Tuy có vị trí, vai trò hết sức quan trọng, song hệ thống luật tục người Thái cho tới nay vẫn chưa ñược nghiên cứu một cách ñầy ñủ, nhất là nghiên cứu những giá trị xã hội của luật tục ng
Trang 1HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
VI VĂN SƠN
LUËT TôC NG¦êI TH¸I Vµ Sù VËN DôNG
TRONG QU¶N Lý NHµ N¦íC §èI VíI CéNG §åNG NG¦êI TH¸I ë C¸C TØNH B¾C TRUNG Bé VIÖT NAM
Chuyên ngành : Lý luận lịch sử Nhà nước và Pháp luật
Mã số : 62 38 01 01
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS QUÁCH SĨ HÙNG
TS LÊ VĂN TRUNG
HÀ NỘI - 2015
Trang 2L I CAM OAN
Tôi xin cam ñoan, ñây là công trình nghiên cứu ñộc lập của mình Các số liệu nêu trong luận án là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng
TÁC GIẢ LUẬN ÁN
Vi Văn Sơn
Trang 3Trang
1.1 Tình hình nghiên cứu của tác giả nước ngoài 8 1.2 Các công trình nghiên cứu của tác giả trong nước 11 1.3 Đánh giá khái quát kết quả các công trình nghiên cứu có liên
1.4 Những vấn ñề cần tập trung nghiên cứu, luận giải sâu hơn 24
VỀ VẬN DỤNG LUẬT TỤC NGƯỜI THÁI TRONG QUẢN
LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CỘNG ĐỒNG NGƯỜI THÁI Ở
Chương 3: GIÁ TRỊ XÃ HỘI CỦA LUẬT TỤC NGƯỜI THÁI HIỆN
NAY VÀ THỰC TRẠNG VẬN DỤNG TRONG QUẢN LÝ
NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CỘNG ĐỒNG NGƯỜI THÁI Ở CÁC
TỈNH BẮC TRUNG BỘ VIỆT NAM 78 3.1 Giá trị xã hội và một số hạn chế của luật tục người Thái hiện nay 78 3.2 Thực trạng vận dụng luật tục người Thái trong quản lý nhà
nước ñối với cộng ñồng người Thái ở các tỉnh Bắc Trung Bộ
LUẬT TỤC NGƯỜI THÁI TRONG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CỘNG ĐỒNG NGƯỜI THÁI Ở CÁC TỈNH BẮC
4.1 Quan ñiểm ñảm bảo việc vận dụng luật tục người Thái trong
quản lý nhà nước ñối với cộng ñộng người Thái ở các tỉnh Bắc
4.2 Giải pháp ñảm bảo việc vận dụng luật tục Thái trong quản lý
nhà nước ñối với cộng ñồng người Thái ở các tỉnh Bắc Trung
DANH MỤC CÔNG TRÌNH HOA HỌC TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ 166
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM ẢO 167
Trang 4DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN
CNH : Công nghiệp hóa
CNXH : Chủ nghĩa xã hội
ĐCS : Đảng cộng sản
HĐH : Hiện ñại hóa
HĐND : Hội ñồng nhân dân
HIV/AIDS : Viết từ tiếng Anh: Human Immuno
deficiency virus infection/Acquired Immunodeficiency (Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải)
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG TRONG LUẬN ÁN
Trang
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của ñề tài
Điều 2, Hiếp pháp năm 2013 ñã xác ñịnh “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân,
do Nhân dân, vì Nhân dân” [82] Do ñó, trong tổ chức và hoạt ñộng của bộ máy nhà nước cần xây dựng cơ chế vận hành bảo ñảm nguyên tắc tất cả quyền lực thuộc về nhận dân Điều 8, Hiến pháp 2013 chỉ rõ “Nhà nước ñược
tổ chức và hoạt ñộng theo Hiến pháp pháp luật, quản lý xã hội bằng Hiến pháp pháp luật, thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ” [82] Để quản lý xã hội bằng pháp luật, Nhà nước cần hoàn thiện pháp luật, tăng tính cụ thể, khả thi của các qui ñịnh trong hệ thống văn bản qui phạm pháp luật, ñồng thời hoàn thiện những phương thức, biện pháp quản lý, ñảm bảo hiệu lực, hiệu quả
và tăng cường khả năng ñiều chỉnh bằng pháp luật trên mọi lĩnh vực của ñời sống xã hội
Vấn ñề xây dựng và hoàn thiện pháp luật là một chức năng cơ bản của Nhà nước, vừa là nhiệm vụ có tính chiến lược lâu dài vừa là nhiệm vụ trước mắt Trong Nghị quyết số 48-NQ/TW, ngày 24/5/2005 về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam ñến năm 2010, ñịnh hướng ñến năm 2020, khi ñề cập ñến các giải pháp xây dựng pháp luật có nêu: “cần nghiên cứu khả năng khai thác, sử dụng án lệ, tập quán (kể cả tập quán, thông
lệ quốc tế) và qui tắc của các hiệp hội nghề nghiệp, góp phần bổ sung và hoàn thiện pháp luật” [12] Xây dựng một hệ thống pháp luật ñồng bộ, toàn diện, phù hợp với ñiều kiện kinh tế, chính trị, xã hội của ñất nước, ngoài việc vận dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật hiện ñại, kỹ thuật pháp lý tiên tiến, cần
kế thừa, phát huy yếu tố tích cực của tập quán vận dụng vào công tác lập pháp, công tác quản lý xã hội
Trên khía cạnh văn hóa, việc phát huy các giá trị văn hóa của dân tộc ñược Đảng ta hết sức quan tâm Theo ñó, nghị quyết Đại hội Đảng qua các thời kỳ ñã thể hiện tính nhất quán về sự lãnh ñạo của Đảng ñối với nội dung này Văn kiện Đại hội XI tiếp tục làm rõ hơn yêu cầu phát huy các giá trị văn hóa, trong ñó Cương lĩnh 1991, Cương lĩnh bổ sung, phát triển năm 2011 chỉ
Trang 7rõ: “Kế thừa và phát huy những truyền thống văn hóa tốt ñẹp của cộng ñồng các dân tộc Việt Nam, tiếp thu những tinh hoa văn hoá nhân loại, xây dựng một xã hội dân chủ, công bằng, văn minh, vì lợi ích chân chính và phẩm giá con người” [17] Từ việc tổng kết rút kinh nghiệm mười năm thực hiện Nghị quyết TW5 (khóa VIII), Nghị quyết TW9 (khóa XI) tiếp tục khẳng ñịnh làm sâu sắc thêm quan ñiểm xây dựng và phát triển văn hóa: “Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, ñậm ñà bản sắc dân tộc, thống nhất trong ña dạng của cộng ñồng các dân tộc Việt Nam, với các ñặc trưng dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học”, và khi nói về nhiệm vụ, nghị quyết nêu rõ “Giữ gìn và phát huy di sản văn hóa của các dân tộc thiểu số, nhất là tiếng nói, chữ viết, trang phục, lễ hội truyền thống; các giá trị tích cực trong tôn giáo, tín ngưỡng” [3]
Như vậy, việc khai thác các giá trị văn hóa nói chung và nghiên cứu tập quán, luật tục nói riêng ñể xác ñịnh giá trị của nó nhằm vận dụng trong quản
lý xã hội là chủ trương có tính hệ thống của Đảng, Nhà nước, là yêu cầu ñòi hỏi từ thực tiễn khách quan
Trong cộng ñồng các dân tộc Việt Nam, dân tộc Thái có quá trình lịch
sử phát triển lâu ñời, với nền văn hóa phong phú, ñộc ñáo; người Thái có tiếng nói và chữ viết riêng Ngoài ra, cộng ñồng dân tộc Thái có một vị trí, vai trò hết sức quan trọng trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Vùng cư trú của người Thái là những ñịa bàn trọng yếu về quốc phòng, an ninh, là vùng ña dạng về tài nguyên thiên nhiên, ñã và ñang góp phần vào phát triển kinh tế -
xã hội của ñất nước
Luật tục người Thái là một yếu tố cấu thành văn hóa Thái Với những ñặc ñiểm riêng, luật tục người Thái có mối quan hệ chặt chẽ với pháp luật Hệ thống luật tục giữ vai trò vô cùng quan trọng trong việc gắn kết cộng ñồng, tự quản ở cộng ñồng dân cư, ñiều hòa xã hội, trong việc giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc của người Thái
Tuy có vị trí, vai trò hết sức quan trọng, song hệ thống luật tục người Thái cho tới nay vẫn chưa ñược nghiên cứu một cách ñầy ñủ, nhất là nghiên cứu những giá trị xã hội của luật tục người Thái vận dụng trong quản lý nhà nước ñối với cộng ñồng người Thái ở các tỉnh Bắc Trung bộ Việt Nam
Trang 8Xuất phát từ những lý do nêu trên, nghiên cứu sinh ñã chọn ñề tài: Luật
tục người Thái và sự vận dụng trong quản lý nhà nước ñối với cộng ñồng người Thái ở các tỉnh Bắc Trung Bộ Việt Nam
2 M c ñích và nhi m vụ nghiên cứu
ục ñích nghiên cứu
Luận án tìm hiểu luật tục người Thái, tập trung phân tích, ñánh giá những giá trị xã hội của luật tục người Thái, nhằm tìm ra những khả năng có thể vận dụng trong quản lý nhà nước ở cơ sở ñối với cộng ñồng người Thái Trên cơ sở ñó ñề xuất những quan ñiểm và giải pháp vận dụng luật tục người Thái trong quản lý nhà nước ở cơ sở ñối với cộng ñồng người Thái Bắc Trung
Bộ Việt Nam, góp phần bảo tồn, phát huy những giá trị, bản sắc văn hóa, luật tục người Thái trong ñiều kiện hiện nay
Nhiệm vụ nghiên cứu
M t là, tìm hiểu tình hình nghiên cứu liên quan ñến ñề tài của các tác
giả trong và ngoài nước, từ ñó ñánh giá kết quả nghiên cứu, ñồng thời rút ra những vấn ñề cần tiếp tục nghiên cứu có chiều sâu hơn ñối với ñề tài
Hai là, phân tích cơ sở lý luận về luật tục, luật tục người Thái và sự vận
dụng trong quản lý nhà nước ñối với cộng ñồng người Thái ở Việt Nam Cụ thể: Khái quát nguồn gốc, lịch sử, văn hóa, ñặc trưng của người Thái, vị trí của cộng ñồng người Thái trong cộng ñồng các dân tộc Việt Nam; làm rõ khái niệm luật tục, luật tục người Thái; tìm hiểu ñặc ñiểm; phân tích mối quan hệ giữa luật tục người Thái với pháp luật và vai trò của luật tục người Thái trong lịch sử cộng ñồng người Thái; luận giải khái niệm vận dụng, phương thức vận dụng luật tục người Thái trong quản lý nhà nước ñối với cộng ñồng người Thái; tìm hiểu khái niệm, ñặc ñiểm quản lý nhà nước; khái niệm, nguyên tắc quản lý hành chính nhà nước; phân tích các ñiều kiện ñảm bảo vận dụng luật tục người Thái trong quản lý nhà nước ñối với cộng ñồng người Thái; tìm hiểu kinh nghiệm vận dụng tập quán, luật tục của một số quốc gia trên thế giới và ở Việt Nam, rút ra bài học tham khảo trong thời gian tới; luận giải một
số vấn ñề ñặt ra về vận dụng luật tục nói chung và luật tục người Thái trong quản lý nhà nước ñối với cộng ñồng người dân tộc thiểu số và cộng ñồng người Thái hiện nay
Trang 9Ba là, phân tích những giá trị xã hội của luật tục người Thái ở Việt
Nam hiện nay; tiến hành khảo sát thực tế, ñánh giá khách quan thực trạng vận dụng luật tục người Thái trong quản lý nhà nước ở cơ sở ñối với cộng ñồng người Thái các tỉnh Bắc Trung Bộ Việt Nam
B n là, xác ñịnh rõ quan ñiểm vận dụng luật tục và ñề xuất, luận chứng
các giải pháp vận dụng luật tục người Thái trong quản lý nhà nước ñối với cộng ñồng người Thái Bắc Trung bộ Việt Nam
3 i tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là luật tục người Thái ở Việt Nam và
