Trong các môn học đó, ngoài môn Toán và môn Tiếng việt cung cấp những kiến thức cơ bản về đơn vị đo lường, các kiến thức trong văn học thì môn Tự nhiên – xã hội cung cấp những kiến thức
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
MA XUÂN QUỲNH
KHAI THÁC KÊNH HÌNH TRONG DẠY HỌC
Ở CHỦ ĐỀ ĐỊA LÍ LỚP 5
Chuyên ngành: Khoa học giáo dục
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Người hướng dẫn: TS Đỗ Thúy Mùi
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Khoá luận của em đã hoàn thành nhờ sự giúp đỡ chỉ bảo tận tình của giảng viên, TS Đỗ Thuý Mùi Qua đây em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành của mình tới cô
Em xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, các thầy cô giáo, Thư viện Trường Đại học Tây Bắc, các bạn sinh viên lớp K52 ĐHGD Tiểu học B, các thầy cô giáo và các em học sinh trường Tiểu học Lương Bằng - Huyện: Chợ Đồn - Tỉnh: Bắc Kạn cùng những người thân yêu của em đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong quá trình tìm kiếm, thu thập tài liệu cũng như thực nghiệm
đề tài này
Chắc chắn đề tài hoàn thành sẽ không tránh khỏi những thiếu sót, em rất mong nhận được sự chỉ bảo, góp ý của các thầy cô giáo và các bạn để đề tài hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Sơn La, tháng 5 năm 2015
Sinh viên
Ma Xuân Quỳnh
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu, nhiệm vụ, giới hạn phạm vi nghiên cứu 2
2.1 Mục tiêu 2
2.2 Nhiệm vụ 2
2.3 Giới hạn, phạm vi nghiên cứu 2
3 Phương pháp nghiên cứu 2
3.1 Phương pháp thu thập thông tin, tổng hợp tài liệu 2
3.2 Phương pháp sử dụng bản đồ, biểu đồ, tranh ảnh 3
3.3 Phương pháp phân tích số liệu thống kê 3
3.4 Phương pháp thực nghiệm 3
4 Đóng góp của đề tài 4
5 Cấu trúc của đề tài 4
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 5
1.1 Cơ sở lí luận 5
1.1.1 Kênh hình 5
1.1.1.1 Quan niệm về kênh hình 5
1.1.1.2 Vai trò của kênh hình 5
1.1.2 Phân loại kênh hình 6
1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài 7
1.2.1 Đặc điểm chương trình sách giáo khoa Địa lí lớp 5 7
1.2.1.1 Mục tiêu 7
1.2.1.2 Nội dung 8
1.2.1.3 Đặc điểm sách giáo khoa Địa lí lớp 5 9
1.2.2 Đặc điểm tâm sinh lí của học sinh lớp 5 10 1.2.3 Thực trạng sử dụng và khai thác kênh hình trong giảng dạy Địa lí 5 hiện
Trang 5CHƯƠNG 2: CÁCH KHAI THÁC KÊNH HÌNH TRONG DẠY HỌC ĐỊA
LÍ LỚP 5 13
2.1 Khái quát về kênh hình sách giáo khoa Địa lí lớp 5 13
2.1.1 Đặc điểm kênh hình sách giáo khoa lớp 5 13
2.1.2 Yêu cầu về các loại kênh hình trong dạy học Địa lí 14
2.2 Các phương pháp khai thác kênh hình trong dạy học Điạ lí lớp 5 theo hướng tích cực 16
2.2.1 Đàm thoại với kênh hình 16
2.2.2 Tổ chức cho học sinh thảo luận với kênh hình 17
2.2.3 Tổ chức trò chơi học tập với kênh hình 18
2.2.4 Các loại bản đồ giáo khoa chủ yếu được sử dụng trong dạy học chủ đề địa lí ở lớp 5 20
2.2.4.1 Bản đồ giáo khoa treo tường 20
2.2.4.2 Sơ đồ 20
2.2.4.3 Lược đồ 21
2.3 Khai thác kênh hình trong dạy học địa lí lớp 5 21
2.3.1 Khai thác và sử dụng bản đồ 21
2.3.1.1 Bản đồ và đặc điểm cơ bản cuả bản đồ 21
2.3.1.2 Quy trình sử dụng 22
2.3.2 Khai thác và sử dụng biểu đồ 25
2.3.2.1 Biểu đồ và đặc điểm cơ bản của biểu đồ 25
2.3.2.2 Các loại biểu đồ chủ yếu được sử dụng trong dạy học chủ đề địa lí ở lớp 5 26
2.3.2.2 Quy trình sử dụng 27
2.3.3 Khai thác và sử dụng sơ đồ 29
2.3.3.1 Sơ đồ và đặc điểm của sơ đồ 29
2.3.3.2 Quy trình sử dụng 30
2.3.4 Khai thác và sử dụng bảng số liệu thống kê 31
2.3.4.1 Số liệu thống kê và đặc điểm của số liệu thống kê 31
2.3.4.2 Quy trình sử dụng 32
Trang 62.3.5.1 Tranh ảnh và các loại tranh ảnh 34
2.3.5.2 Phương pháp khai thác 35
CHƯƠNG 3: THIẾT KẾ MỘT SỐ GIÁO ÁN TRONG CHƯƠNG TRONG CHƯƠNG TRÌNH ĐỊA LÍ LỚP 5 37
3.1 Giáo án 1 37
3.2 Giáo án 2 43
3.3 Giáo án 3 49
CHƯƠNG 4: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 56
4.1 Mục đích thực nghiệm 56
4.2 Nguyên tắc thực nghiệm 56
4.3 Nhiệm vụ của thực nghiệm 56
4.4 Tổ chức thực nghiệm 57
4.5 Kiểm tra, đánh giá kết quả thực nghiệm 57
4.6 Nội dung thực nghiệm cụ thể 57
KẾT LUẬN 63 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC 1
Trang 7TN
Đối chứng Giáo viên Kinh tế - xã hội Học sinh
Nhà xuất bản Sách giáo khoa
Số liệu thống kê
Thực nghiệm
DANH MỤC LƢỢC ĐỒ, SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ
Lược đồ các châu lục và đại dương
Lược đồ sông ngòi
Sơ đồ các điều kiện để Thành phố Hồ Chí Minh trở
thành trung tâm công nghiệp lớn nhất cả nước
Biểu đồ khối lượng hàng hoá vận chuyển phân theo
loại hình vận tải năm 2003
Biểu đồ so sánh kết quả học tập của 2 lớp thực nghiệm
5A và lớp đối chứng 5B tại trường Tiểu học Lương
Bằng
Biểu đồ so sánh kết quả học tập của 2 lớp thực nghiệm
5A và lớp đối chứng 5B tại trường Tiểu học Lương
Trang 8Kết quả kiểm tra của lớp thực nghiệm và lớp đối chứng
Bảng thống kê điểm thực nghiệm
Tỉ lệ điểm của các lớp thực nghiệm và đối chứng qua 2 bài kiểm tra
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong hệ thống giáo dục ở nước ta, tiểu học là bậc học nền tảng, là bậc học đặt nền móng đầu tiên cho quá trình hình thành các tri thức và đạo đức nhằm phát triển toàn diện nhân cách con người Mỗi môn học bậc Tiểu học đều
là công cụ góp phần giúp học sinh chiếm lĩnh tri thức Trong các môn học đó, ngoài môn Toán và môn Tiếng việt cung cấp những kiến thức cơ bản về đơn vị
