1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Kiến trúc và lễ hội ở những ngôi chùa cổ thờ tứ pháp tại trung tâm phật giáo luy lâu bắc ninh

95 502 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 95
Dung lượng 2,71 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để bảo tồn, phát huy những giá trị văn hóa ấy, học viên chọn đề tài “Kiến trúc và lễ hội ở những ngôi chùa cổ thờ Tứ Pháp tại trung tâm Phật giáo Luy Lâu - Bắc Ninh” với mong muốn tìm h

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Phật giáo xuất hiện ở Việt Nam từ thế kỷ thứ III sau Công nguyên “lịch sử tư tưởng Việt Nam ngay từ buổi đầu ta thấy Sĩ Nhiếp (178 – 266) đã tổng hợp Nho giáo chính thống từ phương Bắc xuống với Phật giáo của Khương Tăng Hội từ phương Tây Bắc Ấn Độ đến Giao Chỉ thế kỷ thứ III đem theo thiền học Đại Thừa Phật giáo”1 Trung tâm Phật giáo Luy Lâu là một trung tâm của Phật giáo Việt Nam được hình thành từ rất sớm tại vùng đất Giao Chỉ, nay là huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh

Để có được một trận mưa, phải có ít nhất bốn hiện tượng thiên nhiên hợp lại, đó là: Mây, sấm, gió, mưa Và, người nông dân cho rằng, mỗi hiện tượng mưa xuất hiện được làm ra bởi pháp thuật của một vị thần Người làm nông cần có nước để tưới cây hoa màu, cần mưa hòa gió thuận Lúc bấy giờ, người nông dân trồng trọt hoa màu phụ thuộc vào thời tiết và xem tự nhiên thiên nhiên như những bậc siêu nhiên, con người không thể khống chế vào lực siêu nhiên ấy Trước khi Phật giáo du nhập vào nước ta, người nông dân Việt đã sẵn có các thần: Mây, mưa, sấm, gió mang tính bản địa của mình, bởi trong thế giới quan của những cư dân trồng lúa nước không thể vắng bóng những lực lượng siêu nhiên có khả năng tác động đến sự thành bại của một vụ gieo trồng, nhất là với điều kiện canh tác của người Việt khi ấy còn phải phụ thuộc rất nhiều vào tự nhiên

Hệ thống tín ngưỡng thờ Tứ Pháp được hình thành khi đạo Phật du nhập vào nước ta, là hiện tượng tín ngưỡng bản địa của nước ta mang đậm màu sắc của nền văn minh lúa nước kết hợp với Phật giáo tồn tại khá phổ biến ở đồng bằng Bắc bộ Hình thái thờ thần Tứ Pháp là một trong những hình thái tín ngưỡng thờ thần nông nghiệp cổ

sơ khi mà đời sống nông nghiệp lệ thuộc hoàn toàn vào thiên nhiên

Tứ Pháp bao gồm: Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện Bốn Pháp này tượng trưng cho những thế lực thiên nhiên như: mây, mưa, sấm, chớp Tứ Pháp được hình thành là sự kết hợp giữa Phật giáo với tín ngưỡng dân gian của những người nông dân cầu mong mưa thuận, gió hòa, cây cối tốt tươi, mùa màng thịnh vượng …các ngôi

1

Nguyễn Đăng Thục (1992), Lịch sử tư tưởng Việt Nam I- II- III, Nxb TP HCM, Tr 17

Trang 2

chùa thờ Tứ Pháp cũng ra đời để đáp ứng nhu cầu tinh thần của người dân qua việc thờ cúng Những lễ hội và kiến trúc của các ngôi chùa thờ Tứ Pháp cũng được xuất hiện từ đây Trải qua hơn hai ngàn năm, giá trị văn hóa ở những ngôi chùa cổ thờ Tứ Pháp vẫn còn bảo tồn và gìn giữ

Để bảo tồn, phát huy những giá trị văn hóa ấy, học viên chọn đề tài “Kiến trúc

và lễ hội ở những ngôi chùa cổ thờ Tứ Pháp tại trung tâm Phật giáo Luy Lâu - Bắc Ninh” với mong muốn tìm hiểu, bảo tồn, phát huy những giá trị văn hóa vật thể và

phi vật thể tại đây

Với đề tài này, học viên sẽ đi sâu nghiên cứu lĩnh vực lễ hội và kiến trúc ở những ngôi chùa thờ Tứ Pháp: Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện tương ứng với bốn ngôi chùa: Chùa Dâu, chùa Đậu, chùa Tướng, chùa Dàn tại trung tâm Phật giáo Luy Lâu, nay là huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Chùa Dâu nói riêng cũng như trung tâm Phật giáo Luy Lâu là trung tâm Phật giáo sớm nhất ở Việt Nam, có vị trí, vai trò quan trọng đối với đạo Phật nói chung và tín ngưỡng thờ cúng của dân tộc Việt Nam nói riêng Vì vậy hệ thống những ngôi chùa thờ Tứ Pháp tại trung tâm Phật giáo Luy Lâu đã thu hút các các nhà khoa học nghiên cứu từ các sử liệu

Có rất nhiều đề tài được nghiên cứu xung quanh về chùa Dâu cũng như những ngôi chùa thờ Tứ Pháp tại trung tâm Phật giáo Luy Lâu thông qua lễ hội, kiến trúc Có thể nói cho đến nay chùa Dâu vẫn lưu giữ được nhiều bản ghi chép về kiến trúc và lễ hội, trong đó đáng chú ý nhất là kho ván in kinh gồm hơn 100 ván, chia ra làm mười hai bộ sách khác nhau như: Cổ Châu Pháp Vân Phật bản hạnh ngũ lục, Cổ Châu Phật bản hạnh ngữ lục, Hiến Cổ Châu Phật tổ Nghi, Nhân quả kinh quốc ngữ, Kỳ vũ kinh, Tam giáo kinh… Đó là di sản Hán – Nôm quý hiếm ít nơi có 2

Cuốn sách Cổ Châu

Pháp Vân Phật Bản Hạnh Ngữ Lục là cuốn sách song ngữ Hán Nôm, còn cuốn Cổ Châu Pháp Vân Phật Bản Hạnh Ngũ Lục là cuốn truyện thơ lục bát nôm Hai cuốn này đều nói về sự tích Man Nương được coi là biên soạn vào khoảng từ thế kỷ 15 đến thế

2

Nguyễn Hữu (2014), Chùa Dâu lịch sử và truyền thuyết, Nxb Thanh niên, tr 70

Trang 3

kỷ 18 Cuốn thứ ba là Hiến Cổ Châu Phật Tổ Nghi nói về các nghi thức tế lễ Như vậy

ba cuốn sách này được xem là những tài liệu cổ xưa nhất, còn được lưu giữ tại nhà chùa Trong cuốn sách Lĩnh Nam Chích Quái của Trần Thế Pháp cũng nói về truyện Man Nương nhưng so với Cổ Châu Pháp Vân Phật Bản Hạnh ngữ lục thì Trần Thế Pháp đã rút ngắn truyện lại còn khoảng một phần ba Đến đầu đời Lê, khi nền Phật giáo dân tộc phục hưng mạnh mẽ, Phật Pháp Vân được nhiều lần thỉnh lễ về Hà Nội để cầu đảo và tôn thờ, Lý Tử Tấn (1378 – 1460) đã viết một bài ký về đức Phật Pháp Vân với nhan đề: Pháp Vân Cổ Tự Bi ký chép trong Toàn việt thi lục và Kiến văn tiểu lục 9, cả

2 đều do Lê Quý Đôn biên soạn Về mặt chính sử thì Phật Pháp Vân xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1073 dưới thời vua Lý Nhân Tông, khi vua mới lên ngôi

Trong những năm gần đây, đã có nhiều công trình nghiên cứu về hệ thống Tứ Pháp tại trung tâm Phật giáo Luy Lâu Một trong những tác giả có nhiều công trình nghiên cứu nhất phải kể đến là tiến sĩ sử học Trần Đình Luyện Cuốn sách thứ nhất: Luy Lâu lịch sử và văn hóa, Sở Văn hóa Thông tin tỉnh Bắc Ninh, xuất bản năm 1999; cuốn thứ 2 Lễ Hội Bắc Ninh – Sở Văn Hóa Thông tin Bắc Ninh, xuất bản năm 2003

Đặc biệt trong đó phải kể đến cuốn sách: chùa Dâu và lễ hội rước Phật Tứ Pháp, Phòng Văn hóa Thông tin Thể thao huyện Thuận Thành, 2000 Trong các cuốn sách này Trần Đình Luyện đã nghiên cứu rất kỹ về kiến trúc và lễ hội chùa Dâu, nhưng chủ yếu nhìn dưới góc độ sử học, và tác phẩm ấy vẫn chưa nêu lên tổng quan của bốn ngôi chùa cổ thờ Tứ Pháp

Cuốn sách Chùa Dâu – Cổ Châu, Pháp Vân, Diên Ứng Tự tác giả Nguyễn Quang Khải – Nxb Tôn giáo, năm 2011, tác giả cũng trích dẫn truyền thuyết chùa Dâu dựa theo bản: Cổ Châu pháp Vân bản hạnh

Cuốn sách: Chùa Dâu lịch sử và truyền thuyết, tác giả: Nguyễn Hữu – Nxb Thanh niên, 2010 Trong cuốn sách này nhà văn Nguyễn Hữu đã viết khá kỹ càng về lịch sử Chùa Dâu, đặc biệt mô tả về lễ hội Chuà Dâu Tuy nhiên tác phẩm vẫn chưa nêu lên được giá trị kiến trúc của ba ngôi chùa cổ thờ Tứ Pháp còn lại

Ngoài ra, các cuốn sách Chùa Dâu và nghệ thuật Tứ Pháp, của tác giả Phan Cẩm Thượng, xuất bản năm 2002, Nxb Mỹ Thuật, và cuốn Sự tích Đức Phật chùa Dâu,

Trang 4

Nguyễn Quang Hồng, Nxb Văn hóa Thông tin, 1994 cũng chưa đề cập đến nhiều về lễ hội và kiến trúc ở những ngôi chùa cổ thờ Tứ Pháp

Như vậy, vấn đề nghiên cứu về lễ hội và kiến trúc Chùa Dâu chưa từng được nghiên cứu một cách hệ thống, nói cách khác chưa nghiên cứu dưới góc độ Việt Nam học Đề tài này, người viết sẽ kế thừa những kết quả của các công trình nghiên cứu trước đó và khảo sát thực tiễn để làm rõ những giá trị văn hóa qua kiến trúc và lễ hội ở những ngôi chùa cổ thờ tứ Pháp tại trung tâm Phật giáo Luy Lâu

Mục tiêu cụ thể

Đề xuất một số giải pháp, kiến nghị để bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của những ngôi chùa cổ thông qua những di tích lịch sử có tính chất giáo dục và vẫn còn phát huy đến ngày hôm nay, những di sản văn hóa vật thể và phi vật thể ở những lễ hội

và các loại hình nghệ thuật kiến trúc tại đây

Trang 5

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tƣợng nghiên cứu

Những kiến trúc và lễ hội của bốn ngôi chùa thờ Tứ Pháp: Chùa Dâu thờ Pháp Vân, chùa Đậu thờ Pháp Vũ, chùa Tướng thờ Pháp Lôi, chùa Dàn thờ Pháp Điện tại huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh

Tham khảo một số sách về văn hóa, lễ hội, tôn giáo, lịch sử, nghệ thuật kiến trúc cũng như tham khảo một số luận án tiến sĩ, các luận văn thạc sĩ, các bài báo cáo khoa học trong và ngoài nước có liên quan đến việc bảo tồn và phát huy những giá trị

Trang 6

văn hóa qua những lễ hội, các công trình kiến trúc, điêu khắc nghệ thuật tại chùa Dâu, chùa Đậu, chùa Tướng, chùa Dàn để nêu lên được giá trị văn hóa lễ hội, nghệ thuật kiến trúc ở những ngôi chùa cổ thờ Tứ Pháp tại trung tâm Phật giáo Luy Lâu – Bắc Ninh

Phương pháp so sánh lịch sử

So sánh những lễ hội tại những ngôi chùa cổ thờ Tứ Pháp trước và sau khi Phật giáo mới du nhập cho đến ngày nay Những kiến trúc của các ngôi chùa thờ Tứ pháp từ khi được thành lập cho đến hiện nay thông qua việc kế thừa, bảo tồn, phát huy của hậu thế và biến đổi kiến trúc theo thời gian và tàn tích của chiến tranh

