1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đầu tư trực tiếp của trung quốc vào một số nước châu phi và mỹ latinh

169 414 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 169
Dung lượng 1,02 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bên cạnh những thành tựu như bổ sung nguồn vốn cho phát triển, tạo công ăn việc làm cho người lao động, vv., dòng vốn FDI của Trung Quốc vào các nước châu Phi và Mỹ Latinh còn có những h

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI _

ĐỖ HUY THƯỞNG

ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP CỦA TRUNG QUỐC VÀO MỘT

SỐ NƯỚC CHÂU PHI VÀ MỸ LATINH

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ

HÀ NỘI - 2016

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

_

ĐỖ HUY THƯỞNG

ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP CỦA TRUNG QUỐC VÀO MỘT SỐ

NƯỚC CHÂU PHI VÀ MỸ LATINH

Chuyên ngành: Kinh tế Quốc tế

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu độc lập của tôi với sự giúp

đỡ của các giáo viên hướng dẫn

Các số liệu trong Luận án có nguồn gốc rõ ràng Các dữ liệu tôi tập hợp đảm bảo tính khách quan và trung thực

TÁC GIẢ

ĐỖ HUY THƯỞNG

Trang 4

LỜI CÁM ƠN

Trước hết, tôi xin bày tỏ sự cám ơn chân thành và sâu sắc đối với PGS.TS Nguyễn Thị Hồng Nhung, công tác tại Viện Kinh tế và Chính trị Thế giới và PGS.TS Nguyễn Thị Kim Chi, giảng viên tại trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội về sự hướng dẫn nhiệt tình và những ý kiến đóng góp quý báu giúp tôi hoàn thành bản Luận án này

Tôi xin chân thành cám ơn Ban Giám đốc, Phòng Quản lý đào tạo, Khoa Quốc tế và các thầy cô của Học viện Khoa học Xã hội đã tạo điều kiện giúp đỡ

và truyền đạt kiến thức quý báu trong quá trình học tập, nghiên cứu cũng như những động viên và góp ý để tôi hoàn chỉnh bản Luận án này

Tôi cũng xin bày tỏ sự cám ơn đối với các cán bộ thuộc Bộ Kế hoạch & Đầu tư; Tạp chí Châu Mỹ ngày nay; Tạp chí Nghiên cứu Châu Phi và Trung Đông; Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội; và Trung tâm Thư viện Đại học Quốc gia Hà Nội đã giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình làm và chuẩn bị bảo vệ Luận án

Cuối cùng, tôi xin cám ơn gia đình, họ hàng nội ngoại, bạn bè và đồng nghiệp đã động viên và giúp đỡ tôi hoàn thành bản Luận án này

TÁC GIẢ

Đỗ Huy Thưởng

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 7

1.1 Về FDI ra nước ngoài của Trung Quốc 7

1.2 Về FDI của Trung Quốc ở châu Phi và Mỹ Latinh 10

1.3 Về yếu tố tác động đến FDI của Trung Quốc vào châu Phi và Mỹ Latinh 14

1.4 Tác động từ FDI của Trung Quốc đối với các nước châu Phi và Mỹ Latinh 17 1.5 Về FDI của Trung Quốc vào Việt Nam 21

1.6 Đánh giá chung, khoảng trống nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu 23

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ FDI CỦA TRUNG QUỐC VÀO MỘT SỐ NƯỚC CHÂU PHI VÀ MỸ LATINH 25

2.1 Cơ sở lý luận về FDI của Trung Quốc vào một số nước châu Phi và Mỹ Latinh 25

2.2 Cơ sở thực tiễn về FDI của Trung Quốc vào một số nước châu Phi và Mỹ Latinh 44

Tiểu kết chương 2 67

CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG FDI CỦA TRUNG QUỐC VÀO MỘT SỐ NƯỚC CHÂU PHI VÀ MỸ LATINH 69

3.1 FDI ra nước ngoài của Trung Quốc trong thời gian qua 69

3.2 Thực trạng FDI của Trung Quốc vào châu Phi và Mỹ Latinh 77

3.3 FDI của Trung Quốc vào một số nước châu Phi 79

3.4 FDI của Trung Quốc vào một số nước Mỹ Latinh 86

3.5 Đánh giá chung về FDI của Trung Quốc vào một số nước châu Phi và Mỹ Latinh 93

Tiểu kết chương 3 118

CHƯƠNG 4 MỘT SỐ GỢI Ý CHO VIỆT NAM QUA NGHIÊN CỨU PHẢN ỨNG CỦA MỘT SỐ NƯỚC CHÂU PHI VÀ MỸ LATINH ĐỐI VỚI TÁC ĐỘNG TIÊU CỰC TỪ FDI CỦA TRUNG QUỐC 121

4.1 FDI của Trung Quốc vào Việt Nam 121

4.2 So sánh FDI của Trung Quốc ở Việt Nam với ở một số nước châu Phi và Mỹ Latinh 130

4.3 Một số gợi ý cho Việt Nam 134

4.4 Một số kiến nghị để áp dụng kinh nghiệm của các nước châu Phi và Mỹ Latinh 144

Tiểu kết chương 4 146

KẾT LUẬN 147

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ 149

TÀI LIỆU THAM KHẢO 150

Trang 6

3 EU European Union Liên minh châu Âu

4 FDI Foreign Direct Investment Đầu tư trực tiếp nước ngoài

5 GDP Gross Domestic Product Tổng sản phẩm quốc nội

6 IMF International Monetary Fund Quỹ Tiền tệ Quốc tế

7 M&A Merger and Acquisition Mua lại và sáp nhập

8 MOFCOM Ministry of Commerce Bộ Thương mại

10 ODA Official Development

Assistance

Hỗ trợ Phát triển Chính thức

12 TNCs Transnational Corporations Công ty xuyên quốc gia

13 WB World Bank Ngân hàng Thế giới

14 WTO World Trade Organisation Tổ chức Thương mại Thế

giới

15 UNCTAD United Nations Conference on

Trade and Development

Uỷ ban Thương mại và Phát triển Liên Hợp Quốc

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Thu nhập bình quân của công nhân ở một số nước năm

Bảng 3.1 FDI ra nước ngoài của Trung Quốc, 2002 -2015 72

Bảng 3.2 FDI ra nước ngoài của Trung Quốc theo địa bàn đầu tư 73 Bảng 3.3 FDI ra nước ngoài của Trung Quốc theo loại hình

Bảng 3.6 Đầu tư của các nước vào châu Phi năm 2014 79

Bảng 3.7 FDI của Trung Quốc vào một số nước châu Phi, 2003 –

hình thức đầu tư, 2005 – 2015 93

Trang 8

DANH MỤC CÁC HÌNH

SỐ HIỆU TÊN BẢNG TRANG

Hình 2.1 Sơ đồ các yếu tố tác động đến FDI ra nước ngoài của

Hình 2.2 Tốc độ tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc, giai

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Đầu tư của Trung Quốc vào châu Phi và Mỹ Latinh đã tăng mạnh trong thời gian gần đây Theo Bộ Thương mại Trung Quốc, dòng vốn FDI của Trung Quốc vào châu Phi đã tăng hơn 86 lần từ 39 triệu USD năm 2005 lên đến 3,37 tỷ USD năm 2013 và giảm nhẹ xuống còn 3,2 tỷ USD năm 2014 Trong khi đó, con

số này của Trung Quốc vào Mỹ Latinh tăng hơn 2 lần từ 6,46 tỷ USD năm 2005 lên 14,36 tỷ USD năm 2013 và giảm xuống còn 10,5 tỷ USD năm 2014 Theo con số cộng dồn, FDI của Trung Quốc vào châu Phi đã tăng hơn 20 lần từ 1,6 tỷ USD năm 2005 lên 32,35 tỷ USD năm 2014 Trong khi đó, vốn FDI cộng dồn của Trung Quốc vào Mỹ Latinh đã tăng hơn 9 lần từ 11,46 tỷ USD lên 106,1 tỷ USD tính đến cuối năm 2014 và 111,2 tỷ USD tính đến cuối năm 2015 [88] Bên cạnh những thành tựu như bổ sung nguồn vốn cho phát triển, tạo công ăn việc làm cho người lao động, vv., dòng vốn FDI của Trung Quốc vào các nước châu Phi và Mỹ Latinh còn có những hạn chế như: chủ yếu vẫn nhằm khai thác tài nguyên, gây nên sự cạnh tranh khốc liệt với doanh nghiệp của nước chủ nhà, gây

ra các vấn đề môi trường, công nghệ lạc hậu và lao động Trung Quốc trong các

dự án đầu tư Do đó, một số nước châu Phi và Mỹ Latinh đã có những phản ứng khác nhau đối với tác động tiêu cực từ dòng vốn FDI của Trung Quốc vào những quốc gia này

Tại Việt Nam, vốn FDI của Trung Quốc đã tăng đáng kể trong thời gian qua Tính đến tháng 3/2016, Trung Quốc có 1.346 dự án còn hiệu lực tại Việt Nam với tổng vốn đăng ký 10,4 tỷ USD, chiếm khoảng 6,5% tổng số dự án và 2,6% tổng vốn đăng ký vào Việt Nam Trung Quốc hiện đứng thứ 9 trong số 112 quốc gia và vùng lãnh thổ có đầu tư tại Việt Nam [6] Bên cạnh những đóng góp như: bổ sung nguồn vốn cho Việt Nam, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế Việt Nam theo hướng công nghiệp hóa – hiện đại hóa, giúp nền kinh tế Việt Nam hội nhập sâu với kinh tế thế giới, thì dòng vốn FDI của Trung Quốc vào Việt Nam cũng còn những hạn chế như: quy mô nhỏ, hạn chế chuyển giao công

Trang 10

nghệ, chủ yếu khai thác tài nguyên, vấn đề lao động trong các dự án FDI của Trung Quốc, vv

Thực tế cho thấy, dòng vốn FDI của Trung Quốc vào một số nước châu Phi và Mỹ Latinh có những đặc điểm nhất định như ở Việt Nam Do đó, việc nghiên cứu phản ứng của một số nước châu Phi và Mỹ Latinh đối với tác động tiêu cực từ dòng vốn FDI của Trung Quốc vào những nước này để giúp Việt Nam có cách ứng phó phù hợp đối với dòng vốn FDI của Trung Quốc vào Việt Nam hiện nay là hết sức cần thiết

Với lý do nêu trên, tác giả chọn chủ đề “Đầu tư trực tiếp của Trung

Quốc vào một số nước châu Phi và Mỹ Latinh” làm luận án tiến sĩ kinh tế,

chuyên ngành Kinh tế Quốc tế

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án

2.1 Mục đích nghiên cứu:

Phân tích thực trạng FDI của Trung Quốc vào một số nước châu Phi và

Mỹ Latinh và phản ứng của một số nước châu Phi và Mỹ Latinh đối với tác động tiêu cực từ FDI của Trung Quốc vào những nước này để nêu lên một số gợi mở cho Việt Nam trong việc ứng phó với dòng FDI của Trung Quốc vào Việt Nam hiện nay

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:

1) Phân tích yếu tố đẩy và yếu tố kéo FDI của Trung Quốc vào một số nước châu Phi và Mỹ Latinh

2) Phân tích và đánh giá thực trạng FDI của Trung Quốc vào một số nước châu Phi và Mỹ Latinh để làm rõ những điểm tương đồng, những điểm khác biệt

và tác động của dòng vốn FDI từ Trung Quốc vào một số nước châu Phi và Mỹ Latinh

3) Từ việc phân tích phản ứng của một số nước châu Phi và Mỹ Latinh, có thể rút ra một số gợi ý cho Việt Nam để có cách ứng phó phù hợp đối với dòng vốn FDI của Trung Quốc vào Việt Nam hiện nay

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Trang 11

Đối tượng nghiên cứu của luận án là FDI của Trung Quốc (không bao

gồm Hồng Kông, Ma Cao và Đài Loan) vào một số nước châu Phi và Mỹ Latinh

3.2 Phạm vi nghiên cứu

 Về mặt không gian

Định hướng lựa chọn các quốc gia nghiên cứu cần thỏa mãn hai tiêu chí sau đây:

(i) Đó là những quốc gia thu hút lượng vốn FDI của Trung Quốc nhiều hơn

so với các quốc gia còn lại trong khu vực châu Phi và Mỹ Latinh

(ii) Những quốc gia đó có những phản ứng khác nhau đối với tác động tiêu cực từ dòng vốn FDI của Trung Quốc

Theo định hướng đó, đề tài sẽ tập trung nghiên cứu 5 quốc gia châu Phi, (Angola, CHDC Congo, Nigeria, Nam Phi và Zambia) và 4 quốc gia Mỹ Latinh (Argentina, Braxin, Ecuador và Peru)

