1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chính sách tài chính thúc đẩy ứng dụng công nghệ xanh trong xử lý nước thải gây ô nhiễm môi trường ( nghiên cứu trường hợp khu du lịch nước khoáng nóng thanh thủy phú thọ)

75 635 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 75
Dung lượng 1,43 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bên cạnh việc đổi mới công nghệ, nhập khẩu các công nghệ tiên tiến và tích cực ứng dụng các công nghệ sạch, thì việc xử lý nước thải bằng công nghệ xanh đã được nhiều nước trên thế giới

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

THIỀU THỊ THU THẢO

CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH THÚC ĐẨY ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ XANH TRONG XỬ LÝ NƯỚC THẢI GÂY Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG (NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP KHU DU LỊCH NƯỚC KHOÁNG NÓNG

THANH THỦY - PHÚ THỌ)

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Đặng Ngọc Dinh

Hà Nội, 2014

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

THIỀU THỊ THU THẢO

CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH THÚC ĐẨY ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ XANH TRONG XỬ LÝ NƯỚC THẢI GÂY Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG (NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP KHU DU LỊCH NƯỚC KHOÁNG NÓNG

THANH THỦY - PHÚ THỌ)

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

MÃ SỐ: 60.34.04.12

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Đặng Ngọc Dinh

Hà Nội, 2014

Trang 3

1

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình thực hiện luận văn, Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới PGS TS Đặng Ngọc Dinh – thầy giáo đã trực tiếp hướng dẫn và chỉ bảo cho tôi hoàn thành luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn các giảng viên Khoa Sau Đại học, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội đã truyền đạt những kiến thức khoa học và kinh nghiệm thực tiễn cho tôi trong quá trình học tập

Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp của tôi đang công tác tại các cơ quan trong lĩnh vực Khoa học và Công nghệ và gia đình đã động viên, khích lệ, tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn này

Hà Nội, ngày 31 tháng 12 năm 2014

Tác giả luận văn

Thiều Thị Thu Thảo

Trang 4

2

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN 1

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN 5

PHẦN MỞ ĐẦU 6

1 Tên đề tài 6

2 Lý do nghiên cứu 6

3 Lịch sử nghiên cứu 8

4 Mục tiêu nghiên cứu 9

5 Phạm vi nghiên cứu 9

6 Mẫu khảo sát

7 Câu hỏi nghiên cứu 10

8 Giả thuyết nghiên cứu 10

9 Phương pháp nghiên cứu 11

10 Kết cấu luận văn 11

Kết luận và Khuyến nghị 11

PHẦN NỘI DUNG 12

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 12

1.1 Các khái niệm liên quan 12

1.1.1 Chính sách 12

1.1.2 Chính sách tài chính 13

1.1.3 Công nghệ 15

1.1.4 Công nghệ xanh và các khái niệm liên quan 17

1.1.5 Nước thải gây ô nhiễm môi trường 24

1.1.6 Tương quan giữa công nghệ, công nghệ xanh và vấn đề xử lý nước thải gây ô nhiễm 25

1.1.7 Mối quan hệ giữa chính sách tài chính và hoạt động ứng dụng công nghệ xanh 27

Kết luận Chương I 27

CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN CƠ CHẾ CHÍNH SÁCH, GIẢI PHÁP TÀI CHÍNH PHÁT TRIỂN CÔNG NGHỆ XANH HIỆN NAY 29

Trang 5

3

2.1 Hệ thống các văn bản, các chính sách tài chính cho hoạt động ứng dụng công

nghệ xanh ở nước ta hiện nay 29

2.1.1 Các chiến lược phát triển công nghệ thân thiện với môi trường của Chính phủ 29

2.1.2 Chính sách ưu tiên phát triển công nghệ xanh, công nghệ thân thiện với môi trường trong các văn bản thuộc lĩnh vực KH&CN 31

2.1.3 Văn bản về các chính sách tài chính, thuế liên quan đến việc công nghệ xanh, công nghệ thân thiện với môi trường 33

2.2 Các chính sách tài chính, các chính sách ưu tiên cho việc ứng dụng công nghệ xanh ở nước ta hiện nay 35

2.2.1 Các chính sách đầu tư 35

2.2.2 Các chính sách ưu đãi về thuế 36

2.2.3 Chính sách ưu đãi về tín dụng 37

2.2.4 Ưu đãi từ các nguồn đầu tư nước ngoài và từ các Quỹ trong nước 38 2.3 Nhận diện về khó khăn, rào cản trong đầu tư tài chính cho phát triển công nghệ xanh ở Việt Nam trong thời điểm hiện tại 38

2.3.1 Nhận diện về những khó khăn trong cơ chế, chính sách 38

2.3.2 Những khó khăn khác 41

2.3.3 Phát triển công nghệ xanh trong tương quan của giới truyền thông và các nhà khoa học 43

Kết luận Chương II 47

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH KHUYẾN KHÍCH ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ XANH TRONG XỬ LÝ NƯỚC THẢI GÂY Ô NHIỄM, TẠI KHU DU LỊCH NƯỚC KHOÁNG NÓNG THANH THỦY – PHÚ THỌ 48

3.1 Tổng quan về Khu du lịch Nước khoáng nóng Thanh Thủy - Phú Thọ 48

3.1.1 Vị trí địa lý 48

3.1.2 Đặc điểm của khu du lịch nước khoáng nóng Thanh Thủy 48

3.1.3 Đặc điểm xã hội 49

3.1.4 Những khó khăn gặp phải và các vấn đề cần giải quyết 50

3.2 Vai trò của việc ứng dụng công nghệ xanh ở các khu du lịch sinh thái nói chung và khu du lịch nước khoáng nóng Thanh Thủy, Phú Thọ nói riêng 54

3.2.1 Vai trò của công nghệ xanh ở các khu du lịch sinh thái 54

3.2.2 Sự cần thiết ứng dụng công nghệ xanh trong xử lý nước thải tại khu nước khoáng nóng Thanh Thủy 56

Trang 6

4

3.3 Giải pháp ứng dụng công nghệ xanh ở khu vực trên 57

3.4 Đề xuất các giải pháp về tài chính thúc đẩy ứng dụng công nghệ xanh trong xử lý nước thải tại khu du lịch nước khoáng nóng Thanh Thủy, Phú Thọ 61

3.4.1 Giải pháp tài chính chung 61

Chính sách thuế 61

Chính sách tín dụng 62

Chính sách đầu tư và tăng cường vốn ngân sách Nhà nước 63

Phát triển các Quỹ môi trường, Quỹ KH&CN Quốc gia, Quỹ đổi mới công nghệ và các Quỹ KH&CN địa phương 63

3.4.2 Một số giải pháp cụ thể về chính sách tài chính thúc đẩy ứng dụng công nghệ xanh cho Khu du lịch Suối nước khoáng nóng Thanh Thủy, Phú Thọ 64

Kết luận Chương III 68

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 69

1 Kết luận 69

2 Khuyến nghị 69

2.1 Các nhà làm công tác xã hội, xây dựng cơ chế chính sách, phát triển công nghệ cần quan tâm hơn đến các chính sách hỗ trợ, phát triển công nghệ xanh 69

2.2 Việc đưa ra các chính sách tài chính hỗ trợ phát triển công nghệ xanh cần được tiến hành tuần tự và theo trình tự hợp lý, phù hợp với xã hội 70

2.3 Cần nhiều hơn nữa sự quan tâm của ngành KH&CN, các Viện Nghiên cứu, Trường Đại học và tiếng nói của các nhà khoa học đầu ngành trong việc ứng dụng và phát triển công nghệ xanh 70

2.4 Cần có chính sách ưu tiên đặc biệt của Tỉnh nhằm đẩy mạnh các chính sách tài chính và thu hút nguồn vốn đầu tư ứng dụng công nghệ xanh trong khu du lịch trên 71

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 72

Trang 7

5

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

Dương Liên Hiệp Quốc

liệu được sản xuất từ kim loại và các hợp

chất hữu cơ

Trang 8

TS Đặng Văn Lợi, Tổng cục Môi trường cho biết: hiện nước thải các loại chưa được xử lý trên cả nước đã lên tới 1,5 tỷ mét khối mỗi năm Trên thực

tế, hiện việc dùng các công nghệ xử lý nước thải bằng hóa chất độc hại đôi khi còn gây ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường Bên cạnh việc đổi mới công nghệ, nhập khẩu các công nghệ tiên tiến và tích cực ứng dụng các công nghệ sạch, thì việc xử lý nước thải bằng công nghệ xanh đã được nhiều nước trên thế giới đặc biệt quan tâm, điển hình là Hà Lan, Đức, Mỹ, Hàn Quốc… Ứng dụng các công nghệ xanh để xử lý nguồn chất thải một cách tự nhiên, bền vững với tiêu chí cân bằng sinh thái là những ưu tiên trong chiến lược phát triển công nghệ của các nước trên thế giới trong đó có Việt Nam

Tuy nhiên việc phát triển và ứng dụng công nghệ xanh thường gặp nhiều khó khăn Không nhanh gọn, rẻ và nhìn thấy ngay cái lợi trước mắt như trong trường hợp sử dụng các công nghệ xử lý nước dùng hóa chất Ứng dụng công nghệ xanh cần sự hiểu biết, kiên trì và cái nhìn dài dạn của các nhà khoa học

Khu du lịch và nghỉ dưỡng suối nước nóng Thanh Thủy nằm trong khu quy hoạch nước khoáng nóng Thanh Thủy đã được UBND tỉnh Phú Thọ công bố quy hoạch với diện tích 4.770 ha Việc chọn nghiên cứu trường hợp tại khu du lịch khoáng nóng Thanh Thủy – Phú Thọ vì đây là nơi hiện có nguồn nước thải sinh hoạt lớn, thải trực tiếp ra môi trường Là khu du lịch sinh thái mới hình thành, sự đồng bộ trong việc phát triển và bảo vệ môi trường còn nhiều hạn chế Tác hại trước mắt là việc làm giảm và hỏng chất lượng tầng nước ngầm, hiện là tài nguyên nước khoáng làm nên chất lượng

du lịch riêng của Thanh Thủy Là địa bàn có sông Đà bao quanh, vị trí thuận

Trang 9

7

lợi để đổ toàn bộ nước thải ra sông, tiềm ẩn nguy cơ ô nhiễm ra nhiều địa phương ở hạ lưu sông Hơn nữa đây là khu du lịch nghỉ dưỡng, do vậy chất lượng về nguồn nước và môi trường là yếu tố đầu tiên phải chú trọng Việc ứng dụng công nghệ xanh ở đây là rất phù hợp, có thể thí điểm để tiếp tục nhân rộng các mô hình với nhiều khu nghỉ dưỡng sinh thái trong cả nước