Khảo sát thực địa

Học viên sẽ trực tiếp đến huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh để khảo sát thực

tế, thu thập thông tin từ một số vị trụ trì ở bốn ngôi chùa cổ thờ Tứ Pháp: Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện tại trung tâm Phật giáo Luy Lâu

an, có nhiều sức khỏe, hạnh phúc đến với gia đình, cầu nguyện mưa hòa gió thuận, làm

ăn phát đạt trong công việc

Từ ngày mùng 05 đến ngày mùng 10 tháng tư Âm lịch (tức là tháng 5 Dương lịch) Thời gian này, học viên có cơ hội xem được tiến trình diễn ra lễ hội nổi tiếng nhất trong năm là lễ hội chùa Dâu tại huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh

Thông qua việc khảo sát này, học viên sẽ càng hiểu sâu hơn về lịch sử, kiến trúc từng ngôi chùa, hiểu được tín ngưỡng thờ Tứ Pháp ảnh hưởng bởi khí hậu, tự nhiên của đồng bằng Bắc Bộ, chính những lễ hội này đã làm cho con người đoàn kết hơn, biết yêu thương nhau, con cháu nhớ về cội nguồn, quê hương tổ quốc

Trang 7

Ngoài Bốn phương pháp nghiên cứu nêu trên, tác giả còn sử dụng phương pháp tiếp cận, phương pháp liên ngành Văn hóa học, và phương pháp Mỹ thuât học cho việc nghiên cứu đề tài của học viên

6.2 Về thực tiễn

Người viết sẽ tư vấn cho việc xây dựng mô hình kiến trúc của các ngôi chùa thờ Tứ Pháp tại Bắc Ninh, truyền đạt những thông tin để bảo tồn kiến trúc, giữ gìn bản sắc văn hóa thông qua những lễ hội của những ngôi chùa cổ tại vùng đất Luy Lâu xưa, và xa

hơn nữa, sẽ truyền đạt những thông tin các giá trị này cho các thế hệ sau

Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở khoa học và thực tiễn, tham mưu cho các cơ quan chức năng, trước hết là của tỉnh Bắc Ninh trong việc bảo tồn, phát huy những giá trị văn hóa lễ hội và kiến trúc Mặt khác, đề tài cũng là nguồn tài liệu tham khảo cho những người quan tâm tìm hiểu về những ngôi chùa cổ thờ Tứ Pháp tại huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh

7 Bố cục của Luận văn

Ngoài phần Mở đầu, và Kết luận, Phụ lục, Nội dung chính của luận văn phân

bố trong ba chương:

Chương 1 Cơ sở lý luận và tổng quan về những ngôi chùa cổ thờ Tứ Pháp

Trong chương này, Học viên trình bày một số vấn đề mang tính lý thuyết Đó là các khái niệm liên quan đến đề tài: Kiến trúc, lễ hội, văn hóa, giá trị văn hóa, Tứ Pháp, tổng quan về huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh và lịch sử ra đời, hình thành và phát

Trang 8

triển, đối tượng thờ cúng tại những ngôi chùa thờ Tứ Pháp tại trung tâm Phật giáo Luy Lâu xưa, nay là huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh

Chương 2 Kiến trúc của những ngôi chùa cổ thờ Tứ Pháp tại trung tâm Phật

giáo Luy Lâu

Nghiên cứu làm rõ văn hóa dân gian dân tộc với sự ảnh hưởng của Phật giáo qua nghệ thuật kiến trúc, trang trí của Tứ pháp Chương này đi sâu vào tính bản địa, và những sản phẩm của văn hóa trong nghệ thuật kiến trúc, phân bố cách thờ phượng, không gian thờ cúng, nghệ thuật trang trí để từ đó nêu lên giá trị văn hóa qua nghệ thuật kiến trúc ở những ngôi chùa cổ thờ Tứ Pháp, nêu ra một số giải pháp, kiến nghị

để bảo tồn và phát huy giá trị của những ngôi chùa cổ tại vùng đất huyện Thuận Thành – Bắc Ninh

Chương 3 Lễ hội ở những ngôi chùa cổ thờ Tứ Pháp tại trung tâm Phật giáo

Luy Lâu

Trong chương này, Học viên sẽ nêu lên những nghi lễ và hội thi trong những ngày diễn ra lễ hội ở những ngôi chùa cổ thờ Tứ Pháp tại huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh, để từ đó khái quát được giá trị văn hóa của các lễ hội bởi giá trị cố kết cộng đồng, giá trị tâm linh, giá trị giáo dục

Trang 9

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN

VỀ NHỮNG NGÔI CHÙA CỔ THỜ TỨ PHÁP

1.1 Cơ sở ý luận

1.1.1 Khái niệm Văn hóa

Khái niệm Văn hoá được hình thành từ khi loài người xuất hiện, văn hóa là sản

phẩm do con người sáng tạo ra Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn”3

Ông Federico Mayor - Nguyên Tổng Giám đốc UNESCO, cho biết: “Đối với một

số người, văn hóa chỉ bao gồm những kiệt tác tuyệt vời trong các lĩnh vực tư duy và sáng tạo; đối với những người khác, văn hóa bao gồm tất cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộc khác, từ những sản phẩm tinh vi hiện đại nhất cho đến tín ngưỡng, phong tục tập quán, lối sống và lao động”4

Tuy vậy, việc xác định và sử dụng khái niệm văn hoá không đơn giản và luôn thay đổi theo thời gian Trong tác phẩm Cơ sở văn hóa Việt Nam của tác giả Trần Ngọc Thêm cho rằng:

Từ "văn hóa" có rất nhiều nghĩa Trong tiếng Việt, văn hóa được dùng theo nghĩa thông dụng để chỉ học thức (trình độ văn hóa), lối sống (nếp sống văn hóa); theo nghĩa chuyên biệt để chỉ trình độ phát triển của một giai đoạn (văn hóa Đông Sơn) Trong khi theo nghĩa rộng thì văn hóa bao gồm tất cả, từ những sản phẩm tinh vi hiện đại cho đến tín ngưỡng, phong tục, lối sống, lao động Chính với cách

Trang 10

hiểu rộng này, văn hoá mới làđối tượng đích thực của văn hóa học Tuy nhiên, ngay cả với cách hiểu rộng này trên thế giới cũng có hàng trăm định nghĩa khác nhau Để định nghĩa một khái niệm, trước hết cần xác định được những đặc trưng

cơ bản của nó Đó là những nét riêng biệt và tiêu biểu, cần và đủ để phân biệt khái niệm (sự vật) ấy với khái niệm (sự vật) khác Phân tích các cách tiếp cận văn hóa phổ biến hiện nay (coi văn hóa như tập hợp, như hệ thống, như giá trị, như hoạt động, như kí hiệu, như thuộc tính nhân cách, như thuộc tính xã hội ), có thể xác định được 4 đặc trưng cơ bản mà tổng hợp lại, ta có thể nêu ra một định nghĩa văn hoá như sau:

Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạovà tích luỹ qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội 5

1.1.1.1 Khái niệm giá trị

Trong Từ điển Tiếng Việt, Nxb Thanh Niên, Hà Nội của tác giả Trương Văn Hùng

cho rằng: “Giá trị là cái gì làm cho một vật nào đó trở nên ích lợi, cần dùng và có trao đổi cho một vật khác: Giá trị cần dùng Giá trị trao đổi” 6

và phát triển của mỗi xã hội” 7

Giá trị cũng như tập quán, chuẩn mực, tri thức đều là sản phẩm của quá trình tư

duy, sản xuất tinh thần của con người, nó là yếu tố cốt lõi nhất của văn hoá Giá trị, giá

5

Trần Ngọc Thêm (2000), Cơ sở văn hóa Việt Nam, Nxb Giáo Dục, Tr 10

6 Trương Văn Hùng (2007), Từ điển Tiếng Việt, NXB Thanh Niên, Hà Nội, Tr 485

7 Ngô Đức Thịnh (2009), “Một số vấn đề lý luận nghiên cứu hệ giá trị văn hóa truyền thống trong đổi mới và hội

nhập”, Kỷ yếu Hội thảo khoa học Bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống Việt Nam trong quá trình đổi mới và hội nhập

Trang 11

trị văn hoá là một hình thái của đời sống tinh thần, nó phản ánh và kết tinh đời sống văn hoá vật chất và văn hoá tinh thần của con người.8

1.1.1.2 Giá trị văn hóa

Là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích luỹ qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội trở nên lợi ích, có giá trị giữa con người với con người, giữa con người với môi trường, giữa con người với xã hội

Trong bài viết của tác giả Ngô Đức Thịnh ở Hội thảo khoa học Bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống Việt Nam trong quá trình đổi mới và hội nhập cho

rằng: “Giá trị văn hoá (Cultural Value) do con người trong mỗi xã hội sáng tạo ra trong quá trình lịch sử, nhưng một khi hệ giá trị văn hoá đã hình thành thì nó lại có vai trò định hướng cho các mục tiêu, phương thức và hành động của con người trong các

xã hội ấy Nó chính là một thứ vốn xã hội (Social Capital) Như thế, khi nói bản chất của giá trị hay nói tới vai trò định hướng, chi phối, điều tiết của hệ giá trị thì về thực chất chúng ta đang nói tới mối quan hệ đa chiều của con người Cũng như văn hoá, giá trị được sản sinh từ các mối quan hệ con người với tự nhiên, với xã hội” 9

1.1.2 Khái niệm lễ hội

Lễ hội là một loại hình sinh hoạt văn hóa đặc biệt có tính tập thể, phản ánh tín ngưỡng và sinh hoạt của người dân trong lao động sản xuất, hay trong việc hình dung lại các sự kiện lịch sử Lễ hội ở mỗi quốc gia lại có những nét độc đáo riêng, mang đậm dấu ấn riêng của quốc gia đó Vì thế lễ hội giữ một vai trò quan trọng trong đời sống tinh thần và đời sống xã hội, nó chứa đựng và phản ánh nhiều mặt của đời sống như: Kinh tế - xã hội, văn hóa, tâm lý và tôn giáo tín ngưỡng tộc người

8

nghien-cuu-he-gia-tri-van-hoa-truyen-thong.html (truy cập 20/4/2019)

http://www.vanhoahoc.vn/nghien-cuu/ly-luan-van-hoa-hoc/llvhh-nhung-van-de-chung/1593-ngo-duc-thinh-9 Ngô Đức Thịnh, 2009, Một số vấn đề lý luận nghiên cứu hệ giá trị văn hóa truyền thống trong đổi mới và hội

nhập, Kỷ yếu Hội thảo khoa học Bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống Việt Nam trong quá trình

đổi mới và hội nhập

Trang 12

- Lễ

Theo Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học Việt Nam, cuốn sách được xuất bản năm 2010 tại nhà Nxb Từ điển Bách Khoa cho rằng: “Lễ là phép tắc phải theo

khi thờ cúng hay giao thiệp trong xã hội, trong lễ có lễ bái và lễ giáo” 10

Lễ là hệ thống các hành vi, động tác nhằm biểu hiện lòng tôn kính của con người đối với thần linh, phản ánh những ước mơ chính đáng của con người trước cuộc sống mà bản thân họ chưa có khả năng thực hiện

Ngoài ra theo bài viết “Giá trị lịch sử, truyền thống, văn hóa của lễ hội” của tác

giả Nguyễn Hùng Vĩ - Nhà nghiên cứu văn hóa dân gian được đăng trên webside Học

viện Báo chí và Tuyên truyền ngày 14/5/2016 cho rằng: “Lễ là cử chỉ của con người

để tỏ thái độ tôn trọng với nhau, cũng như với các biểu trưng của tín ngưỡng Các cử chỉ đó tạo thành phong tục trong đời sống hoặc các nghi thức trong tín ngưỡng, tôn giáo, các nghi chế trong thiết chế xã hội” 11

- Hội

Bài viết: “Giá trị lịch sử, truyền thống, văn hóa của lễ hội” được đăng trên

webside của Học viện Báo chí và tuyên truyền ngày 8/5/2016, Nhà nghiên cứu văn hóa dân gian Nguyễn Hùng Vĩ cho rằng: “Hội là sự tập hợp đông người để thực hành diễn xướng, trình diễn các phong tục, tín ngưỡng, các hình thức văn hóa, tôn giáo, nghệ thuật, các sinh hoạt tinh thần xã hội”12

Từ điển tiếng Việt, do Viện Ngôn ngữ học tổ chức biên soạn, Hoàng Phê chủ

biên, được Nhà xuất bản Đà Nẵng và Trung tâm Từ điển học xuất bản năm 2003, đã đưa ra định nghĩa như sau:

- Hội là cuộc vui tổ chức chung cho đông đảo người dự, theo phong tục hoặc nhân dịp đặc biệt

Ví dụ: Hội mùa Ngày hội xuống đồng Lòng vui như mở hội;

10 Ngôn ngữ học Việt Nam (2010), Từ điển Tiếng Việt, Nxb Từ điển Bách Khoa, Tr 275

11 http://ajc.edu.vn/Nghien-cuu-khoa-hoc/Gia-tri-lich-su-truyen-thong-van-hoa-cua-le-hoi/19727.ajc

12 http://ajc.edu.vn/Nghien-cuu-khoa-hoc/Gia-tri-lich-su-truyen-thong-van-hoa-cua-le-hoi/19727.ajc (Truy cập 12/4/2016)

Trang 13

Tổ chức quần chúng rộng rãi của những người cùng chung một nghề nghiệp hoặc có chung một hoạt động

Ví dụ: Hội nghề nghiệp Hội từ thiện 13

- “Lễ hội”: Cuộc vui tổ chức chung, có các hoạt động lễ nghi mang tính văn hóa truyền thống của dân tộc

Ví dụ: Hội Đền Hùng là lễ hội truyền thống Tổ chức lễ hội đón xuân 14

- Lễ hội

Khái niệm lễ hội dùng để chỉ những sinh hoạt gồm cả lễ và cả hội, điều thường thấy trong sinh hoạt văn hóa tinh thần của nhân dân Lễ hội truyền thống là những lễ hội đã trường tồn trong lịch sử cộng đồng xã hội, được bảo lưu, phát triển, lặp lại và

quảng bá không ngừng

Vậy “Lễ hội” là gì?

