Đất nông nghiệp là một tài sản vô cùng quan trọng đối với tất cả các quốc gia trên thế giới, là điều kiện sinh sống, tồn tại và phát triển của loài người và tất cả các loại sinh vật khác. Đất nông nghiệp là điều kiện cho mọi hoạt động sống. Đất nông nghiệp là một tài sản đặc biệt, không thể di dời cũng không thể mất đi. Tuy nhiên, đất nông nghiệp là có hạn, nếu sử dụng không đúng cách đất có thể bị suy thoái hoặc không thể sử dụng gây ảnh hưởng đến tất cả mọi mặt của đời sống kinh tế xã hội và các thế hệ trong tương lai. Chính vì vậy, quản lý việc sử dụng đất nông nghiệp có vai trò vô cùng quan trọng đối với tất cả các quốc gia trên thế giới, công tác này đòi hỏi phối hợp nhiều các hoạt động khác nhau với mục đích duy trì quá trình sử dụng đất đúng kế hoạch, phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế, tạo cơ sở phát triển các ngành khác trong nền kinh tế quốc dân. Đất nông nghiệp là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hóa, xã hội và quốc phòng an ninh (Quốc Hội nước CHXHCNVN, 2013). Nguồn tài nguyên đất ngày càng trở nên quý hiếm do nhu cầu sử dụng đất ngày càng cao, đất nông nghiệp bị suy thoái hoặc hủy hoại ngày càng nghiêm trọng bởi nhiều nguyên nhân tự nhiên hoặc dưới tác động của con người. Chính vì vậy, việc quản lý, sử dụng, bảo vệ và phát triển tài nguyên đất nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững là mục tiêu quan trọng của các quốc gia. Và đặc biệt nước ta là một nước nông nghiệp nên việc quản lý đất nông nghiệp hết sức quan trọng. Việt Nam là một nước đang phát triển, tốc độ gia tăng dân số nhanh kéo theo tốc độ thành phố hóa diễn ra nhanh và phức tạp. Quỹ đất của nước ta tương đối hẹp trong khi đó dân số là đông đúc, tất cả các quá trình phát triển của con người đều gắn liền với hoạt động sử dụng đất nông nghiệp. Vì vậy, Nhà nước cần có có các chính sách quản lý việc sử dụng đất nông nghiệp phù hợp và mang lại hiệu quả, phát triển nền kinh tế quốc dân.Thành phố Vinh với vị trí đầu mối của tỉnh Nghệ An nói riêng và là một trong những trung tâm kinh tế của miền Trung, dân cư tập trung đông, tốc độ thành phố hóa tại thành phố đang diễn ra nhanh chóng, việc quản lý quá trình phân bố và sử dụng đất cần được quan tâm sâu sắc đặc biệt cần lưu ý đến quỹ đất nông nghiệp. Trong thời gian qua, công tác quản lý nhà nước về đất nông nghiệp của thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An đã đạt được một số thành tựu nhất định, song bên cạnh đó vẫn tồn tại nhiều vấn đề bất cập, chẳng hạn như việc quy hoạch, lấn chiếm đất, sử dụng đất sai mục đích, không đúng kế hoạch,… Chính vì vậy, công tác quản lý nhà nước về đất nông nghiệp của thành phố Vinh cần được tăng cường, tích cực, khẩn trương, có sự phối hợp của nhiều ban ngành chức năng và sự giúp đỡ chỉ đạo trực tiếp của các cấp chính quyền.Để có cái nhìn nhận khách quan và sâu sắc về thực trạng quản lý nhà nước về đất nông nghiệp của thành phố Vinh, từ đó đưa ra các giải pháp, kiến nghị tôi đã lựa chọn đề tài nghiên cứu: “Tăng cường quản lý nhà nước về đất nông nghiệp của thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An” làm luận văn thạc sĩ, chuyên ngành Kinh tế chính trị.
Trang 1MỤC LỤC
Trang
DANH MỤC VIẾT TẮT iv
DANH MỤC BẢNG v
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài
2 Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5 Phương pháp nghiên cứu
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
7 Kết cấu của luận văn
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐẤT NÔNG NGHIỆP 8
1.1 Đất nông nghiệp và quản lý nhà nước về đất nông nghiệp
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm đất nông nghiệp 8
1.1.2 Khái niệm và đặc trưng quản lý nhà nước về đất nông nghiệp 13
1.2 Sự cần thiết, nguyên tắc, nội dung và các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về đất nông nghiệp
1.2.1 Sự cần thiết của quản lý nhà nước về đất nông nghiệp 19
1.2.2 Nguyên tắc quản lý nhà nước về đất nông nghiệp 23
1.2.3 Nội dung quản lý nhà nước về đất nông nghiệp 27
1.2.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về đất nông nghiệp 40 1.3 Kinh nghiệm của một số địa phương về tăng cường quản lý nhà nước đối với đất nông nghiệp và bài học cho thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An
Trang 21.3.1 Kinh nghiệm của một số địa phương về tăng cường quản lý nhà
nước đối với đất nông nghiệp 46
1.3.2 Bài học kinh nghiệm rút ra cho thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An về tăng cường quản lý nhà nước đối với đất nông nghiệp 51
Tiểu kết chương 1
Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐẤT NÔNG NGHIỆP CỦA THÀNH PHỐ VINH, TỈNH NGHỆ AN 53
2.1 Khái quát đặc điểm tự nhiên, kinh tế -xã hội của thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An
2.1.1 Điều kiện tự nhiên 53
2.1.2 Tình hình kinh tế -xã hội 55
2.2 Tình hình đất nông nghiệp và quản lý nhà nước về đất nông nghiệp của thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An
2.2.1 Tình hình đất nông nghiệp của thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An 61
2.2.2 Tình hình quản lý nhà nước về đất nông nghiệp của thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An 65
2.3 Đánh giá chung tình hình quản lý nhà nước về đất nông nghiệp của thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An
2.3.1 Những kết quả đạt được 82
2.3.2 Những hạn chế và nguyên nhân 83
Tiểu kết chương 2
Chương 3 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐẤT NÔNG NGHIỆP CỦA THÀNH PHỐ VINH, TỈNH NGHỆ AN 88
3.1 Phương hướng tăng cường quản lý nhà nước về đất nông nghiệp của thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An
3.2 Giải pháp tăng cường quản lý nhà nước về đất nông nghiệp của thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An
Trang 33.2.1 Tổ chức bộ máy quản lý đất nông nghiệp 92
3.2.2 Tăng cường thực hiện các nội dung quản lý nhà nước về đất nông nghiệp 94 3.2.3 Áp dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý 96
3.2.4 Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính trong việc quản lý và sử dụng đất nông nghiệp 97
3.2.5 Tăng cường công tác tuyên truyền giáo dục nâng cao ý thức pháp luật về đất nông nghiệp trong cán bộ và nhân dân 97
3.3 Một số kiến nghị nhằm tăng cường quản lý nhà nước về đất nông nghiệp của thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An
Tiểu kết chương 3
KẾT LUẬN 99
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 102
Trang 4DANH MỤC VIẾT TẮT
CHXHCNVN : Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt NamCNH - HĐH : Công nghiệp hóa - hiện đại hóaGCNQSDĐ : Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
Trang 5DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế thành phố Vinh 56 Bảng 2.2 Tình hình dân số và lao động của thành phố Vinh từ 2012 - 2015 59 Bảng 2.3 Diện tích, cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp năm 2014 61 Bảng 2.4 Biến động sử dụng đất nông nghiệp thời kỳ 2008-2014 62 Bảng 2.5 Số lượng, diện tích các bản đồ địa chính của thành phố Vinh tính đến ngày 01 tháng 12 năm 2010 67 Bảng 2.6 Bảng tổng hợp kết quả cấp giấy sử dụng đất nông nghiệp năm 2014 72 Bảng 2.7 Quỹ đất nông nghiệp Thành phố Vinh năm 2014 73 Bảng 2.8 Kết quả thanh tra, kiểm tra chấp hành các quy định của pháp luật
về đất nông nghiệp của Thành phố Vinh giai đoạn 2009- 2013 78 Bảng 2.9 Tình hình giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất nông nghiệp tại thành phố Vinh năm 2005 - 2013 81
Trang 6bị suy thoái hoặc không thể sử dụng gây ảnh hưởng đến tất cả mọi mặt của đờisống kinh tế xã hội và các thế hệ trong tương lai Chính vì vậy, quản lý việc sửdụng đất nông nghiệp có vai trò vô cùng quan trọng đối với tất cả các quốc giatrên thế giới, công tác này đòi hỏi phối hợp nhiều các hoạt động khác nhau vớimục đích duy trì quá trình sử dụng đất đúng kế hoạch, phù hợp với sự phát triểncủa nền kinh tế, tạo cơ sở phát triển các ngành khác trong nền kinh tế quốc dân.
Đất nông nghiệp là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sảnxuất đặc biệt, là thành phần quan trọng của môi trường sống, là địa bàn phân bốcác khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hóa, xã hội và quốc phòng anninh (Quốc Hội nước CHXHCNVN, 2013) Nguồn tài nguyên đất ngày càng trởnên quý hiếm do nhu cầu sử dụng đất ngày càng cao, đất nông nghiệp bị suythoái hoặc hủy hoại ngày càng nghiêm trọng bởi nhiều nguyên nhân tự nhiênhoặc dưới tác động của con người Chính vì vậy, việc quản lý, sử dụng, bảo vệ
và phát triển tài nguyên đất nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững là mụctiêu quan trọng của các quốc gia Và đặc biệt nước ta là một nước nông nghiệpnên việc quản lý đất nông nghiệp hết sức quan trọng
Việt Nam là một nước đang phát triển, tốc độ gia tăng dân số nhanh kéotheo tốc độ thành phố hóa diễn ra nhanh và phức tạp Quỹ đất của nước ta tươngđối hẹp trong khi đó dân số là đông đúc, tất cả các quá trình phát triển của conngười đều gắn liền với hoạt động sử dụng đất nông nghiệp Vì vậy, Nhà nước
Trang 7cần có có các chính sách quản lý việc sử dụng đất nông nghiệp phù hợp và manglại hiệu quả, phát triển nền kinh tế quốc dân.
