1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn Thạc sỹ Đảng bộ tỉnh Hà Nam lãnh đạo việc khôi phục và phát triển làng nghề thủ công từ năm 1997 đến năm 2014

120 297 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 120
Dung lượng 2,61 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bên cạnh đó, một số làng nghề ở quy mô vừa và nhỏ đang gặp nhiều khó khăn về vốn, thị trường tiêu thụ, công nghệ sản xuất lạc hậu, tay nghề và trình độ văn hoá của người lao động thấp, t

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

ĐẢNG BỘ TỈNH HÀ NAM LÃNH ĐẠO VIỆC KHÔI PHỤC VÀ PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ THỦ CÔNG TỪ NĂM 1997 ĐẾN NĂM 2014

LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng Sản Việt Nam

Trang 2

BẢNG QUY ƯỚC NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

BCH : Ban Chấp hành

CN : Công nghiệp CNH - HĐH : Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá HTX TTCN : Hợp tác xã Tiểu thủ công nghiệp

KT - XH : Kinh tế - xã hội TTCN : Tiểu thủ công nghiệp UBND : Uỷ ban nhân dân

Trang 3

Có thể nói, làng nghề chính là một nét đặc trưng của nông thôn Việt Nam, là

cả môi trường kinh tế, văn hoá - xã hội và công nghệ truyền thống lâu đời Trong tiến trình lịch sử, làng nghề ở nước ta có lúc thịnh, lúc suy, phát triển mạnh vào những năm 60 - 70 (thế kỷ XX), dưới hình thức các hợp tác xã TTCN, sau đó phát triển chậm lại vào thập kỷ 80 Đến đầu những năm 90, nhiều làng nghề đình đốn, thậm chí bị suy thoái, mai một do tác động của nền kinh tế thị trường Cùng với đó, chúng ta mất đi thị trường truyền thống tiêu thụ sản phẩm làng nghề bởi sự sụp đổ của Liên Xô và Đông Âu

Đứng trước thực trạng trên, Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm đến công tác bảo tồn và phát triển các làng nghề thủ công Tại Hội nghị lần V, Ban

Chấp hành Trung ương Đảng khoá VII đã xác định: “Phải có chính sách mở

rộng thị trường, khuyến khích khôi phục và phát triển làng nghề, nâng cao độ tinh xảo, tính dân tộc độc đáo trong các chủng loại mặt hàng” [7, tr.17]

Chính những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước là yếu tố quan trọng, thúc đẩy các làng nghề phát triển

Trang 4

Trải qua quá trình phát triển của lịch sử, cho đến ngày nay, làng nghề là một bộ phận quan trọng trong tiến trình CNH - HĐH nông nghiệp nông thôn Nhờ thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, chính sách của Nhà nước đối với các ngành nghề nông thôn, nhiều làng nghề tiểu thủ công nghiệp ở nước ta từng bước được khôi phục và phát triển Do đó, cho phép khai thác một cách hiệu quả hơn tiềm năng về lao động, nguồn nguyên liệu và trình độ tay nghề của những người thợ thủ công và các nghệ nhân; góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực: giảm tỷ trọng trong ngành nông nghiệp, tăng

tỷ trọng trong ngành công nghiệp và dịch vụ Đồng thời, các làng nghề còn là nơi lưu giữ và phát huy bản sắc văn hoá của mỗi địa phương và của cả dân tộc

Hà nam là tỉnh có nhiều làng nghề, trong đó có những làng nghề truyền thống nổi tiếng như: làng trống Đọi Tam, thêu ren Thanh Hà, dệt Nha Xá, dệt Hoà Hậu, Sừng Đô Hai, dũa Đại Phu, gốm Quyết Thành, Rượu Vọc Với lợi thế về vị trí địa lý, giao thông thuận lợi, nguồn lao động dồi dào… Hà Nam có điều kiện để hình thành và phát triển nhiều hơn nữa các làng nghề với cơ cấu các ngành hợp lý, toàn diện, mang lại hiệu quả kinh tế cao Thực tiễn cho thấy, có nhiều làng nghề mới được hình thành, đã có những đóng góp tích cực cho nền kinh tế - xã hội của địa phương Tuy nhiên, nằm trong xu thế chung của quá trình hội nhập với nền kinh tế thế giới, các làng nghề thủ công ở Hà Nam phát triển theo chiều hướng khác nhau: nhiều làng nghề tồn tại và phát triển mạnh, có những tác động tích cực đến nền kinh tế trong khu vực, tạo nên những cụm TTCN - làng nghề Bên cạnh đó, một số làng nghề ở quy mô vừa

và nhỏ đang gặp nhiều khó khăn về vốn, thị trường tiêu thụ, công nghệ sản xuất lạc hậu, tay nghề và trình độ văn hoá của người lao động thấp, tình trạng

ô nhiễm môi trường trong các làng nghề còn phổ biến… Có những làng nghề phát triển cầm chừng, không ổn định, thậm chí có làng nghề bị mai một, ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển kinh tế - xã hội, tác động đến tâm tư, đời

Trang 5

sống của nhân dân cũng như việc giữ gìn giá trị văn hoá vùng Để các làng nghề thủ công thực sự đóng vai trò quan trọng trong tiến trình CNH - HĐH nông nghiệp nông thôn, thì các cấp ủy Đảng, chính quyền tỉnh Hà Nam cần phải có những định hướng và nhiều văn bản chi tiết hướng dẫn, đôn đốc và tạo điều kiện cho các làng nghề phát triển

Xuất phát từ những lý do trên, tôi quyết định chọn vấn đề “Đảng bộ tỉnh

Hà Nam lãnh đạo việc khôi phục và phát triển làng nghề thủ công từ năm

1997 đến năm 2014” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn cao học của mình

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Khôi phục và phát triển làng nghề thủ công là vấn đề được nhiều tác giả,

cơ quan của Đảng và Nhà nước quan tâm nghiên cứu Đã có rất nhiều các bài báo, đầu sách, các bài viết trên tạp chí chuyên ngành, các bài viết tham gia hội thảo bàn luận về vấn đề này ở nhiều góc độ khác nhau Nhìn một cách khái quát, các công trình nghiên cứu liên quan có thể chia thành những nhóm chủ yếu sau:

Nhóm đầu tiên là nhóm các công trình nghiên cứu tổng quát về các làng

nghề trên phạm vi cả nước hoặc một vùng kinh tế nhất định Đáng chú ý nhất

là các công trình: Làng nghề thủ công truyền thống Việt Nam của tác giả Bùi

Văn Vượng, Nxb Văn hoá dân tộc, 1998 Tác giả tập trung giới thiệu khái quát về lịch sử ra đời, các bí quyết nghề, kĩ thuật của các nghệ nhân trong các loại hình làng nghề truyền thống ở Việt Nam như: đúc đồng, rèn, kim hoàn,

dệt, thêu ren, chạm khắc đá, gốm Khôi phục và phát triển làng nghề ở vùng

ĐBSH ở nước ta hiện nay do TS Đỗ Thị Thạch làm chủ nhiệm đề tài đã

khẳng định vai trò của làng nghề đối với phát triển kinh tế, chính trị - xã hội, văn hoá cả nước nói chung và vùng đồng bằng sông Hồng nói riêng Đồng thời, tác giả nêu lên thực trạng phát triển làng nghề ở ĐBSH hiện nay với những cơ hội về việc làm, thu nhập từ ngành nghề… những thách thức trong

Trang 6

tác giả đưa ra những định hướng và một số giải pháp phát triển làng nghề ở

vùng ĐBSH; Phát triển làng nghề truyền thống ở nông thôn Việt Nam trong

quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá” - Luận án tiến sĩ của Trần Minh

Yến, Hà Nội, 2003 Những nghiên cứu trên góp phần làm phong phú thêm

cơ sở lý luận về làng nghề, thực trạng, phương hướng và giải pháp phát triển

làng nghề đặc biệt là làng nghề thủ công truyền thống

Nhóm thứ hai nghiên cứu về quá trình thực hiện đường lối phát triển các

ngành nghề tiểu thủ công của Đảng như: Luận văn thạc sĩ của của Ngô Ngọc

Khuê: Sự lãnh đạo của Đảng phát triển tiểu thủ công nghiệp quận 11 thành

phố Hồ Chí Minh, bảo vệ năm 2000; Luận văn Thạc sĩ Kinh tế của Nguyễn

Thị Thọ: Phát triển làng nghề ở huyện Từ Liêm trong tiến trình công nghiệp

hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn, Đại học quốc gia Hà Nội; Luận án

Tiến sĩ Kinh tế của Đỗ Quang Dũng: Phát triển làng nghề trong quá trình

công nghiệp hoá nông nghiệp nông thôn, bảo vệ năm 2006… Các công trình

này đã đưa ra hệ thống các quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về việc đẩy mạnh phát triển làng nghề; vai trò của các làng nghề và

sự cần thiết phải khôi phục, phát triển làng nghề thủ công; đưa ra một số kinh nghiệm, giải pháp phát triển làng nghề phù hợp với thực tiễn của địa phương

Nhóm thứ ba nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng và từng giải pháp cụ

thể cho phát triển làng nghề như: Phát huy những lợi thế truyền thống trong

xây dựng thương hiệu làng nghề đồng bằng sông Hồng, Vũ Trường Giang,

Tạp chí nông nghiệp và phát tiển nông thôn, số 15/2006; Phát triển thương

hiệu sản phẩm làng nghề truyền thống Việt Nam hiện nay, Nguyễn Vĩnh

Thanh, Tạp chí nghiên cứu kinh tế, số 4/2007; Phát triển thị trường tiêu thụ

sản phẩm làng nghề, Hồ Thanh Thuỷ, Tạp chí Tài chính số 12/2005 Nhóm

các công trình nghiên cứu này góp phần đưa ra giải pháp nhằm tháo gỡ những khó khăn trong việc tìm thị trường tiêu thụ sản phẩm làng nghề

Trang 7

Trên địa bàn tỉnh Hà Nam, UBND tỉnh và Sở Công Thương tỉnh cũng đã đưa ra các đề án và công trình nghiên cứu về vấn đề phát triển làng nghề như:

Hiện trạng và phương hướng phát triển các ngành công nghiệp, TTCN tỉnh

Hà Nam đến năm 2020; Tình hình hoạt động của các doanh nghiệp trong các cụm công nghiệp - TTCN, cụm TTCN - làng nghề; Tình hình hoạt động các cụm công nghiệp - TTCN và cụm TTCN - làng nghề

Nhìn chung, những vấn đề về làng nghề đã có nhiều công trình nghiên cứu, tiếp cận dưới góc độ khác nhau cả về lý luận và thực tiễn Đó là nguồn tài liệu quý báu, là cơ sở để tác giả kế thừa và tiếp tục nghiên cứu Tuy nhiên, cho đến nay, chưa có công trình khoa học nào đề cập một cách tổng quát, hệ thống những chủ trương và sự chỉ đạo về việc khôi phục và phát triển làng

nghề thủ công của Đảng bộ tỉnh Hà Nam Vì vậy, nghiên cứu vấn đề “Đảng

bộ tỉnh Hà Nam lãnh đạo việc khôi phục và phát triển làng nghề thủ công từ năm 1997 đến năm 2014” là việc làm cần thiết

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích của luận văn

Hệ thống hoá, làm sáng tỏ sự lãnh đạo và chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Hà Nam trong việc khôi phục và phát triển làng nghề thủ công từ năm 1997 đến năm 2014 Qua đó, rút ra một số bài học kinh nghiệm để vận dụng trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo phát triển các làng nghề thủ công trên địa bàn tỉnh trong những năm tiếp theo

3.2 Nhiệm vụ luận văn

- Phân tích làm rõ chủ trương và quá trình chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Hà Nam nhằm khôi phục và phát triển làng nghề thủ công

- Đánh giá những kết quả đạt được, những hạn chế còn tồn tại trong quá trình thực hiện chủ trương khôi phục và phát triển làng nghề thủ công của Đảng bộ tỉnh Hà Nam từ năm 1997 đến năm 2014

Trang 8

- Rút ra một số nhận xét và bài học kinh nghiệm về lãnh đạo phát triển làng nghề thủ công trong tình hình mới

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Hà Nam trong việc khôi phục và phát triển làng nghề thủ công