Mỗi vùng miền, một quốc gia lại có hình thức tổ chức Lễ hội khác nhau Chính vì thế

mà đã có rất nhiều định nghĩa khác nhau về hình thái sinh hoạt văn hóa này Sau đây là một số khái niệm điển hình về “Lễ hội” như:

Khi nghiên cứu về đặc tính và ý nghĩa “Lễ hội” ở nước Nga, M.Bachie cho rằng: “Lễ hội là cuộc sống được tái hiện dưới hình thức tế lễ và trò biểu diễn, đó là cuộc sống chiến đấu của cộng đồng cư dân Tuy nhiên bản thân cuộc sống không thể thành lễ hội được nếu chính nó không được thăng hoa, liên kết và quy tụ lại thành thế giới tâm linh, tư tưởng của các biểu tượng, vượt lên trên thế giới của những phương tiện và điều kiện tất yếu Đó là thế giới, là cuộc sống thứ hai thoát ly tạm thời thực tại hữu hiện, đạt tới hiện thực lý tưởng mà ở đó, mọi thứ đều trở nên đẹp đẽ, lung linh, siêu việt và cao cả”15

Trang 14

%E1%BA%A3nh-h%C6%B0%E1%BB%9Fng-d%E1%BA%BFn-s%E1%BB%B1-phat-tri%E1%BB%83n-du-Nếu theo như định nghĩa này thì một sự kiện hay một cuộc chiến đấu của người dân sẽ không được tưởng nhớ khi không có sự tác động và ảnh hưởng của con người

Ở Việt Nam, khái niệm này đều là từ gốc Hán được dùng để gọi một nhóm loại hình phong tục, chẳng hạn như: Lễ Thành Hoàng, Lễ gia tiên , cũng như vậy trong hội cũng có nhiều hội khác nhau như: Hội Gióng, Hội Lim, Hội chọi trâu Thêm chữ “Lễ” cho “Hội”, thời nay mong muốn gắn hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng này có ít nhất hai yếu tố cũng là hai đặc trưng đi liền với nhau Trước hết là lễ bái, tế lễ thần linh, cầu phúc và sau là thăm thú vui chơi ở nơi đông đúc, vui vẻ (hội)

Hội là sinh hoạt văn hoá, tôn giáo, nghệ thuật của cộng đồng, xuất phát từ nhu cầu cuộc sống, từ sự tồn tại và phát triển của cộng đồng, sự bình yên cho từng cá nhân, hạnh phúc cho từng gia đình, sự vững mạnh cho từng dòng họ, sự sinh sôi nảy nở của gia súc, sự bội thu của mùa màng, mà từ bao đời nay quy tụ niềm mơ ước chung vào bốn chữ "Nhân khang, vật thịnh"

Hội và lễ là một sinh hoạt văn hóa lâu đời của dân tộc Việt Nam Hội và lễ có sức hấp dẫn, lôi cuốn các tầng lớp trong xã hội cũng tham gia để trở thành một nhu cầu, một khát vọng của nhân dân trong nhiều thập kỷ

Trong cuốn “Lễ hội cổ truyền” – Phan Đăng Nhật cho rằng “Lễ hội là một kho lịch sử khổng lồ, ở đó tích tụ vố số những phong tục, tín ngưỡng, văn hóa, nghệ thuật

và cả các sự kiện xã hội – lịch sử quan trọng của dân tộc lễ hội còn là nơi bảo tồn, tích tụ văn hóa (theo nghĩa rộng) của nhiều thời kỳ lịch sử trong quá khứ dồn nén lại cho tương lai”16

Như vậy ta thấy “Lễ hội” là một thể thống nhất không thể tách rời Lễ là phần đạo đức tín ngưỡng, phần tâm linh sâu xa trong mỗi con người Hội là các trò diễn mang tính nghi thức, gồm các trò chơi dân gian phản ánh cuộc sống thường nhật của người dân và một phần đời sống cá nhân nhằm kỷ niệm một sự kiện quan trọng với cả cộng đồng

16

Phan Đăng Nhật "Lễ hội cổ truyền", NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1992, Tr 53

Trang 15

1.1.3 Kiến trúc

Ông Vitruvius - Một kiến trúc sư Roma trước công nguyên, tác giả của 5 bộ sách về kiến trúc nổi tiếng đã nêu ba tiêu chí trong định nghĩa về kiến trúc: “Kiến trúc phải hữu dụng, gây thích thú và phải là một tác phẩm nghệ thuật Cụ thể hơn nữa, khi lật giở những trang từ điển Đông – Tây”17

Người Mỹ thì định nghĩa “Kiến trúc là nghệ thuật và khọa học thiết kế, xây dựng các công trình hay các nhóm lớn công trình tuân thủ các tiêu chí thẩm mỹ và công năng”18

Người Pháp nói “Kiến trúc là nghệ thuật và khọa học xây dựng và trang trí các ngôi nhà”19

Người Australia thì xác định kĩ hơn: “Kiến trúc là nghệ thuật và khọa học xây dựng, bao gồm quy họạch, thiết kế, cấu tạo và xử lý trang trí; là chuyên môn nghề nghiệp của KTS”20

Còn ở Việt Nam, xin trích ngang từ Từ điển bách khọa Việt Nam (tập 2): “Kiến trúc là nghệ thuật thiết kế và xây dựng các công trình, tổ chức các môi trường không gian, phục vụ cho cuộc sống và họạt động của con người”21

Trong Từ điển Tiếng Việt, của Nxb Thanh Niên – Hà Nội, năm 2007, tác giả

Trương Văn Hùng cho rằng: “Kiến trúc là xây đắp, xây cất vật liệu kiến trúc, kiến trúc bằng vật liệu nhẹ” 22

1.1.4 Tứ pháp

“Tứ” là bốn “Pháp”, trong Phật giáo, tiếng Phạn là Dharma, tiếng Pali là Dhamma, tiếng Việt có nghĩa là chân lý, thiện pháp, là những sự vật hay hiện tượng được dùng

để tín ngưỡng trong tôn giáo Pháp ở đây có nghĩa là: Mây, mưa, sấm, chớp được hóa

thành các vị Phật: Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện

Trang 16

Tứ pháp là danh từ để chỉ các nữ thần bắt nguồn từ tín ngưỡng dân gian – thờ các

vị thần thiên nhiên gồm: Mây-Mưa-Sấm-Chớp, đại diện cho các hiện tượng tự nhiên có vai trò quan trọng trong xã hội nông nghiệp Sau này khi Phật giáo vào Việt Nam thì nhóm các nữ thần này được biến Tứ pháp thành bốn vị Phật: Phật Pháp Vân, Phật Pháp

Vũ, Phật Pháp Lôi, Phật Pháp Điện

Pháp Vân được thờ ở chùa Dâu (tên chữ Hán là Diên Ứng, Cổ Châu, Thiền Định),

chùa tọa lạc ở xã Thanh Khương, huyện Thuận Thành, nên gọi là bà Dâu Pháp Vân tượng trưng cho thần Mây

Pháp Vũ được thờ ở chùa Đậu, và ngày nay mọi người thường hay gọi là Thành

Đạo Tự, tọa lạc ở xã Thanh Khương, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh Pháp Vũ tượng trưng cho thần mưa Mỗi khi trời hạn hán, dân làng thường hay lập bàn hương án đối trước trượng Phật Pháp Vũ để cầu mưa

Pháp Lôi được thờ ở chùa Tướng hay còn gọi là chùa Phi Tương, Phi Tướng Đại

Thiền Tự, chùa tọa lạc ở xã Thanh Khương, huyện Thuận Thành, Pháp lôi tượng trưng cho thần sấm, nên gọi là bà Tướng

Pháp Điện được thờ ở chùa Dàn, ngày nay được gọi là chùa Xuân Quang, chùa tọa

lạc ở thôn Phương Quan, xã Trí Quả Pháp Điện tượng trưng cho thần Sấm nên gọi là

bà Dàn

Trang 17

Bảng 1.1 Những ngôi chùa cổ thờ Tứ Pháp ở trung tâm Phật giáo Luy Lâu, Bắc Ninh

Tên cũ Tên ngày nay

1 Xã Thanh Khương, huyện

Tướng Phi Tương Pháp Lôi

4 Thôn Phương Quan, xã

Trí Quả, huyện Thuận

Thành, tỉnh Bắc Ninh

Dàn Xuân Quang Pháp Điện

Nguồn: Nguyễn Hữu (2014), Chùa Dâu lịch sử và truyền thuyết, Nxb Thanh Niên

Ngoài một số ngôi chùa cổ thờ Tứ Pháp ở trung tâm Phật giáo Luy Lâu, ở vùng

Thuận Thành23 còn có một số ngôi chùa khác cũng thuộc về nhóm di tích các chùa Tứ Pháp Những ngôi chùa này có một số điểm chung sau đây: Đối tượng thờ chính hoặc

là Tứ Pháp, hoặc là chi nhánh của Tứ Pháp, "Học trò" của Tứ Pháp; cách bài trí Phật điện tương tự Phật điện các chùa Tứ Pháp, ngày hội chùa trùng với những ngày lễ hội ở những ngôi chùa cổ thờ Tứ Pháp tại trung tâm Phật giáo Luy Lâu - Bắc Ninh (mồng Tám tháng Tư Âm lịch) Tiêu biểu là:

- Chùa Huệ Trạch ở làng Xuân Quan (Dàn Chợ), xã Trí Quả Đây là nơi thờ

Phật Pháp Thông (Đại Thánh Pháp Thông Vương Phật), một "Học trò” của Tứ Pháp)

- Chùa Đại Trạch ở làng Đại Trạch, xã Đình Tổ, cũng là nơi thờ Phật Pháp

Trang 18

- Chùa Hà ở làng Công Hà, xã Hà Mãn, là nơi thờ Bà Hà, một "Chi cành" của bà

Dâu (Pháp Vân)

- Chùa Ngọc Trì (ở làng Ngọc Trì), chùa Ngọc Nội (ở làng Ngọc Nội), chùa Thuận An (ở làng Thuận An), chùa Đức Nhân (ở làng Đức Nhân), chùa Nghi An (thuộc

làng Nghi An) - đều thuộc xã Trạm Lộ - cũng là những nơi thờ Tứ Pháp

Sự xuất hiện các ngôi chùa Tứ Pháp kể trên đã minh chứng cho sự lan toả và ảnh hưởng sâu rộng của trung tâm Phật giáo Luy Lâu tới đời sống tôn giáo, tín ngưỡng của nhân dân các vùng gần xa Các di tích này chính là những bổ sung quan trọng cho nhóm di tích chùa Tứ Pháp tại trung tâm vùng Dâu