Trên thực tế, các quốc gia nêu trên đều thỏa mãn hai điều kiện nêu trên

Thứ nhất, các quốc gia này đều là những nước thu hút được lượng vốn FDI lớn

từ Trung Quốc Cụ thể, ở khu vực Mỹ Latinh, Argentina, Braxin, Ecuador và Peru là những quốc gia tiếp nhận 56,8% (tương ứng 50,3 tỷ USD) vốn FDI cộng dồn của Trung Quốc vào khu vực này (86 tỷ USD) tính đến cuối năm 2013 Trong khi đó, các quốc gia Angola, CHDC Congo, Nigeria, Nam Phi và Zambia

ở châu Phi nhận được 50,3% (13,7 tỷ USD) vốn FDI cộng dồn của Trung Quốc

vào châu Phi (26,19 tỷ USD) tính đến cuối năm 2013 Thứ hai, những nước này

có những phản ứng khác nhau đối với tác động tiêu cực từ dòng vốn FDI của Trung Quốc Đối với khu vực Mỹ Latinh, Argentina và Braxin hạn chế việc mua lại và cho thuê đất đai đối với người nước ngoài nhằm vào doanh nghiệp Trung Quốc; Braxin ban hành những quy định kịp thời và thực thi nghiêm túc để hạn chế các dự án của Trung Quốc có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường và tranh chấp lao động cũng như bảo vệ sản xuất nội địa; Peru thực hiện sáng kiến minh bạch trong ngành khai thác; Ecuador hạn chế sử dụng lao động nước ngoài trong các hợp đồng phụ Đối với châu Phi, Angola hạn chế thâu tóm nguồn nguyên liệu và năng lượng của các doanh nghiệp Trung Quốc; CHDC Congo và Zambia kiểm

Trang 12

tra, giám sát các dự án của thường xuyên để đưa ra các biện pháp xử lý tùy thuộc mức độ vi phạm; Zambia đưa ra quy định hạn chế người nước ngoài đầu tư 100% vốn vào một số lĩnh vực dành cho người bản địa; Nam Phi và Nigeria sử dụng liên đoàn lao động và các cộng đồng người bản địa để bảo vệ quyền lợi người lao động trong các dự án đầu tư của Trung Quốc [71, tr 8 – 9], [37]

4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án

Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, Luận án sẽ sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học cơ bản sau:

Kế thừa: Thu thập, tổng hợp, phân tích, đánh giá các tài liệu từ các

nghiên cứu trước và kế thừa những tài liệu này có chọn lọc Cụ thể, luận án sẽ kế thừa các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học đi trước về FDI ra nước ngoài của Trung Quốc, tìm hiểu cơ sở lý luận và thực tiễn về FDI của Trung Quốc vào châu Phi và Mỹ Latinh, những tác động của dòng vốn này đối với các nước châu Phi và Mỹ Latinh trong thời gian qua Từ đó, kế thừa tính sáng tạo và

bổ sung tính mới để hoàn thiện kết quả nghiên cứu trong luận án

Phương pháp phân tích tổng hợp và so sánh đối chiếu: Phương pháp

phân tích tổng hợp và so sánh đối chiếu được sử dụng để phân tích cơ sở thực tiễn về FDI của Trung Quốc vào một số nước châu Phi và Mỹ Latinh Ngoài ra, những phương pháp này còn được sử dụng để nghiên cứu thực trạng FDI của Trung Quốc vào một số nước châu Phi và Mỹ Latinh để làm rõ những điểm

Trang 13

tương đồng cũng như những nét riêng của dòng vốn này ở châu Phi và Mỹ Latinh, đánh giá FDI của Trung Quốc vào một số nước ở hai khu vực này và phân tích phản ứng của một số nước châu Phi và Mỹ Latinh đối với tác động tiêu cực từ FDI của Trung Quốc để rút ra gợi ý cho Việt Nam trong việc ứng phó với dòng vốn FDI của Trung Quốc vào Việt Nam hiện nay

Phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình: Hoạt động FDI của

Trung Quốc vào hầu hết các nước châu Phi và Mỹ Latinh Do đó, để đảm bảo đạt được mục đích nghiên cứu của đề tài, tác giả chọn nghiên cứu một số trường hợp điển hình Đó là một số nước ở châu Phi và Mỹ Latinh tiếp nhận chủ yếu dòng vốn FDI của Trung Quốc và những nước điển hình có phản ứng đối với tác động tiêu cực của dòng vốn này

5 Những đóng góp mới của luận án

1) Trên cơ sở hệ thống hóa một số vấn đề lý luận về FDI và phân tích thực trạng FDI của Trung Quốc vào một số nước châu Phi và Mỹ Latinh, Luận án chỉ

rõ những yếu tố (đẩy và kéo) tác động đến FDI của Trung Quốc vào châu Phi và

Mỹ Latinh

2) Từ việc phân tích có hệ thống FDI của Trung Quốc vào một số nước châu Phi và Mỹ Latinh, Luận án chỉ ra những điểm tương đồng cũng như những nét khác biệt trong dòng vốn FDI của Trung Quốc vào hai khu vực này

3) Luận án chỉ rõ thành công cũng như hạn chế đối với FDI của Trung Quốc vào một số nước châu Phi và Mỹ Latinh

4) Qua việc phân tích phản ứng của một số nước châu Phi và Mỹ Latinh, Luận án rút ra một số gợi ý đối với Việt Nam để có cách ứng phó phù hợp với

dòng vốn FDI của Trung Quốc vào Việt Nam hiện nay

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

Việc nghiên cứu FDI của Trung Quốc vào một số nước châu Phi và Mỹ Latinh có ý nghĩa lý luận và thực tiễn

Ý nghĩa lý luận: Nghiên cứu FDI của Trung Quốc vào một số nước châu

Phi và Mỹ Latinh sẽ góp phần bổ sung cho hệ thống lý luận về FDI của Trung

Quốc vào các nước đang phát triển khác

Trang 14

Ý nghĩa thực tiễn: Nghiên cứu FDI của Trung Quốc vào một số nước châu

Phi và Mỹ Latinh giúp chúng ta nhìn nhận rõ hơn những đặc điểm của dòng vốn này đối với các nước đang phát triển ở châu Phi và Mỹ Latinh cũng như ở Việt Nam Qua việc phân tích thực trạng FDI của Trung Quốc vào một số nước châu Phi và Mỹ Latinh và đặc biệt là phản ứng của một số nước ở hai khu vực này đối với tác động tiêu cực từ dòng vốn FDI của Trung Quốc, Luận án nêu lên một số gợi ý hữu ích cho Việt Nam để có cách ứng phó phù hợp với dòng vốn FDI của Trung Quốc vào Việt Nam hiện nay

7 Kết cấu của luận án

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Danh mục các chữ viết tắt, Danh mục các bảng và Danh mục các hình, Luận án kết cấu chi tiết 4 chương như sau:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Chương 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn về FDI của Trung Quốc vào một số nước

châu Phi và Mỹ Latinh

Chương 3: Thực trạng FDI của Trung Quốc vào một số nước châu Phi và Mỹ

Latinh

Chương 4: Một số gợi ý cho Việt Nam qua nghiên cứu phản ứng của một số

nước châu Phi và Mỹ Latinh đối với tác động tiêu cực từ FDI của Trung Quốc

Trang 15

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

Hiện nay, đầu tư ra nước ngoài của Trung Quốc nói chung và đầu tư của Trung Quốc vào châu Phi và Mỹ Latinh cũng như đầu tư của Trung Quốc vào Việt Nam nói riêng đã thu hút được sự chú ý của nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới Những công trình nghiên cứu đó có thể phân chia thành các chủ đề sau:

1.1 Về FDI ra nước ngoài của Trung Quốc

Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Trung Quốc đã thu hút được sự chú ý của nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới với các công trình nghiên cứu khá đa dạng và phong phú Sau đây là một số công trình nghiên cứu điển hình:

Davies, K (2012) với nghiên cứu “Outward FDI from China and its policy

context” (Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài và bối cảnh chính sách của Trung

Quốc) đã phân tích tình hình đầu tư ra nước ngoài của Trung Quốc trong giai đoạn 2003 – 2011 và những thay đổi trong chính sách khuyến khích đầu tư ra nước ngoài của Trung Quốc trong cùng thời gian Qua đó, nghiên cứu giúp cho người đọc nắm được tình hình đầu tư ra nước ngoài của Trung Quốc cũng như những thay đổi trong chính sách của Trung Quốc đối với hoạt động đầu tư ra nước ngoài tương đối đầy đủ [58]

Herrero, A G et al (2015) với nghiên cứu “Chinese Outbound Foreign

Direct Investment: How much goes where after round – tripping and shore?” đã cho người đọc nắm được tình hình đầu tư ra nươc ngoài của Trung

off-Quốc trong thời gian gần đây đã thay đổi như thế nào Trong nghiên cứu này, các tác giả cũng chỉ ra số liệu do Bộ Thương mại Trung Quốc và số liệu do các

tổ chức như American Enterprise Institute, A Dragon Capital Index và fDi market có sự chênh lệch Nguyên nhân là do cách thức thu thập số liệu khác nhau [71]

China’s Ministry of Commerce (2015) với cuốn sách “Statistical Bulletin

of China’s Outward Foreign Direct Investment” đã trình bày chi tiết về số liệu

đầu tư trực tiếp của Trung Quốc ra nước ngoài, giúp người đọc không chỉ nắm được thông tin về luồng vốn, vốn cộng dồn, lĩnh vực đầu tư của các doanh

Trang 16

nghiệp Trung Quốc ra nước ngoài cũng như vốn FDI vào Trung Quốc trong thời gian qua [55]

Marukawa, T., Ito, A and Zhang, Y (2014) với nghiên cứu “China’s

outward direct investment data” đã cung cấp cho người đọc nắm được tình hình

đầu tư ra nước ngoài của Trung Quốc ở các khu vực trên thế giới và các lĩnh vực

đầu tư cũng như những nhà đầu tư của Trung Quốc khá chi tiết và đầy đủ [79]

Hoàng Xuân Hòa và Trần Thị Thanh Nga (2006), “Đầu tư ra nước ngoài:

Chính sách phát triển mới của Trung Quốc”, Tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc,

Số 3 (67) đã đề cập đến tình hình đầu tư ra nước ngoài (cả đầu tư trực tiếp và đầu

tư gián tiếp) của Trung Quốc Đồng thời, nghiên cứu cũng đã nêu lên đầu tư ra nước ngoài là cơ hội để giúp các doanh nghiệp Trung Quốc tận dụng được những ưu đãi của nước nhận đầu tư và tránh được sự căng thẳng do chủ nghĩa bảo hộ mậu dịch ngày càng gia tăng giữa Trung Quốc với các cường quốc khác Qua đó, các tác giả cũng nêu lên việc thực hiện chính sách đầu tư ra nước ngoài giúp Trung Quốc có thể chuyển hóa sức sản xuất dư thừa ở trong nước và giảm bớt áp lực điều chỉnh cơ cấu kinh tế trong nước

Phạm Thái Quốc (2011), “Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Trung

Quốc”, Tạp chí Những vấn đề Kinh tế và Chính trị Thế giới, Số 10 (186) đã nêu

lên các giai đoạn đầu tư ra nước ngoài của Trung Quốc; sự hình thành và phát triển của các TNC Trung Quốc; tình hình đầu tư ra nước ngoài của Trung Quốc;

và nguyên nhân, động lực thúc đẩy đầu tư ra nước ngoài của Trung Quốc Đầu tư

ra nước ngoài của Trung Quốc được phân bổ rộng và còn tương đối nhỏ trong tổng lượng đầu tư ra nước ngoài trên toàn cầu Trung Quốc đã đầu tư đáng kể vào các nước đang phát triển Qua đó, tác giả đã chỉ rõ đầu tư ra nước ngoài của Trung Quốc có nét riêng là tranh thủ, chớp các cơ hội để đáp ứng nhu cầu phát triển bên trong nền kinh tế Trung Quốc và đồng thời giúp gia tăng vai trò, ảnh hưởng quốc tế của quốc gia đông dân nhất thế giới Ngoài ra, các hoạt động đầu

tư ra nước ngoài của các doanh nghiệp Trung Quốc, đặc biệt với các doanh nghiệp mà hoạt động liên quan đến dầu lửa, khoáng sản và viễn thông thường được định hướng bởi Chính phủ Trung Quốc Chính phủ Trung Quốc thường hỗ trợ các hoạt động này dưới nhiều hình thức khác nhau như tiếp cận nguồn tài

Trang 17

chính với chi phí thấp (lãi suất) thông qua các ngân hàng lớn Chính vì thế, đầu

tư ra nước ngoài của Trung Quốc ít chịu biến động của tình hình quốc tế hơn so với đầu tư ra nước ngoài của các nước khác

Bùi Thị Lý (2012), “Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của các công ty

xuyên quốc gia Trung Quốc và một số vấn đề đặt ra cho doanh nghiệp Việt Nam”, Tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc, Số 1 (125) đã phân tích động cơ, đặc

