Chính vì vậy, luận án “Nghiên cứu cấu trúc quần xã san hô cứng và mối quan hệ với động vật đáy và cá rạn san hô ở các đảo Nam Yết, Thuyền Chài và Đá Nam thuộc quần đảo Trường Sa” được t
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
VIỆN NGHIÊN CỨU HẢI SẢN
==========
Nguyễn Đăng Ngải
NGHIÊN CỨU CẤU TRÚC QUẦN XÃ SAN HÔ CỨNG
VÀ MỐI QUAN HỆ VỚI ĐỘNG VẬT ĐÁY VÀ CÁ RẠN SAN HÔ
Ở CÁC ĐẢO NAM YẾT, THUYỀN CHÀI VÀ ĐÁ NAM
THUỘC QUẦN ĐẢO TRƯỜNG SA
Chuyên ngành: Thuỷ sinh vật học
Mã số: 62.42 01.08
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ SINH HỌC
Trang 2Công trình được hoàn thành tại VIỆN NGHIÊN CỨU HẢI SẢN
Số 224 Lê Lai, Ngô Quyền, Hải Phòng
Người hướng dẫn khoa học 1: TS Nguyễn Huy Yết
Người hướng dẫn khoa học 2: PGS.TS Đỗ Công Thung
Phản biện 1:
Phản biện 2:
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng đánh giá luận án cấp
Viện họp tại Viện Nghiên cứu Hải sản
Vào hồi:… giờ …… ngày … tháng …… năm 2014
Có thể tìm hiểu luận án tại:
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ
1 Ngai N.D Cu N.D, Tuyet D.A., 2013 Coral degradation and ability of rehabilitation of coral reefs in Co To archipelago, Quang Ninh provine, Vietnam Deep-Sea Research, Part II vol 96 Elsevier, p.50-55
2 Nguyễn Đăng Ngải, 2011 Sự đa dạng và các đặc trưng phân bố của giống san
hô cành (Acropora) vùng biển quần đảo Trường Sa Tuyển tập báo cáo Sinh học
và nguồn lợi sinh vật biển Hội nghị Khoa học và Công nghệ biển toàn quốc lần
V Trang 75-83
3 Nguyễn Đăng Ngải, 2011 Hiện trạng và xu thế của các rạn san hô khu vực Hạ Long, Cát Bà Tuyển tập báo cáo Sinh học và nguồn lợi sinh vật biển Hội nghị
KH và CN biển toàn quốc lần V Trang 217-224
4 Nguyễn Đăng Ngải, 2011 Khả năng ảnh hưởng của ô nhiễm dầu đến các rạn san hô ở một số khu vực ven biển Việt Nam Tạp chí Khoa học và Công nghệ biển, tập 11, số 2 ISSN 1859-3097.Tr 35-47
5 Suzanne Faxneld, Tove Lund Jörgensen, Nguyen Dang Ngai, Magnus Nyström, Michael Tedengren, 2011 Differences in physiological response to increased seawater temperature in nearshore and offshore corals in northern Vietnam Marine Environmental Research 71 (2011) p 225 – 233
6 Nguyễn Đăng Ngải, 2010 Ảnh hưởng của các yếu tố tự nhiên đến sự phân bố của san hô quần đảo Trường Sa NXB Khoa học Tự nhiên và Công nghệ ISBN 978-604-913-014-4, tr 144-149
7 Nguyễn Đăng Ngải, 2009 Sự suy thoái san hô Cù Lao Chàm, nguyên nhân và tác động Tạp chí khoa học và công nghệ biển ISSN 1859-3097 Tr 250-261
8 Nguyễn Đăng Ngải, 2009 Một số nét đặc trưng của quần xã san hô đảo Thuyền Chài, thuộc quần đảo Trường Sa, Khánh Hòa Tuyển tập Hội nghị khoa học toàn quốc về sinh học biển và phát triển bền vững NXB Khoa học Tự nhiên và Công nghệ Tr 123-130 ISBN 978.604.913.0076
9 Nguyễn Đăng Ngải (chủ biên), Hoàng Thị Hà, Đào Huy Giáp, 2008 San hô Vịnh Hạ Long Nhà xuất bản Giáo dục, 74 trang
10 Nguyễn Đăng Ngải, 2008 Đánh giá hiện trạng san hô và đề xuất thành lập khu bảo tồn biển quần đảo Trường Sa Tạp chí Biển Việt Nam, ISSN 1859-0233, số 11/2008, trang 11-18
