1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Công trình biển các tiêu chí chung chỉ dẫn quy hoạch thiết kế thi công người dịch nguyễn hữu đẩu

278 372 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 278
Dung lượng 35,73 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

D50 - Kích thước trung bình của đá cấp phối các chỉ số bên dưới khác cho các phần trăm qua sàng khác nhau d - Chiều sâu nước tĩnh dp - Độ chôn sâu của cọc cừ de - Chiểu sâu có hiệu của

Trang 1

CONG TRINH BIEN

CAC HEU CH CHUNG

cá Ú N M r RUCI TK T (M a CMC

THU VIEN DAI HOC THUY SAN

2 0 0 0 0 0 2 9 1 3

NHÀ XUẤT BẢN XÂY DỰNG

Trang 2

B S 6 3 4 9 : Part 1 : 1 9 8 4

Người dịch : TS NGUYEN HỮU ĐẨU

Trang 3

LỜI GIỚI THIÊU

Tiếp theo việc giới thiệu bàu dịch phún 7: Công trình hiển - Chỉ dẩn thiết

k ế vù thi công đê chắn sóng vào tháng 5 - 2001, Hội củng - Đường thủy và

quy hoạch, thiết k ế vù thi công - Cúc tiêu chí chung của bộ Tiêu chuẩn BS

6349 : Công trình hiển của Anh Đày lù phần quan trọng của bộ tiêu chuẩn, đưa ra cúc yêu cầu chung vẻ quy hoạch, thiết k ế vù thi công cho mọi loại công trình biển nói chung, vì vậy 6 phần còn lụi đều dựa theo các yêu cầu nêu ở đây theo cách trích dẫn hoặc tham khảo.

Khi thực hiện bủn dịch này, người dịch có tham khảo một phấn ở bản thào của TS Nguyễn Đức Toàn vù một số phần dịch khác Người dịch xỉn chân

trên, cũng như của một sô bạn bè khác trong quá trình chuẩn bi bán dịch.

Phần BS 6349 này đê cập đến rất nhiều lĩnh vực chuyên ngành, do kiến thức hạn ch ế và thiếu cúc tử điển thuật ngữ Anh - Việt chuyên ngành, nên chắc sẽ còn một sô điều dịch chưa chính xúc, mong các bạn đọc thứ lỗi.

sử dụng bản dịch này Xin chan thành cảm ơn.

TS NGUYỄN HỮU ĐAU Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hội Cảng - Đường thủy và thềm lục địa Việt Nam

Trang 4

Chương 1KHÁI QUÁT

1 Phạm ví

Phần này của BS 6349 cung cấp chỉ dẫn

và kiến nghị về các tiêu chí chung liên quan

đến quy hoạch, thiết kế, thi công, duy tu

những công trình trong môi trường biển

Với định nghĩa: các công trình có thê áp

dụng tiêu chuẩn này nằm ở, hoặc gần sát bờ

biển Tiêu chuẩn này không đề cập đến các

công trình ngoài khơi hay công trình thuỷ

công trong đất liền, mặc dù một số khía

cạnh nào đó có thể liên quan đến các dự án

như vậy

Không có các chỉ dẫn về tài chính, mặc dù

phải thực hiện đánh giá kinh tế cần thiết và

đúng đắn cho từng dự án và cân nhắc trong

mối liên quan chặt chẽ với các tiêu chí kỹ

thuật được đề cập đến trong tiêu chuẩn này

Tiêu chuẩn này được soạn tháo liên quan

đến các điều kiện của Vương quốc Anh, nơi

mà phần nội dung chủ yếu có thể áp dụng

trực tiếp, ở nơi khác đòi hỏi phải điểu chinh

cho thích hợp với những điều kiện và vật

liệu địa phương

Phần này được sắp xếp theo từng vấn đề

Chương 2 thảo luận về các yếu tố môi

trường, trong đó môi trường được xét theo

nghĩa rộng bao gồm mọi hiện tượng diễn ra

tự nhiên trèn bờ biển và các chí dẫn về

phương pháp khảo sát, định lượng các tác

động của chúng Chương 3 cho các chú ý về

sự cần thiết xem xét các yêu cầu khai thác trong toàn bộ công tác quy hoạch công trình biển, mặc dù chỉ đưa ra chỉ dẫn hạn chế về một số khía cạnh chung vì các yêu cầu chức năng chi tiết của các kết cấu riêng biệt nằm ngoài phạm vi của phần này Chương 4 thảo luận về trạng thái biển và đưa ra chỉ dẫn các đặc trưng, dự báo,ghi chép và ảnh hưởng của sóng Chương 5 liên quan đến việc lựa chọn và đánh giá tải trọng thiết kế xuất hiện do tác động của khai thác và môi trường đã nêu trong các chương trước, có tính tới ứng xử động và mỏi Chương 6 bàn

về các khía cạnh địa kỹ thuật, bao gồm công tác khảo sát đất nền, các thông số của đất và yêu cầu thiết kế địa kỹ thuật Chương 7 chi dẫn về sử dụng và yêu cầu kỹ thuật của các vật liệu thích hợp và các biện pháp bảo vệ

2 Tài liệu tham khảo

Danh mục các tài liệu trích dẫn trong tiêu chuẩn này liệt kê ở phần phụ lục

Trang 5

3.1 Thủy triều

3.1.1 Bún nhật triều

Thuỷ triều có 2 lần nước cao và 2 lần

nước thấp trong một ngày theo lịch mặt

trăng xấp xỉ 25 giờ

3.1.2 N hật triều

Thuỷ triều có một lần nước cao và một

lần nước thấp trong một ngày theo lịch

mặt trăng

3.1.3 Biên độ dao động triều

Sự khác biệt về cao độ giữa mực nước

cao và mực nước thấp trước hoặc sau đó

3.1.4 Nước cường

Hai lần trong một tháng theo lịch mặt

trăng khi biên độ trung bình của 2 thuỷ triều

liên tiếp là lớn nhất

3.1.5 Nước kém

Hai lần trong một tháng theo lịch mặt

trăng khi biên độ trung bình của 2 thuỷ triểu

liên tiếp là nhỏ nhất

3.1.6 Mức nước triều cao trung hình khi

nước cường (MHWS)

Giá trị trung bình, trong một thời £Ìan

dài ,của chiều cao 2 con nước cao liên tiếp

khi nước lớn

3.1.7 Mức nước triều thấp trung hình khi

nước cường (MLWS)

Giá trị trung bình, trong một thời gian

dài ,của chiều cao 2 con nước thấp liên tiếp

khi nước lớn

3.1.8 Mức nước triều cao trung bình khi

nước kém (MHWN)

Giá trị trung bình, trong một thời gian

dài, của chiều cao 2 con nước cao liên tiếp

3.1.10 Mực nước hiển trung hình(MSL)

Cao độ trung bình của mặt biển trong một thời gian dài, thường là 18,6 năm ( một chu kỳ các điểm giao của mặt trăng) ,hoặc

là cao độ trung bình tồn tại khi không có thuỷ triều

3.1.11 Con nước thiên văn thấp nhất (LAT)

Mức thuý triều thấp nhất được dự đoán xảy

ra trong các điêù kiện khí tượng trung bình và trong mọi tổ hợp các điều kiện thiên vãn

Ghi chú : Thường là mức được chọn làm

độ không chuẩn cho việc đo sâu trong bản

đồ hùng hài.

nhất(HAT)

Mực thuỷ triều cao nhất được dự đoán xảy

ra trong các điều kiện khí tượng trung bình và trong mọi tổ hợp các điều kiện thiên văn

3.2 Trọng tdi tầu 3.2.1 Trọng tải đăng kỷ toàn hộ (grt)

Khả năng thể tích bên trong toàn bộ của một con tầu được định nghĩa theo luật đăng kiểm và đo bằng đơn vị 2,83 m3 (100 ft3 )

3.2.2 Trọng tải tĩnh (dwt)

Tổng trọng tải của hàng hoá, kho chứa, nhiên liệu, thuyền viên và dự trữ được chất lên tầu để ngập đến đường chất tải mùa hè

Ghi chú: Mặc dù định nghĩa này thể hiện khả năng mang hàng của tàu, nó không phải tà

số đo chính xác của tải trọng hàng

Trang 6

3.2.3 Lượng rẽ nước

Tải trọng tống cộng của tầu và các thứ

chứa trong tầu

Ghi chú : Giá tri này hằng thể tích nước mà

con tàn choán chồ nhàn với tỷ trọng cùa nước

Vận tốc lan truyền của một đợt sóng, có

nghĩa là vận tốc mà năng lượng của đợt

sóng dịch chuyển

3.3.7 Chiều cao sóng có ỷ nghĩa

Chiều cao trung bình của 1/3 cao nhất

trong các sóng

3.3.8 Chu kỳ sóng có ỷ nghĩa

Chu kỳ trung bình của 1/3 cao nhất trong

các sóng

3.3.9 Chu kỳ sóng đổi dấu

Chu kỳ trung bình của mọi con sóng có chân phía dưới và dỉnh phía trên so với mực nước trung bình

A, - Diện tích hình chiếu dọc của tầu bên trên dường mặt nước

An - Diện tích vuông góc với dòng chảy

a - Số mũ trong hàm mật độ phổ JONSWAP

Bv - Bề rộng tàuB(, - Bề rộng kết cấu tường chắn đất

b - Sự tách tia sóng

h, - Sự tách tia sóng tại điểm đến

bD - Sự tách tia sóng trong nước sâu

CB - Hệ số khốiCC| - Hệ số hiệu chỉnh độ sâu đối với lực của dòng chảy dọc

Cc, - Hệ số hiệu chỉnh độ sâu đối với lực của dòng chảy ngang

Cc - Hệ sô hiệu chỉnh nước nông

CD - Hệ số lực cảnC| - Hệ số lực quán tínhCLc - Hệ số lực dòng chảy dọc

Trang 7

D50 - Kích thước trung bình của đá cấp

phối (các chỉ số bên dưới khác cho các phần

trăm qua sàng khác nhau )

d - Chiều sâu nước tĩnh

dp - Độ chôn sâu của cọc cừ

de - Chiểu sâu có hiệu của độ chôn sâu

cọc cừ

dc - Chuyển vị lớn nhất dưới tải trọng

chu kỳ

d0 - Chiểu sâu nước sâu

dị - Chiều sâu nước tại một chiều dài

sóng tính từ tường

d, - Chiều sâu của vết nứt chịu kéo

dx - Sự chôn có hiệu của cọc cừ

dA - Chiều sâu của bụng sóng thấp nhất

bên dưới đường trung binh biểu đồ sóng

dB - Chiều sâu của bụng sóng thấp nhất thứ

hai bên dưới đường trung bình biểu đồ sóng

dm - Mớn nước trung bình của tàu

d ■ Chiều sâu dưới mực nước tĩnh của

đáy tường

db - Chiều sâu của nước 5 X Hs tính từ

tường (Hs được tính cho độ sâu “d”)

dm - Chiều sâu của nước trên đê

E - Động năng có hiệu của tàu khi cập bên

Fr - Số Froude

Fs - Lực va đập sóng

Ftc - Lực dòng chảy ngangFTw- Lực gió ngang

Fv - Lực ma sát đứng của đất

Fw - Lực sóng tổng cộngF| - Lực đất (tương tự cho F, và F3)

Hr - Chiều cao chắn của kết cấu

Ha - Chiều cao sóng tại điểm đến

Hb - Chiều cao sóng vỡ tại kết cấuHinc - Chiều cao sóng tới

H„ - Chiều cao hoặc khoảng chiều cao thứ n trong dãy sóng có thứ tự của các giá trị nx

Hmax - Chiều cao sóng lớn nhất

H max - Chiều cao sóng lớn nhất trung bình

Trang 8

HnX - Chiều cao hay khoảng chiều cao

thú n, (lớn nhất)trong dãy sóng có thứ tự

cua các giá trị nx

H0 - Chiểu cao sóng nước sâu

Hr - Chiều cao sóng tại vị trí (r,9)

Hs - Chiều cao sóng có ý nghĩa

H „ - Chiều cao sóng có ý nghĩa thứ n

trong dãy

Hs Ị - Chiều cao sóng có ý nghĩa thành

phán lấy từ biểu đồ sóng (tương tự cho Hs ; )

Hị- Chiều cao sóng thành phần từ biểu

đồ sóng (tương tự H:)

H, - Chiều cao của đất được chắn

H(K - Chiều cao sóng vỗ (Clapotis set-up)

Hsu - Chiều cao có ý nghĩa của sóng rút

Ha - Chiều cao của đĩnh sóng cao nhất bèn

trên đương trung bình biểu đồ sóng

H„ - Chiều cao của đỉnh sóng cao nhất thứ

hai bên trên đ.ường trung bình biểu dồ sóng

H, - Chiều cao sóng giới hạn trong các

H|J - Chiểu cao sóng thiết kê

H,P5) - Chiều cao trung bình của 0,4%

các sórg cao nhất

Hq ■ Chiều cao sóng nước sâu có hiệu

hc - Chiều cao đinh tường bên trên mực

nước tĩỉh

l(f,cp) - Hàm mật độ phổ

lo(f,0) - Hàm mật độ phổ ngoài khơi

/D(0) - Hệ số cường độ nhiễu xạ sóng

i - Chi số định rõ một dải ứng suất

j - Tỷ số giữa độ dốc sóng ngoài khơi và căn bậc hai mái dốc bờ

Ld - Chiều dài sóng trong nước sâu

Lw - Chiều dài đường ngấn nước của tầu

L - Chiều dài toàn bộ của cọc từ mặt cầu đến điểm ngàm biểu kiến

Lp - Chiều dài đà gió

Ls - Chiều dài ngập nước của bộ phận/ - Chiều dài trụ ống

/e- Chiều dài có hiệu của neo/0- Chiều dài không có hiệu của neo/ ■ Chiều dài trụ ống từ mặt nước đến điểm ngàm biểu kiến

Trang 9

mD - Lượng rẽ nước của tàu

m50 - Khối lượng điểm giữa của đá cấp

phối

mL - Khối lượng một đơn vị chiểu cỉài

của bộ phận

m - Khối lượng kích thích có hiệu tương

đương của một đơn vị chiều dài của bộ phận

me - Khối lượng tương đương của kết cấu

mc - Đặc trưng công suất máy

ms - Khối lượng kết cấu hộp và đất chứa

trong

N - Số lượng sóng trong thời lượng cùa

điều kiện thiết kế

Ns - Hệ số tỷ lệ

Nị - Số lượng sóng trong dải ứng suất thứ

i trong tuổi thọ thiết kế

Nz - Số lần đổi dấu trong số liệu sóng

n - Một số giữa 1 và nx

nT - Tổng số các dải ứng suất

nx - Một số nào đó

nị - Số lượng sóng trong dải ứng suất thứ

i trong tuổi thọ thiết kế

p - Tải trọng chu kỳ tác dụng lớn nhất

PA - Lực đất chủ động trên một đơn vị

chiều dài của tường

Pmax - Áp ĩực nước lớn nhất trên tường tại

trên tường tại mực nước tĩnh

Phl - Áp suất thuỷ động lớn nhất trên tường tại mực nước tĩnh

Pu - Áp lực nước lỗ rỗng

p - Xác suấtp„ - Xác xuất của giá trị thứ n xảy ra bằng hoặc vượt quá

Pw-, - Áp suất sóng lớn nhcất trung bình trên tường tại chân của nó

P(1 - Áp suất sóng nâng có hiệu tại chân tường

s - Đ<> dốc đáy(tang của góc so với đường nằm ngang)

T - Chu kỳ sóngT0~ Chu kỳ tiên hành quan sát

Tp - Chu kỳ xảy ra đỉnh trong phổ sóng

Tr - Chu kỳ trờ lại

Ts - Chu kỳ sóng có ý nghĩa

Tz - Chu kỳ sóng đổi dấu

t - Biến số sử dụng trong phân bố tiêu chuẩn

t - Biến số thời giantạo - Thời gian cần để 90% vi khuẩn nguyên thuỷ trong mẫu thử bị chết

Uw - Vận tốc gió ở độ cao 10 m trên mặt biển

Trang 10

U - Vận lốc tức thời của hạt nước vuông

góc với bộ phận

u , - Vận lốc gió tại cao độ Z(m) trên mặt

biển (chí số dưới khác cho các cao độ khác

V - Vận tốc dòng chảy ngẫu nhiên

VB - Vận tốc tàu vuông góc với bể mặt

cập tàu

v c - Tốc độ dòng chảy thiết kế

V c - Vận tốc trung bình của dòng cháy

trên chiểu sáu trung bình của tàu

Vcrit - Vận tốc dòng chảy giới hạn

V - Vận tốc nhóm sóng tại điểm tới

vcgo - Vậr tốc nhóm sóng trong nước sâu

vco - Vận ốc lan truyền sóng trong nước sâu

Wp - Bề ròng quỹ đạo hạt nước tại bề mặt

z - Sự trễ của thuỷ triều

z - Chiều dày tường cọc

a - Góc của dòng chảy trước mũi tàu

a r - Góc của tia gió so với hướng gió trung bình

a s - Góc của mái dốc so với phương ngang

a 0-Góc của gió trước mũi tàu

a c Góc của dòng chảy so với trục của bộ phận

a ,- Hộ số áp lực sóng tại bề mặt phụ thuộc chu kỳ sóng

a 2 - Hệ số áp lực sóng tại bề mặt do nước nông

a-Ị - Tỷ số áp lực sóng tại bề mặt và tại

độ sâu d

p - Góc của lực gió tổng hợp trước mũi tàu

p Góc giữa hướng sóng tới và phương vuông góc với đê chắn sóng

P0, p, và pmax - Các hệ số dùng trong tính toán chiều cao sóng có ý nghĩa trong vùng sóng nhào