Thành phố Vinh với vị trí đầu mối của tỉnh Nghệ An nói riêng và là mộttrong những trung tâm kinh tế của miền Trung, dân cư tập trung đông, tốc độthành phố hóa tại thành phố đang diễn ra nhanh chóng, việc quản lý quá trìnhphân bố và sử dụng đất cần được quan tâm sâu sắc đặc biệt cần lưu ý đến quỹđất nông nghiệp Trong thời gian qua, công tác quản lý nhà nước về đất nôngnghiệp của thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An đã đạt được một số thành tựu nhấtđịnh, song bên cạnh đó vẫn tồn tại nhiều vấn đề bất cập, chẳng hạn như việc quyhoạch, lấn chiếm đất, sử dụng đất sai mục đích, không đúng kế hoạch,… Chính
vì vậy, công tác quản lý nhà nước về đất nông nghiệp của thành phố Vinh cầnđược tăng cường, tích cực, khẩn trương, có sự phối hợp của nhiều ban ngànhchức năng và sự giúp đỡ chỉ đạo trực tiếp của các cấp chính quyền
Để có cái nhìn nhận khách quan và sâu sắc về thực trạng quản lý nhànước về đất nông nghiệp của thành phố Vinh, từ đó đưa ra các giải pháp, kiến
nghị tôi đã lựa chọn đề tài nghiên cứu: “Tăng cường quản lý nhà nước về đất nông nghiệp của thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An” làm luận văn thạc sĩ, chuyên
ngành Kinh tế chính trị
2 Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Vấn đề quản lý nhà nước về đất nông nghiệp tuy không còn mới nhưngvẫn còn là vấn đề có tính thời sự nóng bỏng hiện nay Đã có nhiều công trìnhnghiên cứu liên quan đến đề tài dưới dạng luận án, luận văn, các bài báo, sách,tạp chí nghiên cứu về vấn đề này.Trong đó, những công trình tiêu biểu liên quanđến đề tài có thể kể đến là:
Nguyễn Khắc Thái Sơn (2007), Quản lý nhà nước về đất nông nghiệp,
NXB Nông nghiệp Hà Nội Trong công trình này, các tác giả đã nêu lên một sốvấn đề lý luận về quản lí nhà nước đối với đất nông nghiệp và bộ máy quản línhà nước về đất nông nghiệp Tác giả đã làm rõ cơ sở pháp lý về hoạt động quản
Trang 8lí đất nông nghiệp, như: một số quy định về lập quy hoạch, kế hoạch sử dụngđất; một số quy định về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thống kê, kiểm
kê đất nông nghiệp ,quản lí giám sát việc thực hiện quyền của người sử dụngđất; thanh tra kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật về đất nôngnghiệp; giải quyết tranh chấp đất nông nghiệp
Đào Đức Mẫn (2012), Nghiên cứu thực trạng và đề xuất mô hình sử dụng đất nông nghiệp bền vững phục vụ quy hoạch sử dụng đất, Bộ Tài nguyên và
môi trường Đề tài nghiên cứu, đánh giá thực trạng và đề xuất mô hình sử dụngđất nông nghiệp bền vững phục vụ quy hoạch sử dụng đất ở huyện Tứ Kỳ, tỉnhHải Dương Qua kết quả nghiên cứu, đề tài đã đề xuất định hướng quy hoạchcho một số kiểu sử dụng đất thuộc các mô hình sử dụng phổ biến trên địa bànhuyện Tứ Kỳ đến năm 2020 theo hướng phát triển bền vững và bảo vệ môitrường, mở rộng diện tích các cây trồng có thế mạnh của huyện với 3 mô hình:
mô hình sử dụng đất chuyên lúa, mô hình sử dụng lúa - màu và mô hình sử dụngđất chuyên màu
Nguyễn Mai Thơm (2015), Nghiên cứu, xây dựng mô hình sản xuất nông nghiệp của huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang, Học viện Nông nghiệp Việt Nam.
Đề tài lấy trọng tâm là cây lúa, một trong năm cây trồng chính được tỉnh BắcGiang quy hoạch để phát triển theo hướng hàng hóa Điều tra, đánh giá thựctrạng sản xuất lúa, lựa chọn điểm thử nghiệm và xây dựng mô hình trình diễn tạihuyện Việt Yên và lựa chọn được 5 giống lúa mới được được Bộ Nông nghiệp
& PTNT công nhận chính thức, có năng suất trên 60 tạ/ha, chất lượng gạothươm ngon, thời gian sinh trưởng phù hợp với vụ Xuân, vụ Mùa, có khả năngchống chịu sâu, bệnh và điều kiện thời tiết bất thuận lá giống lúa RVT, QR1,VS1, ĐS1, HDT8
Lê Thị Thu (2015), Nghiên cứu đánh giá hệ thống sử dụng đất nông nghiệp phục vụ quản lý đất nông nghiệp huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội,
Đại học Quốc gia Hà Nội Luận văn đã đánh giá các hệ thống sử dụng đất nông
Trang 9nghiệp chủ yếu cho quy hoạch sử dụng đất trong nông nghiệp huyện Chương
Mỹ, thành phố Hà Nội Qua việc đánh giá hiệu quả sử đụng đất của các hệ thống
sử dụng đất nông nghiệp đã đưa ra định hướng quy hoạch trong tương lai đồngthời điều chỉnh lại một số quy hoạch chưa hợp lý đang xảy ra tại khu vực trongnhóm đất sản xuất nông nghiệp: không nên giảm diện tích đất trồng cây lâu năm
và đất nuôi trồng thủy sản do đây là các hệ thống sử dụng đất đem lại hiệu quảkinh tế cao Việc nghiên cứu hệ thống sử dụng đât nông nghiệp và xác lập các
mô hình kinh tế sinh thái đã tập trung giải quyết mục tiêu sử dụng đất nôngnghiệp có hiệu quả, khai thác thế mạnh, tiềm năng của vùng, đáp ứng được nhucầu về đất nông nghiệp, nhân lực và phát triển ngành nông nghiệp nói riêng vàđáp ứng phát triển nông thôn mới nói chung theo hướng bền vững giúp bảo vệ,cải tạo bồi dưỡng tài nguyên đất nông nghiệp, tạo cảnh quan môi trường đồngthời đáp ứng yêu cầu mục tiêu phát triển kinh tế xã hội
Trần Thị Hồng Nhung (2016), Đánh giá tình hình quản lý, sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội Huyện Ba Vì nằm
phía Tây Bắc của thành phố Hà Nội có tổng diện tích đất tự nhiên là 42.402,69
ha, quỹ đất nông nghiệp khá lớn với 29.176.56 ha Địa hình của huyện chiathành ba tiểu vùng đó là: vùng núi thuộc khu vực núi Ba Vì, vùng trung du đồi
gò và vùng đồng bằng phù sa Xuất phát từ một huyện có tiềm năng về nôngnghiệp sinh thái, du lịch, trọng tâm phát triển kinh tế - xã hội của huyện làchuyển dịch cơ cấu kinh tế kết hợp phát triển vùng sinh thái, du lịch, từng bướcchuyển đổi cơ cấu sử dụng đất Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của huyện Ba
Vì có nhiều lợi thế cho phát triển nông nghiệp, tuy nhiên hiện nay chưa sử dụngđúng tiềm năng và khai thác có hiệu quả đối với đất đai Ngoài ra, hệ thống hồ
sơ địa chính phục vụ cho công tác quản lý và sử dụng đất của huyện cũ nát,không có đủ phê duyệt của các cấp có thẩm quyền, biến động nhiều, giá trị pháp
lý không cao Các thửa đất còn quá manh mún, nhỏ lẻ, phân tán khó thực hiện
áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, khó thực hiện cơ giới hóa vào sản xuất; diện
Trang 10tích cấp Giấy chứng nhận của các hộ gia đình dựa trên số liệu đo đạc thủ công
và giao cho các hộ dân tự kê khai diện tích để cấp Giấy chứng nhận, do đó diệntích sử dụng thực tế của các thửa đất nông nghiệp chưa chính xác Những yếukém, tồn tại trên đã làm cho hiệu quả sử dụng đất không cao, ảnh hưởng rất lớnđến công tác quản lý, sử dụng đất đặc biệt là công tác quy hoạch sử dụng đất,công tác thống kê - kiểm kê đất đai, công tác thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ giảiphóng mặt bằng đối với đất nông nghiệp
Nhìn chung, các công trình trên tiếp cận ở các góc độ khác nhau về quản
lý nhà nước về đất nông nghiệp nói chung, đất nông nghiệp nói riêng Đề tài tôilựa chọn xác định được sự cần thiết và yêu cầu của quản lý đất nông nôngnghiệp Đó là cơ sở quan trọng để phát triển hệ thống QLĐĐ trong giai đoạnCNH-HĐH đất nước và góp phần vào mục tiêu xây dựng nền công nghiệp hóahiện đại hóa của nước ta Xác định được những tồn tại của quản lý đất nôngnghiêp thành phố Vinh Kết quả nghiên cứu này sẽ góp phần tăng cường nănglực QLĐĐ của thành phố Vinh Đề xuất mô hình cơ sở dữ liệu địa chính hiệnđại góp phần vào việc sử dụng thống nhất, đa mục tiêu và chia sẻ hiệu quả cơ sở
dữ liệu địa chính với các ngành và người sử dụng đất Sau khi nghiên cứu thửnghiệm có thể áp dụng mô hình cơ sở dữ liệu địa chính hiện đại trong QLĐĐ ởcác địa phương khác Việc thống nhất, kết nối, chia sẻ cơ sở dữ liệu địa chínhhiện đại giữa các ngành, các cấp và người sử dụng đất sẽ góp phần nâng caohiệu quả kinh tế và xã hội của công tác quản lý đất nông nghiệp
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Trang 113.2 Nhiệm vụ
- Làm rõ cơ sở lý luận của quản lý nhà nước về đất nông nghiệp
- Nghiên cứu kinh nghiệm thực tiễn về quản lý nhà nước về đất nông nghiệp
- Phân tích, đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về đất nông nghiệp củathành phố Vinh, tỉnh Nghệ An thời gian qua
- Đề xuất phương hướng và giải pháp nhằm tăng cường quản lý nhà nước
về đất nông nghiệp của thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An thời gian tới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu quản lý nhà nước về đất nông nghiệp Cụthể hệ thống địa chính bao gồm: hồ sơ địa chính (bản đồ địa chính, các loại sổsách và tài liệu liên quan), định giá đất và HTTT đất nông nghiệp Hệ thốngchính sách liên quan đến việc xây dựng, hoàn thiện HTĐC Người sử dụng đất,cán bộ quản lý trong ngành QLĐĐ và các ngành khác có liên quan Các phầnmềm được ứng dụng trong quản lý đất nông nghiệp
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An
- Phạm vi thời gian: Từ năm 2010-2014 định hướng tăng cường quản lýđất nông nghiệp đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030
- Phạm vi về nội dung nghiên cứu:
Trong phạm vi bài nghiên cứu này, tập trung nghiên cứu quản lý nhà nước
về đất nông nghiệp nông nghiệp của thành phố Vinh
Đề tài không tập trung phân tích đến các yếu tố tác động đến sự phát triểnnông nghiệp mà chủ yếu phân tích đánh giá hoạt động quản lí nhà nước đối vớiđất nông nghiệp và từ đó đưa ra kiến nghị và những giải pháp đổi mới hoạt độngquản lý nhà nước đối với đất nông nghiệp
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng một số phương pháp như: phương pháp thu thập vàtổng hợp số liệu: tổng hợp từ những tài liệu thứ cấp do phòng quản lý thành phốthành phố Vinh cung cấp
Trang 12Phương pháp so sánh: so sánh tình hình thực hiện công tác quản lí đấtnông nghiệp qua các năm.