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về không gian: Nghiên cứu các làng nghề trên địa bàn tỉnh Hà Nam, trong đó tập trung chủ yếu vào một số làng nghề: làng nghề trống Đọi Tam, làng nghề thêu ren An Hòa, Hòa Ngãi, làng nghề mây tre đan Ngọc Động, làng nghề dũa Đại Phu

- Thời gian: Luận văn tập trung nghiên cứu vấn đề từ năm 1997 đến năm 2014, nghĩa là trong thời kỳ Đảng bộ tỉnh Hà Nam thực hiện đường lối công nghiệp hóa - hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn của Đảng

5 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu

5.1 Nguồn tài liệu

- Nguồn tư liệu chủ yếu phục vụ cho đề tài là: Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc, các Nghị quyết của Ban chấp hành Trung ương Đảng; các Nghị quyết, Chỉ thị, chương trình hành động, thông báo, các báo cáo hàng năm của Đảng bộ tỉnh Hà Nam về vấn đề làng nghề, phát triển làng nghề

- Nguồn tài liệu sách báo, sách tham khảo, internet, tạp chí chuyên ngành, các luận văn, luận án có liên quan đến vấn đề nghiên cứu

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học như: Phương pháp lịch sử kết hợp với phương pháp lôgíc dùng để khôi phục, khái quát, đánh giá thực trạng phát triển các làng nghề truyền thống Hà Nam trước năm 1997 và từ năm 1997 đến năm 2014

Trang 9

Phương pháp định lượng và thống kê toán học được sử dụng để thu thập các thông tin về dân số, điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của khu vực nghiên cứu Các số liệu thu được về điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội ở tỉnh Hà Nam là những thông tin khái quát ban đầu về khu vực nghiên cứu

Phương pháp so sánh giúp chúng ta so sánh, đối chiếu những kết quả đạt được, những hạn chế về phát triển làng nghề thủ công qua các năm từ năm

1997 đến năm 2014

Đặc biệt đề tài sử dụng phương pháp điền dã Chúng tôi quan sát trực tiếp đời sống kinh tế, xã hội, con người, thiên nhiên, hoạt động sản xuất ở một số làng nghề tiêu biểu… Qua thực tế cho ta thấy bức tranh khái quát về làng nghề thủ công ở Hà Nam

6 Đóng góp của Luận văn

- Về mặt khoa học: Luận văn phân tích làm rõ sự lãnh đạo và vai trò

lịch sử của Đảng bộ tỉnh Hà Nam đối với việc khôi phục và phát triển làng nghề thủ công từ năm 1997 đến năm 2014

- Về mặt thực tiễn: Luận văn rút ra được những nhận xét và tổng kết được những kinh nghiệm có giá trị về lãnh đạo khôi phục và phát triển làng nghề Đó sẽ là nguồn tài liệu tham khảo để nghiên cứu, giảng dạy những nội dung có liên quan đến phát triển kinh tế ngành nghề nông thôn ở tỉnh Hà Nam Bên cạnh đó, còn góp phần giáo dục, tuyên truyền đường lối, chính sách của Đảng trong giai đoạn hiện nay

Trang 10

Chương 3 Nhận xét và một số bài học kinh nghiệm

Trang 11

CHƯƠNG 1 BỨC TRANH TỔNG QUÁT VỀ CÁC LÀNG NGHỀ THỦ CÔNG Ở TỈNH HÀ NAM TRƯỚC NĂM 1997

1.1 Khái quát về làng nghề thủ công

1.1.1 Các khái niệm

Làng nghề

Làng nghề là một thiết chế kinh tế - xã hội ở nông thôn, được cấu tạo bởi

hai yếu tố làng và nghề Làng là một đơn vị cư trú và một hình thức tổ chức

xã hội quan trọng ở nông thôn nước ta, mà ở đó tồn tại những tập hợp cư dân cùng sinh sống, sản xuất và giữa họ có mối quan hệ khăng khít với nhau

Nghề ở đây là những nghề phi nông nghiệp được tiến hành trong phạm vi

làng và gắn chặt với làng Tuy nhiên, không phải bất kỳ làng nào có nghề cũng được gọi là làng nghề Để được công nhận là làng nghề thì làng nghề đó phải thể hiện được cả mặt định tính và định lượng của nó Định tính của làng nghề chính là thể hiện sự khác biệt của làng nghề so với làng thuần nông, làng

có ngành nghề phụ quy mô nhỏ hoặc với phố nghề ở thành thị Còn về mặt định lượng là nói đến quy mô và tính ổn định của làng nghề đó như thế nào

Cụ thể hơn ta có thể hiểu mặt định lượng của làng nghề chính là việc xác định

số hộ, số lao động và giá trị thu nhập từ ngành nghề đó chiếm bao nhiêu phần trăm số lao động và tổng giá trị thu nhập của địa phương Đây cũng là tiêu chí quan trọng để xác định làng nghề

Thông tư số 116/2006/TT-BNN của Bộ NN&PTNT quan niệm: Làng nghề là một hoặc nhiều cụm dân cư cấp thôn, ấp, bản, làng, buôn, phun, sóc hoặc các điểm dân cư tương tự trên địa bàn một xã, thị trấn, có các hoạt động ngành nghề nông thôn, sản xuất ra một hoặc nhiều loại sản phẩm khác nhau Làng nghề được công nhận phải đạt 3 tiêu chí:

- Có tối thiểu 30% tổng số hộ trên địa bàn tham gia các hoạt động ngành nghề nông thôn;

Trang 12

- Hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định tối thiểu 2 năm tính đến thời điểm công nhận;

- Chấp hành tốt chính sách pháp luật của Nhà nước

Nghề thủ công là những nghề sản xuất chủ yếu bằng tay và những công

cụ đơn giản, với con mắt và bộ óc giàu sáng tạo của nghệ nhân; nguyên liệu của các nghề thủ công thường lấy trực tiếp từ thiên nhiên

Ngày nay, cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, các nghề thủ công có thể sử dụng máy, hoá chất và các giải pháp kỹ thuật trong một số công đoạn, nhưng phần quyết định chất lượng và hình thức đặc trưng của sản phẩm vẫn làm bằng tay Bởi vậy, các sản phẩm thủ công vừa mang yếu tố truyền thống, tiêu biểu cho vùng quê Việt Nam, vừa mang yếu tố hiện đại, phù hợp với xã hội ngày nay

Các sản phẩm thủ công được sản xuất tập trung tại một hay một số làng nào đó, thu hút nhiều hộ gia đình tham gia, giá trị thu nhập từ ngành nghề thủ công chiếm tỷ trọng cao so với giá trị thu nhập của làng đó thì sẽ hình thành làng nghề thủ công

Có rất nhiều quan niệm khác nhau về làng nghề thủ công

Theo tác giả Bùi Văn Vượng: Làng nghề thủ công là trung tâm sản xuất hàng thủ công, nơi quy tụ các nghệ nhân và nhiều hộ gia đình chuyên làm nghề mang tính truyền thống lâu đời, có sự liên kết, hỗ trợ trong sản xuất, bán sản phẩm theo kiểu phường hội, kiểu hệ thống doanh nghiệp vừa và nhỏ, có cùng Tổ nghề, các thành viên luôn ý thức tuân thủ những ước chế xã hội và gia tộc Sự liên kết, hỗ trợ nhau về nghề, kinh tế, kỹ thuật, đào tạo thợ trẻ giữa các gia đình cùng dòng tộc, cùng phường nghề trong quá trình lịch sử hình thành, phát triển nghề nghiệp đã hình thành làng nghề trên đơn vị cư trú, làng xóm truyền thống của họ [79, tr.13]

Quan niệm trên cũng được phản ánh trong ý kiến của GS.Trần Quốc Vượng Tác giả cho rằng: Làng nghề là làng ấy tuy vẫn trồng trọt theo lối tiểu

Trang 13

nông và chăn nuôi nhỏ, cũng có một số nghề phụ khác, song đã nổi trội một

số nghề cổ truyền tinh xảo với một tầng lớp thợ thủ công chuyên nghiệp hay bán chuyên nghiệp, có phường, có ông trùm, có phó cả, cùng một số thợ và phó nhỏ, đã chuyên tâm, có quy trình công nghệ nhất định “sinh ư nghệ, tử ư nghệ”, “nhất nghệ tinh, nhất thân vinh”, sống chủ yếu được bằng nghề đó và sản xuất ra các mặt hàng thủ công

Tuy nhiên, hai quan niệm trên đều nói về làng nghề thủ công truyền thống, chưa phù hợp với làng nghề mới

Có cái nhìn khái quát hơn về làng nghề thủ công, tác giả Mai Thế Hởn cho rằng: Làng nghề là một cụm dân cư sinh sống trong một thôn (làng) có một hay một số nghề được tách ra khỏi nông nghiệp để sản xuất độc lập Thu nhập từ các nghề đó chiếm tỷ trọng cao trong tổng giá trị sản phẩm của làng Trên cơ sở kế thừa, tiếp thu những điểm hợp lý của các quan niệm trên

và những nghiên cứu của bản thân, tác giả cho rằng: Làng nghề thủ công là một cụm dân cư sinh sống trong một thôn (làng) có một hay một số nghề thủ công được tách ra khỏi nông nghiệp để sản xuất kinh doanh độc lập, có sử dụng các nguồn lực trong và ngoài địa phương, các ngành nghề thủ công phát triển tới mức trở thành nguồn sống chính hoặc thu nhập chủ yếu ở địa phương

1.1.2 Đặc điểm chung của làng nghề thủ công

Một là, các làng nghề thủ công tồn tại ở nông thôn, gắn bó chặt chẽ với

nền kinh tế nông nghiệp Ngay cả khi thủ công nghiệp tách rời khỏi nông nghiệp vươn lên trở thành ngành sản xuất chính ở một số làng và hình thành nên các làng nghề thì chúng cũng không rời khỏi nông thôn Trong các làng nghề, để đảm bảo cuộc sống, người dân bao giờ cũng làm thêm nghề nông hay một số nghề khác Mặt khác, hầu hết các hộ chuyên làm nghề tiểu thủ công vẫn tham gia sản xuất nông nghiệp ở mức độ nhất định và đặc biệt, các

Trang 14

làm nông nghiệp cho mình Đây chính là sự kết hợp độc đáo giữa TTCN và sản xuất nông nghiệp Các làng nghề tạo việc làm, tăng thêm thu nhập cho người lao động lúc nông nhàn, còn sản xuất nông nghiệp là nguồn cung cấp nguyên liệu cho các làng nghề

Hai là, các làng nghề sử dụng kỹ thuật thủ công là chủ yếu Có rất nhiều

sản phẩm của các làng nghề chứa đựng các chi tiết, công đoạn mà máy móc hiện đại không thể thay thế đôi bàn tay khéo léo của các nghệ nhân Hoặc một

số nghề chỉ cần công cụ thủ công, thô sơ do chính người thợ có thể tự làm ra

Do đó, năng suất lao động ở các làng nghề không cao, chất lượng sản phẩm không đồng đều Vì vậy, trong các sản phẩm làng nghề, lao động sống chiếm

tỷ lệ cao trong giá thành sản phẩm Điều này có ý nghĩa quan trọng trong việc tạo công ăn việc làm cho người dân ở nông thôn

Ba là, nguồn nguyên liệu được sử dụng trong các làng nghề chủ yếu có

nguồn gốc tự nhiên và sẵn có ở địa phương như gỗ, tre, nứa, trúc, đất sét… Sản phẩm làm từ nguồn nguyên liệu này khá an toàn khi sử dụng, thân thiện với môi trường, được nhiều người ưa chuộng Tuy nhiên, việc sơ chế nguyên liệu do các cơ sở tự làm với kỹ thuật đơn giản và do khí hậu nhiệt đới ẩm nước ta nên việc bảo quản sản phẩm gặp nhiều khó khăn Những năm gần đây, do một số nguyên nhân chủ quan và khách quan, các làng nghề đã phải nhập khẩu nguyên liệu từ nước ngoài như chỉ thêu, phẩm màu, men sư, vỏ trai, vỏ ốc…

Bốn là, việc truyền nghề và phát triển nghề Ở mỗi làng đều có một

người đầu tiên đem bí quyết nghề nghiệp từ nơi khác về dạy nghề, truyền nghề cho dân làng chính là ông tổ nghề Lực lượng nòng cốt để duy trì và phát triển nghề là các nghệ nhân Ban đầu, việc dạy và phát triển nghề chủ yếu được thực hiện theo phương thức truyền nghề trong gia đình, từ đời này sang đời khác, ít được phổ biến ra ngoài Ngay nay, với sự ra đời của các trung tâm