Có thể nói phát triển công nghệ xanh đã trở thành xu thế lựa chọn tối ưu cho các khu nghỉ dưỡng, du lịch sinh thái lớn trên thế giới hiện nay Việc ứng dụng và phát triển công nghệ xanh về bản chất không khó, cái khó chính là ở nhận thức của xã hội, của con người và cơ chế chính sách ưu đãi và tạo điều kiện cho nó phát triển

“Công nghệ xanh” là một khái niệm mới, chưa được định nghĩa và cụ thể hóa bằng Luật Tuy nhiên, trong một vài năm trở lại đây thì khái niệm

“xanh” như Kinh tế xanh, tăng trưởng xanh, công nghiệp xanh, công nghiệp xanh, cũng như các khái niệm có liên quan như Công nghệ sạch, sản xuất sạch hơn, công nghệ thân thiện với môi trường… ngày càng xuất hiện rộng rãi Trong các vấn đề về môi trường hiện nay, ô nhiễm nguồn nước là vấn

đề nghiêm trọng và cần sự quan tâm đặc biệt của tất cả các nước trên toàn thế giới Ở Việt Nam, nước sông, suối, kênh, rạch… nhất là các khu du lịch, khu chế xuất, khu công nghiệp gần như bị ô nhiễm nặng Đổi mới công nghệ

là cụm từ không chỉ được nhắc đến với vai trò làm tăng năng xuất chất lượng sản phẩm, tăng lợi nhuận… mà còn cần đáp ứng một yếu tố quan trọng là giảm thiểu ô nhiễm ra môi trường Theo nhận xét của một số chuyên gia thì kinh tế Việt Nam hiện đang phát triển theo hướng nền kinh tế “nâu”, nghĩa

là “ô nhiễm trước và xử lý sau” Đó là tình trạng chung của các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam Vậy đổi mới công nghệ, ứng dụng công nghệ để không gây ô nhiễm hoặc xử lý ô nhiễm một cách bền vững chính là điều mà tác giả muốn đề xuất đến trong việc “ứng dụng công nghệ xanh” Công nghệ xanh có thể nói là một công nghệ của tương lai, công nghệ mà xã hội đang hướng đến Công nghệ xanh là khái niệm rộng, sẽ được tác giả đề cập trong chương II của Luận văn

Trang 10

8

Trong đề tài nghiên cứu của mình, bên cạnh việc bóc tách, phân tích nội hàm các khái niệm liên quan đến công nghệ có gắn các yếu tố “xanh, sạch và thân thiện với môi trường” đang xuất hiện rộng rãi hiện nay, tác giả còn nghiên cứu về các chính sách tài chính thúc đẩy ứng dụng công nghệ xanh và những giải pháp cụ thể để có thể ứng dụng thành công công nghệ xanh trong xử lý nước thải gây ô nhiễm môi trường

2 Lịch sử nghiên cứu

Trên thực tế hiện có rất nhiều các công trình khoa học trên thế giới và

ở Việt Nam nghiên cứu trực tiếp về vấn đề sử dụng Công nghệ xanh trong

xử lý nguồn nước thải Công nghệ trên đã thành công ở nhiều nước trên thế giới và bước đầu thành công trong một số mô hình nhỏ ở Việt Nam

- Đề tài “Nghiên cứu kiểm soát ô nhiễm nguồn nước hồ công viên 29-3

(Đà Nẵng) bằng mô hình đất ướt ” của nhóm tác giả Lê Văn Sơn, Phan Thi ̣

Kim Ngà, Phạm Phú Lâm, Trịnh Vũ Long, trường ĐH Bách kh oa Đà Nẵng (2010)

- Đề tài “ Khả năng xử lý nước thải sinh hoạt của cỏ Verter và Lục

bình bằng mô hình đất ngập nước” của tác giả Trần Ngọc Nam, trường Đại

học kỹ thuật TP Hồ Chí Minh

- Bài viết “Đất hiếm và công nghệ xanh”, đăng trên Tạp chí Khoa học

và Tổ quốc, số tháng 7/2009 của tác giả Nguyễn Xuân Chánh

- “Tăng trưởng xanh và vai trò đổi mới công nghệ tại các nước đang

phát triển” của PGS.TS Phan Minh Tân, PGS.TS Nguyễn Kỳ Phùng đăng

trên Tạp chí Chính sách và quản lý KH&CN, 4/2013

Tuy nhiên hầu hết các đề tài nghiên cứu đều thuộc lĩnh vực Môi trường, sinh học hay hóa học thực tế Trong đề tài của mình, tác giả không

đi sâu vào việc công nghệ xanh đó là gì, các tính chất sinh hóa và hiệu quả của từng công nghệ như thế nào? Mục đích ở đây là tác giả đi vào việc phân tích và làm rõ khái niệm “Công nghệ xanh” đang hiện hữu ở nhiều nước trên

Trang 11

9

thế giới, đang trở thành một yếu tố quan trọng trong chiến lược công nghệ quốc gia mà nhiều nước đang ấp ủ, nhưng ở Việt Nam, nó chỉ hiện diện rất ít qua một số bài báo gợi mở, phân tích của các nhà khoa học đầu ngành Đồng thời tác giả cũng đưa ra những giải pháp về chính sách tài chính nhằm thúc đẩy những định hướng phát triển công nghệ xanh nói chung và công nghệ xanh trong việc giải quyết và ngăn chặn ô nhiễm nước nói riêng Trên cơ sở

đó các nhà làm công tác quản lý KH&CN sẽ có những cái nhìn bao quát, cụ thể và những đánh giá xác đáng, góp phần vào việc phát triển nền công nghệ nước nhà

3 Mục tiêu nghiên cứu

Nghiên cứu nhằm tổng hợp, phân tích, đánh giá xu thế phát triển của công nghệ xanh ở Việt Nam hiện nay được thể hiện trong góc nhìn của các nhà khoa học, các nhà hoạch định chính sách

Đề xuất các chính sách tài chính thúc đẩy việc ứng dụng các công

nghệ xanh phù hợp trong xử lý nguồn nước thải gây ô nhiễm môi trường hiện nay ở Việt nam

Nghiên cứu trường hợp tại khu du lịch nước khoáng nóng Thanh Thủy – Phú Thọ, nhằm đề xuất phương án nhân rộng mô hình ứng dụng công nghệ xanh trong tất cả các khu du lịch sinh thái trong cả nước nhằm nâng cao chất lượng du lịch

Trang 12

10

+ 10 năm về trước tính đến thời điểm năm 2014 Vì đây là khu du lịch mới khai thác nước khoáng phục vụ du lịch khoảng 10 năm trở lại đây, lúc đầu tồn tại dưới dạng hộ kinh doanh nhỏ lẻ, đến nay là các khu du lịch lớn

Ô nhiễm nguồn nước xuất phát từ chính hoạt động kinh doanh nhỏ lẻ các hộ gia đình, khai thác và không có phương pháp xử lý nước thải phù hợp dẫn đến ô nhiễm nguồn nước và giảm chất lượng nước ngầm tại khu vực

Phạm vi không gian khảo sát:

+ Tài liệu thống kê, bài báo khoa học trên các tạp chí uy tín;

+ Khu du lịch nước khoáng nóng Thanh Thủy – Phú Thọ

5 Câu hỏi nghiên cứu

1 Câu hỏi chủ đạo của đề tài: Chính sách tài chính được thiết kế như thế nào để thúc đẩy việc việc ứng dụng công nghệ xanh trong xử lý nước thải gây ô nhiễm hiện nay?

2 Câu hỏi cụ thể:

- Tại sao phải nghiên cứu và lựa chọn công nghệ xanh trong xử lý nguồn nước thải ở địa bàn Thanh Thủy – Phú Thọ mà không sử dụng các công nghệ xử lý nước thải bằng hóa chất đang phổ biến trên thị trường?

- Để khuyến khích sử dụng công nghệ xanh xử lý nước thải khu du lịch Thanh Thủy-Phú Thọ cần những giải pháp chính sách tài chính đặc thù gì?