Phương pháp phân tích, đánh giá, kết hợp lý luận với thực tiễn để làm rõnhững vấn đề nghiên cứu;
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
Kết quả nghiên cứu sẽ góp phần vào việc sử dụng thống nhất, đa mục tiêu
và chia sẻ hiệu quả cơ sở dữ liệu địa chính với các ngành và người sử dụng đất,
từ đó sẽ góp phần nâng cao hiệu quả KT- XH địa phương
7 Kết cấu của luận văn.
Ngoài phần mở đầu,kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, đề tài được kếtcấu thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của quản lý nhà nước về đất nông
nghiệp
Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước về đất nông nghiệp của thành
phố Vinh, tỉnh Nghệ An
Chương 3: Phương hướng và giải pháp tăng cường quản lý nhà nước về
đất nông nghiệp của thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An
Trang 13
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
VỀ ĐẤT NÔNG NGHIỆP
1.1 Đất nông nghiệp và quản lý nhà nước về đất nông nghiệp
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm đất nông nghiệp
1.1.1.1 Khái niệm đất nông nghiệp
Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản của xã hội, sử dụng đấtnông nghiệp để trồng trọt và chăn nuôi, khai thác cây trồng và vật nuôi làm tưliệu và nguyên liệu lao động chủ yếu để tạo ra lương thực thực phẩm và một
số nguyên liệu cho công nghiệp Nông nghiệp là một ngành sản xuất lớn, baogồm nhiều chuyên ngành: trồng trọt, chăn nuôi, sơ chế nông sản; theo nghĩarộng, còn bao gồm cả lâm nghiệp, thủy sản
Trước khi đi sâu tìm hiểu về đất nông nghiệp chúng ta tìm hiểu qua về sựhình thành của đất nông nghiệp trên bề mặt trái đất nói chung Đất nông nghiệpđược hình thành thông qua quá trình lịch sử lâu dài nhờ vào sự phong hoá đá mẹdưới sự tác động của không khí, gió, nước, sinh vật Sản phẩm của quá trìnhphong hoá đá đó là các chất vô cơ Như: N,C,S,Mg…Theo thời gian sản phẩm củaquá trình phong hoá đó tích tụ thêm các chất hữu cơ từ xác của động vật, thực vật
bị chết, phân, chất thải của động, thực vật (đây chính là một phần nguồn dinh
dưỡng quan trọng sẽ cung cấp cho thực vật sau này)… và hình thành nên đất
Đất nông nghiệp được hình thành trên bề mặt trái đất do đó đất nôngnghiệp là một khoảng không gian có giới hạn theo chiều thẳng đứng (gồm khíhậu, lớp đất phủ bề mặt,…); và theo chiều ngang (là sự kết hợp của thổ nhưỡng,địa hình, thuỷ văn, thảm thực vật…) Quỹ đất nông nghiệp của mỗi vùng, địaphương luôn bị giới hạn bởi địa giới hành chính của vùng, địa phương đó Quỹđất nông nghiệp của một đất nước bị giới hạn bởi biên giới, địa giới lãnh thổquốc gia, Và tổng quỹ đất của tòan thế giới bị giới hạn bởi bề mặt trái đất, Chính
Trang 14vì thế không ai có thể nói rằng đất nông nghiệp là nguồn tài nguyên vô tận,không có giới hạn mà ngược lại đai có giới hạn.
Con người nguyên thuỷ bắt đầu có những nhận thức mới, những nhu cầu
và sự thay đổi mới trong xã hội Lúc này, chỉ dựa hoàn toàn vào thiên nhiênkhông có sự canh tác thôi không thể đáp ứng đựơc nhu cầu ngày một cao đượcnữa Từ đó con ngươì đã biết dựa vào đất nông nghiệp để chăn nuôi,cày cấy,trồng trọt và từ đây cuộc sống con người bước sang một thời kỳ mới, thời kỳ màcon người biết tự canh tác tạo ra của cải vật chất cho bản thân, hạn chế ảnhhưởng của thiên nhiên đến đời sống Sản phẩm mà con người tạo ra ngày càng
đa dạng, đầy đủ hơn, Biết khai thác sức mạnh của đât nông nghiệp đời sống conngười ngày càng tăng lên nhanh chóng, kéo theo nó là sự phát triển của xã hội,nền kinh tế và nhận thức
Cho đến ngày nay, khi con người đã thoát khỏi đời sống mông muội nhưngcuộc sống con người không thể tách rời khỏi đất nông nghiệp Dọc theo quá trìnhphát triển ta có thể thấy mục đích đầu tiên của con người đối với đất nông nghiệp làsản xuất nông nghiệp; và bây giờ có rất nhiều ngành sản xuất mới ra đời, sản xuấtcông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại dịch vụ, sản xuất công nghiệpnặng…Con người vẫn không rời bỏ được nền sản xuất nông nghiệp đã tồn tại từ rấtlâu đời cho đến nay Như vậy, một nguồn đất trong tổng quỹ đất của loài người làphục vụ cho mục đích trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng…Vậy quỹ đất đó được gọi
là gì? Đất nông nghiệp được định nghĩa ra sao?
Đất nông nghiệp là đất được sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp như: Trồng trọt, chăn nuôi, làm muối, nuôi trồng thuỷ sản…,hoặc sử dụng để nghiên cứu thí nghiệm về nông nghiệp [5]
Đất nông nghiệp khi được sử dụng vào mục đích nông nghiệp thì đượcgọi là ruộng đất Con người tác động vào đất nông nghiệp tạo ra của cải, vật chấtcho đời sống Đất nông nghiệp - ruộng đất là đối tượng lao động đồng thời là tưliệu lao động của con người Lúc đầu, con người canh tác chỉ để đáp ứng nhu
Trang 15cầu của bản thân, gia đình nền kinh tế “tự cung tự cấp” Xã hội phát triển quátrình chuyên môn hoá xảy ra, nông phẩm không đơn chỉ để phục vụ cho bảnthân người sản xuất nữa Nông phẩm là một mặt hàng quan trọng trên thị trường,mang lại nhiều lợi ích kinh tế cho người sử dụng đất và cho toàn xã hội Vì vậy,đất nông nghiệp sử dụng vào sản xuất nông nghiệp - ruộng đất chiếm vị thế đáng
kể đối với sự phát triển của nền sản xuất xã hội loài người [18]
Như vậy, đất nông nghiệp là đất sử dụng vào mục đích sản xuất, nghiêncứu, thí nghiệm về nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, làm muối vàmục đích bảo vệ, phát triển rừng
Đất nông nghiệp, gồm Đất trồng cây hàng năm gồm đất trồng lúa và đất trồng cây hàng năm khác; Đất trồng cây lâu năm; Đất rừng sản xuất; Đất rừng phòng hộ; Đất rừng đặc dụng; Đất nuôi trồng thủy sản; Đất làm muối; Đất nông nghiệp khác [6]
1.1.1.2 Đặc điểm đất nông nghiệp
Đất nông nghiệp là một bộ phận của tổng quỹ đất, Nó có đặc điểm chungcủa đất nông nghiệp đồng thời có những đặc điểm riêng của nó
* Đất nông nghiệp không thể sản sinh và có khả năng tái tạo
Như chúng ta đã biết về quá trình hình thành đất nông nghiệp là quá trìnhcủa tự nhiên, đó là một quá trình dài, diễn ra liên tục dưới sự tác động của nhiềuyếu tố khác nhau, không thể ngày một ngày hai mà có khi là cả hàng ngàn hàngvạn năm mới hình thành nên được đất nông nghiệp trên bề mặt trái đất Đấtnông nghiệp không thể di chuyển vị trí, nó luôn luôn cố định đồng thời đất nôngnghiệp được hình thành với một số lượng hạn chế trên toàn cầu và phạm vi từngquốc gia Tính cố định không thể di chuyển từ vị trí này sang vị trí khác của đấtnông nghiệp đồng thời cũng quy định tính giới hạn về quy mô theo không gian(theo cả chiều rộng và chiều sâu) gắn liền với môi trường mà đất nông nghiệpphải chịu chi phối (nguồn gốc hình thành,đá mẹ, các hệ sinh thái, khí hậu, chế
độ mưa nắng…) Con người không thể tạo ra đất nông nghiệp (đất nông
Trang 16nghiệp), quá trình hình thành nên đất nông nghiệp là một quá trình tự nhiên quathời một khoảng thời gian dài Chính vì vậy mà ta có thể nói đất nông nghiệp(đất nông nghiệp) không thể tái sinh.
Tuy nhiên, con người chủ thể hoạt động của nền kinh tế xã hội, tác độngvào đất nông nghiệp (đất nông nghiệp) theo hai hướng khác nhau: có thể đó làtác động theo chiều hướng tích cực, có thể đó là tác động theo chiều hướng tiêucực Quá trình tác động theo chiều hướng tích cực sẽ góp phần rất lớn vào cảitạo và nâng cao chất lượng đất (đất nông nghiệp) khắc phục được hiện tượnghoang hoá, khôi phục độ phì nhiêu của đất nông nghiệp, tạo ra một diện tích đấtnông nghiệp mới cho sản xuất Như vậy nếu biết cách gìn giữ và sử dụng thì đấtnông nghiệp vẫn có thể tái tạo lại, thực tế cũng đã chứng minh điều đó
Qua đây, có thể kết luận đất nông nghiệp nói chung và đất nông nghiệpnói riêng có tính hai mặt: không thể tái sinh nhưng có khả năng tái tạo, Tính haimặt này rất quan trọng trong quá trình sử dụng đất, Một mặt, con người sử dụngđất nông nghiệp phải hết sức tiết kiệm, xem xét kỹ lưỡng, cẩn thận khi phân bố,
sử dụng, chuyển mục đích sử dụng các loại đất Một mặt, phải luôn chú ý ứngdụng tiến bộ khoa học kỹ thuật để tăng khả năng phục hồi sức sản xuất và tái tạođất nông nghiệp, phục hồi đất hoang hoá đưa vào sử dụng….Trong quá trình sửdụng con người phải luôn biết cách khai thác đât đai (đất nông nghiệp), khôngvắt kiệt khả năng sản xuất của đất nông nghiệp (đất nông nghiệp)
* Tính sở hữu và sử dụng
Người sở hữu đất nông nghiệp được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụngđất nông nghiệp, là người chủ sở hữu duy nhất đất nông nghiệp được nhà nướccông nhận về mặt pháp lý, nhà nước luôn bảo vệ các quyền lợi hợp pháp chongười sở hữu đất nông nghiệp nói chung và đất nông nghiệp nói riêng Người sởhữu đất nông nghiệp có quyền sử dụng, khai thác, mua bán, ứng dụng khoa họcvào sản xuất phù hợp với chính sách và quy định của pháp luật nhà đặt ra…
Trang 17Ở nước ta ngay sau ngày đất nước được giải phóng năm 1945 đất nướcbước đầu tiến lên chủ nghĩa xã hội ở Miền Bắc, và cho tới nay pháp luật nướcCộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam đã quy định:
Đất nông nghiệp thuộc sở hữu toàn dân do Nhà Nước làm đại diện chủ sởhữu, Nhà nứơc thể hiện vai trò của mình thông qua việc :
- Quyết định mục đích sử dụng đất
- Quy định hạn mức giao đất và thời hạn sử dụng đất
- Quyết định giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất
Trang 18nhận với mức đền bù, hay vì lý do khác thì nhà nước có quyền cưỡng chế đốivới trường hợp đó.