sự vận dụng trong quản lý nhà nước ñối với cộng ñồng người Thái Bắc Trung
Bộ Việt Nam; các vấn ñề liên quan như: cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của việc vận dụng luật tục người Thái trong quản lý nhà nước ñối với cộng ñồng người Thái; các yếu tố chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, pháp luật có ảnh hưởng ñến quả trình vận dụng luật tục người Thái trong quản lý nhà nước ñối với cộng ñồng người Thái Việt Nam nói chung, người Thái ở Bắc Trung Bộ Việt Nam nói riêng
Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu luật tục tiếp cận dưới góc ñộ khái niệm, ñặc ñiểm luật tục người Thái và mối tương quan của luật tục người Thái với pháp luật; ñánh giá vai trò của luật tục người Thái trong lịch sử ñời sống cộng ñồng người Thái; tìm hiểu kinh nghiệm vận dụng luật tục trên thế giới và Việt Nam Từ những luật tục ñã ñược văn bản hóa và kết quả sưu tầm trong nhân dân, tác giả ñã chọn lựa, phân loại, phân tích những giá trị xã hội của luật tục người Thái tương tác với một số nội dung quản lý nhà nước hiện hành, nhất là quản lý hành chính nhà nước ñối với cộng ñồng người Thái
Phạm vi nghiên cứu vận dụng luật tục Phạm vi nghiên cứu vận dụng luật tục người Thái trong quản lý nhà nước ñi sâu ñối với cộng ñồng người Thái ở các tỉnh Bắc Trung bộ Việt Nam Đặc biệt tập trung khảo sát, ñánh giá thực trạng kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh và xây dựng hệ thống chính trị; khảo sát nhận thức về luật tục của cán bộ, công chức, viên chức cấp xã;
Trang 10khảo sát, đánh giá kết quả vận dụng luật tục của một số xã cĩ người Thái cư trú tập trung ở hai tỉnh Thanh Hĩa, Nghệ An Từ đĩ đề xuất quan điểm, giải pháp vận dụng luật tục người Thái trong quản lý nhà nước, chủ yếu là quản lý hành chính nhà nước ở cơ sở đối với cộng đồng người Thái
4 Cơ s lý luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận: Luận án nghiên cứu trên cơ sở lý luận và phương
pháp luận của triết học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về nhà nước và pháp luật, xây dựng nhà nước pháp quyền, xây dựng và củng cố chính quyền cơ sở, cộng đồng làng xã ở Việt Nam hiện nay Đặc biệt là các quan điểm về dân tộc, đồn kết dân tộc, quản lý nhà nước và tự quản cộng đồng, về thực hiện dân chủ cơ sở, quan hệ giữa pháp luật, luật tục, phong tục tập quán
Phương pháp nghiên cứu: Luận án sử dụng các phương pháp lịch
sử, lơ gích, phương pháp điều tra xã hội học, phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp so sánh, phương pháp thống kê v.v Cụ thể ở chương 1, luận án sử dụng phương pháp thống kê, phân tích và tổng hợp; chương 2, sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác Lênin, kết hợp với phương pháp phân tích, tổng hợp, lịch sử và so sánh; chương 3, sử dụng kết hợp các phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác Lênin, phương pháp xã hội học, điền dã, phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp; chương 4, luận án sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác Lênin kết hợp với các phương pháp phân tích, tổng hợp, lịch sử và so sánh để giải quyết những vấn đề đặt ra
5 Những đĩng gĩp mới về khoa học của luận án
- Phân tích đặc điểm, sự tương đồng và khác biệt giữa luật tục người Thái với pháp luật; luận giải nội dung của luật tục người Thái trong mối tương quan với pháp luật và kết luận: Luật tục người Thái cĩ vị trí độc lập
tương đối với pháp luật, đĩ là Một, trong điều kiện nhất định, luật tục người Thái cĩ khả năng thay thế pháp luật; Hai, luật tục người Thái cĩ khả năng bổ
Trang 11sung cho pháp luật; Ba, luật tục người Thái cĩ khả năng hỗ trợ cho pháp luật;
B n, những giá trị tích cực của luật tục người Thái là tinh hoa văn hĩa dân tộc
Thái, cĩ giá trị xây dựng, cố kết cộng đồng lớn lao
- Luận giải quan niệm về vận dụng luật tục người Thái trong quản lý Nhà nước đối với cộng đồng người Thái, đĩ chính là đưa tri thức địa phương, tri thức cộng đồng của người Thái bổ sung, hỗ trợ cùng pháp luật quản lý cộng đồng người Thái cĩ hiệu quả
- Luận giải giá trị, vai trị của luật tục người Thái trên một số nội dung
chủ yếu sau: Một, luật tục người Thái luơn ứng xử hài hịa với tài nguyên
thiên nhiên, đặc biệt nhấn mạnh cơng tác quản lý bảo vệ rừng, quản lý đất đai,
nguồn nước; Hai, luật tục người Thái luơn hướng tới xây dựng khối đại đồn
kết cộng đồng bền vững, trong đĩ nhấn mạnh tính tương thân, tương ái và
bình đẳng dân tộc; Ba, luật tục người Thái giáo dục cộng đồng luơn tuân thủ
pháp luật, luật tục, đặc biệt nhấn mạnh việc xây dựng ý thức cho cộng đồng trong phịng ngừa tội phạm, trách nhiệm của cộng đồng trong bảo vệ Tổ quốc
- Nhận xét, đánh giá một số vấn đề đặt ra từ thực trạng nhận thức về luật tục người Thái và kết quả vận dụng luật tục người Thái của chính quyền
cơ sở vùng dân tộc Thái Bắc Trung Bộ: Một, những giá trị của luật tục người Thái hiện nay đứng trước nguy cơ bị mai một; hai, chính quyền cơ sở vùng
dân tộc Thái chưa thực sự quan tâm vận dụng luật tục người Thái trong quản
lý nhà nước; ba, chính quyền cơ sở và cộng đồng người Thái Bắc Trung Bộ
cĩ nguyện vọng vận dụng luật tục người Thái trong quản lý nhà nước đối với cộng đồng người Thái
- Một số nhĩm giải pháp nhằm vận dụng luật tục người Thái đối với
cộng đồng người Thái: Một, nhĩm giải pháp về tổ chức, trong đĩ nhấn mạnh
việc thành lập Tổ tư vấn phong tục tập quán ở thơn, bản và Hội đồng tư vấn
phong tục tập quán cấp xã; hai, nhĩm giải pháp về kỹ thuật, nhấn mạnh việc
vận dụng gắn với một số lĩnh vực quản lý nhà nước về: Văn hĩa, giáo dục, y
tế, tài nguyên, quốc phịng, an ninh; xây dựng qui chế phối hợp ; ba, nhĩm giải pháp về nâng cao năng lực cho các chủ thể; bốn, nhĩm giải pháp về nguồn lực tài chính; năm, giải pháp tổ chức thực hiện
Trang 126 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
Ý nghĩa lý luận
Luận án góp phần làm phong phú thêm kho tàng lý luận về lịch sử nhà nước và pháp luật thông qua nghiên cứu luật tục và luật tục người Thái Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần xây dựng cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, quản lý cộng ñồng các dân tộc thiểu
số ở Việt Nam
Ý nghĩa thực tiễn
- Kết quả của luận án là tài liệu tham khảo giúp cho chính quyền các cấp, ñặc biệt là chính quyền cơ sở và bộ máy tự quản ở làng, bản vùng có người Thái cư trú tập trung ở Bắc Trung Bộ có thêm ñịnh hướng trong công tác quản lý xã hội của ñịa phương mình; giúp cho các thôn, bản vận dụng trong xây dựng hoàn thiện qui ước mới, hương ước mới của thôn, bản nhằm kết hợp ñồng bộ giữa pháp luật với tập quán truyền thống của người Thái, thực hiện tốt qui chế dân chủ cơ sở, xây dựng nông thôn mới
- Luận án phản ánh thực trạng của văn hóa Thái và yêu cầu về giữ gìn, phát huy bản sắc của văn hóa - luật tục người Thái Tạo ñộng lực, cơ hội ñể cộng ñồng người Thái nói chung, người Thái Bắc Trung Bộ nói riêng giữ gìn
và phát huy bản sắc văn hóa tốt ñẹp của dân tộc mình, góp phần xây dựng nền văn hóa tiên tiến, ña dạng, ñậm ñà bản sắc dân tộc Việt Nam
- Luận án là tài liệu tham khảo cho cán bộ chuyên môn tham mưu quản
lý lĩnh vực văn hóa, xã hội và các nhà doanh nghiệp tìm hiểu sâu hơn về văn hoá, luật tục người Thái ở Việt Nam; tạo ñiều kiện ñể cán bộ miền xuôi lên công tác vùng ñồng bào dân tộc Thái tìm hiểu văn hóa, phong tục, vận dụng
có hiệu quả cho nhiệm vụ của mình Đồng thời là tài liệu hữu ích ñối với sự lãnh ñạo, chỉ ñạo của cấp uỷ ñảng, quản lý nhà nước của chính quyền cơ sở
7 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở ñầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung luận án gồm 4 chương, 11 tiết
Trang 13Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ NƯỚC NGOÀI
Luật tục ñã ñược một số nhà nghiên cứu lịch sử luật pháp quan tâm khi
ñề cập tới luật pháp của châu Âu từ thời La Mã cho ñến thế kỷ XVIII, ñó là sự kết hợp giữa luật La Mã và luật tục ñã ñược luật hóa Các nhà nghiên cứu lịch
sử pháp luật thời kỳ này ñã hợp nhất giữa luật La Mã và tập quán pháp Sau này, người ta quan tâm từ góc ñộ tập quán trở thành luật pháp như thế nào và cho rằng tập quán pháp trở thành luật chỉ khi nó ñược ñạo luật hay quyết ñịnh của tòa án công nhận, khi nó ñược biết như là luật, chấp nhận như là luật và thi hành như là luật [104]
Trên thế giới, luật tục ñược các nhà luật học, các nhà quản lý ở ñịa phương chú ý nghiên cứu ñể phục vụ cho việc cai trị ở các nước thuộc ñịa, nhất
là vào thế kỷ XIX và ñầu thế kỷ XX khi mà chủ nghĩa thực dân ñược thiết lập ở nhiều khu vực và quốc gia trên thế giới, trong ñó có các nước châu Á, châu Phi, Nam Mỹ Vì vậy, các nhà luật học, các nhà quản lý của các nước có nhiều thuộc ñịa như Anh, Pháp, Tây Ban Nha rất quan tâm nghiên cứu lĩnh vực này
Vấn ñề ñặt ra ñối với các nước ñế quốc thực dân là áp dụng thể chế cai trị nào ñối với các thuộc ñịa của mình Những năm ñầu của thế kỷ XX, với sự ra ñời của trường phái chức năng (Functionnalism) ñứng ñầu là Bronislaw Malinowski, ông cho rằng, tất cả những hiện tượng văn hóa ñều cần thiết và mang chức năng nhất ñịnh trong một xã hội nhất ñịnh Từ ñó rút ra kết luận: không thể dùng một thể chế xã hội này áp ñặt cho một xã hội khác, mà cần sử dụng bản thân thể chế xã hội vốn có ñể quản lý xã hội ñó Luận ñiểm này ñã ñược các nhà cai trị thực dân vận dụng trong việc cai trị các xã hội thuộc ñịa lúc bấy giờ [104]
Các nhà luật học người Anh ñã cố gắng chuyển ñổi luật tục thành luật pháp ở một số quốc gia châu Phi, như Kenya, Sudan , nhưng chủ yếu vẫn là nhìn nhận luật tục từ góc ñộ luật pháp mà luật pháp châu Âu bao giờ cũng là