Bảng 1.2 Hệ thống các chùa thờ Tứ Pháp ở các địa phương

ngoài trung tâm Luy Lâu- Bắc Ninh

1 Xã Lạc Hồng, huyện Văn Lâm,

3 Huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam Quế Lâm Pháp Vân

Do Lễ Thôn Bốn

Huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam Bà Đanh Pháp Vũ

Huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam Trinh Sơn

Huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam Đặng Xá Pháp Lôi

Huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam Nứa

Trang 19

TP Phủ Lý, tỉnh Hà Nam Bà Bầu Pháp Điện

4 Thi Sơn, Kim Bảng, Hà Nam Quyển Sơn Thờ cả Tứ Pháp Thanh Sơn, Kim Bảng, Hà Nam Thanh Nộn, Phú

Viên, đình làng Lạt Sơn

Văn Xá, Kim Bảng, Hà Nam Chanh Thôn

Keo (Sùng Nghiêm) Pháp Vân

Xã Ninh Hiệp, huyện Gia

Lâm, Hà Nội

Chùa Nành

Nguồn: Tổng hợp từ các nguồn sách liên quan đến những ngôi chùa thờ Tứ Pháp

1.2 Tổng quan về địa bàn nghiên cứu và những ngôi chùa cổ thờ Tứ Pháp tại Trung tâm Phật giáo Luy Lâu – Bắc Ninh

1.2.1 Khái quát về huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh

Trong vùng văn hóa cổ, phong phú và độc đáo ở tỉnh Bắc Ninh Thuận Thành là một địa bàn có vị trí hết sức đặc biệt, nơi đây từng giữ vai trò thủ phủ đất nước, kinh tế, văn hóa phát triển rực rỡ; là một trong những quê hương của các huyền tích về tổ tiên

mở nước; là nơi sản sinh ra các tài danh trên các lĩnh vực học hành, cầm, kỳ, thi, họa;

là quê hương của những di tích lịch sử, văn hóa nổi tiếng

Đất Thuận Thành hôm nay là địa bàn chính của một bộ lạc thời các vua Hùng, là địa bàn chính huyện Luy Lâu thời thuộc Hán và các đế chế Trung Hoa trong suốt 10 thế kỷ đầu Công nguyên Thời Lý, Trần, là trung tâm của phủ Siêu Loại Thời Lê là trung tâm của phủ Thuận An Sang thời Nguyễn, vào năm 1862, đổi tên là phủ Thuận Thành, vẫn bao gồm 5 huyện: Siêu Loại, Gia Bình, Lang Tài, Văn Giang, Gia Lâm

Trang 20

Huyện Thuận Thành ngày nay cơ bản là phần đất của huyện Siêu Loại thuộc phủ Thuận An xưa kia

Tên gọi qua nhiều lần thay đổi, song lịch sử miền đất này là một dòng chảy liên tục Trước hết, Thuận Thành là miền đất xuất hiện khá sớm, một trung tâm tụ cư của dân Việt cổ trong quá trình từ miền cao tiến xuống, từ miền biển ngược lên, khai phá đồng bằng Trước đây, dù lăng tổ Kinh Dương Vương từ nghìn xưa đã được đặt tại thôn Á Lữ (xã Đại Đồng Thành), dù dân gian còn truyền lưu rộng rãi câu chuyện về những ông tổ Việt cổ: Đế Minh - Kinh Dương Vương - Lạc Long Quân, Âu Cơ Nhưng chứng tích vật chất Việt Cổ ở đây vẫn chưa được phát hiện, nên những hiểu biết về đất Thuận trước Bắc thuộc, không phải không có những chỗ chưa rõ ràng Cuối năm 1990, nhờ người dân giúp đỡ, cán bộ ngành văn hóa Bắc Ninh đã phát hiện một khu mộ Việt

cổ (hiện biết 2 mộ) tại thôn Đại Trạch, xã Đình Tổ, với những bộ hài cốt khá hoàn chỉnh và hàng loạt đồ tùy táng đặc sắc: trống đồng minh khí, tấm che ngực, rìu giáo, dao găm, mũi lao, bằng đồng Kết quả giám định ban đầu cho biết chủ nhân của những hiện vật này là những người sáng tạo ra văn minh Đông Sơn rực rỡ, cách ngày nay chừng 2300 - 2500 năm Như vậy, có thể khẳng định rằng, ít nhất là từ thời Hùng Vương dựng nước, đất Thuận Thành đã hình thành và là một địa bàn tụ cư khá lớn dưới thời các vua Hùng

Về mặt địa lý - cảnh quan, Thuận Thành là một vùng có ý nghĩa khá đặc biệt Theo trục Bắc - Nam, đây là vùng chuyển tiếp giữa miền cao Vĩnh Phú (mà Tiên Sơn, với những núi sót là điểm cuối) với miền đồng bằng phía Nam Theo trục Đông - Tây, Thuận Thành là vùng chuyển tiếp giữa miền đồng bằng lưu vực sông Hồng, với miền đồng bằng lưu vực sông Thái Bình - hai miền đồng bằng quan trọng nhất hợp thành châu thổ Bắc Bộ Sông Dâu, sau này là sông Đuống, cùng với các tuyến đường bộ dọc theo hệ thống các tuyến sông ấy, chính là mạch máu giao thông giữ vai trò giao lưu - chuyển tiếp cực kỳ quan trọng và sinh động của miền đất này

Nhờ điều kiện thuận lợi, nên ngay sau khi được khai mở, Thuận Thành đã trở thành địa bàn có sức hút mạnh mẽ cư dân Việt cổ từ các miền về đây tụ cư, xây dựng, đưa vùng đất này từ rất sớm, trở thành một trung tâm kinh tế văn hóa phát triển Điều

Trang 21

đó cắt nghĩa vì sao, ngay sau khi xâm lược nước ta, nhà Hán đã dựng tại đây trung tâm cai trị - thủ phủ của chính quyền đô hộ dù có qua nhiều lần dịch chuyển cũng vẫn cứ quanh quẩn ở miền đất này Bước sang thời kỳ đất nước độc lập tự chủ, vai trò trung tâm của đất Thuận Thành vẫn không hề suy giảm Chính vì vậy, trong giai đoạn 12 sứ quân, đất Thuận Thành và miền phụ cận đã được hai thủ lĩnh Lý Khuê và Lữ Đường chọn làm nơi xây dựng địa bàn của mình Dưới các thời Lý - Trần - Lê, kinh đô đất nước đã định vị tại Thăng Long, song đất Thuận vẫn được các vị vua cùng các đại thần

và cả triều đình hết sức chú ý bởi vai trò phên dậu - cửa ngõ, một trung tâm kinh tế - văn hóa phồn hưng của đất này

Cũng chính do vai trò quan trọng của miền đất Thuận Thành, mà trong mắt kẻ xâm lược, nơi đây trở thành một mục tiêu chiếm đóng hàng đầu Vì vậy, từ rất sớm, người dân Thuận Thành luôn phải đối mặt với kẻ xâm lược và đã góp nhiều công lớn với dân tộc trong lịch sử đấu tranh giữ nước Có thể kể tới cuộc nổi dậy quật cường của Hai Bà Trưng, xóa sạch trung tâm đô hộ nhà Hán tại Luy Lâu; cuộc kháng chiến vĩ đại chống Nguyên Mông của quân dân thời Trần - mà sông Dâu, đất Thuận là cầu nối giữa Thăng Long - kinh đô với Lục Đầu giang - nơi tập kết của giặc, nơi đón địch của ta Trong các cuộc nổi dậy và kháng chiến lớn ấy, nhân dân Thuận Thành vừa là lực lượng tại chỗ, vừa đóng góp cho nghĩa quân nhiều tướng tài, binh giỏi, mà ngày nay, hàng loạt đình đền trong địa phương còn hương khói thờ phụng tưởng nhớ họ

Thuận Thành cũng là miền đất có sự phát triển kinh tế khá sớm với tốc độ hưng khởi nhanh, mạnh Buổi đầu khai mở đất này, cư dân ở đây chủ yếu hoạt động trong các lĩnh vực đánh bắt cá, trồng lúa, trồng dâu nuôi tằm (với nghề trồng dâu nuôi tằm

mà Ỷ Lan nguyên phi, thời Lý, người con gái của đất này, như một biểu tượng của sự tiếp tục truyền thống) Kết quả đợt khai quật khảo cổ học, xuân 1986, đã phát hiện tại trung tâm Dâu, trên bãi Đồng Dâu, di chỉ làng chài khá lớn, buổi đầu công nguyên với hàng trăm chì lưới, bằng đất nung, đủ các cỡ, chứng tỏ một nghề chài lưới thực sự thịnh đạt tại đây

Đồng thời với sự hình thành một trung tâm chính trị, kinh tế, là trung tâm văn hóa Thuận Thành

Trang 22

Trước hết, đất Thuận là một trung tâm văn hóa dân gian khá tiêu biểu và phong phú Đây là nơi sản sinh và lưu giữ lâu đời tín ngưỡng cư dân nông nghiệp Việt cổ, biểu hiện qua việc thờ các nữ thần mây, mưa, sấm, chớp (sau này được hệ thống hóa thành hệ thống Tứ pháp); biểu hiện qua tín ngưỡng phồn thực, mà việc thờ Thạch Quang tại đền Dâu xưa, chùa Dâu nay, là nét điển hình Đây cung là nơi sản sinh chuyện tổ tiên mở nước (Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân - Âu Cơ), sản sinh những sinh hoạt văn nghệ dân gian đặc sắc (múa rối nước Đồng Ngư, Bùi Xá (xã Ngũ Xá), hát ả đào, hát trống quân ) Trung tâm văn hóa - tín ngưỡng dân gian Việt cổ, vùng Dâu, trong những thế kỷ đầu công nguyên, đã hòa nhập với Phật giáo từ Ấn Độ truyền sang, đưa tới sự xuất hiện một trung tâm Phật giáo đầu tiên ở nước ta, mà hình ảnh người con gái Việt (Man Nương) gắn chặt với sự gia đời hệ thống chùa thờ Tứ pháp và trung tâm Phật giáo Dâu Toàn bộ đặc điểm chùa chiền và hệ thống tượng Phật, cách bài trí tượng Phật, cùng những sinh hoạt Phật giáo tại đây, đều được bắt nguồn từ thực tế ấy Điều đáng quan tâm ở đây là, ngay từ những thế kỷ đầu công nguyên, trung tâm Phật giáo Dâu đã hình thành và ngày càng phát triển, có tác động sâu rộng tới đời sống nhân dân trong vùng Trải qua các triều đại Lý - Trần - Lê sau này, Thuận Thành vẫn là một quê hương chùa tháp và Phật giáo nổi tiếng24

Để phục vụ âm mưu đồng hóa, ngay từ thời thuộc Hán, các thái thú Tích Quang, Nhâm Diêm, đặc biệt là thái thú Sĩ Nhiếp sau này, đã đẩy mạnh việc mở trường dạy chữ Nho Vì lẽ ấy, Dâu – Luy Lâu không chỉ là nơi đan xen khá phức tạp văn hóa Việt – Hán, mà còn sớm hình thành một trung tâm Nho học lớn Những chùa Bình, chùa Định, đền Lũng, ở vùng Dâu đến ngày nay vẫn được giải thích là nơi bình văn, định văn, là trường học

Mặt khác, cũng từ trong trường kỳ tiếp biến và phát triển văn hóa đặc biệt, Thuận Thành là nơi sản sinh và ngày nay đang lưu giữ những di sản văn hóa dân tộc vô cùng quý báu Trở về Thuận Thành là trở về một vùng của những lễ hội văn hóa cổ truyền rực rỡ và sinh động Tại đây, ta sẽ được dạo thăm một hệ thống di tích lịch sử, văn hóa,

24

Dưới thời Lý - Trần, đặc biệt là thời Lý, nhiều lần các vị vua đã tổ chức viếng thăm và làm

lễ (cầu đảo, cầu tự ) tại các chùa vùng Dâu.