* Đất nông nghiệp có tính đa dạng và phong phú
Trên bề mặt trái đất đất nông nghiệp nói chung và đất nông nghiệp nói riêngđược hình thành nhờ vào quá trình phong hoá đá mẹ, đá mẹ là nguồn gốc sinh rađất nông nghiệp Đất nông nghiệp được tạo ra mang những tính chất khác nhau phụthuộc nhiều vào lớp đá mẹ tạo ra lớp đất nông nghiệp đó Chính vì vậy mà chúng ta
có những loại đất nông nghiệp khác nhau như: đất phù sa, đất đỏ bazan, đất sét thịt,đất cát…Thiên nhiên tạo ra rất nhiều loại đất nông nghiệp khác nhau có tính chất
và đặc điểm khác nhau đặc trưng riêng của mỗi loại
Thậm chí trong một loại đất nông nghiệp đó không phải ở đâu loại đất đócũng giống nhau, có nơi đất đó tốt hơn, có nơi lại xấu hơn, thành phần cơ giới,
độ phì nhiêu của chúng là khác nhau Ví dụ như: đất nông nghiệp do phù saSông Hồng thường mang tính chất cơ giới nhẹ, nhiều kiềm Phù sa Sông CửuLong thường mang tính chất cơ giới nặng hơn phù sa Sông Hồng,
Dựa trên tính chất đặc biệt của mỗi loại đất và sự phù hợp của khí hậu,điều kiện tự nhiên của địa phương nơi đất nông nghiệp phân bố mà con ngườilựa chọn loại hình canh tác, cây con giống, chế độ luân canh, tưới tiêu sao chophù hợp mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn nữa Tính đa dạng và phong phú củađất nông nghiệp vì thế cũng mang lại nhiều lợi ích cho con người Mỗi một địaphương một loại đất, một tính chất khác nhau lại có luồng sản phẩm khác nhau,phù hợp và như thế con người sẽ có nhiều sản phẩm nông nghiệp đa dạng vàphong phú hơn Một số vùng có thể hình thành nên nền sản xuất chuyên canhcây, con đặc sản mà không vùng nào có thể có đựoc mang lại giá trị kinh tế cao
1.1.2 Khái niệm và đặc trưng quản lý nhà nước về đất nông nghiệp
1.1.2.1 Khái niệm quản lý nhà nước về đất nông nghiệp
Như chúng ta đã biết bản chất của công tác quản lý nhà nước là sự tácđộng một cách có tổ chức, hệ thống nhằm mục đích điều chỉnh các hành vi của
Trang 19con người, tổ chức, cá nhân…bằng quyền lực của nhà nước để hướng ý chí vàmục đích của họ theo mục đích chung của toàn xã hội.
Nhà nước tác động lên các đối tượng thông qua công việc thiết lập cácmối quan hệ xã hội, quan hệ giữa con người với con người, giữa các tập thể vớinhau, quan hệ giữa cá nhân với tập thể… các mối quan hệ tồn tại trong xã hội làrất nhiều, tất cả các mối quan hệ đó đều cần phải được điều chỉnh để lợi ích củangười này không làm xâm phạm lợi ích của người khác, đảm bảo được lợi íchcủa đất nước
Trước hết nhà nước vừa là một cơ cấu có tổ chức bao gồm một hệ thốngcác cơ quan từ trung ương đến địa phương Những tác động của nhà nước lêncác đối tượng quản lý là các tác động có tổ chức chứ không phải tác động mộtcách đơn lẻ đến một cá nhân, chủ thể đơn giản trong xã hội Mà sự tác động đóđặt trong hệ thống tổng hòa các mối quan hệ của xã hội bao hàm tòan bộ các cánhân, tổ chức, thành phần kinh tế Tính tổ chức đó đặt ra vấn đề là làm sao hìnhthành nên các tổ chức, bộ máy quản lý với cơ cấu và cơ chế hoạt động thích hợp.Mặt khác, các tổ chức, bộ máy đó hoạt động như thế nào? Sự phối hợp hoạtđộng, phân chia quyền hạn, trách nhiệm giữa các cá nhân, tổ chức như thế nào?
Để bộ máy nhà nước quản lý mang lại hiệu quả tối ưu, đạt được mục tiêu đã đề
ra Đó là một vấn đề lớn đối với công tác tổ chức bộ máy quản lý Nhà nước
Nhà nước còn tạo lập nên bộ máy sức mạnh về pháp luật, an ninh, bộ máy
áp chế… để thực hiện công tác quản lý của mình đưa cá nhân, tổ chức vào đúngquỹ đạo, hoạt động trong khuôn khổ phục vụ lợi ích cá nhân mà lợi ích đó khônggây ảnh hưởng xấu đến xã hội Sự tồn tại của bộ máy áp chế trong cơ cấu các cơquan chức năng quản lý là một tất yếu khách quan, đó là điều kiện cần thiết đểthực hiện nhiệm vụ quản lý trong những trường hợp cần thiết
Quản lý nhà nước còn được thể hiện ở quan hệ chủ thể và khách thể vàđối tượng quản lý Chủ thể của sự quản lý nhà nước là bộ máy hành chính từtrung ương đến địa phương, tỉnh, thành, phường, xã,,, và toàn bộ các cán bộ
Trang 20công nhân viên chức của nhà nước làm việc trong công tác quản lý Nhà nước …Khách thể quản lý là các công dân, tổ chức, các thành phần kinh tế, xã hội…Đối tượng của công tác quản lý nhà nước là các quá trình kinh tế, các hoạt động,các mối quan hệ có liên quan
Trong lĩnh vực quản lý Nhà nước về đất nông nghiệp chủ thể quản lý nhànước về đất nông nghiệp (cụ thể ở đây là đất nông nghiệp) thì nhà nước đóng vaitrò là chủ thể quản lý, khách thể của sự quản lý là các cá nhân, tổ chức, doanhnhân, doanh nghiệp sử dụng đất nông nghiệp, có liên quan đến đất nôngnghiệp…Và đối tượng của công tác quản lý nhà nước về đất nông nghiệp lànhững mối quan hệ phát sinh, những vướng mắc, vấn đề có liên quan đến đấtnông nghiệp xảy ra trong xã hội
Từ sự phân tích các hoạt động quản lý nhà nước đối với đất nông nghiệpnhư trên, có thể đưa ra khái niệm quản lý nhà nước về đất nông nghiệp như sau:
Quản lý nhà nước về đất nông nghiệp là tổng hợp các hoạt động của các
cơ quan nhà nước có thẩm quyền để thực hiện và bảo vệ quyền sở hữu của Nhà nước đối với đất nông nghiệp, đó là các hoạt động nắm chắc tình hình sử dụng đất, phân phối và phân phối lại quỹ đất nông nghiệp theo quy hoạch, kế hoạch, kiểm tra giám sát quá trình quản lý và sử dụng đất, điều tiết các nguồn lợi từ đất nông nghiệp [7]
Cụ thể trong công tác quản lý nhà nước về đất nông nghiệp, Nhà nước cócác vai trò và nhiệm vụ quan trọng sau:
- Nhà nước quản lý toàn bộ quỹ đất nông nghiệp trên phạm vi cả nước.Như đã nói ở trên nhà nước là người đại diện chủ sở hữu đất nông nghiệp của cảnước Đồng thời nhà nước là chủ thể quản lý của công tác quản lý nhà nước vềđất nông nghiệp, Chính vì vậy nhà nước phải thống nhất quản lý đất nôngnghiệp (đất nông nghiệp) trên phạm vi cả nước Mục đích của việc này là manglại lợi ích chung cho xã hội đảm bảo sử dụng đất (đất nông nghiệp) hợp lý vàhiệu quả cao nhất, có tầm nhìn xa vì mục đích chung của cộng đồng Song song
Trang 21với nó Nhà nước luôn có các chế tài để đảm bảo quyền lợi, trách nhiệm củamình và của người sử dụng đất nông nghiệp nói riêng và đất nông nghiệp nóichung Người sử dụng đất nông nghiệp phải tuân thủ các quy định đã đặt Nếukhông chấp hành các quy định đó thì người sử dụng đất đã vi phạm pháp luật cóthể bị phạt, thu hồi đất, tịch thu tài sản…Nhà nước thực hiện công tác quản lýqua những nhiệm vụ sau:
- Nhà nước thông qua quy hoạch, kế hoạch, chiến lược phát triển kinh tế
để định hướng cho quá trình sử dụng đất Nhà nước là người có các quyền tuyệtđối với đất nông nghiệp: định đoạt, chiếm hữu… Do đó, nhà nước có quyềnquyết định mục đích sử dụng, thời hạn sử dụng… của đất nông nghiệp (đất nôngnghiệp) Trước hết nhà nước xác định tính chất, hiện trạng, đặc tính của đấtnông nghiệp (đất nông nghiệp) từ đó xác định được mục đích sử dụng của cácloại đất ở từng vùng, địa phương, nhu cầu sử dụng đất của các ngành, các lĩnhvực sao cho phù hợp Qua quy hoạch kế hoạch sử dụng đất đã được thông quanhà nước đã điều tiết các quỹ đất trong nền kinh tế, nhà nước quyết định mụcđích sử dụng đất của vùng, địa phương… Người sử dụng đất tuân thủ theo quyhoạch, kế hoạch của nhà nước đã được thông qua Mô hình chung mục đích sửdụng, cơ cấu sử dụng, diện tích của các loại đất phân bổ…được thực hiện bởingười dân nhưng người xác định là Nhà nước Do đó, nhà nước có được chiếnlược phát triển lâu dài, bền vững cho đất nước
- Công tác kiểm kê, đánh giá phân hạng đất nông nghiệp là một việc làmkhông thể thiếu được của công tác quản lý nhà nước về đất nông nghiệp (đấtnông nghiệp) Hàng năm nhà nước phải nắm bắt được cụ thể diện tích, chấtlượng, mục đích sử dụng, tình trạng sử dụng của các loại đất nói chung và củađất nông nghiêp nói riêng, có như thể mới có thể tạo lập được quy hoạch, kếhoạch sử dụng đất nông nghiệp phù hợp, lâu dài, tính dự báo cao… Để có đựơcđiều đó đòi hỏi công tác kiểm kê đánh giá phân hạng đất nông nghiệp phải đượcthực hiện triệt để, theo đúng luật, đúng kế hoạch đề ra Công tác này không
Trang 22những giúp cho công tác lập, điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất (đấtnông nghiệp) mà nó còn đóng góp rất lớn cho công tác quản lý tài chính về đấtnông nghiệp của nhà nước ta Tạo một nguồn thu quan trọng cho ngân sách,phục vụ cho hoạt động quản lý nhà nước về đất nông nghiệp Nhà nước tính thuếđất nông nghiệp, thuế chuyển quyền sử dụng đất, tiền đền bù…dựa trên khunggiá đất nông nghiệp, đất nông nghiệp được chia ra nhiều loại mỗi loại có mộtkhung giá khác nhau Để phân chia được đất nông nghiệp thì công tác đầu tiên làphân hạng, đo đạc, đánh giá đất Qua đây ta có thể thấy vai trò lớn của công tác
đo đạc, phân hạng, đánh giá đất nông nghiệp
- Đất nông nghiệp là tài sản quý giá của bất kỳ một quốc gia nào Giá trịcủa đất nông nghiệp ngày càng lớn trên thị trường cạnh tranh, mối quan hệ đấtnông nghiệp ngày càng phức tạp hơn Con người đã nhìn nhận thấy được tínhquan trọng của đất đại đối với đời sống của mình Chính vì vậy, các tranh chấp,mâu thuẫn, khiếu kiện… trong các quan hệ đất nông nghiệp thường nổ ra mạnh
mẽ, Trong công tác quản lý nhà nước về đất nông nghiệp, cán bộ, công nhânviên chức có thể lợi dụng quyền hạn và trách nhiệm, công cụ nhà nước để vụ lợicho cá nhân, lợi ích của người này làm xâm hại quyền lợi, lợi ích của ngườikhác, chế tài Nhà nước ban hành ra để điều chỉnh, tác động vào mối quan hệ đấtnông nghiệp, đảm bảo công bằng Công tác thanh tra, kiểm tra, phát hiện, xử lý
vi phạm trong lĩnh vực đất nông nghiệp là rất cần thiết để phát hiện, xử lý sớmcác vi phạm
Trong xã hội nước ta, một thời đất nông nghiệp được xem như “ vô giá”đơn giản là vì đất nông nghiệp không được mua bán trên thị trường Ngày nay,đất nông nghiệp là một tài sản có giá trị lớn, được phép mua đi bán lại Nhữngmâu thuẫn trong mua bán, cạnh tranh, đất nông nghiệp nổ ra thường xuyên.Ngòai ra còn có nhiều loại hình khác như: thế chấp đất nông nghiệp, cho thuêđất nông nghiệp, …Nhiều mối quan hệ nảy sinh nhiều vấn đề phát sinh cần phảiđiều chỉnh Để giảm thiểu những tác hại có thể, công tác thanh tra, kiểm tra phảiđặt lên hàng đầu
Trang 231.1.2.2 Đặc trưng quản lý nhà nước về đất nông nghiệp