11 Nguyễn Đăng Ngải, Nguyễn Huy Yết, 2007 Một số dẫn liệu mới về san hô tạo rạn tại đảo Tốc Tan, quần đảo Trường Sa Tài nguyên và Môi trường biển, tập XII NXB Khoa học và Kỹ thuật, tr.253-265
12 Nguyễn Đăng Ngải, 2007 Thành phần loài và sự phân bố của san hô tạo rạn tại đảo Đá Tây, quần đảo Trường Sa Tài nguyên và Môi trường biển, tập XII, NXB Khoa học và Kỹ thuật, tr.309-319
Trang 3Quần đảo Trường Sa nằm trên tuyến đường biển quốc tế quan trọng nối các nước Đông Á với các nước Đông Nam Á, châu Âu, Châu Phi và các nước vùng Vịnh Đồng thời, đây được coi là vị trí chiến lược, là cửa ngõ quan trọng của khu vực Đông Nam Á Vì vậy
Mỹ, Pháp, Nhật đã sử dụng một số đảo làm các căn cứ quân sự trong thế chiến thứ hai và chiến tranh Việt Nam Đến nay quần đảo này vẫn còn là nơi tranh cãi chủ quyền của nhiều quốc gia lân cận
Các nghiên cứu khoa học về quần đảo này cho thấy, Trường Sa rất giàu tài nguyên tự nhiên như phốt phát phân chim, nguồn lợi cá biển và tiềm năng dầu khí Đồng thời, được đánh giá là vùng có đa dạng sinh học biển cao nhất Việt Nam Có nhiều loài có giá trị kinh
tế cao và quí hiếm như rùa biển, cá heo, tôm hùm, trai tai tượng, ốc
tù và, san hô đen, san hô trúc đặc biệt có hệ sinh thái rạn san hô rất đặc trưng ở vùng biển này Rạn san hô bao phủ một lớp khá dày quanh các đảo và là nhân tố chính để hình thành nên các đảo ngày nay Một đặc trưng rất khác biệt của các rạn san hô ở khu vực này so với vùng ven bờ là có các rạn san hô vòng (atoll), một dạng rạn chỉ
có ở vùng biển khơi và hiếm gặp trên thế giới
Đã có một số nghiên cứu về tài nguyên, sinh vật và môi trường ở khu vực này, đặc biệt là sau khi đất nước được thống nhất (từ năm
1975 đến nay) điển hình là của Nguyễn Tiến Cảnh, Đỗ Văn Khương, Nguyễn Huy Yết, Đỗ Công Thung, Nguyễn Đăng Ngải, Võ Sĩ Tuấn Mặc dù vậy, do cách xa đất liền nên các nghiên cứu về tài nguyên sinh vật nói chung và hệ sinh thái rạn san hô ở quần đảo này
Trang 4kinh phí, phương tiện kỹ thuật và điều kiện khắc nghiệt của biển Các kết quả nghiên cứu trước đây mới chỉ tập trung vào nghiên cứu thành phần loài, phân bố, hình thái rạn và nguồn lợi sinh vật ở vùng nước nông quanh đảo nhưng đã giải quyết phần nào những vấn đề cấp bách cho việc điều tra các giá trị tài nguyên biển đảo nhằm định hướng phát triển kinh tế xã hội trong thời kỳ mới Tuy nhiên, còn nhiều vấn đề còn bỏ ngỏ như độ phủ của san hô, diện tích, khu hệ san
hô biển sâu, mối quan hệ giữa các nhóm loài trong khu hệ vẫn chưa
được quan tâm nghiên cứu Chính vì vậy, luận án “Nghiên cứu cấu
trúc quần xã san hô cứng và mối quan hệ với động vật đáy và cá rạn san hô ở các đảo Nam Yết, Thuyền Chài và Đá Nam thuộc quần đảo Trường Sa” được tiến hành nhằm góp phần giải quyết
những mục tiêu và nội dung cụ thể sau:
Mục tiêu nghiên cứu
- Đánh giá hiện trạng quần xã san hô cứng và các nguyên nhân ảnh hưởng đến phân bố của quần xã san hô tại các khu vực nghiên cứu
- Nghiên cứu ảnh hưởng của cấu trúc quần xã san hô đến phân bố của động vật đáy và cá rạn san hô
- Đề xuất các giải pháp quản lý và bảo vệ các rạn san hô
Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu sự đa dạng về thành phần loài san hô cứng và xác định chỉ số đa dạng làm cơ sở để so sánh mức độ đa dạng với các vùng khác
- Nghiên cứu sự phân bố, hình thái và độ phủ của rạn san hô, xác định những đặc trưng của rạn san hô ở khu vực nghiên cứu
- Điều tra mật độ và số lượng các nhóm sinh vật sống trên rạn san
hô (bao gồm cá rạn san hô và động vật đáy cỡ lớn) và nghiên cứu mối quan hệ giữa cấu trúc quần xã san hô và sự phân bố của các sinh vật tại các đảo nghiên cứu
- Đánh giá ảnh hưởng của các mối đe dọa từ tự nhiên và con người tác động đến rạn sự phát triển của rạn san hô
Trang 5- Nghiên cứu đề xuất các biện pháp quản lý hiệu quả các rạn san
hô
Ý nghĩa khoa học và tính mới của luận án
- Kết quả nghiên cứu của luận án này đã ghi nhận thêm 85 loài mới cho danh mục san hô cứng ở quần đảo Trường Sa và 15 loài cho danh mục san hô cứng biển Việt Nam, trong đó có nhiều loài sống ở
độ sâu lớn Đồng thời cũng cho thấy sự đa dạng của quần xã san hô cứng ở khu vực này không thua kém vùng trung tâm san hô thế giới (The Coral Triangle) gần kề
- Cung cấp các tư liệu mới về sự phân bố của san hô liên quan đến độ sâu và các đặc điểm để thích nghi trong điều kiện môi trường
có sóng và dòng chảy mạnh hoặc trong điều kiện thiếu ánh sáng, nước tĩnh
- Góp phần hoàn thiện nghiên cứu về cấu trúc rạn san hô vòng (atoll) và sinh cảnh trên các đồi ngầm trong và ngoài lagoon rất đặc trưng của quần đảo Trường Sa
- Làm sáng tỏ thêm mối quan hệ giữa cấu trúc quần xã san hô cứng với cá và động vật đáy, những rạn có các giống san hô cành chiếm ưu thế thì có số loài và mật độ của cá và động vật đáy cao hơn
so với những rạn không có nhóm san hô cành chiếm ưu thế
- Cung cấp thêm các số liệu mới về hiện trạng và diện tích rạn san
hô tại các đảo điều tra, đưa ra cảnh báo về các mối đe doạ đến sự phát triển của các rạn san hô trong tương lai Đồng thời các số liệu của luận án đóng góp thêm cơ sở khoa học cho việc lựa chọn khu bảo tồn biển Nam Yết và đề xuất thêm đảo Thuyền Chài với các đặc điểm đặc trưng có thể xây dựng thành khu bảo tồn biển
- Ngoài ra, luận án này còn góp phần giúp các độc giả có thêm những hiểu biết sâu hơn về hệ sinh thái rạn san hô ở các khu vực nghiên cứu nói riêng và ở Quần đảo Trường Sa nói chung, đồng thời chứng minh được rằng quần đảo Trường Sa đã được người Việt Nam nghiên cứu, góp phần khẳng định chủ quyền với quần đảo này
Trang 6CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu san hô trên thế giới
San hô cứng là đối tượng được quan tâm nghiên cứu từ rất sớm (khoảng thế kỷ 18) do chúng có thể tạo nên các rạn đá ngầm rất nguy hiểm cho tàu thuyền Các nghiên cứu về san hô phần lớn tập trung vào nghiên cứu về phân loại học Tuy nhiên sự biến dị phức tạp về loài đã dẫn đến việc công bố quá nhiều loài mới mà thực tế chỉ là sự khác nhau mang tính địa phương của cùng một loài Trong các nghiên cứu gần đây của Veron et al (1986, 2000) cho thấy các vấn