hệ qui chiếu chủ yếu Điều này khác biệt với cách tiếp cận luật tục từ góc ñộ nhân học xã hội hay nhân học văn hóa [104]
Trang 14Bên canh việc tiếp cận từ góc ñộ luật học, thì ñã xuất hiện ngày một phổ biến cách nhìn luật tục từ góc ñộ nhân loại học (Anthopology) Bắt ñầu là việc tiếp cận với các bộ lạc, các dân tộc hiện còn tồn tại luật tục ñể văn bản hóa luật tục Vào ñầu thế kỷ XX ñã xuất hiện bốn loại công trình thuộc dạng
văn bản luật tục: một là, những cuốn cẩm nang (Handbook) về luật tục, như:
“Cẩm nang Tswanan và tập quán”, cuốn “Sổ tay luật Neur” của P.P.Howell; hai
là, những cuốn luật tục ñầu tiên, như “Luật tục của bộ lạc Haya thuộc lãnh thổ
Tanganyika” hay “Luật Sukuma và tập quán” của Cory Thuộc loại này có thể kể tới: “Luật tập quán bản ñịa” của Sey Mour “Luật bản ñịa ñược áp dụng ở Nata”
của Stafford; ba là, cuốn “Luật tục Shona” và cùng với nó là các cuốn: “Luật tục
Kamba” của D.Y.Penwill, “Luật tục Nam Di” của G.S.Nell, mô tả luật tục trong
môi trường xã hội, văn hóa và luật pháp của dân tộc; bốn là, loại mô tả luật tục
theo các vụ án mà các tòa án ñịa phương thực hiện và những bình luận của tác giả, thí dụ như cuốn: “Quá trình tòa án của người Brottse ở Bắc Phodesia” của Max Gluckam [104]
Vào những thập kỷ nửa cuối thế kỷ XX này, các nhà nhân loại học luật pháp ñã mở rộng phạm vi nghiên cứu của mình trên nhiều bình diện khác nhau, như các vấn ñề lý luận và phương pháp nghiên cứu luật tục, nghiên cứu luật tục ở các vùng, các quốc gia khác nhau trên thế giới
Có thể khẳng ñịnh, châu Phi là nơi có nhiều công trình nghiên cứu
về luật pháp nói chung và luật tục nói riêng Trong một công trình “Luật
và lý luận luật pháp châu Phi”, do G.R.Woodman và A.O.Obilde chủ biên [104], ñã ñưa ra một danh mục hơn 100 nội dung nghiên cứu về luật và tác phẩm này cũng tập hợp các bài viết khác nhau của nhiều tác giả, trong ñó phần lớn cuốn sách ñề cập tới bản chất của luật tục châu Phi với ba phần chính: Những vấn ñề chung; nhân loại học pháp luật; luật tục trong hệ thống pháp luật của Nhà nước (G.R.Woodman and A.O.Obilade) Ngoài
ra phải kể ñến công trình của Y.C.Bekker: “Luật tục Nam phi”, ñề cập tới nhiều khía cạnh quan hệ giới tính, quan hệ hôn nhân và quan hệ gia ñình, quyền thừa kế
Trang 15Ở châu Á, có công trình do Masaji Chiba (Nhật Bản), bao gồm nhiều chương viết về luật bản ñịa của nhiều dân tộc và quốc gia khác nhau, như người Ai Cập Hồi giáo, Iran Hồi giáo, Sri Lanka, Ấn Độ, Thái Lan, Nhật Bản Trong tác phẩm này Masaji Chiba ñưa ra sự phân loại luật ở các nước châu Á dưới ba hình thức: Luật (Received law), Luật bản ñịa (Indigenous law) và dạng hỗn hợp giữa hai hình thức nêu trên (Masaji Chiba) [104] Ấn Độ là quốc gia có 5000 năm lịch sử, phong tục tập quán phong phú, nên có khá nhiều công trình ñi sâu nghiên cứu luật tục, chẳng hạn như cuốn: “Luật tục bộ lạc ở Đông Bắc Ấn Độ” của Shinbani Roy và S.H.M.Rizvi; hay cuốn “Đất ñai công cộng và luật tục”, xuất bản năm 1996 của Minoti Charcravarty-Kaul, ñề cập ñến vấn ñề sở hữu ñất ñai ở Bắc Ấn Độ (Minoti Charcravarty-Kaul) Với châu Á, Inñônêxia và Malaysia là quốc gia hiện nay còn tồn tại luật tục (Adat)
và ñược sử dụng trong ñời sống thường ngày của nhiều dân tộc Do vậy, ñã thu hút sự chú ý của các nhà nghiên cứu luật tục, như Von BenDa - Beckmann K và Von BenDa - Beckmann F (Hà Lan), nhà nghiên cứu người
Mỹ John Ambler Các nước như Canada, Australia, New Zealand vốn là nơi sinh sống của cư dân bản ñịa, còn ở trình ñộ phát triển thấp và tình trạng phụ thuộc vào chủ nghĩa thực dân Công trình của Kayleen M.Hazle Hurht ñã ñề cập tới tình trạng ña dạng pháp luật của cư dân bản ñịa của các nước kể trên trong bối cảnh chủ nghĩa thực dân [104]
Về góc ñộ nhân học pháp luật, các nhà nghiên cứu ñã ñề cập ñến tới các vấn ñề lý thuyết và phương pháp sưu tầm và nghiên cứu luật tục các dân tộc Đó là các công trình của Alan Dundes bàn tới khái niệm thế nào là luật tục (folk law), của Alan Watson về tiếp cận luật tục, của Van Den Dergh khái niệm luật tục trong khung cảnh lịch sử, của Obei Hag Ali về chuyển ñổi luật tục thành luật pháp, Các vấn ñề phương Đông cũng ñược ñặt ra, như vấn ñề văn bản hóa luật tục (T.O.Elias), sưu tầm luật tục (Simon Roberts) Nội dung vận dụng luật tục trong phát triển xã hội cũng ñược quan tâm, nhất là vấn ñề luật tục và việc bảo vệ khai thác hợp lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên [104]
Trang 16Như vậy, công việc nghiên cứu luật tục trên thế giới từ thế kỷ XX ñã ñạt ñược những tiến bộ ñảng kể cả lý luận, phương pháp nghiên cứu, do ñó tạo ñiều kiện thuận lợi cho việc nghiên cứu luật tục ở Việt Nam trong thời gian vừa qua
1.2 CÔNG TRÌNH NGHIÊN C U C A TÁC GIẢ TRONG NƯỚC
1.2.1 Công trình nghiên cứu có liên quan ñến luật tục của các dân tộc ở Việt Nam
- Cuốn sách “Luật tục và phát triển nông thôn hiện nay ở Việt Nam” của Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia, Viện Nghiên cứu Văn hóa dân gian [121] Tại ñây, có những bài viết của nhiều tác giả nghiên cứu về luật tục các dân tộc, nổi bật như: “Nguồn gốc và bản chất của luật tục Tây Nguyên” của tác giả Phan Đăng Nhật, bài viết ñã khái quát quá trình nghiên cứu luật tục Tây Nguyên của người Pháp và người Việt Nam, trên cơ sở ñó nêu lên bản chất của luật tục một số dân tộc Tây Nguyên, cuối cùng tác giả kiến nghị cần thiết phải sưu tầm luật tục Tây Nguyên (cũng như các dân tộc thiểu số khác) và soạn thảo tài liệu gửi ñến cơ sở ñể thực hiện Phải nói rằng, ñịa bàn Tây Nguyên
là có nhiều công trình nghiên cứu hơn cả, chẳng hạn như: “Luật tục Ê Đê, luật tục M’Nông và vai trò của nó trong ñời sống các dân tộc Đắc Lắc” của tác giả Nguyễn Hữu Trí; “Luật tục Raglai ñối với các vấn ñề liên quan ñến gia súc” của Chamaliaq Tiến; “Luật tục Raglai ñối với hành vi trộm cắp lừa gạt tài sản công dân” của tác giả Trần Vũ; hoặc bài viết “Tập quán và vai trò của người ñàn ông Ê Đê trong xã hội mẫu hệ” của tác giả Nguyễn Thị Hòa v.v Bài viết
có tựa ñề “Văn hóa thích nghi của người H’Mông trắng ở Thài Phìn Tủng, Đồng Văn, Hà Giang” của tác giả Lê Trọng Cúc là một trong ít công trình nghiên cứu về tập quán của người H’Mông ñược trình bày tại hội thảo này; Thừa Thiên Huế là ñịa bàn có ñông ñồng bào thiểu số, tác giả Nguyễn Văn Mạnh có bài “Những qui ñịnh khai thác và bảo vệ ñất ñai trong sản xuất nương rẫy của ñồng bào các dân tộc thiểu số ở Thừa Thiên - Huế” v.v
- Tác giả Ngô Đức Thịnh có khá nhiều công trình nghiên cứu về luật tục, trong ñó phải kể ñến: Cuốn “Tìm hiểu luật tục các tộc người ở Việt Nam”
Trang 17[103], công trình 11 chương, gồm hai phần, phần khảo sát các khía cạnh khác nhau của luật tục (như góc ñộ tiếp cận, bản chất, hình thức phát triển của luật tục ), phần hai giới thiệu luật tục một số dân tộc “Luật tục trong ñời sống các tộc người ở Việt nam” [104], tác giả ñã kế thừa công trình nêu trên ñể phát triển có chiều sâu hơn, nhất là phần cơ sở lý luận
- Cuốn “Luật tục với ñời sống” của tác giả Phan Đăng Nhật [74], ñã luận giải luật tục các dân tộc Việt Nam và giới thiệu minh chứng nội dung luật tục JRai trên một số lĩnh vực liên quan của ñời sống xã hội
- Quảng Nam là ñịa bàn có nhiều tộc người thiểu số sinh sống, tác giả Bùi Quang Thanh cùng các cộng tác viên ñã dày công khảo cứu cho ra mắt công trình “Nghiên cứu luật tục, phong tục các dân tộc thiểu số ở Quảng Nam” [93], cuốn sách ñã ñiều tra, khảo sát thực trạng khai thác sử dụng luật tục của bốn nhóm dân tộc ít người, gồm Co, Cơ Tu, Giẻ Triêng và Xơ Đăng, tìm hiểu nhận thức, thái ñộ và hoạt ñộng thực hành luật tục; làm rõ vai trò tác ñộng của luật tục; ñưa ra những bất cập trong qúa trình thực hiện luật tục; ñồng thời ñề xuất một số giải pháp mang tính ứng dụng vào thực tiễn phát triển kinh tế, xã hội ở vùng này
- Cá biệt có một số công trình chuyên nghiên cứu vận dụng luật tục ñối với các hoạt quản lý xã hội, quản lý nhà nước như: Tác giả Trương Tiến Hưng với ñề tài “Vận dụng luật tục dân tộc Chăm trong quản lý cộng ñồng người Chăm của chính quyền cơ sở ở tỉnh Ninh Thuận” [48], tác giả
ñã làm rõ cơ sở lý luận vận dụng luật tục Chăm, khảo sát thực tiễn thực trạng vận dụng và ñưa ra những giải pháp ñể chính quyền cơ sở vùng dân tộc Chăm Ninh Thuận tổ chức thực hiện Tác giả Lê Đình Hoan với ñề tài
“Luật tục Ê Đê và sự vận dụng trong quản lý nhà nước ở tỉnh Đắc Lắc”, là công trình nói rõ về nghiên cứu vận dụng quản lý nhà nước của chính quyền [37]
- Đối với người Việt, tác giả Bùi Xuân Đính có cuốn “Hương ước và quản lý làng, xã” [26], ñây là một trong những công trình nghiên cứu có chiều
Trang 18sâu về hương ước của người Việt trong mối quan hệ với quản lý xã hội ở làng
1.2.2 Công trình nghiên cứu liên quan ñến người Thái ở Việt Nam
2.2.1 Các công trình nghiên cứu v dân tộc học, l ch sử, văn hóa, bản sắc dân tộc liên quan ñến người Thái Việt Nam
Với quá trình lịch sử phát triển lâu dài và tính phong phú, ña dạng, ñộc ñáo của mình, văn hóa và lịch sử dân tộc Thái ñã ñược ñông ñảo c¸c nhà khoa học trong nước quan tâm nghiên cứu từ nhiều năm nay Theo thống kê của Giáo sư, Tiến sĩ Shigêharu Tanabê (người Nhật Bản) thì cuối thế kỷ XIX ñến năm 1991 ñã có 1.303 tác giả viết về các tộc người nói tiếng Thái [21] Nội dung các bài viết ñó ñã ñề cập ñến tất cả các lĩnh vực liên quan ñến người Thái Đông Nam Á Tác giả nghiên cứu về người Thái ở Việt Nam, kể cả trong và ngoài nước cũng khá phong phú, tiêu biểu có một số công trình
nghiên cứu như sau:
