Tính cấp thiết của đề tài Trong quá trình phát triển kinh tế thị truờng định huớng xã hội chủ nghia của nuớc ta, cạnh tranh là một hiện tuợng vốn có trong nền kinh tế thị truờng, là sự ganh đua giữacác thành viên tham gia trong nền kinh tế thị truờng nhằm tối đa hóa lợi nhuận của doanh nghiệp. Trong bối cảnh nền kinh tế đất nuớc ngày càng phát triển cùng với tốc độ toàn cầu hóa ngày càng cao, các doanh nghiệp đa và đang đối mặt với mức độ cạnh tranh trên thị truờng ngày càng gay gắt. Để tồn tại và phát triển doanh nghiệp cần phải nâng cao năng lực cạnh tranh của mình vì đó là chìa khóa dẫn đến thành công cho tất cả các doanh nghiệp, điều này lại đoi hỏi doanh nghiệp phải có nguần lực thích hợp để tạo ra lợi thế cạnh tranh. Vì vậy, yêu cầu cấp bách đối với doanh nghiệp là phải phát hiện ra các nguần lực tạo ra lợi thế cạnh tranh rồi từ đó duy trì và phát triển nhằm đảm bảo lợi thế cạnh tranh bền vững trong tuong lai, giúp cho daonh nghiệp đứng vững trên thị truờng nội địa truớc sự tấn công của các đối thủ cạnh tranh. Hơn nữa, kể từ khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) sự tham gia của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực thương mại và phân phối sản phẩm là một thực tế rõ ràng. Nhờ chính sách mở của thị trường dịch vụ, phân phối, các nhà sản xuất ngày càng nhiều, đã và đang tiếp tục mở rộng phạm vi hoạt động của mình với các mô hình phân phối hiện đại, quản lý tiên tiến vừa tạo sức ep cạnh tranh với các doanh nghiệp phân phối và bán lẻ trong nước. Là doanh nghiệp tu nhân Công ty CP Phát Triển Ứng Dụng Công Nghệ Việt Nam đang đặt ra cho mình yêu cầu cấp bách làm thể nào để tồn tại và phát triển bền vững ở trên thị truờng tiểm năng nhu Việt Nam. Giống nhu các … 2. Tình hình nghiên cứu Đề tài Cho đển nay đa có nhiều đề tài nghiên cứu về môi truờng canh tranh giữa cac doanh nghiệp cung nhu giữa các doanh nghiệp phân phối các sản phẩm cùng loại với nhau. Có thể nêu lên một số đề tài, công trình nghiên cứu có liên quan về vấn đề này trê n các góc độ khác nhau. Ngoài ra còn có nhiều công trình, đề tài, luận án, các bài công bố trên tạp chí khoa học chuyên ngành trong nuớc và trên thế giới có liên quan đến chủ đề này. 3. Nhiệm vụ và mục tiêu nghiên cứu Một là, góp phần làm rõ co sở lý luận về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, nội dung và các nhân tố ảnh huởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và hệ thống các tiêu chí đánh giá, đồng thời nghiên cứu kinh nghiệm một số doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh để rút ra bài học vận dụng cho Công ty cổ phần phát triển ứng dụng công nghệ Việt Nam. Hai là, phân tích, đánh giá năng lực cạnh tranh của Công ty cổ phần phát triển ứng dụng công nghệ Việt Nam những năm gần đây, nêu ra những thành tựu, những hạn chế và nhung nguyên nhân làm hạn chế năng lực cạnh tranh của Công ty Ba là, xác định phuong huớng, đề xuất các giải pháp co bản để nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty cổ phần phát triển ứng dụng công nghệ Việt Nam 4. Đối tuợng, phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu: Tập trung nghiên cứu hoạt động quản trị hệ thống kênh phân phối sản phẩm của Công ty CP phát triển ứng dụng công nghệ Việt Nam, đặt trọng tâm nghiên cứu những khó khăn vướng mắc trong quản trị kênh. Phạm vi nghiên cúu: Về nội dung, Luận văn xem xét về thị phần phân phối sản phẩm của công ty, cung ứng sản phẩm, tính ổn định của khách hàng và hiểu quả kinh doanh ( Doanh thu, chi phí, lợi nhuận) dưới tác động của các yếu tố về môi trường pháp lý và chính sách vĩ mô, môi trường ngành, các đối thủ cạnh tranh của doanh nghiệp( trực tiếp và gián tiếp) và năng lực nôi sinh của doanh nghiệp. Về không gian là Công ty cổ phần phát triển ứng dụng công nghệ Việt Nam Về thời gian các thông tin, tư liệu nghiên cứu trong 3 năm 2012, 2013, 2014 và có những đề suất cho những năm tới. 5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu Phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, kết hợp với phân tích và tổng hợp, logic và lịch sử. Phương pháp nghiên cứu: Thu thập thông tin, tài liệu thứ cấp, từ các công trình luận văn, luận án, các bài báo, các sách sản xuất bản có liên quan đến chủ đề nghiên cứu Thu thập tài liệu, báo cáo hàng năm của Công ty cổ phần phát triển ứng dụng công nghệ Việt Nam. Sử dụng các số liệu cụ thể để phân tích, so sánh đưa ra các đánh giá có cơ sở khoa học và thực tiễn. 6. Những đóng góp của luận văn Thông qua nghiên cứu, phân tích làm sáng tổ cơ sở lý luận của năng lực cạnh tranh nói chung Nêu ra những đặc điểm về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp phân phối, kinh doanh thiết bị văn phòng. Xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh, đặc biệt năng lực canhtranh của ngành phân phối thiết bị văn phòng Trên cơ sở phân tích thực trạng, đánh giá những thành tựu và hạn chế về năng lực cạnh tranh của Công ty cổp phần phát triển ứng dụng Việt Nam để đề xuất định hướng, kiến nghị các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường. 7. Kết cấu của luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo phụ lục, bảng biểu, luận văn được chia thành ba chương. Chương 1: Cơ sở lý luận trung về năng lực cạnh tranh và kinh nghiệm nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Chưng 2: Thực trạng năng lực cạnh tranh của Công ty CP phát triển ứng dụng công nghệ Việt Nam Chương 3: Phương hướng và các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty CP phát triển ứng dụng công nghệ Việt Nam
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu độc lập của tôi Các số liệu vàkết quả trong bài luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳcông trình nào khác Các số liệu trích dân trong luận văn đều được ghi rõ nguầngốc
Tác giả
Lê Xuân Huấn
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trong qua trình nghiên cứu và viết luận văn tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận tìnhcủa các thầy cô giáo trong nhà trường cũng như cán bộ, nhân viên trong Công ty cổphần phát triển ứng dụng công nghệ Việt Nam,
Trang 3CNH - HĐH : Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa
DNPP : Doanh nghiệp phân phối
DNBB : Doanh nghiệp bán buôn
DNBL : Doanh nghiệp bán l
CNTT : Công nghệ thông tin
Trang 4PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong quá trình phát triển kinh tế thị truờng định huớng xã hội chủ nghia củanuớc ta, cạnh tranh là một hiện tuợng vốn có trong nền kinh tế thị truờng, là sựganh đua giữacác thành viên tham gia trong nền kinh tế thị truờng nhằm tối đa hóalợi nhuận của doanh nghiệp Trong bối cảnh nền kinh tế đất nuớc ngày càng pháttriển cùng với tốc độ toàn cầu hóa ngày càng cao, các doanh nghiệp đa và đang đốimặt với mức độ cạnh tranh trên thị truờng ngày càng gay gắt Để tồn tại và pháttriển doanh nghiệp cần phải nâng cao năng lực cạnh tranh của mình vì đó là chìakhóa dẫn đến thành công cho tất cả các doanh nghiệp, điều này lại đoi hỏi doanhnghiệp phải có nguần lực thích hợp để tạo ra lợi thế cạnh tranh Vì vậy, yêu cầu cấpbách đối với doanh nghiệp là phải phát hiện ra các nguần lực tạo ra lợi thế cạnhtranh rồi từ đó duy trì và phát triển nhằm đảm bảo lợi thế cạnh tranh bền vững trongtuong lai, giúp cho daonh nghiệp đứng vững trên thị truờng nội địa truớc sự tấncông của các đối thủ cạnh tranh
Hơn nữa, kể từ khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO)
sự tham gia của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực thươngmại và phân phối sản phẩm là một thực tế rõ ràng Nhờ chính sách mở của thịtrường dịch vụ, phân phối, các nhà sản xuất ngày càng nhiều, đã và đang tiếp tục
mở rộng phạm vi hoạt động của mình với các mô hình phân phối hiện đại, quản lýtiên tiến vừa tạo sức ep cạnh tranh với các doanh nghiệp phân phối và bán lẻ trongnước
Là doanh nghiệp tu nhân Công ty CP Phát Triển Ứng Dụng Công Nghệ Việt Nam đang đặt ra cho mình yêu cầu cấp bách làm thể nào để tồn tại và phát
triển bền vững ở trên thị truờng tiểm năng nhu Việt Nam Giống nhu các …
2 Tình hình nghiên cứu Đề tài
Cho đển nay đa có nhiều đề tài nghiên cứu về môi truờng canh tranh giữa cacdoanh nghiệp cung nhu giữa các doanh nghiệp phân phối các sản phẩm cùng loạivới nhau Có thể nêu lên một số đề tài, công trình nghiên cứu có liên quan về vấn đề
Trang 5này trê n các góc độ khác nhau.
Ngoài ra còn có nhiều công trình, đề tài, luận án, các bài công bố trên tạp chíkhoa học chuyên ngành trong nuớc và trên thế giới có liên quan đến chủ đề này
3 Nhiệm vụ và mục tiêu nghiên cứu
Một là, góp phần làm rõ co sở lý luận về năng lực cạnh tranh của doanhnghiệp, nội dung và các nhân tố ảnh huởng đến năng lực cạnh tranh của doanhnghiệp và hệ thống các tiêu chí đánh giá, đồng thời nghiên cứu kinh nghiệm một sốdoanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh để rút ra bài học vận dụng cho Công ty
cổ phần phát triển ứng dụng công nghệ Việt Nam
Hai là, phân tích, đánh giá năng lực cạnh tranh của Công ty cổ phần pháttriển ứng dụng công nghệ Việt Nam những năm gần đây, nêu ra những thành tựu,những hạn chế và nhung nguyên nhân làm hạn chế năng lực cạnh tranh của Công ty
Ba là, xác định phuong huớng, đề xuất các giải pháp co bản để nâng cao năng lựccạnh tranh của Công ty cổ phần phát triển ứng dụng công nghệ Việt Nam
4 Đối tuợng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Tập trung nghiên cứu hoạt động quản trị hệ thốngkênh phân phối sản phẩm của Công ty CP phát triển ứng dụng công nghệ Việt Nam,đặt trọng tâm nghiên cứu những khó khăn vướng mắc trong quản trị kênh
Phạm vi nghiên cúu:
Về nội dung, Luận văn xem xét về thị phần phân phối sản phẩm của công ty,cung ứng sản phẩm, tính ổn định của khách hàng và hiểu quả kinh doanh ( Doanhthu, chi phí, lợi nhuận) dưới tác động của các yếu tố về môi trường pháp lý và chínhsách vĩ mô, môi trường ngành, các đối thủ cạnh tranh của doanh nghiệp( trực tiếp vàgián tiếp) và năng lực nôi sinh của doanh nghiệp
Về không gian là Công ty cổ phần phát triển ứng dụng công nghệ Việt Nam
Về thời gian các thông tin, tư liệu nghiên cứu trong 3 năm 2012, 2013, 2014
và có những đề suất cho những năm tới
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, kết hợp với phân tích
Trang 6và tổng hợp, logic và lịch sử.
