PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của Đề tài Trong những năm gần đây, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam liên tục tăng, tốc độ tăng trưởng bình quân từ 2011 đến tháng 10/2015 là 18,2%. Các sản phẩm xuất khẩu chủ lực là dệt may, da giầy, thủ công mỹ nghệ, điện tử, nông sản và hải sản. Tuy nhiên, xuất khẩu của Việt Nam vẫn phần lớn dựa vào các sản phẩm phụ thuộc vào lao động, hàng hóa chủ yếu là gia công xuất khẩu, ít giá trị gia tăng. Do đó, kim ngạch xuất khẩu những năm vừa qua mặc dù tăng nhanh nhưng chưa tương xứng với tiềm năng của đất nước, chưa đảm bảo tính vững chắc, hiệu quả đạt được chưa cao. Trong các ngành công nghiệp xuất khẩu, ngành da giầy chiếm vị trí thứ tư về kim ngạch xuất khẩu, sau ngành điện thoại, dệt may và vi tính, sản phẩm điện tử. Năm 2015, tổng kim ngạch xuất khẩu da giầy của Việt Nam đạt 12,2 tỷ USD, chiếm 7% trong tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa các loại của cả nước, tăng 16,3% so với năm 2014. Trong 6 tháng đầu năm 2016, ngành da giầy xuất khẩu 6,27 tỷ USD, tăng 7,2% so với cùng kỳ năm 2015, dự kiến cả năm 2016 xuất khẩu đạt 14 tỷ USD. Từ năm 2013, Việt Nam đứng thứ ba thế giới với giá trị xuất khẩu trung bình hằng năm khoảng 10 tỷ USD, chiếm 8,5% thị phần xuất khẩu thế giới. Việt Nam đứng thứ ba (sau Trung Quốc và Indonexia ) trong số các nước xuất khẩu da giầy nhiều nhất vào EU, đứng thứ hai về xuất khẩu vào thị trường Mỹ. Kim ngạch xuất khẩu sang một số thị trường khác như Nhật Bản, Chile, Hy Lạp, Ba Lan cũng tăng mạnh. Tuy nhiên, dù là nước xuất khẩu lớn, nhưng năng lực xuất khẩu của các doanh nghiệp da giầy Việt Nam vẫn còn tồn tại nhiều yếu tố phát triển không bền vững chủ yếu là do sản xuất và xuất khẩu theo phương thức gia công, không chủ động được nguồn nguyên liệu, bị hạn chế về vốn và công nghệ. Ngoài ra, cơ cấu các thành phần tham gia ngành có sự chênh lệch rõ rệt, các doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vẫn chiếm 79,3% tỷ trọng xuất khẩu. Khối doanh nghiệp trong nước chủ yếu là gia công. Ngoài ra, do chủ yếu cạnh tranh bằng giá rẻ nên các sản phẩm xuất khẩu của Việt Nam thường bị áp đặt các rào cản thương mại. Hiện nay, dù Việt Nam đã là thành viên của WTO và đang tích cực tham gia TPP, FTA với EU nhưng Việt Nam cũng rất khó khăn trong việc tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu do chưa thực sự liên kết từ khâu thiết kế - nguyên phụ liệu - sản xuất - phân phối với các nước thành viên của WTO và TPP. Trong bối cảnh một loạt các hiệp định thương mại quan trọng đang trong giai đoạn hoàn tất, trong đó có Hiệp định Đối tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP), Hiệp định thương mại tự do Việt Nam-Liên minh châu Âu (EU), Việt Nam với Liên minh thuế quan Nga (Belarus - Kazakhstan), ngành da giầy Việt Nam đang đứng trước nhiều thuận lợi. Để ngành da giầy phát triển bền vững, các doanh nghiệp ngành da giầy Việt Nam cần chủ động hơn nữa trong việc tham gia chuỗi sản xuất toàn cầu, đa dạng nguồn cung nguyên liệu nhằm tận dụng ưu đãi từ các hiệp định thương mại, đồng thời cần có chiến lược nghiên cứu, nắm bắt thị hiếu tiêu dùng trên thế giới để cung cấp các sản phẩm mà thị trường cần, nâng cao hơn nữa giá trị gia tăng cho sản phẩm xuất khẩu. Nếu muốn nắm bắt cơ hội từ các hiệp định thương mại song phương và đa phương thì ngành da giầy Việt Nam phải xác định rõ được vai trò của ngành trong chuỗi sản xuất, phân phối toàn cầu, các điểm mạnh, hạn chế và xây dựng các giải pháp chiến lược tổng thể trong đó sản xuất để xuất khẩu vẫn là nhiệm vụ trọng tâm. Với những lý do trên, tác giả quyết định chọn đề tài: “Nâng cao năng lực xuất khẩu ngành da giầy Việt Nam sau khi Việt Nam gia nhập WTO” làm đề tài luận án tiến sỹ khoa học kinh tế của mình. 2. Mục đích và câu hỏi nghiên cứu Mục đích nghiên cứu của luận án là làm rõ khái niệm và hệ thống hóa những vấn đề lý luận về năng lực xuất khẩu, phân tích thực trạng và những yếu tố tác động đối với năng lực xuất khẩu của ngành da giầy Việt Nam trong bối cảnh gia nhập WTO và các hiệp định thương mại mới ký kết. Qua đó đánh giá triển vọng xuất khẩu trong điều kiện hội nhập và đề xuất các giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao năng lực xuất khẩu của ngành da giầy Việt Nam. Luận án cũng đề xuất quy trình cụ thể để doanh nghiệp trong ngành chủ động nâng cao năng lực xuất khẩu có hiệu quả nhất. 2.1 Các nhiệm vụ nghiên cứu cần hoàn thành Làm rõ khái niệm, các tiêu chí đánh giá, các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực xuất khẩu thông qua nghiên cứu, phân tích các mô hình đánh giá năng lực xuất khẩu. Nghiên cứu kinh nghiệm nâng cao năng lực xuất khẩu của Trung Quốc và Brazil. Vận dụng mô hình đánh giá năng lực xuất khẩu đã lựa chọn vào nghiên cứu thực trạng năng lực xuất khẩu ngành da giầy Việt Nam trong điều kiện tham gia WTO và các hiệp định FTA mới ký kết. Phân tích cơ hội và thách thức đối với năng lực xuất khẩu ngành da giầy trong xu thế tự do hóa thương mại Đề xuất các giải pháp nâng cao năng lực xuất khẩu ngành da giầy Việt Nam. 2.2 Các câu hỏi nghiên cứu được đặt ra Các mô hình, tiêu chí đánh giá và nhân tố ảnh hưởng đến năng lực xuất khẩu của một ngành là gì? Đâu là các bài học kinh nghiệm, thành công và không thành công mà Việt Nam có thể học hỏi từ các nước khác (Trung Quốc, Bra-xin)? Năng lực xuất khẩu của ngành da giầy Việt Nam hiện nay như thế nào và chịu ảnh hưởng của các nhân tố nào? Những cơ hội và thách thức đối với năng lực cạnh tranh xuất khẩu của ngành da giầy Việt Nam là gì? Cần có những giải pháp gì, cả vĩ mô và vi mô để nâng cao năng lực cạnh tranh xuất khẩu của ngành da giầy Việt Nam? 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3.1 Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hoạt động xuất khẩu của ngành da giầy và năng lực xuất khẩu da giầy Việt Nam trong bối cảnh gia nhập WTO và các hiệp định thương mại mới ký kết gần đây. Luận án cũng nghiên cứu việc tham gia các hiệp định tự do thương mại của Việt Nam để thấy được sự tác động và mối liên quan giữa việc tự do hóa thương mại với năng lực xuất khẩu của ngành da giầy 3.2 Phạm vi nghiên cứu: Về mặt thời gian, đề tài giới hạn phạm vi nghiên cứu kể từ khi Việt Nam đã gia nhập WTO đến nay và tầm nhìn đến năm 2030. Về phạm vi nội dung nghiên cứu, luận án không tập trung nghiên cứu hoạt động xuất khẩu da thành phẩm, cặp, túi xách, mà chỉ tập trung nghiên cứu hoạt động xuất khẩu sản phẩm giầy dép các loại. Đồng thời luận án cũng giới hạn nghiên cứu hoạt động xuất khẩu ngành da giầy của Trung Quốc và Bra-xin chứ không phải tất cả các nước. Về mặt không gian, đề tài nghiên cứu các hoạt động xuất nhập khẩu của ngành, các doanh nghiệp trong ngành từ Trung ương, địa phương, các khu công nghiệp.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
Trang 2MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT SỬ DỤNG TRONG LUẬN ÁN v
DANH MỤC BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ vi
PHẦN MỞ ĐẦU 1
PHẦN A: TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 6
1 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 6
2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam 8
3 Đánh giá tổng quan về tình hình nghiên cứu 13
PHẦN B: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 15
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC XUẤT KHẨU CỦA NGÀNH DA GIẦY 15
1.1 Những vấn đề lý luận về năng lực xuất khẩu 15
1.1.1 Khái niệm năng lực xuất khẩu 15
1.1.2 Các chỉ tiêu đánh giá năng lực xuất khẩu 17
1.1.3 Mô hình đánh giá năng lực xuất khẩu và các nhân tố ảnh hưởng 27
1.2 Sự cần thiết phải nâng cao năng lực xuất khẩu ngành da giầy Việt Nam 48
1.2.1 Năng lực xuất khẩu là yếu tố quyết định đến sự tồn tại và phát triển của ngành 48
1.2.2 Việc gia nhập WTO và các Hiệp định thương mại tự do tạo ra sức ép cạnh tranh đối với ngành da giầy Việt Nam 50
1.2.3 Nâng cao năng lực xuất khẩu ngành da giầy góp phần thúc đẩy sự phát triển của các ngành kinh tế khác, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa 52
1.3 Kinh nghiệm nâng cao năng lực xuất khẩu ngành da giầy của Trung Quốc và Brazil 53
1.3.1 Năng lực xuất khẩu ngành da giầy của Trung Quốc 53
1.3.2 Năng lực xuất khẩu ngành da giầy của Brazil 58
1.3.3 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 59
Trang 3CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG NĂNG LỰC XUẤT KHẨU NGÀNH DA
GIẦY VIỆT NAM SAU KHI GIA NHẬP WTO 64
2.1 Tổng quan về ngành da giầy của Việt Nam sau khi gia nhập WTO 64
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển 64
2.1.2 Khái quát về hoạt động sản xuất của ngành da giầy Việt Nam 66
2.1.3 Những đặc điểm cơ bản của ngành da giầy Việt Nam 72
2.1.4 Những cam kết của Việt Nam khi gia nhập WTO liên quan đến ngành da giầy 74
2.2 Tình hình xuất khẩu của ngành da giầy Việt Nam sau khi gia nhập WTO đến nay 77
2.2.1 Hoạt động xuất khẩu: 77
2.2.2 Chuỗi giá trị ngành da giầy Việt Nam 81
2.2.3 Một số thị trường chính 83
2.3 Đánh giá năng lực xuất khẩu ngành da giầy Việt Nam qua mô hình 4 bánh xe tương tác 90
2.3.1 Các yếu tố bên trong phạm vi ngành (Border-in issues) 91
2.3.2 Các yếu tố bên ngoài phạm vi ngành (Border-out issues) 94
2.3.3 Các yếu tố liên quan đến ngành (Border issues) 97
2.3.4 Các yếu tố phát triển (Development issues) 100
2.4 Kết luận chung về năng lực xuất khẩu ngành da giầy Việt nam 103
2.4.1 Kết quả đạt đuợc 103
2.4.2 Những tồn tại và hạn chế đối với xuất khẩu da giầy của Việt Nam .104
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC XUẤT KHẨU NGÀNH DA GIẦY VIỆT NAM 108
3.1 Triển vọng xuất khẩu và định hướng nâng cao năng lực xuất khẩu ngành da giầy Việt Nam trong thời gian tới 108
Trang 43.1.1 Quan điểm quy hoạch, định hướng phát triển của nhà nước đối với
ngành da giầy Việt Nam 108
3.1.2 Xuất khẩu của ngành da giầy Việt Nam khi tự do hoá thương mại ngày càng mở rộng 110
3.1.3 Mục tiêu và định hướng nâng cao năng lực xuất khẩu của ngành da giầy Việt nam 114
3.2 Các giải pháp nâng cao năng lực xuất khẩu ngành da giầy 116
3.2.1 Nhóm giải pháp đối với các yếu tố bên trong phạm vi ngành 116
3.2.2 Nhóm giải pháp đối với các yếu tố bên ngoài phạm vi ngành 122
3.2.3 Nhóm giải pháp đối với các yếu tố liên quan đến ngành 126
3.2.4 Nhóm giải pháp đối với các yếu tố phát triển 130
3.3 Các kiến nghị cụ thể nhằm thực hiện các giải pháp nâng cao năng lực xuất khẩu ngành da giầy 132
3.3.1 Đối với Nhà nước 132
3.3.2 Đối với Hiệp hội da giầy 134
3.4.3 Đối với các doanh nghiệp 134
KẾT LUẬN 143
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ 146
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 147