- “Nhận xét về người Tày Đèng ở Lang Chánh” của tác giả R.Rô - ber [84] Công trình nghiên cứu về ñịa lý, về con người và một số phong tục của người Thái ở Lang Chánh - Thanh Hoá Đặc biệt, tác giả ñã dày công quan sát văn hóa con người nơi ñây và ñưa ra những ñánh giá, nhận xét khá thú vị về phong cách sinh hoạt, ñời sống thường ngày, về văn hóa tâm linh của người Thái ở Lang Chánh, Thanh Hóa
- “Người Thái ở Tây bắc Việt Nam” của tác giả Cầm Trọng Nghiên cứu về lịch sử, kinh tế, xã hội, tập quán người Thái Tây Bắc Việt Nam Có thể khẳng ñịnh, ñây là công trình của tác giả Việt Nam ñầu tiên giới thiệu khá sâu sắc
về văn hoá, phong tục tập quán của người Thái Tây Bắc nước ta [114]
Trang 19Thấy ñược những giá trị văn hóa, lịch sử và dân tộc học của cộng ñồng các tộc người ngữ hệ Thái - Kadai, từ hơn 20 năm nay (1991) Viện Việt Nam học và khoa học phát triển - Đại học Quốc gia Hà Nội ñã sáng lập Chương trình Thái học nhằm nghiên cứu những ñặc ñiểm về quá trình tộc người, mối liên hệ văn hóa tộc người, không gian văn hóa và các mối quan hệ của cộng ñồng trong khu vực Tây Bắc Việt Nam Từ ñó ñến nay, Chương trình Thái học ñã tổ chức sáu Hội thảo khoa học Hội thảo lần thứ nhất ñược tổ chức tại
Hà Nội vào năm 1991 với chủ ñề chung về nhóm ngữ hệ Thái - Kadai, có 34 báo cáo khoa học và 39 lượt tác giả [20] Hội thảo lần thứ II (Năm 1998), Hội thảo lần thứ III (2002) ñược tổ chức tại Hà Nội với chủ ñề về “Các vấn ñề văn hóa, lịch sử”, Hội thảo lần thứ hai có 58 báo cáo khoa học, 62 lượt tác giả [21]; Hội thảo lần thứ ba có 117 báo cáo khoa học, 115 lượt tác giả [22] Hội thảo lần thứ IV (năm 2006) ñược tổ chức tại Cao Bằng với chủ ñề “Đóng góp của các dân tộc Tày Thái trong tiến trình lịch sử Việt Nam” có 61 báo cáo khoa học, với 53 lượt tác giả tham gia [23] Hội thảo lần thứ V (2009) ñược tổ chức tại Điện Biên với chủ ñề “Địa danh và những vấn ñề lịch sử, văn hóa” có
50 báo cáo của 50 nhà khoa học [24] Hội thảo lần thứ VI ñược tổ chức vào tháng 6 năm 2012 tại Thanh Hoá với chủ ñề “Cộng ñồng dân tộc Thái - Kadai: Truyền thống, hội nhập và phát triển” có 74 báo cáo khoa học của 87 lượt tác giả [25] Thông qua những hoạt ñộng nêu trên cho thấy nhóm ngữ hệ Thái - Kadai nói chung và Văn hóa Thái nói riêng ñã ñược nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu Các công trình giới thiệu tại sáu cuộc Hội thảo ñều ñược ñầu tư công phu, có cơ sở khoa học và sát với thực tiễn cuộc sống, bước ñầu lý giải nhiều vấn ñề mà lâu nay giới nghiên cứu văn hóa, lịch sử còn tranh luận Một ñiều quan trọng hơn phải khẳng ñịnh, ñây là môi trường hết sức có
ý nghĩa nhằm bảo tồn bản sắc văn hóa của các tộc người nói tiếng Thái trên thế giới cũng như ở Việt Nam
- Nghệ An là tỉnh có nhiều dân tộc thiểu số, trong ñó người Thái chiếm
ña phần Nghiên cứu ñầu tiên về cộng ñồng thiểu số ở Nghệ An của tác giả Nguyễn Đình Lộc có tựa ñề “Các dân tộc thiểu số Nghệ An” [57], công trình
Trang 20này ñã giới thiệu một cách khái quát văn hoá, lịch sử, truyền thống của ñồng bào ở Thái Nghệ An, ñây cũng là công trình ñã và ñang là “cẩm nang” quan trọng cho những người quan tâm tìm hiểu văn hóa các dân tộc thiểu số Nghệ
An, trong ñó có người Thái
- Các công trình về văn hoá nghệ thuật, giới thiệu về ca dao, dân ca, hát giao duyên, truyện cổ, truyện thơ dân tộc Thái, cụ thể như: “Thơ ca, nghi lễ dân tộc Thái” [45]; “Hát giao duyên người Thái Nghệ An” của tác giả Lò Khánh Xuyên [133]; Công trình “Ngôn ngữ với việc hình thành âm ñiệu ñặc trưng trong dân ca Thái Tây Bắc Việt Nam" của tác giả Dương Minh Sơn [89]; Công trình có tựa ñề tiếng Thái “Tạo Sông Ca - Nàng Si Cáy” do Lương Thị Đại biên dịch [19], câu chuyện kể về tình yêu khác thường của ñôi trai gái Sông Ca và Si Cáy, tình yêu nở từ khi bé gái Si Cáy còn trong bụng mẹ, vượt nhiều khó khăn trở ngại rồi cuối cùng Sông Ca và Si Cáy lấy nhau, sống hạnh phúc bên nhau Tác giả Quán Vi Miên có khá nhiều công trình,
ñó là: “Ca giao - Dân ca Thái Nghệ An”, Tập 1, Tập 2 [67]; “Tang lễ của người Thái ở Nghệ An” [68]; “Tục ngữ Thái giải nghĩa” [69]; “Chương Han” của tác giả Vương Trung [119], ñây là tác phẩm mang tầm vóc sử thi anh hùng ca; “Văn hóa dân gian người Thái” của tác giả Lò Vũ Vân [129];
“Hày Xổng Phi (khóc tiễn hồn)" của tác giả La Quán Miên [66]; “Truyện
cổ Thái” của tác giả Ninh Viết Giao [28], là công trình khoa học tập hợp kho tàng truyện cổ của người Thái, chủ yếu sưu tầm ở vùng núi phía Tây Nghệ An Những nỗ lực nêu trên thể hiện tâm huyết của các nhà nghiên cứu, sưu tầm ñối với dân tộc Thái, mặt khác ñây là biểu hiện sinh ñộng của
sự phong phú, ña dạng, ñộc ñáo, bất tận của văn hóa người Thái ở nước ta
- “Văn hóa Thái Việt Nam” của nhóm tác giả Cầm Trọng, Phan Hữu Dật [115] Công trình này giới thiệu tổng quát về người Thái và Thái học, về văn hóa Thái trong cội nguồn chung của Việt Nam và Đông Nam Á và Mối quan hệ giữa văn hóa Thái với văn hóa các dân tộc nói ngôn ngữ Môn -Khơ
Me ở Tây Bắc và một số dân tộc ở miền Bắc Việt Nam
- “Các giá trị văn hóa vật chất của người Thái ở miền núi Nghệ An” của tác giả Artha Nantachukra [72] Đây cũng là một trong số rất ít công trình
Trang 21nghiên cứu có chiều sâu về văn hóa người Thái ở Nghệ An Tác giả là người Thái Lan, thuộc nhóm Tày Đăm (Thái Đen) ở Đông Bắc Thái Lan, tương ñồng văn hóa với người Thái ở Việt Nam, nên sau khi công trình ñược công
bố ñã ñược ñông ñảo giới nghiên cứu văn hóa, lịch sử ñánh giá cao
- “Thiết chế bản - mường truyền thống của người Thái ở miền Tây Nghệ An” của tác giả Vi Văn An [1] Đây là công trình khoa học ñầu tiên ở Việt Nam ñề cập tới vấn ñề thiết chế quản lý xã hội của cộng ñồng dân tộc Thái Trọng tâm nghiên cứu của luận án là hai mường thuộc huyện Con Cuông tỉnh Nghệ An (ngày nay), ñó là Mường Quạ và Mường Chai Luận án
ñã rút ra những kết luận quan trọng, có ý nghĩa lý luận về lịch sử, nguồn gốc quản lý xã hội trong cộng ñồng dân tộc Thái lúc bấy giờ
- “Bảo tồn và phát triển văn hóa truyền thống của người Thái Bắc Trung bộ hiện nay”, do tác giả Cao Văn Thanh chủ biên [94] Nghiên cứu ñại cương về người Thái và văn hóa truyền thống của người Thái ở vùng núi Bắc Trung bộ, khái quát thực trạng văn hóa và ñưa ra một số giải pháp bảo tồn, phát huy, phát triển các giá trị văn hóa truyền thống của người Thái Bắc Trung Bộ trong giai ñoạn hiện nay
- Tác giả Cầm Trọng có cuốn “Những hiểu biết về người Thái ở Việt Nam” [118] Tác giả tiếp tục nghiên cứu giới thiệu bổ sung về lịch sử, văn hóa, kinh tế, xã hội, tín ngưỡng tôn giáo người Thái Việt Nam Đây là công trình có phương pháp tiếp cận mới, ña chiều, nhiều chi tiết khi luận giải về cội nguồn lịch sử, văn hóa Thái ñã gắn liền với cội nguồn lịch sử, văn hóa của người Việt
- “Khủn Chưởng anh hùng ca Thái” của tác giả Phan Đăng Nhật [73], là công trình khoa học ñầu tiên ở Việt Nam nghiên cứu về Khủn Chưởng bằng hai thứ tiếng Việt và Anh; giới thiệu tác phẩm Khủn Chưởng bằng chữ Quốc ngữ, chữ Thái cổ và chữ Thái la tinh “Khủn Chưởng anh hùng ca Thái” còn gọi là Lái Khủn Chưởng, lưu truyền rất lâu ñời và sâu rộng trong nhân dân bằng nhiều hình thức như: kể, hát (khắp), khóc (hày) và ghi bằng chữ Thái cổ, trong ñó phổ biến nhất là hát Qua Khủn Chưởng chúng ta ñược tiếp cận với một kho tàng huyền thoại Thái phong phú, sinh ñộng và hấp dẫn Bản anh hùng ca cho ta cuốn
Trang 22hút vào những cảnh chiến ñấu can trường, dũng cảm với vô vàn voi ngựa, gươm ñao, những ñám cưới ca hát say sưa, của cải tràn trề; niềm vui thắng trận, cũng như nỗi ñau ñớn buồn thương khi Khủn Chưởng nửa chừng phải lìa ñời v.v
- Tác giả Vi Văn Biên có công trình: "Một số phong tục và lễ hội truyền thống của người Thái ở Thanh Hoá và Nghệ An" [9] Đây là một trong nhưng công trình hiếm hoi nghiên cứu về người Thái ở phạm vi hai ñịa phương Thanh hóa, Nghệ An, và cũng là một công trình có phân tích khái quát bước ñầu về những giá trị văn hóa, phong tục tập quán trong ñời sống người Thái Bắc Trung Bộ Việt Nam
Như vậy, thông qua các công trình nghiên cứu ñã nêu ở trên, cho chúng
ta hình dung sự ưu ái, quan tâm ñặc biệt của các nhà nghiên cứu, các nhà sưu tầm về văn hóa các dân tộc nói tiếng Thái trên thế giới nói chung và văn hóa người Thái Việt Nam nói riêng Ngoài những công trình nêu trên, còn có rất nhiều khóa luận, luận văn, bài viết trên các tạp chí nghiên cứu về văn hóa, ngôn ngữ v.v của người Thái trong thời gian qua
Vấn ñề chúng ta rút ra ở ñây là, các công trình nghiên cứu ñã góp phần quan trọng cho việc giới thiệu và bảo tồn bản sắc văn hóa cộng ñồng người Thái song hành cùng nền văn hóa của ñại gia ñình dân tộc Việt Nam
2.2.2 Các công trình nghiên cứu có liên quan ñến luật tục người Thái ở Việt Nam
Nghiên cứu, giới thiệu, sưu tầm luật tục ở Việt Nam ñã ñược các nhà khoa học quan tâm từ khá lâu Tuy nhiên, việc nghiên cứu luật tục ñể quản lý
xã hội hiện ñại thì mới xuất hiện từ vài chục năm trở lại ñây
Phải khẳng ñịnh rằng, các học giả nước ngoài là những người tiên phong trong nghiên cứu giới thiệu luật tục và nghiên cứu các khía cạnh vận dụng luật tục Sau ñó, nhiều học giả trong nước ñã tiếp cận vấn ñề này một cách tích cực, song mới chỉ dừng lại ở việc tập hợp luật tục, giới thiệu ñặc ñiểm, ưu, khuyết ñiểm của luật tục, và gợi mở một số nét cơ bản về vận dụng, chưa có công trình chuyên sâu về vấn ñề vận dụng vào quản lý xã hội Một số công trình nổi bật phải kể ñến ñó là:
Trang 23- Cuốn “Tư liệu về Lịch sử và xã hội dân tộc Thái” của nhóm tác giả Đặng Nghiêm Vạn, Cầm Trọng, Khà Văn Tiến, Tòng Kim Ân [128] Công trình tập hợp và giới thiệu các nội dung chủ yếu sau: Truyện kể bản mường; Lai lịch dòng họ Hà Công; Lệ mường; Luật mường; Tục lệ người Thái Đen ở Thuận Châu - Sơn La