điểm của các công ty xuyên quốc gia thế hệ thứ hai từ các nước đang phát triển, điển hình là TNC Trung Quốc Đồng thời, tác giải cũng nêu lên đặc trưng của các công ty xuyên quốc gia này có những đặc điểm khác với công ty xuyên quốc gia thế hệ thứ nhất từ các nước đang phát triển và các vùng lãnh thổ như: Hồng Kông, Singapore, Hàn Quốc, Đài Loan cũng như với các công ty xuyên quốc gia

từ các nước phát triển Qua đó, bài báo giúp chúng ta hiểu rõ hơn về hoạt động đầu tư ra nước ngoài của nhóm các công ty xuyên quốc gia này và đề cập đến một số vấn đề mà các tập đoàn của Việt Nam cần quan tâm trong quá trình phát triển đầu tư ra nước ngoài

Nguyễn Xuân Cường và Nguyễn Đình Liêm (2015), “Doanh nghiệp

Trung Quốc đi ra ngoài trong tiến trình chuyển đổi phương thức phát triển”

của, trên Tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc, Số 6 (166) đã trình bày rõ Trung Quốc đã 3 lần chuyển đổi phương thức phát triển kinh tế tính đến trước Đại hội XVIII Đảng Cộng Sản Trung Quốc (tháng 11/2012) Ngoài ra, các tác giả cũng

đã phân tích tiến trình hoàn thiện chính sách thúc đẩy doanh nghiệp “đi ra

ngoài” Cần phải nhấn mạnh là “đi ra ngoài” là thực hiện quan hệ kinh tế với

nước ngoài của Trung Quốc bao gồm 4 nội dung: Thương mại, đầu tư trực tiếp (FDI), viện trợ nước ngoài (ODA) và hợp đồng tổng thầu (EPC) Đáng chý ý,

các tác giả còn phân tích thực trạng “đi ra ngoài” của các doanh nghiệp Trung

Quốc trong thời gian qua Đầu tư ra nước ngoài của Trung Quốc trong thời gian qua đã có những bước tăng trưởng vượt bậc, trở thành nhà đầu tư lớn trên thế giới và đang có nhiều triển vọng Tính đến năm 2012, Trung Quốc có 16.000 doanh nghiệp đầu tư ra nước ngoài, thành lập 22.000 chi nhánh ở 179 quốc gia

và vùng lãnh thổ trên thế giới với tổng vốn FDI ra nước ngoài đạt 87,8 tỷ USD

Trang 18

làm cho nước này trở thành một trong ba nước có đầu tư ra nước ngoài lớn nhất thế giới (hai nước còn lại là Mỹ và Nhật Bản)

1.2 Về FDI của Trung Quốc ở châu Phi và Mỹ Latinh

Đầu tư của Trung Quốc vào khu vực châu Phi và Mỹ Latinh đã thu hút được sự chú ý của nhiều học giả nước ngoài Vì thế, các công trình nghiên cứu ở nước ngoài về vấn này rất phong phú và đa dạng Tuy nhiên, ở Việt Nam đến nay chỉ có một số công trình nghiên cứu đề cập đến đầu tư của Trung Quốc vào châu Phi, nhưng chưa có công trình nghiên cứu nào đề cập đến đầu tư của Trung Quốc vào Mỹ Latinh Trong số các công trình đó, có thể kể đến như:

Bài viết “Chinese Foreign Direct Investment in Latin America and the

Caribbean” (Đầu tư Trực tiếp của Trung Quốc tại Mỹ Latinh và Caribe) của

Chen, Taotao (2013), Đại học Tsinghua, Trung Quốc tại Diễn đàn Kinh tế Thế giới tổ chức tại Abu Dhabi ngày 18 -20/11/2013 Báo cáo này đã nêu lên tình hình đầu tư của Trung Quốc vào Mỹ Latinh trong giai đoạn 1990 – 2012 Qua

đó, báo cáo giúp người đọc nắm được một số đặc điểm về FDI của Trung Quốc

ở khu vực Mỹ Latinh như sau: Thứ nhất, các ngành công nghiệp khai thác tài

nguyên ở Mỹ Latinh và Caribe thu hút được nhiều vốn FDI của Trung Quốc

nhất Thứ hai, FDI của Trung Quốc vào lĩnh vực xây dựng cơ sở hạ tầng ở khu

vực Mỹ Latinh và Caribe còn rất khiêm tốn mặc dù chính phủ của các nước Mỹ

Latinh rất tích cực tìm kiếm nguồn đầu tư của Trung Quốc vào lĩnh vực này Thứ

ba, đầu tư của Trung Quốc vào ngành chế tạo ở khu vực Mỹ Latinh chủ yếu tập

trung ở Braxin vì Braxin là nền kinh tế lớn nhất khu vực Mỹ Latinh và là một trong những nước bảo hộ thương mại nhiều nhất Do đó, các doanh nghiệp Trung Quốc muốn tăng đầu tư vào quốc gia này nhằm phục vụ thị trường nội địa của Braxin

Một nghiên cứu khác là “China’s relations with North Africa: Trade and

Investment” (Quan hệ của Trung Quốc với Bắc Phi: Thương mại và Đầu tư) của

Elshehawy, M A và đồng nghiệp (2014), đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc tế, Tập 2 (International Journal of Social Science and Humanities Research, Vol 2, Issue, pp 187-192) Bài báo đã đề cập đến quan hệ kinh tế (thương mại và đầu tư) của Trung Quốc với các nước Bắc Phi

Trang 19

(Algeria, Ai Cập, Libya, Morocco và Tunisia) Qua đó, bài báo cho thấy xuất khẩu của Trung Quốc sang các nước Bắc Phi lớn hơn rất nhiều so với nhập khẩu của Trung Quốc từ khu vực này, dẫn đến tình trạng thặng dư thương mại có lợi cho Trung Quốc Đồng thời, bài báo cũng chỉ rõ nhiều doanh nghiệp Trung Quốc

đã đầu tư vào Bắc Phi trong các lĩnh vực từ sản xuất ô tô, viễn thông, xây dựng, điện tử và dịch vụ tài chính đến khai thác dầu khí Tuy nhiên, do phạm vi có giới hạn, nên bài báo mới chỉ khái quát tình hình FDI của Trung Quốc ở các nước Bắc Phi

Cuốn sách “Zhong fei guan xi yi qu cheng shu? Fa zhan, bian qian yu

hui fu” (Quan hệ Trung - Phi đã chín muồi? Phát triển, Chuyển đổi và Phục hồi,

Chính sách hiện hành và nghiên cứu phê bình) của Linda Calabrese (2016) Cuốn sách nói về Hợp tác và Phát triển Kinh tế của Trung Quốc với các nước châu Phi, trong đó có tình hình đầu tư của Trung Quốc vào các nước châu Phi trong thời gian qua Đáng chú ý, cuốn sách đề cập đến cơ chế đầu tư của Trung Quốc vào châu Phi, chủ yếu tập trung vào ngành khai thác mỏ Các doanh nghiệp Trung Quốc đang cố gắng tạo hình ảnh thân thiện đối với người dân của các nước châu Phi để mở rộng thị trường tiêu thụ hàng hóa của Trung Quốc Ngoài ra, cuốn sách cũng nêu nỗ lực của chính phủ Trung Quốc trong việc cung cấp vốn xây dựng cơ sở hạ tầng cho các nước châu Phi Vì vậy, cuốn sách cho thấy đầu tư của Trung Quốc tại châu Phi mang lại cơ hội phát triển cho lục địa đen này, nhưng cũng gặp phải nhiều những thách thức [125]

Cuốn sách “Châu Phi: một số vấn đề kinh tế và chính trị nổi bật từ sau

chiến tranh lạnh và triển vọng” của PGS TS Nguyễn Thanh Hiền (2011) làm

chủ biên Trong cuốn sách này có đề cập đến quan hệ Trung Quốc – châu Phi từ sau chiến tranh lạnh đến nay, đặc biệt là quan hệ kinh tế giữa Trung Quốc và châu Phi Đồng thời, cuốn sách cũng đưa ra xu hướng quan hệ kinh tế giữa Trung Quốc và châu Phi đến năm 2020 Trong mối quan hệ này, đặc điểm nổi bật đó là dầu lửa được coi như là chất kết dính và viện trợ là chất xúc tác tiếp tục thúc đẩy hợp tác kinh tế giữa Trung Quốc với châu Phi Mối quan hệ đó là sự thành công của Trung Quốc kéo theo sự mất chủ quyền và tăng tính phụ thuộc của các nước châu Phi vào Trung Quốc trong quá trình phát triển kinh tế Tuy

Trang 20

nhiên, nghiên cứu này chỉ đề cập một cách khái quát đến đầu tư của Trung Quốc

ở châu Phi mà chưa đi vào nghiên cứu sâu về tình hình, đặc điểm về FDI của Trung Quốc ở châu lục này cũng như mục đích đầu tư của Trung Quốc vào khu vực này và tác động của dòng vốn này đối với các nước châu Phi

Một công trình nghiên cứu khác nữa là “Trung Quốc và Nhật Bản, hai

cường quốc châu Á đang tăng cường ảnh hưởng ở châu Phi” của Nguyễn

Thanh Hiền (2007), Tạp chí Những vấn đề Kinh tế và Chính trị Thế giới, Số 4 (132) Tác giả của bài báo đã phân tích đường lối chiến lược và chính sách cũng như những kết quả đạt được thông qua chính trị - ngoại giao, kinh tế và xã hội của Trung Quốc và Nhật Bản ở châu Phi Cả hai cường quốc này đều ra sức xây dựng hình ảnh và củng cố ảnh hưởng của mình tại lục địa đen này Nếu Trung Quốc lấy nguyên tắc đôi bên cùng có lợi, tôn trọng sự lựa chọn con đường phát triển của các nước châu Phi và không can thiệp vào công việc nội bộ của họ làm phương châm chủ đạo của mình tại lục địa đen này thì Nhật Bản lại lấy điều kiện chính trị làm yêu cầu tiên quyết để triển khai chính sách cũng như hoạt động đầu

tư của mình tại châu Phi Tuy nhiên, do phạm vi của bài báo có hạn, nên tác giả cũng chỉ mới đề cập một cách khái quát đến vấn đề đầu tư của Trung Quốc tại châu Phi

Gần đây còn có bài báo “Đầu tư nước ngoài của Trung Quốc ở Châu

Phi trong thế kỷ XXI” của Nguyễn Xuân Bách (2016), trên Tạp chí Nghiên cứu

Châu Phi và Trung Đông, Số 2 (126) Bài viết đã đề cập đến khuôn khổ pháp lý cho mối quan hệ đầu tư giữa Trung Quốc và Châu Phi Tính đến năm 2013, Trung Quốc đã ký kết 32 hiệp định đầu tư song phương và 11 hiệp định tránh đánh thuế hai lần với các nước châu Phi Đồng thời, Trung Quốc cũng có chính sách thành lập các Đặc khu Kinh tế theo mô hình Trung Quốc ở châu Phi để hỗ trợ cho các doanh nghiệp Trung Quốc thực hiện chính sách đầu tư ra nước ngoài

và tạo thuận lợi cho xuất khẩu hàng hóa của châu Phi sang Trung Quốc Ngoài

ra, bài báo còn phân tích thực trạng đầu tư nước ngoài của Trung Quốc vào các nước và các ngành ở châu Phi Tính đến cuối năm 2012, vốn FDI cộng dồn của Trung Quốc vào châu Phi đạt 21,73 tỷ USD, chiếm 4,1% tổng vốn FDI ra nước ngoài của Trung Quốc và con số này đã tăng lên đến 26 tỷ USD vào năm 2013

Trang 21

Phân theo nước, FDI của Trung Quốc vào châu Phi tập trung chủ yếu vào những nước giàu tài nguyên thiên nhiên như: Nigeria, Nam Phi, Sudan, Algeria (nhiều dầu lửa), Zambia (nhiều khoáng sản) Ngoài ra, FDI của Trung Quốc còn đổ vào các nước khác như: CHDC Congo, Angola và Ethiopia Nếu phân theo ngành, lĩnh vực đầu tư, thì ngành khai thác tài nguyên chiếm 30,6% tính đến cuối năm

2011 Tiếp đến là tài chính (19,5%), công nghiệp xây dựng (16,4%) và chế tạo (15,3%) Các ngành còn lại là bán buôn bán lẻ, nông lâm ngư nghiệp, nghiên cứu khoa học, bất động sản, dịch vụ cho thuê và kinh doanh Cuối cùng, bài báo đưa

ra một số nhận xét đánh giá về đặc điểm và phương pháp tiếp cận thị trường châu Phi của các nhà đầu tư Trung Quốc Điểm đến đối với FDI của Trung Quốc

ở châu Phi chủ yếu là những nước dồi dào nguồn tài nguyên dầu mỏ và các nguồn tài nguyên khác phục vụ cho quá trình công nghiệp hóa nhanh chóng của Trung Quốc Khác với các nước châu Âu, Mỹ và Nhật Bản, Trung Quốc tiến vào châu Phi muộn hơn nhưng với phương pháp tiếp cận khác hơn Trong khi FDI của Nhật Bản, châu Âu và Mỹ vào châu Phi chủ yếu thông qua các công ty, tập đoàn tư nhân lớn và tập trung vào việc tối đa hóa lợi nhuận, thì FDI của Trung Quốc vào châu Phi chủ yếu là do các doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nước hoặc một phần thuộc sở hữu nhà nước Đáng chú ý, các tập đoàn doanh nghiệp và ngân hàng lớn của Trung Quốc như: Sinopec, State Grid, Ngân hàng Công nghiệp và Thương mại Trung Quốc, … đã có mặt và hoạt động rất tích cực ở nhiều nước châu Phi