Trang 15

dạy nghề, thì các làng nghề không còn giữ bí quyết như trước nữa Tuy nhiên, phương thức dạy nghề theo lối vừa học vừa làm là chủ yếu

Năm là, hình thức kinh doanh của các làng nghề ngày càng đa dạng Với

phương thức truyền nghề, hình thức tổ chức sản xuất trong các làng nghề chủ yếu ở quy mô gia đình gắn với các phường nghề như: phường gốm, phường mộc, phường đúc đồng… Hình thức này được áp dụng từ lâu đời, thậm chí vẫn còn được duy trì cho đến ngày nay, giúp cho một số gia đình giữ được bí quyết nghề nghiệp Trong thời kỳ bao cấp, các làng nghề được tổ chức thành các “đội ngành nghề” của hợp tác xã nông nghiệp như đội mộc, đội nề, đội cơ khí… Bước sang thời kỳ đổi mới, đặc biệt trong những năm gần đây, Đảng và Nhà nước ta chủ trương đẩy mạnh phát triển các ngành nghề ở nông thôn, thì xuất hiện các hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh mới như doanh nghiệp tư nhân, các công ty trách nhiệm hữu hạn… Cùng với đó, sản phẩm của làng nghề ngày càng phong phú về mẫu mã, chủng loại, được bán rộng khắp trên thị trường

Sáu là, sản phẩm của làng nghề, đặc biệt là làng nghề thủ công truyền

thống mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc Làng nghề là nơi bảo lưu những tinh hoa nghệ thuật và kỹ thuật truyền thống được truyền từ đời này sang đời khác Mỗi sản phẩm làng nghề là tác phẩm nghệ thuật mang bản sắc riêng của địa phương nhưng lại tiêu biểu cho dân tộc Việt Nam Do đó, sản phẩm làng nghề không chỉ có giá trị về kinh tế, mà nó còn mang những giá trị văn hóa độc đáo, chứa đựng những yếu tố văn hóa tinh thần và tín ngưỡng, tôn giáo của dân tộc

Việc tìm hiểu những đặc điểm chung về làng nghề giúp chúng ta hiểu được tại sao các làng nghề thủ công nhất là những làng nghề thủ công truyền thống lại có sức sống bền bỉ, trường tồn cùng lịch sử dân tộc như vậy Đây chính là cơ sở ban đầu giúp chúng ta tiếp tục nghiên cứu về các làng nghề,

Trang 16

đưa ra các giải pháp góp phần phát triển kinh tế làng nghề bền vững, đồng thời hạn chế những tiêu cực đối với làng nghề

1.1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển làng nghề

Sự hình thành và phát triển làng nghề chịu ảnh hưởng của nhiều nhân

tố trong đó có một số nhóm nhân tố chủ yếu:

Nhóm nhân tố tự nhiên

Những nhân tố tự nhiên ảnh hưởng đến sự phát triển làng nghề bao gồm: vị trị địa lý, các điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên, trong đó, nhân tố vị trí địa lý có ảnh hưởng nhất định đến sự phát triển của làng nghề Nếu một làng nghề có vị trí thuận lợi về giao thông hay gần những nơi có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú tạo điều kiện cho làng nghề đó chuyên chở nguyên vật liệu, trao đổi và bán sản phẩm Từ đó, thúc đẩy việc sản xuất, kinh doanh có hiệu quả hơn so với các làng nghề sản xuất các mặt hàng cùng loại nhưng không thuận lợi về vị trí địa lý

Điều kiện tự nhiên như: khí hậu, nhiệt độ, độ ẩm, đất đai… là những nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của làng nghề, đặc biệt là những làng nghề sử dụng nguồn nguyên liệu trực tiếp từ thiên nhiên Khí hậu, thời tiết mỗi vùng tạo ra những nguồn nguyên liệu đặc trưng cho các làng nghề Tuy nhiên, nước ta có nền khí hậu nóng, ẩm nên nguồn nguyên liệu thiên nhiên rất dễ bị sâu bệnh phá hoại; việc bảo quản sản phẩm gặp nhiều khó khăn do nấm, mốc…

Tài nguyên thiên nhiên nước ta rất phong phú về số lượng, đa dạng về chủng loại, là nguồn cung cấp nguyên vật liệu cho các làng nghề thủ công khác nhau Tuy nhiên, nguồn nguyên liệu tự nhiên này cũng đang cạn kiệt dần

do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có việc sử dụng không hợp lý, thiếu quy hoạch, thiếu đầu tư phát triển nguồn nguyên liệu Chính vì vậy, các

Trang 17

cấp quản lý cũng như tự thân các làng nghề cần phải có những biện pháp nhằm khôi phục và duy trì nguồn tài nguyên thiên nhiên này

Tóm lại, nhóm nhân tố tự nhiên là nhóm nhân tố đầu tiên tác động đến

sự hình thành và phát triển lâu dài của bất kỳ làng nghề nào

Nhu cầu thị trường là nhân tố chủ yếu tác động đến sự hình thành và phát triển của làng nghề thủ công Sản xuất càng phát triển càng thể hiện rõ sự chi phối của quan hệ cung cầu và quy luật cạnh tranh Những làng nghề mà sản phẩm của nó có đủ sức cạnh tranh trên thị trường và luôn đổi mới phù hợp với nhu cầu thị hiếu tiêu dùng của xã hội thì mới có khả năng thích ứng với sự thay đổi của thị trường Bởi vậy, các làng nghề phải thường xuyên thay đổi mẫu mã sản phẩm cho phù hợp với nhu cầu, thị hiếu người tiêu dùng Hiện nay, bên cạnh một số nghề phát triển mạnh như: sản xuất vật liệu xây dựng, chạm khắc gỗ hay những làng nghề phát triển bình thường như các nghề chế biến lương thực - thực phẩm … là các làng nghề bị mai một, giảm sút đi như làng nghề làm nón, đan mũ… do nhu cầu, thị hiếu của thị trường giảm sút, do

bị các sản phẩm công nghiệp hiện đại thay thế Bên cạnh đó, các mặt hàng dệt may, gốm sứ… bị cạnh tranh gay gắt với các mặt hàng cùng loại của Trung

Trang 18

Vốn là yếu tố sản xuất, là nguồn lực quan trọng trong tất cả các hoạt động sản xuất kinh doanh Nhiệm vụ chủ yếu của nguồn vốn là đầu tư phát triển sản xuất, đổi mới thiết bị, công nghệ để nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm, có điều kiện đào tạo nâng cao kỹ năng người lao động, quảng bá sản phẩm, xây dựng thương hiệu Trước đây, vốn của các hộ sản xuất kinh doanh đều rất nhỏ bé, chủ yếu là vốn tự có nên đã làm hạn chế việc tăng trưởng sản xuất Ngày nay, nhờ chủ trương của Đảng và Nhà nước, các cơ chế chính sách về tài chính có nhiều thay đổi tạo điều kiện cho các hộ sản xuất trong làng nghề vay vốn phát triển sản xuất

Kết cấu hạ tầng gồm: hệ thống giao thông, điện, nước, bưu chính viễn thông… là nhân tố tác động trực tiếp tạo ra môi trường hoạt động sản xuất kinh doanh của các làng nghề thủ công Giao thông phát triển tạo điều kiện thuận tiện cho việc vận chuyển nguyên liệu, sản phẩm … Hệ thống cung cấp điện đảm bảo cho các làng nghề sử dụng các thiết bị, máy móc trong sản xuất

và phục vụ đời sống Hệ thống thông tin liên lạc tạo điều kiện cho các làng nghề trao đổi, quảng bá sản phẩm trong nước và quốc tế

Nguồn nhân lực và kỹ thuật là nguồn lực quan trọng nhất cho sự phát triển làng nghề Trong các làng nghề, những nghệ nhân có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc truyền nghề cũng như sáng tạo ra những sản phẩm độc đáo Bên cạnh đó, một lực lượng lao động dồi dào, cơ cấu lao động trẻ,

có khả năng thích ứng với công nghệ sản xuất tiên tiến, là nhân tố cốt lõi quyết định toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh Tuy nhiên, chất lượng nguồn lao động và trình độ kỹ thuật của họ chưa cao Do đó, nâng cao trình

độ cho lao động làng nghề là việc làm hết sức cần thiết

Nhóm nhân tố văn hoá - xã hội

Nhóm nhân tố này bao gồm các điều kiện chung về văn hoá - xã hội như: mật độ dân số, trình độ dân trí, các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước… Trong đó, những cơ chế chính sách của Nhà nước là điều kiện để

Trang 19

khuyến khích, tạo môi trường cho các làng nghề hoạt động Nếu đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước phù hợp với quy luật khách quan thì sẽ thúc đẩy làng nghề phát triển, ngược lại thì sẽ hạn chế sự phát triển của làng nghề

Vì thế, trong quá trình CNH - HĐH đất nước, Đảng và Nhà nước cần có chính sách phát triển hợp lý trong việc kết hợp giữa công nghiệp với TTCN thì các làng nghề thủ công mới có điều kiện phát triển

Trên đây là những nhân tố tác động đến sự tồn tại và phát triển lâu dài của các làng nghề thủ công Các nhân tố này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, trong đó có những nhân tố tạo điều kiện tốt, nhưng cũng có nhân tố tác động xấu đến sự phát triển của các làng nghề; ngay cả trong từng nhân tố cũng có mặt tác động tốt, mặt tác động xấu Trên cơ sở tìm hiểu về các nhân

tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển làng nghề, chúng ta cần có những biện pháp nhằm phát huy những mặt tích cực của các nhân tố, hạn chế mặt tiêu cực, tạo điều kiện cho các làng nghề phát triển ổn định, bền vững

1.2 Tỉnh Hà Nam và thực trạng làng nghề thủ công trước năm 1997 1.2.1 Khái quát về vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội tỉnh Hà Nam

Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên

Tỉnh Hà Nam được thành lập vào ngày 20/10/1890 theo Nghị định của toàn quyền Đông Dương Từ khi thành lập cho đến nay, địa danh và địa giới hành chính của tỉnh đã có nhiều thay đổi Năm 1965, tỉnh Hà Nam và tỉnh Nam Định được sát nhập thành tỉnh Nam Hà Đầu năm 1976, Nam Hà sát nhập với Ninh Bình thành tỉnh Hà Nam Ninh Năm 1992, tỉnh Hà Nam Ninh được chia tách thành Nam Hà và Ninh Bình Cho đến ngày 1/1/1997, tỉnh Hà Nam được tái lập, gồm các huyện Bình Lục, Thanh Liêm, Lý Nhân, Kim Bảng, Duy Tiên và thị xã Phủ Lý Ngày 9/6/2008, thị xã Phủ Lý được chuyển thành thành phố Phủ Lý

Trang 20

Hà Nam là một tỉnh nằm ở phía Tây Nam đồng bằng châu thổ sông Hồng, cách thủ đô Hà Nội 60 km về phía Bắc, cách thành phố Ninh Bình khoảng 34 km về phía Nam; theo quốc lộ 21 về phía Đông Nam khoảng 30

km là thành phố Nam Định Trên bản đồ, tỉnh Hà Nam có ranh giới hành chính như sau: Phía Bắc và Tây Bắc giáp thành phố Hà Nội, phía Đông giáp tỉnh Hưng Yên và tỉnh Thái Bình, phía Nam giáp tỉnh Nam Định, phía Tây Nam giáp tỉnh Ninh Bình và phía Tây giáp tỉnh Hòa Bình Với vị trí này, Hà Nam vừa có thể giao lưu, trao đổi hàng hóa với các tỉnh miền núi phía Bắc, vừa là địa bàn chuyển tiếp giữa các vùng kinh tế - lãnh thổ trong cả nước Theo thống kê năm 2010, tổng diện tích tự nhiên của tỉnh là 86.049,40ha với hai loại địa hình là đồng bằng (chiếm phần lớn diện tích) và đồi núi Phía Tây là vùng núi bán sơn địa với các dãy núi đá vôi, núi đất và đồi rừng chiếm khoảng 10 - 15% diện tích Phía Đông là vùng đồng bằng được bồi tụ bởi sông Hồng, sông Đáy và sông Châu, chiếm khoảng 85 - 90% diện tích Do tác động tổng hợp của các nhân tố tự nhiên và hoạt động sản xuất của con người,