đo lường, các kiến thức trong văn học thì môn Tự nhiên – xã hội cung cấp những kiến thức khoa học đơn giản về tự nhiên xã hội, kích thích sự tò mò khám phá những sự vật xung quanh, óc quan sát, giúp các em vận dụng được kiến thức
đã học vào thực tế cuộc sống để các em có thể gắn kết chúng với kinh nghiệm có sẵn của mình Giúp các em có ý thức giữ gìn bảo vệ môi trường Góp phần hình thành và phát triển toàn diện nhân cách của các em học sinh
Theo chủ trương đổi mới phương pháp dạy học của Bộ Giáo dục và Đào tạo Ở bậc Giáo dục Tiểu học không ngừng nâng cao và đổi mới về phương pháp giảng dạy Đặc biệt, là việc sử dụng đồ dùng daỵ học trong giảng dạy Chủ đề Điạ lí lớp 5 đòi hỏi quá trình giảng dạy phải sử dụng đồ dùng một cách linh hoạt, nhằm giúp học sinh có những hiểu biết cơ bản ban đầu về địa lí tự nhiên như đặc điểm địa hình và khoáng sản, sông ngòi và biển, khí hậu… địa lí kinh
tế, xã hội của Việt Nam, các Châu lục và một số nước trên thế giới Thông qua các hình ảnh, bản đồ, biểu đồ học sinh biết nắm bắt được thông tin và số liệu để khái quát hóa để tìm ra mối quan hệ tác động qua lại giữa các vấn đề và hiện tượng đơn giản Giúp học sinh có sự yêu thích và say mê các hoạt động tìm hiểu, sưu tầm các tư liệu, hình ảnh, bản đồ…để phục vụ cho bài học
Trong thực tế hiện nay ở các trường Tiều học, nhất là các trường vùng sâu, vùng xa do điều kiện còn khó khăn nên việc sử dụng và khai thác đồ dùng dạy học còn chưa đạt hiệu quả cao Nhiều giáo viên không biết cách khai thác kênh hình trong sách giáo khoa, nên những thông tin chủ yếu trong đó bị bỏ qua, học sinh không có hứng thú khi học môn Địa lí và giờ học không đạt hiệu quả
Trang 10Để khắc phục những hạn chế, đồng thời để phát huy tính tích cực và chủ
động của học sinh trong bài học, tôi chọn và nghiên cứu đề tài: “Khai thác
kênh hình trong dạy học ở chủ đề Địa lí lớp 5”
2 Mục tiêu, nhiệm vụ, giới hạn phạm vi nghiên cứu
nghiệm và rút ra kết luận cần thiết
2.3 Giới hạn, phạm vi nghiên cứu
trung nghiên cứu những đặc điểm của kênh hình có liên quan đến chủ đề địa lí lớp 5 để thiết kế và vận dụng chúng vào giảng dạy chương trình địa lí lớp 5 Địa bàn nghiên cứu tôi tiến hành thực nghiệm tại trường Tiểu học Lương Bằng – Huyện: Chợ Đồn – Tỉnh: Bắc Kạn
3 Phương pháp nghiên cứu
3.1 Phương pháp thu thập thông tin, tổng hợp tài liệu
Phương pháp nghiên cứu này giúp chúng ta tiếp cận vấn đề được nhanh hơn Việc thu thập tài liệu về mặt lí luận giúp chúng ta hiểu sâu hơn về vấn đề nghiên cứu Có thể thu thập thông tin ở nhiều nguồn khác nhau như: Sách giáo khoa, sách chuyên ngành, internet, tài liệu có liên quan…
Trang 11thông tin thu được sắp xếp chọn lọc theo từng nội dung, cung cấp kiến thức giúp
ta hiểu hơn về cách khai thác kênh hình trong sách giáo khoa địa lí lớp 5
3.2 Phương pháp sử dụng bản đồ, biểu đồ, tranh ảnh
Đặc điểm tâm sinh lí của học sinh Tiểu học còn thiên về trực quan sinh động, mà sách giáo khoa ở bậc Tiểu học có các hình ảnh trực quan giảm dần từ lớp 1 đến lớp 5 Thông qua những hình ảnh cụ thể về đặc điểm của sự vật, hiện tượng mà học sinh đã quan sát, trên cơ sở đó dần dần hình thành khái niệm Vì vậy, phương pháp này có thể giúp giáo viên truyền đạt kiến thức đến học sinh một cách nhanh nhất, đồng thời bản đồ, biểu đồ, tranh ảnh giúp học sinh hiểu bài
và nhớ bài lâu hơn
Bản đồ, biểu đồ, tranh ảnh luôn gắn liền giữa thực tiễn với bài học Không chỉ minh họa cho kênh chữ mà bản đồ, biểu đồ, tranh ảnh còn là nguồn cung cấp lượng thông tin nhiều và bổ ích cho học sinh, giúp học sinh hứng thú hơn trong bài học và giúp cho giờ học thêm sinh động Vì vậy, khi thiết kế và khi giảng dạy các bài địa lí không thể thiếu phương pháp này
3.3 Phương pháp phân tích số liệu thống kê
về khái quát đặc điểm tình hình phát triển kinh tế của các vùng miền, quốc gia, khu vực và thế giới, phân tích các số liệu thống kê để có thể đánh giá đúng đắn
con số, số liệu từ đó các em hình thành những khái niệm, những biểu tượng và kiến thức trong bài học có liên hệ với thực tiễn trong cuộc sống
số liệu thống kê, để thống kê kết quả học tập của học sinh, số lượng học sinh…Qua các số liệu này nhằm phân tích kết quả để đánh giá một cách khoa học, chính xác hơn về thực tiễn của đề tài
3.4 Phương pháp thực nghiệm
Địa điểm tiến hành thực nghiệm tại trường Tiểu học Lương Bằng - Huyện: Chợ Đồn – Tỉnh: Bắc Kạn Quá trình thực nghiệm tôi đã thực hiện ở hai
Trang 12thiết kế giáo án khai thác kiến thức từ kênh hình Lớp đối chứng kênh hình chỉ
để minh họa kiến thức Kiểm tra kết quả thực nghiệm thông qua các bài kiểm tra sau mỗi tiết học Trên cơ sở những kết quả thu được sẽ khẳng định kết quả của
đề tài Phương pháp này được tiến hành qua việc kiểm tra đánh giá sau khi học
và qua việc thăm dò qua phiếu điều tra
4 Đóng góp của đề tài
Đề tài hoàn thành là tư liệu tham khảo, cung cấp những kiến thức cơ bản về cách khai thác kênh hình trong sách giáo khoa ở chương trình Địa lí lớp 5 Đây là nguồn tài liệu nghiên cứu cho bản thân người nghiên cứu, cho các sinh viên trường sư phạm, cho giáo viên tiểu học và những người quan tâm đến vấn đề này
5 Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận gồm 4 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn;
Chương 2: Cách khai thác kênh hình trong dạy học địa lí lớp 5;
Chương 3: Thiết kế một số giáo án trong chương trình Địa lí lớp 5;
Chương 4: Thực nghiệm
Trang 13
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1 Cơ sở lí luận
1.1.1 Kênh hình
1.1.1.1 Quan niệm về kênh hình