- Cuốn sách tập hợp các công trình nghiên cứu của nhiều tác giả, với tựa ñề “Luật tục và phát triển nông thôn ở Việt Nam hiện nay" [121] Tại ñây,
có những bài viết của nhiều tác giả nghiên cứu về vận dụng luật tục, cụ thể như: “Luật tục và chiến lược phát triển nông thôn ở Việt Nam” của tác giả Nguyễn Duy Quí [121, tr.13]; “Vai trò của luật tục vùng cao trong công tác giao ñất khoán rừng và quản lý tài nguyên thiên nhiên”, của tác giả Hoàng Xuân Tý [121, tr.310]; “Vai trò của phong tục tập quán và việc kế thừa phong tục tập quán trong xây dựng pháp luật” [121, tr.863]; “Luật tục và vấn ñề quản lý tài nguyên thiên nhiên: những gợi ý nhằm hoà hợp luật thành văn và luật tục ở Châu Á”, của tác giả John Ambler [121, tr.219-257]; “Luật truyền thống của người Thái: Khái quát chung về luật hiít khoòng ở Lào” của tác giả Oliver Raendchen [121, tr.581], tại ñây, tác giả ñã dẫn chứng về luật tục truyền thống, ñó là luật hiit khoòng hiện ñang có hiệu lực ở các bộ tộc người Lào, Thái Phuan, Thái Lue, Thái Yuan, Thái Dam Một số bài viết về luật tục người Thái, ñiển hình như: “Luật tục Thái với việc bảo vệ môi trường” của tác giả Cầm Trọng [121, tr.356]; “Phong tục trong hôn nhân và gia ñình của người Thái Mường Tấc (Phù Yên - Sơn La)” của tác giả Hoàng Lương [121, tr.582] Tác giả cho rằng, ñây là hội thảo khoa học lớn nhất bàn về vận dụng luật tục vào phát triển nông thôn ở Việt Nam Tuy nhiên, hội thảo nghiên cứu
hệ thống luật tục của nhiều dân tộc khác nhau trong cả nước, do ñó luật tục người Thái vẫn chưa ñược mổ xẻ có chiều sâu, nhất là nghiên cứu những giá trị của luật tục người Thái và sự vận dụng trong quản lý nhà nước ñối với cộng ñồng người Thái Bắc Trung Bộ thì chưa có công trình nào ñề cập tới
- Nhóm tác giả Ngô Đức Thịnh và Cầm Trọng có cuốn “Luật tục Thái
ở Việt Nam” [102] Công trình ñược trình bày bằng hai ngôn ngữ: chữ Thái
và bản dịch tiếng Việt Nội dung chủ yếu của cuốn sách trình bày khái quát một số khái niệm về luật tục, luật tục người Thái; những nội dung cơ bản của
Trang 24luật tục người Thái Đen ở Thuận Châu, Sơn La và một số nội dung luật tục người Thái ở Tây Bắc do ñồng tác giả Cầm Trọng sưu tầm
- Cũng là một dạng, một hình thức luật tục người Thái, tác giả Quán Vi Miên ñã sưu tầm và giới thiệu cuốn “Tục ngữ Thái giải nghĩa” [69] ñược thực hiện dưới hai ngôn ngữ: Phiên âm tiếng Thái (La Tinh) và dịch nghĩa tiếng Việt, gồm giới thiệu những nội dung tác giả sưu tầm ñược ở Nghệ An
- Cuốn sách có tiêu ñề “Tìm hiểu luật tục các dân tộc ở Việt Nam” của tác giả Ngô Đức Thịnh [103] Trong ñó có phần giới thiệu luật tục người Thái, tác giả
ñã nêu khái quát vai trò của luật tục trong phát triển nông thôn Việt Nam
Cũng phải ñánh giá khách quan rằng, những công trình nghiên cứu về luật tục người Thái các tác giả chỉ mới dừng lại việc trình bày hệ thống luật tục của các dân tộc thiểu số, khái quát sơ lược vấn ñề vận dụng, chưa ñi sâu nghiên cứu việc vận dụng luật tục, nhất là luật tục người Thái vào thực tiễn công tác quản lý nhà nước, quản lý xã hội ở vùng dân tộc Thái
- Công trình sau ñây ñã giới thiệu khá chi tiết về tín ngưỡng cúng vía của người Thái, ñó là cuốn “Tìm hiểu một số tục cúng vía của người Thái Đen ở Mường Lò” [34] Nội dung của của cuốn sách trình bày tục cúng vía- một nét văn hóa của người Thái nói chung, Thái Đen Mường Lò nói riêng Cúng vía là hình thức sinh hoạt tín ngưỡng trong cộng ñồng người Thái Cúng vía, tức là gọi hồn, gọi vía, một nghi lễ tín ngưỡng Theo quan niệm của người Thái, người sống có vía của người sống (tiếng Thái gọi là phi khoăn), người chết có vía, tiếng Thái gọi là phi tai, một số con vật, cây cối, rừng núi, ñất ñai…người ta quan niệm ñều có hồn, vía Và theo tục lệ,
có thể cúng vía theo ñịnh kỳ, theo chu kỳ hoặc có thể cúng vía ñột xuất do
có các sự kiện vui, buồn…khác nhau phát sinh trong ñời sống thường nhật Cho ñến nay, tục lệ này ñang ñược duy trì khá phổ biến trong cộng ñồng người Thái ở Việt Nam
- Tác giả Bùi Xuân Trường với cuốn: “Tác dụng của luật tục ñối với việc quản lý xã hội ở các dân tộc Thái, H’Mông Tây Bắc Việt Nam” [124] có phương pháp tiếp cận luật tục thực tế hơn, gắn với những vấn ñề liên quan ñến quản lý xã hội, có tính thời sự Tuy nhiên, công trình này mới ở dạng khái quát, và nghiên cứu chung cho quản lý xã hội, không ñi sâu khai thác ở nhiều
Trang 25lĩnh vực quản lý nhà nước Đặc biệt phần cơ sở lý luận và phần giải pháp chưa ñược ñầu tư công phu
- Liên quan ñến giá trị của luật tục người Thái, có nhiều công trình ñã tập hợp, giới thiệu về phong tục tang lễ, cưới xin, tri thức dân gian của người Thái, ví dụ như: Cuốn: “Hôn nhân truyền thống dân tộc Thái ở Điện Biên” của nhóm tác giả Lương Thị Đại, Lò Xuân Hinh [18]; “Hôn nhân và gia ñình các dân tộc Tày, Nùng và Thái ở Việt Nam” của tác giả Đỗ Thúy Bình [11];
“Phong tục tang lễ của người Thái Đen xưa kia”, tác giả Lương Văn Trung [120]; hoặc cuốn “Văn hóa Thái, những tri thức dân gian”, của tác giả Đặng Thị Oanh [79]
Nhìn chung, tất cả các công trình nghiên cứu của các tác giả là sự nỗ lực, cố gắng ñể mang những giá trị dân gian vào cuộc sống ñương ñại một cách hài hòa, với mong muốn sẽ có ñược hiệu quả nhất ñịnh Tuy nhiên, xét
về góc ñộ gắn với thực tiễn quản lý xã hội, quản lý nhà nước, các công trình chỉ dừng lại ở lĩnh vực dân tộc học, sử học, hoặc có tác giả ñã nghiên cứu về vận dụng luật tục nhưng mới ở mức ñộ tiếp cận khái quát mang tính bước ñầu, và chỉ nghiên cứu ở một số lĩnh vực, một số vùng miền trong phạm vi hẹp, luật tục người Thái vẫn chưa ñược nghiên cứu một cách có hệ thống Mặt khác, quá trình nghiên cứu các tác giả chưa có sự so sánh giữa luật tục với các qui phạm pháp luật và chưa phân tích rõ những tiến bộ hay hạn chế của hệ thống luật tục ñó, ñặc biệt là chưa có công trình nào nghiên cứu, ñánh giá có chiều sâu về những giá trị của luật tục người Thái trên nhiều lĩnh vực liên quan ñến quản lý xã hội, quản lý nhà nước, nhất là nghiên cứu vận dụng luật tục người Thái trong quản lý nhà nước ñối với cộng ñồng người Thái Bắc Trung Bộ Việt Nam thì chưa có công trình nào công bố
1.3 ÁNH GIÁ KHÁI QUÁT K T QUẢ CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.3.1 Các công trình nghiên cứu của tác giả nước ngoài
ột số kết quả ñạt ñược
Công trình nghiên cứu về luật tục, hình thức tập quán pháp ñược ñông ñảo các nhà khoa học chính trị, khoa học pháp lý, các nhà dân tộc học trên thế giới rất chú ý, ñặc biệt tập trung ở các nước lúc bấy giờ có thuộc ñịa, như
Trang 26Anh, Pháp, Tây Ban Nha , trọng tâm nghiên cứu phải ñến thế kỷ XIX và ñầu thế kỷ XX mới ñược các nhà cầm quyền của các quốc gia có thuộc ñịa và các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu có tính hệ thống hơn
Những nhận ñịnh bước ñầu, có ý nghĩa ñịnh hướng nhận thức và thôi thúc các nhà cầm quyền và nhà khoa học quan tâm nghiên cứu, ñó là quan ñiểm: Tất cả những hiện tượng văn hóa ñều cần thiết và mang chức năng nhất ñịnh trong một xã hội nhất ñịnh
Từ những sự quan tâm ñó, việc nghiên cứu luật tục ñược thực hiện thông qua các bước, từ việc sưu tầm, phân loại luật tục ñến việc ñánh giá, vận dụng, phổ biến luật tục Các công trình nghiên cứu ñã góp phần làm phong phú thêm khối tư liệu khoa học trên nhiều lĩnh vực lịch sử, nhân học, văn hóa học , ñặc biệt hơn ñã góp phần làm phong phú thêm môn khoa học pháp lý cũng như khoa học quản lý; mặt khác những công trình nghiên cứu nêu trên là kho tư liệu có ý nghĩa tham khảo ñể lại cho thế hệ mai sau tiếp tục tìm hiểu, nghiên cứu và phát triển
Thông qua nhiều công trình nghiên cứu và vận dụng vào thực tiễn, cơ bản các nhà khoa học ñều thống nhất khẳng ñịnh: tập quán, luật tục, ngoài việc nó có giá trị trong các môn khoa học khác (dân tộc học, nhân loại học, văn hóa học ), còn có giá trị trong khoa học quản lý Nếu việc nghiên cứu có tính hệ thống, vận dụng một cách hài hòa sẽ giúp cho chính quyền quản lý có hiệu quả trên nhiều lĩnh vực của ñời sống xã hội, nhất là ñối với cộng ñồng các dân tộc thiểu số
Một trong những ñóng góp lớn nhất của những công trình nghiên cứu này là việc ñưa các lý thuyết về tiến bộ xã hội trở thành những nấc thang quan trọng trong quá trình phát triển của loài người, của các thể chế Nhà nước Từ việc con người nô lệ, số phận phụ thuộc trở thành có tự do hơn; từ một xã hội bảo thủ, ñộc tài, vô dân chủ trở thành một xã hội dân chủ và văn minh hơn
3.1.2 Một số vấn ñề chưa ñược quan tâm
Nhìn chung, chủ thể nghiên cứu hình thức tập quán pháp trên thế giới chỉ mới tập trung ở các nước có thuộc ñịa, chưa lan rộng thành môn khoa học chung, có tính phổ thông ñể tất cả các nhà khoa học, các chính quyền vào cuộc Đối tượng nghiên cứu cũng chỉ tập trung ở các nước thuộc ñịa, hoặc phạm vi cộng ñồng nhỏ hẹp, cộng ñồng thiểu số
Trang 27Việc nghiên cứu luật tục nhằm mục ñích vận dụng vào quản lý xã hội chưa thực sự rõ nét, khó thực hiện trên thực tế, có khi xảy ra xung ñột giữa luật quốc gia và tập quán; ở châu Á, ñặc biệt là Việt Nam, chưa có nhiều học giả nước ngoài nghiên cứu vai trò của luật tục của các dân tộc thiểu số và hương ước của người Việt, nhất là nghiên cứu ñề xuất những giá trị của luật tục ñể vận dụng vào quản lý nhà nước, quản lý xã hội thì còn hạn hữu Hoặc
có chăng nữa chỉ mới tập trung ở một số cộng ñồng thiểu số ở Tây Nguyên (Việt Nam), chưa thật sự quan tâm nghiên cứu luật tục người Thái trên thế giới nói chung và luật tục người Thái ở Việt Nam nói riêng
Khi nghiên cứu luật tục, các tác giả chỉ mới quan tâm việc sưu tầm, tập hợp và giới thiệu là chủ yếu, hiếm có công trình nghiên cứu chiều sâu, hoặc vừa sưu tầm, vừa nghiên cứu ñánh giá, ñưa ra những ñề xuất mang tính khoa học, có tính thời ñại