Trang 23

khép kín về hành trình nhưng mở rộng về những hiểu biết, thẩm nhận kho tàng văn hóa dân tộc Đặt biệt là khu di tích những ngôi chùa cổ thờ Tứ Pháp

Luy lâu là tên gọi một toà thành cổ - thành Luy Lâu, nơi đặt lỵ sở của chính quyền đô hộ nhà Hán trên đất nước ta vào buổi đầu Công nguyên, nay thuộc xã Thanh Khương, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh Luy Lâu cũng là tên một huyện - huyện Luy Lâu thời thuộc Hán và các đế chế Trung Hoa trong nhiều thế kỷ dưới thời Bắc thuộc Luy Lâu cũng còn là một vùng văn hoá cổ, trung tâm của vùng văn hoá này cơ bản là vùng đất thuộc huyện Thuận Thành ngày nay

1.2.2 Tổng quan về những ngôi chùa cổ thờ tứ pháp

Hình 1.1 Sơ đồ các chùa thờ Tứ Pháp tại Trung tâm Phật giáo Luy Lâu (nay là huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh)

Nguồn: Kết quả khảo sát thực địa tại chùa Dâu ngày 22/2/2016

1.2.2.1 Chùa Dâu

Chùa Dâu còn gọi là chùa Pháp Vân, còn gọi là chùa Diên Ứng, hay Cổ Châu

tự Chùa được khởi công xây dựng năm 187 và hoàn thành năm 226 là ngôi chùa lâu đời được tọa lạc trên khu trung tâm Phật giáo Luy Lâu Nơi đây là thủ phủ của quận

Trang 24

Giao Chỉ (năm 203 đổi thành Giao Châu25 ) có từ thời của Sĩ Nhiếp, được vua nhà Hán

phong làm Thái thú tại quận này, đóng ở Luy Lâu – Dâu từ năm 187 đến 226

Chùa Dâu là nơi giao lưu của hai luồng văn hóa Phật giáo, từ Ấn Độ sang và từ phương Bắc xuống, chủ yếu bằng đường thủy theo dòng sông Dâu Vào buổi đầu Công Nguyên, các tăng sỹ Ấn Độ, tiêu biểu là Khâu-đà-la đã tới đây truyền bá đạo Phật đầu tiên Cuối thế kỷ VI, nhà sư Tỳ-ni-đa-lưu-chi từ Trung Quốc đến chùa này và lập nên một phái thiền ở Việt Nam Chùa Dâu trở thành trung tâm của phái Tỳ-ni-đa-lưu-chi, nơi trụ trì của nhiều cao tăng Việt Nam, Ấn Độ và Trung Quốc đến để nghiên cứu, biên soạn, phiên dịch kinh Phật, đào tạo tăng ni

Chùa được khởi công xây dựng năm 187 và hoàn thành năm 226, những tài liệu, cổ vật còn lại ở chùa Dâu, đặc biệt là bản khắc “Cổ Châu Pháp vân Phật bản hạnh”, cùng kết quả nghiên cứu về lịch sử Phật Việt Nam của các nhà sử học và Phật học đã khẳng định “Chùa Dâu là tổ đình của Phật giáo Việt Nam”, được nhà nước xếp hạng di tích lịch sử ngày 28/4/1962

Năm 1313, chùa được xây dựng lại và trùng tu nhiều lần qua các thế kỷ tiếp theo Đời nhà Trần, vua Trần Nhân Tông đã sai Trạng Nguyên Mạc Đĩnh Chi về kiến thiết lại chùa Dâu thành “chùa trăm gian, tháp chín tầng, cầu chín nhịp” Trải qua bao thăng trầm và chiến tranh tàn phá nhưng chùa Dâu với tháp gạch cao sừng sững, với tòa ngang, dãy dọc nguy nga, cổ kính vẫn còn đó

Truyền thuyết dân gian ghi nhận người xây dựng lại chùa tháp ở Luy Lâu là ông Mạc Đỉnh Chi, còn gọi là ông Điểm Chi (1272 – 1346) Sách Đại Nam nhất thống chí,

phần tỉnh Bắc Ninh ghi: “Đời Trần, Mạc Đỉnh Chi dựng chùa trăm gian, tháp chín tầng và cầu chín nhịp, nền cũ nay vẫn còn”26

Chùa Dâu vào thời Trần được trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi cho trùng tu mở rộng với quy mô rất lớn theo kiểu “chùa trăm gian, tháp chín tầng, cầu chín nhịp” Đến thời

Lê Trung Hưng và thời Nguyễn, chùa Dâu tiếp tục được trùng tu và mở rộng

Trang 25

Thời kỳ thực dân Pháp xâm lược nước ta, Chùa Dâu đã bị giặc Pháp - Nhật chiếm đóng, phá phách, chứa thóc để phục vụ chiến tranh

Đến năm 2011, được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, Chùa Dâu đã được trùng tu tôn tạo với quy mô lớn

Từ năm 2001, tỉnh Bắc Ninh ra được “Quy chế quản lý và sử dụng di tích Lịch

sử - Văn hoá”, đã phân cấp quản lý về nhà nước về di tích

Chùa Dâu gắn với huyền tích Phật mẫu Man Nương và tứ Pháp (Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện), là biểu hiện sinh động sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa tín ngưỡng dân gian của người Việt với Phật giáo khi mới du nhập Tương truyền, nàng Man Nương, cô gái Kẻ Mèn (nay thuộc xã Hà mãn, Thuận Thành) dốc tâm học đạo Phật, một hôm nằm ngủ quên, sư Khâu Đà La vô tình bước qua mà bỗng nhiên mang thai Kết quả đến giờ Ngọ ngày 08 tháng 4 (Âm lịch) thì sinh một nữ nhi Nàng liền đem con đến trả cho sư Khâu-đà-la Nhà sư mang đứa bé đến gốc cây dung thụ gõ cây đọc kệ Cây dung thụ bỗng nứt toác ra ôm đúa bé vào lòng Rồi Khâu-đà-la cho Man Nương cây tích trượng và dặn khi nào có đại hạn cứ cắm xuống đất và ước nguyện thì

sẽ có nước để cứu dân Thế rồi vào năm Giáp Tý, mưa bão đánh đổ cây dung thụ trôi theo dòng sông Dâu về đến thành Luy Lâu thì quẩn không trôi được nữa Bao nhiêu chàng trai trong vùng được huy động đến kéo cây vào bờ nhưng cây không hề nhúc nhích Vừa lúc đó, Man Nương vô tình ra sông rửa tay, bỗng dưng cây dập dình như con tìm thấy mẹ Man Nương ném dải yếm ra thì cây dung thụ trôi ngay vào bờ Cũng khi ấy Sỹ Nhiếp trong thành Luy Lâu được mộng phải tạc cây dung thụ thành tượng Tứ Pháp để thờ Sỹ Nhiếp cho ngay thợ xẻ cây dung thụ tạc tượng Tứ Pháp Khi tượng đã làm xong, làm lễ đặt tên cho pho thứ nhất thì bỗng thấy trời nổi mây ngũ sắc liền đặt tên là Pháp Vân, thờ ở chùa Dâu, dân gian gọi là bà Dâu Khi đặt tên cho Pho thứ hai thì bỗng thấy trời nổi gió lớn liền đặt tên là Pháp Vũ, thờ ở Chùa Thành Đạo (tức chùa Đậu) dân gian gọi là bà Đậu Đến khi đặt tên cho pho thứ ba thì bỗng thấy trời nổi sấm

ầm ầm thì liền đăt tên là Pháp Lôi thờ ở chùa Phi Tướng (tức chùa Tướng) dân gian gọi

là bà Tướng Đến khi đặt tên cho pho thứ tư thì bỗng thấy trời nổi chớp, liền đặt tên là Pháp Điện thờ ở chùa Phương Quan (tức chùa Dàn) dân gian gọi là bà Dàn Nhưng khi

Trang 26

làm lễ rước Phật Tứ Pháp về các chùa, chỉ được ba pho, còn pho tượng Pháp Vân không hề chuyển động Hỏi ra mới biết khi tạc tượng rìu đẽo phải hòn đá trong cây dung thụ đã quẳng xuống sông Tức thì dân các làng chài quanh đấy được phái đi mò

nhưng không hề thấy “Khi Man Nương đi dò đến giữa sông Dâu nói rằng: “Con mẹ ở đâu lên đây với mẹ!” thì bỗng nhiên hòn đá dưới nước nhảy lên vào lòng và phát sáng rực rỡ Sỹ Nhiếp cho là lạ liền đem hòn đá ấy tạt thành tượng, gọi tên là Đức Thạch Quang để thờ27”, ngày nay được thờ ở chùa Dâu

Câu chuyện nàng Man Nương được giải thích là sự mầu nhiệm của “nhân thiên hợp khí” Thực chất đó là cuộc giao thoa giữa đạo phật với tín ngưỡng bản địa, tiền thân của Tứ pháp (Mây, Mưa, Sấm, Chớp) thờ ở vùng Luy Lâu rồi lan tỏa ra nhiều vùng khác Ngày mồng 8 tháng 4 không chỉ là ngày sinh Phật Thích Ca (Ấn Độ) mà là ngày sinh của Phật Tứ Pháp (Việt Nam)

1.2.2.2 Chùa Đậu

Tại thôn Đông Cốc - xã Hà Mãn - huyện Thuận Thành - Bắc Ninh xưa kia có ngôi chùa Pháp Vũ, còn gọi là chùa Thành Đạo và cũng gọi là chùa Đậu, chùa thờ Phật Pháp Vũ (Bà Đậu) là một trong Tứ pháp của hội Dâu Chùa tọa lạc ở đất xóm Cầu, thôn Đông Cốc, xã Thanh Khương, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh Năm 1948 do đất nước có chiến tranh, Pháp đem quân về đóng bốt tại Chùa, lúc đó nhân dân trong làng phải rước tượng Pháp Vũ sơ tán sang gửi thờ nhờ ở chùa Dâu

Cuối năm 1951, đồn giặc bị quân ta đánh tan, ngôi Chùa cũng bị phá hủy hoàn toàn… Sau đó khu đất được Nhà nước sử dụng xây kho chứa lương thực Năm 1968,

do yêu cầu của cơ chế sản xuất mới, Nhà nước cắt gần hai chục mẫu ruộng của thôn Đông Cốc cho xã Thanh Khương, trong đó có cả phần đất thuộc chùa Đậu trước đây

Sau khi đất nước hòa bình, các phong trào văn hóa văn nghệ được khôi phục, các đình, chùa được tái thiết lại…với nhũng giá trị về mặt tâm linh, ngôi chùa Đậu - Thành Đạo Tự đã được phục dựng vào năm 1997 ngay cạnh Khu Di tích Đình làng Đông Cốc, nhưng chùa Đậu không xây lại trên nền chùa cũ mà xây trên một khu đất mới

27

Nguyễn Hữu, 2014, Chùa Dâu lịch sử và truyền thuyết, Nxb Thanh niên, Tr 17

Trang 27

Khi có ngôi thờ tự mới, dân làng thôn Đông Cốc muốn rước tượng Pháp Vũ về chùa Đậu để thờ theo nguyện vọng của dân làng Đông Cốc, nhưng cho đến nay vẫn chưa thực hiện được

1.2.2.3 Chùa Tướng

Từ Hà Nội qua sông Hồng, đi theo Quốc lộ số 5 khoảng 15km rẽ trái, đi theo Quốc lộ 282, 10km đến ngã tư chợ Dâu, Thuận Thành, Bắc Ninh, đi theo tỉnh lộ 282 khoảng 2km đến chợ Dàn, bên cạnh đó là chùa thôn Xuân Quan có tên hiện nay là chùa Huệ Trạch, ngày xưa còn gọi là chùa Pháp Lôi, chùa Tướng

Pháp Điện Tự, ngày nay gọi là Chùa Phi Tướng Chùa ở phía nam của thành Luy Lâu cổ có tên chữ là “Phi Tướng Đại Thiền Tự”, xưa thuộc xã Thanh Tương, tổng Khương Tự, nay thuộc xã Thanh Khương, huyện Thuận Thành, là ngôi chùa thuộc hệ thống Tứ Pháp trung tâm Phật giáo cổ xưa nhất của nước ta

Theo sách Đại Nam nhất thống chí cho biết: “Các chùa Tứ Pháp được khởi dựng ở vùng Dâu - Luy Lâu vào thế kỷ II SCN Trải các thời đại, các chùa Tứ Pháp đã được trùng tu nhiều lần và để lại dấu ấn kiến trúc điêu khắc đậm nét của các thời Trần, Lê, Nguyễn” 28

Vào thế kỷ thứ 17, chùa Phi Tướng được trùng tu theo kiểu “Nội công ngoại quốc” gồm các toà: Tiền đường, Thiêu hương, Thượng điện, Hậu đường, hai bên là hành lang, phía trước là Gác chuông, Tam quan cầu Phật ngự Sự kiện trùng tu được khắc bia đá có tên “Phi Tướng tự bi ký” dựng vào năm Chính Hoà 18 (1697), nội dung như sau: “Tại xã Lạc Thổ, huyện Siêu Loại, phủ Thuận An, tiểu tăng là Nguyễn Đức Khang, tự Pháp Ninh, đạo hiệu Chân Kính, tiểu ni là Nguyễn Thị Thái hiệu là Diệu Xuân, trụ trì tại bản xã (gồm các thôn Thanh Hoài, Thanh Tương, Lũng Triền) ở ngôi chùa là “Phi Tướng đại thiền sự” Trước đây có người cha đã làm phúc rất nhiều, nhưng chưa kịp lập bia đá để lại cho đời sau, nên chưa ghi lại những sự việc từ thuở ban đầu Nay cung kính ghi lại việc như sau:

Đức Đại Thánh Pháp Lôi Phật linh ứng xuất thế, có phật tử vâng mệnh là Khánh Giác Hoà thượng Nguyễn Tôn Sinh, tự là Phúc Đức, hiệu Huệ Khánh Viên

28

Đại Nam nhất thống chí, 1971, Tập V, Bản dịch – NXB Khoa học xã hội, Tr 110

Trang 28

Quảng thiền sư, Bồ Tát lão ni là Vũ Thị Nhiên hiệu là Hải Thuận, Vũ Thị Hưng hiệu là Huệ Tính, Vũ Thị An hiệu là Từ Thịnh xuất gia đầu Phật, mang tiền của gia đình hưng công và khuyến giáo mọi người cùng nhau làm phúc chung xây Thượng điện, Thiêu hương, Tiền đường, Hậu đường, hai bên hành lang, gác chuông, tam quan và tạo các tượng Phật, đúc mới quả hồng chung (chuông), khánh báu, in các bản kinh để làm tài liệu tụng độ sau này Các việc trên hoàn thành tốt đẹp, ghi vào bia đá lưu truyền muôn đời sau

Chùa Phi Tướng bảo lưu được hệ thống tài liệu cổ vật quý giá như: Tượng Phật, bia đá, chuông đồng cho biết khá rõ những thông tin về lịch sử ngôi chùa, cũng như người được thờ là “Đại Thánh Pháp Lôi Phật” (Ngài vừa là Thánh vừa là Phật) Các sắc phong có niên đại như sau: Cảnh Hưng tứ niên (1743), Cảnh Hưng tứ thập tứ niên (1783), Minh Mệnh nhị niên (1821), Thiệu Trị tứ niên (1844), Tự Đức tam niên (1850), Đồng Khánh nhị niên (1887) Trong số trên, sắc phong có niên đại cổ nhất

“Cảnh Hưng tứ niên tam nguyệt nhị thập thất nhật” (tức 27/3/1743) có nội dung ca ngợi công lao to lớn với dân với nước và sự linh thiêng của Đại Thánh Pháp Lôi Phật như sau:

Sắc Đại Thánh Pháp Lôi Phật, khí hun núi Bắc, uy chấn trời Nam, mênh mang

ở trên, vận thần cơ giúp đỡ nhân dân, nối tiếp yên ổn, rực rỡ tiếng tăm, đức sáng tốt đẹp, mãi phù vận nước dài lâu, công lao to lớn hiển ứng linh thiêng Hợp cử bao phong phụng sự Đại nguyên soái tổng quốc chính thượng sư Minh vương ban sắc chỉ chuẩn ứng phong cho thần là Đại Thánh mậu đức phong công, tuấn liệt Pháp Lôi Phật Vậy ban sắc

Chùa Phi Tướng thuộc hệ thống chùa Tứ Pháp là trung tâm Phật giáo cổ xưa nhất, là danh lam cổ tự nổi tiếng, đã để lại kho tàng di sản văn hoá quý giá, hàng năm

đã thu hút hàng ngàn vạn Phật tử, khách tham quan khắp mọi miền trong nước và quốc

tế

Trang 29

1.2.2.4 Chùa Dàn

Chùa tọa lạc trên diện tích 1,5ha, Phía Đông nam giáp làng Phương Quan, Phía Tây Nam giáp làng Tư Thế, Phía đông Bắc giáp làng Đại Trạch Chùa Dàn tọa lạc trên thôn Phương Quan, xã Trí Quả, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh

Chùa Dàn là nơi thờ Phật Pháp Điện, là một trong bốn vị Tứ Pháp Pháp Điện tượng trưng cho thần Chớp trong bốn vị thần: Mây, mưa, sấm, chớp

Sắc phong Phật chủ chùa Huệ Trạch có đoạn viết:

“Sắc Bắc Ninh tỉnh, Thuận Thành phủ, Siêu Loại huyện, Khương Tự tổng, Phương Quan xã, Xuân Lan thôn phong phụng sự Đại Thánh Pháp Thông Vương Phật tôn thần hộ quốc tý dân, Túy mục dực bảo trung hưng thượng đẳng thần”

Chùa Dàn, hay còn gọi là chùa Phương Quan, và cũng là chùa Huệ Trạch một trong những linh địa linh thiêng bậc nhất Việt Nam

Thành Luy Lâu trong thời kỳ Bắc thuộc, thuộc nhà Đông Ngô, Sĩ Nhiếp, một quan chức người Hán được vua Ngô cử làm thứ sử Giao Châu, ông đã cho xây dựng lại thành Luy Lâu, đặt làm trung tâm của bộ máy cai trị

Luy Lâu thời Bắc thuộc không chỉ là trung tâm chính trị, mà còn là trung tâm kinh tế - thương mại, trung tâm văn hóa - tôn giáo lớn và cổ xưa nhất của Việt Nam

Đô thị Luy Lâu nằm giữa khu vực giao nhau giữa Sông Dâu và Sông Đuống, giữa trung tâm đồng bằng châu thổ Bắc Bộ, trong đó Sông Dâu giữ vai trò trục không gian kiến trúc chính Các công trình của đô thị chủ yếu dựng đặt, xây cất bên bờ Sông Dâu (thành lũy bên một bờ sông) Trung tâm đô thị là tòa Thành Luy Lâu kiên cố và bề thế - trụ sở chính và căn cứ quân sự của bộ máy cai trị Trong thành là công đường, dinh thất, nhà cửa, đồn trại, kho bãi… Mặt lũy thành là tháp canh, đồn trại, bao lấy lũy thành là hào sâu, lũy tre dày đặc nhằm bảo vệ bộ máy cai trị của phong kiến ngoại tộc Ngoài thành, ở hai phía Nam - Bắc là nhà ở, dinh thự, lầu gác của quan lại, quý tộc là chủ yếu, mà nay còn lại dấu tích khảo cổ và địa danh Văn Quan, Phương Quan, Mã Quan, Cánh Sở…Di tích để lại ngày nay chỉ còn một đoạn tường thành nhỏ còn sót lại, tại xã Thanh Khương, Thuận Thành, Bắc Ninh

Trang 30

Tại đây, tư tưởng Nho giáo và văn hoá Hán Đường đã được truyền bá liên tục vào nước ta Đây là nơi đầu tiên Sỹ Nhiếp mở trường lớp dạy chữ và văn hoá Hán Ngoài ra Luy Lâu còn là trung tâm Phật giáo lớn và cổ xưa nhất của người Việt Hệ thống di tích, chùa tháp quần tụ đậm đặc ở đây với trung tâm là chùa Dâu cùng nhiều nguồn di vật, tài liệu như tượng pháp, bia ký, bản khắc Cổ Châu Pháp Vân vật bản hạnh và lễ hội chùa Dâu - lễ hội Phật giáo lớn nhất trong đồng bằng Bắc Bộ với các nghi lễ Tân Phật, rước Tứ Pháp, rước nước đã cho thấy Luy Lâu là trung tâm Phật giáo lớn và sớm nhất Việt Nam Luy Lâu là không gian điển hình đan xen, hỗn dung tiếp xúc, biến đổi hội tụ và kết tinh văn hoá Việt Nam cổ với văn hoá Phật - Ấn, Nam Á và Trung Á, văn hoá Nho Lão (Trung Hoa - Đông Á) để rồi sinh thành bản sắc văn hoá Lạc Việt

1.3 Di sản văn hóa vật thể và nghệ thuật tạo hình ở những ngôi chùa cổ thờ

Tứ Pháp

Đáng chú ý nhất là các di tích/các ngôi chùa thuộc trung tâm Phật giáo Dâu (chùa Dâu, chùa Đậu, chùa Tướng, chùa Dàn, chùa Tổ, chùa Huệ Trạch), các hiện vật (hệ thống tượng, đồ thờ cúng ) và các sinh hoạt tôn giáo, tín ngưỡng diễn ra tại những

di tích này đã giữ vai trò bảo lưu (thông qua “cái vỏ” vật chất và “cái vỏ” Phật giáo)

lớp văn hoá đầu tiên của văn hoá vùng Dâu - đời sống văn hoá, tinh thần của những cư dân nông nghiệp Việt cổ - với các tục thờ cây (cây Dâu - cây Dung thụ), thờ đá - gắn với tín ngưỡng phồn thực (sau thành “Phật Thạch Quang”), tôn thờ các hiện tượng thiên nhiên thường xuyên tác động,chi phối hoạt động sản xuất nông nghiệp (các hiện

tượng mây, mưa, sấm, chớp - sau thành Phật Tứ Pháp) Những cứ liệu đó cũng gợi nghĩ tới (một phần) hoạt động sản xuất của cộng đồng cư dân ở vùng Dâu đương thời: chủ yếu là sản xuất nông nghiệp (với việc trồng lúa nước và trồng dâu, nuôi tằm), có kết hợp với việc đánh bắt cá (trên sông Dâu) Mặt khác, từ việc khởi đầu cư dân ở đây tôn thờ các hiện tượng thiên nhiên cụ thể, rồi được “nhân hoá” thành các nữ thần (các

bà: Dâu, Đậu, Tướng, Dàn) trước khi được “Phật hoá” thành Tứ Pháp, có thể xác định

vùng Dâu, từ những thế kỷ trước Công nguyên, đã trở thành một trung tâm giao lưu, buôn bán phát triển - Có một thực tế khá phổ biến là, ở những trung tâm thương nghiệp

Trang 31

phát triển thời cổ (các đô thị cổ), về mặt đời sống tín ngưỡng, thường xuất hiện gắn với việc thờ các thần mẫu - nữ thần

Tiểu kết

Trong số những trung tâm Phật giáo được thành hình vào thời Hậu Hán (25-220) thì trung tâm Phật giáo Luy Lâu là lớn mạnh hơn cả Phật giáo Luy Lâu đã cung cấp thành quả Phật học chẳng những cho Phật giáo Giao Châu mà còn cho cả Phật giáo Viễn Đông Tác giả Nguyễn Lang trong tác phẩm Việt Nam Phật giáo sử luận chép rằng: “Trong ba trung tâm Phật giáo đời Hán, trung tâm Luy Lâu là trung tâm có tổ chức tăng đoàn sớm nhất”29

Pháp sư Đàm Thiên tâu với vua Văn Đế (vua nhà Hán) rằng: “Khi Phật pháp tới Giang Đông chưa đầy đủ gì thì ở thủ đô Luy Lâu của Giao Châu đã có tới hai mươi ngôi bảo sát (chùa), độ hơn 500 vị tăng và dịch được hơn 15 cuốn kinh rồi ”30

Có thể nói vùng đất Luy Lâu - Bắc Ninh là cái nôi của Phật giáo, là trung tâm sinh hoạt Phật giáo Giao Châu qua nhiều thế kỷ, nơi mà một thời vành đai Phật giáo tỏa rộng khắp cả vùng đồng bằng Bắc bộ Những bậc thạc đức, cao Tăng làm việc cố vấn trong triều đình như: Thái sư, Tăng thống, Quốc sư, Thượng sĩ v.v… phần lớn cũng đều xuất thân từ đất Luy Lâu thuộc tỉnh Bắc Ninh này

Từ khi Phật giáo du nhập vào nước ta thì hệ thống tín ngưỡng thờ Tứ Pháp cũng được hình thành Từ vị Phật tổ Bổn Sư Thích Ca bên Ấn Độ khi sang Việt Nam thì biến các vị thần: Mây, mưa, sấm, chớp thành các vị Phật: Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện

Thông qua quá trình tiếp cận các nguồn tư liệu thứ cấp, trong nội dung chương 1,

đề tài tập trung làm rõ các khái niệm, các thuật ngữ các vấn đề liên quan đến: Lễ hội, kiến trúc, giá trị văn hóa, Tứ Pháp Đồng thời đề tài cũng khái quát một cách rõ nét tổng quan về địa bàn nghiên cứu tại huyện Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh và những ngôi

Trang 32

chùa cổ: Chùa Dâu, chùa Đậu, chùa Tướng, chùa Dàn, tương ứng thờ bốn vị: Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện

Trang 33

CHƯƠNG 2 KIẾN TRÚC CỦA NHỮNG NGÔI CHÙA CỔ THỜ TỨ PHÁP TẠI TRUNG TÂM PHẬT GIÁO LUY LÂU - BẮC NINH 2.1 Nghệ thuật kiến trúc

