TRẦN THỊ TUYẾT HỒNG QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC SÂN KHẤU – ĐIỆN ẢNH HÀ NỘI TRONG ĐÀO TẠO THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ Chuyên ngành: Quản lí giáo dục Mã số: 60140114 LUẬN VĂN TH
Trang 1TRẦN THỊ TUYẾT HỒNG
QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC
Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC SÂN KHẤU – ĐIỆN ẢNH HÀ NỘI
TRONG ĐÀO TẠO THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
HÀ NỘI, 2016
Trang 2TRẦN THỊ TUYẾT HỒNG
QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC
Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC SÂN KHẤU – ĐIỆN ẢNH HÀ NỘI
TRONG ĐÀO TẠO THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ
Chuyên ngành: Quản lí giáo dục
Mã số: 60140114
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Nguyễn Thị Tình
HÀ NỘI, 2016
Trang 3Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong Ban Giám hiệu và Phòng Sau đại học của Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã tạo mọi điều kiện tốt nhất để tôi được học tập, rèn luyện trong suốt thời gian học tập tại Trường Cảm ơn các thầy cô
đã trang bị cho tôi những kiến thức về công tác quản lí giáo dục và phương pháp nghiên cứu khoa học để thực hiện luận văn
Tôi xin cảm ơn Ban Giám hiệu Trường Đại học Sân khấu – Điện ảnh Hà Nội đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi có thể tham gia khóa học
Tôi xin cảm ơn các thầy, cô giáo cùng bạn bè đồng nghiệp và các bạn sinh viên trong và ngoài Trường đã giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu, khảo sát, tập hợp tư liệu để thực hiện luận văn
Trong quá trình thực hiện, mặc dù đã cố gắng đi sâu nghiên cứu, tìm hiểu và giải quyết vấn đề đặt ra trong đề tài nhưng chắc chắn luận văn vẫn sẽ còn tồn tại những thiếu sót Vì vậy, tôi rất mong nhận được sự góp ý của các thầy cô và các bạn đồng nghiệp để hoàn thiện hơn nghiên cứu của mình
Hà N ội, 10 tháng7 năm 2016
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Trần Thị Tuyết Hồng
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và không trùng lặp với các đề tài khác Tôi cũng xin cam đoan rằng mọi
sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Trần Thị Tuyết Hồng
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
LỜI CAM ĐOAN
BẢNG KÝ HIỆU CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC TRONG ĐÀO TẠO THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ 6
1.1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 6
1.2 Một số khái niệm cơ bản của đề tài 8
1.2.1 Quản lí, quản lí giáo dục và quản lí trường học 8
1.2.2 Hoạt động dạy học 11
1.2.3 Hoạt động dạy học đại học 11
1.2.4 Quản lí hoạt động dạy học 13
1.2.5 Tín chỉ 15
1.2.6 Đào tạo theo học chế tín chỉ 15
1.2.7 Quản lí hoạt động dạy học theo học chế tín chỉ 16
1.3 Những đặc trưng của hoạt động dạy học trong đào tạo theo HCTC 16
1.3.1 Đặc điểm của học chế tín chỉ 16
1.3.2 Sự khác nhau giữa đào tạo theo HCTC với đào tạo theo niên chế 17
1.3.3 Những ưu điểm của phương thức đào tạo theo tín chỉ 21
1.3.4 Những thách thức của phương thức đào tạo theo tín chỉ 23
1.4 Quản lí hoạt động dạy học trong đào tạo theo học chế tín chỉ 25
1.4.1 Quản lí hoạt động dạy của giảng viên theo học chế tín chỉ 25
1.4.2 Quản lí hoạt động học của sinh viên theo học chế tín chỉ 29
1.4.3 Quản lí đội ngũ cố vấn học tập và giảng viên chủ nhiệm 30
1.4.4 Quản lí công tác kiểm tra – đánh giá theo học chế tín chỉ 31
1.4.5 Quản lí cơ sở vật chất – phương tiện dạy học phục vụ đào tạo theo học chế tín chỉ 33
1.5 Một số đặc điểm cần lưu ý khi quản lí hoạt động dạy học trong đào tạo theo học chế tín chỉ 34
Trang 61.6 Các yếu tố ảnh hưởng đến HĐDH trong đào tạo theo HCTC 36
CHƯƠNG 2 : THỰC TRẠNG QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC SÂN KHẤU ĐIỆN ẢNH HÀ NỘI TRONG ĐÀO TẠO THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ 39
2.1 Khái quát về Trường Đại học Sân khấu – Điện ảnh Hà Nội 39
2.2 Tổ chức nghiên cứu thực trạng 41
2.3 Thực trạng hoạt động dạy học ở Trường Đại học Sân khấu – Điện ảnh Hà Nội trong đào tạo theo học chế tín chỉ 42
2.3.1 Thực trạng HĐDH của giảng viên trong đào tạo theo HCTC 42
2.3.2 Thực trạng hoạt động học tập của SV trong đào tạo theo HCTC 49
2.3.3 Thực trạng hoạt động kiểm tra – đánh giá kết quả học tập của sinh viên theo học chế tín chỉ 52
2.3.4 Thực trạng cơ sở vật chất phục vụ dạy học theo HCTC 54
2.4 Thực trạng quản lí hoạt động dạy học ở Trường Đại học Sân khấu – Điện ảnh Hà Nội trong đào tạo theo học chế tín chỉ 56
2.4.1.Thực trạng quản lí HĐDHcủa giảng viên theo học chế tín chỉ 56
2.4.2 Thực trạng quản lí hoạt động học tập của sinh viên theo HCTC 59
2.4.3 Thực trạng quản lí đội ngũ CVHT và giảng viên chủ nhiệm 63
2.4.4 Thực trạng quản lí hoạt động kiểm tra – đánh giá kết quả học tập của sinh viên theo học chế tín chỉ 64
2.4.5 Thực trạng quản lí việc sử dụng hiệu quả cơ sở vật chất, phương tiện kĩ thuật phục vụ dạy học theo học chế tín chỉ 66
2.5 Đánh giá chung về thực trạng quản lí hoạt động dạy học trong đào tạo theo học chế tín chỉ 68