Trang 11

y - Dung trọng tự nhiên có hiệu của đất

yd - Dung trọng tự nhiên có thoát nước

của đất

ys - Dung trọng tự nhiên ngập nước của đất

yw - Dung trọng của nước ngầm

A - Lượng giảm logarit của sức cản động

s, - Sự tách tia góc tại cửa ra vào bể cảng

r| - Chiểu cao tức thời của mặt nước bên

X - Thuật ngữ dùng trong phân tích biểu

ậi - Góc xác định hướng sóng

- Góc sức chống cắt đất

- Hướng sóng trung bình

<Ị»0 - Hướng sóng ngoài khơi

ệi , - Hướng sóng tới hạn

ệ - Góc có hiệu của sức chống cắt đất

T - Góc giữa mặt sóng và đường đồng mức đáy

T ỏi - Góc giữa mặt sóng và đường đồng mức đáy trong nước sâu

co - Thuật ngữ trong các hàm mật độ phổ

Trang 12

Chương 2XEM XÉT VỂ MÔI TRƯỜNG

5 Khái quát

Điều cơ bản đầu tiên để thiết kế công

trình biển là phải hiểu rõ và đánh giá được

các hiện tượng tự nhiên mà công trình sẽ

chịu tác động Thông tin liên quan đến các

hiện tượng này có thể đã có sẵn trong các

nguồn đang tồn tại; tuy nhiên những số liệu

như thế thường bị hạn chế về phạm vi và

ứng dụng, cần phải điều tra chi tiết hơn nữa

để cho phép lựa chọn những tham số thiết

kế và đánh giá ứng xử hoặc tác động của

công trình đối với môi trường

Chương này mô tả các hiện tượng mòi

trường khác nhau cần được xem xét đế khảo

sát tại bờ biển và cho thông tin, chỉ dẫn về

các phương pháp thu thập số liệu

6 Kiểm tra khảo sát

6.1 Khái quát

Giá trị của nhiều số đo thực hiện tại hiện

trường phụ thuộc vào độ chính xác vể vị trí

và cao độ Công tác khảo sát cần liên hệ tới

hệ thống đo đạc trên đất liền đã được thiết

lập, ờ Vương quốc Anh là Mạng lưới đo đạc

bản đồ quốc gia Nếu không thể được thì

trước khi làm mọi công việc khác ở hiện

trường phải lặp một hệ thống mạng lưới cục

bộ,được định hướng theo góc phương vị, với

các trạm khảo sát được dựng đủ vững chắc

đê cho phép khôi phục lại mạng lưới khảo sát ít nhất trong thời gian xây dựng công trình Cần luôn luôn nhớ rằng một sơ đồ đơn giản và tương đối chính xác có thể thoả mãn mục đích của việc khảo sát sơ bộ, nhưng về sau phải kiểm tra các công việc khác liên quan đến công trình sẽ đòi hỏi một cách chính xác hơn nhiều

6.2 Kiêm tra cao độ

Hầu hết các điều tra liên quan đến khảo sát công trình biển đều cần có một tham chiếu theo phương đứng dưới dạng mực nước hay thuỷ chí Thuỷ chí như vậy nên đặt càng gần nơi cần điều tra càng tốt,mức

đô gần phụ thuộc rất nhiều vào bản chất và biên độ thủy triều trong khu vực Việc đặt thuỷ chí là rất quan trọng, nên xem xét các yếu tố sau:

(a) Thuý chí phải ngập đủ sâu trong nước để tránh bị cạn

(b) Nên được che chắn càng xa ảnh hưởng của sóng và sóng lừng càng tốt

(c) Không nên đặt ở vị trí nước bị ngăn lại khi thủy triều xuống

(d) Nên gần với mốc cao độ tham chiếu của quốc gia hay địa phương

(e) Nên che chắn khỏi các phá hoại do tàu và không được đặt hoặc gắn vào các bộ phận có thể bị lún

Trang 13

Các kiểu thuỷ chí được mô tá trong 10.4.

6.3 Kiểm tra vị trí

63.1 Khái quát

Có nhiều kỹ thuật khác nhau để xác định

vị trí các phép đo thực hiện trên mặt nước

liên quan đến hệ thống khảo sát trên đất liền

đã được thiết lập gần bờ Chúng gồm 3 dạng

chính là: thị sát, radio và quang điện, với

khả năng từ vài trăm mét đến vài trăm km

Công tác khảo sát liên quan đến công trình

biển ít khi cần đến khả năng vượt quá vài km

và nó nằm trong giới hạn của các xem xét sau

đây vể hệ thống định vị

6.3.2 Cúc phương pháp thị sát

Nhìn chung độ chính xác của các phưcmg

pháp định vị bằng thị sát giảm khi khoảng

cách tăng và phạm vi lớn nhất của những kỹ

thuật này là 8 km

Các kính lục phân cung cấp hầu hết

những công cụ định vị kinh tế nhất trong

điều kiện khoảng cách đến các mục tiêu đã

định toạ độ không lớn hơn 4 km và không

năng chỉ có 'được thông qua thực hành và

kinh nghiệm, những người thiếu kinh

nghiệm có thể cho kết quả sai lầm

Việc định vị thường làm bằng cách giao

hội khi dùng 2 góc kính lục phân ngang,

được quan sát đồng thời từ trên tàu, đến ba

mục tiêu đã định tọa độ trên bờ Các vếu tố

sau đây quyết định độ chính xác của việc

định vị như vậy:

(a) Hiệu chinh các kính lục phân

(b) Kỹ thuật của người quan sát (c) Vị trí của các quan sát viên so với điểm đo: cả 2 người quan sát đứng cạnh nhau và nên đứng trên điểm đo

(d) Hình dạng của điểm định vị

(e) Các yếu tố “giác quan thông thường” khác như không quan sát qua kính

Phương pháp định vị thứ yếu bằng kính lục phân có lợi trong các điều kiện nào đó là

sử dụng góc kính lục phân nằm ngang đơn

và chuyển tiếp Để người quan sát ở trên điểm chuyến tiếp, góc cắt sẽ cung cấp số đo chính xác của dải đến mục tiêu chuyển tiếp phía trước, đến các điểm quan sát nằm ở mỗi phía của điểm chuyển tiếp Phương pháp này cần một kỹ thuật thành thạo của

cả phía quan sát và phía lái tầu Đây là phương pháp đặc biệt có tác dụng đối với các điều kiện bị hạn chế, nguyên tắc chung không nên dùng đối với khoáng cách lớn hơn 200 m từ người đánh dấu chuyển tiếp phía trước

Máy kinh vĩ trên bờ có thể dùng để định

vị tàu ngoài khơi bằng giao hội Mặc dù máy kinh vĩ có độ chính xác đến 25 mm, ngược với khả năng của kính lục phân là

300 mm, nhung độ chính xác cao hơn là không cần thiết Việc thiếu đồng bộ của những bộ phận trên biển và bộ phận trên bờ trong công tác khảo sát là nguyên nhân chính gây sai sót Sử dụng máy kinh vĩ cũng làm hoạt động khảo sát kém linh động khi cần thay đổi thường xuyên vị trí máy để có các diều kiện giao hội tốt

Trang 14

Phần lớn hoạt động theo kiểu dải-dải, khi

đo các dải từ 2 trạm đối chiếu trên bờ đến

một trạm chính di động, thường đạt mức độ

cập nhật thường xuyên tốt hơn lgiây và độ

chính xác bằng ± 3 m hoặc cao hơn trên

mỗi dải trong các điều kiện tốt

Một hệ thống dải X được thiết kế để

định vị bằng dải sóng và góc phương vị Độ

chính xác phân dải tương tự như các hệ

thống dải - dải Độ chính xác của góc

phương vị được đòi hỏi tốt hơn 600 m Hệ

thống này đặc biệt có ích trong điều kiện

khi các trạm dải - dải tham chiếu trên bờ

không thể bố trí đủ xa nhau để có diều kiện

cố định tốt trong những sông hẹp khi dùng

các hệ thống dải - dải sẽ phải lập rất nhiều

trạm tham chiếu trên bờ

Một đặc điểm riêng của mọi hệ thống

này là tính hiệu quả của chúng trong điều

kiện ven bờ Chúng nhẹ, xách tay được và

thậm chí các nhân viên có kỹ năng vừa phải

cũng có thể lắp đặt chúng một cách dễ dàng

và nhanh chóng Nói chung, chúng rất tin

cậy, tiêu hao năng lượng thấp, cho phép vận

hành bằng ắc quy tiêu chuẩn 12V trong

nhiều ngày không cần bảo dưỡng

Tất cả hộ thống như vậy chủ yếu là các

hệ thống tín hiệu theo đường thẳng, nên phạm vi hiệu quả của chúng phụ thuộc vào

độ cao của trạm ăngten trên bờ và trạm di động Mưa to có thể làm suy giảm tín hiệu truyền và giám đáng kể công suất của dải Phản xạ từ các tàu lớn hay các vật trên bờ thường gây nhiều lỗi lớn trong dải, nhưng các tình huống như thế người sử dụng thường dễ nhận biết và có thể tránh được

Các hệ thống dải ngắn duy trì dải bằng

so sánh pha, hoặc bằng các kỹ thuật xung Nói chung, các hệ thống so sánh pha cho độ chính xác của dải tốt hơn có thể khoảng ± 1

m trong các điểu kiện tốt Tuy nhiên, các hệ thống này phức tạp hơn và đắt hơn Độ chính xác của các hệ thống xung là ± 3 m, thường đạt được trong các điều kiện hoạt động tốt

ngoại và lade

Các hệ thống quang điện, hồng ngoại và lade là các thiết bị đo dải đơn, được phát triển cho khảo sát trên đất liền và áp dụng hạn chế trong khảo sát trên biển Một số dạng nhất định thiết bị lade và quang điện đôi khi có ích trong các trường hợp cần chạy tàu khảo sát dọc theo một tuyến có phương không đổi Thiết bị được lắp đặt trên bờ, hoặc trên kết cấu cố định và người quan sát trên tàu khảo sát có thể lái bằng mắt dọc theo một tín hiệu hẹp mà thiết bị tạo ra

Các thiết bị lade cũng được phát triển để tạo dải đơn từ một tàu di động đến bất kỳ bề mặt nào có khả năng phản xạ tín hiệu lade Dạng thiết bị này, đặc biệt có ích cho công việc trong những khu vực bị hạn chế như các ụ hay gần các tường bến Các đặc tính

Trang 15

dải trong thiết bị hiện nay hạn chế khoảng

120m, khi dùng các bề mặt phản xạ sẩn có,

nhưng có thể tới 600m hoặc hơn khi dùng

hệ thống gương phản xạ lại được lắp đặt

đặc biệt

7 Khí tượng và khí hậu

7.1 Khái quát

Phần này mô tả các xem xét về khí tượng

và khí hậu cần tính đến trong các giai đoạn

thu thập số liệu, thiết kế, xây dựng, khai

thác của công trình biển

Phần này còn phác thảo loại và phương

pháp thu thập thông tin, một số dạng có thể

để trình bày số liệu cuối cùng

Số liệu chính thức về khí tượng và khí

hậu có thể thu thập được tại cơ quan khí

tượng phụ trách khu vực đang nghiên cứu

Mối quan tâm đặc biệt của công nghiệp

xây dựng là dịch vụ giải đáp nhanh về khí

hậu (CLIMEST) do Cơ quan khí tượng,

Bracknell, Berkshire, England phát triển

nhằm hỗ trợ việc đấu thầu và quy hoạch ở

Anh, đặc biệt trong dự báo thời gian chắc

chắn phải nghỉ do thời tiết xấu CLIMEST

cung cấp các giá trị trung bình hàng tháng,

hàng năm về lượng mưa, nhiệt độ thấp và

gió mạnh có thể có ở hiện trường Thông tin

được cung cấp bởi dịch vụ này, nói chung

không đủ cho quy hoạch chi tiết, cần thực

hiện thêm các điều tra số liệu riêng tại hiện

trường

7.2 Gió

7.2.1 Khái quát

Sự chênh lệch nhiệt độ thường xuyên

giữa các cực và xích đạo cung cấp nguồn

năng lượng cán thiết tạo ra chu chuyển khí quyển toàn cầu Vòng tuần hoàn này, liên quan đến cá hai chuyển động của không khí theo phương đứng và phương ngang, mặc

dù tốc độ gió theo phương ngang trung bình gấp khoảng 100 lần tốc độ gió theo phương đứng Thường xảy ra nhiều ngoại lệ quan trọng đối với quy luật này, ví dụ trong các trận bão đối lưu, lốc hoặc bão nhiệt đới mà trong các tiêu chuẩn địa phương thường đã chỉ định đối với thiết kế những kết cấu đặc biệt Chuyển động không khí theo phương đứng, trở nên quan trọng trong nghiên cứu

sự lan truyền khói của các ổng khói và tại các vị trí chịu tác động của gió núi hay thung lũng hoặc gió do ảnh hưởng của các ngăn cách lớn về địa hình Sự khống chế chính chuyển động ngang của không khí gần mặt đất là lực do chênh áp suất, lực ma sát và lực do trái đất quay, tức là lực Coriolis và lực hướng tâm

Khóng kể đến nguồn gốc lâu dài và các biến đổi tiếp theo, gió tại và xưng quanth vị trí xây dựng công trình biển có ý nghĩa lớn đối với người thiết kế, các tải trọng trực tiếp tác dụng lên công trình lẫn sự làm Ităng chiều cao của sóng, tải trọng sóng và lực neo Chương 5 xét đến vấn để tải trọng, còn chương 4 xét đến dự báo sóng từ các số liệu gió Khi xem xét chương 4, điều quan trọng

là hướng gió đã biết nên đà gió có thế được định nghĩa đầy đủ, do đó tránh được saii sót khi dự báo những sóng cao do gió miạnh thổi từ đất liền

Các số liệu về gió thời gian dài đặc biệt cần thiết đối với xây dựng ở ven bờ để dự tính ảnh hưởng của thời tiết và sự chậmi trễ khi khảo sát, thi công, khai thác Ảnh hưởng

Trang 16

cùa gió đối với nước lên, sự hình thành nước

dâng do bão và dàng nước ven bờ là rất

quan trọng Khi xác định các tiêu chí thiết

kế cần xét đến những thay đổi cục bộ trong

chế độ gió do ảnh hưởng địa hình Ngoài

ra, chu kỳ gió hằng ngày của các cơn gió

nhẹ trên đất liền và trên biển có thể cộng tác

dụng trên một trường gió quy mô lớn Vận

tốc gió nhẹ ngoài biển thường là 4 đến 5

m/s, còn trong đất liền khoảng 2 m/s Do

đó, thời gian quan sát rất quan trọng và các

sô dọc hằng ngày tại 0900 giờ theo thời gian

địa phương có thể không nhất thiết là số liệu

đại diện cho cả 24 giờ

Hiện nay, các sổ liệu tin cậy trong vòng

nhiều năm về tốc độ và hướng gió đã có cho

hầu hết các vùng trên thế giới, gồm cả các

đại dương Các số liệu này, cung cấp đầy đủ

thòng tin về nguồn gốc của thông số thiết kế

tương ứng mà không thấy có trong các quy

phạm thực hạnh về tải trọng gió địa phương

Các số liệu cần thiết nên bao gồm những

thòng tin liên quan đến :

(a) Các khu vực đà gió có thể hình thành

sóng ngẫu nhiên

(b) Các áp thấp xoáy và khí tụ, đê’ so

sánh với hiện tượng nước dâng

(c) Đường đi và cường độ của giông, bão

trong vùng lân cận khu vực hoặc các vùng

đà gió tương ứng

(d) Tốc dộ và hướng gió trong vùng lân

cận khu vực

Cả tốc độ gió trung bình và giật lớn nhất,

cũng như hướng gió đều phải thu thập (xem

7.2.4) Nên kiểm tra các số liệu để đảm bảo

những hiệu chỉnh tương ứng với trạm ghi

cụ thể đã được áp dụng chính xác

(xem 7.2.3)

7.2.2 Cúc đầu đo gió

7.2.2.1 Khái quátHướng và tốc độ gió thường đo bằng các thiết bị dạng phong tốc kế và chong chóng

đo gió Số liệu có thể được ghi lại hoặc đọc theo từng khoảng thời gian nhất định Loại ghi lại cho nhiều thông tin hơn, đặc biệt về cường độ và tần số của những cơn gió giật, loại đọc số liệu chỉ cho các số liệu trung bình thời gian ngắn