Phương pháp nghiên cứu:
- Thu thập thông tin, tài liệu thứ cấp, từ các công trình luận văn, luận án, các bàibáo, các sách sản xuất bản có liên quan đến chủ đề nghiên cứu
- Thu thập tài liệu, báo cáo hàng năm của Công ty cổ phần phát triển ứng
dụng công nghệ Việt Nam
- Sử dụng các số liệu cụ thể để phân tích, so sánh đưa ra các đánh giá có cơ
sở khoa học và thực tiễn
6 Những đóng góp của luận văn
Thông qua nghiên cứu, phân tích làm sáng tổ cơ sở lý luận của năng lực cạnhtranh nói chung
Nêu ra những đặc điểm về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp phân phối,kinh doanh thiết bị văn phòng
Xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh, đặc biệt năng lựccanhtranh của ngành phân phối thiết bị văn phòng
Trên cơ sở phân tích thực trạng, đánh giá những thành tựu và hạn chế về năng lựccạnh tranh của Công ty cổp phần phát triển ứng dụng Việt Nam để đề xuất địnhhướng, kiến nghị các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo phụ lục, bảng biểu, luậnvăn được chia thành ba chương
Chương 1: Cơ sở lý luận trung về năng lực cạnh tranh và kinh nghiệm nâng caonăng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Chưng 2: Thực trạng năng lực cạnh tranh của Công ty CP phát triển ứng dụng côngnghệ Việt Nam
Chương 3: Phương hướng và các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của Công
ty CP phát triển ứng dụng công nghệ Việt Nam
Trang 7CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH VÀ KINH
NGHIỆM NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH
NGHIỆP 1.1 Lý luận chung về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
1.1.1 Khái niêm về cạnh tranh và phân loại cạnh tranh
Khái niệm về cạnh tranh
Cạnh tranh nói trung và cạnh tranh trong nền kinh tế nói riêng là một kháiniệm mà có nhiều cách hiểu khác nhau Ở phạm vi doanh nghiệp thì cạnh tranh chủyếu nhằm mục tiêu tồn tại và tìm kiếm lợi nhuận tối đa
Theo K.Marx: “ Cạnh tranh là sự ganh đua, đấu trang gay gắt giữa các nhà tưbản gianh giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu dùng để đạt được lợinhuận siêu ngạch” Nghiên cứu về quá trình sản xuất hàng hóa tư bản chủ nghĩa vàcạnh tranh tư bản chủ nghĩa, Marx đã phát hiện ra kết quả của cạnh tranh trong chủnghĩa tư bản là quy luật tỷ suất lợi nhuận bình quân, từ đó hình thành nên hệ thốnggiá cả thị trường và giá cả sản xuất
Theo Từ điển Bách khoa Việt nam (Tập 1), “Cạnh tranh (trong kinh doanh) làhoạt động tranh đua giữa những người sản xuất hàng hoá, giữa các thương nhân,các nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, chi phối quan hệ cung cầu, nhằmdành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ thị trường có lợi nhất”
Theo Từ điển Kinh doanh (xuất bản năm 1992 ở Anh) thì cạnh tranh trong cơchế thị trường được định nghĩa là "Sự ganh đua, sự kình địch giữa các nhà kinhdoanh nhằm giành tài nguyên sản xuất cùng một loại hàng hoá về phía mình”
Hai nhà kinh tế học Mỹ P.A Samuelson và W.D Nordhaus trong cuấn kinh tếhọc (xuất bản lần thứ 12), Cạnh tranh là sự kinh địch giữa các doanh nghiệp cạnhtranh với nhau để dành lấy khách hàng hoặc thị trường Hai tác giả này cho rằngCạnh tranh đồng nghĩa với Cạnh tranh hoàn hảo Ba tác giả khác của Mỹ làD.Begg,, S.Fischer và R.Dornbush cũng cho rằng cạnh tranh là Cạnh tranh hoànhảo, Các tác giả này viết
Một là cạnh tranh hoàn hảo là ngành trong đốmị người đểu tin rằng hành
Trang 8động của họ không gây ra ảnh hưởng tới giá cả thị trường, phải có nhiều người bánnhiều người mua.
Theo trang Web Bách khao toàn thư mở Wikipedia viết Cạnh tranh kinh tế là
sự ganh đua giữa các chủ thể kinh tế (nhà sản xuất, nhà phân phối, bán lẻ, ngườitiêu dùng, thường nhân….) nhằm giành lấy những vị thế tạo nên lợi thế tường đốitrong sản xuất, tiêu thụ hay tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ hay các lợi ích về kinh tế,thương mại khác để thu được nhiều lợi ích nhất cho mình
Theo nhà kinh tế học Michael Porter của Mỹ thì “Cạnh tranh (kinh tế) là giànhlấy thị phần Bản chất của cạnh tranh là tìm kiếm lợi nhuận, là khoản lợi nhuận caohơn mức lợi nhuận trung bình mà doanh nghiệp đang có Kết quả quá trình cạnhtranh là sự bình quân hóa lợi nhuận trong ngành theo chiều hướng cải thiện sâu dẫnđến hệ quả giá cả có thể giảm đi”
Sau khi dẫn chứng, so sánh và phân tích, C Mác đã đi đến khẳng định: chủ thểcạnh tranh chủ yếu là các nhà tư bản, họ tiến hành đọ sức về kỹ thuật, kinh tế, xãhội để tối đa hóa lợi ích Xét ở góc độ quan hệ sản xuất, cạnh tranh thúc đẩy sự sángtạo kỹ thuật, đổi mới tổ chức, quản lý, giảm chi phí, nâng cao chất lượng sản phẩm
và năng suất lao động Xét ở góc độ quan hệ sản xuất, cạnh tranh là biện pháp, làcon đường cơ bản để nhà tư bản đơn lẻ thu được giá trị thặng dư hoặc lợi nhuận độcquyền, để toàn bộ giai cấp tư sản cùng phân chia và chiếm hữu giá trị thặng dư Xét
ở góc độ xu thế lịch sử, cạnh tranh tăng lên tất yếu đưa đến sự tích tụ tư bản và tậptrung sản xuất, từ đó đẩy chủ nghĩ tư bản từ giai đoạn tự do cạnh tranh bước vàogiai đoạn độc quyền Nhưng độc quyền chẳng những xóa bỏ cạnh tranh, trái lại cònlàm cho cạnh tranh trở nên gay gắt hơn, mâu thuẫn cơ bản trong chủ nghĩa tư bảnchủ nghĩa theo đó ngày càng sâu sắc hơn Rõ ràng, điều lớn lao, sâu xa trong lý luậncạnh tranh của C Mác là ở chỗ ông không chỉ phân tích cạnh tranh ở góc độ hiệntượng kinh tế, mà còn đứng ở tầm cao quan điểm duy vật lịch sử và chủ nghĩa xãhội khoa học để quan sát, phân tích vai trò lịch sử và xu thế phát triển của cạnhtranh
Như vậy, cạnh tranh được hiểu dưới nhiều góc độ khác nhau, cạnh tranh là sản
Trang 9phẩm riêng của nền kinh tế thị trường, là linh hồn và là động lực cho sự phát triểncủa thị trường Cạnh tranh được mô tả ở các đặc trưng cơ bản sau:
Thứ nhất, khi nói đến cạnh tranh là nói đến sự ganh đua nhằm giành lấy phần
hơn phần thắng về mình giữa các chủ thế kinh doanh Khi đó phải tồn tại nhiềudoanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế và các hình thức sở hữu khác nhau Cácchủ thể có quyền tự do hành xử trên thị trường
Thứ hai, về mặt hình thức, cạnh tranh là sự ganh đua, sự kình địch giữa các
doanh nghiệp Nói cách khác, cạnh tranh suy cho cùng là phương thức giải quyếtmâu thuẫn về lợi ích tiềm năng giữa các nhà kinh doanh với vai trò quyết định củangười tiêu dùng Trong kinh doanh, lợi nhuận là động lực cho sự gia nhập thịtrường, là thước đo sự thành đạt và là mục đích hướng đến của các doanh nghiệp.Trong chu trình đó, khách hàng và người tiêu dùng có vai trò là đại diện cho thịtrường, quyết định giá trị thặng dư của xã hội sẽ thuộc về ai Mức độ đạt được lợinhuận của mỗi nhà kinh doanh sẽ tỷ lệ thuận với năng lực của bản thân họ trongviệc thỏa mãn nhu cầu khách hàng
Thứ ba, mục tiêu cạnh tranh là tìm kiếm lợi nhuận và nâng cao vị thế của doanh
nghiệp trên thương trường, đồng thời làm lành mạnh hoá các quan hệ xã hội
1.1.1.1 Phân loại cạnh tranh
Dựa vào các tiêu chí và giác độ nhiên cứu khác khác nhau thì cạnh tranhđược chia thành nhiều loại như sau:
(1) cạnh tranh quốc gia; (2) cạnh tranh nội bộ ngành và cạnh tranh giữa cácngành; (3) cạnh tranh giữa bên mua; (4) cạnh tranh giữa bên bán; (5) cạnh tranh giácả; (6) cạnh tranh phi giá cả… Để nghiên cứu hiệu lực của cơ chế thị trường, người
ta chú ý đến cạnh tranh hoàn hảo và cạnh tranh không hoàn hảo
Cạnh tranh quốc gia: Là hình thức cạnh tranh này thể hiện qua việc các quốc
gia nỗ lực để xây dựng môi trường kinh tế chung, ổn định, đảm bảo phân bố hiệuquả nguồn lực và duy trì mức tăng trưởng cao trong nền kinh tế và bền vững, manglại lợi ích cho các doanh nghiệp và công dân của nước mình Ở đây vấn đề cạnhtranh quốc gia rất được các chính phủ quan tâm và có ảnh hưởng sâu sắc tới các
Trang 10doanh nghiệp trong môi trường toàn cầu hóa kinh tế, nó tạo dựng lợi thế quốc gia,hình ảnh, thương hiệu của quốc gia.
Cạnh tranh của doanh nghiệp trong nội bộ ngành: Là sự canh tranh giữa các
doanh nghiệp trong cùng một ngành, cùng sản xuất ra một loại hàng hóa nhằmgiành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hóa có lợi hơn.Đây là một quá trình đấu tranh hoặc giành giật từ một hoặc một số đối thủ về kháchhàng, thị phần hay nguồn lực của các doanh nghiệp trong cùng một ngành để có thểtồn tại và phát triển ngành đó Trong lĩnh vực kinh doanh, một doanh nghiệp có thể
có nhiều sản phẩm nhưng việc cạnh tranh giữa các doanh nghiệp không đơn thuần
là tổng cạnh tranh của các sản phẩm mà nó còn bao gồm các yếu tố hạ tầng củadoanh nghiệp cũng như cách quản lý, khai thác và phát triển các yếu tố này
Cạnh tranh giữa các ngành: Là sự cạnh tranh trong các ngành sản xuất khác
nhau nhằm mục đích tìm nơi đầu tư có lợi hơn Hình thức cạnh tranh này diễn ragiữa các ngành trong nền kinh tế, từ việc thu hút, phân bổ nguồn lực đến cả việcphân chia thị trường Một biểu hiện hay được nhắc đến của cạnh tranh là việc cạnhtranh của sản phẩm thay thế Tuy nhiên nội dung đặc biệt quan trọng của cạnh tranhngành là việc thu hút và phân bổ nguồn lực có thể dẫn đến sự thay đổi kết cấungành, thậm chí ảnh hưởng trực tiếp đến sự tồn tại và phát triển của một ngành, mộtlĩnh vực trong nền kinh tế Về mặt lý thuyết, cạnh tranh ngành sẽ giúp xã hội phân
bổ nguồn lực một cách hợp lý và hiệu quả
Cạnh tranh giữa người sản xuất, doanh nghiệp sản xuất với nhau: Đây là
hình thức phổ biến nhất của cạnh tranh Theo hình thức này, các nhà sản xuất đấutranh với nhau để dành chỗ đứng trên thị trường (thị phần, kênh phân phối, sảnphẩm…) để có thể đạt được các mục tiêu ngắn hạn của mình và qua đó đảm bảo sựphát triển ổn định và bền vững
Cạnh tranh giữa người mua với nhau: Người mua ở đây không chỉ là người
tiêu dùng mà còn bao gồm cả các nhà sản xuất Theo hình thức này, những ngườimua, doanh nghiệp mua sẽ đấu tranh với nhau để có thể tiếp cận được nguồn hàng
ổn định cả về số lượng và chất lượng với mức giá thấp nhất Cường độ của hình
Trang 11thức cạnh tranh này phụ thuộc nhiều vào mối quan hệ cung cầu và sẽ tăng cao khicầu lớn hơn cung Hình thức này phổ biến trong những ngành kinh doanh mang tínhmùa vụ khi vào thời vụ tiêu dùng.