Tiểu kết chương 2 71
CHƯƠNG 3: BIỆN PHÁP QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC SÂN KHẤU – ĐIỆN ẢNH HÀ NỘI TRONG ĐÀO TẠO THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ 72
3.1 Định hướng đề xuất các biện pháp 72
3.1.1 Xuất phát từ mục tiêu đào tạo Trường ĐH SK - ĐA HN 72
3.1.2 Xuất phát từ đặc điểm đào tạo Trường ĐH SK - ĐA HN 72
Trang 73.2 Các nguyên tắc đề xuất biện pháp 73
3.3 Một số biện pháp cụ thể 74
3.3.1 Nâng cao nhận thức cho cán bộ quản lí, giảng viên và sinh viên về mục đích, ý nghĩa của học chế tín chỉ (xây dựng văn hoá tín chỉ) 74
3.3.2 Chỉ đạo, giám sát việc xây dựng và thực hiện đề cương môn học theo học chế tín chỉ 77
3.3.3 Tổ chức bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ, tập huấn về đổi mới phương pháp dạy học cho toàn thể giảng viên 81
3.3.4 Tổ chức đổi mới KT - ĐG thúc đẩy hoạt động tự học của sinh viên 85
3.3.5 Xây dựng và phát triển đội ngũ cố vấn học tập đủ về số lượng và mạnh về chất lượng 88
3.3.6 Tăng cường tổ chức sinh hoạt tập thể cho sinh viên 90
3.3.7 Khai thác, sử dụng hiệu quả và bổ sung mua sắm trang thiết bị phục vụ hoạt động dạy học trong đào tạo theo học chế tín chỉ 91
3.4 Mối quan hệ giữa các biện pháp 94
3.5 Khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp 95
Tiểu kết chương 3 101
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 102
DANH MỤC CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO 106 PHỤ LỤC
Trang 8Giáo dục và đào tạo GD&ĐT
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
I Danh mục bảng
1 Bảng 2.1 Thực trạng xây dựng đề cương môn học 43
2 Bảng 2.2 Thực trạng thực hiện đề cương môn học 45
3 Bảng 2.3 Thực trạng hoạt động dạy của giảng viên 47
4 Bảng 2.4 Thực trạng hoạt động học trên lớp của sinh viên 49
5 Bảng 2.5 Thực trạng SV đăng kí các môn học (và tự chọn) theo CTĐT 51
6 Bảng 2.6 Thực trạng hoạt động kiểm tra – đánh giá kết quả của SV 53
7 Bảng 2.7 Thực trạng cơ sở vật chất phục vụ dạy học 54
8 Bảng 2.8 Thực trạng quản lí việc xây dựng và thực hiện ĐCMH 56
9 Bảng 2.9 Thực trạng quản lí đổi mới nội dung, phương pháp dạy học 58
10 Bảng 2.10 Thực trạng quản lí học tập của SV theo HCTC 60
11 Bảng 2.11 Thực trạng quản lí SV học đúng tiến độ, chương trình đào tạo 62
12 Bảng 2.12 Thực trạng quản lí đội ngũ CVHT và GVCN 63
13 Bảng 2.13 Thực trạng quản lí KT – ĐG kết quả học tập của SV 64
14 Bảng 2.14 Thực trạng quản lí việc sử dụng hiệu quả CSVC, PT – KT phục
17 Bảng 3.3 Tương quan giữa tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp 99
II Danh mục biểu đồ
1 Biểu đồ 3.1 Tính cần thiết của những biện pháp quản lí HĐDH trong đào
III Danh mục sơ đồ
1 Sơ đồ 3.1 Mối quan hệ giữa các biện pháp 95
Trang 10Để tạo điều kiện cho sinh viên tự học, tự nghiên cứu, được phép chọn cho mình một ngành học phù hợp với năng khiếu của bản thân, liên thông, nâng cao trình độ được thuận lợi thì Trường Đại học Sân khấu – Điện ảnh Hà Nội từ năm
2014 đến nay đã có cơ chế chuyển đổi từ phương thức đào tạo từ niên chế học phần sang phương thức đào tạo theo học chế tín chỉ Tuy nhiên, thực tế cho thấy việc chuyển đổi này còn gặp nhiều khó khăn trong quản lí hoạt động dạy học như: Giảng viên và sinh viên chưa thay đổi kịp với phương thức đào tạo mới, đề cương môn học còn bất cập, cơ sở vật chất – trang thiết bị, kỹ thuật phục vụ cho đào tạo theo học chế tín chỉ còn chưa đáp ứng yêu cầu… Vì vậy, cần có nguồn tài chính để đáp ứng đủ cơ sở vật chất – trang thiết bị, kỹ thuật, điều chỉnh lại đề cương môn học để phù hợp với đào tạo tín chỉ, tạo điều kiện về thời gian để giảng viên, cán bộ, cố vấn học tập nâng cao nhận thức, kiến thức và thay đổi phương pháp khi bước sang đào tạo tín chỉ để sinh viên được trang bị đầy đủ kiến thức, vững bước góp phần tích cực vào sự nghiệp giữ gìn, kế thừa và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
1.2 Về mặt lí luận
Giáo dục được coi là nền móng của sự phát triển khoa học, kỹ thuật, đem lại sự thịnh vượng cho nền kinh tế quốc dân Vì lẽ đó, giáo dục được coi đồng nghĩa với sự pháp triển Có thể khẳng định, không có giáo dục thì không có bất cứ sự phát triển nào đối với con người, với kinh tế, văn hóa Ở những nước phát triển hệ thống giáo dục đại học được chính phủ rất coi trọng và phương thức đào tạo tiến tiến được áp dụng ngày càng rộng rãi là đào tạo theo học chế tín chỉ như các nước Bắc Mĩ, Liên minh Châu Âu,
Trang 11Nhật Bản, Philippin, Đài Loan, Hàn Quốc, Thái Lan, Malaisia, Indonesia, Ấn Độ,
Senegal, Mozambic, Nigeria, Uganda, Camơrun, Trung Quốc, v.v…
Nhận thức rõ vai trò của giáo dục và đào tạo trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, Đảng ta có nhiều chủ trương, chính sách và giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo trong
đó nhấn mạnh việc thực hiện chuyển sang chế độ đào tạo theo học chế tín chỉ như:
Nghị quyết số 14/2005/NQ-CP về đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục đại
học Việt Nam giai đoạn 2006 – 2020 nêu rõ: “Xây dựng và thực hiện lộ trình
chuy ển sang chế độ đào tạo theo học chế tín chỉ, tạo điều kiện thuận lợi để người