Ở bậc Tiểu học, sách giáo khoa là phương tiện giúp học sinh tiếp cận và chiếm lĩnh tri thức Trong sách giáo khoa bao gồm các thông tin về tri thức được thể hiện bởi kênh hình và chữ kênh Ngoài kênh chữ thể hiện các kiến thức và thuyết minh cho kênh hình nhằm truyền đạt thông tin đến học sinh, thì kênh hình
mô tả thông tin về sự vật, hiện tượng và hình thành các biểu tượng về các hiện tưởng, sự vật cho học sinh
Kênh hình thường được ví như một “Hình chiếu” có đầy đủ về nội dung kiến thức trong sách giáo khoa Vì thế, nếu người dạy và người học biết khai thác triệt để lợi thế này thì hệ thống tranh ảnh, biểu đồ, bản đồ có ý nghĩa rất quan trọng trong quá trình truyền thụ tri thức
Kênh hình là một bộ phận của phương tiện dạy học Nó bao gồm: bản đồ giáo khoa (bản đồ treo tường và bản đồ trong sách giáo khoa), lược đồ, hình vẽ, lát cắt, tranh ảnh, biểu đồ, đồ thị, sơ đồ các mối quan hệ, bảng số liệu… Nó là phương tiện trực quan đồng thời là nguồn tri thức vô cùng phong phú giúp học sinh vừa rèn luyện kĩ năng phát triển nhận thức và tư duy địa lí
1.1.1.2 Vai trò của kênh hình
Trong dạy học địa lí, kênh hình có vai trò hết sức quan trọng Nó vừa là nguồn tri thức vô tận cho học sinh tìm hiểu vừa là phương tiện để học sinh tiếp cận với tri thức Giúp cho giáo viên thuận tiện hơn trong quá trình giảng dạy trên lớp và hướng dẫn học sinh làm bài tập
Kênh hình làm nhiệm vụ kép: Vừa đóng vai trò cung cấp thông tin, là nguồn tri thức quan trọng của bài học, vừa đóng vai trò chỉ dẫn phương pháp học tập cho HS sao cho khai thác tri thức được hiệu quả nhất
Trang 14Kênh hình có vai trò quan trọng trong tất cả các bước lên lớp của giáo viên, từ chuẩn bị giáo án đến khi lên lớp dạy bài mới và kiểm tra kiến thức của học sinh
Trong khâu thiết kế giáo án: Kênh hình giúp cho giáo viên có thể mở rộng thêm kiến thức và tìm hiểu thêm kiến thức mới trong kênh hình Giúp cho giáo viên xác định được các phương pháp giảng dạy trên lớp sao cho có hiệu quả cao nhất
Trong bước dạy bài học mới: Khi giảng bài giáo viên hướng dẫn học sinh khai thác kênh hình để học sinh dần dần hình thành các khái niệm, biểu tượng địa lí, chuyển từ kiến thức trừu tượng và khó hiểu thành những kiến thức gần gũi
và thực tế với các em Giúp giáo viên tổ chức quá trình học tập một các tích cực, chủ động, sáng tạo cho học sinh
Trong bước kiểm tra, đánh giá và củng cố kiến thức cho học sinh: Qua các thao tác làm việc với kênh hình, giáo viên sử dụng kênh hình để củng cố kiến thức và đánh giá kết quả học tập của học sinh
- Đối với học sinh
Kênh hình giúp học sinh có sự thích thú, say mê học tập và lĩnh hội kiến thức nhanh hơn Giúp học sinh rèn luyện kĩ năng quan sát, phân tích các biểu tượng, các khái niệm trong bài học
Quan sát kênh hình giúp học sinh hình thành trí tưởng tượng và phát triển trí năng lực tư duy, óc sáng tạo của học sinh Giúp học sinh hiểu và áp dụng được kiến thức trong bài học vào thực tế
1.1.2 Phân loại kênh hình
Có nhiều cách phân loại kênh hình khác nhau, dựa vào hình thái và mục đích sử dụng, một số tác giả chia kênh hình thành ba loại:
địa lí, bảng số liệu thống kê…
Trang 15Hiện nay, một số tác giả chia kênh hình thành hai loại: Kênh hình truyền thống và kênh hình hiện đại
lược đồ, bảng số liệu thống kê, tranh ảnh, mô hình, hình vẽ…
Máy chiếu, băng hình, máy vi tính, các phần mềm địa lí, phòng thí nghiệm…
1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài
1.2.1 Đặc điểm chương trình sách giáo khoa Địa lí lớp 5
1.2.1.1 Mục tiêu
Chương trình môn Địa lí ở trường Tiểu học có mục tiêu chung chủ yếu sau: Góp phần hoàn thiện nhân cách cho HS để đáp ứng mục tiêu giáo dục và phát triển con người Việt Nam trong thời kì công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước
Tạo điều kiện để HS có thể tiếp tục học lên những bậc cao hơn thuộc lĩnh vực khoa học tự nhiên hay lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn
Củng cố kiến thức và phát triển một số năng lực chủ yếu của HS đã được hình thành ở các lớp dưới:
Mục tiêu chương trình Địa lí lớp 5:
Nhận biết được một số đặc điểm khái quát về đặc điểm tự nhiên của Việt Nam và hoạt động sản xuất ở các lĩnh vực như: Nông nghiệp, công nghiệp, lâm nghiệp…
Đặc điểm địa hình và đặc điểm dân cư ở một số nước và các châu lục trên thế giới
Vận dụng được một số kĩ năng đơn giản về bản đồ (hiểu được nội dung bản đồ, đọc tên, địa danh một số đối tượng…) và tranh, ảnh địa lí
Trang 16Quan tâm đến một số vấn đề về tự nhiên, dân cư, hoạt động kinh tế và môi trường đang đặt ra cho đất nước, cho thế giới và một số nước
1.2.1.2 Nội dung
Hệ thống bài giảng Địa lí lớp 5 gồm có 29 bài Trong đó có 16 bài địa lí Việt Nam và 13 bài địa lí Thế giới Theo phân phối chương trình thì tổng số tiết
là 35 trong đó có 29 tiết học bài mới, 6 tiết ôn tập và kiểm tra
- Phần Địa lí Việt Nam:
Phần này có những nội dung cơ bản sau:
và khoáng sản, khí hậu và sông ngòi, đặc điểm về vùng biển, đất và rừng
nước ta
trồng trọt và Địa lí ngành chăn nuôi
ta và tên sản phẩm cuả một số ngành công nghiệp Một số đặc điểm về nghề thủ công Sự phân bố các khu công nghiệp trên đất nước ta
loại hình giao thông, thông tin liên lạc, thương mại và du lịch
- Phần Địa lí Thế giới
Phần này có những nội dung cơ bản sau:
xuất kinh tế của Châu Á
dân cư của các nước láng giềng Việt Nam gồm có: Campuchia, Lào, Trung Quốc
hoạt động kinh tế ở Châu Âu Giới thiệu về vị trí địa lí, đặc điểm dân cư và các hoạt động sản xuất kinh tế của Liên bang Nga và nước Pháp