6 Giả thuyết nghiên cứu

- Giả thuyết chủ đạo: Cần phải thiết kế hệ thống chính sách tài chính theo hình thức ưu tiên giảm thuế, miễn thuế, ưu đãi vay tín dụng… để khuyến khích các công ty, doanh nghiệp và tổ chức ưu tiên sử dụng công nghệ xanh trong xử lý nươc thải sinh hoạt

Trang 13

11

7 Phương pháp nghiên cứu

Tác giả sử dụng phương pháp Nghiên cứu tài liệu: Khảo sát, nghiên cứu các thông tin liên quan trong các tạp chí khoa học trong nước và quốc tế, trên mạng Internet, hội nghị, hội thảo…, phân tích, chọn lọc những dữ liệu cần thiết Nghiên cứu các tài liệu, chính sách của tỉnh Phú Thọ trong việc phát triển khu du lịch nước khoáng nóng Thanh Thủy - Phú Thọ, cũng như các vấn đề về ô nhiễm hiện nay trên địa bàn

8 Kết cấu luận văn

Luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài

Chương 2: Tổng quan cơ chế chính sách, giải pháp tài chính phát triển công nghệ xanh hiện nay

Chương 3: Giải pháp chính sách tài chính thúc đẩy ứng dụng công nghệ xanh trong xử lý nước thải gây ô nhiễm tại khu du lịch nước khoáng nóng Thanh Thủy - Phú Thọ

Kết luận và Khuyến nghị

Trang 14

12

PHẦN NỘI DUNG

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI

1.1 Các khái niệm liên quan

1.1.1 Chính sách

Theo Từ điển tiếng Việt phổ thông của Viện Ngôn ngữ học, xuất bản năm 2004 thì “chính sách” là “sách lược và kế hoạch cụ thể nhằm đạt một mục đích nhất định, dựa vào đường lối chính trị chung và tình hình thực tế

mà đề ra” Tuy nhiên, trên thực tế chính sách được tiếp cận ở nhiều góc độ khác nhau Mỗi góc tiếp cận giúp ta nhìn nhận chính sách theo một hướng cụ thể để có thể đưa ra các quyết định cũng như quyết sách hợp theo hướng tư duy Chính sách có thể được tiếp cận theo các hướng: Tiếp cận chính trị học; tiếp cận xã hội học; tiếp cận tâm lý học, đạo đức học, kinh tế học; tiếp cận hệ thống, tiếp cận lý thuyết trò chơi, tiếp cận khoa học pháp lý và tiếp cận tổng

hợp…Ví dụ với tiếp cận xã hội học, chính sách là tập hợp biện pháp do chủ

thể quản lý đưa ra, nhằm tạo lợi thế cho một hoặc một số nhóm xã hội, giảm lợi thế của một nhóm xã hội hoặc một số nhóm xã hội khác, để thúc đẩy việc thực hiện một hoặc một số mục tiêu xã hội mà chủ thể quyền lực đang hướng tới Dưới góc độ Tâm lý học thì chính sách là tập hợp biện pháp đối xử ưu đãi đối với một nhóm xã hội, nhằm kích thích hoạt động của nhóm này hướng theo việc thực hiện một hoặc một số mục tiêu của chủ thể quyền lực

Còn dưới cách tiếp cận tổng hợp thì Giáo sư Vũ Cao Đàm đã đưa ra khái

niệm sau “chính sách là một tập hợp biện pháp được thể chế hóa, mà một

chủ thể quyền lực, hoặc chủ thể quản lý đưa ra, trong đó tạo sự ưu đãi một hoặc một số nhóm xã hội, kích thích vào động cơ hoạt động của họ nhằm thực hiện một mục tiêu ưu tiên nào đó trong chiến lược phát triển của một

hệ thống xã hội”

Chính sách trên thực tế là một thiết chế rất phức tạp Chính sách đúng đắn hay sai lệch sẽ quyết định sự thành công hay thất bại của một kế hoạch

Trang 15

13

nhất định Chính sách được tồn tại dưới dạng các văn bản, các quy định, các thông tư, nghị định, quyết định… Và các vật mang chính sách đó chính là các văn bản quy phạm pháp luật Chính sách được thể chế hóa dưới các văn bản, các quy định để thực hiện mục đích của một chủ thể áp dụng lên một, một nhóm đối tượng, một bộ phận xã hội… nào đó Có những chính sách mang tầm quốc gia, hay còn gọi là chính sách vĩ mô, ví dụ: chính sách đối nội, chính sách đối ngoại, chính sách kinh tế, chính sách xã hội, chính sách khoa học và công nghệ, chính sách công nghiệp hóa Có những chính sách mang tính vi mô là các chính sách của các đơn vị cơ sở, ví dụ: chính sách khuyến mại của một doanh nghiệp, chính sách ưu đãi thuế, chính sách ưu tiên ứng dụng các công nghệ sạch, công nghệ xanh của một huyện, tỉnh, thành phố …

Như vậy hiểu một cách bản chất nhất thì chính sách chính là những biện pháp, quyết sách mà chủ thể quyền lực hay chủ thể quản lý đưa ra Nó được tồn tại dưới hình thức như một cơ sở pháp lý Và căn cứ vào đó, chủ thể quản lý đó mong muốn sẽ đạt được những điều đã đề ra Trên thực tế, một chính sách đúng đắn sẽ dẫn đến thành công của những mong muốn đó

1.1.2 Chính sách tài chính

Tương tự nhiều chính sách mang tầm vĩ mô và chiến lược khác, chính sách tài chính rất đa dạng Khi nói đến chính sách tài chính, có thể nhắc đến

từ chính sách đầu tư, chính sách tín dụng, chính sách tiền tệ đến các chính sách cụ thể, chi tiết như chính sách thuế, chính sách giá Theo khái niệm

chung nhất về chính sách, là tập hợp biện pháp thể chế hóa mà chủ thể

quyền lực, chủ thể quản lý đưa ra, thì chính sách tài chính ở đây có thể gọi

là chính sách công cụ đặc thù nhằm phục vụ sự phát triển của một lĩnh vực (mục tiêu) nào đó Ví dụ: chính sách công nghiệp, chính sách nông nghiệp hay chính sách môi trường, chính sách khoa học và công nghệ Chính sách tài chính có mục tiêu chung, phục vụ và vì mục đích chung Vì trên thực tế, khó có chính sách tài chính nào có mục tiêu tự thân của nó Ví dụ chính sách

Trang 16

Trong Kinh tế học vĩ mô, chính sách tài khóa (fiscal policy) là một bộ

phận quan trọng của chính sách tài chính, được định nghĩa một cách khái

quát đó là chính sách thông qua chế độ thuế và đầu tư công cộng để tác

động tới nền kinh tế Chính sách tài cùng với chính sách tiền tệ là các chính sách kinh tế vĩ mô quan trọng, nhằm ổn định và phát triển kinh tế

ở tình trạng suy thoái, nhà nước có thể giảm thuế, tăng chi tiêu (đầu tư công cộng) để kích thích tiêu dùng Chính sách tài chính như vậy gọi là chính sách tài khóa nới lỏng Ngược lại, khi nền kinh tế ở tình trạng lạm phát và có hiện tượng nóng, thì nhà nước có thể tăng thuế và giảm chi tiêu của mình để ngăn cho nền kinh tế khỏi rơi vào tình trạng quá nóng dẫn tới đổ vỡ Chính sách tài khóa như thế này gọi là chính sách tài khóa thắt chặt

Chính sách tài chính có thể bao gồm các chính sách ưu đãi vốn cho khoa học và công nghệ, chính sách giảm thuế cho doanh nghiệp KH&CN, chính sách ưu đãi tín dụng cho các doanh nghiệp ứng dụng công nghệ thân thiện với môi trường trong xử lý chất thải, chính sách trọng dụng nhân lực KH&CN chất lượng cao, v v Tùy vào các loại hoạt động, hình thức hoạt động để đưa ra các chính sách thành phần trong chính sách tài chính nói chung Theo một số tác giả thì trong lĩnh vực KH&CN, chính sách tài chính quan trọng chính là chính sách vốn và thuế

Như vậy có thể nói, chính sách tài chính là chính sách kinh tế mang tính vĩ mô nhằm ổn định và phát triển nền kinh tế Tương tự các chính sách

Trang 17

15

nói chung, chính sách tài chính cũng được thể chế hóa dưới hình thức cơ sở pháp lý thông qua các văn bản quy phạp pháp luật như Luật, Nghị định, Thông tư…

1.1.3 Công nghệ

Theo Luật KH&CN năm 2013 thì công nghệ là giải pháp, quy trình,

bí quyết kỹ thuật có kèm theo hoặc không kèm theo công cụ, phương tiện dùng để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm

Trên thực tế có rất nhiều khái niệm về công nghệ, và đến nay thì các khái niệm này vẫn chưa thể thống nhất, có lẽ bởi mỗi khái niệm nhìn nhận công nghệ theo một phương diện, một góc nhìn khác nhau Khái niệm về công nghệ trong Luật KH&CN năm 2013 được sử dụng khái niệm công nghệ trong Luật Chuyển giao công nghệ năm 2006 Theo một số tác giả, bản chất của khái niệm công nghệ trong Luật Chuyển giao công nghệ chỉ là những công nghệ có thể được chuyển giao, còn công nghệ nói chung (bao gồm cả các công nghệ có thể chuyển giao và không thể chuyển giao) thì chưa được thể hiện Trong lịch sử, có nhiều tác giả cũng đã nêu các khái niệm về công nghệ khác nhau như:

Theo tác giả R.Jones, năm 1970: công nghệ là cách thức mà qua đó các nguồn lực được chuyển thành hàng hóa

Theo tác giả J.R Dunning, năm 1982, công nghệ là nguồn lực bao gồm kiến thức được áp dụng để nâng cao hiệu quả sản xuất và việc nghiên cứu tiếp cận thị trường cho những sản phẩm và dịch vụ và tạo ra những sản phẩm

và dịch vụ mới Với khái niệm của tác giả J.R Dunning, năm 1982 gần giống với tác giả giả R.Jones khi mà mục tiêu vẫn xoay quanh sản phẩm và dịch vụ

mà công nghệ đó tạo ra

Theo công cụ tìm kiếm Wikipedia (http://vi.wikipedia.org/wiki/cong-nghe) thì Công nghệ còn được định nghĩa là sự tạo ra, sự biến đổi, việc sử dụng, và kiến thức về các công cụ, máy móc, kỹ thuật, kỹ năng nghề nghiệp, hệ thống, và phương pháp tổ chức, nhằm giải quyết một vấn đề, cải tiến một

Trang 18

16

giải pháp đã tồn tại, đạt một mục đích, hay thực hiện một chức năng cụ thể Công nghệ cũng có thể là tập hợp những công cụ bao gồm máy móc, sự sắp xếp, hay những quy trình Công nghệ ảnh hưởng đáng kể lên khả năng kiểm soát và thích nghi của con người cũng như của những động vật khác vào môi trường tự nhiên của mình Thuật ngữ có thể được dùng theo nghĩa chung hay cho những lĩnh vực cụ thể, ví dụ như "công nghệ xây dựng", "công nghệ thông tin”

Theo quan điểm của UNIDO: Công nghệ là việc áp dụng khoa học vào công nghiệp bằng cách sử dụng các kết quả nghiên cứu và xử lý nó một cách

có hệ thống và có phương pháp

Theo quan điểm của ESCAP: Công nghệ là hệ thống kiến trúc, quy trình

và kỹ thuật dùng để chế biến vật liệu và xử lý thông tin Nó bao gồm kiến thức, kỹ năng, thiết bị, phương pháp và các hệ thống dùng trong việc tạo ra hàng hóa và cung cấp dịch vụ