h ọc tích luỹ kiến thức, chuyển đổi ngành nghề, liên thông, chuyển tiếp tới các cấp
h ọc tiếp theo ở trong nước và ở nước ngoài”
Quyết định 43/2007/QĐ-BGDĐT ngày 15/8/2007 của Bộ Giáo dục và Đào
tạo về “Ban hành Quy chế đào tạo đại học và cao đẳng hệ chính quy theo hệ thống
tín ch ỉ”
Thông tư 57/2012/TT-BGDĐT ngày 27/12/2012 của Bộ giáo dục và Đào tạo
về “Sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy chế đào tạo đại học và cao đẳng hệ chính
quy theo h ệ thống tín chỉ ban hành kèm theo Quyết định số 43/2007/QĐ-BGDĐT
ngày 15 tháng 8 n ăm 2007 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo”
Quy ết định số 17/VBHN-BGDĐT ngày 15/5/2014 của Bộ giáo dục và Đào
t ạo về ban hành quy chế đào tạo đại học và cao đẳng chính quy theo hệ thống tín
ch ỉ
Các trường đại học trong cả nước từng bước chuyển sang phương thức đào tạo theo học chế tín chỉ, điều này đòi hỏi một sự thay đổi lớn về công tác quản lí đào tạo của Nhà trường mà trong đó quản lí hoạt động dạy học là một nhiệm vụ quan trọng không thể thiếu trong quá trình đào tạo ở bất kì một trường đại học nào Quản lí hoạt động dạy học là quản lí kế hoạch dạy học quy định nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức giảng dạy, thời lượng dạy học từng môn, định hướng, điều khiển, phối hợp các lực lượng quản lí và giáo dục cũng như sử dụng các nguồn lực khác để đạt được mục tiêu đào tạo
Trang 12Đã có một số công trình nghiên cứu về quản lí hoạt động dạy học trong ĐT theo HCTC ở giáo dục đại học tuy nhiên nghiên cứu về quản lí hoạt động dạy học trong ĐT theo HCTC ở các Trường thuộc khối nghệ thuật nói chung và Trường Đại học Sân khấu – Điện ảnh Hà Nội nói riêng thì chưa thấy có Quản lí hoạt động dạy học theo HCTC ở các trường khối nghệ thuật có những đặc thù riêng khác so với quản lí hoạt động dạy học ở các trường khác Do đó, khi Trường chuyển đổi sang phương thức đào tạo theo học chế tín chỉ cũng cần có biện pháp quản lí hoạt động dạy học phù hợp, góp phần đào tạo sinh viên ra trường đáp ứng được yêu cầu xã hội
và có đóng góp tích cực vào sự phát triển văn hóa nghệ thuật của đất nước
Xuất phát từ thực tiễn và lí luận đó, tôi lựa chọn đề tài: "Quản lí hoạt động
dạy học ở Trường Đại học Sân khấu – Điện ảnh Hà Nội trong đào tạo theo học chế tín chỉ” làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình
2 Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu lý luận và thực trạng quản lí hoạt động dạy học trong đào tạo theo học chế tín chỉ ở Trường Đại học Sân khấu – Điện ảnh Hà Nội từ đó đề xuất biện pháp quản lí hoạt động dạy học góp phần nâng cao chất lượng dạy học ở Trường Đại học Sân khấu – Điện ảnh Hà Nội vàphát triển Nhàtrường
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Hệ thống hoá cơ sở lý luận của hoạt động dạy học và quản lí hoạt động dạy học trong đào tạo theo học chế tín chỉ
3.2 Khảo sát,phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động dạy học và thực trạng quản lí hoạt động dạy học ở Trường Đại học Sân khấu – Điện ảnh Hà Nội trong đào tạo theo học chế tín chỉ
3.3 Đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lí hoạt động dạy học ở Trường Đại học Sân khấu – Điện ảnh Hà Nội trong đào tạo theo học chế tín
chỉ
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Quản lí hoạt động dạy học ở Trường Đại học Sân khấu – Điện ảnh Hà Nội trong đào tạo theo học chế tín chỉ
Trang 134.2 Phạm vi nghiên cứu
- V ề nội dung nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng quản lí hoạt động dạy học ở Trường Đại học Sân khấu – Điện ảnh Hà Nội trong đào tạo theo học chế tín chỉ Riêng với hoạt động học tập của sinh viên, đề tài nghiên cứu nội dung quản lí hoạt động học của sinh viên được qui định theo thời khóa biểu
- V ề khách thể điều tra
+ Căn cứ mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu, tác giả lựa chọn 3 nhóm khách thể khảo sát như sau:
Nhóm 1: Giảng viên tham gia giảng dạy với số lượng 55 giảng viên
Nhóm 2: Sinh viên năm thứ 2 đang học ở Trường với số lượng 110 sinh viên
Nhóm 3: Cán bộ quản lí với số lượng 19 cán bộ
Điều tra về tính cần thiết và khả thi của các biện pháp tác giả xin ý kiến của 45 Cán
bộ quản lí và giảng viên
+ Khảo sát về hoạt động dạy học và quản lí hoạt động dạy học trong đào tạo theo học chế tín chỉ tác giả xin ý kiến đánh giá với 4 mức độ Tốt: 4 điểm, khá: 3 điểm, trung bình: 2 điểm, yếu: 1 điểm
5 Giả thuyết khoa học
Trong giai đoạn chuyển đổi từ phương thức đào tạo theo niên chế sang phương thức đào tạo theo học chế tín chỉ, việc quản lí hoạt động dạy học ở Trường Đại học Sân khấu – Điện ảnh Hà Nội chưa thay đổi kịp với phương thức đào tạo mới, nên còn có một số hạn chế nhất định Nếu đề xuất và thực hiện đồng bộ những biện pháp quản lí dạy học theo học chế tín chỉ một cách hợp lý, khoa học và sát thực
sẽ nâng cao được chất lượng đào tạo của Trường ĐH SK – ĐA HN đáp ứng yêu cầu trong giai đoạn hiện nay
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Nhóm các ph ương pháp nghiên cứu lý luận