2.1.1 Chùa Dâu

Chùa có nhiều tên gọi khác nhau: chùa Khương Tự, Cổ Châu tự, Thiền Định tự, Diên Ứng tự, Pháp Vân tự, nhưng dân gian thường gọi là chùa Dâu Chùa thuộc thôn

Khương Tự, xã Thanh Khương Sách Đại Nam nhất thống chí (tập IV) chép về chùa

như sau: "Chùa Diên Ứng ở xã Khương Tự, huyện Siêu Loại, có 4 tượng là Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Điện và Pháp Lôi, thường tỏ ra anh linh Đời Trần, Mạc Đĩnh Chi dựng chùa trăm gian, tháp chín tầng và cầu chín dịp, nền cũ nay vẫn còn"31 Trải qua mưa nắng, thời gian, chùa đã nhiều lần hư hỏng và cũng đã nhiều lần được tu sửa Đến nay,

chùa Dâu vẫn là một ngôi có quy mô lớn trong vùng

Chùa gồm nhiều công trình kiến trúc hợp thành Các công trình kiến trúc chính

của chùa đều nhìn về hướng Tây, được xây dựng trên một trục thẳng, thứ tự từ ngoài

vào trong như sau:

Tam quan: Được xây dựng ở phía trước chùa, bên bờ sông Dâu cổ (gần chỗ cầu

Dâu hiện nay) Công trình này đã bị phá huỷ từ lâu, nay vẫn chưa xác định được chính xác dấu vết nền móng cũ

Sân chùa: Hình gần chữ nhật, chiều dài khoảng 150m, chiều rộng khoảng 100m Bên phải sân chùa là ao chùa Sân chùa xưa là nơi "Họp" chợ Âm - Dương (còn gọi là chợ Tam bảo), sau này vẫn được sử dụng làm nơi "Họp" chợ của nhân dân trong vùng

Tiếp liền phía trong sân chùa là các công trình kiến trúc chính của chùa, được bố cục theo kiểu "Nội công ngoại quốc": tháp Hoà Phong và ba công trình Tiền đường, Thiêu hương, Thượng điện nằm lọt trong bốn dãy nhà quây xung quanh theo hình chữ nhật

31Đại Nam nhất thống chí, T.IV, 1971, Nxb Khoa học Xã hội, tr.109

Trang 34

"Bốn dãy nhà quây xung quanh" đó bao gồm: hai dãy hành lang ở hai bên, mỗi dãy 22 gian (dài 50m, rộng 3,8m), Bái vọng đường - toà nhà ở phía trước (có 9 gian, dài 28m, rộng 7m) và Hậu đường - toà nhà ở phía sau

Hình 3.1 Tháp Hòa Phong và quang cảnh trước sân chùa Dâu

Nguồn: Khảo sát thực địa ngày 22/2/2016.

Tháp Hoà Phong nằm ở trung tâm khoảng sân giữa Bái vọng đường và Tiền

đường Tháp có bình đồ hình vuông, mỗi cạnh đáy dài 6,75m; được xây bằng gạch rồi

"bắt mạch" (không trát tường) Chiều cao toàn bộ tháp khoảng 15m, được chia làm 3 tầng, càng lên cao, tháp càng thu nhỏ lại Lòng tháp để rỗng, tầng dưới có mở 4 cửa ở 4 phía Theo nội dung được khắc trên tấm bia 4 mặt, đặt ở phía trước tháp, thì tháp Hoà Phong được khởi công xây dựng tháng 8 năm 1737, đến tháng 4 năm 1738 thì hoàn thành32

Tháp Hoà Phong được dựng ở giữa sân chùa Theo thư tịch cổ, vào thời Trần,

Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi cho trùng tu chùa Dâu, xây tháp cao 9 tầng, nhưng kiến trúc của tòa tháp hiện còn là của thời Lê Trung Hưng Tháp được xây bằng gạch nung già, với 3 tầng, cao 15m Tầng thứ nhất, mỗi cạnh rộng 6,75m, cao 4,5m, bốn mặt đều

32Nguyễn Mạnh Cường (1995), Chùa Dâu và hệ thống chùa Tứ Pháp, Luận văn Phó tiến sĩ Khoa học

Lịch sử, Viện Khảo cổ học, tr 21

Trang 35

có cửa, xây cuốn vòm Tầng thứ hai cao 4m, mỗi cạnh rộng 6,15m, có 4 cửa cuốn vòm Trên cùng là vòm mái, được xây cuốn bằng gạch Đỉnh tháp được tạo hình như một bình nước cam lộ Trong lòng tháp, phía dưới có bệ thờ “Tứ trấn” (Tứ Thiên Vương), bằng gỗ phủ sơn, cao 1,60m Phía trên treo khánh đồng, chuông đồng Phía trước tam cấp cửa phía Tây có 2 tượng sóc đá, mang phong cách nghệ thuật thời Lê Trung Hưng Bên trái có một tượng cừu đá (dấu ấn của văn hoá phương Bắc, phản ánh sự hiện diện của Thái thú Sĩ Nhiếp khi đóng trị sở ở thành Luy Lâu) Trên tháp Hoà Phong hiện còn một tấm biển bằng đá xanh gắn ở phía Tây (tầng hai) có đề 3 chữ “Hòa Phong tháp”

Bảng 3.1 Những hiện vật được bảo tồn ở chùa Dâu

Chùa Đậu, tên chữ là "Thành Đạo tự", thuộc thôn Đại Tự, xã Thanh Khương, ở

về phía Đông Nam chùa Dâu và cách chùa Dâu khoảng 200m về phía Đông Bắc chùa Chùa quay hướng Tây

Chùa Đậu là nơi thờ Phật Pháp Vũ Xưa kia, chùa Đậu thuộc đất làng Đông Cốc (xã Hà Mãn) Chùa cũng có quy mô to lớn, nhưng trong thời kỳ Kháng chiến chống Pháp, chùa đã bị giặc phá Từ đó, tượng Pháp Vũ được chuyển về đặt trên Thượng điện chùa Dâu Di vật của chùa còn trên nền đất cũ chỉ là một tấm bia 4 mặt, khắc năm Đinh

Trang 36

Tỵ niên hiệu Vĩnh Hựu (1737), nội dung ghi về việc cúng giỗ tại chùa (Gần đây, nhân dân làng Đại Tự, được sự hỗ trợ của một số vị sư trong vùng, đã cùng nhau đóng góp tiền của, công sức để xây dựng một ngôi chùa mới trên khu đất chùa Đậu xưa)

Hình 3.2 Tổng quan của chùa Đậu ngày nay

Nguồn: Khảo sát thực địa ngày 22/2/2016.

2.1.3 Chùa Tướng

Chùa Tướng (Phi Tướng tự) là nơi thờ Phật Pháp Lôi Chùa thuộc thôn Thanh Tương, xã Thanh Khương, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh Chùa được xây dựng trên một gò đất tại góc Tây Nam thành Luy Lâu Chùa tọa lạc ở phía Bắc chùa Dâu và cách chùa Dâu khoảng 600m

Mặt chùa quay hướng Tây Các công trình kiến trúc chính của chùa gồm ba toà:

Tiền đường, Thiêu hương, Thượng điện Trong ba toà nhà này, chỉ có Thiêu hương và

Thượng điện là công trình kiến trúc cổ còn lại (tuy cũng đã được sang sửa nhiều), còn toà Tiền đường là công trình mới được xây dựng Sau cụm kiến trúc chính này là toà

Tam bảo hậu, cũng vừa mới được trùng tu lại Tuy vừa mới trùng tu, nhưng kinh phí ít,

chưa có sự quan tâm sau sắc của các ban ngành lãnh đạo của nhà nước nên chánh điện cũng rất còn khiêm tốn về mặt diện tích

Trang 37

Hình 3.3 Trước Cổng chùa Tướng

Nguồn: Khảo sát thực địa ngày 22/2/2016

2.1.4 Chùa Dàn

Chùa Dàn thuộc thôn Phương Quan (nên còn gọi là chùa Phương Quan), xã Trí Quả, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh Chùa hướng về phía Tây và cách chùa Dâu gần 2km

Đây là một công trình tôn giáo - tín ngưỡng có chức năng thờ phụng theo kiểu

tiền thần, hậu Phật Các công trình kiến trúc chính của chùa bố cục theo kiểu chữ

"công", ở gian giữa chánh điện thờ Phật Pháp Điện, hai bên cũng được thờ các vị La

hán, thứ tự từ phía ngoài vào, như nhân dân ở đây thường gọi, là: Tiền đường, Thiêu hương và Thượng điện

Trang 38

Hình 3.4 Trước chánh điện chùa Dàn

Nguồn: Khảo sát thực địa ngày 22/2/2016

2.2 Phân bố không gian thờ cúng và sinh hoạt

2.2.1 Phân bố không gian thờ cúng

2.2.1.1 Chùa Dâu

Tiền đường là toà nhà 7 gian, dài 21m, rộng 9,5m Đây là công trình được tu tạo

vào năm Khải Định thứ 3 (1918)

Thiêu hương là toà nhà xoay dọc để nối Tiền đường với Thượng điện Đây là

công trình có mặt nền cao hơn Tiền đường 0,37m; kiến trúc đơn giản; chiều dài 9m, chiều rộng 7m

Thượng điện có mặt nền cao hơn Thiêu hương 0,47m Đây là toà nhà 1 gian, 2

chái, 4 mái, các góc mái là những đầu đao cong thanh thoát Nền nhà hình chữ nhật (dài 14m, rộng 10,4m) Trên các bộ phận liên kết khung gỗ của thượng điện đều được chạm khắc nhiều đồ án trang trí hình rồng, mây, hoa lá Qua các đồ án trang trí này, một số nhà nghiên cứu đã đoán định, toà Thượng điện được khởi dựng từ thời Mạc, tu

Trang 39

bổ lớn vào thời Lê Trung hưng (khoảng thế kỷ XVII), sau đấy, còn trải qua nhiều lần tu

bổ khác33

Ngoài các công trình kiến trúc chính kể trên, chùa Dâu còn có nhà tổ (5 gian) và một dãy tăng phòng, được xây dựng ở bên phải chùa Vườn tháp của chùa để ở phía sau nhà tổ Nhân dân địa phương còn cho biết, xưa kia, ở liền phía sau toà Hậu đường,

là đền thờ đức Thạch Quang (3 gian), nhưng công trình này đã bị phá hỏng từ lâu

Phật điện chùa Dâu được bài trí khá đặc biệt

Toà Tiền đường là nơi đặt hai tượng Hộ Pháp, hai bên là tượng Đức Ông và Đức Thánh Tăng; ở hai hồi nhà là hai dãy tượng Bát bộ Kim Cương

Toà Thiêu hương: trên ban thờ chính có tượng Thích ca sơ sinh; áp vách tường hai bên là nơi bày các tượng Thập điện Diêm Vương

Thượng điện nằm ở vị trí trung tâm của chánh điện ở giữa là nơi tôn nghiêm nhất được thiết kế bàn Phật và thờ Phật Pháp Vân ở giữa Phía trước chệch bên phía tay

trái khoảng 5 mét tượng Pháp Vân là tượng Pháp Vũ (được chuyển từ chùa Đậu về đây) và khám nhỏ thờ đức Phật Thạch Quang được an vị ở phía trước tượng Pháp Vân

Hai bên khám thờ này là hai chiếc ghế thờ thời Mạc, trên mỗi ghế đều có một pho tượng nhỏ - truyền rằng, đó là con của Tứ Pháp Ở phía dưới, vị trí thấp hơn, là hai

tượng Kim Đồng, Ngọc Nữ và hai tượng Bà Trắng, Bà Đỏ ở hai bên

Phía sau tượng Pháp Vân là pho tượng Thủ bệ (giữ bệ), được đặt trên một bệ đá

Trang 40

Hình 3.5 Mười tám vị La Hán được thờ hai dãy hành lang tại chùa Dâu

Nguồn: Khảo sát thực địa ngày 22/2/2016

2.2.1.2 Chùa Tướng

Phật điện chính của chùa Tướng, được bài trí tại gian giữa Thượng điện, cũng rất đơn giản Chiếm vị trí trung tâm là tượng Pháp Lôi Phía trước Pháp Lôi là tượng

đức Thánh Tải, được đặt trên một ngai gỗ nhỏ Phía sau Pháp Lôi là tượng Thủ bệ

Ngoài ra, ở gian bên trái thượng điện còn có một ban thờ nhỏ, trên đó có một bia tượng bằng đá xanh, chạm khắc rất tinh tế Bia tượng này được làm vào năm Chính Hoà thứ