1.3.2 Các công trình nghiên cứu của tác giả trong nước
3.2.1 Một số kết quả ñạt ñược
Những công trình nghiên cứu luật tục các dân tộc ở trong nước tương ñối ña dạng Nhiều công trình ñã ñào sâu cơ sở lý luận vận dụng luật tục, hương ước ñể quan lý xã hội nói chung Trong ñó, có công trình ñã nghiên cứu, luận giải khá chi tiết nội dung, giá trị của luật tục và ñề xuất giải pháp vận dụng trong quản lý nhà nước ở cơ sở Đây là những tư liệu có ý nghĩa thực tiễn góp phần cùng pháp luật hiện hành, thể chế hiện hành quản lý xã hội
có hiệu quả hơn, ñồng thời là cơ sở ñể cộng ñồng các dân tộc giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa của mình
Công trình nghiên cứu về dân tộc học, lịch sử, văn hóa, bản sắc dân tộc liên quan ñến người Thái ở Việt Nam cho ñến nay là hết sức phong phú Nếu so sánh thật sự công bằng về những tư liệu nghiên cứu, giới thiệu văn hóa tộc người nói chung thì chỉ ñứng sau những công trình nghiên cứu văn hóa của người Việt
Hầu hết các công trình nghiên cứu ñều khẳng ñịnh, người Thái cũng như Văn hóa Thái gắn liền với lịch sự hình thành và phát triển của Quốc gia, dân tộc Việt Nam Cộng ñồng người Thái có nhiều ñóng góp quan trọng, có mặt quyết ñịnh trong việc xây dựng và bảo vệ ñất nước qua từng thời kỳ lịch sử cụ thể
Trang 28Những nhà nghiên cứu ñi tiên phong ñó là các học giả nước ngoài ñến
từ nước Pháp, Thái Lan và Lào Bước ñầu, các nhà khoa học ñã tiếp cận tìm hiểu văn hóa Thái theo vùng, hoặc theo nhóm riêng lẻ, các nghiên cứu ñều có chiều sâu nhất ñịnh Tiếp ñến là các nhà nghiên cứu trong nước, số này có thể chia thành các nhóm nghiên cứu theo môn khoa học như: Dân tộc học, khoa học lịch sử, văn hóa học, văn hóa dân gian Hầu hết các nhà nghiên cứu ñều ñánh giá người Thái có bản sắc văn hóa ñộc ñáo, nhân văn và cần ñược tôn trọng, nghiên cứu, tìm hiểu, lý giải một cách nghiêm túc
Trong ñiều kiện hội nhập quốc tế về văn hóa và nhu cầu của ñồng bào thiểu số, trong khi bản sắc văn hóa của các tộc người ngày càng bị mai một thì những công trình nghiên cứu nêu trên là những tài sản vô giá cho Việt Nam nói chung, dân tộc Thái nói riêng giữ và thắp sáng thêm ngọn lửa bản sắc văn hóa cho dân tộc mình; ñồng thời là những tư liệu quí phục vụ cho nhu cầu nghiên cứu lịch sử, văn hóa cộng ñồng người Thái trên thế giới cũng như người Thái ở Việt Nam
Công trình nghiên cứu có liên quan ñến luật tục người Thái và vai trò của nó trong quản lý xã hội Nội dung này, so với nhóm nghiên cứu về văn hóa, lịch sử nói chung thì hạn chế về tác giả và công trình nghiên cứu khoa học hơn Tuy nhiên, phần ña các công trình nghiên cứu luật tục người Thái vẫn là những bài nghiên cứu ngắn, khái quát, ñăng trên các tạp chí hay những
kỷ yếu của Hội thảo khoa học Những nghiên cứu này ít nhiều là những luận
cứ khoa học về quản lý cộng ñồng, quản lý xã hội, góp phần cùng pháp luật
và các thiết chế hiện hành quản lý xã hội có hiệu quả hơn
Ở ñây có thể chia vấn ñề nghiên cứu luật tục ra thành ba loại, một là, dạng sưu tầm, văn bản hóa, dịch thuật, ñơn thuần chỉ giới thiệu luật tục; hai
là, dạng vừa sưu tầm, vừa nghiên cứu vai trò của luật tục với xã hội hiện ñại;
ba là, dựa vào luật tục ñã ñược sưu tầm, giới thiệu ñể phân loại nó, phân tích,
ñánh giá ưu, khuyết ñiểm, giá trị của luật tục và ñề xuất những giải pháp vận dụng phù hợp Mỗi phương pháp nghiên cứu nêu trên có những ý nghĩa khác nhau, trong ñó ñóng góp cho việc giữ gìn và giới thiệu thuần phong mỹ tục của ñồng bào Thái là nội dung cốt lõi
Trang 29Không chỉ nghiên cứu thực trạng trong nước, có nhiều công trình ñã nghiên cứu thực tiễn diễn ra ở Trung Quốc và một số quốc gia có thể chế tương ñồng với Việt Nam ñể rút ra một số bài học kinh nghiệm quí báu cho qúa trình quản lý xã hội ở nước ta, những công trình nghiên cứu này thực sự ñáng trân trọng và cần tiếp tục quan tâm nghiên cứu, phát huy
3.2.2 Một số vấn ñề chưa ñược quan tâm
Các công trình nghiên cứu vận dụng luật tục các dân tộc trong nước trong quản lý nhà nước chưa ñược nhiều, vừa hạn chế về công trình và hạn chế về giải pháp kết hợp với pháp luật như thế nào, tổ chức thực hiện ra sao thì còn mờ nhạt Đa số công trình chủ yếu vẫn là tập hợp, phân tích, ñánh giá luật tục, công trình ñã công bố liên quan ñến việc ñề xuất các giải pháp vận dụng trong quản lý nhà nước chưa ñược các cấp chính quyền quan tâm triển khai thực hiện, chủ yếu chỉ mới dừng lại ở việc nghiên cứu, chưa ñược tổ chức có hiệu quả trên thực tiễn
Thông qua nghiên cứu, tìm hiểu tác giả cho rằng ñến nay chưa có công trình nào nghiên cứu tổng quát người Thái ở Việt Nam cư trú trên tất cả các vùng trong nước và có sự ñánh giá, so sánh ñiểm chung và những ñiểm khác biệt mang yếu tố ñịa phương của từng vùng Đặc biệt, rất ít công trình nghiên cứu thực trạng của của những vùng Thái trong thời kỳ ñổi mới, nhất là những vùng người Thái di dân tái ñịnh cư, di dân tự do v.v
Luật tục Thái chưa ñược nghiên cứu có hệ thống Mặt khác, quá trình nghiên cứu các tác giả chưa có sự so sánh một cách ñầy ñủ giữa luật tục và các qui phạm pháp luật và chưa phân tích rõ những tiến bộ hay hạn chế của hệ thống luật tục ñó, ñặc biệt là chưa có công trình nghiên cứu, ñánh giá sâu về nội dung, giá trị của luật tục người Thái trên nhiều lĩnh vực liên quan ñến quản lý xã hội, quản lý nhà nước, nhất là vận dụng luật tục người Thái trong quản lý nhà nước ñối với cộng ñồng người Thái Việt Nam nói chung, người Thái Bắc Trung Bộ nói riêng
1.4 NHỮNG VẤN ĐỀ CẦN TẬP TRUNG NGHIÊN CỨU, LUẬN GIẢI SÂU HƠN
1.4.1 Về phương diện lý luận
Luận án tập trung tìm hiểu ñặc ñiểm của luật tục người Thái và mối quan hệ giữa luật tục người Thái với pháp luật; phân tích luận giải khái niệm
Trang 30vận dụng, phương thức vận dụng luật tục người Thái trong quản lý nhà nước ñối với cộng ñồng người Thái; làm rõ những vấn ñề ñặt ra về vận dụng luật tục nói chung và vận dụng luật tục người Thái trong quản lý nhà nước ñối với người dân tộc thiểu số và cộng ñồng người Thái ở Việt Nam hiện nay; tìm hiểu kinh nghiêm vận dụng luật trên thế giới và ở trong nước, ñồng thời rút ra một số bài học kinh nghiệm gợi mở cho Việt Nam
1.4.2 V phương diện thực tiễn
Phân tích làm rõ những giá trị xã hội của luật tục người Thái ở Việt Nam hiện nay; tiến hành khảo sát thực tế, ñánh giá thực trạng vận dụng luật tục người Thái trong quản lý nhà nước ở cơ sở ñối với cộng ñồng người Thái; luận chứng các quan ñiểm, giải pháp ñảm bảo vận dụng luật tục người Thái trong quản lý nhà nước ñối với cộng ñồng người Thái Bắc Trung Bộ Việt Nam
Tiểu kết chương 1
Như vậy, qua phần ñánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan ñến ñề tài tác giả cho rằng: trên thế giới cũng như trong nước, ñã có nhiều tác giả với nhiều công trình nghiên cứu các nội dung liên quan ñến luật tục và hình thức tập quán pháp, về quản lý nhà nước, phân quyền, phân cấp, tự quản cộng ñồng Một số công trình ñã mạnh dạn nghiên cứu vận dụng luật tục trong quản lý nhà nước, tuy nhiên các công trình này không nhiều và còn hạn chế về phần ứng dụng Đa phần các công trình chỉ mới giới hạn ở việc tìm hiểu, phân tích, ñánh giá những giá trị của luật tục và ñề xuất giải pháp lưu giữ, bảo tồn là chính, việc ñề xuất các giải pháp vận dụng cụ thể chưa ñược các nhà khoa học chú trọng Quá trình nghiên cứu các tác giả chưa so sánh có chiều sâu giữa luật tục và các qui phạm pháp luật; chưa có sự phân tích mối tương quan của luật tục người Thái với pháp luật Đặc biệt, chưa có công trình nào nghiên cứu, ñánh giá công phu về những giá trị của luật tục người Thái trên nhiều lĩnh vực liên quan ñến quản lý xã hội, nhất là nghiên cứu vận dụng luật tục người Thái trong quản lý nhà nước ñối với cộng ñồng người Thái Bắc Trung Bộ Việt Nam thì chưa có công trình nào ñề cập ñến
Kết quả khảo cứu các công trình cho thấy, phong phú nhất là các công trình nghiên cứu, sưu tầm, giới thiệu về văn hóa dân tộc Thái ở Việt Nam,
Trang 31ngoài các nhà khoa học chuyên tâm nghiên cứu văn hóa, thì nhiều cá nhân tâm huyết ñã vào cuộc sưu tầm, giới thiệu, tôn vinh về văn hóa dân tộc Thái Những công trình nghiên cứu nói trên là nguồn tư liệu quí, trước hết làm cơ
sở ñể tác giả tham khảo thực hiện ñề tài này, và ñáng trân trọng hơn ñây là khối tư liệu ñể cho các thế hệ mai sau nối tiếp tìm hiểu, nghiên cứu, giới thiệu, sưu tầm lưu giữ bản sắc văn hóa Thái, góp phần bảo tồn bản sắc văn hóa cộng ñồng các dân tộc Việt Nam trong thời gian tới
Trong ñiều kiện bản sắc văn hóa của các tộc người ngày càng bị mai một thì những công trình nghiên cứu nêu trên là những tài sản vô giá cho dân tộc Việt Nam nói chung, dân tộc Thái nói riêng, góp phần giữ gìn và thắp sáng thêm ngọn lửa bản sắc văn hóa cho cộng ñồng các dân tộc Việt Nam
Yêu cầu về hội nhập quốc tế ngày càng sâu, những nền văn minh trên thế giới ñã và ñang tiếp tục nghiên cứu, vận dụng tập quán tiến bộ của các cộng ñồng người phục vụ cho yêu cầu phát triển hài hòa của quốc gia mình, thì Việt Nam không thể ñứng ngoài cuộc
Trang 32Chương 2 LUẬT TỤC NGƯỜI THÁI VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VẬN DỤNG LUẬT TỤC NGƯỜI THÁI TRONG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
ĐỐI VỚI CỘNG ĐỒNG NGƯỜI THÁI Ở VIỆT NAM
2.1 NGƯỜI THÁI VÀ LUẬT TỤC NGƯỜI THÁI Ở VIỆT NAM
2.1.1 Khái quát về người Thái ở Việt Nam
2.1.1.1 Ngu n gốc lịch sử, tên gọi, ñịa bàn cư trú