- Đặc trưng quản lý Nhà nước về đất nông nghiệp là hoạt động dựa trênnguyên tắc Đất nông nghiệp thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhấtquản lý Đất nông nghiệp là tài sản chung của tất cà mọi người mà Nhà nướcthay mặt cho toàn dân thực hiên quyền sở hữu tối cao và thống nhất quản lý đấtnông nghiệp trong cả nước bởi Nhà nước ta là Nhà nước của dân, do dân và vìdân Như vậy ở nước ta sở hữu toàn dân về đất nông nghiệp đồng nghĩa với sởhữu Nhà nước Đất nông nghiệp thuộc sở hữu toàn dân, bảo đảm cho Nhà nướcnắm giữ tài liệu sản xuất quan trọng này làm nền tảng thực hiện mục tiêu xã hộichủ nghĩa Như vậy có thể nói rằng đất nông nghiệp thuộc sở hữu toàn dân làmột nét đặc trưng quan trọng để phân biệt việc quản lý đất nông nghiệp ở ViệtNam khác với các nước trên thế giới và cũng chính là điểm khác biệt giữa quản
lý đất nông nghiệp với quản lý các lĩnh vực khác
- Quản lý Nhà nước về đất nông nghiệp mang tính mệnh lệnh hành chính,chấp hành rất cao Đặc trưng này được biểu hiện thông qua các hoạt động nhưquy hoạch, kế hoạch đất nông nghiệp, trưng thu, trưng dụng đất, thu hồi đất hoặcpháp luật đất nông nghiệp có rất nhiều quy phạm mạng tính mệnh lệnh hànhchính như quy phạm về thanh tra, kiểm tra xử lý các vi phạm pháp luật đất nôngnghiệp, về giải quyết tranh chấp đất nông nghiệp Tính mệnh lệnh hành chínhcủa quản lý Nhà nước về đất nông nghiệp còn được thể hiện qua những quyếtđịnh của Chính phủ, UBND cấp tỉnh, cấp huyện về giao đất, thu hồi đất, chothuê đất, giải quyết tranh chấp về đất Trên cơ sở các quyết định đó đã làm phátsinh các quan hệ pháp luật về đất nông nghiệp với các quyền và nghĩa vụ củacác chủ thể tham gia quan hệ pháp luật đất nông nghiệp, quy định các biện phápcưỡng chế đối với các chủ thể không thực hiện các quyền và nghĩa vụ hoặc cóhành vi vi phạm pháp luật đất nông nghiệp
Trong quản lý Nhà nước về đất nông nghiệp có hàng loạt quan hệ đấtnông nghiệp mang tính mệnh lệnh hành chính như quan hệ xử phạt hành chính
Trang 24đối với các chủ thể vi phạm pháp luật đất nông nghiệp, quan hệ về cấp giấychứng nhận quyền sử dụng đất, quan hệ về chuyển đổi, chuyển nhượng, chothuê, quan hệ về thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất Trong các quan hệnày, quyền vad nghía vụ của các chủ thể không bình đẳng với nhau trong đó cócác cơ quan Nhà nước có thẩm quyền mệnh lệnh, còn người sử dụng đất cónhiệm vụ thi hành.
Ngoài tính hành chính mệnh lệnh của quản lý Nhà nước về đất nôngnghiệp, nó còn bị chi phối của tính bình đẳng và thỏa thuận được thể hiện rõtrong một số nội dung chuyển đổi, thừa kế, thế chấp quyền sử dụng đất Tínhbình đẳng được thể hiện ở các quy phạm pháp luật đất nông nghiệp và các hành
vi thực hiện quyền và nghĩa vụ của các chủ thể Nhưng đặc trưng chính của quản
lý Nhà nước về đất nông nghiệp vẫn là tính mệnh lệnh, chấp hành và điều hành
- Quản lý Nhà nước về đất nông nghiệp là hoạt động mang tính hệ thốngcao Việc quản lý này mang tính khoa học liên tục quy định nội dung, thẩmquyền quản lý đất nông nghiệp thống nhất trong cả nước
Để có cơ sở pháp lý cho việc quản lý đất nông nghiệp, Nhà nước ts đã banhành hàng loạt những quy định pháp lý mang tính nguyên tắc chung về quản lýđất nông nghiệp như Chính phủ chịu trách nhiệm quản lý đất nông nghiệp cảnước, UBND các cấp chịu trách nhiệm quản lý đất nông nghiệp ở các địaphương, đồng thời cũng ban hành một số quy định cụ thể về quản lý Nhà nướcđối với đất nông nghiệp như các quy định về giao đất, thu hổi đất, cho thuê đấ
1.2 Sự cần thiết, nguyên tắc, nội dung và các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về đất nông nghiệp
1.2.1 Sự cần thiết của quản lý nhà nước về đất nông nghiệp
Như đã trình bày ở trên đất nông nghiệp đóng vai trò to lớn đối với cuộcsống của con người Xã hội ngày càng phát triển nhu cầu đất nông nghiệp thayđổi theo hướng chuyển dịch của cơ cấu nền kinh tế Vì vậy, trong tổng quỹ đấtkhông đổi thì đất nông nghiệp có chiều hướng giảm dần diện tích do phải
Trang 25chuyển mục đích sử dụng sang các loại đất khác (đất dùng cho công nghiệp, đấtdùng vào mục đích thương mại, đất ở…) Nói như vậy nhưng không thể phủ nhậnhoàn toàn đất nông nghiệp trong đời sống của con người ngày nay Để tồn tại conngười luôn cần đến thức ăn, rau quả, củ, sản phẩm của nền nông nghiệp, nhữngnguồn cung cấp này chỉ có thể thỏa mãn được dựa vào sức mạnh canh tác đấtnông nghiệp Dù gì đi nữa trong tổng quỹ đất của mỗi đất nước phải luôn có mộtquỹ đất nông nghiệp cần thiết với mục đích của sự đảm bảo một quỹ đất nôngnghiệp hợp lý là bảo đảm quỹ lương thực, an ninh lương thực của quốc gia
Đứng trước sức ép của sự phát triển kinh tế, đất nông nghiệp phải có được
sự quản lý và sử dụng hợp lý để không còn việc sử dụng tràn lan nếu không cóthể dẫn đến những hậu quả khôn lường, không những ảnh hưởng đến thế hệ này
mà còn ảnh hưởng đến thế hệ sau, dẫn tới nguy cơ phá huỷ sự phát triển bềnvững của thế giới
Theo thống kê của Liên Hợp Quốc hàng năm có hàng vạn ha đất nôngnghiệp bị hoang hoá, bị sa mạc hoá, mất tính canh tác, bị bỏ không không aicanh tác Mỗi giây đồng hồ trôi qua có gần 20 ha bị hoang hoá, sa mạc hoá, Đây
là một mối đe doạ lớn đối với quỹ đất nông nghiệp trên thế giới
Ngay ở nước ta, sau đại hội Đảng lần thứ VI (1986) Đảng và Nhà nước ta
đã đề ra nhiều tư duy, phương hướng phát triển và đổi mới cho đất nước Nước
ta xác định phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng nền kinh tề thịtrường có sự quản lý của Nhà nước Từ một đất nước đói nghèo, sống nhờ vàoviện trợ của nước ngoài trở thành một đất nước xuất khẩu gạo đứng nhất nhì thếgiới, lương thực không những đủ để cung cấp trong nước mà còn thoả mãn nhucầu xuất khẩu nông phẩm Đất nông nghiệp là một tiềm lực to lớn mang lại chotoàn dân tộc ta nhiều lợi thế phù hợp với truyền thống lao động, phong tục tậpquán, trình độ phát triển… nếu biết cách khai thác và sử dụng sẽ là một tàinguyên vô giá cho sự phát triển của đất nước
Đất nước mở cửa phát triển, trong xu thế giao lưu hợp tác với các nướckhác trên thế giới, nước ta đã gia nhập vào tổ chức thương mại thể giới WTO cơ
Trang 26hội và thách thức đang chờ đón Vấn đề lớn của nước ta trên con đường pháttriển là nguồn vốn, làm sao để thu hút được nhiêu nguồn vốn đầu tư từ nướcngoài Nguồn vốn đối ứng để chúng ta đưa ra thu hút đầu tư chính là đất nôngnghiệp Bản thân đất đã mang lại một nguồn vốn lớn các doanh nghiệp, công ty,
tổ chức ngay trên sân nhà, tạo nhiều thuận lợi cho công cuộc hội nhập, hợp tácquốc tế của nước
Các mối quan hệ liên quan đến đất nông nghiệp vì vậy mà cũng trở nên đadạng và phức tạp hơn, không chỉ là mối quan hệ trong nước như trước kia nữa
mà phát triển hơn liên quan đến cả yếu tố nước ngoài Nhà nước chủ thể quản lýcủa xã hội, phải quản lý đất nông nghiệp nói chung và đất nông nghiệp nói riêngmột cách hợp lý, có các chế tài mới phù hợp với xu thế hội nhập để có được hiệuquả sử dụng tối ưu, lâu dài, bền vững…đảm bảo được nền độc lập dân tộc, pháttriển kinh tế.Trong các chế tài quản lý Nhà nước đã có và đâng dần hoàn thiệnnhững quy định liên quan đến yếu tố nước ngoài giúp cho quá trình hội nhập củanước ta
Thực tế cho thấy, công tác quản lý nhà nước về đất nông nghiệp nóichung và đất nông nghiệp nói riêng đã đạt được nhiều bước tiến đáng kể trongsuốt thời gian qua Đó là những tiền đề thuận lợi cho công cuộc cải cách hànhchính, nâng cao chất lượng của công tác quản lý nhà nước về đất nông nghiệpphục vụ nhân dân ngày càng tốt hơn nữa Mong rằng trong thời gian tới Đảng vàChính phủ sẽ có phương hướng, biện pháp và hoàn thành tốt công tác quản lýcủa mình
Trong nên kinh tế thị trường, tất các các hoạt động của các ngành, cácdoanh nghiệp muốn hoạt động tốt đều phải có sự can thiệp quản lý của Nhànước Đối với thị trường đất nông nghiệp cũng vậy, khi tham gia vào nền kinh tếthị trường, đất nông nghiệp có sự thay đổi căn bản về bản chất kinh tế xã hội.Đất nông nghiệp từ là tư liệu sản xuất mang các điều kiện tự nhiên chuyển sang
là tư liệu sản xuất chứa đựng yếu tố sản xuất hàng hoá và tham gia vào quá trình
Trang 27kinh doanh Vai trò của đất trở thành yếu tố quan trọng, là yếu tố chủ đạo quyđịnh sự vận động của các ngành kinh tế quốc dân theo hướng ngày càng nângcao hiệu quả Đặc biệt trong xã hội hiện đại ngày nay, giá đất cũng như lợinhuận khi đầu tư vào đất là rất cao đã khiến cho tình trạng tranh chấp lấn chiếmđất sai quy định xảy ra, làm ảnh hưởng đến mọi mặt của nền kinh tế quốc dânđời sống kinh tế xã hội
Trong sản xuất nông nghiệp, khi tham gia vào cơ chế thị trường, đất nôngnghiệp cũng chứa đựng những nguy cơ tiềm ẩn trong nó Khi người sử dụng đấtkhông có đủ năng lực và thị trường đất nông nghiệp bất lợi kéo dài, đất nôngnghiệp có nguy cơ quay trở về sản xuất ở chế độ tự cung tự cấp Hơn nữa, đấtnông nghiệp cũng là một nguồn vốn tham gia vào việc sản xuất hàng hoá, việc
sử dụng đất lại rất cần có vốn cho nên hình thành thị trường đất nông nghiệp làmột là một động lực quan trọng để góp phần hoàn thiện hệ thống thị trường củanền kinh tế quốc dân
Chính vì những lý do như vậy, việc quản lý Nhà nước về đất nông nghiệpnói chung và đất nông nghiệp thành phố nói riêng là hết sức cần thiết nhằm đưahoạt động sử dụng đất và khuôn khổ thống nhất, phát huy những ưu thế của cơchế thị trường và hạn chế những khuyết điểm của thị trường khi sử dụng đấtnông nghiệp, ngoài ra còn làm tăng tính chất pháp lý của đất nông nghiệp
Đất nông nghiệp là tài sản quan trọng trong sản xuất, là tư liệu sản xuấtđặc biệt Quyền sử dụng và sở hữu đất nông nghiệp thể hiện sự công bằng xã hộitrong nền kinh tế quốc dân
Tính hiệu quả của các hệ thống quản lý đất nông nghiệp thành phố có tácđộng tới thị trường đất nông nghiệp, đầu tư bất động sản và việc sử dụng đất vàbất động sản Bất động sản là bất cứ một sự cải tạo nào đối với đất nông nghiệplàm tăng giá trị của đất bao gồm cả các công trình, cơ sở hạ tầng và các vật cốđịnh khác
Chính vì những lý do như vậy, việc quản lý Nhà nước về đất nông nghiệpnói chung và đất nông nghiệp thành phố nói riêng là hết sức cần thiết nhằm đưa
Trang 28hoạt động sử dụng đất và khuôn khổ thống nhất, phát huy những ưu thế của cơchế thị trường và hạn chế những khuyết điểm của thị trường khi sử dụng đấtnông nghiệp, ngoài ra còn làm tăng tính chất pháp lý của đất nông nghiệp.