Phân tích, so sánh, tổng hợp, khái quát hóa những vấn đề lý luận có liên quan đến đề tài nghiên cứu từ các tài liệu thu thập được như: các văn bản, sách báo, tài liệu, công trình nghiên cứu khoa học để xây dựng cơ sở lý luận của đề tài
Trang 146.2 Nhóm các ph ương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp quan sát: Quan sát hoạt động dạy và học của giảng viên, sinh viên thông qua một số giờ học trên lớp và trong phòng thực hành, phòng đa năng, phòng dựng, sàn tập để thu thập thông tin cần thiết liên quan đến vấn đề nghiên cứu
- Phương pháp điều tra viết: xây dựng các mẫu phiếu điều tra nhằm thu thập
ý kiến về vấn đề nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động: dựa vào một số kế hoạch về
quản lí hoạt động dạy học, kết quả kiểm tra - đánh giá kết quả học tập của SV thông qua bộ phận quản lí điểm để thu thập thêm những thông tin cần thiết liên quan đến vấn đề nghiên cứu
- Phương pháp phỏng vấn: hỏi trực tiếp giảng viên, sinh viên và những người
có liên quan đến hoạt động dạy học theo học chế tín chỉ của Trường Đại học Sân khấu – Điện ảnh Hà Nội nhằm thu thập, bổ sung, kiểm tra và làm rõ hơn những thông tin đã thu được từ khảo sát thực tiễn
- Phương pháp chuyên gia (hỏi ý kiến chuyên gia, các đồng nghiệp, các nhà quản lí) tác giả tranh thủ sự góp ý, định hướng của các nhà khoa học, các chuyên gia nghiên cứu trên các lĩnh vực có liên quan về hướng triển khai đề tài, những phương pháp nghiên cứu lý luận, khảo sát thực tế và tiến hành khảo sát kết quả nghiên cứu của đề tài
- Phương pháp khảo nghiệm, dùng để kiểm chứng tính cần thiết và khả thi của các biện pháp đã đề xuất
6.3 Ph ương pháp thống kê toán học:
Xử lý số liệu, cụ thể hoá bằng các sơ đồ, bảng biểu… nhằm tổng hợp kết quả thu được, xử lý kết quả điều tra, trên cơ sở đó rút ra những kết luận có tính khái quát và khoa học
Trang 15CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC
TRONG ĐÀO TẠO THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ 1.1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
1.1.1 Trên thế giới
Phương pháp đào tạo theo HCTC bắt đầu ở Hoa Kỳ từ năm 1872 và được áp dụng đầu tiên ở các trường phổ thông Sau đó, phương thức này đã được Trường Đại học Harvard áp dụng và đây được xem là sự kiện đánh dấu mốc khai sinh học chế tín chỉ ở đại học
HCTC được áp dụng rộng rãi hầu như trong mọi trường đại học Hoa Kỳ ở đầu thế kỷ XX Tiếp sau đó, nhiều nước lần lượt áp dụng HCTC trong toàn bộ hoặc một bộ phận của trường đại học của mình: các nước Bắc Mỹ, Nhật Bản, Philippin, Đài Loan, Hàn Quốc, Thái Lan, Malaisia, Indonesia, Ấn Độ, Senegal, Mozambic, Nigeria, Uganda, Camơrun… Tại Trung Quốc từ cuối thập niên 80 đến nay hệ thống CTĐT theo HCTC cũng lần lượt được áp dụng ở nhiều trường đại học
Có hai hệ thống tín chỉ được sử dụng rộng rãi là, Hệ thống tín chỉ của Hoa
Kỳ (the United States Credit System - USCS), được thực hiện từ những năm đầu tiên của thế kỷ XX và Hệ thống chuyển đổi tín chỉ của Châu Âu (the European Credit Transfer System - ECTS) được xây dựng từ khoảng năm 1985 và được Hội đồng Châu Âu công nhận như là một hệ thống thống nhất dùng để đánh giá kiến thức của sinh viên trong khuôn khổ các nước thành viên EU từ năm 1997 Vào năm
1999, 29 bộ trưởng đặc trách giáo dục đại học ở các nước trong Liên minh châu Âu
đã ký Tuyên ngôn Boglona nhằm hình thành không gian Giáo dục đại học Châu Âu (European Higher Education Area) thống nhất vào năm 2010, một trong các nội dung quan trọng của Tuyên ngôn đó là triển khai áp dụng HCTC (European Credit Transfer System-ECTS) trong toàn hệ thống giáo dục đại học để tạo thuận lợi cho việc cơ động hóa, liên thông hoạt động học tập của SV trong khu vực châu Âu và trên thế giới Như vậy, có thể nói từ cuối thế kỉ XIX, hệ thống CTĐT theo HCTC đã được nghiên cứu cho đến đầu thế kỉ XX thì được phát triển rộng ở châu Âu và một
số nước châu Á
Trang 16Bộ Giáo dục và Đào tạo đã nhận thấy được vai trò và hiệu quả của cách thức đào tạo này và chỉ thị yêu cầu các trường đại học triển khai đào tạo theo HCTC và phải hoàn thành vào năm 2010 Đến nay, các trường đại học đã áp dụng phương thức đào tạo theo hệ thống tín chỉ nhưng vẫn đang gặp nhiều khó khăn, vướng mắc đặc biệt là các trường thuộc khối nghệ thuật
Trường Đại học Sân khấu – Điện ảnh Hà Nội đã bắt đầu thực hiện phương thức đào tạo theo học chế tín chỉ từ năm 2014, đây là một bước đi đã tác động và làm thay đổi nhiều khâu, nhiều bộ phận trong hoạt động đào tạo của trường Những thay đổi đó mặc dù mới chỉ là những bước đầu tiên và mới chỉ dừng lại ở hình thức với nhiều hạn chế, bất cập, song về cơ bản là đúng hướng
Có thể thấy, trong nhiều tài liệu nghiên cứu về quản lí HĐDH trong đào tạo theo học chế tín chỉ, các nhà nghiên cứu đều khẳng định quản lí HĐDH trong đào tạo theo học chế tín chỉ không phải là vấn đề mới Tuy nhiên, việc nghiên cứu quản
lí HĐDH trong đào tạo theo HCTC ở trường ĐH SK-ĐA HN thuộc khối nghệ thuật
có những đặc thù riêng nên vẫn còn là vấn đề mới Do vậy, tác giả thấy cần phải nghiên cứu toàn diện, cơ bản về cả hai phương diện lý thuyết và thực tiễn, từ đó tìm