Theo nhiều công trình nghiên cứu, các nhà khoa học ñều tiếp cận theo hướng người Thái trên thế giới có chung một nguồn gốc Biểu hiện rõ nhất là thông qua ngôn ngữ, văn hóa Đã có công trình nghiên cứu cho rằng, gần 90% ngôn ngữ Thái trên thế giới nói chung là tương ñồng, thông qua các công trình nghiên cứu của Giáo sư Phan Đăng Nhật về bộ ba các anh hùng ca Thái: Khủn Chưởng (sưu tầm ở miền Tây Nghệ An), Chương Han (lưu truyền ở Tây Bắc Việt Nam) và Thạo Hùng hay Chương (lưu truyền ở Thái Lan và Lào), nhiều nội dung, nhân vật, cốt truyện cơ bản giống nhau [43, tr.419]
Người Thái ở Việt Nam, xét về góc ñộ lịch sử tộc người ñược các nhà khoa học xác ñịnh có chung nguồn gốc với người Thái trên thế giới, hay rộng hơn là những người cùng ngữ hệ Thái nói chung
Khá nhiều công trình nghiên cứu chuyên biệt về người Thái hoặc các công trình nghiên cứu về Thái học (Thai Studies) ñều chưa có công trình nào
ñủ cứ liệu khẳng ñịnh chắc chắn nguồn gốc của người Thái bắt ñầu từ ñâu Theo Hoàng Hoa Toàn trong bài viết có tựa ñề Đôi nét về lịch sử cổ ñại của người Thái ở Trung Quốc [20, tr.69], ông cho rằng tổ tiên của người Tày - Thái phía Tây ñã sớm và liên tục có mặt ở Tây Nam Trung Quốc từ vài thế kỷ trước công nguyên Vùng Tây Nam hoặc chính xác hơn là Vân Nam của Trung Quốc là ñất khởi thủy của người Thái và cho ñến ngày nay vẫn là nơi
tụ cư chính của người Thái ở Trung Quốc Căn cứ vào một số tài liệu và một
số truyền thuyết dân gian thì bắt ñầu từ thế kỷ thứ VIII sau công nguyên trở
về sau, dân tộc Thái ở Tây Nam Trung Quốc bắt ñầu diễn ra những ñợt thiên
di lớn, nhỏ khác nhau, những ñợt thiên di này ñều liên quan ñến một số sự
Trang 33kiện lịch sử Vào thế kỷ thứ VIII, tộc người Thái ở vùng biên giới Vân Nam
bị Nam Chiếu (728 - 902) chinh phục, người Nam Chiếu nhiều lần dùng vũ lực chuyển dời một bộ phận người Thái vào sâu trong nội ñịa Vân Nam Từ thế kỷ X trở ñi, do sự phát triển lớn mạnh của kinh tế - xã hội của bản tộc và
sự bành trướng của các vương triều Trung Hoa, nhất là thời Nguyên (thế kỷ XIII) ñẩy mạnh chính sách dùng vũ lực chinh phục các tộc người phương Nam dẫn ñến sự di cư lớn của người Thái ở vùng Tây Nam Trung Quốc xuống phương Nam Về sau, có bộ phận gặp ñược những ñiều kiện ñịa lý và lịch sử thuận lợi và ñã thành lập ñược các vương quốc trên lưu vực sông Mê Công, Tây Lào, Bắc Băng Gan, Thái Lan Cũng có bộ phận gặp ñiều kiện ít thuận lợi hơn, chỉ thành lập ñược các tiểu nhóm cát cứ, do những lãnh chúa phong kiến ñứng ñầu
Trong cuốn “Tư liệu về lịch sử và xã hội dân tộc Thái” do Đặng Nghiên Vạn chủ biên và một số cộng sự thực hiện [128]; các tác giả ñã cho chúng ta hình dung những nét cơ bản về lịch sử tộc người Thái Cuốn Truyện
kể bản mường của người Thái Đen, ghi các sự kiện xảy ra trong từng mường
do một chúa ñất cai quản, ñời này ghi tiếp ñời kia từ lúc hai nhân vật nửa huyền thoại, nửa có thực là tạo Ngần, tạo Xuông dẫn dắt người Thái theo dọc sông Hồng (nặm Tao) ñến khai phá ñất Mường Lò (Nghĩa Lộ ngày nay) và người con là Lạng Chượng ñi chinh phục các dân tộc cư trú ở Tây Bắc trước ñó bắt ñầu từ Mường Lò, qua Sơn La ñến Điện Biên cho ñến thời kỳ thực dân Pháp xâm lược Việt Nam Thông qua nhiều tài liệu, truyền thuyết
kể trên cho thấy người Thái di cư vào Tây Bắc Việt Nam bắt ñầu là Mường
Lò, sau ñó qua Sơn La rồi ñến Điện Biên, thời ñiểm này vào khoảng thế kỷ thứ X [114, tr.5]; di cư vào Bắc Trung Bộ thuộc nhánh từ sông Mê Công Thái Lan tới, nhánh này di cư sang Việt Nam rồi tiến về phía Mộc Châu, Yên Châu sau ñó theo sông Mã di cư về miền Tây Nghệ An Thời ñiểm người Thái di cư ñến vùng ñất này cũng chưa có ý kiến thống nhất, có thể sớm hơn thế kỷ XI hoặc không thể sớm hơn thế kỷ XII; theo các nguồn tài liệu thông
sử cho rằng người Thái có mặt tại ñây rõ nét nhất là thời thuộc Minh, từ thế
kỷ XIII - XV [1]
Trang 34Người Thái ở Việt Nam bao gồm nhiều ngành và mỗi ngành lại chia thành nhiều nhóm với những tên gọi khác nhau tùy theo từng ñịa phương Ở Tây Bắc có những nhóm: Thái Đen, cư trú chủ yếu ở Sơn La, Yên Bái, Điện Biên; Thái Trắng cư trú chủ yếu ở tỉnh Lai Châu, có một nhóm Thái Trắng ñã chịu ảnh hưởng lớn của văn hóa Tày, như ở Sa Pa, Bắc Hà - Lào Cai Sự phân chia cộng ñồng người Thái thành hai ngành Thái Trắng (Tày Khao), Thái Đen (Tày Đăm) rất phổ biến ở vùng Tây Bắc, thì ñối với người Thái ở Thanh Hóa
và Nghệ An, sự phân biệt lại không rõ Đặc ñiểm chung nổi bật về cách gọi tên của người Thái ở vùng này là gọi theo các mường, nơi họ ñang sinh sống (mường là thiết chế truyền thống của người Thái, tồn tại trước năm 1945) Cách gọi như vậy cũng phổ biến cho cả người Thái Tây Bắc và ñó là cách gọi theo ñịa danh
Tuy nhiên, dù ở các mường khác nhau, nhưng người Thái ở miền núi hai tỉnh này cũng tự xếp mình vào các nhóm ñịa phương (local groups) nào ñó mỗi khi họ cần phải làm như vậy, như trường hợp khi ñi ra khỏi ñịa bàn của mình Cụ thể, ở tỉnh Thanh Hóa có các nhóm Tày Do, Tày, Tày Mường Trong ba nhóm này, nhóm Tày và nhóm Tày Do có số lượng ñông hơn, Tày
Do thuộc ngành Thái Trắng, các nhóm Tày, Tày Mường thuộc ngành Thái Đen Từ Do ở ñây có thể hiểu người Thái có chung nguồn gốc với các từ Do
ñể chỉ Mường Do ở Vân Nam - Trung Quốc, Mường Do ở Nghĩa Lộ - Yên Bái, Mường Do ở huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu của Việt Nam
Ở Nghệ An có các nhóm Tày Mường, Tày Thanh, Tày Mười và vấn ñề tên gọi của các nhóm này phức tạp hơn Các nhóm Tày Mường còn có tên gọi
là Hàng Tổng và nhóm Tày Thanh còn gọi là Man Thanh Hàng Tổng là một
từ thuần Việt dùng ñể chỉ dân gốc của ñịa phương, còn Man Thanh cũng có ý nghĩa gần như Tày Thanh, cách gọi tên như vậy ñã trở thành thói quen ñược duy trì ñến ngày nay
Dù sự phân biệt thành các ngành Thái Trắng, Thái Đen ở miền núi của các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An không rõ ràng, nhưng nếu ñược hỏi thì người dân vẫn có thể tự xác ñịnh mình thuộc ngành nào Bộ phận tự gọi là Tày Do ở Thanh Hóa và Tày Mường ở Nghệ An chỉ là một, và họ tự nhận mình là
Trang 35người Thái trắng Các nhĩm Tày, Tày Mường ở Thanh Hĩa gần gũi với nhĩm Tày Thanh, Tày Mười ở Nghệ An và tự coi là người Thái đen
Cho đến nay, địa bàn cư trú của người Thái ở Việt Nam tập trung chủ yếu ở hai vùng Tây Bắc và Bắc Trung Bộ; vùng Tây Bắc gồm các tỉnh Lai Châu, Sơn La, Yên Bái, Lào Cai, Hịa Bình; vùng Bắc Trung Bộ gồm miền Tây hai tỉnh Thanh Hĩa và Nghệ An Ngồi ra, do chủ trương về định canh định cư và di cư tự do, một số tỉnh miền Trung Tây Nguyên đều cĩ đồng bào Thái cư trú, cĩ nơi thì tập trung thành xã, thành bản, cĩ nơi thì cư trú xen kẽ cùng với các dân tộc khác
2.1.1.2 Đặc trưng cơ bản của người Thái ở Việt Nam
Một là, người Thái cĩ truyền thống đồn kết, cố kết cộng đồng, cĩ tinh
thần tương thân tương ái, khơng những đối với đồng tộc mà cả cộng đồng quốc gia dân tộc Người Thái cĩ ý thức mình là một dân tộc trong Quốc gia Việt Nam đã cĩ từ bao đời, đồng bào tự nhận mình là người Thái của người Việt Nam hay là người Việt (cồn Việt) Ý thức này được thể hiện rất rõ trong tâm lý “yêu bản, mến mường” (hặc bán, pèng mường), họ luơn coi quê hương mình là một bộ phận của đất nước Việt Nam
Hai là, Người Thái cĩ một ngơn ngữ thống nhất Dù ngành Thái Trắng
hay Thái Đen, hay các nhĩm Thái địa phương (Tày Thanh, Tày Mường, Tày Hàng Tổng ) cơ bản đều đồng nhất về ngơn ngữ Khi so sánh ngơn ngữ Thái với ngơn ngữ của một dân tộc cùng nhĩm ngữ hệ như Tày, Nùng, Lào, Lự, Giấy thì cĩ thể kết luận đĩ là những ngơn ngữ cĩ chung một cội nguồn Ngơn ngữ Thái, nhất là Thái cổ cĩ ảnh hưởng rất quan trọng trong việc hình thành ngơn ngữ Việt cổ Ngơn ngữ này cĩ mấy đặc trưng cơ bản: Tiếng nĩi đơn âm,
cĩ thanh điệu (độ cao, thấp của từ cĩ phân biệt ý nghĩa) và cấu tạo theo thứ tự chủ ngữ - vị ngữ - các thành phần khác, trừ những câu thuộc mệnh lệnh thức,
ít cĩ trường hợp ngược thứ tự này Văn tự Thái bắt nguồn từ bộ chữ Phạn Đặc điểm của cách cấu tạo chữ Thái rất thống nhất, đĩ là chữ ghép vần, cĩ hệ thống phụ âm, nguyên âm để ghép lại thành tiếng
Ba là, Người Thái cĩ chung một tâm lý biểu hiện về các mặt văn hĩa
vật chất và tinh thần thống nhất
Trang 36Người Thái canh tác ở các thửa ruộng trong các thung lũng lòng chảo, với ñặc trưng dẫn thủy nhập ñiền (Mương, Phai, Lái, Lìn) và sử dụng các công cụ sản xuất thành thạo; có tập quán trồng lúa nếp và dùng lúa nếp làm lương thực chủ yếu
Về ẩm thực, người Thái có nhiều món ăn ñặc trưng, trong ñó phải kể ñến như: món cheo (chẻo), lạp, coi (một hình thức làm gỏi), pa pính tộp (cá
mổ dọc sống lưng của cá và cho gia vị, rau thơm, gấp cá lại và nướng), pa phe (cá mổ ở sống lưng, lấy que xâu lại, gác bếp cho khô, sau ñó hông lên ñể dùng); cenh bon (nấu canh bằng cây mùng ngọt); mọc, nạp v.v
Về nhà ở, người Thái ở nhà sàn (có thể nguyên vật liệu khác nhau), cơ bản kết cấu, sử dụng trong ngôi nhà có sự tương ñồng
Về mặc, phụ nữ mặc váy ñen hoặc váy có thêu hoa văn thổ cẩm, có khăn ñội ñầu (nổi bật là khăn piêu của người Thái Đen, hoặc khăn xờng của nhóm Thái Tày Thanh (Thái Đen) ở Nghệ An, thêu hoa văn hai ñầu khăn), áo phụ nữ ngắn, xẻ ngực, có ñính cúc nhỏ hình cầu hoặc cúc bạc hình bướm, nhện, ve sầu, hoa (loại áo này còn gọi là xứa cóm); lúc trời rét hoặc nghi lễ
có áo dài màu ñen, xẻ nách hoặc kiểu áo chui ñầu Nam giới xưa mặc quần ñen hoặc quần trắng, không có túi, không dải rút mà dùng thắt lưng, mặc áo
xẻ ngực, màu sắc thường màu ñen, hoa văn kẻ hoặc màu gạch non, cúc áo bằng ñồng hoặc tết bằng dây vải, áo có hai túi ở vạt trước hoặc có thể có một túi ngực; mùa rét hoặc ngày lễ thì mặc áo dài ñen xẻ nách, ñầu quấn khăn
Người Thái có tâm lý thống nhất là: Cần cù, dũng cảm trong lao ñộng