1.2.2 Nguyên tắc quản lý nhà nước về đất nông nghiệp
1.2.2.1 Tập trung và dân chủ
Tập trung là trao quyền lực và nghĩa vụ cho một người đứng đầu Đại diện
là Nhà nước pháp quyền Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Nhà nước thốngnhất quản lý mọi mặt của nền kinh tế và đóng vai trò chủ đạo trong việc quản lý
và phát triển kết cấu hạ tầng thành phố Đất nông nghiệp là tải sản quan trọngcủa một quốc gia nên không một các nhân hay tổ chức nào được quyền chiếmhữu nó, mọi quyền quản lý đất nông nghiệp đều thuộc về Nhà nước [18]
Dân chủ là tất cả mọi người đều có quyền đưa ra ý kiến của mình trongviệc xây dựng chủ trương, đường lối chính sách Các ý kiến phải được đưa rathảo luận để đi đến kết luận cuối cùng Đối với các công tác quản lý đất nôngnghiệp, công tác quy hoạch và quản lý việc sử dụng, các phương án, chính sáchcần rõ ràng, công khai minh bạch, công bố rộng rãi để góp ý kiến, tham mưunhằm đạt kết quả cao trong công tác quản lý [18]
Từ vai trò của đất nông nghiệp đối với cả nền kinh tế, xã hội cho thấy,việc nhà nước thống nhất quản lý về đất nông nghiệp là cần thiết Điều đó sẽđảm bảo cho việc duy trì các mục tiêu chung của cả xã hội Từ xưa tới nay, ở tất
cả các quốc gia trên thế giới, Nhà nước đều thực hiện quản lý tập trung thốngnhất về đất nông nghiệp
Nhà nước thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất nông nghiệp và thống nhất quản lý nhà nước về đất nông nghiệp [5]
Quyền quản lý tập trung thống nhất của Nhà nước được thực hiện theoluật pháp và được thể hiện trên nhiều mặt như: Đại diện chủ quyền quốc gia vềlãnh thổ, quyền giao đất hoặc cho thuê đất đối với các tổ chức hộ gia đình, cánhân, trong và ngoài nước, quyền định giá đất, điều tiết thu nhập từ đất nông
Trang 29nghiệp, quyền kiểm tra, giám sát việc sử dụng đất và xử lý vi phạm Pháp luật đấtnông nghiệp…
Luật đất nông nghiệp 2013 đã thêm nhiều điều luật để quy định về cácquyền của Nhà nước Quy định cụ thể nghĩa vụ của Nhà nước đối với người sửdụng đất như quy định về những bảo đảm của Nhà nước đối với người sử dụngđất; trách nhiệm của Nhà nước đối với đồng bào dân tộc thiểu số, người trực tiếpsản xuất nông nghiệp; trách nhiệm của Nhà nước trong việc cung cấp thông tinđất nông nghiệp cho người dân
Để đảm bảo quyền quản lý tập trung thống nhất của Nhà nước về đất nôngnghiệp thì Nhà nước phải nắm và sử dụng tốt các công cụ quản lý cũng như cácphương pháp quản lý thích hợp Nếu sử dụng tốt công cụ quản lý và phương phápquản lý thì quyền quản lý tập trung thống nhất của nhà nước được duy trì ở mức
độ cao Ngược lại, nếu có những thời điểm nào đó, việc sử dụng các công cụ quản
lý không đồng bộ, các phương pháp quản lý không thích ứng thì thì hiệu lực vàhiệu quả quản lý về đất nông nghiệp sẽ giảm đi, tình trạng tự phát trong sử dụngtăng lên Điều đó sẽ gây ra nhiều hậu quả không tốt đối với xã hội và làm suygiảm quyền quản lý tập trung thống nhất về đất nông nghiệp của nhà nước
1.2.2.2 Phân cấp quản lý và phối hợp thực hiện
Phân cấp quản lý là sự sắp xếp quản lý của các cơ quan quản lý đối vớicác thành phố khác nhau được phân loại theo trình độ phát triển hay tầm quantrọng của các thành phố Từ đó đưa ra được các biện pháp chính sách quản lýthích hợp Sự phân cấp quản lý rất quan trọng, đảm bảo sự quản lý phù hợpkhông bị trùng lặp hoặc bỏ sót
Để việc quản lý có hiệu quả cần có sự phối hợp thực hiện giữa các cấp cơquan chức năng Công tác tham mưu, hướng dẫn, xin ý kiến chỉ đạo,… góp phầnquan trọng, đảm bảo cho công tác quản lý đạt hiệu quả tối ưu
Đất nông nghiệp phản ánh mối quan hệ về lợi ích giữa cá nhân, tập thể vàcộng đồng xã hội Đất nông nghiệp là yếu tố đầu vào quan trọng của sản xuất, vìvậy, trước hết phải đảm bảo lợi ích của người sử dụng đất Mặt khác đất nông
Trang 30nghiệp là tài sản quốc gia vì vậy nó phải đảm bảo lợi ích chung của xã hội Kếthợp hài hoà ba loại ích tức là chúng ta phải chú ý đồng thời cả ba lợi ích đókhông để lợi ích này lấn át hoặc triệt tiêu lợi ích khác Việc đảm bảo hài hoà balợi ích được thực hiện thông qua công tác quy hoạch, chính sách tài chính về đất
và các quy định về quyền và nghĩa vụ của nhà nước và người sử dụng đất
1.2.2.3 Tiết kiệm và hiệu quả
Đây là một nguyên tắc quan trọng Ở Việt Nam, nền kinh tế còn nhiềumặt hạn chế, vì vậy các chính sách đường lối phải phù hợp nhằm khai thác tối
ưu nguồn lực hiện tại Đảm bảo công tác quản lý phải tiết kiệm nhưng phải đemlại hiệu quả phù hợp
Đất nông nghiệp là một loại hàng hóa đặc biệt, tuy nó không dễ dàng mất
đi nhưng nếu ta sử dụng không đúng cách, sử dụng lãng phí, sai mục đích gây ônhiễm và suy thoái đất thì nó sẽ mất đi và rất khó lấy lại được Hơn nữa, đấtnông nghiệp là có hạn trong khi dân số ngày một tăng nhanh, nếu ta sử dụnglãng phí không đúng cách thì đất có thể thoái hóa và không thể sử dụng đượcnữa, điều đó sẽ không thể đảm bảo cho cuộc sống cho các thế hệ trong tương lai,
vì vậy chúng ta cần phải sử dụng đất nông nghiệp một cách tiết kiệm, sử dụngđất sao cho có lợi ích mang lại là cao nhất
Như vậy, tiết kiệm và hiệu quả trong công tác quản lý đất nông nghiệp làmột nguyên tắc quan trọng Yêu cầu cơ bản của nguyên tắc này là công tác quản
lý Nhà nước về đất nông nghiệp đòi hỏi các tổ chức và các cá nhân phải thựchiện tốt các nhiệm vụ của mình trong việc sử dụng đất nông nghiệp để hiệu quảmang lại là cao nhất với chi phí thấp nhất
Đây là một trong những nguyên tắc cơ bản của quản lý kinh tế bởi vì bất
cứ một hoạt động nào dù là kinh tế hay phi kinh tế đều cần phải được thực hiệntrên cơ sở tiết kiệm và hiệu quả
Nguyên tắc này đòi hỏi công tác quản lý Nhà nước về đất nông nghiệpphải làm tốt công tác quy hoạch phân bổ đất nông nghiệp phù hợp với yêu cầucủa từng thời kỳ phát triển kinh tế xã hội, bên cạnh đó, phải quy định cụ thể về
Trang 31chế độ sử dụng các loại đất, đồng thời tổ chức quản lý, giám sát tốt việc sử dụngđất để đảm bảo tính hiệu quả.
1.2.2.4 Kết hợp quyền sở hữu đất và quyền sử dụng đất
Sở hữu và sử dụng là hai vấn đề rất phức tạp và có tính nhạy cảm, nó cóthể tập trung hoặc tách riêng Khi tập trung lại thì vấn đề này thuộc về người sửdụng đất nông nghiệp, họ có toàn quyền về khu đất của mình cả về kinh tế vàcác yếu tố pháp lý, họ có thể trao đổi mua bán và thực hiện các hoạt động theolợi ích cá nhân mà không quan tâm tới các vấn đề khá Nhưng khi tách riêng haivấn đề sẽ có sự phân chia giữa quyền sở hữu và quyền sử dụng, có thể ta cóquyền sử dụng nhưng lại không có quyền sở hữu Vậy nên ta phải kết hợp haiquyền này sao cho thống nhất, hợp lý để đảm bảo sử dụng đất đem lại hiêụ quảkinh tế cao nhất cho cả người sử dụng đất và người sở hữu đất Điều này đỏi hỏi
sự khôn khéo trong công tác quản lý của Nhà nước
Đất nông nghiệp thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu
và nhà nước trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất thông qua hình thứcgiao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất đối với người đang sử dụngđất ổn định; quy định quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất [5]
Luật Đất nông nghiệp sửa đổi năm 2013 đã quy định cụ thể hóa các
quyền nghĩa vụ của Nhà nước đối với người sử dụng đất như: Quy định về
những bảo đảm của Nhà nước đối với người sử dụng đất, trách nhiệm của Nhànước đối với đồng bào dân tộc thiểu số, người trực tiếp sản xuất nông nghiệp;trách nhiệm của Nhà nước trong việc cung cấp thông tin đất nông nghiệp chongười dân [6]
Như vậy, ở nước ta quyền sở hữu đất nông nghiệp thuộc về toàn dân Đấtnông nghiệp là tài sản chung của tất cả mọi người, Nhà nước là người đại diệnchủ sở hữu và thống nhất quản lý toàn bộ đất nông nghiệp
Muốn đảm bảo kết hợp tốt quyền sở hữu toàn dân và quyền sử dụng củatừng người sử dụng phải có cơ chế kết hợp, trong đó, quyền và trách nhiệm của
Trang 32các bên (nhà nước và người sử dụng) phải được công nhận và được thể chế hoábằng các văn bản pháp luật Thực tế cho chúng ta thấy vấn đề sở hữu và sử dụngđất là những vấn đề rất phức tạp và có nhiều quan điểm khác nhau.