đề về biến dị được mô tả khá cụ thể, đồng thời Veron còn đề cập tới nhiều vấn đề khác như sự phân bố không gian, nguồn gốc tiến hoá, vấn đề sinh học và sinh thái học Đặc biệt là công trình mới đây nhất của Veron và Smith (2000) về san hô cứng trên toàn thế giới (Corals of the world) Đó là công trình đồ sộ và toàn diện nhất về phân loại san hô cứng, ông đã tách và định lại tên thêm 101 loài san
hô mới cho danh sách san hô thế giới
Một số nghiên cứu về hình thái rạn được công bố từ giữa thế kỷ
19, trong đó đáng chú ý nhất là sự hình thành rạn của Charles Darwin (1842) với 3 kiểu rạn cơ bản là rạn viền bờ (fringing reef), rạn chắn (barrier reef) và rạn vòng (atoll) Darwin cho rằng, đầu tiên các rạn san hô đều là kiểu rạn viền bờ, chúng phát triển bao quanh bờ (hoặc quanh đảo) mà ở đó các tập đoàn san hô có thể phát triển tốt Tiếp đến là kiểu rạn chắn, kiểu này dễ nhận biết bởi rạn tách biệt với
bờ bằng một lagoon (hồ nước) Hồ nước này thường nông và chất đáy là cát và thường có những rạn dạng đốm nhỏ hoặc các thảm cỏ biển ở dưới Kiểu rạn thứ 3 là rạn vòng (dạng vành khuyên) bao quanh một lagoon ở giữa
Ngày nay việc nghiên cứu san hô không chỉ đề cập đến phân loại
mà đã tiến xa hơn một bước, đặc biệt là vấn đề quản lý, bảo vệ, sử dụng hợp lý và phục hồi các rạn san hô Các tổ chức quốc tế về bảo
vệ tài nguyên môi trường được thành lập như IUCN, IOC, GEF, GCRMN, FFI, WWF… nhằm nghiên cứu, tư vấn và hỗ trợ cho việc bảo vệ tài nguyên môi môi trường toàn cầu, trong đó có san hô Cứ 2 năm một lần, dựa trên mạng lưới giám sát các rạn san hô toàn cầu, GCRMN xuất bản cuốn “Hiện trạng san hô thế giới” nhằm cung cấp
Trang 7những thông tin mới nhất về tình trạng sức khỏe san hô để có các biện pháp bảo vệ và quản lý Các dự án trồng phục hồi san hô bằng các hình thức khác nhau đã được tiến hành hầu hết ở các nước có rạn san hô, đặc biệt là việc ứng dụng công nghệ Biorock, reefball đang rất phổ biến hiện nay vì nó mang lại hiệu quả cao Việc sinh sản nhân tạo, thu gom ấu trùng tự nhiên để tạo nguồn giống phục vụ cho trồng phục hồi cũng được tiến hành ở nhiều nơi và đạt được nhiều thành công đáng kể Đặc biệt, sau hiện tượng san hô chết trắng năm 1998
và các kịch bản biến đổi khí hậu tác động lên hệ sinh thái rạn san hô
1.2 Tổng quam về nghiên cứu mối quan hệ giữa san hô với cá và động vật đáy
Trong hệ sinh thái rạn san hô, mọi sinh vật đều có sự ràng buộc nhất định với nhau như nơi cư trú, thức ăn, cộng sinh, hội sinh, để chúng tạo nên một hệ sinh thái bền vững, ổn định, trong đó rạn san
hô giữ vai chính trong hệ sinh thái Vai trò của san hô trong việc cung cấp nơi sinh cư cho các quần xã cá rạn và động vật đáy cũng đã được nghiên cứu nhiều trong những thập niên gần đây, đặc biệt là sau sự ra đời của thiết bị lặn Scuba
Đối với mối quan giữa san hô với cá: có nhiều ý kiến trái chiều
nhau về sự phụ thuộc của cá và san hô Có nghiên cứu cho rằng sự
phức tạp của nền đáy rạn có sự tương quan tích cực tới sự đa dạng của quần xã cá rạn Nhưng cũng có những ý kiến cho rằng, giữa cá