Cạnh tranh giữa người mua/doanh nghiệp mua với người bán/doanh nghiệp bán: Hình thức cạnh tranh này luôn xảy ra trong các hoạt động kinh tế Theo đó,
người mua luôn tìm mọi cách để mua được sản phẩm và dịch vụ tại mức giá thấpnhất với chất lượng, số lượng, chủng loại và điều kiện giao hàng thuận lợi nhấttrong khi người bán lại mong muốn điều ngược lại Lợi thế cạnh tranh trong trườnghợp này phụ thuộc nhiều vào mối quan hệ cung cầu, số lượng chủ thể tham gia giaodịch (người mua và người bán) cũng như mức độ quan trọng của sản phẩm, dịch vụđối với người mua
Cạnh tranh của sản phẩm: Đây là hình thức cạnh tranh phổ biến, diễn ra hầu
hết với các mặt hàng (dịch vụ) có nhiều hơn một nhà cung cấp Theo hình thức này,các doanh nghiệp sẽ cố gắng đầu tư từ khâu thiết kế, sản xuất (hoặc thực hiện), xâydựng thương hiệu sản phẩm đến hoạt động xúc tiến, phân phối và bán hàng sao chosản phẩm của mình dễ dàng xâm nhập thị trường so với sản phẩm (dịch vụ) cùngloại Xét trên một số khía cạnh, hình thức cạnh tranh này có nhiều điểm tương đồnggiữa doanh nghiệp và quy về hình thức cạnh tranh giữa người bán với nhau
1.1.1.2 Cạnh tranh doanh nghiệp và vai trò của nó trong nền kinh tế
Các công cụ doanh nghiệp thường sử dụng để cạnh tranh trên thị trường
Cạnh tranh bằng sản phẩm: Chữ tín của sản phẩm quyết định chữ tín của
doanh nghiệp và tạo lợi thế có tính quyết định trong cạnh tranh Doanh nghiệp cạnhtranh về sản phẩm thường thể hiện chủ yếu qua các mặt sau: Cạnh tranh về trình độcủa sản phẩm, cạnh tranh về chất lượng, cạnh tranh về bao bì, cạnh tranh về nhãnmác, uy tín sản phẩm, cạnh tranh do khai thác hợp lý chu kỳ sống của sản phẩm
Cạnh tranh về giá: Giá một trong các công cụ quan trọng cạnh tranh thường
được sử dụng trong giai đoạn đầu của doanh nghiệp khi doanh nghiệp bước vào mộtthị trường mới…Cạnh tranh về giá thường được thể hiện qua các biện pháp sau:
Trang 12kinh doanh với chi phí thấp, bán với mức giá hạ và mức giá thấp, chi phí về kinh tếthấp, khả năng bán hàng tốt do đó có khối lượng bán lớn, khả năng về tài chính tốt.
Hạ giá là phương pháp cuối cùng mà doanh nghiệp sẽ thực hiện trong cạnh tranhbởi hạ giá sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận của doanh nghiệp Doanh nghiệpcần phải lựa chọn thời điểm thích hợp để tiến hành sử dụng giá cả làm vũ khí cạnhtranh
Cạnh tranh về phân phối và bán hàng: Nó được thể hiện qua các nội dung
sau: khả năng đa dạng hóa các kênh chủ lực, có hệ thống bán hàng phong phú, códịch vụ bán hàng và sau bán hàng hợp lý, kết hợp giữa phương thức bán hàng vàthanh toán, có phương tiện bán văn minh, bảo đảm lợi ích giữa người bán và ngườimua…
Cạnh tranh về thời cơ thị trường: Doanh nghiệp nào dự báo được thời cơ thị
trường và nắm được thời cơ thị trường sẽ chiến thắng trong cạnh tranh Cạnh tranh
về thời cơ thị trường thể hiện ở chỗ doanh nghiệp dự báo được thay đổi của thịtrường
Cạnh tranh về không gian và thời gian: Khi mà giá cả của các doanh nghiệp
cạnh tranh trên thị trường chênh lệch là không lớn, chất lượng sản phẩm là tươngđối ổn định Trong trường hợp như vậy thời cơ và thời gian có vai trò quan trọng vàquyết định việc buôn bán Doanh nghiệp nào có trình độ buôn bán thuận tiện nhất,nhanh nhất sẽ chiến thắng trong cạnh tranh Song vấn đề chính là tạo lập được uytín giữa người mua và người bán
Vai trò của cạnh tranh
Trong lĩnh vực kinh tế thì cạnh tranh có vai trò rất quan trọng và là một trongnhững động lực mạnh mẽ nhất thúc đẩy sản xuất phát triển
Đối với nền kinh tế quốc dân
Cạnh tranh làm cho xã hội ngày càng tiến bộ, nâng cao chất lượng cuộc sống,giải quyết công ăn việc làm Đưa con người vào những tầm nhận thức cao hơn, tạo
điều kiện cho con người phát triển toàn diện Tính cạnh tranh giúp con người tìm
tòi, khám phá, phát minh phục vụ con người làm cho xã hội ngày càng văn minh
Trang 13Bên cạnh những lợi ích nói trên thì cạnh tranh cũng có nhiều mặt hạn chế, nhất
là cạnh tranh không lành mạnh cụ thể như: làm hàng giả, hàng nhái, gây ô nhiễmmôi trường, phân cực giàu nghèo, tệ nạn xã hội…
Đối với doanh nghiệp
Bất kỳ một doanh nghiệp nào cũng vậy, khi tham gia vào các hoạt động kinhdoanh trên thị trường thì đều muốn doanh nghiệp mình tồn tại và đứng vững Để tồntại và đứng vững các doanh nghiệp phải có những chiến lược cạnh tranh cụ thể vàlâu dài mang tính chiến lược ở cả tầm vi mô và vĩ mô Họ cạnh tranh để giànhnhững lợi thế về phía mình, cạnh tranh để giành giật khách hàng, làm cho kháchhàng tự tin rằng sản phẩm của doanh nghiệp mình là tốt nhất, phù hợp với thị hiếu,nhu cầu người tiêu dùng nhất Doanh nghiệp nào đáp ứng tốt nhu cầu của kháchhàng, kịp thời, nhanh chóng và đầy đủ các sản phẩm cũng như dịch vụ kèm theo vớimức giá phù hợp thì doanh nghiệp đó mới có khả năng tồn tại và phát triển
Việc cạnh tranh cũng giúp cho các doanh nghiệp hoàn thiện cơ cấu tổ chức,thúc đẩy nhân viên và lãnh đạo phát huy mọi ý tưởng của mình để tạo ra cho kháchhàng những giá trị vượt trội Tóm lại, là cạnh tranh vô hình giúp doanh nghiệp đứngvững và phát triển
Đối với ngành
Hiện nay đối với nền kinh tế nói chung và đối với ngành dây và cáp điệnnói riêng cạnh tranh đóng một vai trò rất quan trọng trong sự phát triển, nângcao chất lượng sản phẩm Cạnh tranh bình đẳng và lành mạnh sẽ tạo bước đàvững chắc cho mọi ngành nghề phát triển Cạnh tranh sẽ tạo bước đà và độnglực cho ngành phát triển trên cơ sở khai thác lợi thế và điểm mạnh của ngành
đó là thu hút được một nguồn lao động dồi dào và có thể khai thác tối đa nguồnlực đó Như vậy, trong bất cứ một hoạt động kinh doanh nào dù là có quy môhoạt động lớn hay quy mô hoạt động nhỏ, dù là hoạt động đó đứng ở tầm vĩ môhay vi mô thì không thể thiếu sự có mặt và vai trò của yếu tố cạnh tranh
Đối với sản phẩm
Trang 14Nhờ có cạnh tranh, mà sản phẩm sản xuất ra ngày càng được nâng cao vềchất lượng, phong phú về chủng loại, mẫu mã và kích cỡ Giúp cho lợi ích củangười tiêu dùng và của doanh nghiệp thu được ngày càng nhiều hơn Ngày nay cácsản phẩm được sản xuất ra không chỉ để đáp ứng nhu cầu trong nước mà còn cungcấp và xuất khẩu ra nước ngoài Qua những ý nghĩa trên ta thấy rằng cạnh tranhkhông thể thiếu sót ở bất cứ một lĩnh vực nào của nền kinh tế Cạnh tranh lànhmạnh sẽ thực sự tạo ra những nhà doanh nghiệp giỏi và đồng thời là động lực thúcđẩy nền kinh tế phát triển, đảm bảo công bằng xã hội Bởi vậy cạnh tranh là mộtyếu tố rất cần có sự hỗ trợ và quản lý của nhà nước để phát huy những mặt tíchcực và hạn chế những mặt tiêu cực như cạnh tranh không lành mạnh dẫn đến độcquyền và gây lũng loạn, xáo trộn thị trường.
1.1.2 Đặc điểm cạnh tranh của lĩnh vực phân phối.
Đặc điểm của ngành phân phối
Ngành phân phối là trung gian của sản suất và tiêu dùng nó được biểu hiệntrong mô hình sau:
Hình 1.1: Sơ đồ sản xuất và tiêu dùng (Nguồn: Giáo trình marketinh cơ bản)
Theo mô hình này ta nhận thấy sau khi sản xuất ra sản phẩm, hàng hóa cầnđược vận chuyển đến nơi tiêu thụ Phân phối hình thành để đáp ứng nhu cầu vậnchuyển hàng hóa, tiền bạc và thông tin Ngoài chức năng chuyển hàng hóa từ nơisản xuất đến nơi tiêu dùng như trên Phân phối còn có chức năng đặc biệt riêng sảnxuất và tiêu dùng như sau:
Đối với nhà sản xuất
• Bao phủ thị trường
• Có đội ngủ bán hàng tiếp cận khách hàng
• Lưu giữ hàng hoá
• Tiếp nhận và giải quyết đơn đặt hàng
• Nắm thông tin thị trường
• Dịch vụ khách hàng
Trang 15Đối với khách hàng:
• Đảm bảo luôn có sẵn hàng khi khách hàng cần
• Trưng bày hàng một cách tiện lợi
• Đáp ứng mọi yêu cầu khác nhau về số lượng
ty chuyên kinh doanh về phân phối
Đặc điểm về năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp kinh doanh phân phối
Năng lực cạnh tranh của ngành kinh doanh phân phối khác ở điểm đó là họ còncạnh tranh với nhau ngay cả việc lựa chọn nhà sản xuất danh tiếng Chỉ tiêu lựachọn được nhà sản xuất danh tiếng trên thị trường cũng làm cho doanh nghiệp kinhdoanh phân phối tăng cường được năng lục cạnh tranh, vì nhà sản xuất danh tiếngthường họ đưa ra tiêu chí để lựa chọn nhà phân phối cho sản phẩm của mình hết sứckhắt khe, phải nhà phân phối nào có uy tín, có tiềm lực đáp ứng được yêu cầu của
họ thì họ mới lựa chọn, chính vì vậy mà khi được nhà sản xuất danh tiếng lựa chọnthì năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp kinh doanh phân phối cũng sẽ được củng
cố Và thường thì các nhà sản xuất danh tiếng là những nhà sản xuất có sản phẩmnổi tiếng được nhiều khách hàng tin dùng, và khi được lựa chọn là nhà phân phốicho họ, thì nhờ vào các sản phẩm nổi tiếng đó mà uy tín của doanh nghiệp kinhdoanh phân phối sẽ tăng lên và làm cho năng lực cạnh tranh cũng từ đó mà tăng
Sự khác biệt nữa về năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp phân phối với cácdoanh nghiệp khác ở chỗ Doanh nghiệp kinh doanh phân phối họ chỉ được lựachọn thương hiệu của một nhà sản xuất và không được phân phối hàng cho đối thủcạnh tranh của nhà sản xuất mà doanh nghiệp đã lựa chọn để phân phối Cho nênviệc lựa chọn nhà sản xuất cho doanh nghiệp là hết sức phức tạp, đòi hỏi phải có sựtính toán kỹ lưỡng cho việc lựa chọn nhà sản xuất để phân phối Vì lựa chọn đượcnhà sản xuất uy tín chỉ là duy nhất và nó ảnh hưởng đến chu kỳ, quá trình kinhdoanh của doanh nghiệp phân phối Chọn được nhà sản xuất uy tín sẽ giúp tăng
Trang 16được năng lực cạnh tranh của mình trên thị trường Ngoài các công cụ để nâng caonăng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp nói chung như: Công cụ cạnh tranh bằnggiá cả, sản phẩm, uy tín thương hiệu, thì doanh nghiệp kinh doanh phân phối còn cócông cụ đó là mạng lưới và hệ thống phân phối, để nâng cao năng lực cạnh tranhcủa mình Nhà phân phối nào có mạng lưới phân phối được phân bổ đều đặn rộngkhắp trên tỉnh thành và hệ thống phân phối được bố trí khoa học sẽ giúp doanhnghiệp đó nâng cao được năng lực cạnh tranh.
