen – Toàn tập, Tập III
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 1995
3. Văn Thị Kim Cúc (2003), Những tổn thương tâm lý của thiếu niên do bố mẹ ly hôn, NXB Khoa học Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những tổn thương tâm lý của thiếu niên do bố mẹ ly hôn
Tác giả: Văn Thị Kim Cúc
Nhà XB: NXB Khoa học Xã hội
Năm: 2003
4. Phạm Tất Dong (1995), Trí thức Việt Nam: Thực tiễn và triển vọng, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trí thức Việt Nam: Thực tiễn và triển vọng
Tác giả: Phạm Tất Dong
Nhà XB: NXB Chính trịQuốc gia
Năm: 1995
5. Vũ Dũng (2007), Tâm lý học quản lý, NXB Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học quản lý
Tác giả: Vũ Dũng
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
Năm: 2007
6. Vũ Dũng (Chủ biên) (2000), Từ điển tâm lý học, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tâm lý học
Tác giả: Vũ Dũng (Chủ biên)
Nhà XB: NXB Khoa học Xã hội
Năm: 2000
8. Hồ Ngọc Đại (1991), Chuyện ấy, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyện ấy
Tác giả: Hồ Ngọc Đại
Năm: 1991
9. Trần Thị Minh Đức (2012), Giáo trình tham vấn tâm lý, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình tham vấn tâm lý
Tác giả: Trần Thị Minh Đức
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia HàNội
Năm: 2012
10. E.I. Caroll (1992), Những cảm xúc người, NXB Giáo dục Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những cảm xúc người
Tác giả: E.I. Caroll
Nhà XB: NXB Giáo dục Hà Nội
Năm: 1992
11. E. Mayo, Các vấn đề xã hội của nền văn minh công nghiệp, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các vấn đề xã hội của nền văn minh công nghiệp
Nhà XB: NXB Giáo dục
12. Erik J. Van Slyke (2004), Nghệ thuật lắng nghe để xử lý xung đột, NXB Trẻ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật lắng nghe để xử lý xung đột
Tác giả: Erik J. Van Slyke
Nhà XB: NXB Trẻ
Năm: 2004
13. Harriet Goldhor Lerner (1997), Vũ khúc của cơn giận, NXB Trẻ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vũ khúc của cơn giận
Tác giả: Harriet Goldhor Lerner
Nhà XB: NXB Trẻ
Năm: 1997
14. Harville Hendrix (1997), Để có cuộc hôn nhân hoàn hảo, NXB Phụ nữ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Để có cuộc hôn nhân hoàn hảo
Tác giả: Harville Hendrix
Nhà XB: NXB Phụ nữ
Năm: 1997
15. Ngô Công Hoàn (1993), Tâm lý học gia đình, NXB ĐHSP Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học gia đình
Tác giả: Ngô Công Hoàn
Nhà XB: NXB ĐHSP Hà Nội
Năm: 1993
16. Howard J. Rankin (2004), Quá trình tìm hiểu trước hôn nhân, NXB Tổng hợp TP.Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quá trình tìm hiểu trước hôn nhân
Tác giả: Howard J. Rankin
Nhà XB: NXB Tổng hợp TP.Hồ Chí Minh
Năm: 2004
17. Vũ Tuấn Huy (2003), Mâu thuẫn giữa vợ và chồng trong gia đình và những yếu tố ảnh hưởng, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mâu thuẫn giữa vợ và chồng trong gia đình và những yếu tốảnh hưởng
Tác giả: Vũ Tuấn Huy
Nhà XB: NXB Khoa học Xã hội
Năm: 2003
18. Lê Thị Thanh Hương (Chủ biên) (2009), Nhân cách văn hóa trí thức Việt Nam trong tiến trình mở cửa và hội nhập quốc tế, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhân cách văn hóa trí thức Việt Namtrong tiến trình mở cửa và hội nhập quốc tế
Tác giả: Lê Thị Thanh Hương (Chủ biên)
Nhà XB: NXB Khoa học Xã hội
Năm: 2009
19. Phan Thị Mai Hương (2014), Cảm nhận hạnh phúc chủ quan của người nông dân, Tạp chí Tâm lý học, Số 8/2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cảm nhận hạnh phúc chủ quan của người nông dân
Tác giả: Phan Thị Mai Hương
Năm: 2014
20. Tô Thị Hường (2010), Giáo trình Luật hôn nhân và gia đình, NXB Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật hôn nhân và gia đình
Tác giả: Tô Thị Hường
Nhà XB: NXB Giáo dục ViệtNam
Năm: 2010
21. Jacques Gauthier (2000), Những thử thách của cuộc sống lứa đôi, NXB Phụ nữ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những thử thách của cuộc sống lứa đôi