Theo tác giả Trần Ngọc Ca, năm 1987 đã đưa ra một khái niệm nhiều tính

áp dụng về công nghệ như sau: Công nghệ có thể được hiểu như mọi loại hình kiến thức, thông tin, bí quyết, phương pháp (gọi là phần mềm) được lưu giữ dưới các dạng khác nhau (con người, ghi chép…) và mọi loại hình thiết

bị, công cụ, tư liệu sản xuất (gọi là phần cứng) và một số tiềm năng khác (tổ chức, pháp chế, dịch vụ…) được áp dụng vào môi trường thực tế để tạo ra các loại sản phẩm và dịch vụ

Như vậy có rất nhiều khái niệm được đưa ra khi định nghĩa về công nghệ Với tác giả R.Jones, năm 1970 hay Theo tác giả J.R Dunning, năm 1982 khái niệm về công nghệ được các tác giả đưa ra từ những năm 70,80 Tuy nhiên có lẽ với thời điểm hiện tại khi mà bao quanh công nghệ còn rất nhiều yếu tố khác ngoài mục tiêu “hàng hóa” thì khái niệm trên có lẽ chưa thực sự

Trần Ngọc Ca, theo tác giả thì công nghệ được đưa ra khá chi tiết và đẩy đủ Trên cơ sở tổng hợp và khái quát các định nghĩa về công nghệ, ta có thể thấy

Trang 19

17

công nghệ là các kiến thức, phương pháp, kỹ năng (gọi là phần công nghệ không thể chuyển giao) và các giải pháp, kỹ thuật, quy trình, thiết bị máy móc (gọi là phần công nghệ có thể chuyển giao) được áp dụng vào môi trường thực tế để tạo ra các sản phẩm và dịch vụ

1.1.4 Công nghệ xanh và các khái niệm liên quan

- Theo một trang web http://ktrungthuy.wordpress.com/, tập hợp các bài viết về Vật liệu MOFS có định nghĩa: “Công nghệ xanh là một khái niệm mới của con người trước nguy cơ ô nhiễm toàn cầu Đây là các loại hình công nghệ do các nhà khoa học đề xuất nhằm mục đích cổ suý việc tạo dựng

và tiêu dùng năng lượng qua chiều hướng phát thải phế thải không độc hại hay ít độc hại hạn chế được vấn nạn hâm nóng toàn cầu hiện tại Từ suy nghĩ

đó, các phương cách, quy trình mới, sáng tạo được đề xuất cải tiến các công nghệ cũ trở thành công nghệ xanh để bảo vệ môi trường chung cho thế giới”

Trong bài viết “Đất hiếm và công nghệ xanh” đăng trên báo Khoa học

và Tổ quốc tháng 7/2009, tác giả Nguyễn Xuân Chánh định nghĩa: Công nghệ xanh (Greentech), công nghệ sạch (Cleantech) hoặc công nghệ môi trường (Envirotech) có nghĩa gần như nhau, đó là một khái niệm mới của con người trước nguy cơ ô nhiễm toàn cầu Khái niệm này do các nhà khoa học chân chính đưa ra nhằm cổ vũ cho việc tạo ra và sử dụng năng lượng theo chiều hướng tiết kiệm, phát thải phế thải không độc hại hoặc ít gây độc hại nhằm hạn chế hâm nóng toàn cầu đang xảy ra ngày càng trầm trọng

Từ đó các nhà khoa học nghĩ ra phương pháp mới hoặc cải tiến các công nghệ cũ trở thành công nghệ xanh để bảo vệ tốt môi trường

Khái niệm công nghệ xanh rất rộng, gồm nhiều lĩnh vực, có thể liệt kê những lĩnh vực chính như sau:

+ Phát triển bền vững bằng công nghệ thân thiện với môi trường, không làm ảnh hưởng đến nguồn tài nguyên thiên nhiên hay gây nguy hại đến những thế hệ tương lai

Trang 20

+ Sử dụng năng lượng hợp lý, giảm thiểu tiêu hao năng lượng để bảo

vệ môi trường thiên nhiên

- Trong Quyết định số 1393/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ ngày

25 tháng 9 năm 2012 về việc phê duyệt Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh, phần các thuật ngữ kèm theo quyết định trên, công nghệ xanh được định nghĩa như sau: “Công nghệ xanh là công nghệ phát triển, áp dụng sản phẩm, trang bị và những hệ thống được dùng để bảo tồn môi trường và tài nguyên, giảm thiểu tác động tiêu cực từ hoạt động của con người” Những công nghệ xanh chủ yếu là:

+ Công nghệ năng lượng xanh (tiết kiệm năng lượng hóa thạch, tái tuần hoàn năng lượng trong sản xuất công nghiệp, giảm phát thải, năng lượng mặt trời, năng lượng gió, năng lượng thủy triều, hệ thống quản lý điện thông minh )

+ Công nghệ cơ khí giao thông vận tải với động cơ sử dụng năng lượng mới, ít phát thải, hệ thống điều hành giao thông thông minh, v v

+ Công nghệ nông, lâm, sinh học (giống cây trồng, canh tác và chế biến nông lâm thủy sản) không tác động ô nhiễm môi trường

+ Công nghệ hóa học xanh (sản xuất chất dẻo tổng hợp từ nguyên liệu thực vật dễ tiêu hủy, sản xuất từ nguyên liệu tái sinh, xử lý chất thải độc hại, sản xuất ít hoặc không có phụ phẩm và chất thải, sản xuất tiêu thụ ít nước và các hóa chất khác, )

+ Công nghệ xử lý chất thải (tái chế chất thải, phòng ngừa và tiêu hủy chất thải độc hại)

Trang 21

19

Ở Việt Nam hiện nay “công nghệ xanh” là một khái niệm còn mới, xuất hiện vào khoảng những năm cuối thế kỷ 20 Nhưng khoảng 5 năm trở lại đây, các khái niệm như “tăng trưởng xanh”, “kinh tế xanh”, “công nghệ xanh” mới xuất hiện một cách mạnh mẽ Trong vòng 02 năm từ năm 2012 -

2013, Thủ tướng chính phủ đã ký một loạt các quyết định liên quan đến nội dung trên Ví dụ: Quyết định về Phê duyệt Chiến lược sử dụng Công nghệ sạch giai đoạn 2020 tầm nhìn 2030 ký ngày 30/12/2013; Quyết định về Phê duyệt Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh ký ngày 25/9/2012; Quyết định về Phê duyết Chiến lược Bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 ký ngày 05/9/2012 Sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật đã mang đến nhiều kết quả và thành công lớn trong các lĩnh vực kinh

tế Tuy nhiên, hệ lụy kéo theo là sự ô nhiễm môi trường ngày càng gia tăng,

ô nhiễm nước và sự cạn kiệt của tài nguyên thiên nhiên Các biện pháp khắc phục ô nhiễm, giảm thiểu ô nhiễm được áp dụng nhiều, tuy nhiên hiệu quả mang lại chưa cao Trước nguy cơ ô nhiễm hiện nay, trong đó ô nhiễm nước

là bài toán quan tâm của hầu hết các quốc gia Một số quốc gia trên thế giới

đã thực hiện các biện pháp mang tính tình thế là di chuyển toàn bộ hệ thống các cụm, khu công nghiệp ra khỏi thành phố Hay những phương pháp làm giảm ô nhiễm, xử lý nước ô nhiễm, xử lý rác thải mang tính tạm thời và ít

hiệu quả Và khái niệm công nghệ xanh, công nghệ sạch, công nghệ thân

thiện với môi trường đã lần lượt ra đời giống như cách thức để lấy lại sự cân

bằng của tự nhiên và con người trong tạo hóa Nói một cách đơn giản, việc

xử dụng công nghệ xanh hay sạch đều là cách áp dụng sự tiến bộ của công nghệ, đổi mới công nghệ nhằm tiết kiệm nhiên liệu, bảo toàn nước và gây tác hại ít nhất đến môi trường trong quá trình hoạt động, sản xuất

Như vậy có thể hiểu như sau, Công nghệ xanh là nền công nghệ tiên tiến, hiện đại Khác với Công nghệ đơn thuần với mục đích quan trọng là tạo

ra sản phẩm đáp ứng “năng suất” và “chất lượng” ngày càng cao với nhu cầu

xã hội, trong đó yếu tố môi trường có thể có hoặc không xuất hiện trong mục đích của công nghệ đó Công nghệ xanh là công nghệ mà mục đích là hướng

Trang 22

20

vào sự bảo vệ môi trường, tài nguyên thiên nhiên và sự cân bằng sinh thái, tiết kiệm nhiên liệu Yếu tố “công nghệ” trong Công nghệ xanh có khi là thấp nhưng thường là mang tầm vóc của một công nghệ tiên tiến Chính vì vậy, khi nhắc đến việc tạo ra, ứng dụng một công nghệ xanh thì yếu tố về đổi mới công nghệ hay đổi mới sáng tạo luôn được chú ý Ở Việt Nam, việc ứng dụng công nghệ xanh cũng đã được Chính phủ có những ưu tiên cụ thể

Đó là sự thiết lập cơ chế hỗ trợ tài chính cho các dự án về ứng dụng công nghệ xanh thông qua việc thành lập Quỹ bảo vệ Môi trường, hoặc các ưu đãi

về thuế, về tín dụng… cho các công ty, doanh nghiệp, ứng dụng và áp dụng công nghệ xanh

Công nghệ xanh trong việc xử lý nước thải gây ô nhiễm môi trường là việc đổi mới công nghệ, áp dụng công nghệ tiên tiến nhằm xử lý tái chế các chất thải từ nước một cách hiệu quả nhất, an toàn với môi trường và tạo cảnh quan sinh thái đảm bảo môi trường sống

Các khái niệm liên quan:

Sản xuất sạch hơn: Là việc cải tiến liên tục quá trình sản xuất, sản

phẩm và dịch vụ nhằm giảm sử dụng tài nguyên, hạn chế phát sinh các tác nhân gây ô nhiễm môi trường không khí, nước và đất, giảm thiểu rủi ro cho con người và môi trường (Theo Thông tư quy định về bảo vệ môi trường làng nghề số 46/2011/TT-BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường ngày 26/12/2011)