Đặc điểm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp kinh doanh phân phối đó là sửdụng các nhà đại lý để phân phối sản phẩm cho mình, các nhà đại lý họ lại quan tâmđến chiết khấu cho một sản phẩm nhiều Chính vì vậy còn cạnh tranh chọn các nhàđại lý cho doanh nghiệp
Đặc điểm của lĩnh vực phân phối là trung gian giữa sản xuất và tiêu dùng,đặc điểm này còn phải phụ thuộc vào các tiêu chí mà nhà sản xuất đã đặt ra để lựachọn nhà phân phối cho mình, một nhà phân phối đáp ứng được các tiêu chí màdoanh nghiệp sản xuất đề ra chính tỏ nhà phân phối đó có ưu thế cạnh tranh hơn cácdoanh nghiệp khác nhất là khi Việt Nam đã là thành viên của tổ chức thương mạithế giới (WTO) thì sự cạnh tranh ngày càng gay gắt hơn rất nhiều, các tiêu chí này
sẽ ngày càng tăng cao, có rất nhiều các doanh nghiệp kinh doanh phân phối với tiềmlực kinh tế mạnh, uy tín và sẽ là cuộc chiến rất gay go giữa các doanh nghiệp trongnganh này
Doanh nghiệp phân phối là hoạt động ở khâu trung gian cùng trong chuỗilưu thông, do đó, giá bán là giá cuối cùng ( giá bán lẻ), giá bán cho người tiêudùng cuối cùng, cơ cấu giá bán lẻ của các doanh nghiệp phân phối bán lẻ nhưsau:
CƠ CẤU GIÁ BÁN LẺ HÀNH HÓACPSX+ LN của DNSX
(giá bán buôn của nhà sàn
xuất)
CPLT + LN cuả DNBB(Giá bán buôn thương
nghiệp)
CPLT + LN của DNPPBL
(giá bán lẻ)Quá trình phân tích cơ cấu giá bán lẻ như trên, ta thấy rõ đặc điểm cạnh tranhcủa các doanh nghiệp phân phối, tại các đầu vào, doanh nghiệp phân phối cạnh
Trang 17tranh trong quan hệ với nhà sản xuất, bán buôn để để đảm bảo cho nguần đầu vào
và giá cả thấp nhất (giá cung) Trong khi đó, cạnh tranh tại đầu ra giữa các nhà phânphối bán lẻ về giá bán lẻ ( cho người tiêu dùng) chính là chi phí lưu thông củadoanh nghiệp phân phối bán lẻ Đó chính là các chi phi như: vận chuyển, phân loại,đóng gói, lương nhân viên bán hàng, khấu hao, quảng bá sản phẩm
Hiện nay để làm giảm các chi phí lưu thông của các doanh nghiệp phân phối,ngoài các biện pháp thông thường như các loại hình doanh nghiệp kinh doanh khác,các doanh nghiệp phân phối bán lẻ muốn cho mức chi phí lưu thông hợp lý nhấtđều phải áp dụng mô hình kinh doanh theo chuỗi, chuỗi càng nhiều thì sẽ làm chochi phí lưu thông của doanh nghiệp phân phối giảm xuống Đây cũng là thành côngcủa rất nhiều doanh nghiệp phân phối trên thế giới
1.2 Năng lực cạnh tranh, tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh, nhân tố ảnh huởng và sự cần thiết nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiêp phân phối 1.2.1 Khái niệm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và các mô hình áp dụng để phân tích năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
1.2.1.1 Khái niệm năng lực cạnh tranh và các yếu tố cấu thành NLCT
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là thể hiện thực lực và lợi thế của
doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh trong việc thoả mãn tốt nhất các đòi hỏi củakhách hàng để thu lợi ngày càng cao hơn Như vậy, năng lực cạnh tranh của doanhnghiệp trước hết phải được tạo ra từ thực lực của doanh nghiệp Đây là các yếu tốnội hàm của mỗi doanh nghiệp, không chỉ được tính bằng các tiêu chí về công nghệ,tài chính, nhân lực, tổ chức quản trị doanh nghiệp… một cách riêng biệt mà cầnđánh giá, so sánh với các đối tác cạnh tranh trong hoạt động trên cùng một lĩnh vực,cùng một thị trường Sẽ là vô nghĩa nếu những điểm mạnh và điểm yếu bên trongdoanh nghiệp được đánh giá không thông qua việc so sánh một cách tương ứng vớicác đối tác cạnh tranh Trên cơ sở các so sánh đó, muốn tạo nên năng lực cạnhtranh, đòi hỏi doanh nghiệp phải tạo lập được lợi thế so sánh với đối tác của mình.Nhờ lợi thế này, doanh nghiệp có thể thoả mãn tốt hơn các đòi hỏi của khách hàng
Trang 18mục tiêu cũng như lôi kéo được khách hàng của đối tác cạnh tranh.
Thực tế cho thấy, không một doanh nghiệp nào có khả năng thỏa mãn đầy đủtất cả những yêu cầu của khách hàng Thường thì doanh nghiệp có lợi thế về mặtnày và có hạn chế về mặt khác Vần đề cơ bản là, doanh nghiệp phải nhận biết đượcđiều này và cố gắng phát huy tốt những điểm mạnh mà mình đang có để đáp ứng tốtnhất những đòi hỏi của khách hàng Những điểm mạnh và điểm yếu bên trong mộtdoanh nghiệp được biểu hiện thông qua các lĩnh vực hoạt động chủ yếu của doanhnghiệp như marketing, tài chính, sản xuất, nhân sự, công nghệ, quản trị, hệ thốngthông tin…Tuy nhiên, để đánh giá năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp, cầnphải xác định được các yếu tố phản ánh năng lực cạnh tranh từ những lĩnh vực hoạtđộng khác nhau và cần thực hiện việc đánh giá bằng cả định tính và định lượng Cácdoanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh ở những ngành, lĩnh vực khác nhau cócác yếu tố đánh giá năng lực cạnh tranh khác nhau Mặc dù vậy, vẫn có thể tổnghợp được các yếu tố đánh giá năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp bao gồm:giá cả sản phẩm và dịch vụ; chất lượng sản phẩm và bao gói; kênh phân phối sảnphẩm và dịch vụ bán hàng; thông tin và xúc tiến thương mại; năng lực nghiên cứu
và phát triển; thương hiệu và uy tín của doanh nghiệp; trình độ lao động; thị phầnsản phẩm doanh nghiệp và tốc độ tăng trưởng thị phần; vị thế tài chính; năng lực tổchức và quản trị doanh nghiệp
Nhiều doanh nghiệp hiện nay, thông qua phương pháp so sánh trực tiếp cácyếu tố nêu trên để đánh giá năng lực cạnh tranh của mình so với đối tác cạnh tranh.Đây là phương pháp truyền thống và phần nào phản ánh được năng lực cạnh tranhcủa doanh nghiệp Tuy nhiên, hạn chế của phương pháp này là không cho phépdoanh nghiệp đánh giá tổng quát năng lực cạnh tranh của mình với đối tác cạnhtranh mà chỉ đánh giá được từng mặt, từng yếu tố cụ thể Để khắc phục nhược điểmtrên, việc nghiên cứu vận dụng ma trận đánh giá các yếu tố môi trường nội bộ, qua
đó giúp doanh nghiệp so sánh năng lực cạnh tranh tổng thể của mình với các đối thủtrong ngành là một giải pháp mang tính khả thi cao
Tóm lại, nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là một tất yếu khách
Trang 19quan trong quá trình hội nhập kinh tế khu vực và thế giới Nếu không làm được điềunày, doanh nghiệp không chỉ thất bại trên “sân khách” mà còn gánh chịu những hậuquả tương tự trên chính “sân nhà” Để nâng cao năng lực cạnh tranh thì một trongnhững công việc mà doanh nghiệp cần làm là chủ động đánh giá thực lực kinhdoanh của mình và tìm ra những điểm mạnh cơ bản để phát huy những điểm mạnh
đó, nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong thị trường
Các yếu tố cấu thành năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Thứ nhất: Chiến lược cạnh tranh doanh nghiệp.
Trong quá trình phát triển sản xuất và lưu thông hàng hóa, các nhà sản xuấthoặc nhà phân phối đều muốn các sản phẩm của mình luôn được khách hàng lựachọn, họ sử dụng nhiều chách thức khác nhau để thu hút được khách hàng, và thực
tế đã cho thấy sự cạnh tranh ấy giữa các nhà cung ứng trên thị trwòng đã có từ rấtlâu Cạnh tranh là một trong những đặc trưng cơ bản của kinh tế thị trường Cạnhtranh được hiểu là quan hệ kinh tế mà ở đó các chủ thể kinh tế ganh đua nhau tìmmọi biện pháp, kể cả nghệ thuật hay thủ đoạn để đạt được mục tiêu kinh tế củamình, đầu tiên là chiếm lĩnh thị trường, giành lấy khách hàng cũng như các điềukiện sản xuất, thị trường có lợi nhất Mục đích cuối cùng của các chủ thể kinh tếtrong quá trình cạnh tranh là tối đa hóa lợi ích Đối với người sản xuất kinh doanh làlợi nhuận, đối với người tiêu dùng là lợi ích tiêu dùng và sự tiện lợi
Để giành lợi thế cạnh tranh trên thương trường các doanh nghiệp phải cóchiến lược cạnh tranh
Từ chiến lược xuất phát từ tiếng Hy Lạp (strategos) có nghĩa là một vị tướng.Theo nghĩa đen, từ này đề cập đến nghệ thuật lãnh đạo quân đội Ngày nay, người tadùng thuật ngữ này để mô tả những việc mà bất cứ tổ chức nào cũng phải thực hiệnnhằm đạt được mục tiêu và nhiệm vụ đã đề ra
Cho đến nay tồn tại nhiều khái niệm về chiến lược khác nhau Theo AlfredChandler, Đại học Havard thì chiến lược là xác định mục tiêu cơ bản dài hạn, chọnlựa tiến trình hoạt động và phân bổ các nguồn lực cần thiết để thực hiện mục tiêuđó
Trang 20Theo Jemes B Quinn thì chiến lược là nối kết các mục tiêu, chính sách, cácchuối hoạt động của doanh nghiệp thành một tổng thể.
TheoWilliam Glueck thì chiến lược là một kế hoạch thống nhất dễ hiểu, tổnghợp được soạn thảo để đạt được mục tiêu hay chiến lược là một kế hoạch mang tínhthống nhất, tính toàn diện và phối hợp được thiết kế để đảm bảo rằng các mục tiêu
cơ bản của doanh nghiệp sẽ được thực hiện
Theo Michael E Porter thì chiến lược là sự sáng tạo ra vị thế co giá trị độcđáo bao gồm các hoạt động khác biệt, là sự chon và đánh đổi trong cạnh tranh, vàchiến lược là việc tạo ra sự phù hợp giữa tất cả các hoạt động của công ty Michael
E Porter cũng cho rằng, chiến lược là sự tạo ra vị thế độc đáo và có giá trị bao gồm
sự khác biệt hóa (differentiation), sự lựa chọn mang tính đánh đổi nhằm tập trungnhất các nguồn lực (focus) để từ đó tạo ra ưu thế cho doanh nghiệp
Để xây dựng một chiến lược, doanh nghiệp cần trả lời ba câu hỏi lớn:
Thứ nhất, chúng ta đang ở đâu?
Thứ hai, chúng ta muốn đi đến đâu? Ngành kinh doanh cần thâm nhập và vị
trí thị trường, cần đạt được, nhu cầu người mua và các nhóm người mua cần phục
vụ, đầu ra cần đạt được
Thứ ba, chúng ta đến được vị trí mong muốn như thế nào? Câu trả lời cho
câu hỏi chúng ta đến được vị trí mong muốn như thế nào cũng chính là nội dungchiến lược của doanh nghiệp
Trong cạnh tranh thì chiến lược là hành động để doanh nghiệp chiến thắngchính mình và chiến thắng các đối thủ trên thương trường Trong quá trình đó,doanh nghiệp cần phải trả lời những câu hỏi chủ yếu sau: năng lực của doanhnghiệp có gì nổi trội? (các giá trị gia tăng nội sinh, ngoại sinh của sản phẩm, nănglực lõi của doanh nghiệp), môi trường xung quanh như thế nào?, tổ chức sẽ thay đổinhư thế nào để quản lý chiến lược cạnh tranh thành công? Văn hóa tổ chức cần phảinhư thế nào để quản lý chiến lược thành công? Vai trò người lãnh đạo trong quản lýchiến lược?
Một doanh nghiệp cần chiến lược cạnh tranh khi doanh nghiệp đó có các đối
Trang 21thủ cạnh tranh và cần những công cụ làm khác biệt khả năng cạnh tranh Để trở nêntốt hơn và đánh bại sự cạnh tranh của đối thủ là mục tiêu của chiến lược cạnh tranh.Chiến lược cạnh tranh doanh nghiệp có thể hiểu đơn giản là cách mà doanh nghiệptrên thực tế cạnh tranh như thế nào Michael E Porter, trong tác phẩm kinh điển
“Chiến lược cạnh tranh” của mình cho rằng “Chiến lược cạnh tranh là sự kết hợp của các mục tiêu mà doanh nghiệp đang hướng tới và những phương tiện (chính sách) mà nó sử dụng để thực hiện các mục tiêu”.