Tác giả: Jacques Gauthier
Nhà XB: NXB Phụ nữ
Năm: 2000

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ Trang - Xung đột tâm lý giữa vợ và chồng trong gia đình trí thức trên địa bàn thành phố hà nội
rang (Trang 5)
Bảng 2.1. Phân bố mẫu nghiên cứu - Xung đột tâm lý giữa vợ và chồng trong gia đình trí thức trên địa bàn thành phố hà nội
Bảng 2.1. Phân bố mẫu nghiên cứu (Trang 45)
Bảng 3.2. Mức độ ảnh hưởng của bất đồng nhận thức đối với hạnh phúc gia đình - Xung đột tâm lý giữa vợ và chồng trong gia đình trí thức trên địa bàn thành phố hà nội
Bảng 3.2. Mức độ ảnh hưởng của bất đồng nhận thức đối với hạnh phúc gia đình (Trang 55)
Bảng 3.3. Tương quan giữa các yếu tố với mức độ XĐ trong quan niệm  về vấn đề tiền bạc - Xung đột tâm lý giữa vợ và chồng trong gia đình trí thức trên địa bàn thành phố hà nội
Bảng 3.3. Tương quan giữa các yếu tố với mức độ XĐ trong quan niệm về vấn đề tiền bạc (Trang 57)
Bảng 3.4. Tương quan giữa mức độ XĐ trong quan niệm về - Xung đột tâm lý giữa vợ và chồng trong gia đình trí thức trên địa bàn thành phố hà nội
Bảng 3.4. Tương quan giữa mức độ XĐ trong quan niệm về (Trang 59)
Bảng 3.5. Tương quan giữa mức độ XĐ trong quan niệm về  vấn đề quan hệ nội ngoại với yếu tố gia đình nội ngoại (GĐNN) - Xung đột tâm lý giữa vợ và chồng trong gia đình trí thức trên địa bàn thành phố hà nội
Bảng 3.5. Tương quan giữa mức độ XĐ trong quan niệm về vấn đề quan hệ nội ngoại với yếu tố gia đình nội ngoại (GĐNN) (Trang 60)
Bảng 3.8. Bất đồng trong quan niệm về giao tiếp ứng xử giữa vợ chồng - Xung đột tâm lý giữa vợ và chồng trong gia đình trí thức trên địa bàn thành phố hà nội
Bảng 3.8. Bất đồng trong quan niệm về giao tiếp ứng xử giữa vợ chồng (Trang 64)
Bảng 3.9. Tương quan giữa mức độ XĐ trong quan niệm  về vấn đề giao tiếp ứng xử với các yếu tố hài lòng - Xung đột tâm lý giữa vợ và chồng trong gia đình trí thức trên địa bàn thành phố hà nội
Bảng 3.9. Tương quan giữa mức độ XĐ trong quan niệm về vấn đề giao tiếp ứng xử với các yếu tố hài lòng (Trang 65)
Bảng 3.10. Tương  quan giữa mức độ XĐ trong quan niệm  về vấn đề giao tiếp ứng xử với yếu tố văn hóa ứng xử - Xung đột tâm lý giữa vợ và chồng trong gia đình trí thức trên địa bàn thành phố hà nội
Bảng 3.10. Tương quan giữa mức độ XĐ trong quan niệm về vấn đề giao tiếp ứng xử với yếu tố văn hóa ứng xử (Trang 67)
Bảng 3.11. Bất đồng trong quan niệm về vấn đề liên quan đến tình dục - Xung đột tâm lý giữa vợ và chồng trong gia đình trí thức trên địa bàn thành phố hà nội
Bảng 3.11. Bất đồng trong quan niệm về vấn đề liên quan đến tình dục (Trang 68)
Bảng 3.13. Tương quan giữa mức độ XĐTL trong quan niệm về vấn đề sự nghiệp – học vấn và mức độ hài lòng - Xung đột tâm lý giữa vợ và chồng trong gia đình trí thức trên địa bàn thành phố hà nội
Bảng 3.13. Tương quan giữa mức độ XĐTL trong quan niệm về vấn đề sự nghiệp – học vấn và mức độ hài lòng (Trang 72)
Bảng 3.14. XĐTL biểu hiện ở mặt cảm xúc - Xung đột tâm lý giữa vợ và chồng trong gia đình trí thức trên địa bàn thành phố hà nội
Bảng 3.14. XĐTL biểu hiện ở mặt cảm xúc (Trang 73)
Bảng 3.15. XĐTL biểu hiện ở mặt cảm xúc kèm hành vi - Xung đột tâm lý giữa vợ và chồng trong gia đình trí thức trên địa bàn thành phố hà nội
Bảng 3.15. XĐTL biểu hiện ở mặt cảm xúc kèm hành vi (Trang 75)
Bảng 3.16. XĐTL giữa vợ chồng trí thức biểu hiện qua hành vi ngôn ngữ - Xung đột tâm lý giữa vợ và chồng trong gia đình trí thức trên địa bàn thành phố hà nội
Bảng 3.16. XĐTL giữa vợ chồng trí thức biểu hiện qua hành vi ngôn ngữ (Trang 78)
Sơ đồ 3.1. Mối tương quan giữa các mặt nhận thức, cảm xúc, hành vi  trong xung đột tâm lý - Xung đột tâm lý giữa vợ và chồng trong gia đình trí thức trên địa bàn thành phố hà nội
Sơ đồ 3.1. Mối tương quan giữa các mặt nhận thức, cảm xúc, hành vi trong xung đột tâm lý (Trang 84)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w