Trang 5DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT SỬ DỤNG TRONG LUẬN ÁN
Danh mục viết tắt bằng tiếng Anh
AFTA ASEAN Free Trade Area Khu vực mậu dịch tự do
ASEANAPEC Asia Pacific Economic
AEC ASEAN Economic Community Cộng đồng kinh tế ASEAN
EC European Community Cộng đồng châu Âu
LEFASO Vietnam Leather and
Danh mục viết tắt bằng tiếng Việt
CNHT Công nghiệp hỗ trợ
DNVN Doanh nghiệp Việt nam
DNNN Doanh nghiệp nhà nước
DNNVV Doanh nghiệp nhỏ và vừa
NLXK Năng lực xuất khẩu
Trang 6DANH MỤC BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ
Bảng biểu
Bảng 1.1: Bảng tổng kết các tiêu chí đánh giá năng lực xuất khẩu
Bảng 2.3: Cam kết thuế nhập khẩu của Việt Nam khi gia nhập
Bảng 2.4: Xuất khẩu hàng da giầy sang một số thị trường chính
Bảng 2.5: Những mặt hàng da giầy chính xuất khẩu của Việt Nam
Bảng 2.6 : Kim ngạch xuất khẩu da giầy của Việt Nam ở một số thị
Bảng 2.7: Số liệu kim ngạch nhập khẩu da giầy của Brazil từ thế
Bảng 3.4: Những yếu tố ảnh hưởng đến quyết định mở rộng thị
Trang 7Hình 2.3: Tỷ trọng nhập khẩu Da thuộc từ các nước trên thế giới
Hình 2.6: Xuất khẩu da giầy vào một số thị trường chính của Việt Nam 82
Hình 2.9: Đường cong giá trị gia tăng theo từng giai đoạn trong
Hình 2.11: Tỷ trọng xuất khẩu theo các loại hình của hàng da giầy
Hình 3.1: Mô hình xuất khẩu cho doanh nghiệp da giầy Việt Nam 140
Trang 8PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của Đề tài
Trong những năm gần đây, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam liên tục tăng, tốc
độ tăng trưởng bình quân từ 2011 đến tháng 10/2015 là 18,2% Các sản phẩm xuấtkhẩu chủ lực là dệt may, da giầy, thủ công mỹ nghệ, điện tử, nông sản và hải sản Tuynhiên, xuất khẩu của Việt Nam vẫn phần lớn dựa vào các sản phẩm phụ thuộc vào laođộng, hàng hóa chủ yếu là gia công xuất khẩu, ít giá trị gia tăng Do đó, kim ngạchxuất khẩu những năm vừa qua mặc dù tăng nhanh nhưng chưa tương xứng với tiềmnăng của đất nước, chưa đảm bảo tính vững chắc, hiệu quả đạt được chưa cao
Trong các ngành công nghiệp xuất khẩu, ngành da giầy chiếm vị trí thứ tư về kim
ngạch xuất khẩu, sau ngành điện thoại, dệt may và vi tính, sản phẩm điện tử Năm
2015, tổng kim ngạch xuất khẩu da giầy của Việt Nam đạt 12,2 tỷ USD, chiếm 7%trong tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa các loại của cả nước, tăng 16,3% so với năm
2014 Trong 6 tháng đầu năm 2016, ngành da giầy xuất khẩu 6,27 tỷ USD, tăng 7,2%
so với cùng kỳ năm 2015, dự kiến cả năm 2016 xuất khẩu đạt 14 tỷ USD
Từ năm 2013, Việt Nam đứng thứ ba thế giới với giá trị xuất khẩu trung bình hằngnăm khoảng 10 tỷ USD, chiếm 8,5% thị phần xuất khẩu thế giới Việt Nam đứng thứ
ba (sau Trung Quốc và Indonexia ) trong số các nước xuất khẩu da giầy nhiều nhất vào
EU, đứng thứ hai về xuất khẩu vào thị trường Mỹ Kim ngạch xuất khẩu sang một sốthị trường khác như Nhật Bản, Chile, Hy Lạp, Ba Lan cũng tăng mạnh
Tuy nhiên, dù là nước xuất khẩu lớn, nhưng năng lực xuất khẩu của các doanhnghiệp da giầy Việt Nam vẫn còn tồn tại nhiều yếu tố phát triển không bền vững chủyếu là do sản xuất và xuất khẩu theo phương thức gia công, không chủ động được
nguồn nguyên liệu, bị hạn chế về vốn và công nghệ Ngoài ra, cơ cấu các thành phần
tham gia ngành có sự chênh lệch rõ rệt, các doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài(FDI) vẫn chiếm 79,3% tỷ trọng xuất khẩu Khối doanh nghiệp trong nước chủ yếu làgia công Ngoài ra, do chủ yếu cạnh tranh bằng giá rẻ nên các sản phẩm xuất khẩu củaViệt Nam thường bị áp đặt các rào cản thương mại Hiện nay, dù Việt Nam đã là thànhviên của WTO và đang tích cực tham gia TPP, FTA với EU nhưng Việt Nam cũng rấtkhó khăn trong việc tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu do chưa thực sự liên kết từ khâuthiết kế - nguyên phụ liệu - sản xuất - phân phối với các nước thành viên của WTO vàTPP
Trang 9Trong bối cảnh một loạt các hiệp định thương mại quan trọng đang trong giai đoạnhoàn tất, trong đó có Hiệp định Đối tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương(TPP), Hiệp định thương mại tự do Việt Nam-Liên minh châu Âu (EU), Việt Nam vớiLiên minh thuế quan Nga (Belarus - Kazakhstan), ngành da giầy Việt Nam đang đứngtrước nhiều thuận lợi
Để ngành da giầy phát triển bền vững, các doanh nghiệp ngành da giầy Việt Namcần chủ động hơn nữa trong việc tham gia chuỗi sản xuất toàn cầu, đa dạng nguồncung nguyên liệu nhằm tận dụng ưu đãi từ các hiệp định thương mại, đồng thời cần cóchiến lược nghiên cứu, nắm bắt thị hiếu tiêu dùng trên thế giới để cung cấp các sảnphẩm mà thị trường cần, nâng cao hơn nữa giá trị gia tăng cho sản phẩm xuất khẩu.Nếu muốn nắm bắt cơ hội từ các hiệp định thương mại song phương và đa phương thìngành da giầy Việt Nam phải xác định rõ được vai trò của ngành trong chuỗi sản xuất,phân phối toàn cầu, các điểm mạnh, hạn chế và xây dựng các giải pháp chiến lượctổng thể trong đó sản xuất để xuất khẩu vẫn là nhiệm vụ trọng tâm Với những lý do
trên, tác giả quyết định chọn đề tài: “Nâng cao năng lực xuất khẩu ngành da giầy
Việt Nam sau khi Việt Nam gia nhập WTO” làm đề tài luận án tiến sỹ khoa học
kinh tế của mình
2 Mục đích và câu hỏi nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận án là làm rõ khái niệm và hệ thống hóa nhữngvấn đề lý luận về năng lực xuất khẩu, phân tích thực trạng và những yếu tố tácđộng đối với năng lực xuất khẩu của ngành da giầy Việt Nam trong bối cảnh gianhập WTO và các hiệp định thương mại mới ký kết Qua đó đánh giá triển vọngxuất khẩu trong điều kiện hội nhập và đề xuất các giải pháp và kiến nghị nhằmnâng cao năng lực xuất khẩu của ngành da giầy Việt Nam Luận án cũng đề xuấtquy trình cụ thể để doanh nghiệp trong ngành chủ động nâng cao năng lực xuấtkhẩu có hiệu quả nhất
2.1 Các nhiệm vụ nghiên cứu cần hoàn thành
Làm rõ khái niệm, các tiêu chí đánh giá, các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực xuấtkhẩu thông qua nghiên cứu, phân tích các mô hình đánh giá năng lực xuất khẩu
Nghiên cứu kinh nghiệm nâng cao năng lực xuất khẩu của Trung Quốc và Brazil.Vận dụng mô hình đánh giá năng lực xuất khẩu đã lựa chọn vào nghiên cứu thựctrạng năng lực xuất khẩu ngành da giầy Việt Nam trong điều kiện tham gia WTO vàcác hiệp định FTA mới ký kết
Trang 10Phân tích cơ hội và thách thức đối với năng lực xuất khẩu ngành da giầy trong xuthế tự do hóa thương mại
Đề xuất các giải pháp nâng cao năng lực xuất khẩu ngành da giầy Việt Nam
2.2 Các câu hỏi nghiên cứu được đặt ra
Các mô hình, tiêu chí đánh giá và nhân tố ảnh hưởng đến năng lực xuất khẩu củamột ngành là gì?
Đâu là các bài học kinh nghiệm, thành công và không thành công mà Việt Nam cóthể học hỏi từ các nước khác (Trung Quốc, Bra-xin)?
Năng lực xuất khẩu của ngành da giầy Việt Nam hiện nay như thế nào và chịu ảnhhưởng của các nhân tố nào?
Những cơ hội và thách thức đối với năng lực cạnh tranh xuất khẩu của ngành dagiầy Việt Nam là gì?
Cần có những giải pháp gì, cả vĩ mô và vi mô để nâng cao năng lực cạnh tranhxuất khẩu của ngành da giầy Việt Nam?
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hoạt động xuất khẩu của ngành da giầy và nănglực xuất khẩu da giầy Việt Nam trong bối cảnh gia nhập WTO và các hiệp định thươngmại mới ký kết gần đây Luận án cũng nghiên cứu việc tham gia các hiệp định tự dothương mại của Việt Nam để thấy được sự tác động và mối liên quan giữa việc tự dohóa thương mại với năng lực xuất khẩu của ngành da giầy
Về mặt không gian, đề tài nghiên cứu các hoạt động xuất nhập khẩu của ngành,các doanh nghiệp trong ngành từ Trung ương, địa phương, các khu công nghiệp
4 Phương pháp nghiên cứu
4.1 Phương pháp luận nghiên cứu của Luận Án:
Trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩaMác-Lê Nin Các quan điểm chỉ đạo, định hướng của Đảng và Nhà nước về nền kinh
Trang 11tế thị trường, hội nhập kinh tế quốc tế và phát triển các ngành công nghiệp cũng là kimchỉ nam cho phương pháp luận nghiên cứu của Luận Án.
4.2 Các phương pháp nghiên cứu cụ thể
Để thực hiện luận án, NCS đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu tổng hợp, cụ thể:
- Phương pháp phân tích - tổng hợp: Phương pháp này được sử dụng trong tất cảcác chương của dự án, từ các số liệu, hoạt động cụ thể của ngành trong từng giai đoạn
cụ thể với những chính sách đặc thù, khái quát để phân tích, rút ra những vấn đề bảnchất, qua đó đánh giá, kết luận và đưa ra các kiến nghị đề xuất
- Phương pháp đối chiếu – so sánh: được sử dụng tại Chương I và Chương II nhằmlàm rõ các vấn đề thực trạng, các nhận xét, đánh giá và bài học kinh nghiệm cụ thể củangành Da giầy Việt Nam trong bối cảnh cạnh tranh quốc tế
- Phương pháp hệ thống hóa: được sử dụng chủ yếu trong Chương I để trình bày cácnội dung liên quan đến khái niệm và các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực xuất khẩu
- Phương pháp diễn giải – quy nạp: được sử dụng trong các chương của Luận ánnhằm củng cố một số luận điểm
- Phương pháp nghiên cứu tình huống: được sử dụng trong chương 1 để phân tíchcác trường hợp của Trung Quốc và Braxin (2 nước xuất khẩu da giầy hàng đầu thếgiới) để rút ra các bài học kinh nghiệm đề xuất với ngành da giầy Việt Nam
5 Những đóng góp mới của Luận án
Trên cơ sở các phương pháp nghiên cứu, đánh giá về năng lực xuất khẩu củangành da giầy, Luận án có một số đóng góp mới, cụ thể:
Thứ nhất: Luận án đã hệ thống hoá những vấn đề lý luận về năng lực xuất khẩu,làm rõ mối quan hệ giữa năng lực cạnh tranh và năng lực xuất khẩu, từ đó đưa ra môhình, các chỉ tiêu đánh giá, các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực xuất khẩu ngành dagiầy Việt Nam
Thứ hai: Luận án đã tổng kết một số kinh nghiệm về nâng cao năng lực xuất khẩungành da giầy của Trung Quốc và Braxin (2 nước đứng đầu thế giới về xuất khẩugiầy), qua đó rút ra những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Thứ ba: Luận án đã phân tích thực trạng sản xuất, xuất khẩu, các đặc điểm củangành da giầy Việt Nam Thông qua mô hình “FOUR GEARS” của Trung tâm thươngmại quốc tế - ITC (UNCTAD/WTO), đánh giá thực trạng năng lực xuất khẩu ngành dagiầy Việt Nam trong thời gian qua, qua đó thấy được những điểm mạnh, điểm hạn chếtrong năng lực xuất khẩu của ngành da giầy Đồng thời Luận án cũng phân tích các yếu tốthuận lợi, thách thức và các yêu cầu đối với ngành da giầy khi Việt Nam gia nhập WTO vàcác hiệp định tự do thương mại đã ký kết gần đây
Trang 12Thứ tư: Luận án đã phân tích việc tham gia của ngành da giầy Việt Nam trong chuỗigiá trị toàn cầu, làm rõ những vấn đề cần giải quyết và đề xuất các biện pháp nhằm nângcao giá trị sản phẩm, tham gia sâu vào chuỗi giá trị ngành trên thị trường thế giới.