Đáng chú ý, còn có nghiên cứu “Châu Phi trong chiến lược gieo ảnh

hưởng toàn cầu của Trung Quốc” của PGS.TS Đỗ Đức Định (2016), Tạp chí

Nghiên cứu Châu Phi và Trung Đông, Số 2 (126) Bài viết chủ yếu tập trung phân tích những nỗ lực của Trung Quốc nhằm phát triển các quan hệ kinh tế với các nước châu Phi, bắt đầu từ hoạt động trong lĩnh vực tài chính – ngân hàng và sau đó mở rộng sang các lĩnh vực kinh tế khác như: phát triển các quan hệ thương mại và đầu tư khai thác tài nguyên năng lượng, đầu tư vào nông nghiệp

và đưa nông dân sang châu Phi làm việc Ngoài ra, bài viết còn đề cập đến những lợi thế (mối quan hệ truyền thống, cùng là các nước đang phát triển, dự trữ ngoại hối lớn, vv.) và bất lợi của Trung Quốc ở châu Phi (cạnh tranh với các cường

Trang 22

quốc khác, sự phản kháng của người dân bản địa, …) Tuy nhiên, bài báo chỉ đề cập một cách khái quát quan hệ kinh tế của Trung Quốc đặc biệt là thương mại, cho vay, xóa nợ đối với các nước châu Phi để giành được các dự án khai thác tài nguyên

1.3 Về yếu tố tác động đến FDI của Trung Quốc vào châu Phi và Mỹ Latinh

Bàn về các yếu tố tác động đến FDI của Trung Quốc vào châu Phi và

Mỹ Latinh có các công trình điển hình đề cập đến yếu tố kéo như:

Nghiên cứu “Chinese Foreign direct investment in Africa: Making sense

of a new economic reality” (Đầu tư trực tiếp của Trung Quốc ở châu Phi: Nắm

bắt tình hình kinh tế mới) của Claassen và đồng nghiệp (2012) trên tạp chí Quản

lý Kinh doanh châu Phi (African Journal of Business Management), Tập 6 (47) Trong bài viết, các tác giả đã phân tích thực trạng FDI của Trung Quốc vào các nước châu Phi trong giai đoạn 2003 – 2008 Trong khi các công ty phương Tây chỉ đầu tư vào một số nước châu Phi, thì các doanh nghiệp Trung Quốc đã đầu tư vào hầu hết các quốc gia châu Phi (45/53 quốc gia) Tuy nhiên, đầu tư của Trung Quốc chủ yếu tập trung vào những nền kinh tế có tốc động tăng trưởng trung bình với ngành nghề đa dạng Trong số các nước đó, Nam Phi là quốc gia hấp dẫn nhất đối với FDI của Trung Quốc Đồng thời, tác giả sử dụng phân tích dữ liệu panel để chỉ ra quy mô thị trường, đất nông nghiệp, dầu lửa và các loại khoáng sản là những yếu tố kéo đối với FDI của Trung Quốc vào các nước châu Phi Điều đó cho thấy các doanh nghiệp Trung Quốc không chỉ bị thúc đẩy bởi yếu tố khai thác tài nguyên, khoáng sản mà còn cả yếu tố quy mô thị trường (GDP, cơ sở hạ tầng, sự ổn định về chính trị và vấn đề tham nhũng)

Nghiên cứu khác là “China’s role in the re-agriculturalization in Latin

America economies: Blessing or Curse?” (Vai trò của Trung Quốc trong việc

tái nông nghiệp hóa ở các nền kinh tế Mỹ Latinh: Điều tốt lành hay tai họa?) của Moottatarn, M (2012), Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược Quốc tế, Đại học Claremont McKenna, Argentina Trong bài viết, tác giả đã nêu rõ những đặc điểm trong ngành nông nghiệp của Argentina và chỉ ra nông nghiệp của nước này rất hấp dẫn đối với FDI của Trung Quốc ở Mỹ Latinh vì Argentina có đất đai phì nhiêu và có thế mạnh trong sản xuất đỗ tương Do đó, nhiều doanh nghiệp

Trang 23

Trung Quốc đã hướng đầu tư của họ vào sản xuất và chế biến đỗ tương ở quốc gia châu Mỹ này để xuất khẩu trở lại Trung Quốc trong bối cảnh quốc gia đông dân nhất thế giới đang thiếu hụt lương thực trầm trọng

Một nghiên cứu nữa là “Foreign Direct Investment from China, India

and South Africa in sub-Saharan Africa: A new or Old Phenomenon?” (Đầu

tư trực tiếp nước ngoài từ Trung Quốc, Ấn Độ và Nam Phi ở châu Phi cận

Sahara: Một hiện tượng cũ hay mới?) của Henley J và đồng nghiệp (2008), Viện

Nghiên cứu Kinh tế Phát triển – Liên Hợp Quốc đã khảo sát các doanh nghiệp Trung Quốc trong lĩnh vực dệt may và sản xuất phụ kiện cho ngành may mặc ở Đông Phi Các tác giả đã phát hiện nhiều doanh nghiệp Trung Quốc đã hình thành nền tảng xuất khẩu ở Đông Phi để tận dụng chế độ ưu đãi của Mỹ và EU dành cho hàng hóa có nguồn gốc xuất xứ từ các nước châu Phi Nhờ đó, hàng hóa của Trung Quốc có thể thâm nhập thị trường Mỹ và EU một cách dễ dàng

Bên cạnh những công trình liên quan đến yếu tố kéo nêu trên, còn có

những công trình đề cập đến yếu tố đẩy đối với FDI của Trung Quốc vào châu Phi và Mỹ Latinh như sau:

Bài viết “China’s Outward Direct Investment in Africa” (Đầu tư trực tiếp

của Trung Quốc ở châu Phi) của Cheung, J W và đồng nghiệp (2012), được đăng trên Tạp chí Kinh tế Quốc tế (Review of International Economics) Trong bài viết, các tác giả đã sử dụng dữ liệu chính thức của Trung Quốc và dữ liệu từ các tổ chức quốc tế như OECD và IMF để chỉ ra thực trạng FDI của Trung Quốc vào châu Phi trong giai đoạn 2003 – 2009 Ngoài ra, các tác giả còn phân tích những yếu tố tác động đến dòng vốn FDI của Trung Quốc vào châu Phi như: tìm kiếm thị trường, quan hệ kinh tế, tìm kiếm tài nguyên và chính sách của Trung Quốc đối với khu vực châu Phi Qua đó, nghiên cứu cho thấy quy mô thị trường

và quan hệ kinh tế có tác động tích cực đối với đầu tư của Trung Quốc vào châu Phi Các doanh nghiệp Trung Quốc thường tập trung vào những nước có quy mô thị trường tốt (được đánh giá bằng GDP và tiềm năng tăng trưởng GDP thực tế) Ngoài ra, đầu tư của Trung Quốc còn hướng vào các nước giàu tài nguyên Tuy nhiên, động cơ tìm kiếm tài nguyên chỉ xuất hiện từ những năm 2000 Nghiên cứu cũng chỉ ra những nước có quan hệ thương mại lớn và có các dự án hợp

Trang 24

đồng tổng thầu với Trung Quốc thường là những nước nhận được nhiều vốn FDI

từ các doanh nghiệp Trung Quốc

Một nghiên cứu khác nữa là “What drives China’s role in Africa?” (Điều

gì thúc đẩy vai trò của Trung Quốc ở châu Phi) của Wang, J Y (2007), Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) Trong nghiên cứu đó, tác giả đã trình bày thương mại, viện trợ và đầu tư của Trung Quốc với các nước châu Phi trong giai đoạn 2000 –

2006 và chỉ rõ cả ba yếu tố trên (thương mại, viện trợ và đầu tư) đều giúp tăng cường quan hệ của Trung Quốc đối với các nước châu Phi Ngoài ra, tác giả còn

sử dụng các mô hình phân tích định lượng để chỉ ra chính sách của Trung Quốc đối với châu Phi và vai trò của các thể chế tài chính nhà nước cũng như chiến

lược “đi ra ngoài” của Trung Quốc đều có tác động thúc đẩy dòng vốn FDI của

Trung Quốc vào các nước châu Phi

Điều đáng chú ý là vai trò của Chính phủ Trung Quốc đối với FDI ra nước

ngoài của quốc gia đông dân nhất thế giới này Bài viết “China’s Overseas

Foreign Direct Investment and the Role of the Government” (Đầu tư trực tiếp

ra nước ngoài của Trung Quốc và vai trò của Chính phủ nước này) của Xing, Y (2012), Viện Ngân hàng Phát triển châu Á, Tokyo, Nhật Bản, đã chỉ rõ Nhà nước Trung Quốc can thiệp vào thị trường vốn làm cho nó bị bóp méo Do đó, các doanh nghiệp nhà nước có thế tiếp cận với các nguồn vốn có mức lãi suất thấp hơn trên thị trường Điều đó làm cho các doanh nghiệp Trung Quốc có lợi thế hơn so với các doanh nghiệp của các nước phương Tây khi đầu tư ra nước ngoài

Đó là lý do tại sao nhiều doanh nghiệp Trung Quốc sẵn sàng đầu tư vào những nước bất ổn chính trị ở châu Phi như Sudan và Zimbabwe trong khi doanh nghiệp của các nước phương Tây lại rút khỏi những nước bất ổn chính trị này

Ngoài ra, nghiên cứu “Chinese FDI in Latin America: Does Ownership

Matter?” (Đầu tư trực tiếp của Trung Quốc ở Mỹ Latinh: Quyền sở hữu có quan

trọng không?) của Peter, Enrique Dussel (2015), Nhóm Nghiên cứu về Môi

trường và Phát triển ở châu Mỹ cho thấy Chính phủ Trung Quốc sẵn sàng cung cấp vốn cho các doanh nghiệp nhà nước đầu tư vào các lĩnh vực tài nguyên thiếu hụt trong nước Nghiên cứu này đã chỉ ra 87% vốn FDI của Trung Quốc vào khu vực Mỹ Latinh và Caribe trong giai đoạn 2000-2011 là từ doanh nghiệp nhà

Trang 25

nước và chỉ có 13% từ doanh nghiệp tư nhân Trong đó, 99% vốn FDI của các doanh nghiệp nhà nước Trung Quốc tập trung vào khai thác tài nguyên và năng lượng, nhưng chỉ có 8% vốn FDI của doanh nghiệp tư nhân tập trung vào hai lĩnh vực này

Một nghiên cứu khác nữa là “Zhong guo de la mei zheng duo zhan: Qu

nian xiang la mei zhu zi shu shi yi mei yuan” (Thế trận của Trung Quốc tại Mỹ

Latinh: đầu tư hơn 10 tỷ USD vào Mỹ Latinh) tác giả Tình Thiên (2016) đăng trên Bản tin Tài chính của Trung Quốc Bài viết phân tích tình hình đầu tư của Trung Quốc vào Mỹ Latinh từ 2012 đến 2015 Năm 2012, đầu tư của Trung Quốc vào Mỹ Latinh là 7 tỷ USD và con số này đã lên đến 29 tỷ USD năm 2015 Ngoài ra, tác giả còn so sánh đầu tư của Trung Quốc và đầu tư của Mỹ vào khu vực Mỹ Latinh Đáng chú ý, bài viết còn lý giải vì sao Trung Quốc ngày càng có

mối quan hệ chặt chẽ với Mỹ Latinh hơn so với Mỹ Thứ nhất, nhu cầu về dầu

ăn, đậu nành, ngũ cốc và các loại nguyên liệu khác của Trung Quốc ngày càng tăng, trong khi nguồn cung các loại nguyên liệu này của các nước Mỹ Latinh khá phong phú và đa dạng Đây chính là một trong những nguyên nhân thúc đẩy đầu

tư của Trung Quốc vào các vào các nước Mỹ Latinh để tìm kiếm nguồn nguyên

liệu Thứ hai, đầu tư của Trung Quốc vào Mỹ Latinh nhằm tìm kiếm việc làm

cho lao động Trung Quốc Trung Quốc cung cấp vốn đầu tư cho nhiều dự án xây dựng cơ sở hạ tầng ở Mỹ Latinh, sau đó Trung Quốc đưa công nhân của mình

sang làm việc tại đó Thứ ba, Trung Quốc sử dụng chiêu bài không can thiệp vào

công việc nội bộ của các Mỹ Latinh Trong khi đó, Mỹ lại yêu cầu các vấn đề dân chủ và nhân quyền đối với các nước Mỹ Latinh Do đó, đầu tư của Trung Quốc được nhiều nước Mỹ Latinh trào đón trong thời gian gần đây [124]