Trang 17hoạt động sản xuất kinh tế của nước Ai Cập
hoạt động kinh tế ở Châu Mĩ Giới thiệu về vị trí địa lí, đặc điểm dân cư và các hoạt động sản xuất kinh tế của đất nước Hoa Kì
hoạt động kinh tế ở Châu Đại Dương và Châu Nam Cực
1.2.1.3 Đặc điểm sách giáo khoa Địa lí lớp 5
Về cấu trúc, SGK Địa lí lớp 5 theo chương trình chuẩn gồm 29 bài, trong
đó có 4 bài ôn tập
Về nội dung và hình thức trình bày, SGK Địa lí lớp 5 được thiết kế thành các bài học tương đối độc lập và ứng với mỗi bài là 1 tiết Có hai loại bài trong SGK Địa lí lớp 5 Đó là bài lí thuyết và bài ôn tập
- Các bài lí thuyết đều có kênh hình, kênh chữ, câu hỏi giữa bài và cuối bài
giúp HS nhanh chóng phát hiện được các xu thế hay đặc điểm chủ yếu nhất của
sự vật Một số sơ đồ, lược đồ còn thể hiện cả mối quan hệ qua lại giữa các hiện tượng địa lí, quá trình địa lí Hệ thống lược đồ, bản đồ được xây dựng tương đối
đa dạng, phong phú và phù hợp nội dung kênh chữ trong SGK
phát triển và đặc điểm của các hiện tượng địa lí mà người học cần tìm hiểu Mỗi bài học được chia thành các đề mục lớn (từ 2 đến 3 đề mục) ứng với các đơn vị kiến thức mà HS cần phải nắm Kênh chữ kết hợp với kênh hình có mối quan hệ chặt chẽ với nhau
Các câu hỏi giữa bài giúp HS tự tìm kiến thức trong quá trình học tập, nhất
là những câu hỏi yêu cầu vận dụng kiến thức đã học, các hiểu biết của bản thân, các kiến thức của các môn học có liên hoặc các câu hỏi để khai thác kênh hình
Câu hỏi và bài tập cuối bài là các câu hỏi và bài tập chỉ ra những kiến thức
Trang 18Các bài ôn tập:
Xác định vị trí, mối quan hệ giữa các đối tượng với nhau trên bản đồ hay lược đồ
sử dụng những kĩ năng, kĩ xảo của mình để thực hiện trả lời các câu hỏi bài tập
1.2.2 Đặc điểm tâm sinh lí của học sinh lớp 5
Ở độ tuổi Tiểu học, trẻ vẫn còn thích ham chơi nhưng hoạt động đem lại nhiều ý nghĩa cho sự phát triển tâm lí là hoạt động học tập Hoạt động học tập là hoạt động chủ đạo thúc đẩy cho sự phát triển về tâm lí và trí tuệ của HS qua khả năng quan sát, nhận dạng các sự vật trong cuộc sống và trong học tập
Một đặc điểm của HS là tính đại khái, nhận thức vấn đề một cách sơ sài, bỏ sót một số chi tiết khi đọc thông tin trong sách Sự chú ý của HS dễ bị phân tán
do tập trung kém, dễ bị nhiễu bởi các tác động mới lạ, trí nhớ tốt nhưng cách ghi nhớ máy móc theo kiểu học vẹt Nên GV cần hướng dẫn HS cách lựa chọn thông tin và cách ghi nhớ kiến thức sao cho phù hợp với lứa tuổi của các em, tránh gây áp lực cho HS khi tiếp thu kiến thức
Về tư duy các em dần hình thành các kĩ năng phân tích, tư duy lôgic và biết vận dụng các khái niệm, các biểu tượng đã biết vào giải các bài tập, giải thích về các hiện tượng tự nhiên ở thế giới xung quanh Học sinh Tiểu học có
tư duy trực quan cụ thể, nên khi dạy cần có hình ảnh âm thanh để các em học tốt hơn
Đối với học sinh lớp 5 thì các em đã bước đầu làm quen với những kiến thức địa lí đại cương được tích hợp trong kiến thức cả hai chủ đề khoa học Tự nhiên và Xã hội từ các lớp 1, 2, 3 Nội dung địa lí qua các bài này giúp HS nhận biết và thích ứng với các sự vật, hiện tượng địa lí gần gũi với môi trường xung quanh nơi các em đang sống Nội dung chương trình Địa lí lớp 4 giúp các em nắm những kiến thức cơ bản về bản đồ và các vấn đề về thiên nhiên, hoạt động sản xuất của con người ở các vùng miền trên cả nước Ở lớp 5 các em được tiếp
Trang 19tục khai thác sâu hơn về kiến thức địa lí và đi vào giải thích, tìm hiểu các hiện tượng địa lí, phạm vi kiến thức nhiều hơn so với các lớp dưới và đòi hỏi phải thể hiện được khả năng khái quát hóa kiến thức cao hơn ở các lớp dưới
Với đặc điểm tâm sinh lí và khả năng nhận thức của các em như trên nên việc sử dụng kênh hình một cách khoa học trong giảng dạy và trong học tập là điều cần thiết và quan trọng Từ đó giúp các em nắm được các bản chất của sự vật, hiện tượng địa lí thông qua những biểu tượng trực quan Khai thác kênh hình một cách khoa học sẽ tạo cơ hội để HS thể hiện tính tích cực, chủ động tìm tòi ra tri thức mới
1.2.3 Thực trạng sử dụng và khai thác kênh hình trong giảng dạy Địa lí 5 hiện nay
Hiện nay, việc sử dụng kênh hình trong dạy học Địa lí nói chung và dạy học Địa lí lớp 5 nói riêng còn ít hiểu quả, phần lớn sử dụng một số lược đồ, biểu đồ trong SGK và trong quá trình phân tích biểu đồ và bảng số liệu trên lớp còn rất hạn chế Việc sử dụng các kênh hình trong SGK và kênh hình trong các phương tiện kĩ thuật và các tài liệu tham khảo khác hầu như không được sử dụng triệt để
Việc hướng dẫn học sinh khai thác kênh hình ở trên lớp, rất ít GV chú trọng đến, nên đa số HS còn lúng túng khi phân tích các lược đồ, biểu đồ, các bảng số liệu thống kê và chưa rút ra kết luận từ những kênh hình quan sát được Nguyên nhân của tình trạng trên:
nói chung và môn Địa lí lớp 5 nói riêng, nên chủ yếu chỉ coi là phương tiện trực quan đơn thuần Chưa thấy được từ biểu đồ có thể khai thác được nhiều thông tin, kiến thức, rèn luyện cho HS những kĩ năng phân tích bản đồ, lược đồ và bảng số liệu, rút ra kết luận
nhiều thuật ngữ khó nên thời gian phân tích và khai thác kênh hình còn rất khiêm tốn và hiệu quả chưa cao
Trang 20 Học sinh chưa có sự hứng thú khi học các bài có sử dụng kênh hình Vì kênh hình còn khá nhiều kí hiệu và khá phức tạp nên HS cần được hướng dẫn cách khai thác và sử dụng kênh hình
Giáo viên có những phương pháp phù hợp khi khai thác kênh hình sẽ giúp