18 (1697), trên đó khắc rõ tên những người đã công đức tiền của để dựng Tiền đường, Thiêu hương, Hậu đường, hành lang hai bên, gác chuông và tam quan chùa đương thời

2.2.1.3 Chùa Dàn

Các công trình này được sử dụng như sau:

- Tiền đường và Thiêu hương là nơi thờ Thành Hoàng làng (chưa rõ tên và lai lịch thần) Gian Thiêu hương được sử dụng như một hậu cung đình - ở phía trước gian thờ này cũng có bức đại tự ghi 4 chữ Hán "Thánh cung vạn tuế" Đặc biệt, tại gian bên

phải của Tiền đường (tiếp liền gian giữa), hiện có ban thờ ông tổ nghề câu (cá) của

Ngày đăng: 31/10/2016, 22:13

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trần Lâm Biền (1996), Chùa Việt, Nxb Văn hóa Thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chùa Việt
Tác giả: Trần Lâm Biền
Nhà XB: Nxb Văn hóa Thông tin
Năm: 1996
2. Trần Lâm Biền (2000), Một con đường tiếp cận lịch sử, Nxb. Văn hoá Thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một con đường tiếp cận lịch sử
Tác giả: Trần Lâm Biền
Nhà XB: Nxb. Văn hoá Thông tin
Năm: 2000
3. Nguyễn Đăng Duy (2001), Văn hóa Tâm linh, nxb. VH-TT 4. Đại Nam nhất thống chí, T.IV (1971), Nxb. Khoa học Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa Tâm linh
Tác giả: Nguyễn Đăng Duy (2001), Văn hóa Tâm linh, nxb. VH-TT 4. Đại Nam nhất thống chí, T.IV
Nhà XB: nxb. VH-TT 4. Đại Nam nhất thống chí
Năm: 1971
6. Trần Nguyên Giáp (1986), Tuệ Sỹ dịch, Phật giáo Việt Nam từ khởi nguyên đến thế kỷ XIII, NXB Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phật giáo Việt Nam từ khởi nguyên đến thế kỷ XIII
Tác giả: Trần Nguyên Giáp
Nhà XB: NXB Sài Gòn
Năm: 1986
7. Nguyễn Duy Hinh (1999), Tư Tưởng Phật giáo Việt Nam, Nxb. KHXH, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư Tưởng Phật giáo Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Duy Hinh
Nhà XB: Nxb. KHXH
Năm: 1999
8. Nguyễn Quang Hồng (1994), Sự tích đức Phật chùa Dâu, Nxb. Văn hóa Thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự tích đức Phật chùa Dâu
Tác giả: Nguyễn Quang Hồng
Nhà XB: Nxb. Văn hóa Thông tin
Năm: 1994
9. Nguyễn Quang Hồng chủ biên (1997), Viện nghiên cứu Hán Nôm, Di Văn chùa Dâu, Nxb. KHXH, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Di Văn chùa Dâu
Tác giả: Nguyễn Quang Hồng chủ biên
Nhà XB: Nxb. KHXH
Năm: 1997
10. Trương Văn Hùng (2007), Từ điển Tiếng Việt, NXB Thanh Niên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Tiếng Việt
Tác giả: Trương Văn Hùng
Nhà XB: NXB Thanh Niên
Năm: 2007
11. Nguyễn Hữu (2014), Chùa Dâu lịch sử và truyền thuyết, NXB Thanh niên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chùa Dâu lịch sử và truyền thuyết
Tác giả: Nguyễn Hữu
Nhà XB: NXB Thanh niên
Năm: 2014
12. Thanh Hương, Phương Anh (1971), Hà Bắc ngàn năm văn hiến, Nxb. Văn hóa Hà Bắc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hà Bắc ngàn năm văn hiến
Tác giả: Thanh Hương, Phương Anh
Nhà XB: Nxb. Văn hóa Hà Bắc
Năm: 1971
13. Lê Văn Kỳ (1992), Lễ hội cổ truyền (Viện Văn hóa Dân gian, nhiều tác giả), Nxb. Khoa Học Xã Hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lễ hội cổ truyền
Tác giả: Lê Văn Kỳ
Nhà XB: Nxb. Khoa Học Xã Hội
Năm: 1992
14. Nguyễn Lang (1995) Phật giáo Việt Nam sử lược, Hà Nội, Nxb. Tôn giáo Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phật giáo Việt Nam sử lược
Nhà XB: Nxb. Tôn giáo
15. Hồ Chí Minh (1995), Toàn tập, tập 3, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 1995
17. Hoàng Phê chủ biên (2003) do Viện Ngôn ngữ học tổ chức biên soạn, Từ điển tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tiếng Việt
Nhà XB: Nxb Đà Nẵng
18. Lê Mạnh Thát (1999), Lịch sử Phật giáo Việt Nam, Tập 1, Huế, Nxb. Thuận Hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Phật giáo Việt Nam
Tác giả: Lê Mạnh Thát
Nhà XB: Nxb. Thuận Hóa
Năm: 1999
19. Lê Mạnh Thát, Lịch Sử Phật giáo Việt Nam, tập 1 (1999) tập 2 (2001) tập 3 (2002), Nxb. Tp HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch Sử Phật giáo Việt Nam
Tác giả: Lê Mạnh Thát, Lịch Sử Phật giáo Việt Nam, tập 1 (1999) tập 2 (2001) tập 3
Nhà XB: Nxb. Tp HCM
Năm: 2002
20. Trần Ngọc Thêm (2000), Cơ sở văn hóa Việt Nam, Nxb. Giáo Dục 21. Ngô Đức Thọ và Nguyễn Thúy Nga (1990), Thiền uyển tập anh, Bảndịch của Nxb. Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở văn hóa Việt Nam", Nxb. Giáo Dục 21. Ngô Đức Thọ và Nguyễn Thúy Nga (1990), "Thiền uyển tập anh
Tác giả: Trần Ngọc Thêm (2000), Cơ sở văn hóa Việt Nam, Nxb. Giáo Dục 21. Ngô Đức Thọ và Nguyễn Thúy Nga
Nhà XB: Nxb. Giáo Dục 21. Ngô Đức Thọ và Nguyễn Thúy Nga (1990)
Năm: 1990
22. Nguyễn Đăng Thục (1992), Lịch sử tư tưởng Việt Nam I- II- III, Nxb. TP. HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử tư tưởng Việt Nam I- II- III
Tác giả: Nguyễn Đăng Thục
Nhà XB: Nxb. TP. HCM
Năm: 1992
23. Phan Cẩm thƣợng (2002), Chùa Dâu và nghệ thuật tứ Pháp, Nxb Mỹ Thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chùa Dâu và nghệ thuật tứ Pháp
Tác giả: Phan Cẩm thƣợng
Nhà XB: Nxb Mỹ Thuật
Năm: 2002
24. Thích Nhật Từ (biên soạn) 2012, Nghi thức Phật Đản”, Nxb Hồng Đức 25. Tôcarev X.T (1994), Các hình thức tôn giáo sơ khai và sự phát triển củachúng, bản dịch, Nxb. Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghi thức Phật Đản”," Nxb Hồng Đức 25. Tôcarev X.T (1994), "Các hình thức tôn giáo sơ khai và sự phát triển của "chúng
Tác giả: Thích Nhật Từ (biên soạn) 2012, Nghi thức Phật Đản”, Nxb Hồng Đức 25. Tôcarev X.T
Nhà XB: Nxb Hồng Đức 25. Tôcarev X.T (1994)
Năm: 1994

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.2. Hệ thống các chùa thờ Tứ Pháp ở các địa phương - Kiến trúc và lễ hội ở những ngôi chùa cổ thờ tứ pháp tại trung tâm phật giáo luy lâu   bắc ninh
Bảng 1.2. Hệ thống các chùa thờ Tứ Pháp ở các địa phương (Trang 18)
Hình 3.1. Tháp Hòa Phong và quang cảnh trước sân chùa Dâu. - Kiến trúc và lễ hội ở những ngôi chùa cổ thờ tứ pháp tại trung tâm phật giáo luy lâu   bắc ninh
Hình 3.1. Tháp Hòa Phong và quang cảnh trước sân chùa Dâu (Trang 34)
Hình 3.2. Tổng quan của chùa Đậu ngày nay. - Kiến trúc và lễ hội ở những ngôi chùa cổ thờ tứ pháp tại trung tâm phật giáo luy lâu   bắc ninh
Hình 3.2. Tổng quan của chùa Đậu ngày nay (Trang 36)
Hình 3.3. Trước Cổng chùa Tướng. - Kiến trúc và lễ hội ở những ngôi chùa cổ thờ tứ pháp tại trung tâm phật giáo luy lâu   bắc ninh
Hình 3.3. Trước Cổng chùa Tướng (Trang 37)
Hình 3.4. Trước chánh điện chùa Dàn. - Kiến trúc và lễ hội ở những ngôi chùa cổ thờ tứ pháp tại trung tâm phật giáo luy lâu   bắc ninh
Hình 3.4. Trước chánh điện chùa Dàn (Trang 38)
Hình 3.5.  Mười tám vị La Hán được thờ hai dãy hành lang tại chùa Dâu. - Kiến trúc và lễ hội ở những ngôi chùa cổ thờ tứ pháp tại trung tâm phật giáo luy lâu   bắc ninh
Hình 3.5. Mười tám vị La Hán được thờ hai dãy hành lang tại chùa Dâu (Trang 40)
Hình 3.6. Nghi lễ dâng sao giải hạn trong chánh điện chùa Dàn. - Kiến trúc và lễ hội ở những ngôi chùa cổ thờ tứ pháp tại trung tâm phật giáo luy lâu   bắc ninh
Hình 3.6. Nghi lễ dâng sao giải hạn trong chánh điện chùa Dàn (Trang 43)
Hình 3.7.  Tượng Pháp Vân được thờ tại chùa Dâu. - Kiến trúc và lễ hội ở những ngôi chùa cổ thờ tứ pháp tại trung tâm phật giáo luy lâu   bắc ninh
Hình 3.7. Tượng Pháp Vân được thờ tại chùa Dâu (Trang 45)
Hình 3.8. Tượng Pháp Vũ thờ tại chùa Dâu. - Kiến trúc và lễ hội ở những ngôi chùa cổ thờ tứ pháp tại trung tâm phật giáo luy lâu   bắc ninh
Hình 3.8. Tượng Pháp Vũ thờ tại chùa Dâu (Trang 46)
Hình 3.9. Tượng Pháp Lôi tại chùa Tướng. - Kiến trúc và lễ hội ở những ngôi chùa cổ thờ tứ pháp tại trung tâm phật giáo luy lâu   bắc ninh
Hình 3.9. Tượng Pháp Lôi tại chùa Tướng (Trang 47)
Hình 3.10. Tượng Pháp Điện tại chùa Dàn. - Kiến trúc và lễ hội ở những ngôi chùa cổ thờ tứ pháp tại trung tâm phật giáo luy lâu   bắc ninh
Hình 3.10. Tượng Pháp Điện tại chùa Dàn (Trang 49)
Hình 3.11. Những câu hoành phi và các câu đối được treo trong chánh điện chùa Dâu. - Kiến trúc và lễ hội ở những ngôi chùa cổ thờ tứ pháp tại trung tâm phật giáo luy lâu   bắc ninh
Hình 3.11. Những câu hoành phi và các câu đối được treo trong chánh điện chùa Dâu (Trang 52)
Hình 3.12. Những lá phan được treo ở chùa Dàn. - Kiến trúc và lễ hội ở những ngôi chùa cổ thờ tứ pháp tại trung tâm phật giáo luy lâu   bắc ninh
Hình 3.12. Những lá phan được treo ở chùa Dàn (Trang 59)
Hình 2.1. Lễ khai hội chùa Dâu. - Kiến trúc và lễ hội ở những ngôi chùa cổ thờ tứ pháp tại trung tâm phật giáo luy lâu   bắc ninh
Hình 2.1. Lễ khai hội chùa Dâu (Trang 71)
Hình 2.4. Nghi lễ dâng hương tại chùa Mãn Xá, nơi thờ Phật Mẫu Man Nương, - Kiến trúc và lễ hội ở những ngôi chùa cổ thờ tứ pháp tại trung tâm phật giáo luy lâu   bắc ninh
Hình 2.4. Nghi lễ dâng hương tại chùa Mãn Xá, nơi thờ Phật Mẫu Man Nương, (Trang 82)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w