Hà Nam có thổ nhưỡng tương đối đa dạng với tám nhóm đất chính: nhóm đất phù sa, nhóm glây, nhóm đất biến đổi, nhóm đất cát và nhóm đất than bùn tập trung chủ yếu ở vùng đồng bằng; nhóm đất xám, nhóm đất đỏ và nhóm đất tầng mỏng tập trung ở vùng đồi núi Ứng với mỗi nhóm đất của các loại địa hình, Hà Nam có thể phát triển nhiều loại cây trồng thuộc các nhóm cây lương thực - thực phẩm, cây công nghiệp, cây ăn quả, chăn nuôi Đó là nguồn nguyên liệu cung cấp cho các làng nghề chế biến lương thực - thực phẩm Tuy nhiên, do quá trình kiến tạo địa chất và biến đổi khí hậu trong vùng nên Hà Nam có nhiều vùng đất trũng, thường xuyên ngập úng và bị phèn chua

Giống như nhiều địa phương ở miền đồng bằng Bắc Bộ, Hà Nam nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm, chia thành bốn mùa: xuân, hạ, thu, đông Nhiệt độ trung bình từ 23 - 240c, tổng nhiệt độ hoạt động cả năm vào khoảng 8.500 - 8.6000c Lượng mưa trung bình khoảng 1.900mm, tập

Trang 21

trung nhiều vào tháng 5 đến tháng 10 Độ ẩm trung bình khoảng 85% Hướng gió thịnh hành vào mùa khô là Bắc, Đông, Đông Bắc Vào mùa hạ, hướng gió thịnh hành là hướng Nam, Tây Nam và Đông Nam Khí hậu và thời tiết như trên là cơ sở thuận lợi để Hà Nam bố trí một cách đa dạng về cây trồng, vật nuôi với nhiều loại động thực vật nhiệt đới, á nhiệt đới, ôn đới Đây cũng chính là điều kiện thuận lợi cho phát triển các làng nghề chế biến lương thực - thực phẩm cũng như các ngành kinh tế thương mại, dịch vụ Tuy nhiên, độ ẩm không khí cao, lượng mưa lớn, tập trung, trong khi trên địa bàn tỉnh có nhiều vùng trũng cũng làm phát sinh nhiều bệnh dịch; việc bảo quản các loại sản phẩm hàng hóa gặp nhiều khó khăn

Trên lãnh thổ Hà Nam có nhiều con sông lớn chảy qua như: sông Hồng, sông Đáy, sông Châu và các con sông do con người đào như sông Nhuệ, sông Sắt… là nguồn cung cấp nước chính cho các nhà máy nước và các ngành kinh

tế Hàng năm, những con sông này còn cung cấp một lượng lớn phù sa cho vùng đồng bằng, thuận lợi cho việc thâm canh cây lúa nước và trồng cây hoa màu Nguồn nước ngầm phục vụ cho sinh hoạt khá dồi dào, tồn tại trong nhiều tầng, có chất lượng tương đối tốt Tuy nhiên, nguồn nước ngầm trong tỉnh lại đang bị nhiễm asen nên hiện tại sử dụng kém Ngoài ra, trên địa bàn tỉnh còn có hệ thống các ao, hồ lớn nhỏ đảm bảo việc tưới tiêu cho diện tích đất canh tác, sản xuất nông nghiệp của tỉnh

Về tài nguyên khoáng sản: Ngoài tài nguyên đất, Hà Nam có nguồn đá vôi với tổng trữ lượng khoảng 7,4 tỷ m3 tập trung chủ yếu ở hai huyện Thanh Liêm và Kim Bảng; các mỏ đất sét có tổng trữ lượng gàn 400 triệu tấn làm nguyên liệu cho sản xuất xi măng, vôi, sản xuất bột nhẹ và sản xuất vật liệu xây dựng; các loại đá quý có vân màu phục vụ cho xây dựng, trang trí nội thất

và làm đồ mỹ nghệ; các mỏ than bùn với trữ lượng trên 11 triệu m3, tập trung

ở Ba Sao và hồ Liên Sơn thuộc huyện Kim Bảng có chất lượng tốt có thể làm

Trang 22

ở Hà Nam có trữ lượng tương đối lớn, dễ khai thác lại gần các tuyến đường giao thông, là nguồn cung cấp nguyên vật liệu cho các làng nghề khác nhau trong tỉnh

Về tiềm năng du lịch: Cùng với tài nguyên khoáng sản, điều kiện tự nhiên và địa hình có nhiều nét độc đáo của một tỉnh bán sơn địa đã tạo cho Hà Nam có nhiều cảnh quan thiên nhiên đẹp, thuận lợi cho phát triển du lịch như: Ngũ Động Sơn, động Khả Phong, hồ Tam Chúc, dốc Ba Chồm (huyện Kim Bảng); cảnh quan thiên nhiên ở Đọi Sơn - Điệp Sơn (huyện Duy Tiên); Kẽm Trống, núi Tiên (huyện Thanh Liêm); Hệ sinh thái nông nghiệp ở huyện Bình Lục, Lý Nhân… Hà Nam cũng là tỉnh giàu truyền thống lịch sử văn hóa với nhiều di tích lịch sử văn hóa và lễ hội truyền thống như: Lễ hội tịch điền Đọi Sơn, lễ hội đền Trần Thương, lễ hội vật Liễu Đôi, lễ hội đến Trúc… Có thể nói, du lịch là lĩnh vực kinh tế mang lại lợi nhuận cao được các cấp ủy Đảng

và chính quyền tỉnh Hà Nam quan tâm, khai thác và đầu tư Tuy nhiên, các sản phẩm du lịch của tỉnh vẫn chưa đủ sức thu hút đông du khách

Đặc biệt, Hà Nam là tỉnh có nhiều làng nghề lâu đời với những sản phẩm nổi tiếng như: Trống Đọi Tam, thêu ren Thanh Hà, mây tre đan Ngọc Động, cá kho làng Đại Hoàng, rượu làng Vọc, dũa cưa An Đổ, dệt lụa Nha Xá… Các sản phẩm làng nghề không chỉ được tiêu thụ trong tỉnh hoặc khu vực lân cân mà hiện nay, một số mặt hàng vươn ra các tỉnh trong cả nước, đã

và đang xâm nhập vào thị trường quốc tế như: Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc, Trung Quốc, Campuchia…

Điều kiện kinh tế - xã hội

Với đặc trưng về điều kiện tự nhiên, khí hậu, địa hình, người dân Hà Nam đã sớm chọn nông nghiệp là nghề sản xuất chính Bên cạnh đó, với vị trí nằm ở phía Nam của Đồng bằng sông Hồng, trên các tuyến đường giao thông xuyên Việt quan trọng thuận lợi cho việc giao lưu buôn bán, trao đổi hàng hóa Những năm gần đây nền kinh tế địa phương bước đầu có sự chuyển đổi,

Trang 23

các ngành nghề phụ, dịch vụ, thương mại, tài chính ngân hàng có sự phát triển mới Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân trong năm đạt trên 13%, thu nhập bình quân đạt 42,33 triệu đồng/người/năm (2015)

Hiện nay, trong cơ cấu kinh tế của tỉnh có sự chuyển dịch tích cực theo hướng tăng nhanh tỉ trọng công nghiệp, thương mại - dịch vụ, giảm dần tỉ trọng ngành nông nghiệp Cơ cấu nội bộ ngành nông nghiệp cũng có sự chuyển dịch theo hướng tăng tỉ trọng ngành chăn nuôi, thủy sản từ 44,4% (năm 2010) lên 49,1% (năm 2015)

Bảng 1.1: Cơ cấu kinh tế tỉnh Hà Nam phân theo ngành

ĐVT: %

Nông - Lâm - Ngư nghiệp 39.3 33.7 28.6 28.3 21.2

Công nghiệp - Xây dựng 28.8 34.5 39.7 43.6 48.2

Với dân số là 785.057 người (năm 2012), trong đó số người trong độ tuổi lao động là 493.095 người, chiếm 62,8% tổng dân số của tỉnh Cơ cấu sử dụng lao động có xu hướng hướng giảm tỉ lệ lao động trong khu vực nông - lâm - thủy sản, tăng tỉ lệ lao động trong khu vực công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại và dịch vụ Lực lượng lao động dồi dào, với đức tính cần

cù chịu khó, ham học hỏi, có khả năng tiếp thu và áp dụng tiến bộ khoa học

kỹ thuật vào sản xuất là động lực và nhân tố chính trong việc thực hiện các

Trang 24

chương trình, mục tiêu về kinh tế, văn hóa xã hội ở địa phương Đặc biệt, nguồn lao động Hà Nam có truyền thống và kinh nghiệm trong sản xuất một

số ngành nghề TTCN như thêu ren, khai thác và chế biến đá, mây tre đan…

Đó là cơ sở để đẩy mạnh phát triển hơn nữa các làng nghề hiện có trong tỉnh Tuy lực lượng lao động dồi dào nhưng phân bố không đồng đều giữa các huyện, thành phố trong tỉnh và giữa các ngành kinh tế Trình độ chuyên môn

kỹ thuật của người lao động còn thấp; tỉ lệ lao động thất nghiệp còn khá cao

Do đó, vấn đề giải quyết việc làm, nâng cao đời sống nhân dân trở thành vấn

đề gay gắt được Đảng bộ tỉnh Hà Nam quan tâm

Kinh tế phát triển là điều kiện thuận lợi để hoàn thiện hệ thống cơ sở hạ tầng và nâng cao các mặt giáo dục, văn hóa, y tế

Hệ thống giao thông của tỉnh thuận lợi cho phát triển kinh tế địa phương cũng như giao lưu với địa phương khác Hà Nam hiện có khoảng 14.500km đường bộ, trong đó có những tuyến đường giao thông huyết mạch quan trọng như: quốc lộ 1A, đường cao tốc Cầu Giẽ - Ninh Bình, quốc lộ 21A đi Chi Nê (Hòa Bình) với tổng chiều dài 73km, quốc lộ 21B dọc theo sông Đáy đi chùa Hương, quốc lộ 38 chạy từ Chợ Dầu (huyện Kim Bảng) ra Đồng Văn, qua Hòa Lạc, cầu Yên Lệnh đi Hưng Yên… Bên cạnh đó, Hà Nam còn có khoảng 34km đường sắt thuộc tuyến Bắc - Nam với ba ga chính đặt ở thành phố Phủ

Lý, thị trấn Đồng Văn (Duy Tiên) và Bình Mỹ (Bình Lục) và 10km đường chuyên dụng Hệ thống giao thông đường sông có khoảng 300km với các con sông lớn như: sông Hồng, sông Đáy, sông Nhuệ… góp phần quan trọng trong việc vận tải, cung ứng vật tư, nguyên vật liệu phục vụ sản xuất và vận chuyển sản phẩm tới thị trường Có thể nói, hệ thống giao thông của Hà Nam khá phát triển tạo thành mạng lưới khép kín Nhờ đó, các phương tiện giao thông

có thể đi lại thuận tiện, dễ dàng đến hầu hết các xã, thôn trong tỉnh; đồng thời đẩy mạnh giao thương liên vùng trên nhiều phương diện: chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội

Trang 25

Cơ sở hạ tầng bưu chính viễn thông và thông tin liên lạc phát triển nhanh

và đang từng bước hiện đại hóa thiết bị kỹ thuật đáp ứng nhu cầu của đời sống

và yêu cầu phát triển của nền kinh tế trong thời kỳ CNH - HĐH Mạng lưới truyền tải và phân phối điện được xây dựng, mở rộng đến hầu hết các thôn,

xã, về cơ bản đáp ứng nhu cầu sản xuất và nhu cầu tiêu dùng của nhân dân Công tác giáo dục được Đảng bộ, chính quyền và các ban ngành, đoàn thể đặc biệt quan tâm Hệ thống cơ sở vật chất trường học, các trang thiết bị phục vụ cho công tác giảng dạy và học tập dần đáp ứng được nhu cầu của thầy và trò Nhiều lớp học được sửa chữa, xây mới khang trang, sạch đẹp, đảm bảo cho việc dạy và học ở địa phương Việc giáo dục phổ cập trung học

cơ sở đã hoàn thành

Mạng lưới y tế cơ sở ngày càng hoàn thiện, chất lượng khám và điều trị nâng lên một bước Nhiều dịch bệnh được kiểm soát, công tác chăm sóc sức khỏe cho nhân dân bước đầu được quan tâm, chú trọng Duy trì tốt công tác khám sức khỏe định kỳ, tiêm chủng cho trẻ em, cũng như quan tâm giúp đỡ con em các gia đình có hoàn cảnh khó khăn vươn lên học giỏi