Thứ năm: Luận án đã phân tích bối cảnh quốc tế, khu vực, các yêu cầu từ những hiệpđịnh thương mại đa phương, triển vọng phát triển của ngành da giầy để đề xuất phươnghướng và giải pháp nâng cao năng lực xuất khẩu ngành da giầy Việt Nam trong điềukiện hội nhập kinh tế quốc tế Luận án cũng đưa ra một số kiến nghị cụ thể với cácdoanh nghiệp của ngành trong việc xác định và xây dựng chiến lược xuất khẩu
6 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, các phụ lục, kết cấucủa Luận án gồm bao gồm 2 phần:
PHẦN A: TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
PHẦN B: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Trang 13PHẦN A: TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
1.1 Các công trình nghiên cứu liên quan đến mô hình và các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh cấp ngành
Năm 1990, Michael Eugene Porter xuất bản: “The competitive of advantage of
Nations” được dịch ra tiếng Việt “Lợi thế cạnh tranh quốc gia” (2008) NXB Trẻ,
trong đó tác giả vận dụng những cơ sở lý luận cạnh tranh trong nước vào cạnh tranhquốc tế, giải thích sự thành công của ngành kinh doanh nào đó tại mỗi quốc gia phụthuộc vào 3 vấn đề cơ bản: lợi thế cạnh tranh quốc gia, năng suất lao động và sự liênkết trong trong nội bộ ngành
Khi kinh tế thế giới mang tính chất toàn cầu hóa, thì cạnh tranh sẽ chuyển từ cáclợi thế tuyệt đối hay lợi thế so sánh do điều kiện địa lý, tự nhiên mang lại sang nhữnglợi thế cạnh tranh đến từ tính ưu việt của thể chế và trình độ khoa học kỹ thuật cao.Các quốc gia thành công ở một số ngành trên thị trường toàn cầu vì môi trường trongnước có nhiều ưu điểm vượt trội so với các nước khác, qua đó họ có các doanh nghiệpmạnh, nhu cầu ổn định và sự liên kết chặt chẽ của các ngành phụ trợ
Qua đó, tác giả đưa ra “Mô hình Kim cương” để phân tích các nhân tố tác độngđến năng lực cạnh tranh của ngành; các yếu tố quyết định của Mô hình là các điều kiện
về các yếu tố sản xuất, điều kiện về cầu, các ngành hỗ trợ và bối cảnh cạnh tranh,chiến lược và cơ cấu doanh nghiệp, ngoài ra, còn có 2 yếu tố bổ sung là vai trò của nhànước và yếu tố thời cơ
Năm 1985, Michael Eugene Porter xuất bản: “The competitive advantage” được
dịch ra tiếng Việt “Lợi thế cạnh tranh”(2008) NXB Trẻ, tác giả chỉ rõ lợi thế cạnh
tranh không chỉ ở mỗi hoạt động, mà còn ở cả mối liên kết giữa các hoạt động vớinhau, với các hoạt động của nhà cung cấp và của khách hàng Qua đó tác giả đưa rakhái niệm “chuỗi giá trị”, chia hoạt động chung của một doanh nghiệp thành nhữngnhóm hoạt động khác nhau đại diện cho từng yếu tố tạo nên lợi thế cạnh tranh, qua đóđánh giá được lợi thế để xây dựng các chiến lược cạnh tranh của doanh nghiệp Cũngtrong tác phẩm này, tác giả phân tích sâu về cấu trúc ngành: khái niệm ngành, cấu trúcngành và nhu cầu của người mua, cấu trúc ngành và sự cân bằng cung cầu, ma trậnphân khúc ngành, mối quan hệ giữa công nghệ và lợi thế cạnh tranh
Trang 14Năm 1980, Michael Eugene Porter xuất bản: “The competitive stratergy” được
dịch ra tiếng Việt “Chiến lược cạnh tranh”(2008) NXB Trẻ, trong đó tác giả đã khái
quát hoát cạnh tranh trong các ngành công nghiệp trong năm yếu tố nền tảng, đồngthời giới thiệu một trong những công cụ cạnh tranh mạnh mẽ nhất đó là ba chiến lượccạnh tranh: chi phí thấp, khác biệt hóa và trọng tâm, những chiến lược đã biến định vịchiến lược trở thành một hoạt động có cấu trúc Tác giả cũng chỉ ra phương pháp xácđịnh lợi thế cạnh tranh theo chi phí và giá tương đối, qua đó thể hiện mối liên hệ trựctiếp đối với lợi nhuận và trình bày một góc nhìn hoàn toàn mới về cách thức tạo ra vàphân chia lợi nhuận
Cũng trong tác phẩm này, tác giả đưa ra những phương pháp mới nhằm phân tíchngành và đối thủ cạnh tranh của ngành, qua đó phân tích cơ cấu ngành, những yếu tốquyết định mức độ cạnh tranh cấp ngành, chu kỳ sống của sản phẩm, khung phân tích
dự báo sự vận động của ngành
Năm 1993, John H Dunning, trong tác phẩm “International Porter’s Diamond”
đăng trên tạp chí Management International Review số đặc biệt (special issue, volume
33, paper 8 – 15), cho rằng, mô hình Kim cương kiểu cũ khi sử dụng để đánh giá nănglực cạnh tranh của một ngành / doanh nghiệp đã không còn chính xác trong điều kiệntoàn cầu hóa và hội nhập của kinh tế thế giới và đề xuất bổ sung thêm nhân tố đầu tưnước ngoài vào mô hình để đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh
Năm 2003, tổ chức International Trade Center phát hành ấn phẩm “The Secret
of Strategy Template” trong đó đưa ra mô hình “Four Gear” chỉ ra bốn yếu tố quyết
định năng lực xuất khẩu của một quốc gia / ngành: các yếu tố trong phạm vi ngành(border-in), các yếu tố liên quan đến ngành (border), các yếu tố bên ngoài phạm vingành (border-out) và các yếu tố phát triển (development) Mô hình này nhằm giúpcác nhà hoạch định chính sách đề ra được các chiến lược nâng cao năng lực xuất khẩuphù hợp với năng lực thực tế của quốc gia / ngành, thực lực năng lực cạnh tranh và cácnguồn lực hiện có để thúc đẩy xuất khẩu và nắm được rõ chính sách nào sẽ có tácdụng, chính sách nào không Đây là lý thuyết quan trọng sẽ được vận dụng vào luận án
để làm rõ lý luận về năng lực xuất khẩu ngành
Năm 2004, tác giả Owen Skae trong công trình “Measuring the impact of
National export strategy” trong đó phân tích các yếu tố ảnh hưởng trong mô hình
“Four Gear” của ITC, đánh giá và định lượng mức độ ảnh hưởng của mỗi nhân tố
Trang 15trong mô hình, từ đó đưa ra kết luận về các chính sách tác động phù hợp với từngnhóm nhân tố để thúc đẩy năng lực xuất khẩu phù hợp với từng nền kinh tế, xã hội
1.2 Các công trình nghiên cứu liên quan xuất khẩu và năng lực xuất khẩu ngành da giầy
Năm 2012, nhóm tác giả Mark J Roberts, Daniel Yi Xu, Xiaoyan Fan,
Shengxing Zhang, công bố công trình nghiên cứu “A structural model of demand, cost and export market selection for Chinese footwear producers” trong đó sử dụng
các số liệu mẫu thu thập từ các doanh nghiệp sản xuất ngành da giầy để xây dựng môhình toán học tính toán mức tăng trưởng nhu cầu xuất khẩu, giá cả, thị phần tại nhữngthị trường mục tiêu cụ thể, trong đó có phân tích việc tái cơ cấu ngành sau khi hạnngạch nhập khẩu vào EU được dỡ bỏ
Hiệp hội các nhà sản xuất da giầy Brazil (Abicalçados) hằng năm có các ấn
phẩm “Footwear Industry in Brazil” các năm từ 2010-2015 trong đó tổng hợp các số
liệu liên quan đến ngành da giầy Brazil và phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến việcsản xuất, tiêu thụ, cạnh tranh của các sản phẩm Brazil, đây là một trong những bài họckinh nghiệm đối với ngành da giầy Việt Nam
Năm 2009, Tập đoàn Deloite phối hợp với Trung tâm cạnh tranh sản xuất quốc gia
Ấn Độ (National Manufacturing Competitivenes Council) xuất bản ấn phẩm
“Enhancing firm level competitiveness Indian leather and footwear industry” trong đó
đưa ra một số giải pháp nhằm thúc đẩy cạnh tranh trong ngành da giầy Ấn Độ như:cạnh tranh về chi phí thông qua tham gia có hiệu quả vào chuỗi giá trị, phát triển đồngthời ngành sản xuất da giầy và sản xuất da, tập trung vào đào tạo, phát triển côngnghiệp thuộc da và thu hút đầu tư nước ngoài
Trang World Footwear (www.worldfootwear.com) hằng năm có các báo cáo về
ngành da giầy trên toàn thế giới, trong đó phân tích tình hình sản xuất, tiêu thụ, xuấtkhẩu của các nước, năng lực cạnh tranh của từng quốc gia xuất khẩu chính như TrungQuốc, Brazin, Việt Nam,
2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
2.1 Các công trình nghiên cứu về năng lực xuất khẩu
Năm 2005, tác giả Bùi Ngọc Sơn trong cuốn “Năng lực xuất khẩu của doanh
nghiệp Việt Nam trong điều kiện kinh tế thị trường” NXB Thông tin và Truyền thông
trong đó đưa ra mô hình và các tiêu chí đánh giá năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp,các vấn đề hội nhập kinh tế quốc tế và năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp
Trang 16Năm 2011, nhóm tác giả Nguyễn Đình Cung, Nguyễn Thị Tuệ Anh, Lưu Minh
Đức, Nguyễn Minh Thảo, Lê Phan dưới sự tài trợ của Quỹ Châu Á và Viện Nghiên
cứu Quản lý Kinh tế Chiến lược Trung Ương có Báo cáo nghiên cứu “Năng lực cạnh
tranh của Doanh nghiệp xuất khẩu trong ba ngành may mặc, thủy sản và điện tử ở Việt Nam” trong đó phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của các
doanh nghiệp xuất khẩu ngành may mặc, thủy sản và điện tử, đồng thời đưa ra một sốgiải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp xuấtkhẩu của các ngành này
Năm 2006, tác giả Trần Sửu trong cuốn “Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
trong điều kiện toàn cầu hóa” trong đó nêu ra các nhóm nhân tố ảnh hướng tới năng
lực cạnh tranh của doanh nghiệp, các yếu tố cấu thành năng lực cạnh tranh và tiêu chíđánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Năm 2016, Luận án Tiến sĩ Kinh tế của tác giả Hoa Hữu Cường (bảo vệ năm
2016 tại Học viện khoa học xã hội – Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam) với đề
tài “Nâng cao khả năng xuất khẩu hàng hóa chủ lực của Việt Nam vào EU trong giai
đoạn 2011-2020”, trong đó đã đề cập đến khả năng xuất khẩu của hàng hóa một cách
đầy đủ hơn, phân tích thực trạng xuất khẩu của ba mặt hàng chủ lực của Việt Nam vào
EU (dệt may, da giầy, cà phê) trong giai đoạn từ năm 2006 đến 2015 dựa trên 3 nhómtiêu chí đánh giá, qua đó dự báo các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng xuất khẩu hànghóa chủ lực của Việt Nam và đề xuất một số giải pháp
Năm 2006, tác giả Nguyễn Thị Tuyết Mai, Mai Thế Cường có Báo cáo “Ngành
rau quả” thuộc Dự án VIE 61/94 "Hỗ trợ xúc tiến thương mại và phát triển xuất khẩu
tại Việt Nam – Chiến lược xuất khẩu - Hướng dẫn tiếp thị xuất khẩu" do Chính phủThụy Sỹ và Chính phủ Thụy Điển đồng tài trợ trong giai đoạn 2004-2010, triển khaibởi Cục Xúc tiến Thương mại Việt Nam (VIETRADE) phối hợp với Trung tâmThương mại Quốc tế (ITC ), Hội nghị Liên hợp quốc về Thương mại và Pháttriển(UNCTAD / WTO) Trong báo cáo phân tích hoạt động sản xuất, xuất khẩu, nănglực cạnh tranh, chuỗi giá trị hiện tại và tương lai của ngành rau quả, chiến lược hỗ trợngành và chính sách của Nhà nước, đồng thời cũng giới thiệu mô hình 4 bánh xe củaITC trong phân tích, tuy nhiên, trong báo cáo lại chưa sử dụng mô hình này để phântích năng lực xuất khẩu của ngành mà lại sử dụng ma trận SWTO để nghiên cứu nănglực cạnh tranh
Năm 2006, Cục xúc tiến thương mại có Báo cáo “Chiến lược xuất khẩu quốc gia
ngành thủ công mỹ nghệ Việt Nam” thuộc Dự án VIE 61/94 "Hỗ trợ xúc tiến thương
Trang 17mại và phát triển xuất khẩu tại Việt Nam – Chiến lược xuất khẩu - Hướng dẫn tiếp thịxuất khẩu" do Chính phủ Thụy Sỹ và Chính phủ Thụy Điển đồng tài trợ trong giaiđoạn 2004 - 2010 Trong báo cáo đánh giá những yếu tố có tầm quan trọng nhất quyếtđịnh sự thành bại tăng trưởng xuất khẩu của ngành thủ công mỹ nghệ, đề ra nhữngkhuyến nghị nhằm khai thác hiệu quả nhất tiềm năng của ngành, trong đó đề cập đếnviệc sử dụng 4 yếu tố “Border”, “Border In”, “Border out” và “Development” để xâydựng chiến lược xuất khẩu cho ngành thông qua phát triển chuỗi giá trị Tuy nhiên báocáo cũng chỉ mới tập trung nghiên cứu chuỗi giá trị của ngành, đánh giá hoạt độngxuất khẩu, xây dựng các đề xuất nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành mà chưaphân tích về năng lực xuất khẩu, các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực xuất khẩu cũngnhư sử dụng mô hình 4 bánh xe trong việc phân tích năng lực xuất khẩu, từ đó đề xuấtcác giải pháp phù hợp với hiện trạng của ngành.