Công nghệ thân thiện môi trường: Là công nghệ sử dụng tiết kiệm tài

nguyên, giảm tối đa việc phát sinh chất thải gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến sức khỏe của con người (Theo Thông tư quy định về bảo vệ môi trường làng nghề số 46/2011/TT-BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường ngày 26/12/2011)

Nền kinh tế xanh: Là nền kinh tế tạo ra, phân phối sản phẩm và dịch

vụ thân thiện với môi trường, năng lượng tái tạo, giao thông và nhiên liệu sạch và công trình xanh, giảm mức tiêu thụ năng lượng, nguyên liệu, nước

Trang 23

21

thông qua chiến lược hiệu quả năng lượng và tài nguyên và chuyển đổi từ các cấu phần các-bon sang không các-bon (Theo định nghĩa của OECD)

Việc làm xanh: Là những công việc trong nông nghiệp, sản xuất,

nghiên cứu và phát triển, hoạt động hành chính, và dịch vụ đóng góp đáng

kể để bảo tồn, khôi phục lại chất lượng môi trường Thí dụ các công việc giúp bảo vệ hệ sinh thái và đa dạng sinh học, giảm tiêu thụ năng lượng, vật liệu, và nước thông qua các chiến lược hiệu quả cao, giảm phát thải các-bon cho nền kinh tế và giảm thiểu hoặc tránh hoàn toàn tất cả các hình thức chât thải và ô nhiễm (Theo định nghĩa của Liên hợp quốc về Môi trường-UNEP)

Công nghiệp xanh: “Là ngành công nghiệp tạo ra 4 nhóm sản phẩm

chính gồm: Các sản phẩm xanh; Năng lượng mới và tái tạo (phát thải CO2 thấp); Dịch vụ xanh; Môi trường bền vững” (Theo TS Đỗ Hữu Hào – Chủ tịch Hiệp hội Công nghiệp Môi trường Việt Nam)

Công nghệ sạch: "Công nghệ sạch là quy trình công nghệ hoặc giải

pháp kỹ thuật không gây ô nhiễm môi trường, thải hoặc phát ra ở mức thấp nhất chất gây ô nhiễm môi trường"

Vậy “công nghệ xanh” và “công nghệ sạch” có gì giống và khác nhau? Công nghệ sạch được nhắc đến nhiều, theo nhiều nhà nghiên cứu nhận xét thì yếu tố “công nghệ” trong công nghệ sạch là khá cao Việc áp dụng công nghệ sạch, giống như sự đổi mới công nghệ Có thể áp dụng công nghệ sạch đối với các quy trình sản xuất trong bất kỳ ngành công nghiệp nào

và bất kỳ sản phẩm công nghiệp nào Đối với các quá trình sản xuất, công nghệ sạch nhằm giảm thiểu các tác động môi trường và an toàn của sản phẩm trong suốt chu trình sống của sản phẩm, bảo toàn nguyên liệu, nước, năng lượng và loại bỏ các nguyên liệu độc hại, nguy hiểm, giảm độc tính của các khí thải, chất thải ngay từ khâu đầu của quy trình sản xuất

Công nghệ sạch được đánh giá là công nghệ hướng vào sự phát triển bền vững - Kinh doanh bền vững Công nghệ sạch sẽ giúp con người giảm bớt việc tiêu thụ các nguồn tài nguyên thiên nhiên Nó có thể áp dụng trong

Trang 24

22

các lĩnh vực như năng lượng, vận tải, nông nghiệp, công nghiệp, không khí hay tài nguyên nước Hiện nay ở Việt Nam, các công nghệ sạch tập trung nhiều vào việc xử lý rác thải, xử lý nguồn nước và tái chế Ví dụ trong lĩnh vực Nông nghiệp thì Nông nghiệp sạch (hay còn gọi là nông nghiệp hữu cơ)

là hệ thống quản lý sản xuất nông nghiệp tránh sử dụng phân bón và thuốc trừ sâu tổng hợp Điều đó sẽ giúp giảm thiểu tối đa ô nhiễm không khí, đất

và nước, tối ưu về sức khỏe và hiệu quả của các cộng đồng sống phụ thuộc lẫn nhau giữa cây trồng, vật nuôi và con người

Ngày càng có nhiều giải pháp kỹ thuật, quy trình công nghệ tạo ra những công nghệ tiên tiến nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường như: Nhiên liệu sinh học từ tảo, Pin mặt trời hữu cơ, Năng lượng biển, Năng lượng gió Khái niệm về công nghệ xanh tuy đã được sử dụng nhiều ở các nước trên thế giới trong đó có Việt Nam, tuy nhiên giống như “công nghệ sạch”, “công nghiệp xanh” hay “kinh tế xanh”… hiện trong Luật KH&CN năm 2013 chưa

có một định nghĩa chính thức nào về các khái niệm trên Các Nghị định, Thông tư đi cùng với Luật KH&CN 2013 cũng chưa nhắc đến các khái niệm trên Tuy nhiên các khái niệm trên lại được xuất hiện rất nhiều trong các quyết định của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt các chiến lược phát triển, trong đó có Chiến lược phát triển KH&CN

Trong phạm vi đề tài nghiên cứu của mình, tác giả muốn đi sâu phân tích thêm sự giống và khác của các khái niệm trên, khi mà chúng xuất hiện với tần suất nhiều trong các hội thảo, hội nghị cũng như trong các Quyết định phê duyệt các chiến lược phát triển của Thủ tướng Chính phủ trong khoảng hai năm gần đây Có hai khái niệm được nhắc đến nhiều nhất và có

vẻ gần giống nhau đó là “công nghệ xanh” (green Technology) và “công nghệ sạch” (Clearn Technogogy) Theo một số tác giả thì khái niệm “Công nghệ xanh” và “Công nghệ sạch” là những khái niệm có tương tự nhau Về bản chất đó đều là các công nghệ thân thiện với môi trường, bảo vệ môi trường Đó là các giải pháp về công nghệ, đổi mới công nghệ, cải tiến công nghệ để nhằm tiết kiệm nhiên liệu, bảo toàn nước, năng lượng trong quá

Trang 25

23

trình sản xuất, tận dụng các năng lượng tự nhiên như gió, năng lượng mặt trời trong quá trình sản xuất và phục vụ nhu cầu của xã hội Như vậy xét về mục đích của hai khái niệm trên là giống nhau Cả hai khái niệm trên đều có thể sử dụng chung trong khái niệm công nghệ “thân thiện với môi trường”

Và trên thực tế những công nghệ thân thiện với môi trường đó đã xuất hiện trong Luật Chuyển giao công nghệ, đó là một trong số các công nghệ được

ưu tiên và khuyến khích chuyển giao

Tuy nhiên, theo tác giả luận văn thì trên thực tế hai khái niệm này là hai khái niệm về công nghệ có điểm khác nhau khá rõ Chứ không phải có

sự đánh đồng hai công nghệ trên là một hay như nhau Bởi theo tác giả luận văn thì Công nghệ sạch thực chất là những công nghệ đã được đổi mới, cải tiến, trở thành các giải pháp, quy trình mà trong quá trình sản xuất có thể tiết kiệm nhiên liệu, diện tích sử dụng… đến mức tối đa, bảo toàn được nước trong quá trình sản xuất mà đầu ra là các sản phẩm an toàn với môi trường

và có thể tiếp tục tái tạo sử dụng Công nghệ sạch, có thể trước đó chỉ là một công nghệ đơn thuần Ví dụ: Công nghệ về hầm Biogas xử lý phân hữu cơ chuyển hóa thành khí đốt Tuy nhiên do công nghệ trên hiện có nhiều hạn chế, đặc biệt là chất thải Với việc áp dụng công nghệ của Hàn Quốc, hiện Công nghệ về hầm Biogas đang được cải tiến một trong số quy trình công nghệ đó chính là việc ép các chất thải thành lớp bùn khô, không gây ô nhiễm

và hoàn toàn có thể tái sử dụng Như vậy, công nghệ mới trên được gọi là

“công nghệ sạch” Áp thể áp dụng công nghệ sạch trong bất kỳ một quy trình sản xuất nào nhằm hạn chế đến mức thấp nhất ô nhiễm môi trường

Công nghệ xanh về cơ bản đó là những công nghệ tiên tiến, công nghệ phát triển với các tính năng thông minh Trong lĩnh vực năng lượng, đó là các thiết bị công nghệ cao, có thể tích hợp và chuyển hóa được nhu cầu sử dụng năng lượng từ năng lượng mặt trời, năng lượng gió, hệ thống quản lý điện thông minh (tự bật, tắt, tự điều chỉnh theo nhu cầu con người), hệ thống

xử lý nước thải, chất thải có thể tái tạo sử dụng, hoặc trong giao thông là các

Trang 26

là dòng xe điện sử dụng Pin Lithium, với tính năng không phác thải khí độc hại ra môi trường Hay hệ thống đèn tiết kiệm điện Compact và đèn LED chính là những sản phẩm được ứng dụng từ công nghệ xanh, v v Như vậy, công nghệ xanh là công nghệ tiên tiến, với việc ứng dụng để tạo ra nhiều sản phẩm thân thiện với môi trường

Tóm lại, tổng hợp từ các khái niệm cũng như các định nghĩa trên, ta

có thể đưa ra tóm tắt chung như sau: Công nghệ “xanh” là công nghệ tiên tiến, sử dụng các giải pháp, quy trình công nghệ hiện đại, thông minh nhằm tận dụng các tài nguyên thiên nhiên (ngoại trừ các năng lượng hóa thạch và sinh ra nhiều CO2 và khí Metan), nhằm giảm thiểu nguy cơ ô nhiễm môi trường, bảo toàn và định hướng đến một nền công nghệ mang tính bền vững

1.1.5 Nước thải gây ô nhiễm môi trường

Khái niệm về môi trường: Theo Luật bảo vệ môi trường 2005 thì

“Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất, nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và sinh vật ( Điều 3.1)