1.4 Tác động từ FDI của Trung Quốc đối với các nước châu Phi và Mỹ Latinh

Bàn về tác động của dòng vốn FDI đối với các nước đối với các nước châu Phi và Mỹ Latinh có các công trình nghiên cứu điển hình sau:

Cuốn sách “Africa’s Silk Road: China and India’s new economic

frontier” (Con đường tơ lụa của châu Phi: Mặt trận kinh tế mới của Trung Quốc

và Ấn Độ) của Broadman, Harry G (2007), Ngân hàng Thế giới Trong cuốn

Trang 26

sách đó, tác giả đã chỉ ra FDI của Trung Quốc vào châu Phi có tác động tích cực

với đối với các quốc gia ở khu vực này Trước hết, FDI của Trung Quốc góp

phần tích cực vào phát triển cơ sở hạ tầng của các quốc gia trong khu vực này

thông qua các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng Đồng thời, FDI của Trung Quốc

góp phần vào đa dạng hóa sản phẩm và khu vực địa lý sản xuất hàng xuất khẩu

có nguồn gốc từ châu Phi Ngoài ra, FDI của Trung Quốc còn góp phần tích cực

vào việc chuyển giao công nghệ đơn giản trong một số lĩnh vực như: may mặc, công nghiệp thực phẩm, giao thông, xây dựng nhà máy điện, xây dựng và viễn thông

Ngoài ra, còn có bài “A study on the employment effect of Chinese

Investment in South Africa” (Nghiên cứu tác động về việc làm đối với đầu tư

của Trung Quốc ở Nam Phi) của Meibo, H và Peiqiang, R (2013), Trung tâm Nghiên cứu Trung Quốc, thuộc Đại học Stellenbosch, Nam Phi Nghiên cứu đã khảo sát 16 doanh nghiệp Trung Quốc tại Johannesburg, Nam Phi và cuối năm

2012 để phân tích tác động về việc làm đối với đầu tư của Trung Quốc ở Nam Phi Kết quả khảo sát cho thấy đầu tư của Trung Quốc đã mang lại ích lợi việc làm cho người dân bản địa, chủ yếu là lao động có kỹ năng thấp hoặc không có

kỹ năng, góp phần làm giảm áp lực việc làm ở Nam Phi Đồng thời, bài báo cũng chỉ ra Luật Lao động nghiêm khắc, Liên đoàn Lao động hùng mạnh và việc định hướng của Nam Phi đối với các doanh nghiệp Trung Quốc đầu tư vào nước này giúp đảm bảo các doanh nghiệp Trung Quốc đáp ứng được yêu cầu pháp luật về lao động của nước chủ nhà Cuối cùng, nghiên cứu đã nêu lên việc cải thiện môi trường đầu tư ở Nam Phi là điều kiện tiên quyết để đầu tư của các doanh nghiệp Trung Quốc có tác động tích cực đối với việc làm ở Nam Phi

Tuy nhiên, FDI của Trung Quốc vào châu Phi và Mỹ Latinh cũng gây ra

nhiều tác động tiêu cực Bài viết “The bad good deal: the challenge of Chinese

Foreign Direct Investment in Africa” (Thỏa thuận tốt xấu: thách thức đối với

đầu tư trực tiếp của Trung Quốc ở châu Phi) của Sutton, B (2010), đăng trên Tạp chí Luật và Phát triển châu Phi (African Law and Development), Số 4, đã

chỉ rõ đầu tư của Trung Quốc vào châu Phi có thể làm cho các quốc gia châu Phi ngày càng lệ thuộc vào Trung Quốc Trong quan hệ thương mại, những quốc gia

Trang 27

này xuất khẩu nguyên liệu thô sang Trung Quốc, trong khi đó lại nhập khẩu sản phẩm chế biến, chế tạo có chất lượng thấp từ quốc gia đông dân nhất thế giới này Điều đáng chú ý, các doanh nghiệp Trung Quốc ở châu Phi đang tận dụng những quy định yếu kém của các nước chủ nhà Do đó, đầu tư của Trung Quốc

có thể gây ra tổn hại về mặt xã hội, kinh tế và môi trường đối với các nước nhận đầu tư ở châu Phi

Một nghiên cứu khác là “Chinese Investment in Latin American

Resources: The good, The bad and The ugly” (Đầu tư của Trung Quốc vào các

nguồn tài nguyên ở Mỹ Latinh: Tốt, Xấu và Đáng lo ngại) của Moran, T và đồng nghiệp (2012), Viện Kinh tế Quốc tế Peterson Trong nghiên cứu này, các tác giả đã phân tích đầu tư của Trung Quốc vào tài nguyên ở các nước Mỹ Latinh trong thời gian qua Thông qua nghiên cứu trường hợp các khu mỏ ở Peru, các tác giả đã so sánh khu mỏ do doanh nghiệp Trung Quốc quản lý với các khu mỏ

do doanh nghiệp nước khác quản lý để cho thấy những điều kiện và biện pháp chính sách gì là hiệu quả nhất trong việc thuyết phục các nhà đầu tư Trung Quốc phải chấp nhận những tiêu chuẩn công nghiệp quốc tế Qua đó, nghiên cứu rút ra một số bài học cho các nước Mỹ Latinh khác cũng như các nước châu Phi có ý định sử dụng đầu tư của Trung Quốc để phát triển ngành công nghiệp khai thác

mỏ như sau: Thứ nhất, thị trường tài chính minh bạch mang lại sự thay đổi tích cực Thứ hai, quy định về môi trường của nước chủ nhà buộc các doanh nghiệp Trung Quốc phải thay đổi Thứ ba, đầu tư nước ngoài là chất xúc tác cho sự thay

đổi

Một nghiên cứu đáng chú ý là “China in Latin America: Lessons for

South – South Cooperation and Sustainable Development” (Trung Quốc ở Mỹ

Latinh: Bài học cho Hợp tác Nam – Nam và Phát triển Bền vững) của Ray, R và đồng nghiệp (2015), Nhóm nghiên cứu về Môi trường và Phát triển ở châu Mỹ (bao gồm Trung tâm Nghiên cứu về Biến đổi ở Argentina, Trung tâm Nghiên

cứu của Đại học Pacific ở Peru, Chương trình “Sáng kiến Quản trị Kinh tế Toàn

cầu” của Đại học Boston, Hoa Kỳ và Viện Môi trường và Phát triển Toàn cầu

thuộc Đại học Tufts, Hoa Kỳ) Nghiên cứu đã chỉ ra thương mại và đầu tư của Trung Quốc ở Mỹ Latinh từ đầu thế kỷ 21 là nguyên nhân chính của việc suy

Trang 28

giảm môi trường và cũng là nguồn gốc của xung đột xã hội ở khu vực này Xuất khẩu của các nước Mỹ Latinh cũng như đầu tư của Trung Quốc vào khu vực này chủ yếu là khai thác nguyên liệu thô Do đó, xuất khẩu và đầu tư vào khai thác nguyên liệu thô tạo ra ít công ăn việc làm cho người dân bản địa Nghiên cứu cho thấy xuất khẩu của các nước Mỹ Latinh sang Trung Quốc tạo ra ít hơn 20% việc làm/1 triệu USD so với xuất khẩu thông thường của khu vực này Ngoài ra, việc sản xuất hàng xuất khẩu của những nước này sang Trung Quốc đã sử dụng gấp đôi nguồn nước so với sản xuất hàng xuất khẩu nói chung và tạo ra khoảng hơn 12% khí gây hiệu ứng nhà kính/1 USD Đáng chú ý, các dự án xây dựng cơ

sở hạ tầng do phía Trung Quốc cung cấp tài chính như: đập thủy điện và đường sắt đã gây ra sự đe dọa nghiêm trọng đến việc phá rừng ở một số nước có sự đa dạng sinh học lớn Qua đó, các tác giả cũng chỉ ra các nước Mỹ Latinh đã đặt ra

và thực thi các tiêu chuẩn bảo vệ môi trường nghiêm túc và yêu cầu các doanh nghiệp Trung Quốc phải thực thi các tiêu chuẩn đó Thí dụ, Luật Lao động của Ecuador yêu cầu tất cả các công ty dầu khí nước ngoài phải thuê lao động địa phương và đối xử công bằng với lao động được thuê trực tiếp cũng như lao động trong các hợp đồng phụ Những quy định này đã giải quyết được nguồn gốc chính của sự tranh chấp lao động trong các dự án đầu tư của Trung Quốc Một thí dụ khác là Peru là nước đi đầu trong khu vực Mỹ Latinh về sự minh bạch khi

nước này tham gia vào “Sáng kiến Minh bạch trong Khai thác Tài nguyên” (yêu

cầu báo cáo chi tiết về nguồn thu của Chính phủ và các công ty khai thác và đồng thời yêu cầu các nhà đầu tư Trung Quốc phải tham gia vào nỗ lực đó)

Cuốn sách “Gang guo min zhu gong he guo, dui wai tuo zi he zuo guo

bie (di qu) zhi nan” (CHDC Congo, Hợp tác đầu tư nước ngoài của Viện

Nghiên cứu Hợp tác Kinh tế Thương mại Quốc tế, thuộc Văn phòng xúc tiến đầu

tư Bộ thương mại Trung Quốc tại CHDC Congo) xuất bản năm 2015 Cuốn sách

đề cập tới quan hệ kinh tế (thương mại, đầu tư và viện trợ) giữa CHDC Congo với Trung Quốc Quan hệ kinh tế của CHDC Congo với Trung Quốc có những bước phát triển mạnh trong thời gian gần đây Ngoài ra, cuốn sách còn đề cập đến phản ứng của người dân bản địa đối với đầu tư của Trung Quốc trong thời gian gần đây Nhiều người dân của CHDC Congo không hoan nghênh người

Trang 29

Trung Quốc đến đầu tư tại quốc gia châu Phi này vì họ cho rằng người dân bản địa sẽ bị mất đất và bị chi phối bởi những chính sách thực dân kiểu mới của Trung Quốc [129]

1.5 Về FDI của Trung Quốc vào Việt Nam

Bàn về luồng vốn FDI của Trung Quốc vào Việt Nam có các công trình nghiên cứu điển hình sau:

Đỗ Huy Thưởng (2010), “Đầu tư trực tiếp của Trung Quốc vào Việt

Nam” và Nguyễn Thu Hằng (2012), “Đầu tư trực tiếp của Trung Quốc tại Việt Nam: tác động và một số vấn đề đặt ra”, Luận văn thạc sỹ bảo vệ tại trường Đại

học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội Cả hai tác giả đã phân tích trực trạng FDI của Trung Quốc vào Việt Nam từ khi bình thương hóa quan hệ Việt – Trung năm 1991 Tuy nhiên, khác với Nguyễn Thu Hằng, Đỗ Huy Thưởng đã dùng phiếu điều tra 20 công ty của Trung Quốc đang hoạt động ở Việt Nam và 10 phiếu điều tra để lấy ý kiến các cán bộ đang làm việc tại các Sở Kế hoạch & Đầu

tư để đánh giá những tác động của luồng vốn FDI từ Trung Quốc vào Việt Nam

và đưa ra một số giải pháp nhằm hạn chế những tác động tiêu cực của luồng vốn này đối với Việt Nam Ngoài ra, tác giả còn phân tích rõ những nhân tố tác động đến FDI của Trung Quốc vào Việt Nam trong thời gian qua Trong khi đó, Nguyễn Thu Hằng thông qua số liệu được công bố để đánh giá tình hình thực tế FDI của Trung Quốc vào Việt Nam trong thời gian qua, nêu lên những đóng góp tích cực cũng như những tồn tại của luồng vốn đầu tư này đối với Việt Nam và đưa ra dự báo triển vọng về FDI của Trung Quốc vào Việt Nam trong thời gian

tới đến năm 2020

Nguyễn Đình Liêm (2014), “Đầu tư trực tiếp của Trung Quốc tại Việt

Nam sau hơn 20 năm nhìn lại” trên Tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc, Số 8

(156) Tác giả đã phân tích thực tiễn FDI của Trung Quốc vào Việt Nam 23 năm qua Trong giai đoạn 1991 – 2001, FDI của Trung Quốc vào Việt Nam chưa tác động đáng kể đến quá trình phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam Từ 2002 đến

2010, luồng vốn FDI của Trung Quốc vào Việt Nam mới có sự chuyển biến rõ rệt, trở thành nội dụng chủ yếu trong hợp tác kinh tế giữa hai nước Đặc biệt trong giai đoạn 2011 - 2014, nhất là năm 2013, dòng vốn FDI của Trung Quốc