Các mục 7.2.2.2 đến 12.2.5 trình bày

một số thiết bị đo hiện có Mọi thiết bị đều

có ưu và nhược điểm và nên tham khảo ý kiến của các chuyên gia trước khi lắp đặt

12.2.2 Các máy đo gió kiểu cốc và

chong chóngCác máy đo gió hình cốc làm việc theo nguyên tắc mức độ quay của những cốc được gắn theo phương đứng tỷ lệ thuận với tốc độ gió Kêt quả đưa ra dưới dạng một chuỗi các xung hoặc thay đổi điện thế Cách đầu tiên thường tổng cộng lại và sô đọc hàng ngày cho một dự báo về chuyển động của gió Điện thế trên cả hai cốc và chong chóng gió trong cách sau đưa ra vòn

kế và được đọc đều đặn hoặc ghi liên tục

7.2.2.4 Dạng áp lựcMáy đo gió dạng áp lực gồm một ống rỗng, một đầu hở và cân bằng hướng ra phía gió, còn đầu kia nối với một áp kế rất nhạy

Áp lực trong ống có quan hệ trực tiếp đếntốc đô gió „

r " > 3 Q C ĩ«e

Trang 17

7.2.2.5 Các dạng khác

Nhiều dạng máy đo gió khác đã dược

phát triển, nhưng chủ yếu dùng cho những

mục đích riêng và không được xem là các

dụng cụ đo hiện trường Chúng bao gồm

đồng hồ đo vận tốc gió xoáy, máy đo gió

âm thanh, máy đo gió dây nóng và máy đo

gió lade- Doppler

7.2.3 Vị trí hứng gió và cao độ đo đục

Cần thận trọng khi đặt máy đo gió vì các

dòng xoáy phát sinh do những vật cản như

cây cối, các toà nhà, có thể tạo các số liệu

không tin cậy về tốc độ và hướng gió, do đó

làm cho các tính toán về chế độ gió cục bộ

không chính xác

Để có thể so sánh các sô liệu gió từ

những vị trí và cao độ khác nhau, các số (đo

cần tham chiếu theo cao độ tiêu chuẩn là

10m trên mặt đất Khi có thể được, titến

hành đo tại độ cao 10m hoặc lớn hơn (để

được vị trí hứng gió tách hẳn các vật c,ản

xung quanh Mỗi vị trí đặt thiết bị cần tạo ra

một chiều cao có hiệu, được định nghĩa là

độ cao trên địa thế bằng phẳng trống tffẩi

trong khu vực lân cận mà được dự tính sẽ <có

cùng tốc độ gió trung bình như đã được ghi

thực tế trên máy đo gió Để so sánh với (độ

cao có hiệu 10m, sẽ áp dụng hiệu chỉnh, mó

thay đổi theo các khoảng thời gian truing

bình và những điều kiện hiện trường khiác

nhau, nên tham khảo các chuyên gia trưcớc

khi hiệu chỉnh giá trị đo được

Về lịch sử, khoảng thời gian nhò nhất (CÓ

thể xác định là 3 giây, theo thời gian liấy

trung bình ở máy ghi gió dạng ống áp suiất

của Dines và do đó người ta đã xây dựmg

khái niệm cơn gió giật mạnh nhất trong 3

giây Khoáng gió giật này được châp nhận cho các mục đích thiết kế kết cấu, việc sử dụng nó được trình bày đầy đủ trong CP3 : chương 5: phần 2; tuy nhiên hiện nav đã có thể đo được những cơn gió giật trong khoảng vài phần ngàn giây và cần phải nghiên cứu để xác định các khoảng gió giật

có hiệu đối với những công trình đặc biệt nhạy cảm đôi với các cơn gió giật rất ngắn Đặc biệt là đã xem xét cách tiếp cận theo phổ đối với tải trọng do gió giật gây ra Đối với các tàu rất lớn có thời gian phản ứng chậm, những khoảng gió giật dài hơn sẽ cần

để phát triển hoàn toàn sức căng dây neo và đệm tầu Cẩn có các nghiên cứu tiếp theo nhằm xác định tốc độ gió giật thiết kế thấp hơn thích hợp với các trường hợp như vậy

7.2.4 Trình hủy và sử dụng s ố liệu gió

Các số liệu gió tiêu chuẩn, thường lưu giữ dưới dạng tốc độ và hướng trung bình từng giờ, tốc độ gió giật lớn nhất, có thể được sử dựng như sau:

(a) Như một cơ sở để dự báo sóng (xem phần 4)

(b) Để tính toán những trung bình và cực trị, ví dụ như biểu diễn trong các bảng tần số theo phần trăm

(c) Đế chuẩn bị các hoa gió hoặc các biểu đồ tương tự, đê cho một hình ảnh tổng hợp vể phân bố tần số của số đo hướng và tốc độ gió

(d) Đê tính các giá trị vận tốc gió cực trị bằng cách vẽ các cực trị đo được trên một thang xác suất và ngoại suy theo đường phù hợp nhất Do đó chu kỳ trở lại hoặc khoảng tái xuất hiện có thể xác định dược cho một tốc độ gió cho trước để nó có thể vượt qua

Trang 18

giá trị trung bình chỉ một lần trong chu kỳ

đó Cũng có thể vẽ các sô liệu trên một biểu

đồ phần trăm vượt qua tuyến tính để minh

hoạ xác xuất của tốc độ gió đo được cho

trước lớn hơn hoặc nhỏ hơn một giới hạn

nào đó

(e) Để chuẩn bị các biểu đổ dài hạn biểu

diễn khoảng thời gian dự báo và số lần xuất

hiện của các vận tốc gió riêng, điều này cần

phải có kinh nghiệm

7.2.5 Thông tin vê gió khác

Nếu không có sẵn các số liệu đo được về

gió, có thể ciùng phân bố áp suất khí quyển

để tính toán một bức tranh sơ lược về gió

hiện trường Những phương pháp này rất sơ

bộ và thường chỉ được sử dụng đê dự báo

thời tiết và dự báo sóng Các tính toán có

liên quan nên do các chuyên gia thực hiện

7.3 M ưa

7.3.1 Khái quát

Cần đánh giá ảnh hưởng, dạng và cường

độ của mưa khi xem xét các khía cạnh thiết

kế như sau:

(a) Thiết kế thoát nước: nên dự tính

lượng mưa lớn nhất dự báo trong một cơn

bão 50 năm hoặc 100 năm

(b) Tải trọng tĩnh: sự tích tụ băng và

tuyết sẽ gây ra tải trọng trên kết cấu Nên

xem xét khối lượng và thời gian dự báo

tuyết rơi

(c) Bốc xếp hàng: sự thay đổi lượng mưa

hàng nãm rất quan trọng khi tham khảo

dạng hàng dược bốc xếp và các kho chứa

trong tổ hợp cảng

(d) Tính thấm: mưa rơi tần suất cao có

thể cần bảo vệ cho các toà nhà

(e) Chậm trễ thi công: mưa thường xuyên

sẽ tăng đáng kể thời gian thi công, đặc biệt đối với công tác vận chuyển đất

7.3.2 Đo điểm trực tiếp

Dụng cụ đo lượng mưa rơi trên một diện tích nhỏ đã biết, trước đây là 19,6 insơ2 đối với dụng cụ do đường kính tiêu chuẩn 5 và gần đày là 150cnrr, hoặc 750cm2 tuỳ theo thời gian giữa việc kiểm tra lượng mưa hứng được và mức độ chi tiết yêu cầu đối với việc

đo những số lượng nhỏ Bởi vậy các số đo này chắc chắn không thể đại diện cho một khu vực lớn do những thay đổi địa hình và ảnh hường do con người Cần xem xét cả hai điều đó khi tính toán lượng nước chung

và đặc biệt khi sử dụng các số liệu mưa lịch

sử cho mục đích khác với khi thu thập ban đầu

7.3.3 Vị trí do và dụng cụ đo

Cần chú ý đến vị trí của dụng cụ đo mưa; chúng thường đặt trên mặt đất bằng phẳng với đỉnh của phễu thu cao hơn mặt đất 0,3m và không bị vật nào che chắn

Dụng cụ đo đơn giản nhất gồm ống góp

có vành tròn sắc cạnh và phễu dẫn đến bình thu Lượng mưa thu được có thể đo trực tiếp bằng cách chuyển đến một bình khắc độ để dùng với dạng dụng cụ đo và kích thước diện tích thu riêng Mặt khác, có thể sử dụng một thiết bị ghi như ống si-phông nghiêng hoặc gàu lật Các dụng cụ đo này thường xác định thấn hơn lượng mưa rơi so với dụng cụ đo chuẩn, nhưng có thể cho ta thông tin về thời gian xuất hiện và cường độ mưa Lượng mưa thường ghi lại trên các biểu đồ kiểu tang trống đồng hồ, hoặc bằng các máy ghi số liệu tự động dùng phương

Trang 19

tiện ghi như băng từ, hoặc máy đo xa nối

trực tiếp đến người sử dụng,ví dụ trong các

hệ thống cảnh báo lũ

7.3.4 Cân bằng nước

Trong trường hợp không thể lắp đặt hệ

thống máy đo mưa , có thể tính toán lượng

mưa bằng cách xem xét tổng lượng nước

của một lưu vực bao gồm các mức dòng

chảy sông, đo đạc lượng bốc hơi và thấm

7.3.5 SỐ liệu lịch sử

Có thể lấy các số liệu lượng mưa rơi ở

các cơ quan khí tượng hoặc quản lý nước

của địa phương, tuy nhiên trước khi áp dụng

cho bất cứ vị trí cụ thể nào cần thực hiện

một số tính toán

7.4 N hiệt độ và độ ẩm không khí

7.4.1 Khái quát

Cần tính toán các nhiệt độ không khí lớn

nhất, nhỏ nhất và sự biến thiên độ ẩm tương

đối có thể sẽ gặp trong tuổi thọ thiết kế của

công trình

7.4.2 Nhiệt độ không khí

Để có sô liệu thiêt kế thích hợp cần do bôn

nhiệt độ tại các khoảng thời gian nhất định,

gồm nhỏ nhất, lớn nhất và bầu ướt và khô

Nhiệt kế cần đặt bên trong màn Stevenson

với bầu nhiệt kế trên mặt đất 1,25 m

7.4.3 Độ ẩm tương đối

Độ ẩm tương đối được định nghĩa là áp

suất hơi nước thực tế, được biểu diễn bởi %

của áp lực hơi nước bão hòa trong cùng một

nhiệt độ Đó là số đo độ ẩm không khí và

rất quan trọng trong bảo quản hàng hóa và

trong một số khía cạnh khi xây dựng nhà ,

đặc biệt là bảo dưỡng bê tông Độ ẩm tương

đối được tính toán từ các nhiệt độ bầu ướt

và khô hoặc có thể đo trực tiếp bằng các vật liêu hut ẩm

7.4.4 Sô liệu lịch sử

Có thế lấy thông tin về nhiệt độ, độ ấm tương đối trung bình và cực trị hàng ngày, theo mùa, hàng năm ớ các cơ quan khí tượng địa phương hoặc, các tài liệu đã xuất bản đối với những địa điểm được lựa chọn

7.5 Tấm nhìn 7.5.1 Klìúi quát

Tầm nhìn kém có thể có những hậu quả nghiêm trọng đối với vùng nước ven bờ và cần phải tính toán thời gian dự kiến xảy ra

Sự giảm độ trong suốt của khí quyển và do

đó giảm tầm nhìn, thường do hai nguyên nhân chính sau:

(a) Sự lơ lưng của các hạt khô cực nhỏ gọi là mù

(b) Các hạt nước cực nhỏ lơ lửng, hoặc các hạt hút ẩm gọi là sương

Sương mù là thuật ngữ truyền thống được

áp đụng khi tẩm nhìn theo phương ngang trên mặt đất giùm xuống nhỏ hơn lkm

7.5.2 Đo đực

Phương pháp đo chủ yếu dùng cho các mục đích thời tiết là quan sát vật thể tại các khoảng cách đã biết, ví dụ những cây dễ thấy, tháp nhà thờ, vùng đất cao xung quanh, hoặc vào ban đêm các ngọn đèn được dựng riêng cho mục dich này

Tầm nhìn thường cùng với các biến số khí lượng khác hay thay đổi đột ngột gần bờ biển giữa các khu vực khác nhau của biển

và đất liên Tuy nhiên, tại các trạm ven biển

Trang 20

của Cơ quan khí tượng Anh quốc, tầm nhìn

trên đất liền được ghi lại thường xuyên ngay

ca khi nó khác với tầm nhìn trên biển Tầm

nhìn trên biển được ghi lại như một ghi chú

nêu có thể tính được Cần thận trọng khi

nghiên cứu những báo cáo về tầm nhìn của

một trạm không đặt trực tiếp trên bò, vì hiện

tượng sương mù biển có thể không xáy ra

trong phạm vi 3km đến 4km trên đất liền,

do dó có thế lấy số liệu sai lầm cho mục

đích hàng hải và hoa tiêu

Những nghiên cứu gần đây, đã dãn tới

việc đo tự động tầm nhìn để tránh định kiến

của người quan sát và cung cấp số liệu đầu

vào cho các trạm do không định trước Các

kỹ thuật kháo sát gồm việc đo sự suy giám

một nguồn sáng có công suất đã biết trên

khoảng cách đã chi định và đo lượng tán xạ

ngược từ nguồn sáng, nhưng chưa phương

pháp nào tỏ ra thành công cho tất cả các

ứng dụng

7.6 Ap suất kh í quyển

7.6.1 Khái quát

Áp suất khí quyển tại một điểm bất kỳ là

trọng lượne không khí nằm theo phương

đứng trên một don vị diện tích Áp suất khí

quyển dược ghi theo các milibar và được

hiệu chính đến mực nước biển trung bình đê

tránh ảnh hương của dộ cao đối với phép đo

Sự phân bố áp suất được dùng như một

thông số đầu vào cơ sở khi dự báo thời tiết

và dự báo trạng thái của biển Đặc biệt ánh

hưởng của áp suất tới mực nước là rất quan

trọng Áp suất cao hoặc thấp tương ứng sẽ

tăng hoặc giảm chiều sâu nước và gây ra

nước dâng do bão, có lợi hoặc bất lợi (xem

mục 10)

7.6.2 Đo dạc

7.6.2.1 Khái quát

Có thể áp dụng các kỹ thuật trình bày trong 7.6.2.2 đến 7.6.2.4

± 0,3 mbar

7.6.2.4 Máy vẽ biểu đồ khí ápMáy vẽ biêu đồ khí áp chuẩn là những thiết bị khí áp kế chân không Sự thay đổi

áp suất làm biến dạng dụng cụ đo và sự thay dổi này được khuyếch đại qua một hệ thống trục quay và tay đòn Áp suất được ghi liên tục trên một biểu đồ gắn chặt với một tang trống kiểu đồng hồ

7.7 Bức xạ mặt tròi và sô'giờ có nấng

7.7.1 Đo dạc

Cường độ bức xạ mặt trời thường được

do bàng bức xạ kế sử dụng bộ phận pin nhiệt tạo ra một tín hiệu milivỏn nó liên quan trực tiếp đến năng lượng mà đầu đo thu được Có thể thiết kế các bức xạ kế nhạy đối với các chiều dài sóng riêng cần quan tâm,ví dụ các chiều dài sóng ngắn đi đến và chiểu dài sóng dài di ra hoặc những dải cực tím hav hồng ngoại

Trang 21

Khoảng dài nắng chiếu nói chung được

định nghĩa và ghi lại bằng chiều dài bị đốt

nóng hoặc các lần bị đốt nóng bời tia nắng

được hội tụ trên tấm bìa đặc biệt và coi như

số giờ có nắng

7.7.2 Sử dụng

Bức xạ đi đến, phản xạ và phát ra là quan

trọng nhất trong phương trình cân bằng

nhiệt và dùng để tính đặc trưng hoá lạnh của

một vùng nước và khả năng bay hơi

Triển vọng sống của vi khuẩn trong biển

phụ thuộc rất cao vào cường độ bức xạ mặt

trời, đặc biệt vào các sóng dài cực tím Tính

toán hay đo đạc tỷ lệ này rất quan trọng

trong thiết kế cửa sông đối với các ảnh

hưởng như nước thải sinh hoạt Ảnh hưởng

của cường độ ánh sáng đến ô nhiễm biển

được mô tả rõ ràng theo phương đứng của

các mẫu thử theo độ sâu thay đổi trên kết

cấu bị ngập

8 Đo sâu và đo đạc địa hình

8.1 Khái quát

Công tác 'đo sâu thực hiện một loạt các

phép đo độ sâu nước tại các vị trí xác định

trên khu vực quan tâm Phần này cung cấp

thông tin vể các kỹ thuật khác nhau hiện có

và chỉ dẫn việc áp dụng chúng trong công

trình biển Mục 6 cho chỉ dẫn về kiểm tra

vị trí

Các hải đồ đã phát hành cung cấp cho

người thiết kế số liệu rất hạn chế đối với

mục đích của họ Các hải đồ được xây dựng

cho an toàn hàng hải và có thể không trình

bày các đặc điểm có ý nghĩa đặc biệt đối

với người kỹ sư Bản đồ chi chính xác như

các số liệu dùng để vẽ nó Rất nhiều số liệu

lây từ những khảo sát cũ thường không thực hiện theo các tiêu chuẩn hiện đại hoặc tỷ lệ không phù hợp với các yêu cầu hiên đại Những thay đổi có thê do sa bồi, nạo vét, đổ đống, đắm tàu hoặc các nguyên nhân khác cẩn được xem xét và tiến hành khảo sát để kiểm tra lại các bản đồ hiện có khi có bất cứ nghi vấn nào để đám bảo độ tin cậy của chúng