Những điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội trên là tiền đề để Hà Nam phát triển đa dạng các loại hình kinh tế như: nông nghiệp, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ… Đặc biệt, với sự phát triển của hệ thống giao thông vận tải, nguồn lao động dồi dào, cơ sở vật chất hạ tầng ngày càng khang trang, tỉnh Hà Nam đã thu hút nhiều doanh nghiệp đến đầu tư; đồng thời mở rộng thị trường tiêu thụ các sản phẩm kinh tế nói chung và thị trường tiêu thụ các sản phẩm làng nghề nói riêng Từ đó, hình thành không gian kinh tế mở với những lợi thế về giao lưu kinh tế, văn hóa, khoa học - kỹ thuật; tạo điều kiện cho Hà Nam khai thác có hiệu quả nguồn lực bên trong và tranh thủ nguồn lực bên ngoài cho công cuộc CNH - HĐH đang được đẩy mạnh

1.2.2 Thực trạng phát triển làng nghề thủ công ở Hà Nam trước năm

1997

Trang 26

Hà Nam có nhiều làng nghề nổi tiếng được hình thành từ rất sớm, trong

đó có những nghề xuất hiện cách đây hàng nghìn, hàng trăm năm như: nghề làm trống làng Đọi Tam (xã Đọi Sơn - huyện Duy Tiên) được hình thành từ đầu thế kỷ X, làng dệt lụa Nha Xá (xã Mộc Nam - huyện Duy Tiên) xuất hiện

từ thế kỷ XIII, hay làng gốm Quyết Thành có cách đây 400 năm; làng thêu ren Thanh Hà cũng có cách đây hơn một thế kỷ (1893)… Trải qua những thăng trầm của lịch sử, các làng nghề thủ công có nhiều biến động, lúc hưng thịnh, lúc suy thoái, thậm chí có những làng nghề bị mai một

Dưới thời phong kiến, các làng nghề thủ công ở Hà Nam đã xuất hiện nhưng chưa phát triển mạnh, người thợ thủ công đồng thời cũng là người nông dân, họ vẫn thực hiện công việc chính yếu của nhà nông và vẫn chịu sưu dịch như nông dân làng xã

Thời Pháp thuộc, mặc dù thực dân Pháp thi hành một loạt các chính sách kìm hãm sự phát triển kinh tế thuộc địa nhưng các ngành nghề thủ công ở Hà Nam vẫn phát triển, có xu hướng mở rộng Bên cạnh đó, một số ngành nghề mới xuất hiện như: thêu ren, khai thác đá Bởi vậy, số người hoạt động trong các ngành nghề phi nông nghiệp ngày càng tăng Cho đến những năm 1930,

tỷ lệ người làm nghề thủ công trong dân cư của một số tổng ở huyện Duy Tiên như sau: tổng Hoàng Đạo có 13% dân số làm nghề hàng xáo, dệt vải, đăng ten; tổng Tiên Xá có 16% dân số làm nghề thợ may, thợ mộc; tổng Trác Bút có 11% dân số làm các nghề thợ mộc, thợ nề; tổng Mộc Hoà có 27% dân

số làm nghề dệt vải, hàng xáo, làm đậu phụ Các tổng ở huyện Lý Nhân cũng gần giống như vậy: tổng Công Xá có 15% dân số làm các nghề thợ mộc, dệt vải, đan lát; tổng Vũ Điện có 13% dân số làm các nghề dệt vải, hàng xáo, may mặc; tổng Ngu Nhuế có 25% dân số làm các nghề thợ mộc, đan lát, làm bánh; tổng Cao Đà có 40% dân số làm thợ mộc [51] Tuy nhiên, đến những năm

1946 - 1954, các làng nghề thủ công cũng như các cơ sở sản xuất TTCN bị đình đốn do chiến tranh phá hoại Đặc biệt, trong những năm 1952 - 1953, các

Trang 27

ngành nghề TTCN của tỉnh bị giảm sút ghê gớm: trên 1.000 khung dệt vải, hàng chục lò gốm, lò rèn, đúc gang, cơ khí, làm gạch ngói… ngừng sản xuất Hoà bình lập lại ở miền Bắc cho đến trước ngày đất nước thống nhất (1954 - 1975), đây là thời kỳ đất nước bị chia cắt thành hai miền với hai chế

độ chính trị khác nhau: miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, có điều kiện hòa bình đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội Còn ở miền Nam, tạm thời nằm dưới quyền kiểm soát của đế quốc Mỹ và các lực lượng tay sai Để tạo thuận lợi cho việc chỉ đạo kháng chiến, năm 1956, hai tỉnh Hà Nam và Nam Định sát nhập lại thành tỉnh Nam Hà Thực hiện nhiệm vụ mà Bộ Chính trị đề ra (tháng 9/1954) là: Hàn gắn vết thương chiến tranh, phục hồi và phát triển kinh

tế một cách có kế hoạch, từng bước mở rộng giao lưu kinh tế giữa thành thị và nông thôn các ngành nghề tiểu thủ công của tỉnh dần được phục hồi và bước vào thời kỳ phát triển mới cùng với sự phát triển chung của nền kinh tế tỉnh Nam Hà Tính đến cuối năm 1954, trên địa bàn tỉnh có 16.000 khung dệt vải khổ hẹp và 80 khung dệt khổ rộng hoạt động, sản xuất được 196.616m2 vải bán ra thị trường Nghề gốm sản xuất được hơn 82.980 sản phẩm các loại Các cơ sở sản xuất nông cụ cũng sản xuất được trên 40.000 lưỡi cày, diệp cày

và nhiều công cụ khác phục vụ cho sản xuất… Tuy nhiên, số người tham gia hoạt động thủ công nghiệp vẫn còn hạn chế Năm 1957, cả tỉnh có trên 13,9 nghìn người làm các ngành nghề thủ công nghiệp (chiếm gần 3% dân số của tỉnh lúc bấy giờ), trong đó có khoảng 9.000 người làm các ngành nghề chuyên nghiệp dưới các hình thức cá thể, hộ gia đình

Kết thúc giai đoạn khôi phục kinh tế, hàn gắn vết thương chiến tranh, Trung ương Đảng chủ trương tiến hành cải tạo quan hệ sản xuất cũ, xây dựng quan hệ sản xuất mới XHCN Tại Hội nghị lần thứ 14 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá II (tháng 11/1958) đã chỉ ra nhiệm vụ với miền Bắc lúc này

là đẩy mạnh cải tạo xã hội chủ nghĩa một cách toàn diện về kinh tế và xã hội

Trang 28

thủ và cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với thành phần kinh tế tư bản tư doanh Quán triệt chủ trương của Đảng, Đảng bộ tỉnh Nam Hà đã tập trung lãnh đạo nhân dân tiến hành hành cuộc cách mạng quan hệ sản xuất, cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với nông dân cá thể nói chung, và đối với các hộ sản xuất thủ công, tiểu thương nói riêng Cuối năm 1958, phong trào hợp tác hoá được đẩy mạnh

và nhanh chóng trở thành cao trào Trên địa bàn tỉnh đã xuất hiện những HTX TTCN đầu tiên, bước sang năm 1959, số thợ thủ công tham gia HTX ngày càng nhiều Đến giữa năm 1960, phần lớn các HTX TTCN được chuyển lên bậc cao, nhiều HTX có quy mô từ 300 - 500 xã viên Có những HTX có quy

mô lên đến hàng nghìn hộ, tiêu biểu như HTX dệt Hoàng Tân (xã Hoà Hậu - huyện Lý Nhân) có 1.200 hộ, sử dụng 2.000 lao động, đảm bảo đời sống cho 4.000 nhân khẩu và đạt sản lượng tới 20 triệu mét vải Tính đến năm 1961, toàn tỉnh có 91,5% thợ thủ công tham gia HTX TTCN, trong đó có 22,4% tham gia HTX bậc cao; quy mô HTX được mở rộng, 53% số HTX có từ 30 -

100 xã viên, 7% số HTX có quy mô từ 100 - 300 xã viên Có thể nói, đây là thời kỳ phát triển rực rỡ của các làng nghề thủ công Hà Nam, nhiều sản phẩm được xuất sang nước ngoài như năm 1955, HTX mây tre Ngọc Động được thành lập và ký được hợp đồng xuất khẩu sang các nước Đông Âu thông qua công ty xuất nhập khẩu Hay nghề dũa ở Đại Phu (xã An Đổ - huyện Bình Lục) trong những năm 1960 - 1964, đã tạo được niềm tin đối với khách gần,

xa, mỗi năm làm ra hàng triệu sản phẩm, xuất sang thị trường các nước Đông

Âu, Lào, Campuchia… Sau hợp tác hoá, thủ công nghiệp dần dần kết hợp với công nghiệp quốc doanh địa phương, phát huy tác dụng hỗ trợ cho công nghiệp quốc doanh Trung ương phục vụ sản xuất, đời sống nhân dân và xuất khẩu Như vậy, thời kỳ này, phương thức sản xuất tập thể thống trị, các làng nghề thủ công với tư cách là đơn vị kinh tế độc lập đã chuyển thành các HTX TTCN hay các tổ hợp nghề hoặc các đội ngành nghề trong HTX Nông nghiệp, những người thợ thủ công trở thành xã viên của HTX, họ hoạt động sản xuất

Trang 29

theo kế hoạch được giao và xã viên được Nhà nước bán gạo, thực phẩm và một

số mặt hàng tiêu dùng theo tiêu chuẩn tem phiếu

Trong những năm chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, hơn 30% cơ sở,

xí nghiệp công nghiệp của tỉnh bị địch bắn phá; việc cung ứng nguyên vật liệu khó khăn, song sản xuất công nghiệp, thủ công nghiệp trên địa bàn tỉnh vẫn phát triển khá mạnh nhằm cung cấp tư liệu sản xuất phục vụ cho các ngành công nghiệp kháng chiến và nhu cầu tiêu dùng của nhân dân

Năm 1975, đất nước thống nhất, giang sơn thu về một mối, cả nước cùng tiến lên xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa Đến năm 1976, tỉnh Nam Hà sát nhập với tỉnh Ninh Bình thành tỉnh Hà Nam Ninh Đây là nguồn

cổ vũ lớn lao để Đảng bộ và nhân dân tỉnh Hà Nam Ninh đoàn kết, bắt tay vào thực hiện kế hoạch Nhà nước 5 năm (1976 - 1980) Từ năm 1981 đến năm

1985, là thời kỳ đất nước lâm vào cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội, các làng nghề tiểu thủ công nghiệp của Hà Nam Ninh nói riêng cũng như trên cả nước nói chung gặp nhiều khó khăn do trình độ quản lý trong các HTX TTCN yếu kém, dẫn đến các yếu tố tiêu cực xuất hiện ngày càng nhiều Trong khi đó, cơ chế tập trung quan liêu bao cấp duy trì quá lâu đã hạn chế thị trường tiêu thụ sản phẩm của các làng nghề Thêm vào đó, nguồn nguyên vật liệu thiếu thốn làm cho sản xuất bị giảm sút, nhiều làng nghề bị mai một, suy tàn…

Nhằm khắc phục những sai lầm và tháo gỡ khó khăn trong quản lý kinh

tế - xã hội, năm 1986, Đảng khởi xướng sự nghiệp đổi mới đất nước, xoá bỏ

cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, chuyển mọi hoạt động kinh tế sang hạch toán xã hội chủ nghĩa Theo đó, các hợp tác xã TTCN lần lượt được giải thể, sức lao động được giải phóng, các làng nghề thủ công có điều kiện phục hồi

và phát triển Ở làng dệt lụa Nha Xá (xã Mộc Nam, huyện Duy Tiên), các hộ gia đình mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh, mỗi gia đình trong làng có

từ 1 đến 2 máy dệt trở lên … Trong giai đoạn 1986 - 1990, sản phẩm trống

Trang 30

trường tiêu thụ sản phẩm không chỉ được mở rộng ra khắp cả nước, mà còn được xuất sang cả nước ngoài chủ yếu là Liên Xô và các nước Đông Âu như hàng thêu ren An Hoà (xã Thanh Hà - huyện Thanh Liêm) được xuất khẩu sang Liên Xô cũ, Pháp, Ý, Ba Lan Một số mặt hàng mây tre, đồ gỗ, sơn mài