Trang 30

vào Việt Nam tăng đột biến Ngoài ra, tác giả cũng đánh giá những thành tựu đối với vốn FDI của Trung Quốc vào Việt Nam như: góp phần bổ sung nhu cầu vốn cho đầu tư và phát triển của Việt Nam, bổ sung nguồn vốn cho cán cân thanh toán, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Việt Nam theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa, giúp Việt Nam hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới,

vv Bên cạnh những cái được, còn tồn tại những cái chưa được, những nguy cơ

và hệ lụy khó lường như: chưa phù hợp với quy hoạch ngành và vùng kinh tế của Việt Nam, lao động Trung Quốc theo sau các dự án FDI vào Việt Nam ngày càng phức tạp, chuyển giao công nghệ lạc hậu vào Việt Nam, doanh nghiệp Trung Quốc thường mang theo máy móc thiết bị trong khi Việt Nam có thể đáp ứng và tập trung nhiều vào khai thác tài nguyên

Nguyễn Thường Lạng (2014), “Một số giải pháp và kiến nghị đối với

đầu tư trực tiếp của Trung Quốc tại Việt Nam”, Tạp chí Nghiên cứu Trung

Quốc, Số 8 (156) Trong bài báo, tác giả đã nêu ra một số giải pháp đối với FDI của Trung Quốc tại Việt Nam như: cần phải hiểu rõ tư duy FDI của Trung Quốc tại Việt Nam; tiếp cận phòng ngừa trong hợp tác đầu tư với Trung Quốc; triệt để khai thác các diễn đàn đa biên trong hợp tác đầu tư để kiềm chế tác động tiêu cực

từ FDI của Trung Quốc; tranh thủ cơ hội Trung Quốc đang trỗi dậy để thu lợi ích

từ đầu tư trong xu thế vận động của thế giới phụ thuộc lẫn nhau, nghiên cứu kinh nghiệm của các nước trong ứng xử với FDI của Trung Quốc để đưa ra những giải pháp đón đầu; và lấy đầu tư trong nước làm đối trọng lâu dài Đồng thời, tác giả cũng đưa ra một số đề xuất và kiến nghị đối với Nhà nước, các địa phương

và ban quản lý các khu công nghiệp nơi có doanh nghiệp Trung Quốc đầu tư cũng như những đề xuất và kiến nghị đối với các doanh nghiệp Việt Nam

Chu Phương Quỳnh (2015), “Đầu tư trực tiếp của Trung Quốc vào Việt

Nam: Hiện trạng và giải pháp”, Tạp chí Những vấn đề Kinh tế và Chính trị Thế

giới, Số 4 (288) và Nguyễn Quốc Trường (2015), “FDI của Trung Quốc vào

Việt Nam trong bối cảnh nước này chuyển đổi phương thức phát triển kinh tế”, Tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc, Số 7 (176) Cả hai bài báo đều khái quát

tình hình FDI của Trung Quốc vào Việt Nam trong thời gian qua, nêu lên các vấn đề tồn tại và đưa ra các giải pháp nhằm tăng cường thu hút FDI của Trung

Trang 31

Quốc vào Việt Nam có hiệu quả hơn trong thời gian tới Bên cạnh đó, bài báo của Nguyễn Quốc Trường còn đề cập đến việc Trung Quốc chuyển đổi phương thức phát triển và những nhân tố có thể tác động đến FDI của Trung Quốc vào Việt Nam

1.6 Đánh giá chung, khoảng trống nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu

1.6.1 Đánh giá chung và khoảng trống nghiên cứu

Qua phần tổng quan tài liệu nghiên cứu liên quan đến chủ đề “Đầu tư trực

tiếp của Trung Quốc vào một số nước châu Phi và Mỹ Latinh” cho thấy những

nghiên cứu về FDI của Trung Quốc vào châu Phi và Mỹ Latinh thường tập trung vào việc mô tả thực trạng FDI của Trung Quốc ở châu Phi và Mỹ Latinh hoặc chỉ ra mục đích phía sau hoạt động FDI của Trung Quốc và những tác động của dòng vốn này đối với nước nhận đầu tư ở từng quốc gia hoặc khu vực riêng biệt với các phương pháp nghiên cứu đa dạng Ngoài ra, những nghiên cứu này cung cấp cho người đọc nắm được tình hình FDI của Trung Quốc ở các nước châu Phi

và Mỹ Latinh tương đối đầy đủ

Tuy nhiên, dòng vốn FDI của Trung Quốc vào các khu vực khác nhau trên thế giới có những nét riêng Thực tế cho thấy vốn FDI của Trung Quốc vào các khu vực không chỉ bị chi phối bởi động cơ tìm kiếm nguồn tài nguyên, năng lượng, tìm kiếm thị trường cho việc xuất khẩu hàng hóa của Trung Quốc và tìm kiếm hiệu quả mà nó còn được thúc đẩy bởi yếu tố chính trị như việc gia tăng ảnh hưởng của Trung Quốc đối với các khu vực khác nhau trên thế giới và yếu tố kéo khác nhau ở các khu vực đối với dòng vốn FDI của Trung Quốc Những yếu

tố đẩy, yếu tố kéo và đặc điểm về FDI của Trung Quốc ở các khu vực trên thế giới có những điểm giống và khác nhau Do đó, việc nghiên cứu so sánh FDI của Trung Quốc vào một số nước châu Phi và Mỹ Latinh để là sáng tỏ các điểm chung cũng như những nét riêng của dòng vốn này vào các nước châu Phi và Mỹ Latinh còn hết sức mờ nhạt, hầu như chưa có lại là hết sức cần thiết Ngoài ra, mặc dù nghiên cứu về phản ứng của các nước châu Phi và Mỹ Latinh đối với tác động tiêu cực từ dòng vốn FDI của Trung Quốc, kinh nghiệm thu hút FDI từ Trung Quốc hoặc các biện pháp phát huy mặt tích cực đối với FDI từ Trung

Trang 32

Quốc có ý nghĩa thiết thực đối với các nước nhận đầu tư, nhưng những vấn đề này lại ít được đề cập trong các công trình nghiên cứu nêu trên Trong số những khoảng trống nghiên cứu này, Luận án chỉ tập trung nghiên cứu phản ứng của các nước châu Phi và Mỹ Latinh đối với tác động tiêu cực từ dòng vốn FDI của Trung Quốc để từ đó nêu lên gợi ý đối với Việt Nam để có cách ứng xử phù hợp đối với dòng vốn FDI của Trung Quốc vào Việt Nam hiện nay

1.6.2 Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu

 Luận án cần trả lời các câu hỏi nghiên cứu sau đây:

1) Những yếu tố nào thúc đẩy FDI của Trung Quốc vào châu Phi và Mỹ Latinh?

2) Mục đích đầu tư của Trung Quốc vào châu Phi và Mỹ Latinh là gì?

 Luận án đặt ra một số giả thuyết nghiên cứu sau:

1) FDI của Trung Quốc vào châu Phi và Mỹ Latinh hướng vào việc khai thác tài nguyên để bù đắp cho nguồn cung thiếu hụt trong nước, tìm kiếm thị trường cho hàng hóa của Trung Quốc và còn có ý đồ chính trị chi phối khu vực, các nước châu Phi và Mỹ Latinh

2) FDI của Trung Quốc vào một số nước châu Phi và Mỹ Latinh còn gây

ra không ít các vấn đề xã hội và môi trường ở nước nhận đầu tư

3) Một số nước châu Phi và Mỹ Latinh đã có những phản ứng khác nhau đối với tác động tiêu cực do các dự án đầu tư của Trung Quốc vào hai khu vực này gây ra

Trang 33

Chương 2

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ FDI TIẾP CỦA TRUNG QUỐC

VÀO MỘT SỐ NƯỚC CHÂU PHI VÀ MỸ LATINH

2.1 Cơ sở lý luận về FDI ra nước ngoài của Trung Quốc

2.1.1 Khái niệm FDI

Trong Báo cáo Cán cân Thanh toán Quốc tế hàng năm, Quỹ Tiền tệ Quốc

tế (năm 1993) đưa ra khái niệm về FDI như sau: “FDI là đầu tư có lợi ích lâu

dài của một doanh nghiệp tại một nước khác (nước nhận đầu tư), không phải tại nước mà doanh nghiệp đang hoạt động (nước đi đầu tư) với mục đích quản lý doanh nghiệp một cách có hiệu quả.” [75, tr 235]

Tổ chức OECD đưa ra khái niệm về FDI như sau: “FDI là đầu tư qua

biên giới của nhà đầu tư thường trú ở một nền kinh tế (nhà đầu tư trực tiếp) với mục đích hình thành lợi ích lâu dài ở một doanh nghiệp (doanh nghiệp FDI) thường trú ở một nền kinh tế khác chứ không phải nền kinh tế của nhà đầu tư trực tiếp Động cơ của nhà đầu tư là mối quan hệ chiến lược lâu dài với doanh nghiệp FDI để đảm bảo mức độ ảnh hưởng quan trọng của nhà đầu tư trong việc quản lý doanh nghiệp FDI Lợi ích lâu dài được thể hiện rõ khi nhà đầu tư

sở hữu 10% quyền bỏ phiếu đối với doanh nghiệp FDI.” [92, tr 17]

Uỷ ban Thương mại và Phát triển Liên Hợp Quốc (UNCTAD), trong Báo

cáo Đầu tư Thế giới năm 1996 đã đưa ra khái niệm về FDI như sau: “FDI là đầu

tư có mối liên hệ giữa lợi ích và sự kiểm soát lâu dài của một pháp nhân thường trú ở một nền kinh tế (nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài hoặc công ty mẹ nước ngoài) đối với một doanh nghiệp thường trú ở nền kinh tế khác (doanh nghiệp FDI, doanh nghiệp liên doanh hoặc chi nhánh doanh nghiệp ở nước ngoài).”

[106, tr 219]

Theo “Giáo trình Đầu tư Quốc tế” của Vũ Chí Lộc, Nxb Giáo dục, năm

1997, “FDI là hình thức đầu tư quốc tế chủ yếu mà chủ đầu tư nước ngoài đầu

tư toàn bộ hay một phần đủ lớn vốn đầu tư vào các dự án nhằm giành quyền điều hành các doanh nghiệp sản xuất hoặc kinh doanh dịch vụ, thương mại” [17,

tr 13]

Trang 34

Mặc dù có nhiều khác biệt về quan niệm, nhưng nhìn chung FDI được hiểu như là một hoạt động kinh doanh mà ở đó việc sử dụng vốn và quản lý đầu

tư đi cùng với nhau Thời gian đầu tư thường là trung và dài hạn Nói cách khác, FDI còn được gọi là đầu tư phát triển Trái lại, nếu chủ đầu tư bỏ tài sản (chủ yếu dưới dạng vốn) để mua các chứng chỉ có giá trị như cổ phiếu, trái khoán, … nhằm hưởng lợi, mà không trực tiếp quản lý tài sản của mình thì được gọi là đầu

tư gián tiếp hay đầu tư tài chính Thời gian đầu tư thường là ngắn hạn

Khi nói đến FDI ra nước ngoài, điều quan trọng là cần phân biệt giữa dòng vốn (FDI flow) và vốn cộng dồn (FDI stock) Dòng vốn là lượng vốn đầu

tư ra nước ngoài trong một thời gian nhất định (thường là một năm) Theo đó, dòng vốn bao gồm có vốn cổ phần, lợi nhuận tái đầu tư và những khoản vay trong nội bộ công ty Trong khi đó, vốn cộng dồn là tổng số tài sản sở hữu ở nước ngoài được tích lũy đến một thời điểm nhất định Nói cách khác, vốn cộng dồn là sự tích lũy của dòng vốn đầu tư ra nước ngoài hàng năm

Qua các khái niệm về FDI, tác giả rút ra một khái niệm như sau: FDI được hiểu như là một hoạt động kinh doanh quốc tế được đặc trưng bởi quá trình di chuyển vốn tư bản, tài sản, công nghệ hoặc bất kỳ tài sản nào khác từ nước đi đầu tư sang nước nhận đầu tư để thành lập hoặc kiểm soát doanh nghiệp nhằm mục đích kinh doanh thu lợi nhuận

2.1.2 Đặc điểm của FDI

Qua khái niệm về FDI nêu trên cho thấy bản chất của FDI là hoạt động đầu tư, kinh doanh tìm kiếm lợi nhuận của chủ đầu tư nước ngoài Bởi thế, FDI mang đầy đủ đặc trưng của đầu tư nói chung và còn có thêm một số đặc điểm quan trọng khác so với các hình thức đầu tư khác như sau:

Thứ nhất, FDI là loại hình chu chuyển vốn quốc tế trong đó chủ sở hữu

vốn đầu tư là người nước ngoài, tiến hành hoạt động đầu tư ở một nước khác

Điều đó có nghĩa là doanh nghiệp tiếp nhận vốn FDI không thuộc quốc gia của chủ đầu tư Đặc điểm này có liên quan đến khía cạnh về pháp luật, quốc tịch, ngôn ngữ, phong tục tập quán, … là những yếu tố làm tăng tính rủi ro và chi phí đầu tư của chủ đầu tư nước ngoài