ra các biện pháp quản lí có hiệu quả, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo theo HCTC ở Trường ĐH SKĐAHN
Trang 171.2 Một số khái niệm cơ bản của đề tài
1.2.1 Quản lí, quản lí giáo dục và quản lí trường học
1.2.1.1 Quản lí
Có rất nhiều cách hiểu, cách diễn đạt khái niệm quản lí do xuất phát từ những góc độ nghiên cứu khác nhau Một số định nghĩa tiêu biểu hay gặp trong các tài liệu như sau:
+ Theo tác giả Peter F Dalark: “Định nghĩa quản lí phải được giới hạn bởi môi trường bên ngoài nó Theo đó, quản lí bao gồm 3 chức năng chính là: Quản lí doanh nghiệp, quản lí giám đốc, quản lí công việc và nhân công” [30]
- Ở Việt Nam:
+ Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lí là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lí đến tập thể những người lao động (nói chung là khách thể quản lí) nhằm thực hiện được những mục tiêu dự kiến” [24]
+ Theo tác giả Đặng Vũ Hoạt và Hà Thế Ngữ định nghĩa: “Quản lí là một quá trình định hướng, quá trình có mục tiêu, quản lí có hệ thống là quá trình tác động đến hệ thống nhằm đạt được những mục tiêu nhất định Những mục tiêu này đặc trưng cho trạng thái mới của hệ thống mà người quản lí mong muốn” [13]
Từ những khái niệm nói trên, khái niệm quản lí có thể diễn đạt như sau:
“Quản lí là quá trình tiến hành những hoạt động khai thác, lựa chọn, tổ chức và thực hiện các nguồn lực, các tác động của chủ thể quản lí theo kế hoạch chủ động và phù hợp với quy luật khách quan để gây ảnh hưởng đến đối tượng quản lí nhằm tạo ra sự thay đổi hay tạo ra hiệu quả cần thiết vì sự tồn tại (duy trì), ổn định và phát triển của
tổ chức trong một môi trường luôn biến động”
Trang 18Quản lí có chức năng kế hoạch hóa, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra Để quản lí tốt, có rất nhiểu biện pháp quản lí như biện pháp thuyết phục, biện pháp tổ chức - hành chính, biện pháp kinh tế, biện pháp tâm lý giáo dục
1.2.1.2 Quản lí giáo dục
Giống như khái niệm quản lí, khái niệm quản lí giáo dục cũng được biểu đạt một cách rất đa dạng tùy theo những phương diện nghiên cứu và tiếp cận của nhà nghiên cứu về quản lí giáo dục Điều này được thể hiện bởi một số quan niệm về quản lí giáo dục sau:
Theo tác giả Phạm Minh Hạc:
"Quản lí giáo dục là hệ thống tác động có mục đích, có kế hoạch hợp quy luật của chủ thể quản lí, nhằm làm cho hệ thống vận hành theo đường lối nguyên lý của Đảng, thực hiện các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa điểm hội tụ là quá trình dạy học, giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ thống giáo dục đến mục tiêu dự kiến tiến
bộ trạng thái về chất" [16]
Theo tác giả Đặng Quốc Bảo
"Quản lí giáo dục theo nghĩa tổng quan là điều hành phối hợp các lực lượng nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ theo yêu cầu phát triển của xã hội Ngày nay, với sứ mệnh phát triển giáo dục thường xuyên, công tác giáo dục không chỉ giới hạn ở thế hệ trẻ mà cho mọi người Cho nên quản lí giáo dục được hiểu là sự điều hành hệ thống giáo dục quốc dân" [3]
Theo MI.Kôndacôp: “Quản lí giáo dục là tập hợp các biện pháp tổ chức cán
b ộ kế hoạch hóa, tài chính, cung tiêu nhằm đảm bảo vận hành bình thường của các
c ơ quan trong hệ thống giáo dục, để tiếp tục phát triển và mở rộng hệ thống cả về
m ặt chất lượng lẫn số lượng” Cơ sở lý luận khoa học về quản lí giáo dục - Viện khoa học giáo dục Hà Nội
Từ ý kiến, của các nhà khoa học quản lí trên ta có thể quan niệm quản lí giáo dục là: “Quản lí giáo dục là hệ thống tác động có hướng đích của chủ thể quản lí đến đối tượng quản lí ở các cơ sở giáo dục khác nhau trong toàn bộ hệ thống giáo dục, nhằm phát triển quy mô cả về số lượng và chất lượng để đạt tới mục tiêu giáo dục”
1.2.1.3 Quản lí trường học
Nhà trường là bộ phận quan trọng của hệ thống giáo dục quốc dân Nhà trường
là một hoạt động xã hội một thiết chế chuyên biệt của xã hội, nơi truyền bá những
Trang 19kinh nghiệm lịch sử của xã hội loài người, nền văn hóa nhân loại cho một nhóm dân
cư nhất định của xã hội đó
Nhà trường là nơi tổ chức thực hiện và quản lí quá trình giáo dục Quá trình này được thực hiện bởi hai chủ thể, người được giáo dục (người học) và người giáo dục (người dạy) Trong quá trình giáo dục, hoạt động của người học và hoạt động của người dạy luôn gắn bó tương tác hỗ trợ nhau tựa vào nhau để thực hiện mục tiêu giáo dục theo yêu cầu xã hội
Theo tác giả Phạm Minh Hạc: Quản lí nhà trường là thực hiện đường lối của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục với thệ hệ trẻ và từng học sinh [16]
Quản lí là những tác động của chủ thể quản lí trong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong
và ngoài tổ chức (chủ yếu trong tổ chức) một cách tối ưu nhằm đạt được mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất
Như vậy quản lí nhà trường là hệ thống những tác động có hướng đích của hiệu trưởng đến con người (giảng viên, cán bộ, nhân viên, sinh viên) đến các nguồn lực (CSVC, tài chính, thông tin…) nhằm đẩy mạnh các hoạt động của nhà trường theo nguyên lý giáo dục, tiến tới mục tiêu giáo dục hợp với quy luật