HS tiếp cận được với thông tin trong kênh hình đầy đủ và chính xác hơn, giúp
HS yêu thích tự hình thành cho mình phương pháp học tập thích hợp và đạt được kết quả cao
Trang 21
CHƯƠNG 2 CÁCH KHAI THÁC KÊNH HÌNH TRONG DẠY HỌC ĐỊA LÍ LỚP 5
2.1 Khái quát về kênh hình sách giáo khoa Địa lí lớp 5
2.1.1 Đặc điểm kênh hình sách giáo khoa lớp 5
Kênh hình trong SGK Địa lí 5 là phần quan trọng trong việc hình thành và
hệ thống kiến thức Địa lí 5 Kiến thức trong SGK Địa lí 5 được trình bày dưới hai hình thức Trình bày kiến thức ở kênh chữ và trình bày một lượng kiến thức tương đối lớn ở kênh hình trong các lược đồ, biểu đồ, hình ảnh… Có kèm theo câu hỏi yêu cầu HS khai thác các thông tin từ kênh hình để trả lời câu hỏi và nắm được kiến thức của bài Đồng thời GV cũng phải có những cách hướng dẫn và phương pháp hướng dẫn HS khai thác được các kênh hình một cách hiệu quả nhất
Hệ thống kênh hình trong SGK Địa lí 5 được lựa chọn cẩn thận, có những kiến thức và thông tin cơ bản được sắp xếp theo mạch kiến thức của từng bài Kênh hình còn thể hiện những kiến thức khó hiểu lôgic với nhau mà kênh chữ không thể hiện được
Kênh hình SGK Địa lí 5 được trình bày bằng những hình ảnh rõ nét có tính thẩm mĩ cao (Ví dụ: Các hình ảnh về hoạt động khai thác than hay lược đồ về địa hình và khoáng sản Việt Nam, thông qua những kí hiệu về các loại khoáng sản được thể hiện bằng màu sắc khác nhau, góp phần kích thích sự tò mò và tạo hứng thú cho các em khi học hay tiếp xúc với kiến thức thông qua kênh hình) Nội dung của bài học được thể hiện bằng kênh hình và kênh chữ Nên số lượng kênh hình và kênh chữ phải đảm bảo yêu cầu về mặt kiến thức và tính thẩm mĩ đã được quy định trong chương trình Số lượng kênh hình trong các bài
về cơ bản là tương đương nhau, hầu hết bài nào cũng có từ 2 – 3 kênh hình, không có sự chênh lệch quá lớn giữa các bài trong SGK
Trang 22
Bảng 2.1: Số lượng các loại kênh hình trong SGK Địa lí 5
2.1.2 Yêu cầu về các loại kênh hình trong dạy học Địa lí
Trong dạy học Địa lí nói chung, phương tiện dạy học là một trong những nhân tố quan trọng bên cạnh các nhân tố khác như mục đích, nhiệm vụ, nội dung dạy học, hoạt động của giáo viên – học sinh Các nhân tố này có sự kết hợp chặt chẽ tạo thành một thể thống nhất có mối quan hệ biện chứng với nhau để thúc đẩy quá trình dạy học đạt được mục đích nhất định
Vì vậy, kênh hình Địa lí phải có những yêu cầu nhất định để phù hợp với quá trình dạy và học, cũng như các nhân tố giáo dục khác Để việc khai thác kênh hình trong dạy học Địa lí đạt hiệu quả cao nhất thì kênh hình phải đáp ứng được các yêu cầu sau:
- Tính sư phạm:
Kênh hình được sử dụng trong dạy học Địa lí phải có tính sư phạm nghĩa là: GV giúp HS tiếp thu được kiến thức và giúp HS hình thành các kĩ năng, kĩ xảo để HS có thể tự học, tự nghiên cứu và củng cố kiến thức dưới sự hướng dẫn của GV
Kênh hình còn giúp cho GV có thể sử dụng linh hoạt các phương pháp dạy học khác nhau trong giờ giảng để gây hứng thú cho HS như: Phương pháp đàm thoại, phương pháp thảo luận… Thông qua kênh hình, GV truyền đạt kiến thức đến HS một cách ngắn gọn và dễ hiểu nhất
Trang 23Người GV cần phải biết sử dụng kênh hình hợp lí, biết cách lựa chọn thời điểm sử dụng kênh hình để gây hứng thú trong giờ dạy, tránh gây nhàm chán và mất tập trung khi HS quan sát kênh hình
- Tính trực quan:
Khi sử dụng kênh hình Địa lí trong dạy học GV cần phải chú ý đến các vấn
đề như: Học sinh có quan sát được rõ ràng hay không, có phù hợp với các hoạt động trước lớp và hoạt động nhóm hay không Bởi thế, kênh hình phải phù hợp với nội dung của bài, kích thước phù hợp để HS có thể quan sát rõ ràng và đầy
đủ nội dung mà kênh hình thể hiện
- Tính khoa học:
Tính khoa học của kênh hình trong dạy học địa lí đảm bảo yêu cầu Các hiện tượng địa lí được thể hiện thông qua kênh hình cần phải phản ánh một cách chân thực các sự vật, hiện tượng thực tế một cách chính xác và khoa học
Trong mỗi kênh hình cũng mang tính khoa học có nội dung, bố cục và hình thức nhất định Các kênh hình đó thống nhất và có mối liên hệ chặt chẽ với nhau
- Tính thẩm mĩ:
Những đường nét, màu sắc và hình khối của mỗi loại kênh hình phải đảm bảo hài hòa và cân đối chính là đảm bảo tính thẩm mĩ, giúp khơi dậy sự tò mò và hứng thú trong học tập
- Tính khả dụng:
Căn cứ vào đặc điểm cơ sở vật chất và trang thiết bị của từng trường mà
GV lựa chọn những kênh hình sao cho phù hợp với nội dung học và đặc điểm riêng của mỗi trường Dễ sử dụng trong các tiết học và đảm bảo thể hiện được nội dung của bài học
Ở những vùng núi không có các phương tiện dạy học hiện đại thì GV cần tự mình tìm tòi, sáng tạo ra đồ dùng học tập để phục vụ trong giảng dạy Với các trường có cơ sở vật chất hiện đại thì GV cần tìm hiểu tác dụng và khai thác tối
đa các phương tiện dạy học đó trong quá trình giảng dạy
Trang 242.2 Các phương pháp khai thác kênh hình trong dạy học Điạ lí lớp 5 theo hướng tích cực
Tích cực trong học tập có nghĩa là hoàn thành một cách chủ động, tự giác,
có nghị lực, có hướng đích rõ rệt, có sáng kiến và đầy hào hứng, những hành động trí óc và chân tay nhằm nắm vững kiến thức, kỹ năng và kỹ xảo, vận dụng chúng vào trong học tập và trong thực tiễn
Trong học tập, HS cần phải chủ động và tự tìm tòi kiến thức mới trong các nguồn tài liệu, các phương tiện thiết bị học tập khác nhau dưới sự hướng dẫn của
GV Trong dạy học Địa lí 5 hiện nay, việc tổ chức cho HS làm việc với kênh hình có thể tiến hành bằng một sô kiến thức sau:
2.2.1 Đàm thoại với kênh hình
Phương pháp đàm thoại (vấn đáp) là phương pháp giáo viên khéo léo đặt hệ thống câu hỏi để HS trả lời nhằm gợi mở cho HS sáng tỏ những vấn đề mới; tự khai phá những tri thức mới bằng sự tái hiện những tài liệu đã học hoặc từ những kinh nghiệm đã tích lũy được trong cuộc sống, nhằm giúp HS củng cố và tái hiện lại kiến thức
Khi làm việc với kênh hình trong SGK, học sinh phải thực hiện trả lời các câu hỏi và thực hiện các yêu cầu gắn với hình Các câu hỏi gắn với hình trong SGK Địa lí 5 chủ yếu là quan sát và nhận xét (hoặc phát hiện sự vật, hiện tượng
ở trong hình)
Ví dụ: Hình 1 (SGK trang 102)
Trang 25GV có thể đặt ra hệ thống câu hỏi cho HS khai thác hình như sau :
Sau khi HS trả lời các câu hỏi mà GV vừa nêu ra, GV chốt lại: Hình 1 thể hiện tên của 5 châu lục trên Trái Đất là: Châu Á, châu Âu, châu Phi, châu Mĩ, châu Đại dương, châu Nam Cực Các đại dương trên Trái Đất gồm có: Thái Bình Dương, Đại Tây Dương, Ấn Độ Dương, Bắc Băng Dương
Đường xích đạo đi qua 3 châu lục đó là: Châu Mĩ, châu Phi, châu Á
Vị trí địa lí của châu Á: Lãnh thổ trải dài từ vùng gần cực Bắc đến quá xích đạo Giáo viên nhắc lại các đới khí hậu khác nhau của Trái Đất từ đó GV mở rộng thêm kiến thức cho HS, giúp HS biết được châu Á có các đới khí hậu: Hàn đới, ôn đới, nhiệt đới
Khi đặt câu hỏi cho HS, GV cần chú ý phân loại câu hỏi cho nhiều đối tượng HS trong lớp nhằm lôi cuốn và thu hút mọi đối tượng HS
2.2.2 Tổ chức cho học sinh thảo luận với kênh hình
Thảo luận là sự trao đổi ý kiến về một chủ đề giữa học sinh với giáo viên hoặc giữa học sinh với học sinh
Mục đích của thảo luận là để khuyến khích sự phân tích một vấn đề hoặc các ý kiến bàn luận khác nhau của học sinh và trong những trường hợp nhất định, nó mang lại sự thay đổi thái độ của người tham gia
Khi cho HS quan sát hay nhận xét về một bản đồ, một lược đồ hay một hình ảnh, các em dễ có những ý kiến không nhất quán khi nhận xét và trả lời các câu hỏi liên quan Phương pháp thảo luận sẽ giúp các em có cơ hội bày tỏ quan điểm của mình và cùng đưa ra một kết quả thống nhất Phương pháp thảo luận rất thích hợp với kênh hình
Trang 26Ví dụ : Hình 3 và hình 4 ( Bài 15 Thương mại và Du lịch SGK trang 98)
Hình 3 Bãi biển Vũng Tàu Hình 4 : Nhã nhạc cung đình Huế
Yêu cầu HS quan sát hình và trả lời câu hỏi :
lịch ở nước ta ?
tăng lên ?
Sau khi HS thảo luận và đưa ra ý kiến của mình, GV chốt lại kiến thức cho
HS về một số điều kiện để phát triển du lịch ở nước ta như là: Có các bãi biển dài, phong cảnh đẹp và bãi tắm tốt có giá trị để khai thác tiềm năng du lịch Có các công trình kiến trúc và di tích lịch sử nổi tiếng như Kinh thành nhà Nguyễn
ở thành phố Huế có nhã nhạc cung đình Huế Ở Hà Nội có Văn Miếu – Quốc Tử Giám, Hồ Hoàn Kiếm, Chùa Một Cột Nước ta có những dự án đầu tư phát triển
du lịch thu hút lượng khách du lịch ở trong nước và ngoài nước
2.2.3 Tổ chức trò chơi học tập với kênh hình
Đối với HS tiểu học, học tập là hoạt động chủ đạo, tuy nhiên vui chơi vẫn chiếm vị trí lớn trong đời sống của các em Theo tinh thần đổi mới phương pháp dạy học ở tiểu học, trò chơi được xem là hình thức tổ chức dạy học được khuyến khích sử dụng nhằm gây hứng thú học tập, giảm sự căng thẳng cho HS, góp phần nâng cao hiệu quả tiết học Trò chơi học tập có tác dụng phát huy tính tích
Trang 27Trong số các hình của SGK Địa lí 5 có một số hình tương đối đơn giản, có thể giao cho HS nhiệm vụ đơn giản và yêu cầu các em thi đua (theo cá nhân hoặc theo nhóm) trả lời Nhóm nào có câu trả lời nhanh và đúng nhiều nhất thì
sẽ giành chiến thắng
Ví dụ: Hình 1 Bài 4: Sông ngòi (SGK trang 75)
Trang 28Giáo viên tổ chức cho HS thi giữa các nhóm viết tên những con sông được nêu trong lược đồ Nhóm nào viết xong thì gắn kết quả lên trên bảng, nhóm nào nêu đầy đủ tên các con sông và nhanh nhất thì sẽ giành chiến thắng
2.2.4 Các loại bản đồ giáo khoa chủ yếu đƣợc sử dụng trong dạy học chủ đề địa lí ở lớp 5
2.2.4.1 Bản đồ giáo khoa treo tường
Bản đồ giáo khoa treo tường là loại bản đồ dùng để giảng dạy và học ở trên lớp Nó được dùng để giảng dạy và học tập trong phần địa lí Việt Nam và phần địa lí Thế giới
Bản đồ treo tường có hệ thống kí hiệu lớn, chữ viết to màu sắc sặc sỡ, đẹp
có màu sắc tương phản phù hợp với điểm tâm sinh lí của lứa tuổi Tiểu học Nên lượng thông tin khoa học phải tương xứng với tỉ lệ của bản đồ, các đối tượng địa
lí trên bản đồ được tổng quát hóa cao và các đối tượng đó phải có tính trực quan cao, gây hứng thú cho việc học tập địa lí Nội dung kiến thức và phương pháp trình bày phải phù hợp với tâm sinh lí lứa tuổi, thị lực và trình độ nhận thức của từng lớp học Vì ở bậc Tiểu học tư duy của các em mang tính trực quan sinh động, đi từ những hình ảnh cụ thể, trực quan, hiện tượng mà mình quan sát được
để dần dần hình thành nên khái niệm và kiến thức về sự vật đó
Bản đồ treo tường được giáo viên và học sinh sử dụng trong giảng dạy và học bài mới, ôn tập và kiểm tra kiến thức cũ Bản đồ treo tường được sử dụng kết hợp với bản đồ, biểu đồ, lược đồ trong sách giáo khoa
Vì khuôn khổ sách giáo khoa nhỏ, bản đồ trong sách giáo khoa thường có tỉ
lệ nhỏ nên nội dung thể hiện rất hạn chế Bản đồ trong sách giáo khoa dùng để minh họa nội dung bài học, giúp học sinh hình dung được kiến thức trình bày trong đó và bổ sung thêm những kiến thức mà sách giáo khoa chua đề cập đến
2.2.4.2 Sơ đồ