Chuyển sang nền kinh tế thị trường, Đảng và Nhà nước đã đề ra và thựchiện khá thành công cơ chế kết hợp quyền sở hữu và quyền sử dụng đất nôngnghiệp Quyền sở hữu toàn dân về đất nông nghiệp vẫn không thay đổi nhưngquyền sử dụng đất đã được trao cho mọi đối tượng sử dụng đất, gồm cá nhân, hộgia đình, tổ chức trong và ngoài nước theo xu hướng ngày càng mở rộng quyền(quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế, thế chấp, góp vốn kinhdoanh…) và hướng tới sự bình đẳng đối với mọi đối tượng thuộc các thành phầnkinh tế
1.2.3 Nội dung quản lý nhà nước về đất nông nghiệp
1.2.3.1 Điều tra, khảo sát và lập bản đồ địa chính
Điều tra, khảo sát đo đạc và lập bản đồ địa chính là công tác đầu tiên phảithực hiện trong công tác quản lý đất nông nghiệp Thực hiện tốt các công việcnày giúp cho ta nắm được số lượng, phân bố, cơ cấu chủng loại đất nông nghiệp,tạo cơ sở cho các công tác quản lý tiếp theo
Trong công tác này, để thực hiện tốt cần có sự phối hợp của nhiều banngành chức năng Nhà nước chỉ đạo trực tiếp việc xác định địa giới hành chính,lập và quản lý hồ sơ địa giới hành chính các cấp trong phạm vi cả nước Sau đóquy định về trình tự, thủ tục xác định địa giới hành chính, quản lý mốc địa giới
và hồ sơ địa giới hành chính Bộ Tài nguyên và môi trường quy định về kỹ thuật
và định mức kinh tế đối với qũy đất, quy định về việc cắm mốc địa giới hànhchính, lập hồ sơ địa giới hành chính các cấp
Việc điều tra khảo sát và đo đạc đất nông nghiệp thường được tiến hànhdựa trên cơ sở một bản đồ hoặc tài liệu gốc có sẵn Từ các tài liệu này, các lô đấtđược điều tra, khảo sát, đo đạc và tiến hành xác định mốc địa giới hành chính,xác định hình dạng của lô đất trên thực địa, thực hiện cắm mốc giới và lập biên
Trang 33bản mốc giới Sau đo cần tiến hành kiểm tra, đo đạc độ chính xác về hình dáng
và kích thước trên thực tế của từng lô đất, lập hồ sơ kỹ thuật lô đất Trên cơ sởcác tài liệu sẵn có và các hồ sơ kỹ thuật thu thập được sau khi điều tra đo đạc,tiến hành xây dựng bản đồ địa chính
Bản đồ địa chính là bản đồ trên đó thể hiện được ranh giới các đơn vịhành chính kèm theo địa danh và các yếu tố về tự nhiên, kinh tế, xã hội Bản đồđịa chính có thể xây dựng theo cơ sở dữ liệu tạo nên bản đồ dữ liệu hoặc có thểxây dựng trên giấy Việc lập bản đồ địa chính có vai trò quan trọng, nó là cơ sởcho các công việc tiêp theo của công tác quản lý đất nông nghiệp Từ bản đồ,các nhà quản lý có thể có cái nhìn khách quan và tổng thể về quỹ đất mình quản
lý, từ đó đưa ra các chính sách phù hợp để áp dụng vào công tác quản lý
Đối với đất nông nghiệp để quản lý được đất nông nghiệp một cách có hệthống nhà nước cũng cần những thông tin về đất nông nghiệp: diện tích, tìnhtrạng sử dụng, mục đích sử dụng (trồng cây ngắn ngày, dài ngày…) Từ nhữngthông tin về đất nông nghiệp người quản lý có được kế hoạch sử dụng hợp lý vàcho ra những quyết định sử dụng đứng đắn, giúp cho nền nông nghiệp của đấtnước phát triển đóng góp cho sự phát triển xã hội Trong quá trình quản lý, saukhi tìm hiểu đưa ra quyết định, song song thực hiện quyết định người quản lýphải thu thập tiếp những thông tin về đất nông nghiệp để biết được tình hình đấtnông nghiệp đang diễn biến như thế nào từ đó có những điều chỉnh, sửa đổi kếhoạch, quy hoạch, pháp luật đất nông nghiệp…Như vậy những đặc điểm của đấtnông nghiệp là rất quan trọng trong công tác quản lý nhà nước về đất nôngnghiệp.Chính vì vậy, nhà nước phải tiến hành khảo sát, đo đạc, đánh giá, phânhạng đất nông nghiệp, lập bản đồ hiện trạng và bản đồ quy hoạch sử dụng đấtnông nghiệp
Việc đo đạc, khảo sát, phân hạng đất nông nghiệp là một công việc hếtsức khó khăn, đòi hỏi nhiều thời gian, kỹ thuật, chi phí, phải tiến hành trên thựcđịa rất vất vả,công phu, phụ thuộc vào thời tiết, địa hình…Nhà nước ta đã nhận
Trang 34thấy được vai trò quan trọng của công tác đo đạc, đánh giá , phân hạng đất nôngnghiệp …nên từ rất sớm đã tiến hành đo đạc bản đồ, đánh giá, phân hạng đất.Tuy có nhiều trở ngại lớn do kinh phí, công nghệ, kỹ thuật, nguồn lực,, còn yếunhưng nhà nước ta vẫn luôn coi trọng và cố gắng làm tốt công tác trên
Việc đánh giá, phân hạng đất nông nghiệp phải dựa vào cơ sở khoa học,Tuân thủ các căn cứ để phân hạng đất nông nghiệp như: chất đất, vị trí, địa hình,điều kiện khí hậu, thành phần cơ giới của đất…
Công tác đánh giá, điều tra, đo đạc, lập bản đồ hiện trạng, phân hạng đấtnông nghiệp là một công tác rất quan trọng Đó là cơ sở tiên quyết đầu tiên đápứng cho công tác quản lý nhà nứơc về đất nông nghiệp, cho công tác lập quyhoạch, kế hoạch sử dụng đất…căn cứ để xác định tiền thuê đất, tiền sử dụngđất,thuế chuyển quyền sử dụng đất…Thực hiện nghĩa vụ tài chính đối với nhànước, tạo nguồn thu cho ngân sách
1.2.3.2 Lập quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất
• Lập quy hoạch
Quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp thành phố là một hệ thống tổng hợpcác biện pháp kinh tế, kỹ thuật và pháp lý của Nhà nước về tổ chức sử dụng đấthợp lý, có hiệu quả cao thông qua việc phân phối và tái phân phối quỹ đất cảnước, tổ chức sử dụng đất như một tư liệu sản xuất cùng với các tư liệu sản xuấtkhác gắn liền với đất nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất xã hội, tạo điều kiện bảo
vệ đất và bảo vệ môi trường
Quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp là một hoạt động vừa mang tính kinh
tế, pháp lý vừa mang tính kỹ thuật
Điều kiện về mặt kinh tế được thể hiện bằng việc sử dụng đất nông nghiệp
có hiệu quả
Về mặt pháp lý, đất nông nghiệp thành phố được Nhà nước giao cho các cánhân hoặc các tổ chức sử dụng đất vào các mục đích khác nhau dưới sự quản lý củaNhà nước Nhà nước ban hành các quy định, các cơ chế pháp lý nhằm điều chỉnhcác mối quan hệ trong quá trình sử dụng đất Các chủ thể sử dụng đất có nghĩa vụ
Trang 35chấp hành nghiêm chỉnh các quy định và chính sách ấy của Nhà nước.
Về mặt kỹ thuật, đất nông nghiệp thành phố được khảo sát, đo đạc, xâydựng bản đồ địa chính, tính toán thông kê hình dáng, diện tích các lô đất, kiểmtra và so sánh lô đất trên thực địa, tiến hành phân chia để sử dụng vào các mụcđích khác nhau
Quy hoạch đất nông nghiệp thành phố là một bộ phận của quy hoạchkhông gian có mục tiêu trọng tâm là nghiên cứu những vấn đề về định hướng và
sử dụng đất nông nghiệp thành phố, sự phaan bố dân cư thành phố Quy hoạchđất nông nghiệp thành phố có liên quan đến nhiều lĩnh vực khoa học chuyênngành nhằm giải quyết những vấn đề về sở hữu và sử dụng đất nông nghiệp
Thành phố hóa phát triển kéo theo sự gia tăng về số lượng dân cư thànhphố, đòi hỏi sự gia tăng về nhu cầu sử dụng đất nông nghiệp Chức năng và hoạtđộng của thành phố ngày càng đa dạng và phức tạp, nhu cầu của con người ngàycàng tăng cao và liên tục đổi mới Vì vậy quy hoạch đất nông nghiệp thành phố
là những hoạt động định hướng của con người tác động vào không gian kinh tế
và xã hội, vào môi trường tự nhiên và nhân tạo, vào cuộc sống cộng đồng xã hộinhằm thỏa mãn những nhu cầu của con người
Thông qua quy hoạch, căn cứ vào những thuộc tính tự nhiên của đất như
vị trí, diện tích, yếu tố thổ nhưỡng mà các loại đất được sử dụng theo từng mụcđích nhất định và hợp lý Trong quá trình sử dụng đất nông nghiệp cần áp dụngcác thành tựu tiên tiến của khoa học công nghệ để nâng cao hiệu quả sử dụng.Hiệu quả sử dụng đất được thể hiện ở hiệu quả kinh tế của nền kinh tế quốc dân,môi trường được bảo vệ, đời sống nhân dân được đảm bảo,…
Công tác lập quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp thành phố là một nhiệm
vụ quan trọng, đảm bảo được sự quản lý thống nhất của Nhà nước, giúp Nhànước nắm chắc được quỹ đất mà có những chính sách phù hợp và đồng bộ, nhờ
đó quỹ đất được sử dụng hợp lý, có hiệu quả Thông qua quy hoạch, đất nôngnghiệp được hoạch định chiến lược rõ ràng, cụ thể cho từng mục đích sử dụng
Trang 36đất khác nhau như công nghiệp, nông - lâm nghiệp, xây dựng hạ tầng kỹ thuậtthành phố.
Quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp tạo cơ sở pháp lý cho việc giao đất,cho thuê đất cho các đối tượng sử dụng đất vào quá trình sản xuất kinh doanh,thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thựchiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
• Kế hoạch sử dụng đất
Kế hoạch sử dụng đất là chỉ tiêu cụ thể hoá quy hoạch, là sự định hướng
sử dụng đất cho toàn bộ thành phố do thành phố quản lý Công tác kế hoạch tậptrung những nguồn lực hạn hẹp vào giải quyết có hiệu quả những vấn đề trọngtâm của kế hoạch trong từng thời kì
Kế hoạch sử dụng đất đòi hỏi phải phân tích và đánh giá kết quả thực hiện
kế hoạch sử dụng đất kỳ trước để có kế hoạch điều chỉnh, phân phối hoặc thuhồi đất để phân bố phục vụ cho các nhu cầu xây dựng hạ tầng kỹ thuật, pháttriển công nghiệp - dịch vụ, đảm bảo an ninh quốc phòng, phát triển thành phố,phát triển nền kinh tế quốc dân, nâng cao đời sống nhân dân
Kế hoạch sử dụng đất điều chỉnh các mục đích sử dụng đất, từ các hoạtđộng kém hiệu quả sang các hoạt động khác đem lại hiệu quả cao hơn, chẳnghạn chuyển diện tích đất sử dụng cho nông nghiệp hiệu quả thấp sang đất lâmnghiệp hoặc công nghiệp
Hơn nữa, kế hoạch sử dụng đất cần đưa các diện tích đất chưa được sửdụng như các bãi đất hoang vào sử dụng, mở rộng diện tích đất để nâng cao hiệuquả sử dụng đất
Việc phân chia đất nông nghiệp để lập kế hoạch sử dụng đất phải được cụthể, rõng ràng, phân chia thành các nhóm chính có chung đặc điểm và yêu cầu
về vấn đề sử dụng đất Ví dụ như đất ở, đất xây dựng công trình công cộng, đấtcác khu chức năng, đất an ninh quốc phòng,…
Khi lập kế hoạch phân chia đất nông nghiệp sử dụng cho các mục đíchkhác nhau, các nhà quản lý lập kế hoạch cần căn cứ vào tình hình kinh tế của
Trang 37thành phố và mật độ dân cư để phân chia hợp lý, tránh để tình trạng quá nhiềudân cư tập trung vào một khu vực.
1.2.3.3 Giao đất, cho thuê và thu hồi đất
Công tác giao đất, cho thuê và thu hồi đất được thực hiện theo các chínhsách cụ thể của pháp luật, được thực hiện thông qua các cơ quan chức năng dưới
sự quản lý chặt chẽ của Nhà nước
• Giao đất
Các cá nhân và tổ chức có nhu cầu sử dụng đất nông nghiệp vào các mụcđích khác nhau nằm trong quy định, quy hoạch đã được phê duyệt có thể lập hồ
sơ xin giao đất để sử dụng vào mục đích đó
Công tác tổ chức thực hiện quyết định giao đất nông nghiệp được thựchiện theo trình tự như sau:
UBND thành phố có trách nhiệm tổ chức triển khai việc giải phóng mặtbằng và hướng dẫn việc đền bù các thiệt hại khi thu hồi đất trong phạm vi địaphương mình quản lý
Các cơ quan địa chính cấp tỉnh làm thủ tục thu hồi đất, tổ chức việc giaođất tại hiện trường theo quyết định giao đất, lập hồ sơ quản lý và theo dõi sựbiến động của quỹ đất nông nghiệp
Việc giao nhận đất tại hiện trường chỉ được thực hiện khi các tổ chức, cánhân xin giao đất có quyết định giao đất, nộp tiền sử dụng đất, lệ phí địa chính
và làm các thủ tục đền bù thiệt hại theo đúng các quy định của pháp luật
Người được giao đất có trách nhiệm kê khai, đăng ký sử dụng đất tại ủyban nhân dân phường, xã, thị trấn nơi đang quản lý khu đất đó
Sau khi nhận đất, người được giao đất phải tiến hành ngay các thủ tục chuẩn
bị đưa vào sử dụng, trong trường hợp có sự thay đổi về mục đích sử dụng, thìngười được giao đất phải trình cơ quan quyết định giao đất xem xét giải quyết
Việc sử dụng đất được giao phải đảm bảo đúng tiến độ ghi trong dự ánđầu tư xây dựng đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt Nếu trongthời hạn 12 tháng kể từ khi nhận đất, người được giao đất vẫn không tiến hành
Trang 38sử dụng mà không được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cho phép thì quyếtđịnh giao đất không còn hiệu lực.
Theo quy định, Nhà nước giao đất cho các cơ quan hành chính chức năng,các tổ chức kinh tế, tổ chức chính trị, tổ chức xã hội để sử dụng vào việc xâydựng các cơ quan làm việc, sử dụng vào mục đích an ninh quốc phòng, xâydựng các công trình hạ tầng kỹ thuật chức năng, các công trình công cộng,…
Giao đất cho các cá nhân hoặc tổ chức trồng rừng phòng hộ, các hộ giađình lao động nông - lâm nghiệp, nuôi trồng và đánh bắt thủy sản, làm muối,…
Trong một số trường hợp Nhà nước tiến hành giao đất nhưng có thu tiền sửdụng đất cho các cá nhân, hộ gia đình có nhu cầu sử dụng đất làm nhà ở, các tổchức kinh tế dùng đất đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật để bán hoặc cho thuê
• Cho thuê đất
Các tổ chức và cá nhân khi muốn sử dụng đất nhưng không thuộc diệnđược giao đất hoặc không có quỹ đất xin giao, hoặc các công việc sử dụngkhông thuộc diện được giao đất thì phải tiến hành xin thuê đất
Tại Việt Nam, Nhà nước ta cho các cá nhân hoặc tổ chức thuê đất nôngnghiệp để sử dụng vào các mục đích như dùng đất để làm mặt bằng cho kho bãi,
sử dụng đất làm mặt bằng phục vụ cho công việc thi công cây dựng các côngtrình hạ tầng kỹ thuật thành phố hoặc các công trình khác Xây dựng các côngtrình kỹ thuật theo các dự án đầu tư phát triển phục vụ cho các mục đích sảnxuất, kinh doanh hoặc làm nhà ở Đất dùng tổ chức vào các mục đích hoạt động
xã hột như hội chợ, lễ hội
Để thuê đất, các cá nhân hoặc tổ chức có nhu cầu cần tiến hành lập hồ sơxin phê duyệt Cơ quan ban ngành có chức năng xem xét, kiểm tra hồ sơ và raquyết định cho thuê đất
Khi đã được thuê đất để sử dụng, các chủ thể sử dụng đất phải nghiêmchỉnh chấp hành các quy định pháp luật của Nhà nước về sử dụng đất nôngnghiệp Chủ thể sử dụng đất có nghĩa vụ phải sử dụng đất đúng mục đích đã
Trang 39được phê duyệt, nộp lệ phí sử dụng đất theo quy định hiện hành, đảm bảo thựchiện đúng hợp đồng thuê đất.
Sau khi hết thời hạn thuê đất, chủ thể thuê đất phải bàn giao đất lại chocác cơ quan Nhà nước và phải đảm bảo thu dọn, sắp xếp lại khu vực thuê đấtđúng với hiện trạng ban đầu, không gây hư hỏng cho các công trình liên quan
Đối với trường hợp cho người nước ngoài thuê đất, Nhà nước tiến hànhtheo quy định riêng
• Thu hồi đất
Để phục vụ cho nhu cầu xây dựng hạ tầng kỹ thuật, phát triển thành phố,phát triển nền kinh tế quốc dân, Nhà nước có quyền thu hồi phần diện tích đấtnông nghiệp đã giao cho các cá nhân hoặc tổ chức sử dụng hiện đang nằm trongvùng quy hoạch xây dựng phát triển thành phố
Khi thu hồi đất đang có người sử dụng để xây dựng cơ sở hạ tầng côngcộng, các công trình lợi ích chung thực hiện việc cải tạo và xây dựng thành phốtheo quy hoạch và các dự án đầu tư lớn đã được duyệt thì phải có quyết định thuhồi đất của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền
Trước khi thu hồi đất, cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phải thông báocho người đang sử dụng đất biết về lý do thu hồi, kế hoạch di chuyển và phương
án đền bù thiệt hại về đất nông nghiệp và tài sản gắn với đất
Trước khi thu hồi đất để xây dựng hạ tầng kỹ thuật, hoặc xây dựng cáccông trình công cộng, Nhà nước chỉ đạo UBND các thành phố thuộc tỉnh, thị xã,quận huyện phải lập và thực hiện các dự án di dân, giải phóng mặt bằng, tạođiều kiện sinh hoạt cần thiết và ổn định cuộc sống cho người có đất bị thu hồi
Người đang sử dụng đất bị thu hồi đất phải chấp hành nghiêm chỉnh quyếtđịnh thu hồi đất của Nhà nước Trong trường hợp người có đất cố tình khôngchấp hành quyết định thu hồi đất của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thì bịcưỡng chế di chuyển ra khỏi khu đất đó
Đối với các trường hợp các tổ chức, cá nhân tự nguyện chuyển nhượng thừa
Trang 40kế, biếu tặng và trường hợp chuyển đổi quyền sử hữu nhà và quyền sử dụng đấthợp pháp khác thì việc đền bù, di chuyển và giải phóng mặt bằng do hai bên thoảthuận không thuộc vào chế độ đền bù thiệt hại của Nhà nước Nhà nước chỉ thựchiện việc thu hồi và giao đất về thủ tục theo quy định của pháp luật.
Trong trường hợp thu hồi đất để phục vụ mục đích công cộng, lợi íchquốc gia, xây dựng các cơ sở hạ tầng nhằm mục đích phát triển kinh tế xã hội,nhà nước có chính sách đảm bảo cuộc sống cho những người có đất bị thu hồi,
có các chính sách đền bù hỗ trợ theo các quy định của chính phủ
Những trường hợp chủ thể sử dụng đất không đúng các quy định của Nhànước cũng sẽ bị thu hồi đất Nhà nước tiến hành thu hồi đất đối với nhữngtrường hợp người sử dụng đất không thực hiện các nghĩa vụ đối với Nhà nước,đất đang được sử dụng mà không có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do các
cơ quan thầm quyền của Nhà nước cấp, đất giao không đúng thẩm quyền
Thu hồi đất với những trường hợp cá nhân, tổ chức sử dụng đất bị giải thểhoạt động, phá sản, di chuyển đi nơi khác, không còn nhu cầu sử dụng đất, cánhân sử dụng đất đã chết mà không có người được giao quyền tiếp tục sử dụngphần diện tích đất đó Các chủ thể sử dụng đất này có thể tự nguyện trả lại đấthoặc không tự nguyện đều thuộc diện bắt buộc thu hồi
1.2.3.4 Đăng ký và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
Việc đăng ký quyền sử dụng đất là nghĩa vụ của người sử dụng nhằm đảmbảo quyền lợi của họ Đăng ký đất quyền sử dụng đất là một thủ tục hành chính
do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện đối với các đối tượng sử dụngđất là tổ chức, hộ gia đình, cá nhân Vì đất nông nghiệp là một tư liệu sản xuấtđặc biệt, có giá trị cao bởi vậy việc sử dụng đất của bất kỳ đối tượng nào cũngphải đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền
Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sẽ giúp cho Nhà nước nắmđược hiện trạng sử dụng đất và tạo thuận lợi cho công tác kiểm tra, thanh tra quátrình sử dụng đất Do đất nông nghiệp là một loại tài sản đặc biệt, tồn tại từ rất