Để quản lí trường học có hiệu quả, chủ thể quản lí (hiệu trưởng) cần phải thực hiện tốt các chức năng quản lí, chức năng kế hoạch hóa, chức năng tổ chức, chức năng chỉ đạo, chức năng kiểm tra, vận dụng sao cho đúng nguyên lý giáo dục, phù hợp với quy luật và những đặc thù của cơ sở giáo dục, nhằm hoàn thành nhiệm vụ của nhà trường đã đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng cho sự nghiệp xây dựng công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Muốn làm tốt quản lí nhà trường cần phải xây dựng được đội ngũ cán bộ quản
lí đúng về cơ cấu, đủ về số lượng, mạnh về khả năng chuyên môn để thực hiện tốt nhiệm vụ nhà trường đạt tới mục tiêu đề ra Chính vì vậy, việc đào tạo đội ngũ cán
bộ quản lí có đủ năng lực phẩm chất đạo đức, văn hóa, quản lí, có lý luận, có tầm nhìn, có khả năng điều hành cơ sở giáo dục đạt tới mục tiêu là vô cùng quan trọng trong hệ thống giáo dục
Trang 20Vậy quản lí trường học là hoạt động của chủ thể quản lí (hiệu trưởng) nhằm tổ chức các hoạt động của giảng viên và sinh viên, các lực lượng hỗ trợ giáo dục khác, đồng thời phát huy hết khả năng của các nguồn lực giáo dục để đạt được chất lượng cao trong đào tạo của nhà trường
1.2.2 Hoạt động dạy học
Về phương diện triết học, hoạt động là phương thức tồn tại của con người trong thế giới Về phương diện tâm lý học, hoạt động là mối quan hệ tác động qua lại giữa con người và thế giới (khách thể để tạo ra sản phẩm cả về phía thế giới và
cả về phía con người
HĐDH theo quan điểm hiện đại là hoạt động được tạo ra bởi sự tương tác trực tiếp giữa thầy và trò, giữa những người học với nhau, giữa dạy học với môi trường sư phạm nói riêng và môi trường xã hội nói chung, là sự thống nhất chặt chẽ giữa hoạt động dạy và hoạt động học
1.2.3 Hoạt động dạy học đại học
Dạy học được tồn tại trong lịch sử như là một hiện tượng xã hội đặc biệt, là quá trình phối hợp giữa người dạy và người học dẫn đến người học có thể làm phong phú thêm vốn học vấn của mình dưới tác động hướng dẫn, chỉ đạo của người thầy thông qua quá trình dạy học
Các nhà nghiên cứu đưa ra nhiều khái niệm về HĐDH đại học như sau:
- Theo quan điểm tiếp cận hoạt động thì dạy học ở đại học là quá trình hoạt động phối hợp, thống nhất của người dạy và người học nhằm giúp SV chiếm lĩnh nội dung học vấn đại học
- Theo quan điểm tiếp cận nhân cách thì dạy học đại học là quá trình hình thành, phát triển nhân cách của SV, những cử nhân khoa học tương lai
Nh ư vậy, hoạt động dạy học ở đại học là quá trình tổ chức, điều khiển và tự
t ổ chức, tự điều khiển của người dạy và người học Đó là qui trình công nghệ đặc
bi ệt diễn ra trong mối quan hệ tương tác giữa hoạt động dạy, hoạt động học và môi
tr ường
* Đặc điểm của HĐDH ở trường đại học
HĐDH ở đại học cũng phải có nội dung, phương pháp, phương tiện hoạt động và chúng được thực hiện bởi các chủ thể nhất định Quá trình dạy học đại học
Trang 21là một quá trình xã hội, một quá trình sư phạm đặc thù, nó tồn tại như là một hệ thống và quá trình này được diễn ra trong môi trường xã hội - chính trị, khoa học và
kỹ thuật nhất định Cuối cùng sau một chu trình vận động và phát triển thì các HĐDH ở đại học mang lại cho chúng ta kết quả như mong muốn
Dạy học ở đại học phản ánh tập trung nhất những yêu cầu của xã hội đối với quá trình dạy học ở đại học Đặc biệt gắn liền với việc đào tạo cụ thể của từng trường đại học Như vậy, xã hội đòi hỏi dạy học ở đại học phải đào tạo cán bộ khoa học tương lai đủ đức và tài, có nghĩa là phải bồi dưỡng hệ thống tri thức, kỹ năng,
kỹ xảo gắn với nghề nghiệp tương lai của SV, phát triển ở họ năng lực và phẩm chất trí tuệ, đặc biệt là tư duy nghề nghiệp Trên cơ sở đó hình thành ở SV một thế giới quan khoa học, lí tưởng, ước mơ, hoài bão nghề nghiệp, đạo đức, tác phong của người cán bộ khoa học kỹ thuật, người chủ thực sự của đất nước mai sau
Dạy học ở đại học, SV còn phải tập trung nghiên cứu khoa học, khám phá bản chất các hiện tượng khách quan để tìm ra các qui luật khoa học
Như vậy có thể nói quá trình dạy học ở đại học, về bản chất là quá trình nhận thức độc đáo có tính chất nghiên cứu của SV được tiến hành dưới vai trò tổ chức, điều khiển của giảng viên nhằm thực hiện tốt các nhiệm vụ dạy học ở đại học
*B ản chất của hoạt động dạy
Trong quá trình dạy học nói chung, ở đại học nói riêng người dạy là chủ thể của hoạt động dạy, giữ vai trò chủ đạo với chức năng tổ chức, điều khiển, lãnh đạo hoạt động học của SV đảm bảo cho SV thực hiện đầy đủ và có chất lượng cao những yêu cầu đã qui định phù hợp mục đích dạy học ở đại học Vai trò chủ đạo của
GV được thể hiện thông qua việc lựa chọn nội dung dạy học, lựa chọn phương pháp, lựa chọn cách thức tổ chức lớp học trong quá trình đào tạo Cách thức SV lĩnh hội tri thức, kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp phụ thuộc nhiều vào cách thức tổ chức nhận thức của GV Nếu GV dạy theo phương pháp “ đọc - chép - ghi nhớ” thì SV phải học thuộc lòng để ghi nhớ những tri thức đó, nếu GV dẫn dắt quá trình học tập của SV qua việc giải quyết vấn đề, các bài tập nhận thức làm bộc lộ bản chất của khái niệm thì thực sự SV đã tư duy sáng tạo để tìm ra tri thức Đó chính là vai trò chủ đạo của GV trong quá trình dạy học đại học