Sơ đồ là loại bản đồ có độ chính xác thấp, nội dung biểu hiện đơn giản, sơ
đồ không thể sử dụng để xác định vị trí đối tượng với độ chính xác tương ứng
Trang 292.3 Khai thác kênh hình trong dạy học địa lí lớp 5
2.3.1 Khai thác và sử dụng bản đồ
2.3.1.1 Bản đồ và đặc điểm cơ bản cuả bản đồ
Bản đồ là một phương tiện trực quan, một nguồn tri thức địa lí quan trọng Qua bản đồ, học sinh có thể nhìn một cách bao quát những khu vực lãnh thổ rộng lớn, những vùng lãnh thổ xa xôi trên bề mặt Trái đất mà họ chưa bao giờ có điều kiện đi đến tận nơi để quan sát
Mỗi bản đồ địa lí tồn tại trong mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành nó
Do đó muốn sử dụng tốt bản đồ, cần phải nhận rõ nội dung, vị trí và chức năng của từng yếu tố Nhìn trên bản đồ, yếu tố đầu tiên nhận thấy là yếu tố nội dung bản đồ Nội dung đó là những đối tượng, hiện tượng tự nhiên, kinh tế - xã hội Tùy theo mục đích, chủ đề và tỉ lệ bản đồ khác nhau mà nội dung bản đồ cũng khác nhau
Trên bản đồ còn có mạng lưới kinh tuyến và vĩ tuyến, hệ thống lưới trắc địa
cơ bản, những điểm độ cao đặc trưng được thể hiện theo một tỉ lệ nhất định và
bố cục bản đồ (khung, bảng chắp, trình bày bản đồ, ghi chú trong khung và ngoài khung) Đó là những cơ sở toán học của bản đồ Để giúp cho việc sử dụng thuận tiện, trên bản đồ còn có bảng chú giải Những nội dung được thể hiện trên bản đồ đều được giải thích trong bảng chú giải và ngược lại, những gì được giải thích trong chú giải đều được tìm thấy trên bản đồ Bảng chú giải là mọi chìa khóa cho bản đồ
Mục đích của bản đồ giáo khoa là phục vụ ngành giáo dục phổ thông, giáo dục chuyên nghiệp và đại học Nó rất cần cho việc dạy học ở các cấp học, bậc
Trang 30khoa phải đáp ứng, mục tiêu và phương pháp đào tạo, phù hợp với chương trình sách giáo khoa, phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi và trình độ học sinh Đồng thời thỏa mãn yêu cầu giáo dục thẩm mĩ và vệ sinh học đường
Nội dung của bản đồ giáo khoa được căn cứ vào nhiệm vụ, chức năng và tính chất của nó Nội dung dễ nhận thấy nhất là những hiện tượng địa lí được biểu hiện trên bản đồ Nhận biết nội dung địa lí của bản đồ bằng cách xem tên bản đồ Tên bản đồ bao gồm hai nội dung, hiện tượng địa lí trên bản đồ và không gian bao quát trên bản đồ Những hiện tượng địa lí được đưa lên bản đồ địa lí nói chung, mức độ khái quát, phương pháp thể hiện thì lại chịu sự chi phối của mục đích chức năng của bản đồ giáo khoa
Nội dung thứ hai cũng rất quan trọng là kĩ thuật bản đồ Những kí hiệu bản đồ, cơ sở toán học của bản đồ, những quy định và nguyên tắc thiết kế bản
đồ, không đơn thuần có nhiệm vụ như một công cụ để phản ánh nội dung khoa học địa lí của bản đồ Những phần này giúp cho học sinh tiếp cận đầy đủ hơn với tri thức
hiện các kí hiệu để tìm các đối tượng địa lí trên bản đồ
các đối tượng trên bản đồ
các đối tượng địa lí
Để khai thác bản đồ được hiệu quả thì GV và HS cần phải có các yếu tố
Trang 31Đối với giáo viên: Nắm được nội dung kiến thức trong bản đồ và có phương pháp hướng dẫn HS khai thác kiến thức từ bản đồ
vật trên bản đồ
địa hình và khí hậu; địa hình, khí hậu, sông ngòi; thiên nhiên và hoạt động sản xuất của con người
Ví dụ: Khai thác bản đồ sông ngòi (hình 1 Bài 4 Sông ngòi, SGK trang 75)
Trang 32 Bước 1: Đọc tên bản đồ:
“Sông ngòi Việt Nam” Mục đích là tìm hiểu các con sông lớn trên bản đồ
bản đồ
75) rồi điền tên một số con sông vào bảng sau:
lưới sông ngòi nước ta: (Đánh dấu X vào ở ý đúng)
Thưa thớt
Dày đặc, phân bố tập trung ở miền Bắc và miền Nam
Dày đặc, phân bố rộng khắp trên cả nước
GV hướng dẫn HS nhận xét các yếu tố như: sự chia cắt của địa hình, yếu tố
về thời tiết, khí hậu, con người có ảnh hưởng đến sự phân bố của mạng lưới sông ngòi nước ta
Qua quan sát bản đồ HS nhận xét: Nước ta có mạng lưới sông ngòi dày đặc
và phân bố rộng khắp cả nước Sông ngòi có vai trò quan trọng trong việc cung cấp nước sinh hoạt và xây dựng được các nhà máy thủy điện để phát triển kinh
Trang 332.3.2 Khai thác và sử dụng biểu đồ
2.3.2.1 Biểu đồ và đặc điểm cơ bản của biểu đồ
Biểu đồ là một trong những phương tiện quan trọng trong dạy học phân
môn địa lí ở trường Tiểu học nói chung và phân môn địa lí lớp 5 nói riêng Qua biểu đồ, giáo viên có thể minh họa, chứng minh cho bài giảng, nhưng quan trọng hơn là giáo viên hướng dẫn học sinh khai thác kiến thức, rèn luyện kĩ năng và
phát triển tư duy địa lí cho các em
“Biểu đồ là một hình vẽ cho phép mô tả một cách dễ dàng tiến trình của một hiện tượng (chẳng hạn diễn biến của nhiệt độ trung bình các tháng trong năm), mối tương quan về độ lớn giữa các đại lượng (chẳng hạn diện tích các châu lục, các nước), hoặc kết cấu thành phần của một tổng thể (ví dụ: Cơ cấu sản xuất, nhập khẩu)” [ 4 – trang 93]
Biểu đồ có một số đặc điểm cơ bản như:
Biểu đồ là một hình vẽ hay một cấu trúc đồ họa (chủ yếu dùng các kí hiệu hình học) để biểu hiện về chất lượng của một hiện tượng (trong đó mặt lượng có mối liên hệ chặt chẽ với mặt chất)
Biểu đồ biểu hiện mối quan hệ giữa các hiện tượng và các quá trình địa lí Qua các quan niệm trên, chúng ta có thể đưa ra khái niệm chung nhất về biểu đồ như sau:
Biểu đồ là cấu trúc đồ họa dùng để biểu hiện một cách trực quan số liệu thống kê về quá trình phát triển của hiện tượng, mối quan hệ về thời gian và không gian giữa các hiện tượng địa lí
Các biểu đồ có thể được xây dựng theo nhiều hình thức và thường bao gồm các loại sau:
hiện tượng