8.2 Máy dò âm 8.2.1 Khái quát

Phương pháp chủ yếu để đo chiều sâu nước là dùng máy dò âm ghi lại hình dạng liên tục của đáy biển khi tàu khảo sát di chuyến bên trên nó Cần dùng máy dò âm chế tạo riêng cho thuỷ đạc nếu có độ chính xác yêu cầu đối với mục đích kỹ thuật Máy thuỷ đạc bằng âm điển hình sẽ cho một băng giấy khổ rộng có số liệu tương tự dạng

đồ thí về hình dạng dáy biển Dựng cự này được lắp đặt với một phạm vị kiêm tra để chơ người điều khiển hiệu chỉnh, vi chỉnh phừ hợp với điêù kiện hoạt động và thiết lập đặc điểm kỹ thuật để có số liệu tin cậy và chính xác Máy dò âm có thể cho kết quả sai lệch trong các khu vực bùn nhão đôi khi

có 'ờ cửa sông hình phễu, trong trường họp

đó cần sử dụng những phương pháp khác tuỳ theo điều kiện áp dụng

8.2.2 Hiệu chỉnh

Máy dò âm do độ sâu bằng cách phát mội xung ngắn siêu âm và đo thời gian để

nó di tới đáy biển và phản xạ lại về nguồn

Do đó độ chính xác của phép đo sâu phụ thuộc vào sai số cho phép của vận tốc âm truyền trong nước

Trang 22

Hiệu chinh thường thực hiện bằng cách

thá một mục tiêu xuống độ sâu đã định phía

dưới nguồn âm, tức bộ chuyên đổi của máy

dò âm và so sánh độ sâu ghi được với độ

sâu thật của mục tiêu Do đó máy dò âm có

thê điều chính để ghi được độ sâu thật

phương pháp này được biết đến như thanh

kiểm tra, có hiệu quả để hiệu chinh các độ

sâu khoảng 20m

Phải kiếm tra việc hiệu chỉnh khi dùng

thanh đó trong khu vực khảo sát và với

nhiều khoảng thời gian trong một ngày làm

việc, do vận tốc âm và hoạt động của máy

cũng phu thuộc vào sự biến động về thời

gian và vị trí

$.2.3 Tần s ổ truyền

Tần số truyền có ảnh hưởng lớn đến công

suất của máy dò âm Tần số thấp truyền

năng lượng có hiệu quả trên các khoảng dài

và thường di qua vật liệu mềm đáy biển, tạo

ra phản hồi của tầng nằm phía dưới

Tuy nhiên , thiết bị tần số thấp tạo ra các

dải tia rộng (xem 8.2.4), không cần lớn và

cồng kềnh Truyền sóng tần số cao tạo ra

các dải tia hẹp từ một thiết bị gọn nhẹ Tuy

nhiên, năng lượng truyền không hiệu quả

lắm do giảm nhanh trong nước và nói chung

không thể xuyên vào trong đáy biển

Máy dò âm thuỷ đạc được thiết kế để sử

dụng trong các độ sâu từ nông tới trung

bình, chủ yếu hoạt động tại một tần số

khoảng 30 kHz Các máy dò âm tần số cao

hơn hoạt động với tần số giữa 150 kHz và

210 kHz cũng sử dụng rất tốt trong nước

nông Một số máy dò âm làm việc với cả 2

tần số, 33 kHz và 210 kHz, do vậy sẽ đi qua

độ sâu Do đó với bề rộng tia hẹp, phần đáy biển được phu sẽ nhỏ hơn nhưng xác định các dặc điểm của đáy biển tốt hơn Máy dò

âm bề rộng tia hẹp, tần số cao sẽ đặc biệt hữu dụng nếu cần có các chi tiết về đáy biển

có vách đá dựng đứng Lợi ích này tất nhiên

sẽ mất gần hết nếu tầu khảo sát bị xoay dọc hoặc xoay ngang Mặt khác máy dò âm tần

số thấp,tia hẹp sẽ tốt hơn trong các điều kiện đáy biến phẳng hoặc ít nhấp nhô, cho khoảng phủ lớn hơn với lợi ích bổ sung do

đi qua lóp bùn cát rất mềm

Bề rộng tia không phụ thuộc trực tiếp vào tần số mà vào thiết kế của bộ chuyển đổi Thiết kế và chế tạo một bộ chuyển đổi tia hẹp hoạt động trên các tần số cao dễ và rẻ hơn rất nhiều máy tần số thấp Tuy nhiên, không phải tất cả máy dò âm tần số cao đều tạo ra bề rộng tia hẹp và phái tư vấn về những đặc tính kỹ thuật của nhà sản xuất

Hệ thống quét cạnh có thể lắp vào thân tàu hay được kéo, ưu điểm của phương pháp sau là nguồn âm gần đáy biển hơn tạo điều

Trang 23

kiện xác định dễ dàng hơn ccá<c thay dổi

trong cấu trúc đáy biển và bộ cchtuyển đổi

được tách một phần khỏi sự d:i cchiuyển cua

tàu Hệ thống lắp vào thân t;àui íỉt có khả

năng hóng thiết bị và trong vùnịg nurớc ven

bờ nói chung đủ để định vị cáíc vết lộ trên

đá, các vật cản dưới nước và vị trí của bộ

chuyển đổi được biết chính xác htơni

Có thể thu được một vài chỉ dẫn về

những thay đổi khi đo sâu từ phíân tích các

số liệu quét cạnh, nhưng thực chấít nó là một

thiết bị nghiên cứu Việc phủ hoần toàn đáy

biển bằng máy dò âm thường đtòi h<ỏi quá

nhiều công việc mà khó giải thích dược Sử

dụng định vị quét cạnh tạo điềiu Ikiện cho

người khảo sát kiểm tra toàn bộ (đáy biển

giữa các mặt cắt dò âm và để chạ:y tthêm c ác

mặt cắt bổ sung khi số liệu quét eạinh cho

thấy có thay đổi đáng kể trong công tác đo

sâu này

Hệ thống định vị quét cạnh lnoạtt dộng

chủ yếu từ 50 kHz đến 100 kHz với khui năng

phạm vi tới 400 m vể mối phía ciùa đường

tàu chạy

8.4 Đo đạc trực tiếp

Đo trực tiếp áp dụng khi nghi ngờ sò liệu

máy dò âm Điều này xảy ra khi dò âim trên

đáy biển đặc biệt mềm hoặc có số I ượmg lớn

cỏ dại, tảo biển Điều này cần thiếít khi xác

định độ sâu nhỏ nhất trên đá hoặc Vỉât cản

Các đo đạc như vậy thường thực kiệm bằng

dây đo thủ công, sào có chia độ sâiu hoặc

quét bằng một dây nằm ngang (xem 8;.6)

8.5 Khoang cách và h tướng của các mặt

cắt dò ảm

Khoảng cách thích họpi của các rmặt cắt

dò âm phụ thuộc một phỉần vào mực tiêu

khảo sát một phần vào độ sâu và bàn chất của đáy biển

Nơi cần thông tin đo sâu để nghiên cứu ánh hưởng của sóng và dòng chảy hoặc luồng hàng hải có độ sâu trung bình lớn hơn 1,5 lần món nước của tàu lớn nhất dự kiến thì bản đồ tỷ lệ 1/ 10000 nói chung là đủ Các tuyến dò âm cần cách nhau khoảng 100

m với khoảng cách mốc cục bộ không lớn hơn 300 m

Các khảo sát nghiên cứu ảnh hưởng của sóng cần phủ vùng chuyển tiếp liên quan đến các chu kỳ sóng dự kiến tại hiện trường.Đối với các luồng tàu, điều tra diện rộng cần xem như một cách lựa chọn đối với các

dò âm chi tiết khi độ sâu lớn hơn 1,2 lần món nước lớn nhất (xem 8.6)

Trong các vùng đá hay san hô, nếu độ sâu trung bình nhỏ hơn 2 lần mớn nước tầu lớn nhất thì nên có các khảo sát chi tiết hơn đối với các luồng tàu

Khi cần thòng tin đo sâu cho việc bô' trí công trình, cho các do đạc nạo vét và kiểm tra các luồng tàu trong nước nông, cần phải thực hiện một cuộc khảo sát chi tiết đê xây dựng bản đồ tý ]ệ từ 1: 500 đến 1: 1500.Một cuộc khảo sát điển Kinh cho công trình biển thường thực hiện với khoảng cách mặt cắt từ 10 m đến 25 m bên trong, xung quanh vị trí dự kiến của công trình và 50 m trong các khu vực lân cận với các mốc cục

bộ gấp khoảng 3 lần khoảng cách giữa các mặt cắt Định vị quét cạnh có thế sử dụng phối hợp với máy dò âm để có số liệu vể chất lượng của đáy biển giữa các mặt cắt, thể hiện bất cứ đặc điểm nào mà máy dò âm không phát hiện dược

Trang 24

Hướng của mặt cắt cũng phụ thuộc vào

mục đích kháo sát Mục đích là vẽ phác các

đường đồng sủu một cách chính xác nhát

Điều này đạt được bằng cách cắt theo gần

góc vuông nhất qua các đường đồng sâu dự

đoán Có kinh nghiệm tốt là chạy các mặt

cắt bổ sung vuông góc với những hướníỊ đã

chọn với một khoảng cách lớn hơn, ví dụ

như 5 đến 10 lần Các đường này sẽ phục vụ

cho mục đích như tuyến kiểm tra và cũng đê’

phát hiện ra sự có mặt của các đặc điểm như

sóng cát, mà lẩn chọn hướng ban đầu có thê

chưa được phát hiện

8.6 Quét dày

Có thể cần một khảo sát quét dây đế

khẳng định độ sâu nhỏ nhất phía trên một

vật cán hoặc đế chứng minh rằng trong một

vùng cụ thể nào dó không có vật cản

Công việc đầu có thể thực hiện bằng

cách treo một thanh ngang phía truớc và sau

tàu, thanh này sẽ trôi phía trên vật cản đã

biết Sau mỗi lần đi qua, thanh này sẽ được

hạ thấp xuống hay nâng cao lên bằng các

dày treo đã điều chỉnh và bằng cách ghi lại

độ sâu đã đặt của thanh và xét đến hiệu

chinh về thưý triều có thể xác định được độ

sâu nhó nhất trên vật cản

Có thể dùng khảo sát quét dây nhỏ để

thay cho đinh vị bằng quét cạnh khi cần

khẳng định một vùng không có vật cản dưới

nước Dày nhỏ này được treo giữa hai tầu và

có vật nặng đổ giữ ở một độ sâu định trước

Các tầu này đi với vận tốc 1 m/s đến 1,5 m/s

dọc theo các tuyến cần thiết để đám bảo

quét phủ toàn bộ khu vực

8.7 Quy đổi số liệu dò âm

Do mực nước chuyển động theo phương

đứng, số liệu dò âm thu được cần phải quy

về mặt phẩng tham chiếu chuẩn bằng cách trừ di chiều cao thực của mặt nước bên trên mặt phẳng này vào thời điểm dò âm Sự tăng và giảm cua mực nước được quan sát nhờ một cột thuỷ chí hoặc một đầu đo thuỷ triều trong khi thao tác dò âm và lập đồ thị chiều cao theo thời gian Đầu đo này cần đặt gần khu vực do nhất Từ đường cong thế hiện sự biến động của mực nước, số liệu dò

âm có thê quy vể mặt phẳng tham chiếu thích hợp hoặc độ không hải đồ (xem 10).Cần chú ý đảm bảo cho số liệu dò âm được ghi lại một cách đồng bộ với các số liệu thuỷ triều Điều này là quan trọng nhất khi thuỷ triều dự kiến lên và xuống nhiều

8.8 Địa hình bờ biên

Tưỳ theo khu vực khảo sát và tỷ lệ thể hiện, mặt bằng do sâu cuối cùng cần mô tả đường bờ và các đặc điểm nối bật để có thể nhận biết được ngay lập tức

Cách làm thông thường là thể hiện các đường mặt nước cao và thấp trên bản đồ đo sâu Nên tiến hành đo sâu trong thời kỳ nước cao; dường mặt nước thấp thường xác định từ kết quả dò âm Đê có đường mặt nước cao có thổ thực hiện cao đạc khi khảo sát trên đất liền, trên các khu vực chưa bao phủ khi đo sâu

Ban đầu khảo sát đo sâu chí cần cho các yêu cầu nghiên cứu sóng hoặc hàng hải, kết quả của nhiều khảo sát đo sâu ven bờ có thể

sử dụng cho mực đích quy hoạch công trình khi phối hợp với những kết quả khảo sát địa hình trên đất liền Do đó mặt bằng đo sâu nên vẽ trên cùng hệ thống lưới như khảo sát trên đất liền và cần ghi lại rõ ràng mối quan

hệ giữa các mặt phẳng tham chiếu theo phương đứng của mỗi loại

Trang 25

9 Địa kỹ thuật

Trong mọi dự án công trình biển sự hiểu

biết kỹ lưỡng điều kiện bèn dưới mặt đất là

một điều tra ban đầu quan trọng Chương 6

gồm chi dẫn về loại và phạm vi của các

nghiên cứu địa kỹ thuật được yêu cầu, bao

gồm các khía cạnh địa chất, địa mạo và địa

vật lý

10 Mực nước

10.1 Khái quát

Các dao động chu kỳ dài trong mực nước

nói chung do thuỷ triều, chu yếu hình thành

do các dao động tuần hoàn trong sức hút

trọng trường của mặt trăng và mặt trời đối

với các khối nước trên quả đất Các dao

động chu kỳ ngắn hơn cộng tác dụng và

những biến động không có chu kỳ có thể do

các yếu tố như gió , áp suất khí quyên, ảnh

hưởng của sóng , sự chảy đi và bay hơi cục

bộ Biên độ thuỷ triều thay đổi rất rộng trên

toàn thế giới và phụ thuộc vào các yếu tố

địa lý Những vùng nước nòng quanh các

hòn đảo nhỏ của nước Anh có tác dụng tăng

chiều cao thuỷ triều một cách đáng kể; ở

Sevem các biên độ ở cửa sông có thể vượt quá

15 m, ở ngoài khơi thường nhỏ hơn 1 m

Dự đoán về các mực nước cực trị cần cho

nhiều khía cạnh khi thiết kế còng trình biển,

bao gồm sóng tràn ; áp lực thuỷ tĩnh và mức

hoạt động của sóng, dòng chảy, các tải

trọng neo và cập tàu Các giá trị mức độ

tăng và giảm cũng có thể liên quan đến áp

suất nước lỗ rỗng trong đất, khá năng xả

thoát lũ và đế dự đoán các dòng triều

10.2 D ự báo thuỷ triều

Bảng thuỷ triều của Bộ Hải quân liệt kê

dự đoán hàng ngày về sô' lần và độ cao của

nước cao, thấp tại một số cảng chính |1| Những dự đoán này áp dụng chung và thường dựa trên các quan sát thuỷ triều liên tục kéo dài ít nhất trong thời gian một năm tai cảng chính đó Báng này còn liệt kê các sò' liệu cho những cảng phụ, đủ đế tính toán các dự báo từ những dự báo cho các cảng chính

Bảng niên giám thuỷ triều còn được các nhà quán lý cảng và nhiều người khác phát hành Cần chú ý rằng báng thuỷ triều của

Bộ Hái quân cho các chiều cao tham chiếu đến cao độ không hái đồ, nghĩa là cao độ không của số liệu do sâu lần xuất bản mới nhất của hải đổ Hải quân tỷ lệ lớn nhất, có khi bảng thuỷ triều do các địa phương xuất bản cũng dựa trên cao độ này Một số công

ty thương mại cũng cung cấp dịch vụ dự báo thưỷ triều

Chú ỷ: Các nhà quản lý cảng và thương mại thường lấy dự báo của Viện Khoa học hải dưcmg Bidston, Birkenhead, England khi cần thông tin chi tiết hơn hoặc ở dạng khác so với các Bảng thuý triều Hải quân

Ỉ0 J Ảnh hưởng khí tượng 1103.1 Khái quát

Các dự báo thuỷ triều được dựa trên các điều kiện khí tượng trung bình Những biến độmg trong các chiều cao dự báo sẽ xảy ra cùnig với các thay đối trong chê' độ khí tượng Các ảnh hưởng chính được trình bày trorag 10.3.2 đến 10.3.5