2.2 Các nghiên cứu về ngành da giầy Việt Nam
Năm 2007, tác giả Lưu Thanh Đức Hải trong bài báo “Export Barriers: The case
of the Vietnamese Footwear Industry” tạp chí Centre for ASEAN Studies - trang 51
nghiên cứu về các rào cản xuất khẩu trong ngành công nghiệp da giầy Việt Nam, trong
đó chỉ ra các rào cản chính là: không xác định những cơ hội tại thị trường xuất khẩu,thiếu thông tin liên quan đến các trung gian nước ngoài, nhà phân phối và khách hàngtương lai, thiếu nghiên cứu thị trường, thiếu nhân sự có đào tạo, đặc biệt về marketingquốc tế, thiếu khả năng cung ứng số lượng nhất định đối với những đơn hàng thườngxuyên đồng thời chỉ ra các giải pháp để các nhà sản xuất khắc phục những rào cản này
Năm 2009, tác giả Trần Thị Huyền Trang có Báo cáo “Chiến lược xuất khẩu
ngành da giầy Việt Năm cập nhật 2010 – 2015” thuộc Dự án VIE 61/94 "Hỗ trợ xúc
tiến thương mại và phát triển xuất khẩu tại Việt Nam" do Chính phủ Thụy Sỹ và Chínhphủ Thụy Điển đồng tài trợ trong giai đoạn 2004-2010, triển khai bởi Cục Xúc tiếnThương mại Việt Nam (VIETRADE) phối hợp với Trung tâm Thương mại Quốc tế(ITC), Hội nghị Liên hợp quốc về Thương mại và Phát triển (UNCTAD / WTO).Trong báo cáo phân tích tình hình sản xuất, xuất khẩu của ngành da giầy, chuỗi giá trịhiện tại, chiến lược và chính sách hỗ trợ của Chính phủ, những ưu tiên chiến lược choviệc phát triển trong tương lai, tuy nhiên cũng chưa làm rõ mối quan hệ giữa nội bộngành, các ngành phụ trợ, các nhà cung cấp, các đối thủ quốc tế, qua đó đề xuất đượcnhững thay đổi trong chính sách xuất khẩu để xuất khẩu bền vững ngành hàng da giầy
Năm 2010, Luận án Tiến sĩ Kinh tế của tác giả Dương Văn Hùng (bảo vệ năm
2010 tại trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân) với đề tài “Thúc đẩy xuất khẩu vào thị
Trang 18trường EU của các doanh nghiệp giầy dép trên địa bàn Hà Nội”, trong đó tác giả đã
chỉ ra các lợi thế so sánh của doanh nghiệp giầy dép trên địa bàn Hà Nội, tầm quantrọng của việc áp dụng các tiêu chuẩn quản lý chất lượng sản phẩm, quản lý môitrường để vượt qua các thách thức rào cản khi xuất khẩu vào thị trường EU Tuynhiên, luận án mới chỉ tập trung nghiên cứu hoạt động xuất khẩu của một nhóm doanhnghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội, cũng như thị trường EU mà chưa có phân tíchchuyên sâu về năng lực của ngành da giầy Việt Nam nói chung, các ảnh hưởng củaviệc gia nhập WTO và các hiệp định tự do thương mại đối với ngành da giầy,…
Năm 2016, Luận án Tiến sĩ Kinh tế của tác giả Nguyễn Thị Phượng (bảo vệ năm
2016 tại Viện Nghiên cứu Thương mại – Bộ Công Thương) với đề tài “Hoàn thiện
chính sách thương mại nhằm phát triển xuất khẩu bền vững sản phẩm da giầy của Việt Nam”, đã xây dựng nội dung và các tiêu chí đánh giá phát triển xuất khẩu bền vững
sản phẩm da giầy, nghiên cứu thực trạng và tác động của chính sách thương mại đốivới phát triển xuất khẩu bền vững của sản phẩm da giầy, kinh nghiệm của các nướcTrung Quốc, Ấn Độ, Indonesia về chính sách thương mại trong phát triển xuất khẩubền vững ngành da giầy Tuy nhiên, luận án chưa khái quát hóa các lý thuyết về nănglực xuất khẩu của một ngành, các mô hình đánh giá năng lực xuất khẩu, cũng nhưchưa phân tích chuyên sâu đến các hoạt động trong nội bộ ngành, các tác động của cáchiệp định tự do thương mại,…
Quyết định số 6209/QĐ-BCT ngày 25 tháng 11 năm 2010 của Bộ trưởng Bộ CôngThương về việc phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển ngành Da giầy Việt Nam đếnnăm 2020, tầm nhìn đến năm 2025 Theo đó, Quy hoạch đưa ra mục tiêu tổng quát,định hướng quy hoạch phát triển và hệ thống các giải pháp thực hiện bao gồm: giảipháp đầu tư, Giải pháp phát triển sản xuất nguyên phụ liệu và công nghiệp hỗ trợ, Giảipháp thị trường, Giải pháp đào tạo phát triển nguồn nhân lực, Giải pháp phát triểnkhoa học công nghệ và bảo vệ môi trường, Giải pháp quản lý ngành
Năm 2013, nhóm tác giả David Luff, Nguyễn Hiền, Nguyễn Anh Thu trong báo
cáo: “Hỗ trợ nghiên cứu: Kiểm soát xuất khẩu của các thành viên WTO và khuyến
nghị đối với Việt Nam” thuộc Dự án hỗ trợ chính sách thương mại và đầu tư của Châu
Âu (MUTRAP), trong đó đề cập đến các quy định kiểm soát xuất khẩu của các nướctham gia WTO đối với các mặt hàng trong đó có ngành da giầy
Năm 2014, Cục xúc tiến thương mại phối hợp với Cục kinh tế liên bang Thụy Sĩ
xây dựng báo cáo “Đánh giá tiềm năng xuất khẩu quốc gia” xác định những sản phẩm
Trang 19ngành hàng có tiềm năng xuất khẩu, tập trung cho 05 ngành hàng là nông nghiệp, côngnghiệp, dịch vụ, thủ công mỹ nghệ và thủy sản ở cấp quốc gia và ở cấp vùng (Bắc,Trung và Nam) nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh xuất khẩu của DNNVV Việt Nam,qua đó thúc đẩy tăng kim ngạch xuất khẩu và phát triển các ngành hàng xuất khẩuchính của Việt Nam thông qua hệ thống XTTM trên phạm vi toàn quốc Đồng thời cụthể hóa các chính sách của Chính phủ, nhà nước Việt Nam trong giai đoạn hiện naynhằm mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm, hỗ trợ doanh nghiệp giải phóng hàng tồn,đẩy mạnh sản xuất kinh doanh cho doanh nghiệp Trong báo cáo đã dành 9 trangnghiên cứu về ngành da giầy, trong đó phân tích tình hình xuất khẩu ngành da giầy, xuhướng xuất khẩu, phân tích ma trận SWOT của ngành, tuy nhiên, các kết quả nghiêncứu mới dừng lại ở mức độ tổng quan, chưa phân tích cụ thể năng lực xuất khẩu củangành, cũng chưa đề ra được các khuyến nghị cụ thể đối với ngành mà nằm trongnhóm giải pháp đối với ngành công nghiệp nói chung.
Các nghiên cứu đánh giá thực trạng phát triển ngành da giầy được công bố đềuđặn hàng năm hoặc theo các giai đoạn cụ thể do nhiều đơn vị thực hiện như Hiệp hội
Da – Giầy- Túi xách, Tổng cục Hải Quan, Viện Nghiên cứu Da Giầy, Nguồn số liệu
và báo cáo định kỳ do Hiệp hội Da – Giầy – Túi xách và Tổng cục Hải quan định kỳcông bố số liệu và báo cáo phân tính về tình hình sản xuất và xuất nhập khẩu củangành
Các nghiên cứu đánh giá tác động của các hiệp định thương mại trên trang tinhttp://www.trungtamwto.vn trong đó đề cập đến nội dung của các Hiệp định thươngmại tự do Việt Nam – EU, Hiệp định Đối tác Kinh tế Chiến lược xuyên Thái BìnhDương – TPP, Cộng đồng kinh tế ASEAN – AEC … cũng như các khuyến cáo đốivới doanh nghiệp khi những hiệp định này có hiệu lực
Trang 202.3 Các nghiên cứu khác
Năm 2011, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) có “Báo cáo
điều tra cộng đồng doanh nghiệp về các vấn đề hội nhập - ngành da giầy” nhằm đánh
giá tác động hội nhập kinh tế đến các doanh nghiệp trong ngành Khảo sát được thựchiện với 80 doanh nghiệp ngành da giầy Kết quả khảo sát cho thấy phần lớn cácdoanh nghiệp đã nhận thức được tính tất yếu của quá trình hội nhập Đa số các doanhnghiệp được khảo sát cho biết hội nhập có tác động tích cực đến hiệu quả kinh doanh,
dù gặp thuận lợi do có thị trường mới, giá thành sản phẩm rẻ và nhân lực dồi dào, tuynhiên vẫn gặp một số khó khăn như thiếu thông tin về thị trường mới, rào cản thươngmại, thủ tục hành chính…
Năm 2010, Luận án Tiến sĩ Kinh tế của tác giả Trần Thanh Long (bảo vệ năm
2010 tại trường Đại Học Kinh Tế Hồ Chí Minh) với đề tài “Đánh giá tác động của gia
nhập WTO đến kết quả kinh doanh xuất khẩu của doanh nghiệp Việt Nam”, trong đó
tác giả đã nêu ra 6 nhân tố hưởng của WTO đến kết quả kinh doanh xuất khẩu củadoanh nghiệp Việt Nam, sử dụng mô hình hồi quy tính toán tác động của WTO đến kếtquả kinh doanh XK của DN Việt Nam, đề xuất các giải pháp với Chính phủ, doanhnghiệp, hiệp hội ngành hàng xuất khẩu Tuy nhiên đây là nghiên cứu chung cho cácdoanh nghiệp Việt Nam, chưa gắn với đặc điểm cụ thể của từng ngành như ngành dagiầy, cũng như chưa đề cập đến vai trò của các ngành công nghiệp phụ trợ, mối liênkết trong nội bộ ngành,…
Năm 2013, Luận án Tiến sĩ Kinh tế của tác giả Đỗ Minh Thụy (bảo vệ năm 2013
tại Viện Nghiên cứu Quản lý Trung Ương) với đề tài “Công nghiệp hỗ trợ ngành giầy
dép – nghiên cứu đối với ngành giày dép ở Hải Phòng”, trong đó tác giả đã phân tích
mối quan hệ giữa phát triển công nghiệp hỗ trợ với phát triển các ngành công nghiệp,các chỉ tiêu đánh giá và nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của công nghiệp hỗ trợ,
đề xuất một số giải pháp phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ ngành da giầy, dệt may
3 Đánh giá tổng quan về tình hình nghiên cứu
Như đã phân tích ở trên, các nghiên cứu liên quan đến ngành da giầy Việt Namchủ yếu phân tích thực trạng ngành da giầy bằng các con số thống kê qua các thời kỳ,bên cạnh đó đánh giá ảnh hưởng của các hiệp định thương mại đến sự phát triển củangành da giầy thông qua phân tích các điểm mạnh, điểm yếu còn tồn tại cũng nhưnhững cơ hội có thể tận dụng được và thách thức phải đối mặt của các doanh nghiệp
da giầy khi Việt Nam tham gia một loạt các hiệp định thương mại lớn trong khu vực
Trang 21và trên toàn thế giới Từ đó, nhiều giải pháp đối với Chính phủ và các doanh nghiệp dagiầy Việt Nam đã được đề xuất nhằm tận dụng tối đa các cơ hội, đồng thời giảm bớttác động tiêu cực do các thách thức mang lại Qua tìm hiểu về tình hình nghiên cứuliên quan đến chủ đề nghiên cứu trong và ngoài nước, tác giả xin đưa ra một vài nhậnxét như sau:
3.1 Những vấn đề đã được giải quyết
Các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước đã có những phân tích nhất định vềnăng lực xuất khẩu
Đã có những đánh giá, nhận định về thực trạng ngành da giầy, điểm mạnh, điểmyếu, thách thức và cơ hội khi tham gia các hiệp định tự do thương mại
Đã đưa ra một số giải pháp cụ thể đối với từng cấp: Doanh nghiệp, Hiệp Hội,Chính phủ
3.2 Những vấn đề chưa được giải quyết
Chưa làm rõ được khái niệm và đặc điểm về năng lực xuất khẩu; chưa phân tíchđược mối quan hệ giữa năng lực xuất khẩu và năng lực cạnh tranh
Áp dụng các mô hình cũ trong việc phân tích đánh giá năng lực cạnh tranh / nănglực xuất khẩu của ngành da giầy, tuy nhiên các mô hình này không còn tính chính xáckhi tham gia sâu rộng vào hội nhập kinh tế, nhất là có yếu tố đầu tư nước ngoài;
Những kiến nghị chưa sát với đặc điểm cụ thể của ngành da giầy, nhất là khi thamgia vào các hiệp định tự do thương mại
Ba vấn đề này cũng là ba vấn đề mà Nghiên cứu sinh phải nghiên cứu, phân tíchlàm rõ trong luận án này
Tóm lại, Nghiên cứu sinh cho rằng cho đến nay chưa có công trình nào phân tíchmột cách cụ thể, chuyên sâu cả về lý luận và thực tiễn về năng lực xuất khẩu ngành dagiầy Có thể nói, đây là luận án tiến sỹ đầu tiên nghiên cứu toàn diện các vấn đề vềnăng lực xuất khẩu ngành da giầy trong điều kiện các hiệp định tự do thương mại cóhiệu lực
Trang 22PHẦN B: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC XUẤT KHẨU
CỦA NGÀNH DA GIẦY
1.1 Những vấn đề lý luận về năng lực xuất khẩu
1.1.1 Khái niệm năng lực xuất khẩu
Khi nói đến ngành, chung ta có thể coi ngành là một cấu phần cơ bản của nềnkinh tế như ngành công nghiệp, ngành nông nghiệp, ngành dịch vụ, hoặc mộtngành / phân ngành của một ngành kinh tế như ngành công nghiệp nhẹ, công nghiệpnặng (thuộc ngành công nghiệp) Cụ thể hơn nữa, khái niệm ngành có thể được sửdụng để chỉ đến một sản phẩm hoặc nhóm sản phẩm cụ thể như ngành da giầy, dệtmay,
Trong nghiên cứu này, ngành được hiểu như là tập hợp nhóm các doanh nghiệp,cùng sản xuất, cung cấp một loại sản phẩm (hàng hóa / dịch vụ) để cạnh tranh trựctiếp với nhau trong điều kiện các nguồn lợi thế cạnh tranh là tương tự nhau trongcùng một quốc gia Đối với một nền kinh tế mở, chính các doanh nghiệp này cũngphải cạnh tranh với các đối thủ trong ngành trên những thị trường quốc tế
Để có thể cạnh tranh được trên thị trường quốc tế, ngành phải có năng lực cạnhtranh Năng lực cạnh tranh của ngành là khả năng đạt được những thành tích bềnvững của các doanh nghiệp (của quốc gia đó) trong ngành so với các đối thủ nướcngoài Sự thành công của một số doanh nghiệp trong ngành được xem là sự thànhcông của ngành và thể hiện những yếu tố đặc thù có thể nhân rộng hoặc cải thiệnđược Như vậy, có thể coi doanh nghiệp là nền tảng của năng lực cạnh tranh ngành.Trong bối cảnh hội nhập kinh tế toàn cầu, nền kinh tế, chính trị của một quốc giacũng chịu những ảnh hưởng to lớn từ xu hướng biến động của thế giới Do vậy, nănglực cạnh tranh của ngành cũng có những thay đổi khi các doanh nghiệp của ngành xuấtkhẩu hàng hóa / dịch vụ Tuy nhiên năng lực cạnh tranh cũng chưa đảm bảo doanhnghiệp có đầy đủ năng lực xuất khẩu trên thị trường thế giới do những rào cản trongcạnh tranh quốc tế
Khi nghiên cứu về năng lực xuất khẩu của một ngành, cần làm rõ là làm thế nào
để các doanh nghiệp trong ngành đó có thể tạo ra và duy trì lợi thế xuất khẩu sảnphẩm trong bối cảnh cạnh tranh trên thị trường toàn cầu Do vậy, có thể sử dụng lý
Trang 23thuyết về năng lực xuất khẩu doanh nghiệp nói chung để phân tích năng lực xuấtkhẩu ngành.