Mục đích của mọi chiến lược cạnh tranh là để doanh nghiệp chiến thắngtrong các cuộc cạnh tranh và giành được vị trí tốt nhất trên thị trường Do đó, chiếnlược cạnh tranh liên quan đến việc định vị cho một doanh nghiệp để doanh nghiệp
ấy phát huy tối đa những nguồn lực hiện có, tranh thủ các nguồn lực bên ngoài đểlàm nên sự khác biệt giữa bản thân doanh nghiệp và những đối thủ cạnh tranh trênthị trường
Chiến lược cạnh tranh của doanh nghiệp là tập hợp những mục tiêu và cácchính sách cũng như các kế hoạch chủ yếu để đạt được mục tiêu đó Chiến lượccạnh tranh cho thấy rõ doanh nhiệp tồn tại vì mục tiêu gì, doanh nghiệp tồn tại tronglĩnh vực nào và định hướng phát triển của doanh nghiệp là gì
Một chiến lược phát triển sản xuất kinh doanh phải có bốn yếu tố: Mục tiêu chiếnlược, phạm vi chiến lược, lợi thế cạnh tranh và các hoạt động chiến lược, năng lựccốt lõi Mục tiêu chiến lược sẽ dóng vai trò định hướng cho hoạt động của doanhnghiệp, lựa chọn mục tiêu gì có ảnh hưởng tới doanh nghiệp Một doanh nghiệp lựachọn lợi nhuận cao thì mục tiêu chiến lược sẽ tập trung vào phục vụ các khách hànghay phân khúc thị trường đem lại lợi nhuận cao bằng các sản phẩm có giá trị giatăng cao hoặc hiệu suất chi phí vượt trội, hoặc lựa chọn mục tiêu tăng trưởng có thểdẫn dắt doanh nghiệp phải đa dạng hóa các sản phẩm để thu hút khách hàng ở nhiềuphân đoạn thị trường khác nhau Mục tiêu quan trọng nhất mà doanh nghiệp thườnghướng tới là lợi nhuận cao và bền vững; ngoài ra còn có mục tiêu tăng trưởng thịphần, chất lượng sản phẩm
Một chiến lược cạnh tranh hiệu quả không tập trung thỏa mãn tất cả các nhu cầu ở
Trang 22tất cả các phân khúc thị trường vì nếu như vậy doanh nghiệp sẽ phân tán nguồn lực.
Vì vậy doanh nghiệp cần đặt ra phạm vi chiến lược cho mình về khách hàng, về sảnphẩm, địa bàn phục vụ để có sự tập trung và thỏa mãn tốt nhất nhu cầu của kháchhàng Điều này đòi hỏi doanh nghiệp cần có sự am hiểu thị trường, am hiểu kháchhàng và lợi thế của doanh nghiệp
Để giành phần thắng trong cạnh tranh trên phân khúc thị trường đã chọn, sảnphẩm của doanh nghiệp phải có lợi thế duy nhất hoặc vượt trội so với đối thủ cạnhtranh Chính vì vậy, việc xác định và tạo dựng lợi thế cạnh tranh là vấn đề trung tâmcủa chiến lược Có những doanh nghiệp xác định lợi thế cạnh tranh là chi phí, là sựkhác biệt của sản phẩm nhưng cũng có những doanh nghiệp lại xác định khách hàngmục tiêu của họ thực sự đánh giá cao cái gì, họ xác định các yếu tố mà khách hàngmục tiêu sẵn sàng bỏ tiền ra để mua sản phẩm của doanh nghiệp như giá, chấtlượng
Thứ hai: Trình độ khoa học công nghệ, kỹ thuật
Công nghệ kỹ thuật và máy móc thiết bị là một bộ phận chủ yếu trong tài sản
cố định, nó là những cơ sở vật chất kỹ thuật chủ yếu quyết định năng lực sản xuấtcủa doanh nghiệp, là nhân tố đảm bảo năng lực cạnh tranh Nếu công nghệ, máymóc thiết bị lạc hậu, trình độ thấp kém sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất, chấtlượng sản phẩm Vì vậy, các doanh nghiệp phải áp dụng các công nghệ phù hợp,vừa đảm bảo tạo ra sản phẩm có chất lượng phù hợp nhu cầu thị trường, vừa có chiphí sản xuất thấp Điều này đòi hỏi doanh nghiệp phải có kinh nghiệm và kỹ nănghoạt động trên thị trường công nghệ, có đội ngũ người lao động có trình độ chuyênmôn cao và có môi trường khuyến khích người lao động sáng tạo, phát huy sángkiến trong quá trình tham gia lao động sản xuất
Nguồn lực vật chất kỹ thuật sẽ phản ánh thực lực của doanh nghiệp với đối thủ cạnhtranh về trang thiết bị hiện có được tận dụng và khai thác trong quá trình hoạt độngnhằm đạt được các mục tiêu đề ra Bởi vì: trình độ máy móc, thiết bị và công nghệ
có ảnh hưởng mạnh mẽ tới khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp Một doanhnghiệp có hệ thống trang thiết bị máy móc, công nghệ hiện đại thì các sản phẩm của
Trang 23doanh nghiệp nhất định sẽ được bảo toàn về chất lượng khi đến tay người tiêu dùng.
Hệ thống máy móc hiện đại sẽ làm ra nhiều sản phẩm, giảm chi phí không cần thiết,tăng nhanh vòng quay về vốn Như vậy, việc áp dụng công nghệ hiện đại, máy móctối ưu sẽ có ảnh hưởng đến giá thành cũng như ảnh hưởng đến giá bán sản phẩm.Hiện nay, doanh nghiệp sản xuất cáp điện có công nghệ sản xuất tiên tiến là một lợithế trong cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong ngành tạo ra sản phẩm có chấtlượng cao, giá thành hạ Ngoài ra công nghệ tiên tiến còn góp phần vào việc bảo vệmôi trường, đây cũng là một lợi thế so với đối thủ cạnh tranh
Thứ ba: Năng lực quản lý và chất lượng nhân lực
Con người là yếu tố quyết định thành bại của hoạt động kinh doanh Bởi vậy,doanh nghiệp phải chú ý việc sử dụng con người, phát triển nhân sự, xây dựng môitrường văn hóa Đồng thời doanh nghiệp phải quan tâm đến các chỉ tiêu rất cơ bảnnhư số lượng lao động, trình độ nghề nghiệp, năng suất lao động, thu nhập bìnhquân, năng lực của cán bộ quản lý
Con người là yếu tố chủ chốt, là tài sản quan trọng và có giá trị cao nhất của doanhnghiệp Bởi chỉ có con người mới có đầu óc và sáng kiến để sáng tạo ra sản phẩm,chỉ có con người mới tạo được uy tín và hình ảnh của doanh nghiệp mà tất cả nhữngyếu tố này hình thành nên khả năng cạnh tranh Vậy muốn nâng cao khả năng cạnhtranh của mình doanh nghiệp phải chú ý quan tâm đến tất cả mọi người trong doanhnghiệp, từ những người lao động bậc thấp đến nhà quản trị cấp cao nhất, bởi mỗingười đều có một vị trí quan trọng trong các hoạt động kinh doanh của doanhnghiệp Những người lãnh đạo họ chính là những người cầm lái con tầu doanhnghiệp, họ là những người đứng mũi chịu sào trong mỗi bước đi của doanh nghiệp,
họ là người có quyền lực cao nhất và trách nhiệm thuộc về họ cũng là nặng nề nhất
Họ chính là những người xác định hướng đi và mục tiêu cho doanh nghiệp, cònthực hiện quyết định của họ là những nhân viên dưới quyền Trong bất cứ mộtdoanh nghiệp nào, chỉ có những nhà lãnh đạo giỏi vẫn chưa đủ, vẫn chỉ có người raquyết định mà chưa có người thực hiện những quyết định đó Bên cạnh đó phải cómột đội ngũ nhân viên giỏi cả về trình độ và tay nghề, có óc sáng tạo, có trách
Trang 24nhiệm và có ý thức trong công việc Có như vậy thì họ mới tạo ra được những sảnphẩm có chất lượng tốt mang tính cạnh tranh cao
Thứ tư, năng lực tài chính của các doanh nghiệp
Năng lực tài chính của doanh nghiệp được thể hiện ở quy mô vốn, khảnăng huy động và sử dụng vốn có hiệu quả, năng lực quản lý tài chính… trongdoanh nghiệp
Trước hết, năng lực tài chính gắn với vốn – là một yếu tố sản xuất cơ bản và làmột đầu vào của doanh nghiệp Do đó, sử dụng vốn có hiệu quả, quay vòng vốnnhanh… có ý nghĩa rất lớn trong việc làm giảm chi phí vốn, giảm giá thành sảnphẩm Đồng thời, vốn còn là tiền đề đối với các yếu tố sản xuất khác
Việc huy động vốn kịp thời nhằm đáp ứng vật tư, nguyên liệu, thuê nhân công,mua sắm thiết bị, công nghệ, tổ chức hệ thống bán lẻ… Như vậy, năng lực tài chínhphản ánh sức mạnh kinh tế của doanh nghiệp, là yêu cầu đầu tiên, bắt buộc phải cónếu muốn doanh nghiệp thành công trong kinh doanh và nâng cao năng lực cạnhtranh
Để nâng cao năng lực tài chính, doanh nghiệp phải củng cố và phát triểnnguồn vốn, tăng vốn tự có, mở rộng vốn vay dưới nhiều hình thức Đồng thời, điềuquan trọng là doanh nghiệp phải sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn, hoạt độngkinh doanh có hiệu quả để tạo uy tín đối với khách hàng, với ngân hàng và nhữngngười cho vay vốn
Công cụ cạnh tranh khác nhau
- Dịch vụ sau bán hàng
Hoạt động tiêu thụ sản phẩm cua doanh nghiệp không dừng lại sau lúc bánhàng thu tiền của khách hàng mà để nâng cao uy tín và chịu trách nhiệm đến cùngđối với người tiêu dùng về sản phẩm của doanh nghiệp mình cung cấp cần phải làmtốt các dịch vụ sau bán hàng như:
+ Cam kết thu lại sản phẩm và hoàn trả tiền cho khách hàng hoặc đổi lại hàngnếu như sản phẩm không theo đúng yêu cầu của khách hàng
+ Cam kết bảo hành trong thời gian nhất định, qua các dich vụ sau bán hàng,
Trang 25doanh nghiệp sẽ nắm bắt được sản phẩm của mình bán ra có đáp ứng được nhu cầucủa ngưởi tiêu dùng hay không.
1.2.1.2 Mô hình vận dụng nâng cao cạnh tranh của doanh nghiệp
Mô hình năm áp lực
Từ cách tiếp cận quản trị chiến lược, nhà kinh tế học Michael E Porter đãphân tích mô hình 5 áp lực cạnh tranh ( Sơ đồ 1.3) Michael E.Porter cho ràng” Khảnăng, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp được thể hiện qua khả năng phát huycác năng lực độc đáo của mình trước các áp lực cạnh tranh từ các đối thủ: đối thủtiểm năng, đối thủ hiện tại, sản phẩm thay thế, nhà cung cấp và kể cả từ kháchhàng”
Những đối thủ mới tiềm năng
Nguy cơ từ những đốithủ mới
Những đối thủ cạnh tranh trog ngành
Cạnh tranh giữa cácđối thủ hiện hữu
Năng lực đàmphán củangười mua
Năng lựcđàm phàncủa nhàcung cấp
Áp lực
nhà cung
cấp
Ap lực từgười mua
Nguy cơ của sản phẩm/
dịch vụ thay thê
Sản phẩm thay thế
Sơ đồ 1.3 Năm áp lực cạnh tranh.
Áp lực cạnh tranh của nhà cung cấp
- Số lượng, qui mô nhà cung cấp sẽ quyết định áp lực cạnh tranh, quyềnlực đàm phán của họ đối với ngành, với doanh nghiệp Nếu trên thị trường chỉ có
Trang 26vài nhà cung cấp có qui mô lớn sẽ tạo áp lực cạnh tranh, ảnh hưởng đến hoạt độngSXKD của doanh nghiệp.