110.3.2 Áp suất khí quyển

Thay đổi mực nước do biến động áp suất khí quyển ít khi vượt quá 0,3 m Tuy nhiên, khi plhối hợp với các ảnh hương khác như

Trang 26

gió mạnh và được tăng cường bới các thay

dổi vé địa lý, ảnh hưởng này có thể quan

trọng

10.3.3 Gió

Gió mạnh thổi có xu hướng dồn nước về

phía bờ làm cho mực nước cao hơn chiều

cao thuỷ triều được dự báo Những cơn gió

thổi dọc bờ có xu hướng tạo nên những con

sóng dài chạy dọc theo bờ làm dâng mực

nước biển ở đỉnh sóng và hạ mực nước biến

tại bụng sóng Nhóm sóng do những cơn

bão xa có thê gây ra biến động của mực

nước biển trung bình trong nhóm đó, do xẩy

ra trong chu kỳ dài nên sóng biên độ thấp

chuyển động với cùng vận tốc của nhóm

sóng khi tới gần bờ gây nên mực nước biển

cao hơn, do đó sóng có thê đánh vào bờ xa

hơn trước khi vỡ Sự phối hợp tác dụng của

gió và áp suất có thể gây ra hiện tượng

"nước dâng do bão"

10.3.4 Dao động mưc nước do áp suất

Áp thấp mạnh di qua có thể làm cho mực

nước biển dao động Chu kỳ giữa một con

sóng như vậy có thê từ vài phút đến 2 giờ và

chiều cao từ vài cm đến 2 hoặc 3 m Hình

dạng, kích thước và chiểu sâu của một số bể

cảng làm cho chúng rất nhạy đối với các

sóng như vậy, thường làm tăng chiều cao

của chúng đến tỷ lệ phá hoại

10.3.5 Mực nước

Mực nước ở cửa sông có thể tàng lên do

các dòng chảy sông bắt nguồn từ các nước

mặt chảy đên hoặc nguồn nước ngầm có áp

Những yếu tố đặc biệt như mở các cống

thượng lưu và các dạng dòng chảy theo mùa

Thậm chí trong trường hợp đã có dự báo, vẫn cần dùng đầu đo thuỷ triều lâu dài đê cung cấp một tham chiếu cho các hoạt động thu thập số liệu khác

10.4.2 Các dạng đầu đo

10.4.2.1 Khái quát

Có thể xem xét các dạng đầu đo trình bày trong 10.4.2.2 đến 10.4.2.8 Tất cả đều

tự động, trừ loại nêu trong 10.4.2.2

10.4.2.2 Thưỷ chí hoặc mía thuỷ đạcThủy chí hoặc mía thuỷ đạc là cọc chia

độ đơn giản được dựng đứng trong nước đê

có thể đọc được các thay đổi mực nước trên

đó Cọc này nên đặt bất kỳ nơi nào, không

kể đến việc các đầu đo tự động khác cũng

có thể được sử dụng Nó cho sự hiệu chỉnh

và tiêu chuẩn kiểm tra các đầu đo tự động.10.4.2.3 Phao vận hành

Một phao lắp trong giếng nước tĩnh được thiết kế đặc biệt, nối trực tiếp đến một biểu

đổ được ghi bằng dây Nếu hệ thống này lắp đặt cẩn thận sẽ có được số liệu thuỷ triều tuyệt vời

Trang 27

10.4.2.4 Áp suất vận hành

Chiều cao thuỷ triều tạo áp lực lên một

vách ngăn chìm mà nó hoạt động như một

cơ cấu ghi Các hệ thống như vậy nối với

một máy ghi bề mặt dùng ống chứa khí

hoặc cả hệ thống là một bộ phận gắn ơ đáy,

hệ thống sau còn có thê sử dụng ở ngoài

khơi Cũng có sẵn hệ thống bộ chuyển áp

điều khiên điện tử và rất tốt, đặc biệt khi

dùng lâu dài tại nơi có nguồn năng lượng

10.4.2.5 Đầu đo bọt khí

Một dòng không đổi khí nén thoát qua

khoang bọt khí đến một ống hớ đáy đặt tại

độ sâu đã biết bên dưới LAT Áp suất cột

nước bên trên ống hở sẽ thay đổi theo thuỷ

triều, do đó làm thay đổi áp suất trong

khoang bọt khí Biến động đó của áp suất có

thể ghi lại được bằng một biểu đồ tang

trống

10.4.2.6 Đầu đo điện dung

Hệ thống đầu đo điện dung này dùng

điện dung thay đổi của một dây diện gắn

thẳng đứng trong vùng thuý triều thay đổi

Cần thận trọng trong các vùng độ mặn thay

đối để hiệu chỉnh độ dẫn điện cùa nước biển

10.2.4.7 Đầu đo điện trở

Đầu đo trở kháng điện là hệ thống tương

tự đầu đo điện dung, nó sử dụng trở kháng

thay đổi giữa 2 dày điện song song đê xác

định mực nước biển

10.4.2.8 Máy dò âm ngược

Một máy dò âm nằm ở đáy biển, truyền

sóng tới bề mặt, nó thu được một bản ghi

mực nước liên tục Cần chú ý tránh di

chuyển hoặc vùi lấp đầu đo Cũng có thế

dùng siêu âm bằng cách đặt đầu đo bên trên

mực nước biển

10.5 Phân tích thu ý triều

Nếu thu được một cơ sớ số liệu đủ lớn thì việc phân tích số liệu dó có thể xác dịnh các thành phần thuỷ triều thiên vãn một cách cân đối đê sử dụng cho dự báo chiều cao thuỷ triều trong tương lai Các dự báo này già thiết là không có sự thay đổi nào xảy ra tại vị trí tương ứng và dộ chính xác của chúng phụ thuộc vào kích thước, độ chính xác của cơ sở dữ liệu gốc Có thể thu được các thành phần cân đối cơ bản cho một vị trí xây dựng chí từ số liệu thuỷ triều trong 11 ngày, nhưng đòi hoi các điều kiện thuận lợi

Số liệu liên tục từ 28 ngày đến 30 ngày sẽ cho sự phân tích và dự báo đáng tin cậy hơn nhiều Một phân tích thuý triều đầy đủ từ số liệu liên tục ít nhất một năm có thế xác định được đến 110 thành phần dùng để dự báo chiều cao thuỷ triều chính xác

Các phàn tích và dự báo như vậy cũng đã được giải thích chi tiết [2], Cần nhấn mạnh rằng các dự báo chi có thể cho chiều cao tluiý triều thiên văn còn mực nước thực tế

có thế khác nhiều do các ảnh hưởno khí tượng khác( xein 10.3)

11 Chuyển đụng cùa nước

11.1 Khái quát

Chuyên động của nước với quy mò toàn cầu lớn nhất chính là các dòng hải lưu vĩnh cửu Các dòng chảy này là kết quá của sự phản ứng của đại dương và khí quyển đối với sự phân bố năng lượng mặt trời, nó tạo

ra dòng năng lượng từ vùng nhiệt đới đến các cực Các hệ thống dòng hái lưu bề mặt phù hợp chặt chẽ với sự tuần hoàn khí quyển toàn cầu và di chuyển theo mùa theo

Trang 28

đường hoàng đạo Có thể tham khảo mỏ tả

cục bò các chuyển động cơ bán này của

nước trong các ấn phẩm của Hoa tiêu Hài

Quẫn 3],

Từ hàng trăm năm nay, các dòng hải lưu

bề nùt đã được ghi chép cẩn thận vì ảnh

hưởng quan trọng cua chúng đến hàng hải

và thương mủi Tuy nhiên, các dòng sâu hơn

và những dòng đối lưu là các phát hiện khá

hiện đại đi theo việc phát minh ra nhiều

thiết tị hải dương học tin cậy như các máy

đo dòng chảy

Vice sử dụng các chai lấy mẫu nước và

dụng cụ đo nhiệt độ tại chỗ, như nhiệt kế

ngược, cũng đóng góp đáng kể vào việc

nghiên cứu các khối nước sâu đại dương

như miệt độ và nồng độ muối cho ta những

dấu hệu cần thiết của địa điểm gốc

Trong đại dương, gió thổi trên biến gây

ra một dòng chảy trên lớp nước bề mặt, nó

chuyên động với góc xấp xỉ 45° so với

phươrg gió, về phía bên phải ở Bắc bán cầu

và bên trái ở Nam bán cầu Do hiệu ứng

Coriois đối với các lớp nước sâu hơn,

chuyên động của những khối do gió gây ra

tương tự hướng về phía trái hoặc phải,

nhưnị lệch 90° so với hướng gió gốc Tại

các ving biển sát đất liền, những cơn gió

trội nổi song song với bờ có thể tạo ra

chuyên động thẳng đứng của nước, được gọi

là nưec lên, nước xuống hay hạ mực nước

Hệ thang gió thổi ngắn trong khoảng 2 dến

3 ngà/ có thể gây ra các dòng chảy ngang,

đạt tđ tốc độ 0,5 m/s ( 1 hải lý) trong một

cơn gó mạnh kéo dài Các dòng nước này

rất kló dự báo vì chúng cần thời gian nào

đó đe phát triển và tiếp tục chảy một thời

gian lừa sau khi gió đã tắt Theo nguyên tắc

chung, các dòng chảy do gió gây ra có thê

cháy với vận tốc 2% đến 3% của vận tốc

gió làm chúng chuyển động Các dòng nước kết hợp với nước dâng do bão có thê chuyên động với vận tốc cùa các dòng do thuý triều sinh ra và được xem là tổ hợp ảnh hưởng trực tiếp của gió, chuyển động của nước dâng do bão tạo ra sự giảm áp, chênh mực nước biển kết hợp với gradien áp suất khí quyển (xem mục 10) Thành phần dòng sau là ví dụ vể dòng chảy dốc do phản ứng cua mặt nước đến sự tăng hoặc giảm áp suất khí quyển, v ề lý thuyết phản ứng này bằng

10 mm cho mỗi thay đổi áp suất 1 milibar, nhưng trong các đới nhiệt độ sự phân bố áp suất khí quyển thay đổi nhanh theo đường

đi của các áp thấp đến mức làm cho quan hệ trạng thái được dự báo ổn định chỉ có thể hiếm khi đạt được Các dòng chảy dốc hình thành do gió, do sóng hoặc sự thay đổi vể nhiệt độ và độ mặn theo phương ngang, gây nên sự thay đổi tỷ trọng nước biển, tức là các dòng tỷ trọng Các dòng hướng đất hoặc những dòng geostrophic là kết quả của mặt biển dốc, tạo bơi gió và tỷ trọng, sự cân bàng giữa tác dụng của lực hấp dẫn và độ lệch theo hiệu ứng Coriolis

Chuyến động của nước do nguồn gốc thiên văn thuần tuý được hiểu một cách truyền thống là các dòng triều Trong thực tiễn, chuyển động nước toàn phần trong một khu vực là tổ hợp của các dòng hải lưu dự báo được và những dòng triều, với các dòng

do áp suất hoặc gió địa phương thbi gian ngắn hơn gây ra, và trong nước nông là các dòng do sóng gây ra Các dòng triều ở hải phận thuộc Châu Âu nói chung cùng dạng với thuỷ triều được gọi là bán nhật triều Tuy nhiên, trên phần khác của trái đất, kiểu

Trang 29

dòng triều có thể hoàn toàn không liên quan

đến kiểu thuỷ triều này và cần có những dự

báo độc lập Các dòng triều quanh quần đảo

Anh quốc được thể hiện dưới dạng tranh vẽ

trong tập atlát do Sở Thuỷ văn Hải quân

phát hành bao gồm những dòng chảy cửa

sông cố định do dòng chày sông [4ị Khi

không có thông tin để lựa chọn, trong các

vùng bán nhật triều các dòng triều thu được

qua kinh nghiệm của biên độ triều cường

được coi như mạnh gấp đôi trong thời gian

triều kém

Đối với công trình cố định trong vùng

nước ven bờ, những thông số vận động của

nước quan trọng khi thiết kế là tốc độ và

hướng chuyển động của nước tại một điểm

và công trình sẽ bị ảnh hưởng như thế nào

khi nước va chạm vào nó Cũng cần xem xét

đến tính thấm của công trình, khả năng

chống chuyển động của nó và khả năng xói

hoặc bổi bùn cát Tuy nhiên, để xả chất

lỏng hoặc chất thải rắn và lấy chúng đi từ

một vùng có hoà tan chúng, có thể cần phải

xác định dạng chuyển động của nước trong

khu vực rộng hơn rất nhiều

Chuyển động của nước trong một phạm

vi rộng hơn một vùng nước cụ thể có xu

hướng đẩy nước đi hơn là hoà trộn, được

biết theo khái niệm dòng bình lưu

(advection), có nghĩa là do dòng chảy Các

thuật ngữ khuếch tán hoặc pha trộn dùng để

diễn tả chuyển động của nước có phạm vi

bằng hoặc nhỏ hơn một vùng nước cụ thể

đó Chuyển động có quy mô nhỏ nhất được

biết là khuếch tán phân tử nói chung không

xét đến trong phần này, vì chúng không so

sánh được với các chuyển động có quy mô

lớn hơn được định nghĩa là khuếch tán dòng

xoáy hoặc chảy rối Sự khác nhau giữa bình lưu và khuếch tán cũng thấy rõ qua chuyến dịch trung bình của nước trên một khu vực Dòng bình lưu là chuyển động riêng mà trên

nó cộng thêm một dòng dao động bao gồm những dòng chảy trao đổi bằng hoặc ngược lại dòng khuếch tán

11.2 Đo dòng bình lưu

ỉ 1.2.1 Khái quát

Phương pháp gián tiếp để tính toán chuyển động của nước nói chung không phù họp với công việc trên bờ và cần sử dụng phương pháp đo trực tiếp Các phương pháp này dựa trên việc đo vận tốc của nước tại những điểm cố định, chẳng hạn bằng các dụng cụ đo dòng chảy, hoặc theo quỹ đạo của một dòng nước để đánh dấu ví dụ bằng phao hoặc bằng các đường đã nhuộm màu

11.2.2 Quan sát bằng máy đo dòng

11.2.2.1 Khái quátMặc dù phương pháp này cho số đọc trực tiếp vận tốc dòng, nhưng việc íip dụng

vùng nước ven bờ bị hạn chế do không thể lấy các quan sát tại một điểm làm đại diện cho một khu vực lớn Các hạn chế khác là

về tính thực tế, ví dụ tốc độ dòng chậm có thể nhỏ hơn giới hạn của thiết bị và chuyển động của neo hoặc tầu trung gian ảnh hưởng đáng kể đến số đọc

Nguyên tắc hoạt động của các loại máy

đo dòng hiện có trình bày trong 11.2.2.2 và11.2.2.3

11.2.2.2 Máy đo dòng đọc trực tiếpThường các máy đo dòng dọc trực tiếp hoạt động bằng tay nhưng trong một số

Trang 30

trường hợp nó được hoạt động thông qua

một dây đo từ xa ở tàu đã thả neo hoặc một

công trình đã có Nói chung tốc độ của

nước tính bằng số vòng quay của cánh quạt

hoặc rôto Savonius trong khoảng thời gian

đo chính xác

Cánh quạt gắn ngang hoặc tổ hợp ống

được dùng như bộ phận quay nhưng nói

chung cần phải mềm Hướng dòng chảy

được đo bằng sự sắp hàng của thân máy và

các van đối với một la bàn chuyên động tự

do gắn bên trong Cần thận trọng khi vận

hành các máy đo dòng chảy khi có sóng, do

tầu bị xê dịch, chuyên dịch của hộp số treo

và sóng tác động lên chính máy đo dòng,

đặc biệt các thiết bị rotor Savonius thường

ghi quá tốc độ dưới tác dụng của sóng do

phán ứng theo tất cả các hướng Khi dùng

một thiết bị tương đối rẻ tiền, có thể thu

được nhanh chóng mặt cắt vận tốc chi tiết

cùa cột nước bằng cách hạ thấp thiết bị từ

gần bề mặt đến gần đáy để tiến hành đo tại

các cao trình trung gian

11.2.2.3 Máy đo dòng tự ghi

Các máy đo dòng tự ghi thường đắt gấp 2

đến 10 lần máy đo dòng đọc trực tiếp và ghi

lại vận tốc bèn trong lên môi trường như

băng từ, phim ảnh hay bộ nhớ cứng Do đó,

không cần người vận hành, tàu có mặt

thường trực và việc neo chắc chắn sẽ tạo

điều kiện thu thập số liệu trong điểu kiện

biển xấu hơn là bằng một thiết bị treo từ

một tàu nổi Thường máy đo dòng tự ghi đo

tốc độ bằng cánh quạt hoặc rotor Savonius

và ghi lại số vòng quay trong các khoảng

thời gian 5, 10, 15 hoặc 30 phút, do đó thu

được tốc độ trung bình của nước trong mỗi

chu kỳ đo Về mặt lý thuyết thiết bị dịnh

hướng cô định với hướng chuyến động của nước bằng một hoặc nhiều van lớn và hướng tức thời được giữ ở cuối khoảng thời gian lấy mẫu thử sẽ được ghi lại Tuy nhiên, trong thực tế chuyên động theo quỹ đạo sóng sẽ ảnh hưởng đến số liệu vận tốc và hướng được đo bằng loại máy đo dòng truyền thống Đế đo được chuyển động chu

kỳ ngắn như vậy cần phát triển các dạng thiết bị khác để phân dòng chảy thành 2 hướng vuông góc nhờ thế việc đo hướng không phụ thuộc vào hướng dụng cụ đo Hai trong số được sử dụng rộng rãi nhất là các máy đo dòng điện từ và âm học Dụng

cụ đầu đo sự thay đổi trong một từ trường

đã được tạo ra, còn dụng cụ sau đo sự biến thiên biểu kiến trong tốc độ âm thanh do chuyển động của nước Nói chung, các máy