Hiện nay các nghiên cứu về năng lực xuất khẩu thường sử dụng các cơ sở lý luận
khác nhau, thứ nhất: “năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp là khả năng tối đa mà
doanh nghiệp có thể bán sản phẩm ra thị trường nước ngoài và doanh nghiệp tận dụng được tối đa các cơ hội mà chính phủ tạo ra khi tham gia các hiệp định tự do thương mại và các sáng kiến đẩy mạnh xuất khẩu"1 thứ hai “năng lực xuất khẩu được
hiểu là một mục tiêu kinh doanh hay mục tiêu nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh hướng tới tăng trưởng mặt hàng, kim ngạch xuất khẩu, và mở rộng thị trường” (Cục Xúc tiến Thương mại 2009), thứ ba: “năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp là khả năng doanh nghiệp khai thác và tận dụng một cách hiệu quả các nguồn lực kết hợp với các chiến lược để xuất khẩu nhằm mục tiêu lợi nhuận và mở rộng thị trường” (Bùi Ngọc Sơn 2005, tr 18)
Năng lực xuất khẩu là khả năng xây dựng, tổ chức và thực hiện các biện pháphướng tới xuất khẩu nhằm khai thác tối đa các lợi thế về năng lực cạnh tranh trênphạm vi quốc tế nhằm làm tăng doanh thu xuất khẩu, chiếm lĩnh thị phần, thị trường.Như vậy, có thể hiểu năng lực xuất khẩu là năng lực cạnh tranh kết hợp với các biệnpháp triển khai xuất khẩu, là khả năng tiêu thụ sản phẩm trên thị trường quốc tế và thuđược lợi nhuận trong khi vẫn đối mặt với cạnh tranh quốc tế Năng lực xuất khẩu củadoanh nghiệp có đầy đủ các yếu tố của năng lực cạnh tranh như năng lực tài chính,trình độ nhân lực, giá cả, chất lượng hàng hóa… nhưng tập trung sâu hơn vào một sốyếu tố liên quan đến thị trường quốc tế như năng lực và kinh nghiệm tổ chức xuấtkhẩu, năng lực nghiên cứu thị trường quốc tế, năng lực giải quyết các vấn đề pháp lýquốc tế,…
Ở một cách tiếp cận khác, tác giả Lê Nhật Thức sử dụng khái niệm "sức" để làm rõnăng lực xuất khẩu của doanh nghiệp gồm:
- Sức tạo ra lợi nhuận và nâng cao thị phần trên thị trường xuất khẩu bằng việckinh doanh hàng hóa - dịch vụ của mình
- Sức đã, đang và sẽ có trong việc tận dụng các cơ hội từ việc xây dựng hoặc điềuchỉnh chiến lược kinh doanh phù hợp với tình hình thực tế
Khái niệm "sức" nói trên được sử dụng trong quan hệ so sánh với các doanhnghiệp khác cùng ngành, trong cùng một thời điểm và trên cùng một thị trường
Tóm lại, dù cách định nghĩa có khác nhau, nhưng các nghiên cứu đều có một điểmchung đó là doanh nghiệp muốn có năng lực xuất khẩu thì doanh nghiệp phải có lợi thế
1 http://www.trade.gov/neinext/neinext-strategic-framework.pdf ; trang 17, truy cập ngày 20/1/2015
Trang 24cạnh tranh Nói cách khác, năng lực cạnh tranh chính là điều kiện cần để doanh
nghiệp có năng lực xuất khẩu.
Từ những phân tích nêu trên, dù được phân tích dưới góc độ nào thì năng lực xuấtkhẩu cũng thể hiện khả năng của doanh nghiệp trong việc xuất khẩu Khả năng đó cóđược do cách kết hợp "nội lực" của doanh nghiệp cùng với "ngoại lực" đến từ môitrường bên ngoài Khả năng đó phải được thể hiện ở những kết quả cuối cùng là doanhthu, là hiệu quả, là lợi nhuận, là quy mô thị trường Như vậy theo quan điểm của tác
giả, có thể hiểu, năng lực xuất khẩu doanh nghiệp là khả năng huy động và sử dụng
các nguồn lực sẵn có một cách hiệu quả, kết hợp với việc xây dựng, hoàn thiện các chiến lược phù hợp môi trường kinh doanh trong và ngoài nước để thực hiện sản xuất / kinh doanh / cung ứng / trao đổi hàng hoá - dịch vụ với nước ngoài nhằm mục tiêu tối đa lợi nhuận và không ngừng mở rộng thị trường.
Ngành là tập hợp nhóm các doanh nghiệp có chung các yếu tố sản xuất, kinhdoanh và cùng cung cấp một loại sản phẩm / dịch vụ trên thị trường trong nước vàquốc tế, các doanh nghiệp này cạnh tranh với nhau và cạnh tranh với các đối thủ khác.Năng lực xuất khẩu ngành được sử dụng để nói tới phạm vi rộng hơn, đánh giá mức độmạnh, yếu của một ngành sản phẩm của một quốc gia trên phạm vi thị trường xuấtkhẩu quốc tế, thể hiện qua các chỉ số như quy mô sản xuất sản phẩm, tổng kim ngạchxuất khẩu, tốc độ phát triển ngành, thị phần và thị trường của ngành trên thị trường thếgiới, chất lượng và giá bán sản phẩm, năng lực nghiên cứu phát triển sản phẩm mới, cơcấu cấu trúc của ngành, mức độ tham gia vào chuỗi giá trị sản phẩm toàn cầu, Hiểu rộng hơn, năng lực xuất khẩu của ngành là khả năng ngành đó có thể bánđược sản phẩm / dịch vụ của ngành trên thị trường quốc tế, có thể cạnh tranh với đốithủ nước ngoài và thu được lợi nhuận
Như vậy, năng lực xuất khẩu của ngành là năng lực của ngành trong việc sản
xuất, cung ứng sản phẩm / dịch vụ có lợi thế xuất khẩu trên thị trường quốc tế nhằm duy trì sự tăng trưởng, tối đa lợi nhuận và không ngừng mở rộng thị trường
Năng lực xuất khẩu của ngành thường xuyên thay đổi theo các điều kiện sản xuất
kinh doanh Ngành chỉ có năng lực xuất khẩu tốt khi có nhiều doanh nghiệp có năng
lực xuất khẩu tốt Nếu sản phẩm không có khả năng cạnh tranh, doanh nghiệp không
có năng lực xuất khẩu thì ngành cũng sẽ không có năng lực xuất khẩu
1.1.2 Các chỉ tiêu đánh giá năng lực xuất khẩu
Để đánh giá năng lực xuất khẩu, tác giả Bùi Ngọc Sơn xây dựng bộ tiêu chí đánh
giá năng lực xuất khẩu Tuy nhiên, bộ tiêu chí này còn thiên về định tính và không cố
Trang 25định về số lượng nhóm tiêu chí và các tiêu chí phụ trong nhóm Mỗi nhóm tiêu chí có
số điểm tối đa là 5, chia làm năm mức từ 1 đến 5: kém, trung bình, khá, tốt và cao.Doanh nghiệp nào có điểm cao hơn sẽ có năng lực xuất khẩu cao hơn Bộ tiêu chíđược tác giả xây dựng gồm các nhóm tiêu chí sau: tổ chức doanh nghiệp, trình độ độingũ lãnh đạo, tỉ lệ nhân viên, công nhân lành nghề, số sáng kiến cải tiến, đổi mới hàngnăm, chất lượng cơ sở vật chất, kỹ thuật, năng lực tài chính, chất lượng sản phẩm, thịphần, năng suất lao động, chất lượng môi trường sinh thái và các giá trị vô hình củadoanh nghiệp Nghiên cứu này sử dụng bộ số liệu từ cuộc điều tra 1.200 doanh nghiệptại Hà Nội, Hải Phòng và Thành phố Hồ Chí Minh Từ kết quả khảo sát, năng lực xuấtkhẩu của các doanh nghiệp trong các ngành công nghiệp, dịch vụ và thương mại đượcđánh giá theo bộ tiêu chí đã đề xuất Đối với nghiên cứu này, các chỉ tiêu chưa đượcsắp xếp hệ thống Nhiều chỉ tiêu khó đo lường cụ thể hoặc đo lường thông qua ý kiếncủa doanh nghiệp như chỉ tiêu về thị phần, về môi trường sinh thái Điều này ảnhhưởng đến việc so sánh năng lực xuất khẩu của các doanh nghiệp hoặc các ngành kinhtế
Như đã phân tích ở trên, ranh giới phân tách khái niệm năng lực xuất khẩu và nănglực cạnh tranh quốc tế là rất khó khăn nên nhóm chuyên gia Cục Xúc tiến thương mại
đề xuất hai bộ chỉ số cơ bản để đánh giá đồng thời năng lực cạnh tranh quốc tế và nănglực xuất khẩu của các doanh nghiệp Việt Nam Nghiên cứu này sử dụng bộ số liệuđiều tra từ hai cuộc khảo sát doanh nghiệp do Tổng cục Thống kê và Cục Xúc tiếnthương mại, Bộ Công thương tiến hành năm 2008 và bổ sung số liệu khảo sát của 50doanh nghiệp trong ngành trong năm 2012 Trong nhóm chỉ tiêu định tính, bốn chỉ tiêu
có ảnh hưởng lớn đến khả năng xuất khẩu của doanh nghiệp được xem xét và phântích bao gồm: chất lượng nguồn nhân lực, đầu tư cho công nghệ, phát triển sản phẩmmới và chất lượng công tác tiếp thị, xúc tiến thương mại Về phương pháp định lượng,tác giả sử dụng một số chỉ số phổ biến trong việc đánh giá năng lực xuất khẩu củadoanh nghiệp Đó là tỷ lệ xuất khẩu trên doanh thu và khoảng thời gian từ khi doanhnghiệp được thành lập tới khi doanh nghiệp bắt đầu xuất khẩu Nghiên cứu chỉ radoanh nghiệp có khả năng xuất khẩu cao (tỷ lệ xuất khẩu trên doanh thu cao, thời gian
từ khi thành lập đến khi xuất khẩu ngắn); trình độ nguồn nhân lực cao; tỷ lệ doanhnghiệp đầu tư cho công nghệ, phát triển sản phẩm mới, R&D và xây dựng thương hiệucao; chất lượng sản phẩm được thị trường chấp nhận; giá cả có ưu thế vươt trội hơnđối thủ cạnh tranh; năng động trong xúc tiến xuất khẩu và tìm kiếm thông tin… Tuy
Trang 26nhiên, kênh phân phối còn thiếu đa dạng, dịch vụ sau bán hàng kém, khả năng thíchứng với những thay đổi của thị trường thấp và các kế hoạch tiếp thị có tính chuyênnghiệp thấp.