- Khả năng thay thế sản phẩm của nhà cung cấp thể hiện ở khả năngthay thế những nguyên liệu đầu vào do các nhà cung cấp và chi phí chuyển đổi nhàcung cấp
- Các nhà cung cấp thường gây các áp lực nhất định nếu họ có qui mô,
sự tập hợp và việc sở hữu các nguồn lực quí hiếm đối với doanh nghiệp đặc biệt làđối với doanh nghiệp nhỏ lẻ
Áp lực cạnh tranh từ khách hàng
Khách hàng là một áp lực cạnh tranh có thể ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt độngSXKD của doanh nghiệp Khách hàng có thể phân thành 2 nhóm: khách hàng lẻ vànhà phân phối Cả hai nhóm này đều gây áp lực đối với doanh nghiệp về giá cả, chấtlượng sản phẩm, dịch vụ đi kèm và chính họ là người điều khiển cạnh tranh giữacác doanh nghiệp với nhau thông qua quyết định mua hàng
Áp lực cạnh tranh từ các đối thủ tiềm ẩn
Các đối thủ tiềm ẩn là các doanh nghiệp hiện chưa có mặt trong ngành nhưng
có thể ảnh hưởng đến doanh nghiệp trong tương lai Đối thủ tiềm ẩn nhiều hay ít, áplực của họ mạnh hay yếu sẽ phụ thuộc vào các yếu tố: thứ nhất là sức hấp dẫn củangành thể hiện qua các chỉ tiêu tỷ suất sinh lợi, số lượng khách hàng, số lượngdoanh nghiệp trong ngành; thứ hai đó là những rào cản gia nhập ngành, đây lànhững yếu tố làm cho việc gia nhập ngành khó khăn, tốn kém hơn Ví dụ: rào cản
về kỹ thuật; vốn; các yếu tố thương mại như hệ thống phân phối, thương hiệu, hệthống khách hàng; và các nguồn lực đặc thù
Áp lực từ sản phẩm thay thế
Sản phẩm, dịch vụ thay thế là những sản phẩm, dịch vụ có thể thỏa mãn nhucầu tương đương với các sản phẩm mà doanh nghiệp cung cấp Các sản phẩm thaythế này sẽ đe dọa trực tiếp các sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp khi cung cấptrên thị trường
Áp lực cạnh tranh từ các đối thủ hiện tại
Các doanh nghiệp cùng kinh doanh một loại sản phẩm dịch vụ trong ngành
Trang 27sẽ cạnh tranh trực tiếp với nhau tạo ra sức ép trở lại lên ngành tạo nên một cường độcạnh tranh Trong một ngành, các yếu tố sau sẽ làm tăng sức ép cạnh tranh của cácđối thủ bao gồm: tình trạng ngành (nhu cầu, tốc độ tăng trưởng, số lượng đối thucạnh tranh), cấu trúc ngành (tập trung hay phân tán) và các rào cản rút lui (rào cản
về công nghệ, vốn đầu tư; ràng buộc với người lao động; ràng buộc với Chính phủ
và các tổ chức liên quan (stakeholder); ràng buộc chiến lược, kế hoạch
Ưu điểm của mô hình này cho phép phân tích đầy đủ các áp lực tác động đếndoanh nghiệp từ các đối thủ cạnh tranh, các nhà cung cấp, các đối thủ tiềm ẩn, đếnkhách hàng cũng như các sản phẩm thay thế sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới năng lựccạnh tranh của doanh nghiệp Mô hình này giúp cho việc phân tích khá sâu, rộngđến mọi khía cạnh tác động trực tiếp đến doanh nghiệp đòi hỏi người phân tích phải
có kiến thức bao quát với việc thu thập thông tin chính xác sẽ đem lại hiệu quả phântích cao
Mô hình năm nguần áp lực của Michael E Porter thể hiện rất rõ trong cạnhtrành doanh nghiệp thông qua phân tích về các đặc điểm ở phần trên của doanhnghiệp được phân tích như sau
Ma trận SWOT
Ma trận phân tích SWOT là một công cụ rất hữu dụng cho việc nắm bắt và raquyết định trong mọi tình huống đối với bất cứ tổ chức nào SWOT viết tắt của 4chữ Strengths (những điểm mạnh), Weaknesses (những điểm yếu), Opportunities(các cơ hội) và Threats (các nguy cơ) SWOT cung cấp một công cụ phân tích chiếnlược, rà soát và đánh giá vị trí, định hướng năng lực kinh doanh hoặc cạnh tranh củamột một doanh nghiệp SWOT là một kỹ thuật phân tích rất tốt trong việc xác địnhĐiểm mạnh, Điểm yếu để từ đó tìm ra Cơ hội và Nguy cơ Để xây dựng ma trậnSWOT cần phải liệt kê tất cả các điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức thôngqua ma trận theo các thứ tự ưu tiên Tiếp đó là phối hợp tạo ra các nhóm tương ứngvới mỗi nhóm này là các phương án chiến lược cạnh tranh
Mô hình kim cương
Trang 28Theo M.E Porter, các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh bao gồm:các điều kiện đầu vào; các điều kiện về cầu; các ngành liên quan và các ngành hỗtrợ; chiến lược và cấu trúc mức độ cạnh tranh; và tác động của nhà nước Các yếu tốnày đã được M.E Porter khái quát hóa trong Mô hình Kim cương
(Hình 1.3) về năng lực cạnh tranh Mô hình này được trình bày trông giống nhưviên kim cương, được các nhà kinh tế học thường sử dụng để phân tích các yếu tốcạnh tranh
1.2.2 Các tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Trong một số ngành, cấu trúc ngành hoặc các chiến lược của các đối thủ sẽchiệt tiêu khả năng thực hiện hay nhiều chiến lược tổng quát Tuy nhi ên, trongnhiều ngành khác nhau thì cả 3 chiến lược tổng quát đều có thể cùng tồn tại mộtcách thuận lợi, các doanh nghiệp theo đuổi các chiến lược khac nhau hoặc lựa trọnnhững cơ sở khác nhau khi thực hiện khác biệt hóa hoặc tập trung
Cách hiểu chung về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng duy trì,nâng cao lợi thế cạnh tranh trong việc sản xuất tiêu thụ sản phẩm, chiếm lĩnh thịtrường, thu hút, sử dụng có hiệu quả các yếu tố sản xuất ( vốn, sức lao động, kỹthuật – công nghệ….) nhằm đạt tới lợi ích kinh tế cao nhất ( tối đa hóa lợi nhuận) vàphát triển bền vững Cạnh tranh nhằm diễn ra cả ở trong lĩnh vực sản xuất lẫn tronglĩnh vực trao đổi và trên thị trường
Năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp phân phối bán lẻ là khả năng kếtnối giữa nhà sản xuất với người tiêu dùng nhanh nhất, nhiều nhất, chi phí lưu thôngthấp nhất thúc đẩy được sản xuất phát triển và làm hài lòng người tiêu dùng Doanhnghiệp phân phối bán lẻ là đầu ra của nhà sản xuất và nơi gửi gắm niềm tin củakhách hàng
Thứ nhất, hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp
Hiệu quả kinh doanh là tiêu chí quan trọng thể hiện mục tiêu cuối cùng củadoanh nghiệp Nó phản ánh hiệu quả sử dụng các nguồn lực (tài chính, nhân lực,năng lực quản lý điều hành, ứng dụng khoa học kỹ thuật ) Hiệu quả kinh doanhcủa doanh nghiệp thể hiện qua một số chỉ tiêu sau:
Trang 29- Chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận trên vốn kinh doanh
Chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận trên vốn kinh doanh =
Lợi nhuận ( hoặc sau thuế)
Vốn kinh doanhChỉ tiêu này cho biết mức sinh lời của một đồng vốn bỏ ra, từ đó đánh giá hiệu quả
sử dụng vốn kinh doanh
- Chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận trên vốn lưu động
Chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận trên vốn lưu động =
Lợi nhuận trước ( hoặc sau thuế)
Vốn lưu độngChi tiêu này cho thấy sự sinh lời của vốn lưu động
- Chỉ tiêu tỷ suất lợi trên vốn cố định
Chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận trên vốn cố định =
Lợi nhuận trước ( hoặc sau thuế)
Vốn cố địnhChi tiêu này cho thấy mức sinh lời của vốn cố định
- Chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu
Chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu =
Lợi nhuận trước ( hoặc sau thuế)
Doanh thuChỉ tiêu này phản ánh mức độ thu lợi nhuận của hoạt động bán hàng khi bán một
đơn vị doanh thu thu được bao nhiêu lợi nhuận
- Chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận trên chi phí sản xuất kinh doanh
Tỷ suất lợi nhuận trên chi phí sản xuất
kinh doanh =
Lợi nhuận trước ( hoặc sau thuế)
Tổng chi phí sản xuất kinh doanhChỉ tiêu này phản ánh doanh nghiệp thu được bao nhiêu lợi nhuận khi bỏ ra
một đơn vị chi phí
Các chỉ tiêu trên càng cao biểu hiện hiệu quả kinh doanh của đơn vị càng cao
và theo đó thể hiện năng lực cạnh tranh của đơn vị càng lớn
Thứ hai: Quy mô về vốn, khả năng huy động và sử dụng vốn của doanh nghiệp
Vốn là yếu tố số một của mọi hoạt động sản xuất kinh doanh Nguồn lực tài
chính được thể hiện ở quy mô vốn tự có, khả năng huy động các nguồn vốn phục vụ
Trang 30sản xuất kinh doanh và hiệu quả sử dụng các nguồn vốn đó Quy mô vốn tự có phụthuộc quá trình tích luỹ của doanh nghiệp Nếu doanh nghiệp hoạt động có hiệuquả, lợi nhuận hàng năm cao, phần lợi nhuận để lại tái đầu tư cho sản xuất kinhdoanh sẽ lớn và quy mô vốn tự có sẽ tăng Doanh nghiệp có quy mô vốn tự có lớncho thấy khả năng tự chủ về tài chính và chiếm được lòng tin của nhà cung cấp, chủđầu tư và khách hàng… Doanh nghiệp nên phấn đấu tăng vốn tự có lên một mứcnhất định đủ đảm bảo khả năng thanh toán nhưng vẫn đủ kích thích để doanhnghiệp tận dụng đòn bẩy tài chính làm tăng lợi nhuận
Để đáp ứng các yêu cầu về vốn cho sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp cóthể huy động vốn từ rất nhiều nguồn, chiếm dụng tạm thời của các nhà cung cấp,hoặc khách hàng, vay các tổ chức tài chính hoặc huy động vốn trên thị trườngchứng khoán Khả năng huy động vốn của doanh nghiệp phụ thuộc vào mối quan hệcủa doanh nghiệp với các bên cung ứng vốn và sự phát triển của thị trường tàichính Nếu thị trường tài chính phát triển mạnh, tạo được nhiều kênh huy động vớinhững công cụ phong phú sẽ mở ra nhiều cơ hội đầu tư phát triển cho doanh nghiệp.Lựa chọn phương thức huy động vốn hợp lý sẽ tạo điều kiện cho doanh nghiệp tăngcường sức mạnh tài chính
Mặt khác, để đánh giá năng lực tài chính của doanh nghiệp cũng cần xem xétkết cấu vốn cố định và vốn lưu động của doanh nghiệp Kết cấu vốn hợp lý sẽ có tácdụng đòn bẩy góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn Có những doanh nghiệp cóquy mô vốn lớn nhưng không mạnh, đó là do kết cấu tài sản và nguồn vốn khôngphù hợp với quy mô và đặc điểm sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp đó chưa biếtcách khai thác và sử dụng có hiệu quả nguồn lực tài chính của mình Ngược lại, cónhững doanh nghiệp có quy mô vốn không lớn nhưng vẫn được coi là mạnh vìdoanh nghiệp đó đã duy trì được tình trạng tài chính tốt, biết cách huy động nhữngnguồn tài chính thích hợp để sản xuất những sản phẩm đáp ứng các nhu cầu của thịtrường mục tiêu Một doanh nghiệp có tiềm lực tài chính mạnh sẽ có điều kiệnthuận lợi trong đổi mới công nghệ, đầu tư trang thiết bị, nâng cao chất lượng, hạ giáthành sản phẩm, giữ vững được sức cạnh tranh và củng cố vị thế của mình trên thị
Trang 31Thứ ba, thị phần và khả năng chiếm lĩnh thị trường
Thị phần là phần thị trường tiêu thụ sản phẩm mà doanh nghiệp chiếm lĩnh
Độ lớn của chỉ tiêu này phản ánh sức cạnh tranh của sản phẩm và vị trí của doanhnghiệp trên thị trường Một mặt hàng có thị phần càng lớn trên thị trường thì mặthàng đó càng có sức cạnh tranh cao, tiềm năng cạnh tranh lớn Ngược lại một mặthàng có thị phần nhỏ hay giảm sút trên thị trường thì mặt hàng đó có sức cạnh tranhyếu, khả năng ảnh hưởng của mặt hàng đối với thị trường là kém
Khi số lượng đối thủ cạnh tranh tăng lên, việc mở rộng thị phần chính là làm mọicách để giành lấy thị phần mà đối thủ đang nắm giữ Có bốn cách cơ bản có thể cảithiện thị phần của doanh nghiệp:
(i) Cải thiện sản phẩm để có sản phẩm tốt hơn so với đối thủ cạnh tranh;
(ii) (ii) Thay đổi giá hoặc ưu đãi đặc biệt cho người mua;
(iii) Sử dụng phương pháp mới để phân phối sản phẩm để người mua có thể mua sản phẩm ở nhiều nơi hơn;
(iv) Quảng cáo và quảng bá sản phẩm
Tăng thị phần không phải lúc nào cũng là giải pháp tốt nhất cho các doanhnghiệp Doanh nghiệp có thể không thu được lợi nhuận nếu mở rộng thị phần đượckết hợp với quảng cáo đắt tiền hoặc một mức giảm giá lớn Một doanh nghiệp cóthể không có khả năng đáp ứng nhu cầu của việc gia tăng thị phần mà không cầnđầu tư rất lớn trong trang thiết bị và nhân viên mới Quản lý thị phần là một khíacạnh rất quan trọng trong quản lý một doanh nghiệp
Thị phần của doanh nghiệp so với các đối thủ khác nói lên sức mạnh màdoanh nghiệp có thể giành được trong cạnh tranh Để so sánh quy mô kinh doanh và
vị thế trên thị trường thì việc so sánh thị phần các sản phẩm dịch vụ chính củadoanh nghiệp là chỉ tiêu quan trọng mà doanh nghiệp cần phải so sánh, phân tích,đánh giá Thị phần của doanh nghiệp thường được xác định về mặt hiện vật (khốilượng sản phẩm) và về mặt giá trị (doanh thu)
Trong cùng một môi trường, doanh nghiệp có thị phần lớn là biểu hiện cụ thể
về năng lực cạnh tranh Trong một thị trường đang tăng trưởng, việc duy trì tăng thị
Trang 32phần sẽ làm tăng doanh thu cùng nhịp với tốc độ tăng trưởng thị trường Trong mộtthị trường trì trệ hoặc xuống dốc, việc tăng doanh thu đòi hỏi phải tăng thị phần.