đo này sẽ đo tốc độ dòng chảy tại các khoảng thời gian cách đều nhau, ví dụ từ 1 đến 10 lần trong 1 giây, hoặc ghi số liệu kiểu xung (burst), ví dụ cứ 10 phút cho 1 giờ, hoặc xây dựng một vectơ trung bình để loại các dòng chảy quỹ đạo trước khi ghi

11.2.3 Định tuyến phao

Phương pháp này đánh dấu chuyển động của nước bằng cách dựa vào các vật liệu dễ nhận dạng cùng chuyển động với nước, do

đó trực tiếp chí ra hướng đi của nó Kích thước và hình dáng của vật nổi ảnh hưởng đến phản ứng của nó đối với chuyển động của nước bao quanh do đó tuân theo chuyên động đó một cách trung thực Tổ hợp phao tiêu chuẩn gồm một phao (drogue) có van được làm bằng vải bạt, gỗ, kim loại hoặc plastic nối nhau bằng dây thừng hay dây kim loại mảnh đến một phao bề mặt Chiều dài dây xác định độ sâu nước mà phao sẽ

Trang 31

năm và tuân theo chuyển động của nước

Phao dài 0,1 đến 0,5 m và được treo ờ độ

sâu 2 m, đường đi của nó sẽ biểu thị chuyên

động ngang trung bình của khối nước giữa 2

m và 3 m bên dưới mặt nước

Khó khăn chính của tuyến phao này là

việc định vị lại Một phao bề mặt rộng hay

một vật đánh dấu như cờ hoặc rađa phản

chiếu sẽ chịu- lực gió, trong trường hợp phao

nổi chịu ảnh hưởng của các dòng chảy nước

bề mặt Do đó các đánh dấu bên trên nên

làm càng nhỏ càng tốt nhưng phải nhìn thấy

rõ Đê định vị lại được dễ dàng có thể dùng

các máy phát sóng nhỏ hoặc thiết bị âm

thanh dưới nước cùng với ăngten định

hướng radio hoặc máy thu âm thanh Định

vị bằng sonar có ưu điểm là có thể giảm bề

mặt phao Các dụng cụ này thường dùng

nhất trong bóng tối và có thổ dễ dàng tìm

hơn các đèn phát sáng đã dùng trước đây

Phương pháp này đã được phát triển nhằm

loại bỏ ảnh hưởng của gió từ tuyến phao

hợp thành, nhưng cần phải có những nghiên

cứu tiếp theo trước khi kỹ thuật này được áp

dụng rộng rãi

Bè gỗ là thiết kế đặc biệt của phao dùng

để thể hiện chuyển động ngang trung bình

trên độ sâu lớn hơn của nước từ 6 m đến 10

m Nó gồm các thanh dài mảnh đánh dấu

một đầu và chất nặng đầu kia sao cho nổi

thẳng đứng ngay bên dưới mặt nước Vật

liệu hay dùng là cột điện, thân cây, cọc tre

hoặc các thanh nhôm Bè gỗ đặc biệt hữu

dụng trong nghiên cứu hàng hải và quy

hoạch mặt bằng bê’ cảng do độ dài của

chúng có thể điều chỉnh đê thể hiện các

mớn nước của tầu tương ứng

Sứ dụng phao cũng thu được các thông tin điếm riêng biệt bằng cách thả chúng xuống mũi của một tầu dang neo và bấm giờ đường đi của chúng trên một khoang đã biết về phía duiôi tàu Một cách khác, các phao có thể gắn trên một tàu đang neo bằng một đoạn dây n ổi chiều dài đã biết cho phép trôi giật lùi Vận tốc có thê tính theo thời gian phao chạy đến điếm cuối của dây buộc

nó và hướng dòng chảy thu được bằng cách lây phương chuyển dộng của phao Trong cả hai trường họp này dường như sự có mặt của tàu sẽ làm Ihay đổi vận tốc và hướng dòng cháy, và cả đường đi của phao Có thể thu được dự báo sơ bộ về vận tốc dòng chảy

từ máy do tốc độ và địa bàn chi hướng của tàu đang neo do đó không phụ thuộc vào dòng chảy

Có thể điều chính phao nối tiêu chuẩn để tuân theo chuyển động của nước bề mặt bằng cách giám chiều dài dây giữ phao và dấu hiệu trên dính sao cho đính của tổ hợp van vừa đúng trên mặt biển Tuy nhiên, để tuân theo chuyến động trên đỉnh 100 mm hoặc đế xác định đường đi thực của một vật thê trên bể mặt như màng mỏng mỡ hoặc dầu phải dùng các phao bề mặt được thiết

kế đặc biệt Chúng bao gồm các dĩa hoặc hình cầu nổi trên mặt nước, các chai, bìa, cả rau đã băm nhỏ nổi một cách độc lập Khó khăn chính là định vị lại chúng và nên giữ cho các phao luôn nhìn thấy được Xác định tuyến trên không/hoặc chụp ảnh là phương pháp hữu hiêụ để ghi lại vị trí các phao nhưng quá tốn kém Phao có đánh dấu nhìn thấy dược trên đính có thể dùng đế chỉ

vị trí gần đúng của phao trên mặt, nhưng chúng không hoàn toàn tin cậy do sự khác nhau giữa các đường di của các lớp nước đã được nhận dạng

Trang 32

Như đã nhận định ớ trên, các phao không

theo cùng một luồng chảy rối như nước, do

đó chí cho biết chuyển động ngang trung

bình Một hạn chế nữa của thông tin về

tuyến phao là sự mô tả hình ảnh tuyến tính

của chuyến dộng nước mà không mờ rộng

về diện tích Tuy nhiên, tuyến phao có thể

cho ta một hình ánh nhanh và tương đối rẻ

về chuyên động chung của nước Tại một

thời điểm phái theo dõi nhiều phao được thả

lặp lại nhiều lần tại một vị trí hoặc thả nhiều

bộ phao đặt ờ các các chiều sâu khác nhau

Các dư số thuỷ triều có thế xác định được

dễ dàng bằng cách theo dõi tuyến của một

phao trên một chu kỳ triều đầy đù và xác định

khoáng cách giữa các vị trí thả và thu hồi

Có thể dàn rộng không đều các phao nếu

yêu cầu hiểu biết về chuyển động cần hơn là

về đường đi đế trở về điểm cuối Thường

các phao có gắn thông báo yêu cầu người

tìm thấy phao ghi lại thời gian, địa điểm thư

hồi và phản hổi lại thông tin đó Đê giảm

yếu tố may rủi khi thu hồi ,có thể dùng

những người đi bộ trên bờ để tìm kiếm các

phao đã tiếp đất Cũng có thè dùng các

phương pháp tương tự để đánh dấu các dòng

chảy đáy khi tầu không thể theo dõi được

nếu không có các dây truyền âm Phương

pháp này chỉ đo dược vận tốc nước nhỏ nhất

có thể, vì không có thông tin khác chính xác

thì đã giả thiết phao đi theo khoảng cách

ngắn nhất giữa điểm thả và thu hồi, phao đã

dược thu hổi ngay khi tới vị trí sau cùng

11.3 Đo sự phàn tán

11.3.1 Khái quát

Trong 20 năm qua, rất nhiều nghiên cứu

đã được thực hiện để phát triển các phương

pháp khác nhau nhằm ghi lại chuyển động của nước, đặc biệt khi bố trí đổ nước thải ra biển, thì mức độ và phạm vi phàn tán cùng với khối lượng vận chuyển là các tiêu chí quan trọng Đã tìm ra chất đánh dấu có các đặc tính vật lý giống như nước được đánh dấu Các kỹ thuật phát triển được chấp nhận

là sử dụng chất nhuộm màu, các vật liệu phóng xạ và vi khuẩn Các kỹ thuật này đều

có những ưu điếm và hạn chế riêng, có thế khắc phục bằng cách kết hợp 2 hoặc 3 phương pháp nhưng trước khi chọn bất kỳ dạng, chất đánh dấu nhân tạo nào, cần phải xem xét sử dụng các chất đánh dấu tự nhiên hoặc chất không được đưa vào sử dụng như trình bày trong 11.3.2

Các chất đánh dấu nhân tạo hoặc phụ thêm có thể dùng để đánh dấu một khối nước như nước thải, nước xả đã xử lý hoặc

để chí ra chuyển động của nước trong một khu vực sẽ nhận nước thải Trong trường hợp đầu, có thể chí ra vị trí của chỗ xả hiện thời và chất đánh dấu được phun vào vị trí này Ví dụ một chỗ thải, được đánh dấu nhò' cho thêm chất đánh dấu tại trạm bơm cuối cùng hoặc tại điểm thu nhận và với sự pha trộn được tạo ra tự nhiên hay nhân tạo, toàn

bộ chất thải sẽ bị đánh dấu trước khi ra tới biển Điều này, rất có ý nghiã đối với các cửa khuếch tán vì có thể tính được hiệu suất của chúng khi pha loãng sơ bộ Có thể thêm chất đánh dấu theo một rné đơn, theo nhiều

mẻ riêng lập lại hay liên tục, tuỳ thuộc vào loại chất thải được xả, các phương tiện định tuyến và mục đích nghiên cứu

Các chất đánh dấu nhân tạo thường có lợi nhất để dự tính mức độ khuyếch tán và chuyển động của khối lượng thải ra biển dự

Trang 33

kiến trước khi thi công Việc định thời gian

thả tổ chức như nói ở trên, do chi phí thấp,

kỹ thuật trộn mẻ rời rạc lặp lại thường dùng

trong những nghiên cứu ban đầu để xác

định vị trí và chiều dài tốt nhất cho một cửa

thoát Với điểu kiện dạng tuần hoàn ổn định

hoặc lặp lại đều đặn theo dao động thuỷ

triều, sự khuyếch tán của một nguồn thải

liên tục có thể tính bằng cách tích phân các

kết quả thu được từ việc phun những mé

chất đánh dấu lặp lại Một cách khác, mẻ đã

thả vào có thể dùng để cung cấp khái quát

chuyển động của nước và chi ra giai đoạn

giới hạn hoặc quan trọng nhất đối với dòng

xả chất thải, có thể thả liên tục trong giai

đoạn này đế khẳng định Ví dụ, thời gian

hoặc khoảng cách ngắn nhất tới đất liền và sự

tập trung chất thải tương ứng trên đường bờ là

mối quan tâm đặc biệt

Về lý thuyết có thể tạo chất đánh dấu

cùng tỷ trọng với chất thải và được thả tại

cùng cao độ, thường sát đáy biển, nhưng trừ

khi các dòng thể tích cũng gây ảnh hưởng tỷ

trọng làm cho kết quả sai lệch Lý tưởng

nhất là chất đánh dấu nên đua vào trong một

vùng rộng nhờ các quá trình pha loãng ban

đầu và sau đó sự pha loãng ban đầu được bỏ

qua Tuy vậy có thể sử dụng các nguồn

điểm để có một ước tính “ bảo thủ” vé sự tập

trung tối đa nước thải sau khi khuyếch tán

Mẻ đã thả của chất nhuộm mầu hay các

chất đồng vị phóng xạ có thể theo dõi tốt

nhất bằng một tàu luôn luôn đi sát chúng và

cắt qua tuyến này theo các khoảng thời gian

đều nhau, ghi lại nồng độ chất đánh dấu

là phương pháp để dùng trong đánh dấu bằng vi khuẩn do cần một trình tự thí nghiệm dài trước khi xác định được số lượng có mặt của nhiều vi khuẩn

Dễ dàng thực hiện do đạc nồng độ chất nhuộm màu hoặc các mức phóng xạ tại mọi

độ sâu bằng cách thả đầu dò hoặc lấy các mẫu nước thử lên Một cách khác, hệ thống nhiều tầng do tầu kéo có thể cho đồng thời

số đo nồng độ chất nhuộm mầu và mức phóng xạ tại nhiêu độ sâu.Việc lấy mẫu thử

vi khuẩn có thể lấy ở một độ sâu, nhưng hết sức cẩn thận đê tránh bị nhiễm bẩn Một chai đã khử trùng và đóng kín được hạ xuống độ sâu yêu cầu, mở ra để lấy mẫu và đóng kín lại, tránh không cho nước ra vào chai khi kéo lên

Mặc dù rất nhiều nghiên cứu vể chuyên động của nước đã được thực hiện và báo

Ccáo, nhưng hiện tại chưa đủ s ố liệu để cho một mô hình chi tiết về sự pha trộn của nước trong khu vực bờ, cũng như chi tiết

Trang 34

hơn về sự khuyếch tán và pha trộn chất thái,

điều này đã cản trở việc chuyển giao và áp

dụng các kết quá khảo sát Cũng không đủ

thông tin đê định nghĩa chính xác vai trò

của các thông số vật lý khác nhau khi xác

định mức độ pha trộn Điều này, cho thấy

cấn phải tiếp tục thực hiện những nghiên

cứu hiện trường cụ thể, đặc biệt trong các

khu vực có độ sâu và chế độ dòng chảy

phức tạp

I Ị 3.2 Các chất đánh dấu tự nhiên

Các chất đánh dấu gọi là tự nhiên hoặc

tồn tại bình thường nếu tìm thấy chúng tại

một khu vực trước khi thực hiện bất kỳ giai

đoạn khảo sát hiện trường hoặc thi công

mới nào Ví dụ, một con sông đổ vào khu

vực sẽ tạo ra một phân bố độ mặn riêng và

bằng cách dùng một đồng hồ đo độ mặn

hiện trường có thể nhanh chóng phát hiện ra

sự lan toả của nước ngọt Nước thải từ các

công trình hiện có chứa những nguyên tố

mà sự phân bố lại chúng có thể dùng làm

chỉ số của các thành phẩn chuyển động

nước cục bộ Cũng có thể đánh giá các

thành phần phân bò độ đục, silica, ôxy hoà

tan hoặc sự phàn bố của các yếu tố sinh học

nào đó, ví dụ như các loài sinh vật trôi nổi,

trứng cá hoặc vi khuẩn

Chất thải sinh hoạt là một ví dụ về thoát

nước thải được kiểm soát, quá trình này có

thể được quan trắc để chứng minh các kiểu

phân tán hiện tại hoặc đánh giá khả năng

nhận nước cho các dòng xả khác Tuy

nhiên, có nhiều khó khăn trong việc chọn

chi số Nhu cầu ôxy hoá, nồng độ ôxy hoà

tan và chất dinh dưỡng, ví dụ nồng độ nitơ

hay phốt pho được coi như các chất đánh

dấu, như một sự khái quát hoá, một chỉ số

về vi khuẩn như Escherichia coli, dường như thích hợp nhất cho vùng ôn đới Sinh vật E Coli là các sinh vật cư trú tự nhiên trong ruột và có mặt với sô' lượng lớn trong nước thải sinh hoạt, khoảng 106 sinh vật/1 mililit nước thải chưa xử lý là con số điển hình ở Anh quốc Thật không may là E Coli không phải là chất xác định đặc thù trong một dòng chảy riêng biệt vì nó có thể chảy ra biển qua sông ngòi, chim biển, người tắm, từ các tàu qua lại và nước xả

do bão

Dòng chảy của nguồn nước thải nóng như nước làm mát từ nhà máy nhiệt điện có thể là chỉ số có ích của chuyên động nước cục bộ và dễ dàng quan trắc được tại các độ sâu khác nhau nhờ thiết bị trên tàu Có thể xác định sự phân bố nhiệt độ của nước bề mặt từ không khí khi sử dụng hình ảnh nhiệt Tuy nhiên, sự thay đổi kích thước của lan toả nhiệt phụ thuộc vào sự khác nhau giữa nhiệt độ nước xả và chung quanh, cũng như sự pha trộn vật lý và chuyển động trong nước, do đó không phù hợp đê sử dụng trong mô hình hoá nước thải khống nóng

I ] 3.3 Đánh dấu hằng chất nhuộm mầu

Việc dùng một tác nhân tạo mầu để đánh dấu nước biến sẽ đạt được yêu cầu lý tưởng cho một chất đánh dấu chuyển động của nước và trong thực tế kỹ thuật này có nhiều

ưu điểm Trường hợp đơn giản nhất chất nhuộm, màu dùng làm chất đánh dấu có thể nhìn được chuyển động nước bề mặt theo cách tương tự như các phao bề mặt mà không bị cản trở của gió Các tác nhân tạo mầu đơn giản như các chất nhuộm mầu thực vật, mực thậm chí sơn nhũ tương cũng có thể thả xuống biển, đánh dấu bằng cách ghi