Trang 22*B ản chất của hoạt động học
Ở trường đại học, chủ thể của hoạt động học là SV Hoạt động học của SV được thể hiện trong việc tích cực nhận thức, rèn luyện, chủ động sáng tạo trong tiếp thu kiến thức Cuối cùng, hoạt động học của SV quyết định chất lượng học tập của bản thân họ
Năng lực tự học của SV chính là nội lực, quyết định sự phát triển bản thân họ
vì SV vừa là chủ thể, vừa là sản phẩm của quá trình dạy học, tự biến những tri thức của nhân loại thành tri thức của chính mình bằng con đường tự học và tư duy của bản thân
Mục đích của học: là tiếp thu có chọn lọc hệ thống tri thức nhân loại để chuyển hóa thành trí tuệ, nhân cách của bản thân và trở thành người có đức và tài Nội dung của học: là tìm tòi, thấu hiểu, nắm vững, ghi nhớ và vận dụng kiến thức một cách khoa học vào đời sống xã hội
Phương pháp học: là phương pháp chiếm lĩnh, nhận thức tri thức nhân loại và biến kho tàng tri thức đó thành học vấn của bản thân và cũng là phương pháp rèn luyện để hình thành kỹ năng, kỹ xảo
* M ối quan hệ giữa HĐD và HĐH ở trường đại học
Quá trình dạy học là quá trình hoạt động phối hợp giữa người dạy và người học Hoạt động tích cực của hai nhân vật này quyết định đến chất lượng giáo dục và đào tạo trong nhà trường Hoạt động dạy chỉ đạo hoạt động học và hoạt động học là
cơ sở, là trung tâm cho mọi sự cải tiến của hoạt động dạy Hoạt động dạy và hoạt động học có mối quan hệ biện chứng, hai hoạt động này tác động với nhau, thúc đẩy lẫn nhau để cùng phát triển Sự tác động biện chứng giữa hoạt động dạy và hoạt động học dẫn đến sự phát triển không ngừng của quá trình dạy học
1.2.4 Quản lí hoạt động dạy học
Quản lí HĐDH trong trường đại học là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch hợp quy luật của chủ thể quản lí nhằm làm cho quá trình dạy học vận hành theo đường lối của Đảng và Nhà nước, thực hiện được những yêu cầu của nền giáo dục xã hội trong việc đào tạo con người theo mẫu người của thời đại, tập trung vào HĐDH, đưa hệ thống từ trạng thái ban đầu đi đến mục tiêu
Trang 23Dạy học và giáo dục trong sự thống nhất là hoạt động trung tâm của nhà trường Mọi hoạt động đa dạng và phức tạp khác của nhà trường đều hướng vào hoạt động trung tâm đó Vì vậy, trọng tâm của việc quản lí trường học là quản lí HĐDH và giáo dục Đó chính là quản lí hoạt động lao động sư phạm của người thầy
và hoạt động học tập, rèn luyện của trò mà nó được diễn ra chủ yếu trong HĐDH Quản lí HĐDH là quản lí một quá trình xã hội, một quá trình sư phạm đặc thù, nó tồn tại như một hệ thống, bao gồm nhiều thành tố cấu trúc như: mục đích và nhiệm vụ dạy học, nội dung dạy học, phương pháp và PTHD, thầy với hoạt động dạy, trò với hoạt động học tập, kết quả dạy học
Quản lí HĐDH là phải tổ chức thực hiện các nhiệm vụ cơ bản sau:
*Qu ản lí hoạt động dạy
Quản lí hoạt động giảng dạy, thực chất là QL nhiệm vụ giảng dạy của đội ngũ giáo viên Giáo viên truyền đạt những kiến thức, kỹ năng và những giá trị về tư tưởng phẩm chất cần được trang bị cho học sinh Đồng thời giáo viên có nhiệm vụ phải học tập, rèn luyện, bồi dưỡng và tự bồi dưỡng để nâng cao trình độ, nâng cao chất lượng HĐDH của mình Trong quá trình GD&ĐT, giáo viên vừa là đối tượng quản lí, vừa là chủ thể quản lí của HĐDH
*Qu ản lí hoạt động học tập
Quản lí hoạt động học tập của người học là quản lí việc thực hiện các nhiệm
vụ học tập, nghiên cứu, rèn luyện của người học trong suốt quá trình học tập Người học có những đặc điểm tâm lý, phong tục, tập quán khác nhau, trong quá trình rèn luyện, học tập, cũng như kết quả đạt được cũng khác nhau Do đó, nhà trường cần tăng cường các biện pháp quản lí hoạt động học tập của sinh viên nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, vì học sinh vừa là đối tượng quản lí vừa là chủ của quá trình dạy học
*Qu ản lí CSVC, trang thiết bị, phương tiện - kỹ thuật phục vụ HĐDH
CSVC là điều kiện tiên quyết cho nhà trường hình thành và đi vào hoạt động,
là điều kiện không thể thiếu được trong việc nâng cao chất lượng đào tạo Quản lí CSVC, kỹ thuật phục vụ cho HĐDH đảm bảo được các yêu cầu liên quan mật thiết
Trang 24với nhau đó là: Tổ chức quản lí tốt, đảm bảo đầy đủ và sử dụng có hiệu quả CSVC, trang thiết bị, phương tiện - kỹ thuật phục vụ HĐDH trong nhà trường
1.2.5 Tín chỉ
Đào tạo theo HCTC là phương thức đào tạo tiên tiến trên thế giới Trong các tài liệu nghiên cứu có hơn 60 định nghĩa về tín chỉ Định nghĩa về tín chỉ được biết đến nhiều nhất ở Việt Nam là của học giả người Mĩ gốc Trung Quốc James Quann thuộc Đại học Quốc gia Washington Theo quan điểm của James Quann thì tín chỉ học tập là một đại lượng đo toàn bộ thời gian bắt buộc của một người học bình
thường để học một môn học cụ thể, bao gồm: 1 thời gian lên lớp; 2 thời gian ở