và rạn san hô không có sự tương quan hoặc chưa có bằng chứng rõ ràng với mức độ phong phú của cá Tuy nhiên phần lớn các nghiên cứu đều khẳng định độ giàu có (richness species) và đa dạng của cá rạn san hô có tương quan đến cấu trúc phức tạp của nền đáy rạn san
hô như độ phủ của san hô cành, sự đa dạng, phong phú loài, kích cỡ tập đoàn, độ phủ san hô sống, độ phủ san hô khối hoặc san hô phủ
Đối với mối quan hệ giữa san hô với động vật đáy: có rất ít
nghiên cứu đánh giá về mối liên quan của sự đa dạng với độ phủ hoặc cấu trúc nền đáy san hô Các nghiên cứu chủ yếu tập trung vào mối quan hệ hội sinh của các nhóm loài động vật đáy với san hô hoặc đánh giá sự biến động suy giảm rõ rệt của mật độ và trữ lượng động vật đáy trước vào sau hiện tượng san hô chết hàng loạt
Trang 81.3 Tổng quan về nghiên cứu san hô ở Việt Nam
Những nghiên cứu liên quan đến san hô sớm nhất được công bố ở thể kỷ cuối 19 và nửa đầu thế kỷ 20 nhưng chủ yếu là của các tác giả nước ngoài như Bassett -Smith (1890), Bernard (1897), Krempf (1927), Dawydoff (1936, 1952), Serène (1937, 1959) và chỉ có duy nhất một tác giả người Việt Nam công bố đó là Trần Ngọc Lợi (1967) về động - thực vật trên nền đáy cứng vùng triều vịnh Nha Trang
Nghiên cứu về san hô ở Việt Nam nói chung mới thực sự bắt đầu
từ những năm 1980 tới nay thông qua các hoạt động hợp tác với nước ngoài như Viện Sinh học Biển Viễn Đông (Liên Xô cũ, 1980 - 1990) và Quỹ bảo vệ động vật hoang dã Quốc tế (WWF, 1992 - 1994), Chương trình Biển Đông - Hải đảo, các Chương trình trọng điểm cấp Nhà nước KC cùng với chương trình hợp tác Việt – Phi tổ chức 4 năm một lần Đặc biệt với việc sự dụng thiết bị lặn SCUBA, việc điều tra san hô đã được triển khai trên quy mô rộng lớn cả về mặt rộng lẫn xuống sâu, kết quả nghiên cứu cũng được nâng cao về chất lượng và mở rộng về nội dung, nhất là về sinh thái học và hệ sinh thái mà trước đây còn ít được quan tâm Các kết quả đã được nhiều tác giả công bố như Nguyễn Huy Yết, Lăng Văn Kẻn, Võ Sỹ Tuấn, Latypov, Nguyễn Đăng Ngải cho tới nay đã có khoảng 493 loài thuộc 78 giống san hô cứng ở Việt Nam được công bố, 4 kiểu rạn san hô được phát hiện
1.4 Tổng quan về nghiên cứu san hô ở quần đảo Trường Sa
Nghiên cứu san hô ở quần đảo Trường Sa được nghiên cứu sau khi Viện Hải dương học Đông Dương được thành lập năm 1922 Các chuyến khảo sát được thực hiện trên tàu De Lanessan và La Malicieuse Sau năm 1945 các hoạt động nghiên cứu ở Trường Sa bị ngừng trệ do chiến tranh
Đến năm 1981 các hoạt động nghiên cứu về Trường Sa mới bắt đầu trở lại trên các tàu Kallisto và Berril do Viện Hải Dương học Nha Trang và Viện Sinh vật Biển Viễn Đông, Liên Xô thực hiện Sau đó các chuyến khảo sát của Viện Hải dương học Nha Trang, Viện Tài nguyên và Môi trường biển và Viện Nghiên cứu Hải sản đã thực hiện dựa trên các Chương trình cấp nhà nước Biển Đông – Hải
Trang 9đảo được thực hiện vào các năm 1986, 1989, 1996, 2002, 2003,
2006, 2007, 2008 Ngoài ra, còn đề án hợp tác giữa Việt Nam và Philippine (gọi tắt là đề án khảo sát hỗn hợp Việt – Phi JOMSRE) đã khảo sát trên 4 đảo chìm là Nares Bank, Trident Shoal, Menzies Reef