Khái niệm về ô nhiễm môi trường: Cũng theo Luật bảo vệ môi trường

2005 thì “Ô nhiễm môi trường là sự biến đổi của các thành phần môi trường

Trang 27

Còn theo tổ chức Y tế thế giới (WHO) thì “Ô nhiễm môi trường là việc chuyển các chất thải hoặc các nguyên liệu vào môi trường đến mức vượt trên các chủ số quy định, có khả năng gây hại cho sức khỏe của con người và sự phát triển của sinh vật hoặc làm giảm chất lượng môi trường sống”

Ô nhiễm môi trường hiện nay là vấn đề quan tâm của toàn cầu Môi trường bao gồm môi trường tự nhiên và môi trường xã hội Môi trường tự nhiên bao gồm các thành phần của tự nhiên như địa hình, địa chất, đất đai, nước, không khí, sinh vật… Môi trường xã hội là tổng thể các mối quan hệ giữa con người với con người, định hướng hoạt động của con người theo khuân khổ nhất định, môi trường xã hội được thể hiện cụ thể bằng các luật lệ mang tính quy phạm

Ô nhiễm môi trường nước: Nguồn nước bị ô nhiễm thường có thể gây

ra bởi các nước thải trong quá trình sinh hoạt, sản xuất, trong các nhà máy hoặc bởi hóa chất độc hại Nước bị ô nhiễm là nguồn nước chứa các chất lạ

ở thể lỏng, rắn, làm thay đổi tính chất vật lý-hóa học-sinh học của nước theo hướng xấu đi và trở nên độc hại với con người và sinh vật Ô nhiễm nguồn nước chính là nguyên nhân ngây ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của con người

1.1.6 Tương quan giữa công nghệ, công nghệ xanh và vấn đề xử lý nước thải gây ô nhiễm

Nước thải gây ô nhiễm môi trường hiện nay là vấn đề gây nhức nhối của nhiều quốc gia trên thế giới Trong khi các nhà khoa học đau đầu để

Trang 28

26

nghiên cứu và tìm ra các giải pháp khắc phục những hậu quả đang diễn ra hiện nay thì nhiều quốc gia trên thế giới, chủ yếu là các nước có nền kinh tế phát triển lại chọn các biện pháp tình tế để hạn chế nguồn nước thải công nghiệp đó là di chuyển các nhà máy ra khỏi các thành phố lớn, hoặc chuyển các nhà máy sang các đất nước đang phát triển Đây không phải là chính sách tối ưu, mặc dù đó là cách mà các nước phát triển đã và đang làm Ví dụ Hàn Quốc, trong mục tiêu phát triển thành phố xanh của mình thì việc di chuyển các nhà máy sang đất nước khác là điều họ nhắc đến Tuy nhiên đó

là các nhà máy, các khu công nghiệp Vậy còn các khu du lịch, các khu nghỉ dưỡng, khu dân cư và các nhà hàng lớn… đang trực tiếp hiện hữu trong đất nước của họ thì sao? Và khi các nước đang phát triển cũng có những chính sách để hạn chế và không đồng ý để các nhà máy có nguy cơ ô nhiễm cao xây dựng trên đất nước của họ? Đó là tình huống ở tương lai rất gần và hiện hữu với các nhà quản lý Và tương tự một số nước như Thụy Điển, Đan Mạch, Đức, Anh, Israel… là các quốc gia hàng đầu trên thế giới về công nghệ xanh, công nghệ sạch và thân thiện với môi trường, nhiều nước ở khu vực châu Á cũng bắt đầu có những đầu tư, nghiên cứu khoa học và các hoạt động chuyển giao công nghệ cụ thể để đẩy mạnh ứng dụng các công nghệ xanh trên Ở Châu Á, tiêu biểu là đất nước Hàn Quốc Hàn Quốc trong thời gian qua đã có những hợp tác và hỗ trợ cụ thể với phía Việt nam trong việc thúc đẩy chuyển giao các công nghệ xanh trong xử lý nước thải gây ô nhiễm môi trường

Khi nước thải trực tiếp thải ra môi trường không qua xử lý sẽ gây nguy cơ ô nhiễm cao Với các khu công nghiệp, các nhà máy, các làng nghề nhuộm, dệt, chế biến lâm sản… thì ô nhiễm đã quá nặng Công nghệ ngày càng phát triển, thay đổi liên tục Công nghệ cũng được đổi mới thường xuyên để tăng năng xuất, nhưng các công nghệ về xử lý rác thải và xử lý ô nhiễm, thì chưa có hiệu quả Thúc đẩy ứng dụng các công nghệ xanh, công nghệ thân thiện với môi trường trong tương quan với việc giảm thiểu và xử

Trang 29

Chính sách tài chính đúng đắn, phù hợp thì việc công nghệ xanh ứng dụng vào thực tế trong vai trò bảo đảm môi trường phát triển bền vững, bảo

vệ môi trường sống mới được tiến hành Ngược lại, chính sách tài chính không phụ hợp, đầu tư dàn trải, chưa khích lệ những yếu tốt sáng tạo - đổi mới sẽ khó thúc đẩy việc ứng dụng công nghệ xanh Bởi đây là công nghệ phát triển, công nghệ tiên tiến cần có sự đầu tư đúng trên nhiều khía cạnh

Hoạt động ứng dụng công nghệ xanh có tính chất đặc thù riêng, chính

là ở tính mới của công nghệ Nhiều nước phát triển trên thế giới đã ứng dụng thành công các công nghệ xanh Ở Việt Nam, việc ứng dụng công nghệ xanh vẫn còn gặp nhiều khó khăn Trong đó, chính sách hỗ trợ tài chính là một vấn đề gặp nhiều khó khăn hiện nay Chính sách tài chính đúng đắn, đầu tư trọng điểm, lâu dài chính là cơ sở để thúc đẩy ứng dụng công nghệ xanh ở Việt Nam trong thời gian tới

Trang 30

28

Kết luận Chương I

Ngoài việc phân tích những khái niệm cơ bản về chính sách nói chung

và chính sách tài chính; công nghệ nói chung và các loại hình công nghệ thân thiện môi trường, trong chương I đã nhấn mạnh: việc khuyến khích ứng dụng các công nghệ xanh, công nghệ thân thiện với môi trường trong xử lý ô nhiễm môi trường nói chung và nước thải nói chung đang được nhiều nước trên thế giới quan tâm Với một loạt những biến đổi bất thường về khí hậu như hiệu ứng nhà kính, trái đất nóng lên, ô nhiễm sông, suối, nước sinh hoạt đặt ra nhiều hướng nghiên cứu khác nhau, trong đó phát triển bền vững là yếu tố được đặt lên hàng đầu Tuy nhiên, với sự phát triển như vũ bão của tiến bộ khoa học và công nghệ, việc phát triển bền vững cũng cần phải gắn với công nghệ Các công nghệ tiên tiến, hiện đại, các công nghệ thông minh, tiết kiệm nhiên liệu cần được đầu tư phát triển Đổi mới công nghệ, đổi mới sáng tạo, là cần thiết khi tiến hành áp dụng các công nghệ được gọi là “công nghệ xanh” trong các giải quyết vấn đề về môi trường trên Nhưng để ứng dụng và thúc đẩy ứng dụng các công nghệ trên, cần có nhiều yếu tố tác động cụ thể liên quan đến nội lực và ngoại lực như phát triển nguồn nhân lực, thiết chế chính sách xã hội, hợp tác quốc tế và đặc biệt là chính sách tài chính Chính sách tài chính đúng đắn, đầu tư có trọng điểm, tập trung vào các dự án lớn, quan trọng sẽ mang lại những hiệu quả thiết thực Đó chính là nội dung mà tác giả luận văn tiếp tục triển khai và đi sâu ở phần tiếp theo

Trang 31

2.1.1 Các chiến lược phát triển công nghệ thân thiện với môi trường của Chính phủ

Quyết định số 1393/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh ngày 25 tháng 9 năm 2012

đã nêu rõ định nghĩa về Công nghệ xanh và các định nghĩa liên quan Trong

mục 6.III nêu: “Các ngành kinh tế phải xây dựng và thực hiện chương trình

hành động theo hướng tăng trưởng xanh, chú trọng ứng dụng công nghệ

Trang 32

30

xanh…”, “Khuyến khích doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp trong nước đầu tư vào lĩnh vực phát triển kinh tế xanh, nhập khẩu, sử dụng và nội địa hóa công nghệ xanh.”

Quyết định số 2612/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chiến lược sử dụng công nghệ sạch giai đoạn đến năm 2020, tầm nhìn

2030, quyết định trên đã nêu rất cụ thể các chiến lược phát triển công nghệ sạch trong từ giai đoạn và mục tiêu sử dụng công nghệ sạch, thân thiện môi

trường Đặc biệt trong Quyết định còn nêu rõ nhiệm vụ Đổi mới công nghệ

theo hướng sử dụng công nghệ sạch và việc nghiên cứu chuyển giao, ứng

dụng, trình diễn công nghệ sạch trong các công đoạn sản xuất tại khoản 2,3 mục III của Quyết định

Theo Nghị định số 75/2011/NĐ-CP ngày 30/8/2011 (có hiệu lực ngày

20/10/2011) về tín dụng đầu tư và tín dụng xuất khẩu của Nhà nước, các dự

án đầu tư xây dựng nhà máy phát điện sử dụng các nguồn năng lượng gió, mặt trời, địa nhiệt, sinh học và các tài nguyên năng lượng khác có khả năng tái tạo sẽ được vay vốn tín dụng ưu đãi từ ngân hàng phát triển Việt Nam

Quyết định số 130/2007/QĐ-TTg ngày 02/9/2007 của Thủ tướng chính phủ về một số cơ chế chính sách đầu tư theo cơ chế phát triển sạch có

nêu: dự án đầu tư sản xuất theo công nghệ mới, tiên tiến thân thiện với môi

trường, có kết quả giảm phát thải khí nhà kính được miễn thuế; tiền sử dụng đất, tiền thuê đất; khấu hao tài sản cố định; tín dụng đầu tư của nhà nước theo quy định Đồng thời được xem xét trợ giá đối với sản phẩm của dự án

thuộc lĩnh vực ưu tiên; Được xem xét hỗ trợ tài chính trong việc lập, xây dựng dự án theo quy định của pháp luật hiện hành