… cũng được xuất sang nhiều nước Châu Âu

Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, hoạt động của các làng nghề có nhiều khó khăn, bỡ ngỡ khi Liên Xô và các nước Đông Âu là thị trường truyền thống của Việt Nam bị sụp đổ Dẫu vậy, nhiều làng nghề trong tỉnh đã nhanh chóng thích ứng và bắt kịp thời đại, mở rộng sản xuất và phát triển thị trường, đưa sản phẩm tới các thị trường Châu Âu,

Mỹ và các nước trong khu vực Hình thức tổ chức sản xuất trong các làng nghề phát triển đa dang Chẳng hạn như tại làng nghề thủ công sừng mỹ nghệ

Đô Hai (xã An Lão - huyện Bình Lục), các hộ sản xuất trong làng thành lập các tổ, nhóm để sản xuất nhằm tăng cường lực lượng sản xuất và trang thiết bị máy móc Nhờ đó, mối quan hệ hợp tác, liên kết trong sản xuất chặt chẽ hơn, các làng nghề dần khắc phục được những khó khăn về nguồn nguyên vật liệu

và đầu ra cho sản phẩm

Đặc biệt, bước vào thời kỳ đổi mới, nhiều chủ trương, chính sách khuyến khích, phát triển làng nghề được hoạch định Chủ trương “Hiện đại hoá công nghệ truyền thống và truyền thống hoá công nghệ hiện đại” của Đảng cũng như việc thể chế hoá hàng loạt pháp lệnh, luật như Luật doanh nghiệp, Luật đầu tư… chương trình cho vay vốn, nâng cấp cơ sở hạ tầng… đã tạo môi trường pháp lý cho các làng nghề phát triển và nhiều làng nghề mới được hình thành Vì vậy, các làng nghề trong tỉnh chú trọng đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật; người thợ thủ công không ngừng học hỏi, cải tiến mẫu mã; hàng loạt sản phẩm mới phong phú, đa dạng được khách trong và ngoài nước ưa chuộng, ký hợp đồng tiêu thụ Nhiều làng nghề được khách hàng trong và ngoài nước về tận làng ký hợp đồng mua bán, trong đó có những hợp đồng

Trang 31

lớn người dân trong làng không làm hết được, họ phải phân công cho các công ty, tổ hợp trong tỉnh, ngoài tỉnh làm gia công Nhờ đó, hoạt động sản xuất của các làng nghề vẫn phát triển cho đến ngày nay

Tiểu kết chương 1

Như vậy, Hà Nam có điều kiện tự nhiên, điều kiện xã hội mang nét đặc trưng của khu vực đồng bằng Bắc Bộ Đó là những yếu tố có tính chất quyết định chi phối tới đời sống kinh tế, văn hoá, xã hội của cư dân vùng đồng bằng sông nước Để duy trì được cuộc sống tại vùng chiêm trũng, người dân Hà Nam đã sớm thích nghi với vùng sinh thái này Ở đây, họ đã xác lập cho mình một hệ thống nông nghiệp lúa nước hoàn chỉnh bao gồm trồng trọt, chăn nuôi Bên cạnh đó, các hoạt động giao lưu trao đổi hàng hoá, các ngành nghề thương mại, dịch vụ cũng phát triển

Mặc khác, với những giá trị lịch sử và tiềm năng sẵn có về vị trí địa lý, tài nguyên thiên nhiên, dân cư và nguồn lao động… Hà Nam là địa phương có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế - xã hội nói chung cũng như khai thác thế mạnh thúc đẩy sự hình thành và phát triển các làng nghề nói riêng Thực tiễn cho thấy, các làng nghề thủ công ở Hà Nam khá đa dạng và phong phú, có nhiều làng nghề được hình thành và tồn tại hàng trăm năm Sản phẩm làm ra vừa có tính hàng hoá, đồng thời vừa có tính nghệ thuật và mang đậm bản sắc văn hoá dân tộc Trải qua những thăng trầm lịch sử, các làng nghề ở Hà Nam có nhiều biến động, lúc phát triển rực rỡ, lúc suy thoái, thậm chí có nghề bị thất truyền Bởi vậy, việc bảo tồn và phát triển làng nghề trong giai đoạn này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, đặt nền móng cho sự phát triển làng nghề trong giai đoạn tiếp theo

Trang 32

CHƯƠNG 2 ĐẢNG BỘ TỈNH HÀ NAM LÃNH ĐẠO, CHỈ ĐẠO THỰC HIỆN KHÔI PHỤC VÀ PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ THỦ CÔNG TỪ

NĂM 1997 ĐẾN NĂM 2014 2.1 Chủ trương và chỉ đạo khôi phục và phát triển làng nghề thủ công ở tỉnh Hà Nam từ năm 1997 đến năm 2005

2.1.1 Chủ trương của Đảng về khôi phục và phát triển làng nghề

Trong công cuộc đổi mới của nước ta hiện nay, CNH - HĐH đất nước là mục tiêu quan trọng hàng đầu của Đảng và Nhà nước ta Một trong những nội dung quan trọng của công cuộc CNH - HĐH đất nước là CNH - HĐH nông nghiệp nông thôn Phát triển các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp là con đường ngắn nhất để hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn, đồng thời mang lại kết quả cao và phù hợp với xu thế của nền kinh tế thế giới, tận dụng được những thành tựu cách mạng khoa học, kỹ thuật và công nghệ của nhân loại Nhận thức và nắm bắt được tư duy đó nên trong toàn bộ hệ thống chủ trương của Đảng, vấn đề nông nghiệp và kinh tế nông thôn luôn chiếm một vị trí quan trọng Ở mỗi giai đoạn phát triển của đất nước, những chủ trương, chính sách đó lại có sự bổ sung, thay đổi sao cho phù hợp với hoàn cảnh lịch

sử cụ thể

Trong đường lối đổi mới được đề ra đầu tiên tại Đại hội VI (tháng 12/1986), Đảng ta có cái nhìn đúng đắn về bộ phận kinh tế ở nông thôn và khẳng định: Cần thấy rằng hiện nay lực lượng tiểu, thủ công nghiệp đang sản xuất khoảng một nửa khối lượng hàng tiêu dùng và còn nhiều khả năng thu hút hàng triệu lao động Cần xoá bỏ ngay những chính sách, chế độ đang gò

bó lực lượng này… Cải tiến chính sách thuế đối với tiểu, thủ công nghiệp theo hướng khuyến khích các ngành, nghề cần phát triển Đặc biệt khuyến khích và tạo mọi điều kiện để phát triển các nghề thủ công mỹ nghệ truyền thống, sử dụng và đãi ngộ tốt với các nghệ nhân, đồng thời đào tạo và bồi

Trang 33

dưỡng lực lượng kế thừa, không để mai một những ngành, nghề đã có từ lâu đời trong nhân dân [25,tr.50]

Đến Đại hội VII, vị trí, vai trò của nông nghiệp, kinh tế nông thôn được nhấn mạnh, xem nó có ý nghĩa quyết định đối với ổn định tình hình kinh tế -

xã hội của đất nước Tại Đại hội VII (tháng 6/1991), Đảng ta xác định: Phát triển nông, lâm, ngư nghiệp gắn với công nghiệp chế biến, phát triển toàn diện kinh tế nông thôn và xây dựng nông thôn mới là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu để ổn định tình hình kinh tế - xã hội, phát triển ngành nghề tiểu thủ công nghiệp… [25, tr.1600]

Đại hội VIII (tháng 7/1996) đánh dấu bước ngoặt chuyển đất nước ta sang thời kỳ mới - thời kỳ CNH - HĐH đất nước Với một nước nông nghiệp, hơn 80% dân số sống ở nông thôn thì việc tạo ra một cơ cấu kinh tế mới hợp

lý và hiện đại ở nông thôn là điều cần thiết Chính vì vậy, quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn ngày càng được thúc đẩy, nó diễn ra ngay trong nội bộ ngành nông nghiệp và cả bộ phận hợp thành khác của cơ cấu kinh tế nông thôn Trong quá trình vận động và phát triển, các làng nghề thủ công đã

có vai trò tích cực trong việc góp phần tăng tỷ trọng của công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ, thu hẹp tỷ trọng của nông nghiệp, chuyển lao động từ sản xuất nông nghiệp có thu nhập thấp sang ngành nghề phi nông nghiệp có thu nhập cao hơn Nhận thấy những lợi ích kinh tế từ hoạt động của các làng nghề mang lại, Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ rõ: phát triển đa dạng công nghiệp chế biến và tiểu thủ công nghiệp ở nông thôn, thị tứ, thị trấn, liên kết với công nghiệp ở đô thị lớn và khu công nghiệp tập trung Phát triển các làng nghề, nhất là các làng nghề làm hàng xuất khẩu, mở mang các loại hình dịch

vụ Xây dựng thêm đường sá, mạng lưới cấp điện, cấp nước, điện thoại, trường học, cơ sở y tế, văn hoá ở nông thôn [25, tr.1757]

Với tinh thần tiến công cách mạng tiếp tục trên con đường đổi mới, Đại hội đại biểu toàn quốc lần IX (tháng 4/2001) khẳng định phát triển kinh

Trang 34

tế, CNH- HĐH là nhiệm vụ trọng tâm Phát triển kinh tế nhiều thành phần gồm: kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế cá thể và tiểu chủ, kinh tế tư bản tư nhân, kinh tế tư bản nhà nước, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài Trong

đó, kinh tế cá thể, tiểu chủ ở cả nông thôn và thành thị có vị trí quan trọng và lâu dài Do đó, Nhà nước tạo điều kiện giúp đỡ để phát triển

Đối với làng nghề thủ công, Đảng đưa ra định hướng phát triển đó là:

“mở mang làng nghề, phát triển các điểm công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ, đưa công nghiệp sơ chế và chế biến về nông thôn và vùng nguyên liệu, phát triển lĩnh vực dịch vụ cung ứng vật tư kỹ thuật, trao đổi nông sản hàng hoá ở nông thôn, tăng nhanh việc làm cho khu vực phi nông nghiệp” [22,tr.279]

Nhằm phát huy năng lực của các thành phần kinh tế, tháng 2/2002, Hội nghị lần thứ năm của Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã ra Nghị quyết về

“Đẩy nhanh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn thời kỳ 2001- 2010”, trong đó Hội nghị khẳng định vai trò quan trọng của các làng nghề thủ công với sự phát triển kinh tế của đất nước, gắn với phát triển nông nghiệp nông thôn Vì vậy, việc khôi phục và phát triển làng nghề thủ công có tác động tích cực đến quá trình CNH - HĐH nông nghiệp, nông thôn, đồng thời tạo thêm những điều kiện cho CNH - HĐH nông nghiệp nông thôn như phát triển cơ sở hạ tầng, y tế, văn hoá, giáo dục, nâng cao đời sống cư dân nông thôn

Nội dung những chủ trương, chính sách trên thực sự là sự chỉ đạo sát sao của Đảng và Nhà nước, bước đầu tháo gỡ những khó khăn cho các ngành nghề ở nông thôn, đồng thời mở ra định hướng phát triển lâu dài để Đảng bộ địa phương vận dụng thực hiện trong quá trình lãnh đạo phát triển làng nghề nông thôn Qua đó, thể hiện sự phát triển trong nhận thức và tư duy lí luận của Đảng về CNH - HĐH nông nghiệp nông thôn Đồng thời, là sự quan tâm và tạo điều kiện của Đảng và Nhà nước ta cho các làng nghề ở nông thôn dần khôi phục và phát triển, khuyến khích sự hình thành các làng nghề mới

Trang 35

2.1.2 Chủ trương khôi phục và phát triển làng nghề thủ công của Đảng bộ tỉnh Hà Nam

Sau 10 năm cùng nhân dân cả nước tiến hành sự nghiệp đổi mới kinh tế-

xã hội (1986 - 1996), Đảng bộ và nhân dân Nam Hà đoàn kết, năng động, sáng tạo, nỗ lực phấn đấu và giành được những kết quả đáng trân trọng trên nhiều lĩnh vực: sản xuất kinh tế, ổn định đời sống nhân dân; văn hóa- an sinh

xã hội Đối với hoạt động sản xuất tiểu thủ công nghiệp, sau một thời gian suy giảm do cơ chế quản lý tập trung, quan liêu bao cấp, thì từ năm 1986 trở lại đây, nhờ thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, chính sách của Nhà nước đối với các ngành nghề nông thôn, đã mở ra một hướng phát triển mới cho các làng nghề Cùng với sự phục hồi và khởi sắc của nhiều làng nghề thủ công truyền thống là sự xuất hiện của một số nghề mới, góp phần nâng cao thu nhập cho người dân địa phương Những thành tựu đó đã và đang tạo tiền đề cho Đảng bộ và nhân dân tỉnh Nam Hà vững bước tiến vào thời kỳ công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước, xây dựng và đổi mới quê hương