và Scarborough phía bắc quần đảo Trường Sa vào các năm 1996,
2000, 2005 và 2007, kết quả của các chuyến khảo sát này đều được công bố trong các tuyển tập hội thảo sau khi kết thúc chuyến đi
CHƯƠNG II TÀI LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Nguồn tài liệu và số liệu sử dụng trong luận án
Các tài liệu được sử dụng trong luận án này được tập hợp từ các báo cáo khoa học của các đề tài/dự án nghiên cứu về các vấn đề có liên quan tại quần đảo Trường Sa từ trước đến nay và từ các sách chuyên khảo, các bài báo được công bố trên các tạp chí khoa học chuyên ngành hoặc trong các kỷ yếu hội thảo
Các số liệu được sử dụng chính trong luận án được lấy từ các đề tài “Nghiên cứu cơ sở khoa học cho việc xây dựng các khu bảo tồn biển vùng quần đảo Trường Sa” năm 2007-2008 do chính tác giả là
người trực tiếp điều tra khảo sát và xử lý số liệu mà có
2.2 Đối tượng và lĩnh vực nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu chính trong luận án này là nhóm san hô cứng có tảo cộng sinh Để nghiên cứu về mối quan hệ giữa cấu trúc rạn san hô với cá và động vật đáy có điều tra thêm một số nhóm cá rạn san hô và động vật đáy bao gồm các loài ít hoặc không có giá trị kinh tế (ít bị tác động của con người)
2.3 Địa điểm nghiên cứu
- Ba đảo được nghiên cứu gồm: Nam Yết, Thuyền Chài và Đá Nam thuộc quần đảo Trường Sa
- Số lượng và vị trí các điểm nghiên cứu được lựa chọn đều có tính đại diện mỗi đảo Trong đó, đảo Nam Yết - 6 điểm, đảo Đá Nam
- 4 điểm, đảo Thuyền Chài - 10 điểm
Trang 10Đảo Đá Nam
Đảo Nam Yết
Đảo Thuyền Chài
Hình 1.5 Vị trí quần đảo Trường Sa và các đảo nghiên cứu
2.4 Thời gian khảo sát
Thời gian tiến hành khảo sát được thực hiện 2 chuyến vào tháng 4-5 của năm 2007 và 2008
Trang 112.5 Phương pháp thu thập số liệu
2.5.1 Phương pháp khảo sát tại hiện trường
2.5.1.1 Phương pháp xác định đa dạng loài
- Thu thập mẫu vật: Sử dụng thiết bị lặn sâu Scuba thu mẫu san
hô trên rạn từ 0mHĐ đến độ sâu 30 - 50m (chân rạn) Tổng số mẫu san hô cứng thu được là 150 mẫu
- Chụp ảnh: Sử dụng máy ảnh kỹ thuật số chụp dưới nước để
chụp mẫu vật, tổng số ảnh được sử dụng để phân tích tại 3 đảo là: 2.500 ảnh
2.5.1.2 Phương pháp đánh giá nhanh độ phủ san hô: Sử dụng
phương pháp Manta tow (English et al 1997)
2.5.1.3 Phương pháp khảo sát chi tiết hợp phần nền đáy, cá và động vật đáy: Sử dụng phương pháp Reefcheck (Hodgson et al
2004)
2.5.1.4 Điều tra các tác động lên rạn san hô
- Tình hình khai thác nguồn lợi hải sản ven đảo: phỏng vấn ngư dân, các cán bộ sỹ quan, chiến sỹ trên đảo: 30 ngư dân và 20 sĩ quan, chiến sỹ trên đảo
- Các biến động bất thường của tự nhiên (bão, nhiệt độ tăng cao): Thu thập các thông tin từ các trạm khí tượng thuỷ văn
Ngoài ra, xây dựng cầu cảng, luồng tàu, đê chắn sóng, các dấu hiệu bất thường của sự ô nhiễm môi trường cũng được quan tâm nghiên cứu
2.5.2 Phương pháp phân tích mẫu vật
Phương pháp phân tích mẫu san hô
- Mẫu thu được được phân loại dựa vào hình thái và cấu trúc bộ xương theo hệ thống phân loại của Veron và Pichon (1976, 1978,