Trang 35

Thứ hai, FDI gắn liền với việc di chuyển các yếu tố đầu tư ra khỏi biên

giới quốc gia Các yếu tố đầu tư có thể là tài sản hữu hình (máy móc, thiết bị,

quy trình công nghệ,…), tài sản vô hình (quyền sở hữu trí tuệ, bí quyết và kinh nghiệm quản lý,…) hoặc tài sản tài chính (cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu, giấy ghi nợ,…) Ngoài ra, hoạt động FDI còn bao gồm cả hoạt động chuyển giao công nghệ, kinh nghiệm quản lý, cơ chế bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ của nhà đầu tư

Do đó, đối với từng loại tài sản khác nhau đòi hỏi nước tiếp nhận đầu tư phải có

cơ chế, chính sách bảo hộ quyền của chủ đầu tư sao cho phù hợp với tính chất và đặc điểm của từng loại

Thứ ba, FDI được thực hiện thông qua việc bỏ vốn thành lập các doanh

nghiệp mới ở nước ngoài, mua lại một phần hoặc mua lại toàn bộ doanh nghiệp đang hoạt động hoặc tiến hành hoạt động hợp nhất hoặc chuyển nhượng doanh nghiệp Điều này cho thấy tính đa dạng của các hình thức FDI

Thứ tư, quyền quản lý doanh nghiệp FDI phụ thuộc vào mức độ góp vốn

của chủ đầu tư vào vốn pháp định Tỷ lệ sở hữu vốn khống chế này do pháp luật

của từng nước quy định và là yếu tố quyết định tính chất trực tiếp trong việc đưa

ra quyết định đầu tư và quản trị doanh nghiệp của nhà đầu tư nước ngoài Theo

đó, FDI sẽ là chủ sở hữu hoàn toàn hoặc đồng sở hữu với tỷ lệ góp vốn nhất định, đủ mức khống chế và trực tiếp tham gia quản lý hoạt động của doanh nghiệp Trong trường hợp góp 100% vốn pháp định, nhà đầu tư nước ngoài có toàn quyền quyết định hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Việc đảm bảo tỷ lệ góp vốn ở mức khống chế còn là cơ sở để doanh nghiệp FDI trở thành những chi nhánh của các công ty ở nước đầu tư Đây là yếu tố làm tăng tính chất toàn cầu của mạng lưới các công ty và tạo cơ sở để các công ty đó thực hiện hoạt động chu chuyển vốn, hàng hóa trong nội bộ các công ty, tránh được hàng rào thuế quan và giảm được chi phí giao dịch

Thứ năm, đối với các nước phát triển, FDI ra nước ngoài chủ yếu là đầu

tư của tư nhân với mục đích hàng đầu là tìm kiếm lợi nhuận Vì thế, các lĩnh vực

sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp FDI phần lớn là những lĩnh vực có khả năng mang lại lợi nhuận cao Tuy nhiên, đối với các nước đang phát triển, đặc biệt là các nước mới nổi với tham vọng bá quyền như Trung Quốc, FDI ra nước

Trang 36

ngoài chủ yếu là đầu tư của doanh nghiệp nhà nước hoặc doanh nghiệp một phần

sở hữu nhà nước Trong nhiều trường hợp, mục đích hàng đầu không phải là tìm kiếm lợi nhuận mà là thực hiện các mục đích chính trị của nhà nước

Thứ sáu, FDI gắn liền với hoạt động kinh doanh của các công ty xuyên

quốc gia Ở các nước phát triển, đây là những tập đoàn có hệ thống các chi

nhánh sản xuất kinh doanh ở nước ngoài có tiềm lực về vốn, công nghệ, nhãn hiệu sản phẩm có uy tín và danh tiếng trên toàn cầu; đội ngũ các nhà quản lý có trình độ cao, có khả năng điều hành hoạt động sản xuất và phân phối trên toàn cầu, có năng lực cạnh tranh cao Do đó, FDI ra nước ngoài thường đi kèm với việc chuyển giao công nghệ cho các nước nhận đầu tư thông qua việc mua máy móc thiết bị, bằng phát minh, sáng chế, bí quyết kỹ thuật, cán bộ quản lý, vv vào nước nhận đầu tư để thực hiện các dự án Tuy nhiên, đối với các nước đang phát triển và mới nổi, trình độ khoa học công nghệ khá thấp so với các nước phát triển, nên đầu tư ra nước ngoài chủ yếu tập trung những ngành, lĩnh vực không yêu cầu trình độ công nghệ quá cao và sử dụng nhiều lao động

Thứ bảy, FDI là loại hình đầu tư trực tiếp và dài hạn Do đó, nguồn vốn

FDI là nguồn vốn tương đối ổn định, bổ sung quan trọng cho vốn đầu tư trong nước ở các nước đang phát triển vì FDI không phải là vốn vay nên các nước nhận đầu tư không phải lo trả nợ và FDI cũng ít chịu sự chi phối, ràng buộc bởi quan hệ chính trị giữa nước đầu tư và nước nhận đầu tư như ODA

2.1.3 Các hình thức FDI

2.1.3.1 Theo chiến lược đầu tư, FDI được chia thành đầu tư mới và mua lại

& sáp nhập

Đầu tƣ mới (GI): là chủ đầu tư thực hiện đầu tư ở nước ngoài thông qua

việc xây dựng các doanh nghiệp mới Đây là kênh đầu tư truyền thống của FDI

và cũng là kênh chủ yếu để các nhà đầu tư ở nước phát triển đầu tư vào các nước đang phát triển [23, tr.37]

Mua lại & sáp nhập (M&A): là chủ đầu tư tiến hành đầu tư thông qua

việc mua lại & sáp nhập các doanh nghiệp ở nước ngoài Kênh đầu tư này chủ yếu được thực hiện ở các nước phát triển, các nước mới công nghiệp hoá và rất phổ biến trong những năm gần đây [23, tr.37]

Trang 37

2.1.3.2 Theo mục đích đầu tư, FDI được chia làm 2 hình thức:

Đầu tư theo chiều ngang: chủ đầu tư có lợi thế cạnh tranh (công nghệ,

kỹ năng quản lý, vv.) trong sản xuất một loại sản phẩm nào đó Với lợi thế này,

họ có thể tìm kiếm lợi nhuận cao khi di chuyển sản xuất sản phẩm đó ra nước ngoài Mục đích của hình thức này là mở rộng và thôn tính thị trường ở nước ngoài Do đó, thường dẫn đến cạnh tranh độc quyền Đây là hình thức đầu tư ra nước ngoài điển hình của Mỹ và được thực hiện chủ yếu giữa các nước phát triển

Đầu tư theo chiều dọc: là hình thức đầu tư ra nước ngoài với mục đích

khai thác nguồn nguyên liệu tự nhiên và các yếu tố sản xuất đầu vào rẻ (lao động, đất đai, vv.) Khi đầu tư ra nước ngoài, chủ đầu tư thường chú ý đến khai thác các lợi thế cạnh tranh của các yếu tố đầu vào và giữa các khâu sản xuất ra một loại sản phẩm trong phân công lao động quốc tế Do đó, các sản phẩm thường được hoàn thiện qua các khâu lắp ráp ở nước nhận đầu tư Sau đó, các sản phẩm này lại có thể được nhập khẩu về nước đầu tư hoặc xuất khẩu sang nước thứ ba Đây là hình thức đầu tư điển hình của Nhật Bản và được thực hiện khá phổ biến ở các nước đang phát triển [23, tr.38]

2.1.3.3 Theo tính chất sở hữu, FDI được chia làm 3 hình thức chủ yếu sau:

Hình thức liên doanh: là hình thức mà doanh nghiệp được hình thành do

sự góp vốn của các bên thuộc nước đầu tư và nước nhận đầu tư Doanh nghiệp liên doanh được thành lập có tư cách pháp nhân trong phạm vi pháp luật của nước nhận đầu tư Các bên cùng góp vốn, cùng quản lý điều hành, phân chia lợi nhuận và cùng chịu rủi ro [23, tr 40]

Hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng: là văn bản ký kết giữa hai hay

nhiều doanh nghiệp từ nước đầu tư và nước nhận đầu tư (gọi là các bên hợp tác kinh doanh) để tiến hành một hoặc nhiều hoạt động kinh doanh, trong đó quy định trách nhiệm và phân chia kết quả kinh doanh cho mỗi bên tham gia mà không cần thành lập doanh nghiệp liên doanh hoặc pháp nhân mới [23, tr 41]

Hình thức 100% vốn nước ngoài: là hình thức chủ đầu tư nước ngoài có thể

thành lập, trực tiếp quản lý và điều hành công ty với vốn đầu tư là 100% của nhà đầu tư Trong hình thức này, nước nhận đầu tư cho phép nhà đầu tư nước ngoài

Trang 38

thuê đất đai, thuê nhân công, toàn quyền điều hành xí nghiệp, tự do kinh doanh trong khuôn khổ pháp luật của nước nhận đầu tư [23, tr 42]

Gần đây còn có các hình thức:

- Hợp đồng xây dựng – kinh doanh - chuyển giao (BOT), Hợp đồng xây

dựng – chuyển giao – kinh doanh (BTO) và Hợp đồng xây dựng -chuyển giao (BT) Những hình thức này được sử dụng với các dự án xây dựng cơ sở hạ

tầng như: đường sá, cầu cống, công trình công cộng

- Hình thức hợp tác phát triển: là hình thức hợp tác giữa chủ đầu tư nước

ngoài với nước nhận đầu tư nhằm mục đích cùng khai thác, sản xuất một sản phẩm liên quan đến nguồn tài nguyên thiên nhiên như: hợp tác về khai thác dầu khí Đặc điểm của hình thức hợp tác này là các dự án hợp tác thường có độ rủi ro cao, vốn đầu tư lớn và lợi nhuận cao [23, tr 42 – 43]

2.1.4 Tác động của FDI

 Đối với nước đi đầu tư

Khi tiến hành các dự án đầu tư vào nước khác, thì nước đi đầu tư (là nước

đang phát triển và mới nổi) thường thu được những lợi ích như sau: Thứ nhất,

đầu tư ra nước ngoài giúp doanh nghiệp ở các nước đang phát triển làm quen và thích nghi với thị trường thế giới Đầu tư ra nước ngoài giúp các doanh nghiệp tự tin, chủ động hơn và thu được những bài học kinh nghiệm khi hoạt động trên thị trường quốc tế Từ đó có thể tạo ra động lực và niềm tin cho các doanh nghiệp

cùng đoàn kết khi tiến hành các hoạt động kinh tế ở nước ngoài Thứ hai, đầu tư

ra nước ngoài còn giúp doanh nghiệp các nước đang phát triển tiếp cận với những tiến bộ khoa học công nghệ Trong thời buổi bùng nổ công nghệ thông tin, đầu tư ra nước ngoài là một trong những phương thức mà các doanh nghiệp của các nước đang phát triển có thể áp dụng để tiếp cận với khoa học công nghệ hiện đại và đồng thời học hỏi những ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt

động của doanh nghiệp Thứ ba, đầu tư ra nước ngoài còn tạo điều kiện để

doanh nghiệp các nước đang phát triển đổi mới cơ cấu sản xuất, tăng cường khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp và từ đó, có thể phát huy lợi thế của mình

Thứ tư, FDI còn giúp cho các chủ đầu tư tìm kiếm được các nguồn cung cấp

nguyên, nhiên liệu thiếu hụt trong nước Mục tiêu của các dự án đầu tư ra nước

Trang 39

ngoài là tìm kiếm nguồn nguyên, nhiên liệu phục vụ cho nhu cầu phát triển sản xuất, kinh doanh của các chủ đầu tư Nguồn tài nguyên trong nước của các nước

đi đầu tư có hạn Do đó, đầu tư vào những nước khác có trình độ phát triển thấp hơn, nhưng có nhiều tài nguyên chưa được khai thác do thiếu vốn và kỹ thuật sẽ thu được nguồn nguyên liệu thô với giá rẻ và qua chế biến sẽ thu được lợi nhuận cao

 Đối với nước nhận đầu tư

So với các hình thức đầu tư nước ngoài khác, FDI có những tác động tích

cực đối với nước nhận đầu tư là những nước đang phát triển như sau: Thứ nhất,

FDI là nguồn bổ sung quan trọng để các nước đang phát triển thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước do tích luỹ nội bộ thấp Với việc nhận vốn FDI, nước chủ nhà không phải lo trả nợ Thông qua hợp tác với chủ đầu tư nước ngoài, nước nhận đầu tư có điều kiện thâm nhập vào thị trường thế giới, nơi chủ đầu tư đã có chỗ đứng vì phần lớn các chủ đầu tư là các công ty xuyên quốc gia

có mạng lưới tiêu thụ sản phẩm ở nhiều nước trên thế giới Với chính sách thu hút FDI theo các ngành nghề được định hướng hợp lý, nguồn vốn FDI sẽ góp phần tích cực vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế của nước nhận đầu tư theo hướng

công nghiệp hoá, hiện đại hoá Thứ hai, FDI góp phần thúc đẩy chuyển giao

công nghệ cho nước nhận đầu tư Lợi ích mà FDI mang lại đó là công nghệ, khoa học hiện đại, kỹ sảo chuyên môn, trình độ quản lý tiên tiến Khi đầu tư vào một nước nào đó, chủ đầu tư không chỉ mang vào nước đó vốn bằng tiền mà còn chuyển cả vốn hiện vật như máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu…(gọi là phần cứng) , trí thức khoa học, bí quyết quản lý, năng lực tiếp cận thị thường (gọi là phần mềm.) Do vậy, về lâu dài đây chính là lợi ích căn bản nhất đối với nước

nhận đầu tư Thứ ba, FDI còn góp phần phát triển nguồn nhân lực và tạo thêm

nhiều việc làm mới cho nước nhận đầu tư Vì các dự án FDI yêu cầu cao về chất lượng nguồn lao động, nên sự phát triển FDI ở nước nhận đầu tư đã đặt ra yêu cầu khách quan phải nâng cao trình độ ngoại ngữ và trình độ chuyên môn của người lao động Mặt khác, các chủ đầu tư nước ngoài cũng đã góp phần tích cực bồi dưỡng, đào tạo đội ngũ lao động ở nước sở tại Đó chính là đội ngũ nòng cốt trong việc học tập, tiếp thu kỹ thuật, công nghệ và năng lực quản lý tiên tiến của