Thứ tư, chất lượng sản phẩm, dịch vụ sau bán hàng.
Ngày nay, chất lượng sản phẩm đã trở thành một công cụ cạnh tranh quantrọng của các doanh nghiệp trên thị trường Chất lượng sản phẩm càng cao tức làmức độ thoả mãn nhu cầu càng cao, dẫn tới đẩy mạnh tốc độ tiêu thụ, làm tăng khảnăng trong thắng thế trong cạnh tranh của doanh nghiệp Trong điều kiện hiện nay,mức sống của người dân ngày càng được nâng cao, tức là có nhu cầu, khả năngthanh toán của người tiêu dùng tăng lên thì sự cạnh tranh bằng giá cả đã và sẽ có xuhướng nhường vị trí cho sự cạnh tranh bằng chất lượng
Chất lượng sản phẩm là tập hợp các thuộc tính của sản phẩm trong điều kiện nhấtđịnh về kinh tế, kỹ thuật Chất lượng là một chỉ tiêu tổng hợp thể hiện ở nhiều mặtkhác nhau, tính cơ lý hoá đúng như các chỉ tiêu quy định, hình dáng, mầu sắc hấpdẫn Với mỗi loại sản phẩm khác nhau, vấn đề đặt ra là doanh nghiệp phải luôn luôngiữ vững và không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm Đó là điều kiện không thểthiếu nếu doanh nghiệp muốn giành được thắng lợi trong cạnh tranh, nói một cáchkhác, chất lượng sản phẩm là vấn đề sống còn đối với doanh nghiệp Khi chất lượngkhông còn được đảm bảo, không thoả mãn nhu cầu khách hàng thì ngay lập tứckhách hàng sẽ rời bỏ doanh nghiệp
Dịch vụ là một loại sản phẩm vô hình Khách hàng nhận được sản phẩm nàythông qua các hoạt động giao tiếp, nhận thông tin và cảm nhận Đặc điểm nổi bật làkhách hàng chỉ có thể đánh giá được toàn bộ chất lượng của những dịch vụ sau khi
Độ chính xác của thông tin: Khách hàng sẽ vô cùng hài lòng nếu như họ nhận
Trang 33được những thông về dịch vụ, hay nội dung của dịch vụ là chính xác Những việcthổi phồng thông tin, tô vẽ hình ảnh sẽ chỉ làm cho khách hàng khó sử dụng dịch vụcủa doanh nghiệp trong tương lai.
Thái độ giao tiếp: Nhiều khi, những khó khăn hay trắc trở khi đảm bảo chất
lượng của dịch vụ sẽ được khách hàng cảm thông và thấu hiểu khi nhận được thái
độ giao tiếp của người cung cấp dịch vụ
Thứ năm, thương hiệu và Marketing
Hiện nay, hoạt động Marketing đã trở thành một trong những hoạt động quyếtđịnh sự sống còn, tồn tại của bất kì doanh nghiệp nào, từ quy mô nhỏ cho đến tậpđoàn lớn Marketing không chỉ là phát tờ rơi, quảng cáo trên ti vi, các đợt khuyếnmãi… mà nó là một quy trình từ nghiên cứu thị trường cho đến giai đoạn chăm sóckhách hàng Marketing giúp cho doanh nghiệp tạo ra lợi nhuận, thị phần và đặc biệt
là tạo ra lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp Chỉ khi doanh nghiệp tạo ra lợi thếcạnh tranh thì doanh nghiệp mới phát triển và đạt được sự an toàn Sự an toàn hiệnnay cũng chỉ mang tính tương đối vì sự thay đổi nhanh chóng của thông tin và xuhướng của khách hàng
Nhận thấy được tầm quan trọng đó, nhiều nhà quản lý doanh nghiệp đã đầu
tư không nhỏ cho các chiến dịch marketing Những chiến dịch này thường tốt kémrất nhiều chi phí khi sự cạnh tranh ngày càng khốc liệt Trong môi trường này, xâydựng chiến lược phát triển cho doanh nghiệp tồn tại sẽ dựa vào ý tưởng sáng tạo rấtnhiều Không doanh nghiệp nào có thể tồn tại mà không tạo cho mình giá trị cốt lõibên trong và luôn thay đổi mình bằng những ý tưởng mới có lợi cho khách hàng
Bất cứ một chương trình marketing nào cũng sẽ trở nên thiếu hoàn chỉnh nếukhông có những phân tích kỹ lưỡng về đối thủ cạnh tranh và đấu trường cạnh tranh.Không khó để nhận biết đối thủ cạnh tranh Họ chính những công ty có ý định lôikéo các khách hàng tốt nhất của doanh nghiệp Người làm marketing phải biết thuthập thông tin, phân tích khách hàng và thị trường
Có được một chiến lược tốt, một kế hoạch được hoạch định tốt chỉ mới quyếtđịnh 50% thành công, 50% còn lại phụ thuộc vào việc triển khai thực hiện Để đảm
Trang 34bảo thực hiện thành công kế hoạch marketing, người làm marketing phải có kỹ năng
tổ chức và triển khai hoạt động marketing
Bôn phận marketing có thể có hệ thống đo lường các hoạt động của mình,nhưng câu hỏi đặt ra là hệ thống đó có hiệu quả không, có chính xác không Khixem xét lại hoạt động của phòng marketing, họ sử dụng những hệ thống đo lườngbao gồm tỷ lệ phản hồi của khách hàng trong chiến dịch marketing, số người xemwebsite của công ty, số lượng khách hàng mới và tác động của chiến dịch Hệ thống
đo lường này không thật sự cho chúng ta biết được hiệu quả đầu tư của chiến dịch,cũng không giúp định vị được sản phẩm trên thị trường
Thứ sau: Kênh phân phối sản phẩm
Điều này muốn nói tới tính sẵn có của thị trường về đúng nơi, đúng lúc vàđúng số lượng Giải quyết vấn đề hàng hoá dịch vụ được đưa đến người tiêu dùngnhư thế nào Các doanh nghiệp tổ chức và quản lý hoạt động phân phối thông qua các
hệ thống kênh phân phối (con đường mà hàng hoá được lưu thông từ nhà sản xuấtđến người tiêu dùng) Để hoạt động tiêu thụ sản phẩm được diễn ra thông suốt,thường xuyên và đầy đủ doanh nghiệp cần phải lựa chọn các kênh phân phối, nghiêncứu các đặc trưng của thị trường, của khách hàng Từ đó có các chính sách phân phốisản phẩm hợp lý, hiệu quả, đáp ứng nhu cầu của khách hàng Chính sách phân phốisản phẩm hợp lý sẽ giúp tăng nhanh vòng quay của vốn, thúc đẩy tiêu thụ, tăng khảnăng cạnh tranh của sản phẩm
Sản phẩm càng có mặt nhiều trên từng thị trường thì khả năng bán được hàngcàng cao hơn đồng nghĩa với việc sản phẩm đó có khả năng bao phủ thị trường và
có sức cạnh trạng cao Có thể nói kênh phân phối đóng vai trò cực kỳ quan trọngtrong việc đo sức cạnh tranh của sản phẩm Đứng ở góc độ doanh nghiệp địa điểmthích hợp và địa điểm tối ưu để bán sản phẩm luôn được cân nhắc và tìm kiếm Sảnphẩm càng có khả năng cạnh tranh cao hơn khi tiếp cận được với đúng đối tượngkhách hàng tiềm năng một cách nhanh chóng và thuận tiện nhất
Thứ bảy: chất lượng nguồn nhân lực của doanh nghiệp
Trong các chỉ tiêu để đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, thì chất
Trang 35lượng nguồn nhân lực được coi là một trong những chỉ tiêu quan trọng Con ngườiđược xem là nguồn lực căn bản và có tính quyết định của mọi thời đại Nguồn lực
từ con người là yếu tố bền vững và khó thay đổi nhất trong mọi tổ chức
Năng lực thông qua con người ở các công ty được hiểu như là khả năng củađội ngũ nhân viên trong công ty Nguồn nhân lực đóng góp cho sự thành công củacông ty trên các khía cạnh chất lượng cao, dịch vụ tuyệt hảo, khả năng đổi mới; kỹnăng trong công việc cụ thể; và năng suất của đội ngũ nhân viên Đây là những yếu
tố then chốt mang lại sự thành công của các tổ chức Tuy vậy, không phải tổ chứcnào cũng có thể thành công trên hầu hết tất cả các khía cạnh trên về nguồn nhân lực
và người ta thường chọn các trọng tâm phù hợp với viễn cảnh và chiến lược củacông ty Ví dụ, có công ty đề cao các yếu tố về năng suất, kỹ năng có tính chuyênnghiệp, và cũng có công ty lại đề cao dịch vụ tốt, chất lượng cao, khả năng đổi mớicủa đội ngũ nhân viên
Nhà lãnh đạo là đầu tàu định hướng cho doanh nghiệp Các quyết định củalãnh đạo chính xác, hiệu quả, kịp thời và khoa học là nguồn lực lớn cho doanhnghiệp Yếu tố này luôn gắn chặt với yếu tố nhân lực và văn hóa của doanh nghiệp.Chưa lúc nào và không ở đâu, sức mạnh của tư duy sáng tạo lại thể hiện rõ ưu thếnhư trong bối cảnh kinh tế thị trường hiện đại Năng lực sáng tạo là yêu cầu thiếtyếu của một nhà lãnh đạo doanh nghiệp Chính năng lực tư duy sáng tạo của nhàlãnh đạo quyết định thành công của doanh nghiệp
Trong điều kiện cạnh tranh khốc liệt của nền kinh tế hội nhập, việc phát huy sứcmạnh tư duy của nhà lãnh đạo doanh nghiệp nhằm tạo ra những thương hiệu lớn,đạt tầm vóc quốc tế đã trở nên bức thiết Hơn bao giờ hết, người lãnh đạo doanhnghiệp cần coi tư duy sáng tạo là một mục tiêu ưu tiên trong chiến lược kinh doanh
và điều này cần được hội đồng quản trị coi trọng Nền kinh tế ngày càng phát triển
và hội nhập, các thông tin thị trường luôn biến đổi và chỉ có những doanh nghiệpnào nắm bắt thông tin nhanh chóng, chính xác và phù hợp thì mới tận dụng đượccác cơ hội và tăng khả năng cạnh tranh Điều này được đánh giá thông qua mức độquan tâm của doanh nghiệp đối với thông tin, các kênh thông tin mà người lãnh đạo
Trang 36dùng để ra quyết định, mức độ chia sẻ và phản hồi của các đối tượng có liên quan.Đặc biệt là các chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra để có được những thông tin phản hồi
từ khách hàng và thị trường, thời gian mà thông tin bên ngoài vào doanh nghiệp vàngược lại, từ bộ phận này tới bộ phận khác từ các cấp trong doanh nghiệp
Khi sự phát triển nguồn nhân lực tạo ra năng lực cốt lõi và điều này lại cungcấp các cơ sở đầu vào cho các nhà quản trị chiến lược hoạch định ra các chiến lượcmới theo đuổi các mục tiêu có tính thách thức cao hơn Quan niệm này dựa trênviệc coi nguồn nhân lực như là năng lực cốt lõi của công ty - yếu tố tạo ra sự khácbiệt và mang lại lợi thế cạnh tranh cho công ty Mặt khác, các hoạt động nguồnnhân lực cũng cần có sự kết hợp nhau để hợp lực tạo ra khả năng bảo đảm sự hoànthành mục tiêu của tổ chức
1.2.3 Những nhân tố ảnh huởng tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp phân
phối
1.2.3.1 Các chính sách của nhà nước
Cơ chế chính sách là tiền đề quan trọng cho hoạt động của doanh nghiệp Nộidung của cơ chế chính sách bao gồm các quy định pháp luật, các biện pháp hạn chếhay khuyến khích đầu tư hay kinh doanh đối với hàng hóa, dịch vụ, ngành nghề, địabàn Thể chế, chính sách bao gồm pháp luật, chính sách về đầu tư, tài chính, tiền
tệ, đất đai, công nghệ, thị trường, nghĩa là các biện pháp điều tiết cả đầu vào vàđầu ra cũng như toàn bộ quá trình hoạt động của doanh nghiệp Do vậy, đây lànhóm yếu tố rất quan trọng và bao quát rất nhiều vấn đề liên quan tới hoạt động củadoanh nghiệp nói chung và nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp nói riêng
Cơ chế chính sách về đầu tư nhằm tạo lập môi trường đầu tư thuận lợi và antoàn, kích thích doanh nghiệp mở rộng đầu tư, đặc biệt là đầu tư vào ngành, lĩnhvực, địa bàn, sản phẩm mới Thể chế, chính sách đầu tư có tác dụng nâng cao hiệuquả sử dụng vốn đầu tư, tiết kiệm thời gian, nguồn lực, giảm chi phí đầu tư củadoanh nghiệp
Cơ chế chính sách về đất đai, vốn, công nghệ, lao động, nhằm tạo điều kiệncho doanh nghiệp tiếp cận thuận lợi các yếu tố đầu vào, kích thích và điều tiết việc
Trang 37sử dụng chúng hiệu quả hơn, đồng thời tạo tiền đề cho các doanh nghiệp giảm chiphí đầu vào.