1980, 1982, 1986) Veron và Smith (2000)
Trang 12- Đối với phân loại trên hình ảnh, xác định thành phần loài dựa vào màu sắc và hình thái theo hệ thống và tài liệu phân loại san
hô sống của Veron và Smith (2000)
Phương pháp phân tích mẫu cá
Mẫu cá được phân loại dựa trên các đặc điểm hình thái theo sách phân loại của: Myers F.R (1991), Lieske E and Meyers R (1996), Randall JE, Allen GR and Steene RC (1997), Eschmeyer W N
(1998), Allen G.R (2000) và Nakabo (2002)
Phương pháp phân tích mẫu động vật đáy
Các loài động vật đáy trên dây mặt cắt khảo sát chủ yếu được nhận dạng trực tiếp tại hiện trường đến bậc taxon thấp nhất có thể và đếm số lượng cá thể
2.5.3 Phương pháp xử lý số liệu
- Các số liệu ghi chép được tại hiện trường như độ phủ của các hợp phần đáy, mật độ cá và động vật đáy được tính toán ra các số liệu định lượng theo các công thức tính cho mỗi loại
- Sử dụng các phần mềm Excel, Mapinfor và các phần mềm lập trình để xử lý, tính toán và vẽ biểu đồ
- Các chỉ số sinh thái như các mối quan hệ trong hệ sinh thái, chỉ
số đa dạng, chỉ số tương đồng được tính toán theo các công thức và chức năng Data analysis trong Excel
CHƯƠNG III- KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 3.1 Hình thái rạn san hô tại các đảo nghiên cứu
Ba đảo được nghiên cứu trong luận án này đều là rạn vòng hoặc
là hợp phần của rạn vòng Trong đó đảo Thuyền Chài là một rạn san
hô vòng độc lập, kín hoàn toàn, rạn san hô phát triển bao quanh một
hồ nước ở giữa không có cửa hoặc lạch sâu thông với biển Hai đảo còn lại là hợp phần của các chuỗi rạn vòng rộng lớn có nhiều cửa rộng lớn thông với biển Đây là các đại diện đặc trưng của kiểu rạn san hô vòng mà vùng ven bờ không có
Trang 13- Rạn san hô đảo Nam Yết: ở phía Bắc của đảo với hình dáng rạn thoải đều, san hô phát triển tốt Mặt phía Nam đảo có rạn dốc thẳng đứng, cấu trúc và phân bố của san hô rất khác với rạn phía Bắc, chúng thường tạo dạng bậc thềm hoặc gò đồi ở độ sâu 20-30m ngăn cách với đảo chính bằng một rãnh trũng Trên các gò đồi này san hô
mềm rất phát triển, phổ biến là 2 giống Sarcaphyton và Lobophytum
độ phủ lên đến 90%
- Đảo Thuyền Chài là một rạn san hô vòng kín riêng biệt, có các
gò đồi ngầm trong lagoon kín được mọc lên từ độ sâu 10 - 15m trên nền đáy cát và vụn san hô Cấu trúc và thành phần loài và hình thái san hô ở trong lagoon rất khác biệt so với rạn bên ngoài Đặc biệt là
các loài san hô ưa lặng sóng như Montipora digitata rất phát triển, ngoài ra có loài Porites cylindrica phát triển rất mạnh tạo thành các
tập đoàn hình cầu lớn đường kính 3-4m
- Đảo Đá Nam là hợp phần của chuỗi rạn vòng Song Tử, mặt ngoài tương tự như các rạn khác có độ dốc lớn, có nhiều rãnh xâm thực cắt ngang qua rạn, chứng tỏ rạn thường xuyên chịu tác động mạnh của sóng Mặt phía trong lagoon có độ sâu nhỏ 10-15m, san hô
phát triển phổ biến là giống Porites dạng khối có kích thước lớn và
Montipora dạng phiến phủ đã tạo cho rạn độ gồ ghề rất lớn
3.2 Các đặc trưng của quần xã san hô cứng tại các đảo nghiên