Trang 35

lại vị trí của điểm ở giữa hoặc chu vi tại các

khoảng cách đều Việc tìm dấu vết chất

nhuộm mầu bằng nhìn có thể thực hiện trên

một số vết tại mọi thời điểm Phương pháp

này không cho chỉ dẫn về sự pha trộn theo

phương đứng, mà chỉ sử dụng khi vết này có

thể nhìn thấy và điều này sẽ bị thay đổi nhiều

theo áp suất khí quyển, các điều kiện trạng

thái của biển cũng như mức độ phân tán

Các ảnh chụp trên không có thể giúp

nhiều trong định vị trục của khu tập trung

chất nhuộm màu nhiều nhất, là một số liệu

lâu dài về phạm vi nhìn thấy được của chất

nhuộm mầu

Có thể thu được nhiều thông tin hơn từ

việc tìm dấu vết này nếu như nồng độ chất

nhuộm màu định lượng được Có thể dùng

máy so màu để đo độ sâu của màu trong

nước chảy qua dụng cụ trên tàu kháo sát, do

đó cho hình ảnh pha loãng chất nhuộm màu

liên tục Tuy vậy nếu sử dụng chất nhuộm

mầu hoặc chất đánh dấu huỳnh quang thì

huỳnh quang kế có hiệu quả hơn, có thể cho

độ chính xác cao khi nồng độ thấp so với đo

màu trực tiếp

Nói chung, huỳnh quang kế được sử

dụng trong nghiên cứu tìm dấu vết chất

nhuộm mầu, dùng lọc quang học đê giảm sô

đo huỳnh quang của các vật liệu không phải

là chất đánh dấu đã được lựa chọn, nhưng

nếu huỳnh quang của các vật liệu trong

nước nằm trong dải sóng của máy lọc thì

không thể loại bỏ được và gọi là mức nền

Mức này nằm trong vùng có một phần huỳnh

quang tương đương trong 109 đến 10" phần

nước, thay đổi theo bản chất hoá học và vật

lý của nước và với dải sóng mà tại đó chất

nhuộm mầu hấp thụ và phát sáng Các đặc

trưng của chất nhuộm mầu có thể hạn chê mức trên cùa phép do nồng độ chất nhuộm mầu bằng việc đo dòng huỳnh quang trực tiếp và chi xác định chính xác được nếu mẫu thử pha loãng đầu tiên, do đó loại bỏ được tác dụng của dòng trực tiếp

Tính huỳnh quang của các chất nhuộm màu khác nhau phu thuộc vào nhiệt độ, độ mặn hoặc độ pH, phải hết sức thận trọng khi chọn chất nhuộm mầu Mót vài chất nhuộm mầu như fluorescein, có nhược điểm dẻ suy giảm tính quang hoá, trong khi chất khác như rhodamine B dễ bị các hạt phù sa và chất lơ lửng hấp thụ Cần xét đến thành phần hoá học của chất nhuộm màu gây nguy hiểm cho khai thác và tác hại cho môi trường Có thể tham khảo kết quá thử nhiều chất nhuộm mầu huỳnh quang trong (5).Lượng chất nhuộm mầu sẽ thả được xác định bời những yếu tố khác nhau như giới hạn trên và dưới về khả năng nhận biết, mức pha loãng dự tính, ảnh hưởng của chính các dòng cháy và trạng thái biển, khoảng thời gian tìm dấu vết dư tính Ví dụ như, 2 đến 3

kg đủ cho các thực nghiệm ven bờ ngắn hạn

về pha loãng ngay sau khi thả, trong khi đã dùng 5000 kg ò' trung tàm Biển Bắc kéo dài trong 23 ngày (6)

11.3.4 Các clưít đánh dâu phóng xụ

Trình tự kháo sát đồng vị phóng xạ tuân theo cách tương tự như các chất đánh dấu huỳnh quang, trong đó một lượng thả khống chế được theo dõi bằng các đo đạc hiện trường sứ dụng những đầu dò phóng xạ nhậy, hoạt động trực tiếp trong nước biển Các số liệu có thể thực hiện dễ dàng và nhanh chóng trên mặt phẳng đứng bằng

Trang 36

cách hạ thấp đầu dò ghi số đếm tổng cộng

đối với cột nước hay dừng dầu dò tại các độ

sâu trung gian để ghi các mức phóng xạ

Các chất đồng vị phóng xạ là chất đánh

dấu không bảo toàn, tức là nồng độ giảm

theo thời gian thậm chí khi không có bất kỳ

ảnh hưởng pha loãng nào Các số đo sau khi

thả phải được điều chinh bằng hệ sô' phân rã

nhằm tách rời việc giảm mức phóng xạ bởi

sự pha loãng vật lý Sự an toàn, tính thực

hành cùng với mục đích nghiên cứu sẽ

quyết định lượng chất đồng vị được thả

Phải chọn các chất đồng vị với chu kỳ bán

rã ngắn, nếu các thực nghiệm phải lặp lại

nhiều lần trong những khoảng thời gian đều

nhau ở một khu vực, nếu khác đi thì sẽ gây

ra tích tụ và ô nhiễm Một chất đồng vị hoà

tan trong nước tiêu biểu được sử dụng ở các

nghiên cứu phân rã ngắn hạn là Bromine-

82, có chu kỳ bán rã là 36 giờ Các chất

đồng vị khác như G old-198 với chu kỳ bán

rã 2,7 ngày, Phosphor -32 chu kỳ bán rã là

14,5 ngày, Silver -110 chu kỳ bán rã 253

ngày, dược dùng trong các nghiên cứu

dài hơn

Khi dùng chất phóng xạ phải đặc biệt

thận trọng và tuân theo đúng quy định, các

nghiên cứu chất đánh dấu phóng xạ phải

được người đã qua đào tạo, có kinh nghiệm

giám sát

11.3.5 Chất đánh dấu vi khuẩn

Vi khuẩn thêm vào được dùng có hiệu

quả như những chất đánh dấu rất nhậy

chuyển động của nước vì các sinh vật đơn lẻ

có thể thu hồi từ mẫu nước sau khi đã pha

thật loãng Khi kiểm tra trong phòng thí

nghiệm có thể tcãng độ nhậy của kỹ thuật

này bằng cách dùng màng lọc, nó cho phép kiểm tra khối lượng mẫu thử khá lớn

Việc cấy các vi khuẩn đánh dấu được dùng để mô hình hoá ứng xử của những sinh vật xảy ra tự nhiên, theo ý nghĩa đó chúng được sử dụng có kết quả trong nghiên cứu nước thải hoặc dự kiến thải của nước sinh hoạt Vi khuẩn trong ruột E Coli thường xem là một dấu hiệu do ô nhiễm nước thải sinh hoạt và sự có mặt của những

vi khuẩn có hại (gây bệnh) như loài Salomonella E Coli có tỷ lệ chết tăng rất nhanh trong nước biển, điều này cùng với thực tế pha trộn mạnh mể xung quanh bờ biển nước Anh, nó giải thích một phần tại sao Anh quốc không bị vây quanh bởi một biển nước thải Tỷ lệ chết được biểu diễn bằng thời gian để 90% vi khuẩn gốc chết và gọi là trị số t90 Thời gian này phụ thuộc vào nhiều yếu tố cục bộ gồm độ dài thời gian mà các vi khuẩn ở biển, nhưng dường như cường độ và lượng bức xạ mặt trời là quan trọng nhất Các trị số t90 đo trọng nước sạch vừa phải trong khoảng từ 1,5 giờ đến9,0 giờ và trị số t90 của 4 giờ thường được lấy làm giá trị tổng quát đối với số giờ chiếu sáng Trong vùng nước đục giá trị t90 = 40 giờ có thể thích hợp hơn

Như đã lưu ý trong 11.3.2, E Coli không thể dùng làm vật nhận dạng đặc trưng đối với các dòng chảy chất thải đang tồn tại, vì

nó không chỉ ra nguồn của chất được thu hồi Do đó người ta muốn một sinh vật dễ chỉ định, vô hại và không nguy hiểm, không bản địa của khu vực, tốt nhất là có đặc tính chết tương tự như của E Coli Các vi khuẩn Serratia indica và Serratia marcescens với t90 lớn hơn của E Coli khoảng 50% đến 100%

Trang 37

đã được sử dụng làm chất đánh dấu Serratia

là các vi khuẩn hoại sinh, có sắc tổ sản sinh

ra các cụm màu đỏ nhạt có thể dễ dàng đếm

được

Có thể cấy Serratia ở mẻ thả lẫn trong

một lượng cơ bản lâu dài cho dòng xả liên

tụcvà số lượng cơ bản vi khuẩn chuẩn bị để

thả là 10l2/lít Các bào tử của các loại

Bacilus subtilis khác nhau được dùng trong

những thí nghiệm dài hạn cùng với đồng vị

phóng xạ Bromine - 82 Tuy nhiên, cần chú

ý rằng các bào tử có thế được phát hiện

trong những nồng độ thấp hơn là bromine vì

phương pháp vi khuẩn có độ nhạy cao hơn

Nhiều nghiên cứu về chuyên động của

nước tiến hành với các thể thực khuẩn, virut

lây nhiễm đã thành công tốt đẹp Bất kỳ loài

thực khuẩn cụ thể nào cũng chỉ hoạt động

trên một loài vi khuẩn hoặc các loài có liên

quan rất gần, trạng thái ký sinh này tạo nên

các cơ sở để kiểm tra những mẫu thử trong

phòng Ví dụ một loài thực khuẩn đặc trưng

cho loài Aerobacter aerogenes với tọo vào

khoảng 15 ngày đã được sử dụng rất tốt

trong các khu vực cửa sông đổ nghiên cứu

sự pha trộn của hai hệ thống sông nhằm

định vị trí thích hợp cho xả nước thải sinh

hoạt [7],

Nhược điểm chính của chất đánh dấu

bằng vi khuẩn là khía cạnh thực hành của

công tác khảo sát Vì thế cần lấy các mẫu

thử nước riêng biệt, trừ khi chất đánh dấu

thứ hai được sử dụng đồng thời ngoài ra

khỏng có chỉ dẫn cụ thể nào về việc mẫu

thử có chứa chất đánh dấu bằng vi khuẩn

hay không Cần thận trọng trong quá trình

lấy mẫu, chuyển mẫu và kiểm nghiệm mẫu

để tránh nhiễm bẩn, cần phòng thí nghiệm

phù hợp cùng với các cán bộ có đào tạo về

vi sinh vật Luôn có một khoảng thích hợp giữa thời gian lấy mẫu và khi có kết quả, điều này kém hơn so với theo dõi dấu vết nhanh bằng chất nhuộm mầu và phóng xạ

Ví dụ như, kết quả kiểm tra E Coli có thể sau 18 giờ và đối với s.indica có sau khoảng 44 giờ Mặc dù có nhược điếm nhận kết quả chậm , nhưng các ưu điểm của vi khuẩn mô hình với một chất đánh dấu có tính chất tương tự là không thể bác bỏ

hiện trường

Việc thu thập số liệu cần nhiều thời gian

và chi phí lớn Điều quan trọng là phương pháp giải thích cần được xem xét trong thiết

kế công tác hiện trường, tránh tiêu phí thời gian và tiền vào các số liệu không cần thiết hoặc không thích hợp Đặc biệt là cần xem xét phương pháp định vị trí (xem 6.3) và độ chính xác của nó liên quan đến các yèu cầu của phương pháp tìm dấu Việc giải thích số liệu có thể từ các kiểm tra trực giác một vài kết quả đến các tính toán phức tạp một lượng thông tin lớn Khi xem xét phương pháp trình bày số liêu và khi giải thích cần nhớ rõ hướnq và mục tiêu cuối cùng của việc nghiên cứu

Bản đồ đóng vai trò chính trong việc trình bày các thông tin vể chuyển dộng của nước, bất kể dùng phương pháp định vị dấu vết nào Ở mức đon giản nhất, bản đồ sẽ chỉ cho ta thấy các vị trí do đạc Việc trình bày lại các số liệu đo được dưới dạng hình vẽ có thể là một bổ sung cần thiết, chẳng hạn như biểu đồ phân tán hay véctơ trung tâm cho các quan trắc dòng chảy hoặc một bản ghi nồng độ chất đánh dấu Rõ ràng là bản đồ

Trang 38

khống thể thiếu đế trình bày các số liệu như

đường đi của các phao hoặc thể hiện đường

đi của tàu cắt qua chất nhuộm mầu Nhiều

sô đọc điểm vẽ thành đưòng đồng mức để

thê hiện tính đồng dạng, các xu hướng và nó

là một kỹ thuật có ích để thảo luận về các

mức phóng xạ hoặc số đếm vi khuẩn Bản

đồ tổng họp biểu diễn chuyến động của

nước đã tìm thấy trong khảo sát, có thể giúp

hiểu được chế độ dòng chảy của khu vực

Thông tin bổ sung về các điều kiện môi

trường thay đổi khác như trạng thái biển, gió,

mức thuỷ triều cần phải luôn sẵn có để tham

chiếu

12 Sóng

Vấn đề chịu sóng có ảnh hưởng sâu sắc

đến việc chọn các vị trí cho công trình biển,

khi xem xét thiết kế và các phương pháp thi

công đòi hoi kiến thức và hiêủ biết chi tiết

về hoạt động, thời gian duy trì của sóng

trong những điều kiện trung bình cũng như

cực trị

Chương bốn sẽ xem xét chi tiết về dạng,

sự hình thành,số liệu, phân tích và dự báo

sóng

13 Chát lượng nước

13.1 Khái quát

Tương tác giữa chất lượng nước và công

trình biển eó thể xem xét theo hai quan

điểm trái ngược nhau Cần đánh giá ảnh

hưởng của chất lượng nước đối với sự an

toàn và sự làm việc hiệu quả của công trình,

điều này cần phải thu thập các số liệu có lợi

về nhiệt độ, các nguyên tố ăn mòn, các chất

rắn lơ lửng, sự phát triển của các sinh vật

biển , nhưng cũng cần xem xét ảnh hưởng của công trình đối với chất lượng nước và các đặc điểm khác của mỏi truờng xung quanh Điều này đặc biệt quan trọng khi quyết định các phương pháp thl công, nguồn vật liệu, các chi tiết khai thác Hơn nữa, nước bao quanh công trình ven bờ có tầm quan trọng đáng kể về kinh tế cần xem xét các ảnh hưởng của công trình đến nguồn

cá, tôm cua, nguồn nước sạch, hoặc khai thác khoáng sản và các hoạt động vui chơi giải trí

13.2 N hiệt độ 13.2.1 Klìái quát

Nói chưng trong các khu vực ven bờ nhiệt độ biến thiên theo mùa rõ rệt, mặc dù suốt năm cột nước có khuynh hướng đẳng nhiệt do quá trình chảy rối mạnh Tuy nhiên, trong các khu vực có nguồn nước thải nóng, trong các cửa sông có nguồn xả nước ngọt cao, có thể có sự phân tầng mạnh

Sự biến thiên nhiệt độ có các ảnh hưởngsau:

(a) Đóng băng: khi nhiệt độ nước xuống

dưới - 2°c thì biển đóng băng, nó trở thành

một khó khăn Tuy nhiên, các khối báng nổi hình thành tại các nơi khác có thể chưa tan khi nước ấm lên đáng kể Khi xét đến sự đóng băng trên một kết cấu, thì sức gió và nhiệt độ không khí có tầm quan trọng hàng đầu; tuy nhiên sự đóng băng ít xảy ra khi nhiệt độ thấp nhất của mặt biển hạ xuống

dưới 6°c.