hình tròn… có diện tích tỉ lệ với độ lớn của hiện tượng
Nội dung, biểu đồ thường dùng trong nhà trường phổ thông gồm:
Trang 34 Biểu đồ về các hiện tượng tự nhiên, như diễn biến nhiệt độ, lượng mưa, lượng chảy của sông qua các tháng trong trong năm
phần dân tộc, tuổi, giới tính… mật độ dân số
ngành kinh tế qua các năm… cơ cấu của các ngành kinh tế khác nhau (cơ cấu công nghiệp, cơ cấu nông nghiệp, xuất nhập khẩu ), cơ cấu giá trị tổng sản phẩm quốc nội
Thông qua biểu đồ HS rèn được các kĩ năng như đọc số liệu, phân tích biểu
đồ HS khai thác được kiến thức từ biểu đồ và lĩnh hội kiến thức dễ dàng, đồng thời giữ được một ấn tượng khá sâu sắc đối với HS, có tác dụng phát huy tính tích cực hoạt động nhận thức, hoạt động thực hành của HS
2.3.2.2 Các loại biểu đồ chủ yếu được sử dụng trong dạy học chủ đề địa lí ở lớp 5
- Biểu đồ động thái là loại biểu đồ biểu hiện trực quan số liệu thống kê về quá trình phát triển, tốc độ phát triển, sự thay đổi cơ cấu của hiện tượng địa lí theo thời gian Biểu đồ động thái thể hiện quá trình phát triển của một hiện tượng theo thời gian
- Biểu đồ so sánh dùng để so sánh các hiện tượng địa lí KT-XH này với hiện tượng địa lí KT-XH khác, với hình thức biểu hiện phong phú: biểu đồ hình cột, biểu đồ miền…
+ So sánh hiện tượng ở thời gian khác nhau
+ So sánh hiện tượng ở không gian khác nhau
Mỗi loại biểu đồ đều có tác dụng riêng Vì vậy, trong quá trình dạy học trên lớp hay giao bài tập về nhà cho HS, GV phải lựa chọn biểu đồ thể hiện nội dung phù hợp và có phương pháp hợp lí giúp các em khai thác được các kiến thức từ biểu đồ
Trang 352.3.2.2 Quy trình sử dụng
Phân tích các biểu đồ cũng giống như việc phân tích các số liệu nhưng phân tích biểu đồ phải đòi hỏi các yêu cầu khó hơn ở HS các kĩ năng như: đọc biểu
đồ, có kiến thức về các số liệu thống kê thể hiện ở trên biểu đồ
Để khai thác các kiến thức địa lí từ biểu đồ, GV có thể hướng dẫn HS khai thác theo quy trình như sau:
Đọc tên biểu đồ và xác định biểu đồ thuộc loại biểu đồ nào?
GV hướng dẫn HS tìm hiểu nội dung và cách phân tích biểu đồ GV nhận xét hay giới thiệu về các kí hiệu hình học và hình thức trình bày nội dung kiến thức thể hiện trên biểu đồ
trong biểu đồ
Nhận xét về sự thay đổi và mối liên hệ giữa các hiện tượng trong biểu đồ Nhận xét về các giá trị nhỏ nhất và lớn nhất trong biểu đồ, sự tăng giảm nhanh hay chậm của các hiện tượng theo thời gian hoặc theo không gian Có sự so sánh giữa các hiện tượng đó với nhau như thế nào
GV sử dụng các hệ thống câu hỏi đã chuẩn bị sẵn để hướng HS vào nội dung của bài, từ đó rút ra kết luận đúng giúp HS dễ hiểu và tiếp thu nhanh nhất
GV yêu cầu HS nhắc lại cách phân tích nội dung kiến thức từ biểu đồ một lần nữa để HS khắc sâu thêm cách khai thác kiến thức từ biểu đồ, để HS hình thành thói quen khi làm việc với biểu đồ
Ví dụ: Khai thác biểu đồ hình cột (hình 1 Bài 14: Giao thông vận tải, SGK trang 96)
Trang 36Triệu tấn
Hình 1.Biểu đồ khối lượng hàng hóa vận chuyển phân theo loại hình
vận tải năm 2003
Biểu đồ khối lượng hàng hóa vận chuyển phân theo loại hình vận tải năm
2003 Đây là biểu đồ hình cột
GV đưa ra hệ thống câu hỏi để giúp HS khai thác biểu đồ:
“ Hãy cho biết đây là biểu đồ hình gì?”
Đây là biểu đồ hình cột
“Mỗi cột thể hiện những giá trị nào của loại hình giao thông vận tải?”
Cột màu tím thể hiện đường sắt, cột màu xanh lá cây thể hiện đường ô tô, cột màu xanh nhạt thể hiện đường sông, cột màu xanh đậm thể hiện đường biển
“Trục tung thể hiện giá trị gì? Trục hoành thể hiện giá trị nào?”
55,3
150
21,8 8,4
100
50
0
Đường sắt
Đường
ô tô
Đường sông
Đường biển
Trang 37 Bước 3: Giải thích các số liệu của biểu đồ
“Hãy so sánh các số liệu của mỗi cột trên bản đồ, từ đó so sánh khối lượng vận chuyển hàng hóa của mỗi loại hình vận tải trong năm 2003?”
Trong năm 2003 thì đường sắt vận chuyển được 8,4 triệu tấn, đường ô tô vận chuyển được 175,9 triệu tấn, đường sông vận chuyển được 55,3 triệu tấn, đường biển vận chuyển được 21,8 triệu tấn
Vậy từ các giá trị này ta thấy được đường ô tô vận chuyển được số lượng hàng hóa nhiều nhất, tiếp đến là đường sông, đứng thứ 3 là đường biển và cuối cùng là đường sắt
“Từ biểu đồ này ta so sánh được lượng hàng hóa mà các loại hình vận tải chuyên chở được đã nói lên điều gì?”
Hệ thống đường giao thông ở nước ta chủ yếu là đường bộ, giao thông ở các vùng sâu vùng xa và từ vùng này sang vùng khác còn có nhiều khó khăn vì
đó đều là địa hình đồi núi, rất khó khăn trong việc vận chuyển hàng hóa và đi lại nên đường ô tô rất thuận tiện cho việc di chuyển và chuyên chở hàng hóa
Qua biểu đồ ta thấy được nước ta có nhiều loại hình vận tải Nhưng, đường ô tô vận chuyển được nhiều hàng hóa nhất Giao thông nước ta đang được đầu tư thêm để nâng cao chất lượng vận chuyển và đi lại của các phương tiện giao thông
2.3.3 Khai thác và sử dụng sơ đồ
2.3.3.1 Sơ đồ và đặc điểm của sơ đồ
Sơ đồ là bức vẽ đơn giản để biểu diễn những nét chính của một sự vật, sự kiện hay hiện tượng nào đó Vì là bức vẽ đơn giản để biểu thị sự vật hay hiện tượng nên sơ đồ có tác dụng làm đơn giản hóa, vạch ra mối liên hệ hoặc tổng hợp kiến thức Nên việc sử dụng sơ đồ giúp cho HS có thể lĩnh hội bài học một cách dễ dàng và nhanh chóng
Sơ đồ có thể tóm tắt được nội dung bài học một cách ngắn gọn và tinh giản, qua đó HS không phải ghi nhớ máy móc một cách quá nhiều Khi học trên sơ đồ
HS hiểu bài nhanh hơn và HS rèn được kĩ năng phân tích và tổng hợp các kiến