Trang 40

nước ngoài Thứ tư, các dự án FDI góp phần bổ sung quan trọng cho ngân sách

của các quốc gia Các nguồn thu từ các khoản cho thuê đất, mặt nước, mặt biển, các loại thuế doanh thu, lợi tức, thuế xuất nhập khẩu sẽ có đóng góp lớn cho

ngân sách của các nước đang phát triển Thứ năm, hoạt động của các dự án FDI

có tác động quan trọng với xuất nhập khẩu của các nước chủ nhà Các dự án FDI cũng có tác động quan trọng nếu nhập khẩu của các nước và trong nhiều trường hợp do quy mô nhập khẩu để xây dựng cơ bản, trang bị máy móc rất lớn dẫn đến tiêu cực trong cán cân thương mại, gây ra thâm hụt thương mại thường xuyên

Do đó, cần phải khuyến khích các dự án FDI mua nguyên liệu, phụ tùng trong nước và tăng cường mở rộng các dịch vụ thu ngoại tệ tại chỗ để cải thiện cán cân thanh toán

Bên cạnh những tác động tích cực nêu trên, FDI còn có thể gây ra tác

động tiêu cực đối với nước nhận đầu tư: Thứ nhất, FDI có thể làm cho nước

nhận đầu tư trở thành bãi giác công nghệ Doanh nghiệp nước ngoài thường chuyển giao những công nghệ kỹ thuật lạc hậu và máy móc thiết bị cũ cho nước nhận đầu tư vì những doanh nghiệp này muốn tiết kiệm tư bản, tiếp tục kéo dài chu kỳ sống của công nghệ đã trở nên lạc hậu ở nước đi đầu tư bằng cách chuyển sang các nước đang khát vốn và có trình độ công nghệ thấp hơn Điều này được

đề cập trong lý thuyết “Vòng đời quốc tế của sản phẩm” của Vernon Do sự tác

động của cách mạng khoa học kỹ thuật cho nên máy móc công nghệ nhanh chóng trở nên lạc hậu Vì vậy, các doanh nghiệp này thường chuyển giao máy móc lạc hậu cho các nước kém phát triển hơn để đổi mới công nghệ, đổi mới sản phẩm, nâng cao chất lượng sản phẩm của chính nước đi đầu tư Ngoài ra, vào giai đoạn đầu của sự phát triển, hầu hết các nước đều sử dụng cả công nghệ và nhiều lao động Tuy nhiên, sau một thời gian phát triển, giá lao động sẽ tăng lên, làm cho giá thành sản phẩm cũng tăng theo Vì vậy, họ muốn thay đổi công nghệ

cũ bằng những công nghệ mới để hạ giá thành sản phẩm Thứ hai, FDI có thể

làm cho nền kinh tế của nước nhận đầu tư ngày càng phụ thuộc vào nước ngoài Thực tế cho thấy việc sử dụng nhiều vốn FDI có thể dẫn đến việc thiếu chú trọng huy động tối đa vốn trong nước, gây ra mất cân đối trong cơ cấu đầu tư, làm cho nền kinh tế phụ thuộc nặng nề vào vốn đầu tư nước ngoài Do đó, nếu tỷ trọng

Ngày đăng: 01/11/2016, 15:38

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Hoàng Thế Anh (2011), Một số vấn đề nổi bật trong lĩnh vực kinh tế - xã hội nổi bật của Trung Quốc trong 10 năm đầu thế kỷ XXI, Tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc, Số 5 (117) – 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc
Tác giả: Hoàng Thế Anh
Năm: 2011
2. Nguyễn Xuân Bách (2016), Đầu tư nước ngoài của Trung Quốc ở châu Phi trong thế kỷ XXI, Tạp chí Nghiên cứu Châu Phi và Trung Đông, Số 2 (126) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Nghiên cứu Châu Phi và Trung Đông
Tác giả: Nguyễn Xuân Bách
Năm: 2016
3. Bộ Công Thương (2015), Tăng trưởng kinh tế của khu vực Mỹ Latinh và Caribe năm 2014 và dự báo cho năm 2015; http://www.moit.gov.vn/vn/tin- tuc/4660/tang-truong-kinh-te-khu-vuc-my-latinh-va-caribe-nam-2014-va-du-bao-cho-nam-2015.aspx Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tăng trưởng kinh tế của khu vực Mỹ Latinh và Caribe năm 2014 và dự báo cho năm 2015
Tác giả: Bộ Công Thương
Năm: 2015
4. Đỗ Minh Cao (2005), Chiến lược năng lượng của Trung Quốc những năm đầu thế kỷ XXI, Tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc, Số 5 (63) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc
Tác giả: Đỗ Minh Cao
Năm: 2005
5. Cục Đầu tư Nước ngoài (2016), Tình hình đầu tư nước ngoài 12 tháng năm 2015; http://fia.mpi.gov.vn/tinbai/4220/Tinh-hinh-dau-tu-nuoc-ngoai-12-thang-nam-2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình đầu tư nước ngoài 12 tháng năm 2015
Tác giả: Cục Đầu tư Nước ngoài
Năm: 2016
6. Cục Đầu tư Nước ngoài (2016), Tình hình hợp tác đầu tư Việt Nam – Trung Quốc; http://fia.mpi.gov.vn/tinbai/2068/Tinh-hinh-hop-tac-dau-tu-Viet-Nam-Trung-Quoc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình hợp tác đầu tư Việt Nam – Trung Quốc
Tác giả: Cục Đầu tư Nước ngoài
Năm: 2016
7. Trần Đình Cung – Nguyễn Toàn Thắng (2015), Kinh tế Việt Nam lệ thuộc hàng hóa Trung Quốc nhiều nhất Đông Nam Á, Viện Nghiên cứu Kinh tế Trung ương; http://nld.com.vn/kinh-te/viet-nam-le-thuoc-hang-hoa-trung-quoc-nhieu-nhat-dong-nam-a-20151203141148888.htm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế Việt Nam lệ thuộc hàng hóa Trung Quốc nhiều nhất Đông Nam Á
Tác giả: Trần Đình Cung – Nguyễn Toàn Thắng
Năm: 2015
8. Nguyễn Xuân Cường – Nguyễn Đình Liêm (2015), Doanh nghiệp Trung Quốc đi ra ngoài trong tiến trình chuyển đổi phương thức phát triển, Tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc, Số 6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc
Tác giả: Nguyễn Xuân Cường – Nguyễn Đình Liêm
Năm: 2015
9. Ngô Thu Hà (2008), Chính sách thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào Trung Quốc và khả năng vận dụng tại Việt Nam, Luận án Tiến sỹ Kinh tế, bảo vệ cơ sở tại Đại học Kinh tế Quốc Dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luận án Tiến sỹ Kinh tế
Tác giả: Ngô Thu Hà
Năm: 2008
10. Nguyễn Thu Hằng (2012), Đầu tư trực tiếp của Trung Quốc tại Việt Nam: tác động và một số vấn đề đặt ra, Luận văn Thạc sỹ Kinh tế, bảo vệ tại cơ sở Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nôi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luận văn Thạc sỹ Kinh tế
Tác giả: Nguyễn Thu Hằng
Năm: 2012
11. Hoàng Xuân Hòa và Trần Thị Thanh Nga (2006), Đầu tư ra nước ngoài: Chính sách phát triển mới của Trung Quốc, Tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc, Số 3 (67) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc
Tác giả: Hoàng Xuân Hòa và Trần Thị Thanh Nga
Năm: 2006
12. Nguyễn Thanh Hiền (2011), Châu Phi: một số vấn đề kinh tế và chính trị nổi bật từ sau chiến tranh lạnh và triển vọng, Nxb. Khoa học Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Châu Phi: một số vấn đề kinh tế và chính trị nổi bật từ sau chiến tranh lạnh và triển vọng
Tác giả: Nguyễn Thanh Hiền
Nhà XB: Nxb. Khoa học Xã hội
Năm: 2011
13. Nguyễn Thanh Hiền (2007), Trung Quốc và Nhật Bản, hai cường quốc Châu Á tăng cường ảnh hưởng ở Châu Phi, Tạp chí Những vấn đề kinh tế và chính trị thế giới, Số 4 (132) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Những vấn đề kinh tế và chính trị thế giới
Tác giả: Nguyễn Thanh Hiền
Năm: 2007
14. Nguyễn Thường Lạng (2014), Một số giải pháp và kiến nghị đối với đầu tư trực tiếp của Trung Quốc tại Việt Nam, Tạp chí nghiên cứu Trung Quốc, Số 8 (156) – 2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí nghiên cứu Trung Quốc
Tác giả: Nguyễn Thường Lạng
Năm: 2014
15. Trần Quang Lâm – Như Hải An (2006), Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam hiện nay, Nxb. Chính trị Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam hiện nay
Tác giả: Trần Quang Lâm – Như Hải An
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc gia Hà Nội
Năm: 2006
16. Nguyễn Đình Liêm (2014), đầu tư trực tiếp của Trung Quốc tại Việt Nam sau hơn 20 năm nhìn lại, Tạp chí nghiên cứu Trung Quốc, Số 8 (156) – 2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí nghiên cứu Trung Quốc
Tác giả: Nguyễn Đình Liêm
Năm: 2014
18. Vũ Chí Lộc (2012), Giáo trình đầu tư quốc tế, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình đầu tư quốc tế
Tác giả: Vũ Chí Lộc
Nhà XB: Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2012
19. Bùi Thị Lý (2011), Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của các công ty xuyên quốc gia Trung Quốc và một số vấn đề đặt ra cho doanh nghiệp Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc, Số 1(125) – 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc
Tác giả: Bùi Thị Lý
Năm: 2011
89. National Bureau of Statistics of China (2015), China Statistical Year Book 2015; http://www.stats.gov.cn/tjsj/ndsj/2015/indexeh.htm Link
113. U.S. Energy Information Administration (2014), Annual Energy Outlook 2014; http://www.eia.gov/forecasts/aeo/pdf/0383(2014).pdf Link

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1. Sơ đồ các yếu tố tác động đến FDI ra nước ngoài của một quốc gia - Đầu tư trực tiếp của trung quốc vào một số nước châu phi và mỹ latinh
Hình 2.1. Sơ đồ các yếu tố tác động đến FDI ra nước ngoài của một quốc gia (Trang 49)
Hình 2.2: Tốc độ tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc, 2001-2015 (%) - Đầu tư trực tiếp của trung quốc vào một số nước châu phi và mỹ latinh
Hình 2.2 Tốc độ tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc, 2001-2015 (%) (Trang 53)
Bảng 2.1: Thu nhập bình quân của công nhân ở một số nước năm 2013 - Đầu tư trực tiếp của trung quốc vào một số nước châu phi và mỹ latinh
Bảng 2.1 Thu nhập bình quân của công nhân ở một số nước năm 2013 (Trang 68)
Bảng 3.1: FDI ra nước ngoài của Trung Quốc, 2002 – 2015 - Đầu tư trực tiếp của trung quốc vào một số nước châu phi và mỹ latinh
Bảng 3.1 FDI ra nước ngoài của Trung Quốc, 2002 – 2015 (Trang 80)
Bảng 3.4: FDI ra nước ngoài của Trung Quốc theo hình thức đầu tư - Đầu tư trực tiếp của trung quốc vào một số nước châu phi và mỹ latinh
Bảng 3.4 FDI ra nước ngoài của Trung Quốc theo hình thức đầu tư (Trang 85)
Bảng 3.9: FDI của Trung Quốc vào một số nước châu Phi theo hình                   thức đầu tƣ, 2005 -2015  Đơn vị tính: dự án - Đầu tư trực tiếp của trung quốc vào một số nước châu phi và mỹ latinh
Bảng 3.9 FDI của Trung Quốc vào một số nước châu Phi theo hình thức đầu tƣ, 2005 -2015 Đơn vị tính: dự án (Trang 94)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w