Cơ chế chính sách về thương mại nhằm tạo điều kiện thuận lợi, tạo môi trườngbình đẳng đối với các doanh nghiệp
Các thể chế, chính sách đối với các doanh nghiệp có thể được đánh giá theotừng chính sách hoặc bằng chỉ tiêu
Lãi suất ngân hàng: Lãi suất ngân hàng có ảnh hưởng rất lớn đến khả năng
cạnh tranh của sản phẩm Nếu lãi suất cho vay của ngân hàng cao sẽ dẫn đến chi phíđầu vào tăng lên, giá thành sản phẩm cũng vì thế tăng lên Kết quả là khả năng cạnhtranh của sản phẩm giảm đi nhất là khi các đối thủ cạnh tranh có tiềm lực mạnh vềvốn Và ngược lại nếu lãi suất ngân hàng thấp sẽ làm chi phí đầu vào giảm, giá thànhgiảm, tạo điều kiện cho doanh nghiệp có khả năng mở rộng sản xuất và cạnh tranhvới các đối thủ khác trên thị trường bằng công cụ giá
Tỷ giá hối đoái: Nhân tố này cũng có ảnh hưởng lớn tới năng lực cạnh tranh
của sản phẩm Nếu đồng nội tệ lên giá, giá cả của sản phẩm trong nước giảm dẫnđến khả năng cạnh tranh của sản phẩm ở nước ngoài giảm, khi đó giá bán của hànghoá tính bằng đồng ngoại tệ sẽ cao hơn các đối thủ cạnh tranh Hơn nữa, khi đồngnội tệ lên giá khuyến khích nhập khẩu vì giá hàng nhập khẩu sẽ giảm và như vậykhả năng cạnh tranh của các sản phẩm trong nước sẽ bị giảm ngay cả trên thị trườngtrong nước Ngược lại khi đồng nội tệ giảm giá, khả năng cạnh tranh của các sảnphẩm trên cả thị trường trong nước và thị trường xuất khẩu sẽ tăng vì khi đó giá bánhàng hoá giảm hơn so với các đối thủ cạnh tranh nước ngoài
1.2.3.2 Môi trường ngành
Ngành là một nhóm các công ty cung cấp các sản phẩm hay dịch vụ có thểthay thế nhau Có nhiều nhân tố thuộc môi trường ngành ảnh hưởng tới năng lựccạnh tranh của doanh nghiệp Theo mô hình 5 lực lượng cạnh tranh của MichalePorter, sức ép cạnh tranh trong mọi ngành sản xuất kinh doanh được chia thành cácnhóm sau:
Sức ép cạnh tranh từ các nhà cung cấp
Trang 38Những nhà cung ứng có thể được coi là một áp lực khi họ có khả năng đe dọatăng giá bán đầu vào hoặc giảm chất lượng của các sản phẩm, dịch vụ mà họ cungcấp Qua đó làm giảm khả năng kiếm lợi nhuận của doanh nghiệp Trên mộtphương diện nào đó, sự đe dọa đó tạo ra sự phụ thuộc ít nhiều giữa các doanhnghiệp Áp lực tương đối của các nhà cung ứng thường thể hiện trong các tìnhhuống sau:
Tình huống không có sản phẩm thay thế, doanh nghiệp không có nhà cungứng nào khác;
Ngành cung ứng của sản phẩm doanh nghiệp cần chỉ có một số, thậm chí mộtdoanh nghiệp độc quyền cung ứng;
Doanh nghiệp mua yếu tố sản phẩm không phải là khách hàng quan trọng và
ưu tiên của nhà cung ứng…
Sức ép cạnh tranh từ khách hàng
Khách hàng là lực lượng tạo ra khả năng mặc cả của người mua Người mua
có thể được xem như một sự đe dọa cạnh tranh khi buộc doanh nghiệp giảm giáhoặc có nhu cầu chất lượng cao hơn, dịch vụ tốt hơn Ngược lại, khi người mua yếu
sẽ mang đến cho doanh nghiệp cơ hội để tăng giá kiếm được lợi nhuận nhiều hơn.Người mua bao gồm: người tiêu dùng cuối cùng, các nhà phân phối và những ngườimua công nghiệp
Áp lực của khách hàng thường được thể hiện trong các trường hợp sau:
- Khách hàng mua một khối lượng lớn, trong hoàn cảnh, này người mua sẽ cóthể sử dụng ưu thế mua của họ để mặ cả về giá sản phẩm;
- Nhiều nhà cung ứng có quy mô vừa và nhỏ trong ngành cung cấp, trong khi
đó người mua là một số ít và có quy mô lớn dẫn đến người mua có thể chi phối cáccông ty cung cấp;
- Khách hàng có đầy đủ các thông tin về thị trường như nhu cầu, giá cả… củacác nhà cung cấp thì áp lực mặc cả của họ càng lớn…
Sức ép cạnh tranh từ các đối thủ tiềm ẩn
Các đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn là các doanh nghiệp hiện tại chưa cạnh tranh
Trang 39trong cùng một ngành sản xuất nhưng có khả năng gia nhập ngành Đây là đe doạcho các doanh nghiệp hiện tại Các doanh nghiệp hiện tại cố gắng ngăn cản các đốithủ cạnh tranh tiềm ẩn muốn gia nhập ngành bởi vì càng nhiều doanh nghiệp có mặttrong một ngành thì cạnh tranh càng gay gắt, khốc liệt hơn, thị trường và lợi nhuận
sẽ bị chia sẻ, vị trí của doanh nghiệp sẽ bị thay đổi
Mức độ thuận lợi và khó khăn cho việc nhập ngành của các đối thủ cạnh tranhtiềm ẩn phụ thuộc phần lớn vào rào cản gia nhập ngành bao gồm:
- Những ưu thế tuyệt đối về chi phí Những ưu thế về chi phí thuộc về cácsáng chế, làm chủ một công nghệ riêng đặc thù, làm chủ được nguồn nguyên vậtliệu cũng như kinh nghiệm cho phép có được các chi phí thấp hơn;
- Khác biệt hóa sản phẩm Khách hàng đã quen với các nhãn hiệu của cácdoanh nghiệp hiện tại Chi phí cho một chiến lược khác biệt hóa là rất cao và mạohiểm;
- Kênh phân phối chủ yếu đã được thiết lập của các doanh nghiệp hiện tạicũng là một vật cản đối với các doanh nghiệp muốn nhảy vào chia sẻ thị trường;
Sức ép cạnh tranh từ sản phẩm thay thế
Sản phẩm thay thế là sản phẩm khác có thể thỏa mãn cùng nhu cầu của ngườitiêu dùng Đặc điểm cơ bản của nó thường có các ưu thế hơn sản phẩm bị thay thế ởcác đặc trưng riêng biệt Đe dọa này đòi hỏi doanh nghiệp phải có sự phân tích, theodõi thường xuyên những tiến bộ khoa học – công nghệ trong đó liên quan trực tiếp
là đổi mới công nghệ, đổi mới sản phẩm Hơn nữa, sự thay đổi của nhu cầu thịtrường cũng là nhân tố quan trọng tạo ra sự đe dọa này
Sức ép cạnh tranh từ nội bộ ngành
Nếu các đổi thủ cạnh tranh yếu, doanh nghiệp có cơ hội để tăng giá bán vàkiếm được nhiều lợi nhuận hơn Ngược lại, khi các đối thủ cạnh tranh hiện tại mạnhthì sự cạnh tranh về giá cả là đáng kể, mọi cuộc cạnh tranh về giá cả đều dẫn đếnnhững tổn thương
Cạnh tranh nội bộ ngành bao gồm các nội dung chủ yếu như sau:
- Cơ cấu cạnh tranh của ngành thay đổi từ ngành sản xuất phân tán tới ngành
Trang 40sản xuất tập trung Thông thường, ngành riêng lẻ bao gồm một số lớn các doanhnghiệp vừa và nhỏ, không có một doanh nghiệp nào trong số đó có vị trí thống trịngành Trong khi đó, một ngành tập trung có sự chi phối bởi một số ít các doanhnghiệp lớn, thậm chí chỉ một doanh nghiệp duy nhất gọi là độc quyền Bản chất vàmức độ cạnh tranh đối với các ngành tập trung rất khó phân tích và dự đoán;
- Tình trạng cầu của một ngành là một yếu tố quyết định khác về tính mãnhliệt trong cạnh tranh nội bộ ngành Thông thường, cầu tăng tạo cho doanh nghiệpmột cơ hội lớn để mở rộng hoạt động Ngược lại, cầu giảm dẫn đến cạnh tranh khốcliệt để các doanh nghiệp giữ được phần thị trường đã chiếm lĩnh Đe dọa mất thịtrường là điều khó tránh khỏi đối với các doanh nghiệp không có khả năng cạnhtranh; Rào cản rút lui là mối đe dọa cạnh tranh nghiêm trọng khi cầu của ngànhgiảm mạnh Rào cản rút lui là kinh tế và là chiến lược, là quan hệ tình cảm giữdoanh nghiệp trụ lại Nếu một rào cản rút lui cao, các doanh nghiệp có thể bị khóachặt trong ngành sản xuất kinh doanh không ưa thích
1.2.2.3 Đối thủ cạnh tranh của doanh nghiệp
Trong một ngành nào đó mà tồn tại một hoặc một số doanh nghiệp thốnglĩnh thì cường độ cạnh tranh ít hơn và doanh nghiệp thống lĩnh đóng vai trò chỉ đạogiá Trong trường hợp này, nếu doanh nghiệp không ở vị trí thống lĩnh thì sức cạnhtranh là rất kém Nhưng nếu tồn tại nhiều doanh nghiệp có thế lực và quy mô tươngđương nhau thì cạnh tranh trong ngành sẽ rất gay gắt Cần phải coi trọng lợi thế sosánh của mình và biến nó thành lợi thế cạnh tranh, doanh nghiệp nào có nhiều lợithế cạnh tranh thì doanh nghiệp đó có năng lực cạnh tranh cao hơn
Trong thị trường tự do cạnh tranh, gần như không có rào cản gia nhập thịtrường, luôn có các đối thủ tiềm ẩn, sẵn sàng tham gia thị trường bất cứ lúc nào Sựxuất hiện của đối thủ mới có thể gây ra những cú sốc mạnh cho các doanh nghiệphiện tại vì thông thường những người đi sau thường có nhiều căn cứ cho việc raquyết định hơn và các chiêu bài của họ thường có tính bất ngờ
Để chống lại các đối thủ tiềm ẩn, doanh nghiệp phải thường xuyên củng cốnăng lực cạnh tranh của mình bằng cách không ngừng cải tiến, hoàn thiện sản