(b) Sự ăn mòn: nhiệt độ cao hơn có thể làm tăng mức độ hình thành ôxít sắt và có ảnh hưởng lớn đến ăn mòn vi khuẩn

Trang 39

(c) Sự phát triển sinh vật biển: mức độ

phát triển lớp vỏ trên công trình và các loài

sinh vật có mặt phụ thuộc vào nhiệt độ môi

trường, nhiệt độ cao hơn sẽ phát triển mạnh

mẽ hơn

(d) Sự phân tán nước thải: tỷ trọng nước

biển là một hàm của nhiệt độ và độ mặn của

nó, là thông số cơ bản cần xét đến khi mô

hình hoá ứng xử của nước thải ngay sau

khi thải

13.2.2 Cách đo

Các ứng dụng khác nhau đòi hỏi các

phương pháp đo khác nhau Có thể xác định

sự thay đổi nhiệt độ bề mặt trên một vùng

rộng bằng cách dùng kỹ thuật tia hồng

ngoại từ máy bay hoặc vệ tinh Có thể quan

trắc sự thay đổi tại một điểm bằng cách so

sánh sự qua lại nhiều lần của các thiết bị

viễn thám Trên quy mô nhỏ hơn hoặc khi

yêu cầu các mặt cắt theo độ sâu, tiến hành

đo đạc liên tục hoặc lặp lại bằng cách dùng

các bộ cảm biến nhiệt như nhiệt kế, bầu

điện trở, cặp nhiệt điện và nhiệt kế bình

thủy ngân

13.3 Hoá học

Thành phần của nước cần được xác định

trong giai đoạn đầu khi khảo sát mặt bằng

và đặc biệt chú ý đến các nguyên tố có thế

năng ãn mòn như các ion chloride và

sulphate (xem 49.12) Nước ven bờ nói

chung bão hoà oxy hoàn toàn trên bề mặt,

nhưng nếu có sự hoà trộn nhỏ theo phương

đứng thì lượng ôxy sẽ giảm theo độ sâu

Trong các điều kiện thông thường sự giảm

này sẽ không có tác dụng đáng kể cho đến

khi đạt điều kiện kỵ khí, nhưng phải xét đến

sự phân bô cục bộ và các thay đổi theo mùa khi định vị các cửa cống xà nước thải để có thể hoạt dộng như những chất khử

Các thông số hoá học quan trọng thường được phân tích trực tiếp hoặc do bằng các điện cực ion chọn lọc ở hiện trường, hoặc từ các mẫu được lây và bảo quản đặc biệt trong phòng thí nghiệm

13.4 Độ đục

Nói chung, độ đục gây bởi các hạt sét hoặc bùn lơ lửng, các chất hữu cơ và vi sinh vật phân tán Nhiệt độ nước thấp hơn sẽ làm tăng lượng bùn cát được vận chuyển ơ dạng

lơ lửng do sự thay đoi độ nhớt

Cần xét đến độ đục trong thiết kế bể cảng với sự tham chiếu đặc biệt đến các nghiên cứu về chuyển động bùn cát, hoá bùn và khi lấy nước cho các mục đích thương mại, đặc biệt khi xét đến việc đi qua máy bơm Nói chung, độ đục thay đổi nhanh nhất trong các hoạt lộng nạo vét, do

đó cần phải tính đến những hậu quả khi lập

kế hoạch công tác chuẩn bị hiện trường và nạo vét duy tu Các hỗn hợo cát mịn và bùn với các vật chất hữu cơ có xu hướng hỗ trợ

sự thay đổi và số lượng ánh vật đáy (có nghĩa là sống dưới đáy biển) lớn hơn so với cát hạt to, sạch, không ổn định, sỏi hoặc bùn nhão, vì thế nạo vét trcng cát bùn sẽ có tác động sinh thái lớn hơn Cũng cần xem xét chi tiết khu vực chứa bùn thải , không chỉ vì nhược điểm về mặt kinh tế của sự phân tán với khả năng bồi ắng trở lại vùng

đã nạo vét, mà còn vì klả năng gây tác dụng có hại đến hệ thực vật và hệ động vật

cư trú

Trang 40

13.5 S in h vật biển

13.5.1 Cúc ảnh hưởng của sinh vật biển

đôl với công trình

Nhiều dạng sinh vật biến như tảo,

nhuyễn thể, giáp xác và các loài khác bản

thân chúng sẽ bám vào công trình biển Các

sinh vật này có thể gây ra lấp cửa lấy nước

và ống xả, làm tăng ứng suất cơ học (xem

47.2.2), tăng tốc độ thoái hoá, làm chậm

dòng chảy, hoặc ngăn cản việc kiểm tra cho

mục đích duy tu và kiểm định (8) Các

phương pháp khống chế sự phát triển của

sinh vật biển bao gồm việc sử dụng sơn

chống gỉ, lấy đi bằng cơ học, cào tay hoặc

phun nước hay khí Các loài bám trên bề

mặt công trình có các bộ phận bằng gỗ cũng

bị ảnh hưởng bởi các sinh vật đục khoét

(xem 60.2) Sự có mặt của các loài nhuyễn

thể trên bề mặt kết cấu thép có thể ngăn cản

sự ăn mòn và sự loại bỏ chúng không phải

luôn luôn có lợi (xem 68.1)

13.5.2 Các ảnh hưởng cùa công trình

biển đối với sinh vật biển

Công trình xây dựng nối với bờ có thê

tạo ra sự biến đổi lâu dài trong môi trường

biển, nhưng hầu như trong mọi trường hợp

các khía cạnh ô nhiễm đáng kể của các

công trình này là ngắn hạn, được hạn chế

trong những hoạt động xây dựng và lắp đặt

Khả năng gây ô nhiễm nghiêm trọng hơn

kết hợp với các công trình, nói chung xuất

phát từ việc sử dụng và khai thác chúng hơn

là sự có mặt của chúng trong môi trường

biển (9)

Nếu một dự án phát triển lớn đã được

hoạch định thì tiếp đó cần phải đánh giá tác

động môi trường, gồm các ảnh hưởng môi

trường đến vấn đề xã hội và kinh tế của sự

phát triển Các phương pháp đánh giá ảnh hưởng này vẫn hoàn toàn sơ bộ, hầu hết dùng các phán xét về mặt giá trị Chi tiết về các phương pháp này cần tham khảo những tài liệu chuyên đề [ 10,11 ]

13.6 Ỏ nhiễm 13.6.1 Khái quát

Nếu có một dòng xả chứa nhiều chất gây

ô nhiễm từ một công trình biển, hoặc trong quá trình khai thác bình thường hoặc do các

sự cố, thì phải thực hiện khảo sát tuyến cơ bản để xác định những điều kiện trước khi

xả và đặt ra một chương trình quan trắc xác định các thay đổi trong môi trường khi xả Nói chung, các khảo sát tuyến cơ bản gồm các số liệu về môi trường vật lý, các phân tích dể xác định mức độ của hoá chất đặc biệt đang tồn tại trong bùn cát, nước, không khí và các sinh vật biển Chương trình quan trắc có thể lặp lại các phân tích giống nhau theo các khoảng thời gian đều nhau, hoặc theo những diễn biến cụ thể gây ra các thay đổi như dầu tràn do tai nạn

13.6.2 Ví dụ về cúc nguồn xả

13.6.2.1 DầuLượng dầu tràn khi khai thác có thể giảm thiểu bằng cách luôn cẩn thận, đặc biệt huấn luyện cho những người có trách nhiệm Trong trường hợp có dầu tràn do sự cố, nhà chức trách có trách nhiệm duy trì dự trữ đầy đủ các thiết bị làm sạch và có hiểu biết chi tiết về chuyển đông của nước trong khu vưc đế triển khai có hiệu quả nhân, vật lực

13.6.2.2 Chất thải thương mạiCác nguồn xả này và ảnh hưởng của chúng đến môi trường cần được quan trắc và giữ sự ô nhiễm ở một mức chấp nhận được

Ngày đăng: 02/11/2016, 00:23

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Admiralty tide tables, pub. annually, 1, 2 and 3.The Hydrographer of the Navy, Taunton Sách, tạp chí
Tiêu đề: Admiralty tide tables
3. Admiralty sailing directions, Pilots series, (NP 1-73). The Hydrographer of the Navy, Taunton Sách, tạp chí
Tiêu đề: Admiralty sailing directions, Pilots series
4. Atlases of-tides and tidal streams, (NP 213 and 214). The Hydrographer of the Navy, Taunton Sách, tạp chí
Tiêu đề: Atlases of-tides and tidal streams
9. Joint Group of Experts on Scientific Aspects of Marine Pollution (GESAMP). Reports and Studies No. 7.IM CO/F AO/U NESCO/W M O/WH 0/1AE A AJ N Sách, tạp chí
Tiêu đề: Reports and Studies No
10. LEOPOLD, L.B.et al. A procedure for evaluating environmental impact. In: Geological Survey Circular 645, 1971, Government Printing Office, Washington DC, USA Sách, tạp chí
Tiêu đề: Geological Survey Circular
11. CATLOW, J. &amp; THIRLWALL. C.G. Environmental impact analysis, Department of the Environment, HMSO, London, 1976 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Environmental impact analysis
12. Manual of methods in aquatic environment research, Part 2. Guidelines for the use of biological accumulators in marine pollution monitoring. In: F AO Fish Tech, paper (150), 1976. PORTMANN, J.E.ed Sách, tạp chí
Tiêu đề: F AO Fish Tech
13. WHITE, W.R.et al. Sediment transport theories: a review. Paper 7783 In: Proc. Inst. Civ. Eng. Part 2, June 1975 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Proc. Inst. Civ. Eng
14. LEAN, G. H. Estimation o f maintenance dredging fo r navigation channels, 1980. Hydraulics Research Station, Wallingford Sách, tạp chí
Tiêu đề: Estimation o f maintenance dredging fo r navigation channels
15. THORN. M.F.C. Physical processes of situation in tidal channels, In: Proc. C onf 'Hydraulic modelling applied to maritime engineering problems'. I.C.E., London,1981 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Proc. C onf 'Hydraulic modelling applied to maritime engineering problems'
16. U.S. ARMY CORPS OF ENGINEERS. Shore Protection Manual, 1977, I, II and III. Coastal Engineering Research Centre, USA Sách, tạp chí
Tiêu đề: Shore Protection Manual
17. LLOYD'S REGISTER OF SHIPPING. Register o f ships, published annually, London Sách, tạp chí
Tiêu đề: Register o f ships
18. NATIONAL PORTS COUNCIL. Port approach design - A survey o f ship behaviour studies, 1975, 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: A survey o f ship behaviour studies
19. NATIONAL PORTS COUNCIL, Ship behaviour in ports and their approaches. Part 1 - Bow and stern sinkages cause by interaction between passing ships, Jan IQHO.Part 2 - Additional sinkage caused by sailing in the proximity o f a channel bank, August 1980 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ship behaviour in ports and their approaches. Part 1 - Bow and stern sinkages cause by interaction between passing ships, Jan IQHO. Part 2 - Additional sinkage caused by sailing in the proximity o f a channel bank
23. ABERNETHY, C.L. &amp; GILBERT, G. Refraction of wave spectra. In: Hydraulics Research Station, R eport. I NT 117.1975 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hydraulics Research Station, R eport. I NT 117
25. JENSEN,O.J.&amp; SORENSEN, T. Overspilling and overtopping on rubble mound breakwaters. In: Coastal Engineering, 1979, 3, 51 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Coastal
27. ROWE, P.W. The relevance of soil fabric to site investigation practice. In\ Geotechnique. 1972,22 (2), 193-300 Sách, tạp chí
Tiêu đề: \ Geotechnique
32. V arious authors, Ground treatm ent by deep com paction, Inst,Civ. Eng , London, 1976 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ground treatm ent by deep com paction
34. ROW E,P.S. Failure of foundations and slopes on layered deposits in relation to site investigation practice. In: Proc. inst. Civ. Eng , supplem entary paper No. 7057S, 1968 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Proc. inst. Civ. Eng , supplem entary paperNo. 7057S
35. BJERRUM.L. and EIDE, O. Stability of strutted excavations in clay. In: Geotechnique, 1956, 6 (1), 32-47 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Geotechnique

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 3: Các chuyển (ỈỘIUỊ tlìẳiuỊ dứm&gt; nia tầu do sóng irontỊ nước sâu - Công trình biển  các tiêu chí chung  chỉ dẫn quy hoạch   thiết kế   thi công  người dịch nguyễn hữu đẩu
Hình 3 Các chuyển (ỈỘIUỊ tlìẳiuỊ dứm&gt; nia tầu do sóng irontỊ nước sâu (Trang 55)
Hình 11: ịtiếp theo) - Công trình biển  các tiêu chí chung  chỉ dẫn quy hoạch   thiết kế   thi công  người dịch nguyễn hữu đẩu
Hình 11 ịtiếp theo) (Trang 75)
Hình 11: (tiếp theo) - Công trình biển  các tiêu chí chung  chỉ dẫn quy hoạch   thiết kế   thi công  người dịch nguyễn hữu đẩu
Hình 11 (tiếp theo) (Trang 76)
Hình  14: Biên dổi - Công trình biển  các tiêu chí chung  chỉ dẫn quy hoạch   thiết kế   thi công  người dịch nguyễn hữu đẩu
nh 14: Biên dổi (Trang 94)
Hình  18:  C á c   h ệ   s ố  c ư ờ n g   độ  n h iễ u ,  x ạ   s ó n g   c h o   c á c   c ử a   mỏ đê  c h ắ n   sóng hẹp - Công trình biển  các tiêu chí chung  chỉ dẫn quy hoạch   thiết kế   thi công  người dịch nguyễn hữu đẩu
nh 18: C á c h ệ s ố c ư ờ n g độ n h iễ u , x ạ s ó n g c h o c á c c ử a mỏ đê c h ắ n sóng hẹp (Trang 104)
Hình  2 2 :   S ự  p h â n   h ố  ú p   tự c   s ó n g   t ụ i   c á c   tư ờ n g  p h ả n   .xạ  c h o   s ó n g   k h ô n g   v ỡ - Công trình biển  các tiêu chí chung  chỉ dẫn quy hoạch   thiết kế   thi công  người dịch nguyễn hữu đẩu
nh 2 2 : S ự p h â n h ố ú p tự c s ó n g t ụ i c á c tư ờ n g p h ả n .xạ c h o s ó n g k h ô n g v ỡ (Trang 128)
Hình 27: Các hệ số lực gió cho cúc tầu clcíu - Công trình biển  các tiêu chí chung  chỉ dẫn quy hoạch   thiết kế   thi công  người dịch nguyễn hữu đẩu
Hình 27 Các hệ số lực gió cho cúc tầu clcíu (Trang 139)
Hình 29:  C á c   h ệ   s ố  h i ệ n   c h ỉ n h   c h i ể u   s â n   n ư ớ c   c h o   c ú c   lự c   d ò n g   c h ả y   n g a n g - Công trình biển  các tiêu chí chung  chỉ dẫn quy hoạch   thiết kế   thi công  người dịch nguyễn hữu đẩu
Hình 29 C á c h ệ s ố h i ệ n c h ỉ n h c h i ể u s â n n ư ớ c c h o c ú c lự c d ò n g c h ả y n g a n g (Trang 140)
Hình 32:  C ú c   c h i ê u   d à i   v à   n iớ n   n ư ớ c   d i ê n   h ìn h   c ủ a   c ú c   tầ u   d ầ u . - Công trình biển  các tiêu chí chung  chỉ dẫn quy hoạch   thiết kế   thi công  người dịch nguyễn hữu đẩu
Hình 32 C ú c c h i ê u d à i v à n iớ n n ư ớ c d i ê n h ìn h c ủ a c ú c tầ u d ầ u (Trang 141)
Hình  3 3 :   D i ệ n   t í c h   h ìn h   c h i ế u   d ọ c   đ i ể n   h ìn h   c ủ a   c á c   t ầ u   d ầ u . - Công trình biển  các tiêu chí chung  chỉ dẫn quy hoạch   thiết kế   thi công  người dịch nguyễn hữu đẩu
nh 3 3 : D i ệ n t í c h h ìn h c h i ế u d ọ c đ i ể n h ìn h c ủ a c á c t ầ u d ầ u (Trang 142)
Bảng  14- Tải  trọng do cần trục - Công trình biển  các tiêu chí chung  chỉ dẫn quy hoạch   thiết kế   thi công  người dịch nguyễn hữu đẩu
ng 14- Tải trọng do cần trục (Trang 148)
Hình 39:  C h i ê u   d à y   v à   k h ố i   l ư ợ n g   c ủ a   s i n h   v ậ t   h iể n   t r o n g  h ả i  p h ậ n   n ư ớ c   A n h - Công trình biển  các tiêu chí chung  chỉ dẫn quy hoạch   thiết kế   thi công  người dịch nguyễn hữu đẩu
Hình 39 C h i ê u d à y v à k h ố i l ư ợ n g c ủ a s i n h v ậ t h iể n t r o n g h ả i p h ậ n n ư ớ c A n h (Trang 152)
Hình 40:  V ị  trí  v ả   c h i ề u   s â u   c ù a   c á c   l ố   k h o a n   c h o   h ế n   h ệ   c ọ c - Công trình biển  các tiêu chí chung  chỉ dẫn quy hoạch   thiết kế   thi công  người dịch nguyễn hữu đẩu
Hình 40 V ị trí v ả c h i ề u s â u c ù a c á c l ố k h o a n c h o h ế n h ệ c ọ c (Trang 161)
Hình 66:  V ị   t r í   c ủ a   tư ờ n g   h o ặ c   n e o   b ả n   t r o n g   q u a n   h ệ   t ớ i   c ú c   m ậ t  p h ú   h o ạ i - Công trình biển  các tiêu chí chung  chỉ dẫn quy hoạch   thiết kế   thi công  người dịch nguyễn hữu đẩu
Hình 66 V ị t r í c ủ a tư ờ n g h o ặ c n e o b ả n t r o n g q u a n h ệ t ớ i c ú c m ậ t p h ú h o ạ i (Trang 199)
Hình 69:  C á c   k iể u  p h á   h o ạ i   c ù a   c á c   c lâ y   n e o   t r o n g   đ ủ - Công trình biển  các tiêu chí chung  chỉ dẫn quy hoạch   thiết kế   thi công  người dịch nguyễn hữu đẩu
Hình 69 C á c k iể u p h á h o ạ i c ù a c á c c lâ y n e o t r o n g đ ủ (Trang 200)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w