và ñấu tranh, tính tình thật thà, chất phác, giản dị, làm nhiều nhưng nói ít, thích từ tốn, chứ không dữ dội, nôn nóng Làm tới ñâu chắc tới ñó, chứ không hay làm thật nhiều Họ thích tự do phóng khoáng, ít tính toán trong sinh hoạt Người Thái rất mến khách, nên thường có tính rộng lượng Sinh hoạt gia ñình ñầm ấm, vợ chồng ít có cãi cọ, mắng chửi nhau, hoặc cha mẹ cũng ít mắng chửi con cái Đàn ông thì xốc vác, chăm chỉ; ñàn bà thì trung hậu, ñảm ñang, thương chồng, con Tình cảm của ñồng tộc ñược thể hiện rõ rệt, biểu hiện ở trong tập tục, sinh hoạt gắn bó của người người trong bản, trong mường
Sự thống nhất về mặt văn hóa, tinh thần của họ còn biểu hiện trên cách nhìn và giải thích thế giới Mặt này thường thể hiện trong các mô tuýp thần
Trang 37thoại và truyền thuyết về thiên nhiên, ñịa vực cư trú và nguồn gốc lịch sử của dân tộc mình Mặc khác còn thể hiện trong âm nhạc, nghệ thuật, văn học, các tập tục tín ngưỡng [114]
Người Thái có ñời sống tín ngưỡng phong phú, họ rất coi trọng phần hồn Người Thái quan niệm vạn vật hữu linh, hồn vía người còn sống gọi là “phi khoăn”, hồn vía người ñã khuất gọi là “phi tai”, hồn vía của bố, mẹ ñã quá cố gọi
là “phi hườn”, hồn vía của tổ tiên gọi là “lắm pang” Do vậy, theo tục lệ, người sống thì có tục gọi vía hoặc làm vía (hiếc khoăn, ệt khoăn), như một hình thức ñộng viên tinh thần; những người ñã khuất theo tục lệ thì cúng ma nhà (xơ phi hườn, lắm pang), một hình thức như báo ơn tổ tiên Như vậy, kể cả người sống, người ñã mất ñều ñược ứng xử về mặt tâm linh gần như ngang nhau Đối với vạn vật xung quanh, như ñất ñai, rừng núi, sông ngòi, cây cối, vật nuôi người Thái luôn ứng xử một cách phù hợp, hài hòa, không gây hại mà có ý thức vun ñắp ñể vạn vật luôn tồn tại, phát triển và ñồng hành với cuộc sống của mình
B n là, người Thái có chung một loại hình cơ cấu kinh tế và xã hội cổ
truyền Đó là loại hình tổ chức xã hội theo chế ñộ phìa tạo Xã hội ñó phân chia ñịa hạt hành chính thành từng châu mường Mỗi một châu mường (tương ñương như một huyện ngày nay) ñã hình thành một bộ máy thống trị của một dòng quí tộc thế tập Đất, ruộng ñược mang danh nghĩa toàn mường (Công thổ), mọi người ñều có quyền sử dụng ruộng ñất, nhưng phải chịu việc mường, nhưng việc mường lại do bộ máy thống trị ñiều khiển
Từ bốn nhóm ñặc trưng chủ yếu ở trên của người Thái xưa, ngày nay
ba nhóm ñặc trưng từ nhóm một ñến nhóm ba vẫn ñược duy trì, cơ bản không thay ñổi Riêng nhóm ñặc trưng thứ tư, sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945
ñã không còn tồn tại
2.1.1.3 Vị trí, vai trò của cộng ñồng người Thái ở Việt Nam trong cộng ñồng các dân tộc Việt Nam
- Thứ nh t, ñịa bàn cư trú của cộng ñồng dân tộc Thái ở Việt Nam có vị
trí quan trọng về mặt quốc phòng, an ninh quốc gia
Trong cộng ñồng các dân tộc thiểu số ở Việt Nam, người Thái có số dân ñông thứ hai (sau dân tộc Tày), số liệu tính ñến năm 2009 là: 1.550.423
Trang 38người Người Thái ở Việt Nam có quá trình cư trú lâu ñời, bao phủ cả miền Tây hai tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An và Tây Bắc nước ta Vùng cư trú của cộng ñồng dân tộc Thái có ý nghĩa chiến lược ñối với việc bảo vệ ñộc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, chống mọi sự xâm lăng của các kẻ thù bên ngoài, do
ñó cộng ñồng dân tộc Thái rất ñược các triều ñại ñặc biệt chú ý Lịch sử ñã ghi nhận, trong quá trình dựng nước và giữ nước, ñặc biệt trong các cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc, cộng ñồng dân tộc Thái ñã phát huy vai trò to lớn, bám trụ kiên cường trên mảnh ñất quê hương ñấu tranh chống ngoại xâm, bảo vệ biên cương, phên dậu của Tổ quốc Trong các cuộc chiến tranh chống xâm lược ñã từng diễn ra những trận quyết chiến, có ý nghĩa quyết ñịnh ñối với cục diện chiến tranh, nổi bật như trận Điện Biên Phủ
“chấn ñộng ñịa cầu”, ñồng bào Thái cùng với quân và dân cả nước ñã không tiếc máu xương của mình, tích cực ñóng góp sức người, sức của cho kháng chiến Ngoài ra, cộng ñồng dân tộc Thái ñóng vai trò quan trọng trong mối quan hệ hữu nghị với nước bạn Lào Trong ñiều kiện giữa tộc người Thái ở Việt Nam với một số bộ tộc ở Lào có nhiều nét văn hóa tương ñồng, do vậy việc phát huy, giữ gìn truyền thống hữu nghị giữa hai nước thông qua cộng ñồng dân tộc Thái có ý nghĩa sâu sắc trong công tác quốc phòng - an ninh
- Thứ hai, vùng cư trú của cộng ñồng dân tộc Thái có vị trí chiến lược
phát triển kinh tế - xã hội của ñất nước
Địa bàn cư trú của ñồng bào Thái lµ nh÷ng vïng có tài nguyên phong phú, ña dạng, có ý nghĩa chiến lược ñối với sự phát triển kinh tế - xã hội của ñất nước, ñối với ñộ bền vững của môi trường sinh thái Thực tế cho thấy rằng, trong những ngày ñầu xây dựng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, chúng ta
ñã phải dựa vào nguồn tài nguyên gỗ ñược khai thác từ những vùng này ñể phục vụ cho các công trường lớn như ñường tàu hỏa, các nhà máy, xí nghiệp quốc doanh ; có những vùng trữ lượng khoáng sản lớn và quí hiếm như vùng Quì Châu, Quì Hợp tỉnh Nghệ An Vùng này có nhiều vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên, ngày nay ñược Nhà nước ta cùng với cộng ñồng thế giới
ra sức giữ gìn, trước mắt là bảo vệ ñể phục vụ cho du lịch sinh thái, mục ñích lâu dài là vì sự bền vững của môi trường toàn cầu
Trang 39- Thứ ba, vùng cư trú của cộng đồng dân tộc Thái cĩ vai trị quan trọng
trong việc xây dựng tình đồn kết giữa các dân tộc thiểu số với nhau
Những vùng cư trú của người Thái thường cĩ sự đan xen sinh sống của một số dân tộc khác như người Hmơng, người Mường, người Thổ mà những tộc người này lại là thiểu số so với dân tộc Thái Do vậy, cộng đồng dân tộc Thái cĩ vị trí, vai trị quan trọng trong việc xây dựng và giữ gìn sự đồn kết giữa các dân tộc thiểu số với nhau, cùng nhau xây dựng bản làng, quê hương, đất nước ngày càng ấm no, hạnh phúc
- Thứ tư, cộng đồng dân tộc Thái cĩ bề dày lịch sử truyền thống, cĩ nền
văn hĩa lâu đời với những bản sắc văn hĩa riêng, độc đáo, cĩ tiếng nĩi và chữ viết riêng Qua khảo cứu, nhiều chuyên gia nhận định rằng:
Hiện nay cĩ thể coi cộng đồng người Thái là một trong những kho tàng folklore về các câu chuyện kể huyền thoại và truyền thuyết nĩi
về sự hình thành và phát triển văn hĩa cổ xưa Các dấu vết về quan niệm lưỡng hợp (dualisme) với văn hĩa biểu tượng thống nhất giữa hai mặt đối lập là nguồn tư liệu tốt để bổ sung những kiến thức về thời tiền sử ở nước ta [114, tr.52-53]
Cĩ thể khẳng định, văn hĩa dân tộc Thái đã và đang cĩ những đĩng gĩp quan trọng, khơng thể thiếu trong nền văn hĩa của dân tộc Việt Nam Nhận thức rõ vai trị quan trọng của dân tộc Thái và nền văn hĩa dân tộc Thái, Đảng và Nhà nước đã cĩ nhiều chủ trương, chính sách để bảo tồn vốn văn hĩa dân gian của dân tộc Thái, đặc biệt là bảo tồn ngơn ngữ (tiếng nĩi và chữ viết), văn học, nghệ thuật, tập quán Sự quan tâm của Đảng và Nhà nước đã
cĩ tác dụng tích cực trong quá trình bảo tồn, khai thác và phát huy nền văn hĩa dân tộc Thái cả văn hĩa vật thể và phi vật thể
2.1.2 Khái ni m, c i m luật tục người Thái, mối tương quan giữa luật tục người Thái với pháp luật và vai trị của luật tục người Thái trong lịch sử đời sống cộng đồng người Thái
2.1.2.1 Khái niệm luật tục và luật tục người Thái
Luật pháp nảy sinh từ lịch sử và phát triển theo tiến trình riêng Hay nĩi cách khác pháp luật ra đời cùng với sự ra đời của Nhà nước Trên thế giới,
Trang 40trong các xã hội tiền Nhà nước, luật tục giữ vai trị thống trị Đối với Việt Nam, kể cả dân tộc đa số như người Việt cũng cĩ hình thức luật tục (gọi là hương ước) và các dân tộc thiểu số khác đều cĩ luật tục của mình để điều chỉnh các quan hệ xã hội trong cộng đồng tộc người
Khái niệm luật tục được các nhà khoa học bàn luận nhiều, nhưng cơ bản thống nhất khái niệm được đưa vào từ điển luật học: “Luật tục là những qui tắc xử sự mang tính chất bắt buộc do các cộng đồng làng xã xây dựng nên
và được truyền từ đời này sang đời khác” [14, tr.528] Luật tục cĩ thể tồn tại bằng truyền miệng hoặc được ghi chép bằng văn bản Văn bản luật tục cĩ thể tồn tại dưới hình thức đơn giản như: “hương ước” nhưng cũng cĩ thể được xây dựng dưới dạng bộ luật như: Bộ luật tục của dân tộc Êđê cĩ 11 chương với 236 điều Luật tục khác với tập quán thơng thường là cĩ tính bắt buộc thực hiện Luật tục là pháp luật của các cộng đồng làng xã hoặc của cả một cộng đồng dân tộc thiểu số Luật tục, khi cĩ nội dung phù hợp với tiến bộ xã hội, tạo được cơng bằng, cơng lý và trật tự xã hội, thì được Nhà nước thừa nhận và trở thành pháp luật tập quán, cịn nếu cổ hủ, lạc hậu hoặc mang tính chất mê tín dị đoan thì sẽ bị Nhà nước cấm đốn
Luật tục hay tập quán pháp, tương đương với các thuật ngữ nước ngồi Customary laws, folk laws, là một hiện tượng xã hội phổ biến của nhân loại thời kỳ phát triển tiền cơng nghiệp và cịn tồn tại đến ngày nay ở nhiều tộc người trên thế giới, nhất là châu Á và châu Phi Các nhà khoa học coi luật tục
là một kho tàng tri thức bản địa về ứng xử và quản lý cộng đồng Ở nước ta, luật tục của các dân tộc thiểu số và hương ước của người Việt đã được các nhà sử học, dân tộc học, văn hĩa dân gian, các luật gia quan tâm nghiên cứu
từ khá sớm
Cũng giống như người Việt, luật tục của người Thái phần lớn đã được văn bản hĩa và thường mang một cái tên chung là “hít khoịng”, dịch ra tiếng Việt cĩ nghĩa là “Phong tục tập quán”, “Lệ tục”, hoặc là “Lệ”, thậm chí cịn được coi là “Luật” nữa [102, tr.34] Cơng trình khoa học đầu tiên ít nhiều đề cập tới vấn đề này là cuốn “Tư liệu về lịch sử và xã hội dân tộc Thái” của Đặng Nghiêm Vạn (chủ biên) Cĩ thể nĩi rằng, hầu như mỗi Mường của người Thái