Quyết định số 1393/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 25 tháng

9 năm 2012 là quyết định phê duyệt Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh thời kỳ 2011- 2020 và tầm nhìn đến năm 2050 Đây là quyết định quan trọng trong việc thúc đẩy hoạt động ứng dụng các công nghệ thân thiện với môi trường hiện nay Quyết định đã nêu lên nhiệm vụ cũng như giải pháp để

Trang 33

31

phát triển kinh tế xanh trong điều kiện hiện nay ở Việt Nam, đồng thời cũng nêu rõ từng giai đoạn thực hiện các nhiệm vụ chiến lược trên Theo quyết định trên thì giai đoạn 2011 - 2020 tập trung vào công tác đào tạo nhân lực, tuyên truyền nâng cao nhận thức, xây dựng cơ chế chính sách, bộ máy quản

lý, xây dựng hệ thống thông tin dữ liệu, và xác định các dự án trọng điểm để đầu tư Đặc biệt một trong những giải pháp mà Chính phủ đưa ra để phát triển nền kinh tế xanh là việc huy động các nguồn đầu tư tài chính, tín dụng, ngân sách nhà nước, doanh nghiệp và các loại hình Quỹ, vốn đầu tư nước ngoài ; đồng thời là việc chú trọng hoạt động đổi mới công nghệ, ứng dụng công nghệ mới

2.1.2 Chính sách ưu tiên phát triển công nghệ xanh, công nghệ thân thiện với môi trường trong các văn bản thuộc lĩnh vực KH&CN

Luật Chuyển giao công nghệ 2006, đã đưa ra nội dung về các công

nghệ thân thiện với môi trường Khoản 7, điều 9 đã nêu các công nghệ sạch,

công nghệ thân thiện môi trường là những công nghệ được khuyến khích

chuyển giao

Luật Công nghệ cao 2008, Định nghĩa về Công nghệ cao có ghi: công

nghệ có hàm lượng cao về nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ; được tích hợp từ thành tựu khoa học và công nghệ hiện đại; tạo ra sản phẩm

có chất lượng, tính năng vượt trội, giá trị gia tăng cao, thân thiện với môi trường Trong luật Công nghệ cao còn nêu rõ, muốn trở thành doanh nghiệp

công nghệ cao cũng cần phải đáp ứng điều kiện: Áp dụng các biện pháp thân

thiện môi trường, tiết kiệm năng lượng trong sản xuất và quản lý chất lượng sản phẩm đạt tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật của Việt Nam; trường hợp chưa có tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật của Việt Nam thì áp dụng tiêu chuẩn của tổ chức quốc tế chuyên ngành

Quyết định số 418/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 11/4/2012

về việc phê duyệt Chiến lược phát triển khoa học và công nghệ giai đoạn 2011-2020, trong Điểm C, Khoản 3, Mục III về các công nghệ ưu tiên có

Trang 34

32

nêu “Phát triển công nghệ xử lý nước thải, chất thải rắn, chất thải nguy hại,

khí thải với tính năng, giá thành phù hợp với điều kiện của Việt Nam Ứng dụng công nghệ sản xuất sạch, công nghệ thân thiện với môi trường trong sản xuất, kinh doanh nhằm giảm thiểu phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính Phát triển công nghệ tái chế chất thải.” Đồng thời trong việc nghiên cứu

ứng dụng các công nghệ về năng lượng thì công nghệ xanh cũng được ưu

tiên phát triển gồm “Nghiên cứu ứng dụng các dạng năng lượng mới, năng

lượng tái tạo như: Năng lượng mặt trời, năng lượng gió, năng lượng sóng biển, sinh khối, địa nhiệt và nhiên liệu sinh học.”

Như vậy, các công nghệ thân thiện với môi trường đã được nêu ra trong Luật, Quyết định trong lĩnh vực KH&CN Trong Quyết định số 1393/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 25 tháng 9 năm 2012, có 03

Bộ được giao thực hiện chiến lược trên gồm Bộ Kế hoạch - Đầu tư; Bộ Tài chính; Bộ Tài nguyên và Môi trường, các bộ ngành khách phối hợp thực hiện Tuy nhiên trong chiến lược tăng trưởng xanh đặt ra câu hỏi làm sao để

có nền kinh tế xanh, tăng trưởng xanh, phát triển xanh ? Phần nhiều chính

là vai trò quan trọng của công nghệ Nền khoa học và công nghệ tiên tiến, khả năng ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật, đổi mới công nghệ để phát triển nền công nghệ sạch, công nghệ xanh chính là một trong những chìa khóa quan trọng để thực hiện một nền kinh tế xanh Như vậy, trong xu thế tăng trưởng xanh thì vai trò của các nhà nghiên cứu khoa học, của cơ quan chủ quản là Bộ KH&CN rất quan trọng Định hướng tư tưởng, tuyên truyền

cổ động, đào tạo, phát triển nguồn nhân lực, chuẩn bị các tiềm lực về tài chính, cơ chế chính sách còn cần có sự đi tiên phong của các nhà khoa học, các kỹ sư công nghệ đầu ngành Việc hệ thống hóa các văn bản liên quan trên, tác giả muốn có một cái nhìn bao quát nhất về các cơ chế chính sách cho sự định hướng và phát triển Theo thống kê của tác giả, hiện nay trong

Bộ KH&CN có Viện Năng lượng nguyên tử đã thành lập các nhóm nghiên cứu, các đề tài liên quan đến công nghệ xanh, công nghệ thân thiện với môi trường Viện Chiến lược và Chính sách KH&CN cũng đã thành lập những

Trang 35

33

nhóm nghiên cứu về chiến lược phát triển tăng trưởng xanh, công nghệ xanh Trong năm 2014, Viện đã tổ chức nhiều Hội thảo về chiến lược phát triển công nghệ xanh, cũng như đổi mới công nghệ cho nền kinh tế xanh Tuy nhiên, với những hệ thống chính sách nói trên, cũng như các ví dụ mà tác giả đưa ra, có lẽ cần đẩy mạnh hơn nữa vai trò của các nhà khoa học, những người đi tiên phong cho một nền công nghệ bền vững

2.1.3 Văn bản về các chính sách tài chính, thuế liên quan đến công nghệ xanh, công nghệ thân thiện với môi trường

Quyết định số 4227/QĐ-BVHTTDL về việc Phê duyệt Chiến lược phát triển khoa học và công nghệ ngành Văn hoá, Thể thao và Du lịch giai đoạn 2013-2020, tầm nhìn 2030 của Bộ Văn hóa Thể thao và du lịch tại Điểm b, mục 3.3 về định hướng nghiên cứu, ứng dụng và chuyển giao khoa

học và công nghệ ngành Thể thao và Du lịch nêu “Nghiên cứu ứng dụng

công nghệ “xanh” trong phát triển sản phẩm, xây dựng, vận hành các công trình dịch vụ và hoạt động bảo vệ môi trường du lịch”

Đối với các chính sách tài trợ từ ngân sách nhà nước (NSNN) cho công nghệ xanh được thực hiện thông qua hạng mục thu chi ngân sách hàng năm và chi đầu tư xây dựng khoa học cơ bản dành cho khoa học công nghệ

và môi trường Các chính sách ưu đãi về tín dụng, thuế cho việc phát triển công nghệ xanh còn được thể chế hóa trong các Nghị định, Quyết định như:

Về chính sách thuế: Hiện nay ở Việt Nam, việc ưu đãi cho công nghệ

xanh chưa được cụ thể hóa bằng Luật nhưng đã có những điều khoản quy định chính sách ưu đãi thuế đối với các doanh nghiệp thành lập mới từ dự án đầu tư thuộc lĩnh vực ưu đãi thuế Thu nhập doanh nghiệp Ví dụ: Doanh nghiệp thành lập mới từ dự án đầu tư công nghệ xanh thực hiện tại các địa bàn ưu đãi thuế kèm theo Nghị định 124/2008/NĐ-CP ngày 11/12/2008 hoặc doanh nghiệp thành lập mới thuộc lĩnh vực công nghệ cao theo quy định của pháp luật Với các hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ thì các doanh nghiệp này được ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp: được

Trang 36

34

hưởng thuế suất 10% trong 15 năm, miễn thuế tối đa trong 4 năm và giảm thuế tối đa trong 9 năm tiếp theo Còn với các nhà máy, các cơ sở sản xuất đang hoạt động nếu muốn đầu tư để đổi mới công nghệ hoặc một số trang thiết bị trong sản xuất nhằm mục đích hạn chế mức tối đa ô nhiễm môi trường, thì tùy loại, tùy quy mô sẽ được áp dụng những chính sách ưu đãi và

hỗ trợ khác nhau

Nghị định 87/2010/NĐ-CP quy định ưu đãi thuế với các dự án đầu tư vào lĩnh vực công nghệ thân thiện với môi trường Nghị định trên quy định miễn thuế trong thời gian 5 năm kể từ ngày bắt đầu sản xuất đối với: Nguyên liệu, vật tư, linh kiện trong nước chưa sản xuất được nhập khẩu của các dự

án đầu tư vào lĩnh vực đặc biệt khuyến khích đầu tư sử dụng công nghệ mới, công nghệ sạch

Theo Luật bảo vệ môi trường, nghị định số 04/NĐ-CP quy định các

ưu đãi về đất đai, miễn giảm thuế đối với hoạt động bảo vệ môi trường và các ưu đãi khác về hoạt động và sản phẩm từ hoạt động bảo vệ môi trường Trên thực tế còn nhiều các văn bản quy phạm khác có liên quan đến việc đầu

tư, phát triển, ưu tiên và ứng dụng công nghệ xanh, sạch, thân thiện với môi trường Quan việc thống kê trên chúng ta phần nào thấy được các chính sách