Với những phân tích trên, có thể xây dựng các tiêu chí đánh giá năng lực xuấtkhẩu dựa theo 2 nguyên tắc sau:
1.1.2.1 Các tiêu chí đánh giá theo quá trình (các nhân tố cấu thành)
Theo cánh phân chia này, các yếu tố cấu thành năng lực xuất khẩu của doanhnghiệp có thể bao gồm:
Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh xuất khẩu thì mỗi doanh nghiệp cónhững thế mạnh riêng để tạo nên năng lực xuất khẩu cho mình Doanh nghiệp có thể
có một hoặc nhiều năng lực xuất khẩu sau:
(1) Năng lực nghiên cứu và dự báo thị trường xuất khẩu
Công tác nghiên cứu thị trường, đặc biệt là thị trường quốc tế có vai trò hết sứcquan trọng đối với các doanh nghiệp xuất khẩu trong việc xác định các thị trường mụctiêu hoặc các phân đoạn thị trường tiềm năng đối với doanh nghiệp, đồng thời có được
sự đổi mới sản phẩm, điều chỉnh chiến lược xuất khẩu phù hợp với những thay đổi trênthị trường một cách nhanh nhất Năng lực nghiên cứu thị trường là điều kiện đầu tiênđối với các doanh nghiệp trong việc thâm nhập thị trường xuất khẩu, đây cũng là mặtyếu nhất của các doanh nghiệp xuất khẩu da giầy của Việt Nam hiện nay Để có đượcnăng lực thâm nhập thị trường quốc tế, cần phải có 2 yếu tố: (i) Có chiến lược thịtrường dài hạn; (ii) Có năng lực để theo đuổi chiến lược đã xây dựng
(2) Năng lực tìm kiếm đối tác, khách hàng
Việc tìm kiếm các đối tác cung cấp đầu vào, các khách hang tiêu thụ sản phẩmluôn là một trong những vấn đề có tầm ảnh hưởng quan trọng đến hiệu quả hoạt độngxuất khẩu Các phương thức tiếp cận, tìm kiếm có thể được thực hiện theo cách truyềnthống như tham gia các hội chợ, triển lãm, trung tâm thương mại, … hoặc qua các biệnpháp điện tử như trang web, quảng cáo online, thong tin tại các trung tâm dữ liệu… Việc duy trì mối quan hệ với khách hàng đảm bảo cho việc kinh doanh các mặtxuất khẩu được ổn định, lâu dài Tuy nhiên, để làm được điều đó, cần phải chọn đúngsản phẩm phù hợp với thị trường và nghệ thuật tiếp cận với khách hàng
(3) Năng lực tổ chức sản xuất sản phẩm
- Năng lực tổ chức sản xuất sản phẩm xuất khẩu: Một sản phẩm có thể do nhiều
doanh nghiệp cùng tham gia sản xuất, ví dụ như công ty sản xuất giầy thể thao, có thểthu mua hoặc thuê gia công một công đoạn nào đó tại các cơ sở khác Cũng như vậy,một doanh nghiệp có thể không sản xuất một sản phẩm cụ thể, nhưng vẫn có khả năng
Trang 27xuất khẩu những mặt hàng đó bằng cách thu mua từ các doanh nghiệp khác trongnước Cùng sản xuất một chủng loại mặt hàng, nhưng các doanh nghiệp khác nhaucung cấp theo những điều kiện khác nhau về giá cả, chất lượng, điều kiện giao hàng
và sự tiếp nhận sản phẩm xuất khẩu của các doanh nghiệp trên thị trường cũng có sựkhác nhau Cũng là mặt hàng giầy thể thao, nhưng Biti’s không những chiếm lĩnh thịtrường trong nước mà còn vươn ra chiếm lĩnh một số thị trường nước ngoài một cáchvững chắc trong khi đó nhiều doanh nghiệp không thể có chỗ đứng trên thị trườngquốc tế Đây chính là năng lực tổ chức sản xuất, mà không phải doanh nghiệp nàocũng cũng có Do vậy, đánh giá năng lực sản xuất của doanh nghiệp, cần phải đánh giámột cách tổng thể về ưu thế, tiềm năng của doanh nghiệp trong việc phát triển sảnphẩm xuất khẩu
- Giá sản phẩm: Giá xuất khẩu là luôn một yếu tố hàng đầu để đánh giá năng lực
xuất khẩu cùa doanh nghiệp Giá xuất khẩu phải đảm bảo bù đắp chi phí sản xuất và cólợi nhuận, tuy nhiên mức giá này cũng phải đảm bảo tính cạnh tranh và hiệu quả kinhdoanh đối với người nhập khẩu Do vậy, doanh nghiệp có năng lực xuất khẩu là doanhnghiệp có khả năng xuất khẩu sản phẩm với mức giá mà thị trường nhập khẩu chấpnhận được Giá xuất khẩu phụ thuộc vào nhiều yếu tố như giá thành sản xuất, thuếXNK, chi phí XNK,… tuy nhiên yếu tố giá thành sản xuất là quan trọng nhất Do vậy,khi đánh giá tiêu chí này, cần phải đánh giá đồng thời khả năng tăng năng suất laođộng, giảm chi phí, hạ giá thành… của doanh nghiệp
- Chất lượng sản phẩm: Đối với các thị trường xuất khẩu, việc đảm bảo chất lượng
ổn định và giá thành hạ luôn là một trong những yếu tố quan trọng tạo nên sức cạnhtranh của sản phẩm và doanh nghiệp Việc đánh giá chất lượng sản phẩm là tương đốiphức tạp do phải xem xét các đặc tính của sản phẩm liên quan đến sự thỏa mãn từng nhucầu cụ thể, và thường được chia làm 2 nhóm chỉ tiêu: Nhóm chỉ tiêu không so sánh được
và nhóm các chỉ tiêu so sánh được Các chỉ tiêu này không tồn tại độc lập mà có mốiliên hệ chặt chẽ với nhau, mỗi sản phẩm sẽ có những chỉ tiêu nổi bật hơn các chỉ tiêukhác, và mỗi doanh nghiệp sẽ phải lựa chọn những chỉ tiêu quan trọng nhất làm cho sảnphẩm là cơ sở phân biệt với những sản phẩm cùng loại khác trên thị trường
- Thương hiệu doanh nghiệp: Thương hiệu là tài sản vô hình của doanh nghiệp, nó
không chỉ là dấu hiệu nhận biết sản phẩm hay doanh nghiệp mà còn uy tín, giá trị củadoanh nghiệp và cũng là phương tiện để cạnh tranh với các đối thủ trên thị trường
Trang 28quốc tế Việc xây dựng, phát triển và bảo vệ thương hiệu luôn là nhiệm vụ hàng đầu vàlâu dài đối với mỗi doanh nghiệp Việt Nam trong quá trình vươn ra thị trường quốc tế.
(4) Năng lực tổ chức hoạt động xuất khẩu
Là khả năng tổ chức triển khai hoạt động xuất khẩu theo điều kiện đã cam kết,đảm bảo đúng các tiêu chuẩn, quy định, tập quán thương mại quốc tế Năng lực tổchức xuất khẩu là một cấu thành quan trọng trong năng lực xuất khẩu của mỗi doanhnghiệp, bao gồm:
+ Năng lực đàm phán các hợp đồng ngoại thương
+ Năng lực triển khai các nghiệp vụ xuất khẩu
+ Năng lực thực hiện thanh toán quốc tế
+ Năng lực xử lý các tranh chấp thương mại quốc tế
+ Năng lực cung cấp các dịch vụ sau bán hàng trên thị trường quốc tế
+ Năng lực và kỹ năng khác có liên quan
Để có được các năng lực nêu trên, yếu tố con người luôn là yếu tố trung tâm Đểtạo nên năng lực cạnh tranh / xuất khẩu cho doanh nghiệp cần chú trọng đến nguồnnhân lực, trong đó đặc biệt là chất lượng và số lượng đội ngũ cán bộ làm công tác xuấtnhập khẩu Những cán bộ này phải là những người thông thạo ngoại ngữ, có hiểu biết,kiến thức về luật pháp, tập quán thương mại quốc tế, có kinh nghiệm trong kinh doanhquốc tế, tác phong làm việc chuyên nghiệp… Chất lượng nguồn nhân lực là yếu tốquyết định trực tiếp đến hiệu quả hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp
(5) Năng lực chiếm lĩnh thị trường
Trong hoạt động sản xuất / kinh doanh xuất khẩu, thị trường xuất khẩu luôn là yếu
tố sống còn của doanh nghiệp, sản phẩm làm ra không tiêu thụ được thì năng lực xuấtkhẩu của doanh nghiệp bị triệt tiêu Do đó, khả năng chiếm lĩnh thị trường của sảnphẩm sẽ là một yếu tố cấu thành năng lực xuất khẩu Cùng một chủng loại sản phẩm,nhưng các doanh nghiệp khác nhau sẽ có khả năng chiếm lĩnh thị trường khác nhau.Cùng một sản phẩm do cùng một doanh nghiệp sản xuất, nhưng ở thị trường khácnhau cũng có khả năng chiếm lĩnh khác nhau Các chỉ tiêu thường được sử dụng đểđánh giá khả năng chiếm lĩnh thị trường là: thị phần, tỷ suất lợi nhuận, tỷ lệ chiMarketing / doanh thu,…
Tóm tắt hệ thống tiêu chí đánh giá năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp đượctrình bày trong Bảng 1.1
Bảng 1.1 Bảng tổng kết các tiêu chí đánh giá năng lực xuất khẩu theo các yếu tố cấu thành
1 Năng lực nghiên cứu và dự báo - Nghiên cứu thị trường
Trang 29thị trường xuất khẩu - Phân tích
- Năng lực thực hiện nghiệp vụ xuất khẩu
- Năng lực thanh toán quốc tế
- Năng lực xử lý tranh chấp
5 Năng lực chiếm lĩnh thị trường - Chiến lược kinh doanh
1.1.2.2 Các tiêu chí đánh giá điều kiện đầu vào và đầu ra của hoạt động kinh doanh
1.1.2.2.1 Tiêu chí đánh giá đầu vào của hoạt động sản xuất, kinh doanh
- Về chiến lược xuất khẩu: thể hiện tầm nhìn dài hạn và khả năng hoạch định mục
tiêu xuất khẩu chiến lược của doanh nghiệp, khả năng nghiên cứu, phân tích và dự báocũng như xây dựng hệ thống các giải pháp nhằm tận dụng thời cơ, đối phó với tháchthức trong tương lai trên thị trường xuất khẩu Đồng thời, cũng thể hiện khả năng củadoanh nghiệp trong việc nắm bắt các đặc thù của ngành, môi trường kinh doanh, cungcầu trên thị trường, các yếu tố đầu vào, đầu ra của sản xuất
Chiến lược xuất khẩu gồm các nội dung chính: năng lực sản xuất, xuất khẩu củadoanh nghiệp, dự báo cung cầu, các cơ hội & thách thức, tầm nhìn, mục tiêu hướng tới(thị trường xuất khẩu mục tiêu, các chỉ tiêu kinh doanh, các nguồn cung chiến lược,
…); phương thức triển khai; thời gian thực hiện; các đối thủ cạnh tranh tương lai; …
- Về hệ thống quản lý chất lượng: Việc áp dụng và đạt được các chứng nhận quốc
tế về hệ thống quản lý chất lượng và môi trường giúp doanh nghiệp tạo được uy tín, sựtin cậy đối với người tiêu dùng quốc tế và nâng cao vị thế trên thị trường, đồng thờicũng giúp doanh nghiệp đảm bảo sự ổn định về chất lượng sản phẩm, kiểm soát đượcquá trình sản xuất
Trang 30- Nhóm chỉ tiêu đánh giá sản phẩm:
+ Về chất lượng của sản phẩm: Chất lượng sản phẩm phải được đảm bảo trong
suốt quá trình sản xuất, từ khâu cung ứng nguyên vật liệu cho đến khâu đóng gói, hoànthiện sản phẩm Tất cả các khâu, các công đoạn sản xuất phải được kiểm tra, kiểm soátnghiêm ngặt theo đúng quy trình công nghệ đã được xây dựng theo các yêu cầu chấtlượng đặc thù đối với từng loại sản phẩm Việc kiểm tra, giám sát chất lượng phảiđược thực hiện ngay trong nội bộ doanh nghiệp, có thể có sự giám sát hoặc kiểm tra từphía khách hàng hoặc các đơn vị, tổ chức chứng nhận chất lượng Sản phẩm phải đápứng các quy định chung về an toàn, môi trường và xã hội
+ Về giá sản phẩm: có vai trò quyết định đối với hành vi mua sắm của người tiêu
dung Giá bán phải phù hợp với giá trị của sản phẩm và giá cả thị trường, tuy nhiênvẫn phải đảm bảo bù đắp được chi phí sản xuất và có lợi nhuận cho doanh nghiệp
+ Về kiểu dáng, mẫu mã bao bì sản phẩm: bao bì không chỉ bảo vệ sản phẩm mà
còn là hình ảnh của doanh nghiệp, làm tăng giá trị sản phẩm, kích thích nhu cầu tiêudùng Do vậy, nhiều doanh nghiệp đã chú ý đầu tư vào việc nghiên cứu, thiết kế kiểudáng, mẫu mã bao bì sản phẩm phù hợp với thị hiếu và tạo điểm nhấn đối với sảnphẩm
+ Về uy tín, thương hiệu: được xây dựng và hình thành cùng với hình ảnh của
doanh nghiệp, do người tiêu dùng đánh giá, bình chọn căn cứ vào chất lượng sảnphẩm, dịch vụ bán hàng và sau bán hàng,… Đây cũng là một yếu tố quan trọng ảnhhưởng đến quyết định mua hàng của người dùng cũng như là căn cứ để định vị sảnphẩm của doanh nghiệp Một sản phẩm có thương hiệu, uy tín cũng có nghĩa là sảnphẩm đó có năng lực cạnh tranh trên thị trường xuất khẩu