Thực hiện Quyết định của Quốc hội khoá IX nhằm tạo thuận lợi cho công tác quản lý hành chính, ngày 1/1/1997, tỉnh Hà Nam được tái lập sau 32 năm hợp nhất với tỉnh Nam Định và tỉnh Ninh Bình Đây được coi là chủ trương hoàn toàn đúng, phù hợp với tình hình thực tế, đã tạo điều kiện thuận lợi cho cán bộ, đảng viên và nhân dân trong tỉnh phát huy thế mạnh của địa phương, chủ động triển khai các nhiệm vụ kinh tế, chính trị, văn hoá - xã hội,

an ninh quốc phòng

Tuy nhiên, ở thời điểm năm 1997, Hà Nam gặp nhiều khó khăn do cơ sở vật chất phục vụ phát triển kinh tế, văn hoá - xã hội còn nhiều thiếu thốn Nền kinh tế của tỉnh chủ yếu vẫn là sản xuất nông nghiệp nhỏ lẻ, manh mún, tỷ trọng kinh tế nông nghiệp chiếm hơn 60% Thu nhập bình quân đầu người bằng 58,2% mức bình quân của cả nước Hoạt động của các ngành nghề nông thôn tuy có khởi sắc hơn trước nhưng phát triển chưa xứng đáng với tiềm

Trang 36

năng của tỉnh; sản phẩm còn ít, giá thành cao, chưa đủ sức cạnh tranh trên thị trường trong nước và nước ngoài Việc tiêu thụ sản phẩm và xuất khẩu còn nhiều khó khăn Trong khi đó, trình độ tổ chức và quản lý của chủ các cơ sở sản xuất còn yếu nên đã hạn chế năng suất lao động

Trước tình hình đó, Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh Hà Nam lần thứ XV họp từ ngày 2 đến ngày 5/7/1998, theo tinh thần nghị quyết Đại hội lần thứ VIII của Đảng Đại hội đã tổng kết công tác lãnh đạo, thực hiện các nhiệm vụ kinh tế - xã hội trong những năm qua, đồng thời đề ra phương hướng, nhiệm

vụ, mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội trong 3 năm (1998 - 2000) là khai thác mọi tiềm năng, thế mạnh của tỉnh, phấn đấu đưa Hà Nam trở thành một tỉnh giàu mạnh, văn minh Để thực hiện những mục tiêu trên, Đại hội XV của Đảng đưa ra phương hướng phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2000: Tiếp tục tập trung đẩy mạnh phát triển nông nghiệp toàn diện theo hướng thâm canh, tăng vụ, tăng nhanh nông sản hàng hoá… Tăng cường đầu tư phát triển mạnh công nghiệp sản xuất và chế biến vật liệu xây dựng… Đồng thời, phát triển công nghiệp dệt, may, chế biến nông sản xuất khẩu, công nghiệp cơ khí, tiểu thủ công nghiệp và mở rộng làng nghề… Với những chủ trương đúng đắn và thực hiện các biện pháp tích cực, đến năm 2000, một số làng thủ công truyền thống: mây, giang đan, thêu ren xuất khẩu được khôi phục và phát triển mạnh Bước sang thế kỷ XXI, cách mạng nước ta đứng trước nhiều thời cơ, vận hội lớn song cũng không ít những khó khăn, thách thức Trên địa bàn tỉnh Hà Nam, có nhiều vấn đề xã hội bức xúc đang đặt ra cần phải giải quyết Một trong những vấn đề đó là lao động thiếu việc làm, lao động thất nghiệp còn nhiều Để giải quyết vấn đề này, phát triển các ngành nghề ở nông thôn là giải pháp quyết định tạo ra nhiều việc làm cho người lao động Quán triệt chủ trương, đường lối của Đảng về phát triển làng nghề thủ công được đề ra tại Đại hội IX và những Hội nghị tiếp theo, Nghị quyết của Ban Chấp hành Đảng

Trang 37

bộ Tỉnh lần thứ XVI, nhiệm kỳ 2000 - 2005 đưa ra nhiệm vụ chung cho toàn thể cán bộ, đảng viên và nhân dân trong tỉnh phải tích cực huy động các nguồn lực để phát triển kinh tế, khuyến khích mọi thành phần kinh tế cùng phát triển, đồng thời phải tạo điều kiện thuận lợi cho kinh tế hộ phát triển và

có cơ chế hỗ trợ các doanh nghiệp mới thành lập

Nhằm cụ thể hoá Nghị quyết Đại hội vào thực tiễn, ngày 21/5/2001, Tỉnh uỷ Hà Nam ra Nghị quyết số 03-NQ/TU về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và phát triển ngành nghề, dịch vụ ở nông thôn Trên cơ sở đánh giá tình hình sản xuất nông nghiệp và hoạt động của các làng nghề thủ công trong 3 năm (1997 - 2000), Nghị quyết định ra phương hướng: “Tập trung khai thác mọi nguồn lực để chuyển dịch mạnh cơ cấu kinh tế nông nghiệp và phát triển ngành nghề, dịch vụ ở nông thôn theo hướng nâng cao chất lượng sản phẩm, sản xuất hàng hoá và xuất khẩu Phấn đấu đến năm 2010, có 70%

số xã, thị trấn trong tỉnh có ngành nghề với quy mô, ngành hàng phù hợp Khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư mở rộng và phát triển ngành nghề, tham gia xuất khẩu, làm dịch vụ thương mại Tăng tỷ lệ lao động làm ngành nghề tiểu, thủ công nghiệp, dịch vụ đến năm 2010 là 50%”

Để các làng nghề thủ công thực sự phát triển bền vững, mang tính lâu dài, Tỉnh uỷ Hà Nam cũng đưa ra một số biện pháp phát triển ngành nghề tiểu, thủ công nghiệp nông thôn đó là: Củng cố, mở rộng và phát triển làng nghề truyền thống; phát triển mạnh công nghiệp chế biến và ngành nghề tiểu, thủ công nghiệp trong nông thôn Khuyến khích tạo thêm nhiều nghề mới để giải quyết việc làm, đa dạng hoá sản phẩm Nhanh chóng xây dựng quy hoạch các cụm công nghiệp - tiểu, thủ công nghiệp ở thị xã, các xã, thị trấn và xây dựng làng nghề - du lịch sinh thái Tuy nhiên, tính đến thời điểm năm 2001, trên địa bàn tỉnh Hà Nam mới có 25 làng nghề thuộc các nhóm ngành nghề khác nhau [49]

Trang 38

Vì vậy, năm 2003, Tỉnh uỷ Hà Nam đã ban hành Nghị quyết số NQ/TU ngày 2/5/2003 về việc đẩy mạnh phát triển công nghiệp, TTCN Nghị quyết chỉ ra tầm quan trọng và định hướng phát triển công nghiệp nói chung

08-và sự phát triển TTCN, làng nghề nói riêng Nhằm quy hoạch các làng nghề tại vùng nhất định để tạo ra sự tập trung trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 829/2003/QĐ-UB về đầu tư xây dựng

và quản lý cụm công nghiệp - TTCN huyện, thành phố và cụm TTCN làng nghề xã và thị trấn; Quyết định số 863/2003/QĐ-UB ngày 5/8/2003 về chính sách ưu đãi, khuyến khích đầu tư vào các khu công nghiệp tỉnh Hà Nam Việc đầu tư xây dựng các khu công nghiệp, cụm công nghiệp - tiểu, thủ công nghiệp và cụm tiểu thủ công nghiệp của tỉnh Hà Nam chủ yếu căn cứ vào quy hoạch kinh tế - xã hội và nhu cầu thực tế Từ đó, góp phần giải quyết nhiều việc làm, tăng thu nhập cho người dân Đây cũng chính là những Quyết định quan trọng nhằm tạo ra bước phát triển đột phá cho nền kinh tế tỉnh nhà nói chung và các làng nghề nói riêng

Đặc biệt, trong năm 2004, Uỷ ban nhân dân tỉnh Hà Nam đã ban hành hai văn bản quan trọng: Quyết định số 208/QĐ-UB ngày 9/2/2004 về ban hành quy chế về tiêu chuẩn làng nghề TTCN Trong đó quy định, một làng được công nhận là làng nghề thủ công ngoài việc chấp hành tốt chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, những quy định ở địa phương, thì làng nghề đó phải có số lao động làm các nghề tiểu thủ công nghiệp chiếm trên 50% lao động của làng và giá trị sản xuất của làng nghề chiếm tỷ trọng trên 70% trở lên so với tổng giá trị sản xuất của làng Cùng với đó, Quyết định cũng chỉ ra trách nhiệm của làng nghề đó là: Tích cực đầu tư, mở rộng sản xuất; quan tâm cải tiến công nghệ, ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất nhằm đa dạng hoá mẫu mã, nâng cao chất lượng sản phẩm để tăng khả năng cạnh tranh, mở rộng thị trường Bám sát nhu cầu thị trường để sản

Trang 39

xuất những mặt hàng mới, du nhập nghề mới, đồng thời chú trọng đảm bảo môi trường sinh thái trong các làng nghề [67] Quyết định 209/QĐ-UB ngày 9/2/2004 về ban hành quy định về tiêu chuẩn, thủ tục xét công nhận danh hiệu

và một số chế độ ưu đãi với thợ giỏi, nghệ nhân, người có công đưa nghề về làng

Có thể nói, việc ban hành những quy chế trên là nguồn cổ vũ, động viên lớn lao với những người thợ có tay nghề tiếp tục nghiên cứu, sáng tác, phục hồi, phục chế các sản phẩm và du nhập những nghề mới; tập trung trí tuệ sản xuất ra nhiều sản phẩm có giá trị kinh tế, mang bản sắc văn hoá dân tộc, có tính nghệ thuật cao, phục vụ tiêu dùng và xuất khẩu Bên cạnh đó, một số làng

có nghề cố gắng phấn đấu đạt tiêu chí công nhận làng nghề Nhờ đó, các làng nghề mới xuất hiện ngày càng nhiều, thu hút nhiều hộ gia đình tham gia Tính đến cuối năm 2005, số lượng làng nghề thủ công trên địa bàn tỉnh tăng gấp đôi so với năm 2001 là 51 làng nghề Các làng nghề này đang được quy hoạch vào các cụm TTCN - làng nghề, bước đầu tạo ra sự tập trung trong sản xuất

và tiêu thụ sản phẩm

Những chủ trương trên của Đảng bộ tỉnh Hà Nam là sự vận dụng sáng tạo đường lối, chủ trương của Đảng về phát triển TTCN, làng nghề, phù hợp với hoàn cảnh lịch sử cụ thể của tỉnh Đó là nền tảng, là điểm xuất phát quan trọng cho việc khôi phục và phát triển làng nghề thủ công của các Đảng bộ địa phương

2.1.3 Quá trình Đảng bộ tỉnh Hà Nam lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện việc khôi phục và phát triển làng nghề thủ công

Quán triệt đường lối của Đảng cũng như những chủ trương của tỉnh về khôi phục và phát triển các làng nghề thủ công, các sở, ban, ngành các cấp tham mưu, phối hợp thực hiện các nhiệm vụ cụ thể sau:

Thực hiện công tác tuyên truyền

Trang 40

Sở Thông tin và Truyền thông chủ trì, phối hợp với Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ, quản lý chặt chẽ, định hướng cụ thể công tác thông tin trên các phương tiện thông tin đại chúng của tỉnh, kịp thời giới thiệu những chủ trương, chính sách về phát triển TTCN, làng nghề đến toàn thể nhân dân trong tỉnh Trước năm 1997, do nhận thức của một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân về vai trò, vị trí của làng nghề thủ công trong phát triển kinh tế - xã hội chưa thực sự đầy đủ, dẫn đến một số làng nghề thủ công truyền thống chậm được khôi phục Bởi vậy, sau ngày tái lập tỉnh, thực hiện Nghị quyết BCH Đảng bộ lần thứ XV, XVI, Nghị quyết số 03, Nghị quyết số 08 của Tỉnh, Quyết định số 208, 209 của UBND tỉnh… UBND các cấp; một mặt xây dựng kế hoạch thực hiện, tổ chức học tập, quán triệt đường lối, quan điểm của Đảng bộ tỉnh về phát triển các ngành nghề ở nông thôn; mặt khác, tuyên truyền, vận động nhân dân hăng hái tham gia xây dựng, phát triển ngành nghề, làng nghề Đồng thời, chỉ đạo các làng nghề chấp hành tốt các chủ trương, chính sách và pháp luật của Đảng và Nhà nước; hàng năm tiến hành hoạt động sơ, tổng kết hoạt động của làng nghề; rút kinh nghiệm trong quá trình chỉ đạo, lãnh đạo phát triển nghề, làng nghề và du nhập nghề mới Với biện pháp tích cực trên, các làng nghề thủ công truyền thống không ngừng được củng cố, phát triển; một số ngành nghề mới xuất hiện, nâng tổng số làng nghề thủ công của tỉnh lên tới 51 làng nghề, trong đó có

34 làng nghề thủ công truyền thống và 17 làng nghề mới (năm 2005)

Thực hiện chính sách hỗ trợ vốn

Đối với các ngành nghề ở nông thôn, vốn đầu tư là yếu tố quan trọng để phát huy tiềm năng các nguồn lực khác của làng nghề Để thực hiện có hiệu quả các chủ trương của tỉnh về mở rộng và phát triển làng nghề, Sở Tài chính phối hợp với các ngân hàng cùng chính quyền địa phương đã tạo điều kiện tốt nhất cho các hộ sản xuất, doanh nghiệp được ưu tiên vay vốn với lãi suất thấp

Ngày đăng: 01/11/2016, 20:02

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn (1999), Ngành nghề nông thôn Việt Nam, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngành nghề nông thôn Việt Nam
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1999
2. Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn (2007), Một số chính sách về phát triển ngành nghề nông thôn, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số chính sách về phát triển ngành nghề nông thôn
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2007
3. Bộ Công nghiệp, Tổ chức phát triển công nghiệp liên hợp quốc (1996), Bảo tồn và phát triển làng nghề truyền thống Việt Nam, Kỷ yếu hội thảo khoa học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức phát triển công nghiệp liên hợp quốc (1996), Bảo tồn và phát triển làng nghề truyền thống Việt Nam
Tác giả: Bộ Công nghiệp, Tổ chức phát triển công nghiệp liên hợp quốc
Năm: 1996
4. Bộ Kế hoạch đầu tư (2004), Phát triển cụm công nghiệp làng nghề - thực trạng và giải pháp, Kỷ yếu hội thảo khoa học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển cụm công nghiệp làng nghề - thực trạng và giải pháp
Tác giả: Bộ Kế hoạch đầu tư
Năm: 2004
5. Ban tư tưởng Văn hoá Trung ương (2002), Con đường công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn ở Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Con đường công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn ở Việt Nam
Tác giả: Ban tư tưởng Văn hoá Trung ương
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2002
6. Bộ Thương mại (2003), Tiếp tục đổi mới chính sách và giải pháp tiêu thụ sản phẩm của các làng nghề truyền thống ở Bắc Bộ đến năm 2010, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếp tục đổi mới chính sách và giải pháp tiêu thụ sản phẩm của các làng nghề truyền thống ở Bắc Bộ đến năm 2010
Tác giả: Bộ Thương mại
Năm: 2003
7. Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VII (1993),Văn kiện Hội nghị lần V, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần V
Tác giả: Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VII
Năm: 1993
8. Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Hà Nam (1997), Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Hà Nam trình Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XV, lưu tại văn phòng tỉnh Uỷ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Hà Nam trình Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XV
Tác giả: Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Hà Nam
Năm: 1997
9. Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Hà Nam (2001), Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Hà Nam trình Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI, lưu tại văn phòng tỉnh Uỷ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Hà Nam trình Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI
Tác giả: Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Hà Nam
Năm: 2001
10. Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Hà Nam (2006), Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Hà Nam trình Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII, lưu tại văn phòng tỉnh Uỷ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Hà Nam trình Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII
Tác giả: Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Hà Nam
Năm: 2006
11. Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Hà Nam (2010), Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Hà Nam trình Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XVIII, lưu tại văn phòng tỉnh Uỷ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Hà Nam trình Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XVIII
Tác giả: Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Hà Nam
Năm: 2010
12. PGS.TS. Nguyễn Văn Bích, PTS Chu Tiến Quang (1999), Phát triển nông nghiệp, nông thôn trong giai đoạn CNH - HĐH ở Việt Nam, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển nông nghiệp, nông thôn trong giai đoạn CNH - HĐH ở Việt Nam
Tác giả: PGS.TS. Nguyễn Văn Bích, PTS Chu Tiến Quang
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1999
13. Chính phủ (2000), Quyết định 132/2000/QĐ - TTg về một số chính sách khuyến khích phát triển ngành nghề nông thôn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định 132/2000/QĐ - TTg về một số chính sách khuyến khích phát triển ngành nghề nông thôn
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2000
14. Chính phủ (2006), Nghị định số 66/2006/NĐ - CP về phát triển ngành nghề nông thôn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 66/2006/NĐ - CP về phát triển ngành nghề nông thôn
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2006
15. Chính phủ (2004), Nghị định số 134/2004/NĐ - CP về chính sách khuyến khích phát triển công nghiệp nông thôn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 134/2004/NĐ - CP về chính sách khuyến khích phát triển công nghiệp nông thôn
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2004
16. GS.TS Hoàng Minh Châu (2007), Làng nghề du lịch Việt Nam,, Nxb Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Làng nghề du lịch Việt Nam
Tác giả: GS.TS Hoàng Minh Châu
Nhà XB: Nxb Thống kê
Năm: 2007
17. PGS.TS Trần Thị Minh Châu (2007), Nguồn nhân lực nông thôn ngoại thành trong quá trình đô thị hoá, Nxb CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguồn nhân lực nông thôn ngoại thành trong quá trình đô thị hoá
Tác giả: PGS.TS Trần Thị Minh Châu
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 2007
18. Cục thống kê Hà Nam, Niên giám thống kê tỉnh Hà Nam 2000 - 2009, Nxb Thống kê, Hà Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê tỉnh Hà Nam 2000 - 2009
Nhà XB: Nxb Thống kê
19. Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện đại hội Đảng toàn quốc lần VI, Nxb CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện đại hội Đảng toàn quốc lần VI
Nhà XB: Nxb CTQG
20. Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện đại hội Đảng toàn quốc lần VII, Nxb CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện đại hội Đảng toàn quốc lần VII
Nhà XB: Nxb CTQG

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1: Bản đồ tỉnh Hà Nam - Luận văn Thạc sỹ Đảng bộ tỉnh Hà Nam lãnh đạo việc khôi phục và phát triển làng nghề thủ công từ năm 1997 đến năm 2014
Hình 1 Bản đồ tỉnh Hà Nam (Trang 109)
Hình 10: Sản phẩm làng nghề mây giang đan Ngọc Động - Luận văn Thạc sỹ Đảng bộ tỉnh Hà Nam lãnh đạo việc khôi phục và phát triển làng nghề thủ công từ năm 1997 đến năm 2014
Hình 10 Sản phẩm làng nghề mây giang đan Ngọc Động (Trang 112)
Hình 11: Dệt lụa ở Nha Xá  - Huyện Duy Tiên - Luận văn Thạc sỹ Đảng bộ tỉnh Hà Nam lãnh đạo việc khôi phục và phát triển làng nghề thủ công từ năm 1997 đến năm 2014
Hình 11 Dệt lụa ở Nha Xá - Huyện Duy Tiên (Trang 113)
Hình 12: Khăn quàng cổ bằng lụa  (Nguồn: hanam.gov.vn) - Luận văn Thạc sỹ Đảng bộ tỉnh Hà Nam lãnh đạo việc khôi phục và phát triển làng nghề thủ công từ năm 1997 đến năm 2014
Hình 12 Khăn quàng cổ bằng lụa (Nguồn: hanam.gov.vn) (Trang 113)
Hình 13: Công đoạn tráng men của làng gốm  Quyết Thành - Huyện Kim Bảng - Luận văn Thạc sỹ Đảng bộ tỉnh Hà Nam lãnh đạo việc khôi phục và phát triển làng nghề thủ công từ năm 1997 đến năm 2014
Hình 13 Công đoạn tráng men của làng gốm Quyết Thành - Huyện Kim Bảng (Trang 114)
Hình 14: Sản phẩm làng gốm Quyết Thành - Huyện Kim Bảng - Luận văn Thạc sỹ Đảng bộ tỉnh Hà Nam lãnh đạo việc khôi phục và phát triển làng nghề thủ công từ năm 1997 đến năm 2014
Hình 14 Sản phẩm làng gốm Quyết Thành - Huyện Kim Bảng (Trang 114)
Hình 15: Phơi bánh đan nem ở làng Chều - Lý Nhân - Luận văn Thạc sỹ Đảng bộ tỉnh Hà Nam lãnh đạo việc khôi phục và phát triển làng nghề thủ công từ năm 1997 đến năm 2014
Hình 15 Phơi bánh đan nem ở làng Chều - Lý Nhân (Trang 115)
Hình 16: Món nem cuốn  (Nguồn: hanam.gov.vn) - Luận văn Thạc sỹ Đảng bộ tỉnh Hà Nam lãnh đạo việc khôi phục và phát triển làng nghề thủ công từ năm 1997 đến năm 2014
Hình 16 Món nem cuốn (Nguồn: hanam.gov.vn) (Trang 115)
Hình 17: Cá kho trong niêu đất - Luận văn Thạc sỹ Đảng bộ tỉnh Hà Nam lãnh đạo việc khôi phục và phát triển làng nghề thủ công từ năm 1997 đến năm 2014
Hình 17 Cá kho trong niêu đất (Trang 116)
Hình 19: Bánh cuốn hoa cải - Phủ Lý - Luận văn Thạc sỹ Đảng bộ tỉnh Hà Nam lãnh đạo việc khôi phục và phát triển làng nghề thủ công từ năm 1997 đến năm 2014
Hình 19 Bánh cuốn hoa cải - Phủ Lý (Trang 117)
Hình 20: Bánh cuốn là sản phẩm của nông nghiệp  (Nguồn: Cổng thông tin điện tử tỉnh Hà Nam) - Luận văn Thạc sỹ Đảng bộ tỉnh Hà Nam lãnh đạo việc khôi phục và phát triển làng nghề thủ công từ năm 1997 đến năm 2014
Hình 20 Bánh cuốn là sản phẩm của nông nghiệp (Nguồn: Cổng thông tin điện tử tỉnh Hà Nam) (Trang 117)
Hình 21: Lò nung sắt của làng dũa An Đổ - Bình Lục - Luận văn Thạc sỹ Đảng bộ tỉnh Hà Nam lãnh đạo việc khôi phục và phát triển làng nghề thủ công từ năm 1997 đến năm 2014
Hình 21 Lò nung sắt của làng dũa An Đổ - Bình Lục (Trang 118)
Hình 22: Một số sản phẩm dũa cưa của làng dũa An Đổ - Bình Lục - Luận văn Thạc sỹ Đảng bộ tỉnh Hà Nam lãnh đạo việc khôi phục và phát triển làng nghề thủ công từ năm 1997 đến năm 2014
Hình 22 Một số sản phẩm dũa cưa của làng dũa An Đổ - Bình Lục (Trang 118)
Hình 23:  Bằng công nhận làng nghề truyền thống   sừng mỹ nghệ  Đô Hai - Huyện Bình Lục - Luận văn Thạc sỹ Đảng bộ tỉnh Hà Nam lãnh đạo việc khôi phục và phát triển làng nghề thủ công từ năm 1997 đến năm 2014
Hình 23 Bằng công nhận làng nghề truyền thống sừng mỹ nghệ Đô Hai - Huyện Bình Lục (Trang 119)
Hình 26: Tượng ngà mỹ nghệ  (Nguồn: langnghemynghedohai.info) - Luận văn Thạc sỹ Đảng bộ tỉnh Hà Nam lãnh đạo việc khôi phục và phát triển làng nghề thủ công từ năm 1997 đến năm 2014
Hình 26 Tượng ngà mỹ nghệ (Nguồn: langnghemynghedohai.info) (Trang 120)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w