ưu tiên của nhà nước trong việc phát triển các lĩnh vực công nghệ môi trường nói trên Đặc biệt là trong khoảng thời gian 5 năm trở lại đây Tuy nhiên, các chính sách cụ thể cho việc phát triển các công nghệ thân thiện môi trường nói chung và công nghệ xanh nói riêng hiện chưa cụ thể và đi vào thực tế Chiến lược phát triển quốc gia, Chiến lược phát triển KH&CN hầu hết mới chỉ dùng lại ở việc nêu ra và hướng tới sự phát triển Các chính sách

về tài chính đi kèm chưa thực sự hấp dẫn Với các Nghị định và Quyết định

về tài chính, ưu đãi về việc giảm thuế, ưu đãi về sử dụng đất, thuế thu nhập doanh nghiệp, vay vốn lãi xuất thấp tuy nhiên, việc chưa thực sự hấp dẫn trong các chính sách tài chính chính là ở phương thức thực hiện để được hưởng các mức ưu đãi đó Ví dụ: Trong một Hội thảo về Công nghệ xanh tổ chức tại Thành phố Hồ Chí Minh vào năm 2011, các câu hỏi được đặt ra với

Trang 37

35

đại diện Bộ Tài chính là lý do việc tiếp nhận các nguồn vốn một cách khó khăn khi ứng dụng công nghệ xanh, theo ông Nguyễn Văn Phụng, phó Vụ trưởng Vụ chính sách Thuế, Bộ Tài chính “Khi phát minh ra công nghệ thì đòi hỏi người phát minh cần biết cách đăng ký quyền sở hữu trí tuệ và phải

có chứng minh đó là “công nghệ xanh” thì lúc đó mới được hỗ trợ về mặt thuế và tài chính Để có chứng nhận xanh thì doanh nghiệp phải làm hồ sơ trình lên Bộ KH&CN để xét duyệt; trong hồ sơ cần chứng minh được công nghệ đó do chính doanh nghiệp mình phát minh ra, thân thiện với môi trường ” Tuy nhiên có thể thấy đây là yêu cầu khó, vì các tiêu chuẩn, quy chuẩn để đánh giá công nghệ thể đưa vào mục là công nghệ xanh hiện còn gặp nhiều khó khăn Đó chính là thực trạng về các chính sách tài chính cho ứng dụng công nghệ xanh ở nước ta hiện nay được bàn ở phần tiếp theo

Tóm lại, việc hệ thống các văn bản liên quan đến ứng dụng phát triển công nghệ xanh, giúp luận văn có cái nhìn bao quát nhất về các cơ chế, chính sách hiện tại của Chính phủ, các Bộ ngành và đặc biệt của Bộ KH&CN trong xu thế phát triển trên Tuy đã có sự quan tâm của Nhà nước, nhưng phát triển công nghệ xanh là nền công nghiệp bền vững, cần sự hội tụ của nhiều yếu tố Trong đó vai trò tiên phong của Bộ KH&CN là rất quan trọng

2.2 Các chính sách tài chính, các chính sách ưu tiên cho việc ứng dụng công nghệ xanh ở nước ta hiện nay

2.2.1 Các chính sách đầu tư

Theo thống kê từ Bộ Tài chính, chính sách tài trợ từ ngân sách nhà nước dành cho công nghệ xanh tăng lên hàng năm Cụ thể, năm 2008 tăng so với năm 2007 là 11%, năm 2009 tăng so với năm 2008 là 32,6%; năm 2010 tăng 21% so với năm 2009 và năm 2011 tăng so với năm 2010 là 22% Các

dự án đầu tư xây dựng chỉ sử dụng nguồn năng lượng gió, mặt trời, điện nhiệt, sinh học và các năng lượng khác có khả năng tái tạo sẽ được vay vốn

ưu đãi từ Ngân hàng Phát triển Việt Nam

Ngày đăng: 02/11/2016, 10:12

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Tuấn Anh (2012), “Doanh nghiệp chú trọng hơn vào công nghệ xanh”, Báo Thương Mại Sách, tạp chí
Tiêu đề: Doanh nghiệp chú trọng hơn vào công nghệ xanh
Tác giả: Tuấn Anh
Năm: 2012
2. Nguyễn Vân Anh (2012) “Bàn về một số vấn đề trích lập Quỹ và sử dụng Quỹ KH&CN”, Tạp chí Khoa học và công nghệ Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Bàn về một số vấn đề trích lập Quỹ và sử dụng Quỹ KH&CN”
3. Trần Ngọc Ca (2000) “Quản lý đổi mới công nghệ trong hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp nhỏ và vừa”, NXB Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý đổi mới công nghệ trong hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp nhỏ và vừa
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
4. Nguyễn Xuân Chánh (2009) “Đất hiếm và công nghệ xanh”, Tạp chí Khoa học và Tổ quốc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đất hiếm và công nghệ xanh
5. Lan Chi (2012) “ Những xu hướng cơ bản của khoa học và công nghệ thế giới 10 năm qua và 10 năm tới”, Tạp chí Chính sách và quản lý khoa học và công nghệ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những xu hướng cơ bản của khoa học và công nghệ thế giới 10 năm qua và 10 năm tới
8. PGS.TS Vũ Cao Đàm (2010), TS. Đào Thanh Trường “Tranh chấp môi trường” Sách chuyên khảo nghiên cứu xã hội và môi trường Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tranh chấp môi trường
Tác giả: PGS.TS Vũ Cao Đàm
Năm: 2010
9. PGS.TS Vũ Cao Đàm (1997) Xã hội học KH&CN, Trường Đại học KHXH&NV Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ) Xã hội học KH&CN
10. TS. Trần Thu Hà (2009), “Hoàn thiện cơ chế quản lý cấp phát tài chính trong khoa học và công nghệ”, Bộ Tài chính Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Hoàn thiện cơ chế quản lý cấp phát tài chính trong khoa học và công nghệ”
Tác giả: TS. Trần Thu Hà
Năm: 2009
11. TS Nguyễn Quốc Hùng (2010), “Một số vấn đề về ô nhiễm môi trường và suy thoái đất đai ở Việt Nam hiện nay”, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về ô nhiễm môi trường và suy thoái đất đai ở Việt Nam hiện nay
Tác giả: TS Nguyễn Quốc Hùng
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Hà Nội
Năm: 2010
12. Hội đồng khoa học các cơ quan Đảng trung ƣơng (2003), “Chủ động ứng phó biến đổi khí hậu, đẩy mạnh công tác bảo vệ tài nguyên môi trường. Một số vấn đề lý luận thực tiễn”, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ động ứng phó biến đổi khí hậu, đẩy mạnh công tác bảo vệ tài nguyên môi trường. Một số vấn đề lý luận thực tiễn
Tác giả: Hội đồng khoa học các cơ quan Đảng trung ƣơng
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
Năm: 2003
13. Nguyễn Sĩ Lộc (2006), “Quản lý công nghệ cho doanh nghiệp”, Nhà xuất bản khoa học và kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý công nghệ cho doanh nghiệp
Tác giả: Nguyễn Sĩ Lộc
Nhà XB: Nhà xuất bản khoa học và kỹ thuật
Năm: 2006
14. Kim Ngân (2011), “Công nghệ xanh cho ngành xi măng Việt Nam”, Tạp chí Automation Today Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công nghệ xanh cho ngành xi măng Việt Nam
Tác giả: Kim Ngân
Năm: 2011
15. Lê Văn Sơn , Phan Thi ̣ Kim Ngà , Phạm Phú Lâm , Trịnh Vũ Long (2010), Đề tài “ Nghiên cứu kiểm soát ô nhi ễm nguồn nước hồ công viên 29-3 (Đà Nẵng) bằng mô hình đất ướt” trường ĐH Bách khoa ĐàNẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu kiểm soát ô nhi ễm nguồn nước hồ công viên 29-3 (Đà Nẵng) bằng mô hình đất ướt
Tác giả: Lê Văn Sơn , Phan Thi ̣ Kim Ngà , Phạm Phú Lâm , Trịnh Vũ Long
Năm: 2010
16. Nguyễn Hữu Xuyên, Nguyễn Thị Lan Hương (2013), “Hiệu quả chính sách đào tạo nhằm khuyến khích doanh nghiệp đổi mới công nghệ theo hướng thân thiện với môi trường”, Tạp chí Chính sách và quản lý KH&CN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiệu quả chính sách đào tạo nhằm khuyến khích doanh nghiệp đổi mới công nghệ theo hướng thân thiện với môi trường
Tác giả: Nguyễn Hữu Xuyên, Nguyễn Thị Lan Hương
Năm: 2013
17. Quốc hội (2005), Luật Bảo vệ môi trường số 52/2005/QH11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Bảo vệ môi trường
Tác giả: Quốc hội
Năm: 2005
20. PGS.TS Phan Minh Tân, PGS.TS Nguyễn Kỳ Phùng (2013), “Tăng trưởng xanh và vai trò đổi mới công nghệ tại các nước đang phát triển”, Tạp chí Chính sách và quản lý KH&CN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tăng trưởng xanh và vai trò đổi mới công nghệ tại các nước đang phát triển
Tác giả: PGS.TS Phan Minh Tân, PGS.TS Nguyễn Kỳ Phùng
Năm: 2013
21. PGS.TS Nguyễn Đình Tài (1997), “Sử dụng công cụ tài chính, Tiền Tệ để huy động vốn cho đầu tư phát triển”, Nhà xuất bản Tài chính Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử dụng công cụ tài chính, Tiền Tệ để huy động vốn cho đầu tư phát triển
Tác giả: PGS.TS Nguyễn Đình Tài
Nhà XB: Nhà xuất bản Tài chính Hà Nội
Năm: 1997
22. Trung tâm Thông tin KH&CN Quốc gia (2007), “Chuyển giao công nghệ thân thiện với môi trường. Những khía cạnh liên quan đến thương mại”, Tổng luận tháng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyển giao công nghệ thân thiện với môi trường. Những khía cạnh liên quan đến thương mại
Tác giả: Trung tâm Thông tin KH&CN Quốc gia
Năm: 2007
6. Cổng thông tin điện tử Phú Thọ: http://www.phutho.gov.vn Link
7. PGS.TS Vũ Cao Đàm (2011): Giáo trình Khoa học chính sách, NXB Khoa học kỹ thuật Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w