- Về nguồn nhân lực và bộ máy quản trị doanh nghiệp: Nguồn nhân lực luôn đóng
vai trò sống còn đối với bất kỳ doanh nghiệp nào Chất lượng nguồn nhân lực được thểhiện qua các nhóm tiêu chí: trình độ chuyên môn (trình độ học vấn, tỷ lệ lao động đãqua đào tạo chuyên ngành, số lao động có kinh nghiệm, có tay nghề, trình độ tin học,ngoại ngữ…); về cơ cấu lao động (độ tuổi, giới tính, …); về hiệu suất (năng suất laođộng, thời gian lao động trung bình, …); …
Chất lượng bộ máy quản trị được phản ánh qua các tiêu chí: khả năng nghiên cứu
và xây dựng chiến lược, khả năng tổ chức và triển khai công việc, khả năng kiểm soát
và điều chỉnh quá trình kinh doanh, khả năng phân công và sử dụng lao động,…
Trang 31- Trình độ khoa học – kỹ thuật: Khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển và góp
phần không nhỏ trong giá trị sản phẩm, do vậy, việc năm bắt các thành tựu khoa học
kỹ thuật mới đã trở thành yêu cầu bức thiết và là một trong những yếu tố quan trọngtạo nên năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp Trình độ khoa học công được thể hiệnqua: khả năng tự nghiên cứu, phát triển, áp dụng công nghệ mới; mức độ hiện đại củathiết bị, máy móc; mức chi phí cho khoa học - công nghệ; đội ngũ cán bộ khoa học, kỹthuật;…
- Năng lực nghiên cứu, thiết kế sản phẩm: Do nguồn lực của các doanh nghiệp là
khác nhau nên khả năng nghiên cứu, thiết kế sản phẩm cũng rất khác nhau, đây chính
là yếu tố phân biệt sản phẩm của doanh nghiệp trên thị trường xuất khẩu, tạo nên nănglực xuất khẩu mà không phải doanh nghiệp nào cũng có được
- Hiệu quả của các hoạt động xúc tiến thương mại: Thông qua các hoạt động
quảng cáo, xúc tiến thương mại, doanh nghiệp tăng cường khả năng giới thiệu sảnphẩm đến người tiêu dùng, mở rộng thị trường Hiệu quả hoạt động này được đánh giáqua: tỷ lệ tăng / giảm doanh thu trước và sau các chương trình quảng cáo, xúc tiếnthương mại, khả năng ghi nhớ của người tiêu dùng đối với sản phẩm và doanh nghiệp,tăng / giảm thị phần sau khi thực hiện các hoạt động xúc tiến,…
1.1.2.2.2 Tiêu chí đánh giá đầu ra của quá trình kinh doanh
- Tiêu chí về khối lượng và giá trị xuất khẩu
+ Khối lượng xuất khẩu: phản ánh năng lực, quy mô, trình độ sản xuất của doanh
nghiệp, cũng như khả năng tổ chức hoạt động xuất khẩu,… Việc tăng khối lượng xuấtkhẩu có thể làm tăng lợi nhuận nhờ hiệu quả kinh tế do quy mô
+ Giá xuất khẩu: Với chiến lược xuất khẩu của các doanh nghiệp Việt Nam hiện
nay, giá xuất khẩu luôn có vai trò quyết định trong năng lực xuất khẩu của doanhnghiệp Hiệu quả chính sách giá xuất khẩu của doanh nghiệp thường được thể hiện quaviệc so sánh giá xuất khẩu qua các thời kỳ, các thị trường xuất khẩu, tương quan giữagiá xuất khẩu và khối lượng xuất khẩu, giữa giá bán của doanh nghiệp và giá thịtrường,
+ Giá trị xuất khẩu: là doanh thu của doanh nghiệp trong một kỳ xuất khẩu, được
tính bằng q x p (q là khối lượng xuất khẩu, p là giá xuất khẩu) Chỉ tiêu này cũng được
sử dụng để đánh giá năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp trong việc chiếm lĩnh thị
Trang 32phần, thị trường, tốc độ tăng trưởng qua các kỳ kinh doanh so với đối thủ cạnh tranh,với mức trung bình của ngành,…
- Tiêu chí về chi phí: Cắt giảm chi phí, tối đa hóa lợi nhuận luôn là mục tiêu của
doanh nghiệp Việc kiểm soát tốt chi phí trong hoạt động sản xuất, xuất khẩu sẽ làmtăng năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp
- Tiêu chí về hiệu quả xuất khẩu:
+ Các tiêu chí phản ánh khả năng sinh lời: tỷ suất lợi nhuận xuất khẩu và hệ sốsinh lời từ vốn đầu tư cho hoạt động xuất khẩu, ROE, ROA,…
+ Năng suất lao động bình quân
+ Hiệu quả từng hợp đồng, dự án: NPV, IRR,
- Các tiêu chí tài chính tổng hợp: gồm khả năng thanh toán (khả năng thanh toán
hiện thời, khả năng thanh toán nhanh), hệ số sử dụng vốn, chỉ số rủi ro, chỉ số tăngtrưởng tiềm năng,
1.1.2.3 Một số tiêu chí đánh giá năng lực xuất khẩu ngành
Việc đánh giá năng lực xuất khẩu của ngành cần được xem xét trong bức tranh tổng thể của cả ngành, do vậy, cần phải xây dựng một hệ thống các tiêu chí tương đối hoàn chỉnh để có thể xem xét trên nhiều khía cạnh
Theo cách tiếp cận này, năng lực xuất khẩu được nhìn nhận qua giá trị xuất khẩu hoặc mức tăng trưởng cao Những ngành hàng xuất khẩu có thành tích xuất khẩu cao được đánh giá là có năng lực xuất khẩu và có khả năng duy trì được năng lực trong tương lai Việc đánh giá có thể dựa trên một số tiêu chí như: quy
mô, số lượng các doanh nghiệp trong ngành, giá trị xuất khẩu của ngành, khả năng sản xuất và cung ứng sản phẩm, chất lượng và giá cả xuất khẩu sản phẩm, năng suất lao động trung bình của ngành, thị phần thị trường thế giới Theo
“Báo cáo đánh giá tiềm năng xuất khẩu quốc gia năm 2014” của Cục xúc tiến thương mại – Bộ Công Thương và Cục kinh tế liên bang Thụy Sĩ, những tiêu chí này được nhóm lại thành 4 chỉ số tổng hợp, gồm: Thành tích xuất khẩu, Các điều kiện cung nội địa, Thị trường thế giới, cụ thể:
- Chỉ số 1: Thành tích xuất khẩu, được tính toán dựa trên các chỉ tiêu:
+ Giá trị xuất khẩu của ngành: giá trị xuất khẩu càng lớn thì mặt hàng càng
có năng lực xuất khẩu và có tiềm năng tăng trưởng xuất khẩu trong tương lai
Trang 33+ Thị phần trên thị trường thế giới: là tỷ lệ giữa giá trị xuất khẩu của ngành
với giá trị xuất khẩu của ngành hàng đó trên thế giới Chỉ số này kết hợp với chỉ
số giá trị xuất khẩu sẽ phản ánh chính xác hơn khả năng thực sự của ngành sản phẩm trên thị trường thế giới.
+ Tăng trưởng xuất khẩu: là tỷ lệ tăng trưởng giá trị xuất khẩu theo từng
năm / thời kỳ, phản ánh năng lực cạnh tranh của ngành hàng trên thị trường thế
giới và xu hướng tăng trưởng trong tương lai
+ Cán cân thương mại tương đối: là tỷ số giữa cán cân thương mại tuyệt đối
và tổng thương mại của ngành hàng, tức là tỷ số giữa mức chênh lệch xuất khẩu
- nhập khẩu và tổng giá trị xuất, nhập khẩu ngành hàng đó.
- Chỉ số 2: Các điều kiện cung nội địa, bao gồm các chỉ số thành phần:
+ Chất lượng sản phẩm và hiệu quả của các quy trình sản xuất: được tính
toán dựa trên việc so sánh 5 chỉ số sau với các nước xuất khẩu lớn trên thế giới
và trong khu vực: năng suất lao động; chi phí lao động; chi phí sản xuất; hiện trạng của công nghệ sản xuất; chất lượng sản phẩm xuất khẩu
+ Tầm quan trọng của các mối liên kết và của những ngành phụ trợ: được
đánh giá qua: hiệu quả của những ngành phụ trợ và tầm quan trọng của các mối liên kết theo chiều dọc và chiều ngang.
- Chỉ số 3: Thị trường thế giới
+ Giá trị nhập khẩu thế giới: Tổng giá trị nhập khẩu đối với ngành hàng trên
thế giới, phản ánh nhu cầu thế giới đối với ngành hàng, mặt hàng Việc thống kê
và phân tích tổng giá trị nhập khẩu của ngành hàng là cở sở để dự báo nhu cầu, quy mô, tổng giá trị của ngành hàng trên thế giới trong tương lai.
+ Sự thay đổi của nhu cầu quốc tế : được đánh giá qua việc xem xét 2 chỉ
tiêu: tăng trưởng khối lượng nhập khẩu và tăng trưởng giá trị nhập khẩu trong một giai đoạn nhất định Chỉ số này cho thấy tốc độ tăng trưởng, sự biến động đối với nhu cầu về ngành hàng trên thị trường thế giới
+ Tiếp cận thị trường thế giới của các nhà xuất khẩu: được tính toán từ việc
đánh giá các rào cản thương mại (thuế quan và phi thuế quan) đối với sản phẩm của Việt Nam khi thâm nhập vào các thị trường tiêu thụ trên thế giới
Trang 34+ Chỉ số tổng hợp tiềm năng xuất khẩu: được tính toán trên cơ sở ba chỉ
số trên kết hợp với ý kiến đánh giá của chuyên gia tư vấn
* Phương pháp tính toán các biến số
Dựa trên bảng câu hỏi khảo sát các doanh nghiệp trong ngành, trong đó đưa ra các chỉ số vào từng mức có giá trị từ 1 (tiềm năng thấp) đến 5 (có tiềm năng cao)
Đối với chỉ số 1 và 3, chỉ số nhận giá trị là 1 nếu như giá trị của ngành hàng đó thấp hơn chuẩn dưới và nhận giá trị 5 nếu cao hơn chuẩn trên
Công thức chuẩn hóa đối với một giá trị cụ thể như sau:
Giá trị - chuẩn thấp Chỉ số = 1+4* -
Chuẩn cao - chuẩn thấp Đối với chỉ số 2, giá trị của chỉ số được xác định dựa trên thông tin do các doanh nghiệp đươc khảo sát cung cấp theo bảng hỏi trong cuộc khảo sát doanh nghiệp và các bên liên quan
Đối với mỗi chỉ số, giá trị từ 1 đến dưới 2,5 thể hiện sản phẩm ít có tiềm năng xuất khẩu; giá trị từ 2,6 đến 3 thể hiện sản phẩm có tiềm năng ở mức trung bình; và giá trị lớn hơn 3 thể hiện sản phẩm có tiềm năng xuất khẩu cao
1.1.3 Mô hình đánh giá năng lực xuất khẩu và các nhân tố ảnh hưởng
Như đã phân tích ở trên, năng lực cạnh tranh là điều kiện cần của năng lực xuấtkhẩu Giữa các mô hình phân tích và đánh giá năng lực cạnh tranh và năng lực xuấtkhẩu luôn có những điểm chung nhất định Do vậy, cần tìm ra mô hình phù hợp cho việcđánh giá năng lực xuất khẩu dựa trên việc xem xét các yếu tố chung và yếu tố đặc thù
1.1.3.1 Mô hình kim cương của M.Porter
Theo M Porter, các nhân tố cấu thành năng lực cạnh tranh bao gồm: các điều kiệnnhân tố sản xuất, các điều kiện về cầu, các ngành hỗ trợ và có liên quan, chiến lược, cơcấu và mức độ cạnh tranh cùng với tác động của nhà nước và thời cơ Các nhân tố này
và mối quan hệ giữa chúng được minh họa trong Mô hình Kim cương (Hình 1) Nhómcác điều kiện nhân tố sản xuất bao gồm nguồn vốn, tài nguyên thiên nhiên, cơ sở hạtầng… Những yếu tố này giúp tạo ra những lợi thế ban đầu cho ngành Nhóm điềukiện về cầu đo lường nhu cầu trong và ngoài nước về sản phẩm, dịch vụ, điều này cóảnh hưởng đến hướng đổi mới của ngành Nhóm các ngành hỗ trợ và có liên quan xem
Trang 35xét chuỗi giá trị của ngành chẳng hạn như khả năng tiếp cận nhà cung cấp tốt Ngành
sẽ có được lợi thế nếu có hệ thống các ngành hỗ trợ đầy đủ và hiệu quả Cuối cùng,chiến lược, sự cạnh tranh gồm mức độ cạnh tranh trong ngành và môi trường nội địakhuyến khích đẩy đầu tư và đổi mới trong ngành
Mô hình Kim cương tóm tắt các nhân tố tạo thành năng lực cạnh tranh của ngành,
có xét đến các yếu tố bên ngoài về thời cơ và chính sách của Chính phủ Trên thực tế,
mô hình này được sử dụng phổ biến trong việc phân tích các nhân tố cạnh tranh ngành.Tại Việt Nam, mô hình này đã được ứng dụng để đánh giá năng lực cạnh tranh củamột số ngành xuất khẩu như ngành cao su (Vương Quốc Thắng, 2014), ngành chế biếnthủy sản xuất khẩu (Nguyễn Quốc Nghi, 2012)…
Trang 36Hình 1.1: Mô hình kim cương
Nguồn: Michael E Porter 1990 tr 229
* Các điều kiện nhân tố sản xuất:
Hiện trạng của một quốc gia liên quan đến các yếu tố sản xuất như lao động kỹnăng, cơ cấu hạ tầng v.v… chúng có liên quan đến cạnh tranh cho những ngành riêng.Các yếu tố này có thể chia thành các nhóm như nguồn nhân lực (trình độ học vấn, chiphí lao động, sự cam kết v.v…), các nguồn nguyên liệu (nguồn nguyên liệu tự nhiên,không gian v.v…), nguồn kiến thức, nguồn vốn và cơ sở hạ tầng Các yếu tố này cũngbao gồm các yếu tố như chất lượng nghiên cứu trường đại học, sự bãi bỏ các quy địnhcủa thị trường lao động, khả năng chu chuyển nhanh của thị trường chứng khoán củaquốc gia v.v… Các yếu tố quốc gia này thường cung cấp những lợi thế cạnh tranh đầutiên và từ đó lợi thế cạnh tranh được xây dựng trên cơ sở này Mỗi quốc gia có mộtnhóm các điều kiện yếu tố cụ thể vì thế nên mỗi quốc gia sẽ phát triển những ngànhcông nghiệp mà nhóm điều kiện các yếu tố đầu vào của nó là tối ưu Điều này cũng giảithích được sự tồn tại của các quốc gia gọi là “quốc gia có nguồn lao động rẻ”, các nướcnông nghiệp (đất nước rộng lớn với nguồn tài nguyên đất đai dồi dào) Michael Porterchỉ ra rằng các yếu tố này không phải có từ thiên nhiên hay được thừa hưởng mà nó cóthể thay đổi hay phát triển Ví dụ như các sáng kiến về chính trị, tiến bộ công nghệ hoặcthay đổi về văn hóa xã hội có thể hình thành nên những yếu tố đầu vào của quốc gia
* Các điều kiện về cầu
Các điều kiện của cầu ảnh hưởng đến việc hình thành nên các điều kiện yếu tố đầuvào của quốc gia Chúng tác động đến không gian, xu hướng cải tiến và phát triển sảnphẩm Theo Porter các nhu cầu được thể hiện bởi ba đặc tính chính sau: sự hỗn hợp(sự hỗn hợp giữa nhu cầu và sở thích người tiêu dùng), phạm vi và tốc độ phát triển,phạm vi và tốc độ phát triển và các cơ chế mà nó truyền những sở thích từ thị trườngtrong nước sang thị trường nước ngoài
Nhà nước
Thời cơ
Chiến lược, cơ cấu và sự cạnh tranh Các điều kiện
Trang 37Những ngành phải cạnh tranh mạnh ở trong nước thì có tính cạnh tranh quốc tế tốthơn Thị trường trong nước với số cầu lớn và có những khách hàng đòi hỏi cao vànhững cạnh tranh trong ngành khốc liệt hơn sẽ có khả năng cạnh tranh cao hơn
* Các ngành hỗ trợ và có liên quan
Một ngành công nghiệp thành công trên toàn thế giới có thể tạo nên lợi thế cạnhtranh cho các ngành hỗ trợ hoặc có liên quan Những ngành công nghiệp cung cấp cótính cạnh tranh sẽ tăng cường sức mạnh cho việc đổi mới và quốc tế hóa các ngành ởnhững giai đoạn sau trong chuỗi hệ thống giá trị Bên cạnh những nhà cung cấp, nhữngngành công nghiệp có liên quan cũng rất quan trọng Đây là những ngành công nghiệp
có thể sử dụng và phối hợp các hoạt động riêng lẻ với nhau trong chuỗi giá trị hoặcchúng có liên quan đến những sản phẩm bổ sung (ví dụ như phần cứng, phần mềmv.v…)
Tính cạnh tranh của một ngành phụ thuộc vào sức mạnh của các nhà cung cấp cáchàng hoá và các dịch vụ hỗ trợ Các nhà cung cấp hàng hoá có khả năng cạnh tranhtrên toàn cầu có thể mang lại lợi thế cạnh tranh thông qua sự lan truyền công nghệ Sựhiện diện cụm công nghiệp tạo ra cho doanh nghiệp lợi thế kinh tế theo quy mô
* Chiến lược cơ cấu và sự cạnh tranh
Đây là điều kiện của một quốc gia mà nó quyết định cách các công ty được thànhlập, được tổ chức và được quản lý và nó quyết định các đặc điểm của cạnh tranh trongnước Ở đây các lĩnh vực văn hóa đóng một vai trò quan trọng Ở các quốc gia khácnhau, các yếu tố như cơ cấu quản lý, đạo đức làm việc, các tác động qua lại giữa cáccông ty được hình thành khác biệt nhau Điều này sẽ cung cấp những lợi thế và bất lợithế cho những ngành công nghiệp riêng Các mục tiêu tập thể tiêu biểu nhất liên quanđến các mô hình cam kết của công nhân là một yếu tố tối quan trọng Nó bị ảnh hưởngmạnh của cấu trúc sở hữu và sự kiểm soát Ví dụ như các công ty tư nhân hoàn toànhoạt động khác biệt so với các công ty nhà nước Porter cho rằng các đối thủ cạnhtranh trong nước và việc tìm kiếm lợi thế cạnh tranh trong một quốc gia có thể giúpcung cấp các tổ chức các cơ sở để đạt được lợi thế cạnh tranh trên quy mô toàn cầu.Porter cho rằng các ngành kinh tế của quốc gia sẽ thành công nếu “hệ thống kimcương” này vận hành thuận lợi Tác động tương hỗ của các nhóm nhân tố này thúc đẩy
sự phát triển của ngành và lợi thế của một yếu tố này sẽ tạo điều kiện thuận lợi và pháttriển các nhóm yếu tố khác
Trang 38Những ngành có chiến lược và cơ cấu phù hợp với các định chế và chính sách củaquốc gia, hoạt động trong môi trường có cạnh tranh trong nước căng thẳng hơn sẽ cótính cạnh tranh quốc tế mạnh hơn.
Nhận xét:
- Hiện nay, mô hình Kim cương của M Porter thường được sử dụng để xem xétkhả năng cạnh tranh quốc gia dưới góc độ phân tích khả năng của các công ty tham giavào chuỗi giá trị gia tăng trong một ngành công nghiệp cụ thể trong quốc gia đó đểduy trì giá trị gia tăng bối cảnh cạnh tranh quốc tế Các công ty này có thể thuộc sởhữu trong nước những cũng có thể thuộc sở hữu nước ngoài Tuy nhiên, M Porterkhông xét đến công ty có yếu tố đầu tư nước ngoài vào mô hình đánh giá, mà chỉ phânbiệt các thị trường cạnh tranh cũng như lợi thế cạnh tranh theo khu vực địa lý
- Trong bối cảnh toàn cầu hóa, công ty nào có thể hiện diện tại nhiều quốc gia sẽ
có những lợi thế bền vững hơn những công ty khác do có thể bổ sung lợi thế từ nhữngkhu vực địa lý cho nhau Tuy nhiên, quan điểm của M Porter, chiến lược toàn cầuhiệu quả nhất là một ngành của một quốc gia là tập trung các hoạt động của chuỗi giátrị gia tăng trên chính quốc gia đó, rồi từ đó mới “phục vụ” thị trường thế giới Theo
M Porter, các công ty có chi nhánh toàn cầu chỉ nhằm mở rộng các thị trường xuấtkhẩu và cũng không xem xét tính phức tạp trong hoạt động toàn cầu thực sự của cáccông ty đa quốc gia
1.1.3.2 Mô hình “FOUR GEARS” của Trung tâm thương mại quốc - ITC (UNCTAD/WTO)
Xuất phát từ nhu cầu của các quốc gia, nhất là các nước đang phát triển, về mộtchiến lược xuất khẩu toàn diện, khả thi và dễ quản lý, ITC đã đề xuất một công cụ xâydựng chiến lược xuất khẩu dựa trên việc đánh giá một cách thực tế năng lực xuất khảucủa quốc gia, vị thế cạnh tranh, và những nguồn lực sẵn có dành cho xuất khẩu Trongbối cảnh đó, mô hình “FOUR GEARS” là một trong những công cụ xây dựng chiếnlược xuất khẩu đầu tiên được ITC đề xuất vào năm 2003 (ITC, 2013) Mô hình chỉ rabốn yếu tố quyết định cấu thành năng lực xuất khẩu của một ngành Đó là các yếu tốtrong phạm vi ngành (border-in), các yếu tố liên quan đến ngành (border), các yếu tốbên ngoài phạm vi ngành (border-out) và các yếu tố phát triển (development) Các yếu
tố bên ngoài phạm vi ngành là khả năng thâm nhập thị trường, năng lực của các ngành
hỗ trợ và hoạt động xúc tiến ở tầm quốc gia Các yếu tố trong phạm vi ngành gồm cóphát triển năng lực, phát triển vốn nhân lực, đa dạng hóa năng lực Các yếu tố liênquan đến ngành bao gồm cơ sở hạ tầng, chi phí kinh doanh, thúc đẩy thương mại Các
Trang 39yếu tố phát triển gồm ba nội dung: tạo giá trị kinh tế tăng thu nhập và việc làm, pháttriển các giá trị văn hóa xã hội và môi trường, đầu tư phát triển vùng Mô hình nàycũng được sử dụng để xây dựng chiến lược cho quốc gia, cho vùng.
Năng lực xuất khẩu xem xét các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh củangành Theo phương pháp bánh xe tương tác đề xuất bới ITC, năng lực xuất khẩu củangành được đánh giá dựa trên bốn “bánh xe” khác nhau Những nhân tố này kết nốivới nhóm các yếu tố phát triển thông qua các “bánh xe” đan xen và phụ thuộc lẫnnhau
Hình 1.2: Mô hình bốn bánh xe tương tác
Nguồn: ITC 2003, tr 3
a Các yếu tố bên trong phạm vi ngành
Các yếu tố này đảm bảo các doanh nghiệp trong ngành đáp ứng một cách hiệu quảđối với các cơ hội trên thị trường quốc tế, do vậy, nó cần tập trung vào một số nộidung sau:
+ Tăng cường sức cạnh tranh (chất lượng, giá cả, nhu cầu khách hàng, ) đối vớinhững hàng hóa đang cung cấp trên thị trường
+ Tạo ra các sản phẩm mới, năng lực cung cấp mới
+ Tăng cường năng lực về công nghệ và kỹ năng, khuyến khích kinh doanh xuấtkhẩu
Các yếu tố bên trong phạm vi ngành được chia làm 3 yếu tố chính
Trang 40- Phát triển năng lực ngành: dựa trên năng lực sản xuất hiện tại – về năng suất,
số lượng, chất lượng, và giá trị gia tăng – để nâng cao lợi thế cạnh tranh hiện tại hoặctrong tương lai Nâng cao năng lực sản xuất đòi hỏi phải có sự kết hợp giữa đầu tưtrong lĩnh vực tư nhân và quản lý chuyên ngành của khu vực công, cụ thể:
+ Thiết lập môi trường kinh doanh khuyến khích đầu tư từ khu vực tư nhân, mởrộng kinh doanh cũng như các hỗ trợ cụ thể cho ngành
+ Đảm bảo việc hỗ trợ xuất khẩu đối với ngành đến được với từng doanh nghiệptrong ngành, qua đó kích thích đầu tư, nâng cao năng suất, hướng về xuất khẩu
- Đa dạng hóa năng lực ngành: yếu tố này ít ảnh hưởng trong nội bộ ngành, mà
nó thường ảnh hưởng đối với việc sản xuất ra dòng sản phẩm mới (ví dụ mở rộng hoặcđiều chỉnh chuỗi giá trị hiện tại của ngành) hoặc sản xuất ra những sản phẩm liên quan(ví dụ tạo ra một chuỗi giá trị mới của ngành) Đa dạng hóa năng lực ngành gắn vớiyêu cầu nguồn vốn lớn và rủi ro cao Hỗ trợ phát triển các cụm doanh nghiệp hoặc liêndoanh đầu tư có thể tăng cường năng lực đa dạng hóa xuất khẩu
- Phát triển nguồn vốn nhân lực: đây là yếu tố vô cùng quan trọng trong việc
nâng cao năng lực xuất khẩu của ngành, nhất là trong nền kinh tế hiện đại
b Các yếu tố liên quan đến ngành
Yếu tố này có vai trò ảnh hưởng tương đối lớn trong việc nâng cao năng lực xuấtkhẩu của ngành, nó định hình môi trường hoạt động của ngành, và trực tiếp xác địnhchi phí giao dịch xuất khẩu
- Cơ sở hạ tầng liên quan đến thương mại là một trong những nút thắt trong hệ
thống cơ sở hạ tầng hỗ trợ xuất khẩu, nó không chỉ ảnh hưởng đến tỷ suất lợi nhuận
mà còn ảnh hưởng đến các ngành hỗ trợ (trong Các yếu tố bên ngoài phạm vi ngành)
và yếu tố phát triển năng lực ngành (trong Các yếu tố bên trong phạm vi ngành)
- Thúc đẩy thương mại là các quy định pháp lý, thủ tục hành chính, các yêu cầu
về hồ sơ, giấy tờ để kiểm soát hoạt động của ngành (nhập khẩu, gia công, xuất khẩu),việc thông quan hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu luôn đóng vai trò quan trọngtrong dòng chảy xuất khẩu cũng như tính cạnh tranh của quốc gia
- Chi phí kinh doanh cần luôn chú ý giảm các chi phí trong hoạt động xuất khẩu,
ví dụ cần giảm thiểu tối đa chi phí đăng ký doanh nghiệp, chi phí cấp chứng chỉ ISO
9000/1200, chi phí internet, chi phí cảng, chi phí kiểm dịch, chi phí bảo hiểm,…
c Các yếu tố ngoài ngành: nhằm cung cấp cho các nhà xuất khẩu cái nhìn tổng
quát, các số liệu và các ví dụ cụ thể trong việc đề ra chiến lược xuất khẩu Tuy nhiêncác yếu tố này chỉ có tác dụng nâng cao doanh số bán hàng đối với những sản phẩmsẵn có, hay nói cách khác, nó chỉ phản ánh hiện trạng của thị trường