trong phòng thí nghiệm, thực tập hoặc các phần việc khác đã được quy định ở thời khoá biểu; 3 thời gian dành cho đọc sách, nghiên cứu, giải quyết vấn đề, viết hoặc chuẩn bị bài; đối với các môn học lý thuyết 1 tín chỉ là một giờ học trên lớp (với 2 giờ chuẩn bị ở nhà) trong 1 tuần và kéo dài trong 1 học kỳ 15 tuần; đối với các môn học ở studio hay phòng thí nghiệm - ít nhất là 2 giờ trong 1 tuần (với 1 giờ chuẩn bị
ở nhà); đối với việc tự học, tự nghiên cứu - ít nhất là 3 giờ làm việc trong 1 tuần Theo quyết định số 17/VBHN-BGDĐT ngày 15/5/2014 của Bộ Giáo dục và Đào tạo thì “Tín chỉ được sử dụng để tính khối lượng học tập của SV Một tín chỉ
được quy định bằng 15 tiết học lý thuyết, 30 - 45 tiết thực hành, thí nghiệm hoặc
th ảo luận , 45-90 giờ thực tập tại cơ sở, 45 - 60 giờ làm tiểu luận, bài tập lớn hoặc
đồ án, khóa luận tốt nghiệp” Đối với những phần lý thuyết hoặc thực hành, thí
nghiệm, để tiếp thu được một tín chỉ SV phải dành ít nhất 30 giờ chuẩn bị cá nhân
Nh ư vậy, tín chỉ là một đại lượng dùng để đo khối lượng kiến thức, kỹ năng
h ọc tập của SV cần phải tích lũy trong một khoảng thời gian nhất định, thông qua
các hình th ức: học tập trên lớp, học tập trong phòng thí nghiệm, thực tập làm đồ
án, khóa lu ận tốt nghiệp, hoạt động tự học của SV
1.2.6 Đào tạo theo học chế tín chỉ
Đào tạo theo HCTC là phương thức đào tạo cho phép SV đạt được văn bằng đại học qua việc tích luỹ các loại tri thức khác nhau và đào tạo theo TC chuyển quyền lựa chọn và quyết định mục đích đào tạo cụ thể, cũng như lựa chọn các môn học và kế hoạch học tập từ nhà trường cho SV trong điều kiện quy định công khai
Trang 25số lượng và cấu trúc của các môn học dẫn đến văn bằng (theo Bản dịch của Bộ Giáo dục và Đào tạo)
Đào tạo theo HCTC không tổ chức theo năm học mà theo học kỳ Một năm học có thể tổ chức đào tạo từ 2 đến 3 học kỳ, mỗi CTĐT của một ngành học nhất định không tính theo năm mà tính theo sự tích lũy kiến thức, SV tích lũy đủ số tín chỉ quy định cho một ngành học thì được cấp bằng tốt nghiệp đại học, được ra trường
1.2.7 Quản lí hoạt động dạy học theo học chế tín chỉ
Quản lí hoạt động dạy học theo HCTC là hệ thống những tác động của chủ thể quản lí có mục đích, có kế hoạch hợp quy luật vào quá trình dạy học (được tiến hành bởi tập thể giảng viên và sinh viên, với sự hỗ trợ đắc lực của các lực lượng xã hội) với phương thức đào tạo theo HCTC để sinh viên có quyền lựa chọn và quyết định mục tiêu đào tạo, tích lũy tri thức theo quy định, quy chế hiện hành nhằm góp phần hình thành và phát triển toàn diện sinh viên đáp ứng mục tiêu đào tạo của Nhà
trường
1.3 Những đặc trưng của hoạt động dạy học trong đào tạo theo HCTC
1.3.1 Đặc điểm của học chế tín chỉ
- Kiến thức được cấu trúc thành các mô - đun (học phần)
- Quá trình học tập là sự tích luỹ kiến thức của người học theo từng học phần
- Đăng ký học vào đầu mỗi học kỳ
- Một năm học có thể gồm 2 học kỳ chính (15 tuần học và 3 tuần thi) và có thể có một học kỳ hè (5 tuần học và 1 tuần thi), hay gồm 3 học kỳ (12 tuần học và 3 tuần thi) hoặc chia làm 4 học kỳ (10 tuần học và 2 tuần thi)
- Đánh giá thường xuyên, thang điểm 4 bậc (A,B,C,D hay 4,3,2,l)
- Quy định khối lượng kiến thức phải tích luỹ cho từng văn bằng Xếp năm học của người học theo khối lượng tín chỉ đã tích luỹ
- Có hệ thống CVHT để tư vấn cho người học tự thiết kế chương trình học tập của mình
Trang 26- CTĐT mềm dẻo: cùng với các học phần bắt buộc còn có các học phần tự chọn và tuỳ ý, cho phép SV dễ dàng điều chỉnh ngành nghề đào tạo trong quá trình học tập
- Không có thi tốt nghiệp, không tổ chức bảo vệ khoá luận tốt nghiệp đối với các chương trình cao đẳng hoặc đại học
- Ổn định và công khai hoá CTĐT cho mỗi khoá học
- Phương thức quản lí SV sẽ thay đổi (theo hệ thống CVHT, theo số chứng chỉ đã tích luỹ)
- Thu học phí tỷ lệ với khối lượng các học phần đăng ký học
HCTC sở dĩ được truyền bá nhanh và áp dụng rộng rãi ở các trường đại học trên thế giới do có nhiều ưu điểm vượt trội hơn so với hệ thống đào tạo theo niên chế học phần Theo tác giả Lê Thạc Cán, nếu kế hoạch đào tạo theo niên chế có thể ví như một tuyến đường đã được vạch sẵn cho tất cả SV (trong một khoá) đi theo trong suốt một khóa đào tạo thì kế hoạch đào tạo theo HCTC là một bản đồ học tập của một
hệ thống các tri thức lý luận và thực tiễn theo các ngành, chuyên ngành trên đó SV có thể chọn tuyến đi, cách đi, tốc độ đi tới mục đích của mình căn cứ vào mục đích, sở thích, điểm mạnh, điểm yếu cụ thể Học chế này cho phép SV có cơ hội linh hoạt chuyển đổi ngành học, tạo ra một "ngôn ngữ chung" giữa các trường Đại học, tạo điều kiện cho việc chuyển đổi SV giữa các trường trong nước và trên thế giới, rất thuận lợi trong các CTĐT liên kết
1.3.2 Sự khác nhau giữa đào tạo theo học chế tín chỉ với đào tạo theo niên chế
Đào tạo theo niên chế và đào tạo theo HCTC là hai hình thức tổ chức đào tạo khác nhau nhưng đều có chung một mục tiêu là đào tạo ra nguồn nhân lực có trình
độ cao, đáp ứng được sự phát triển các ngành nghề của xã hội trong từng giai đoạn lịch sử nhất định
Mỗi cách tổ chức đào tạo đều có những ưu điểm, những khó khăn riêng và đều đạt những thành quả rất to lớn
Khái ni ệm đào tạo theo niên chế
Đào tạo theo niên chế là đào tạo theo năm học, mỗi CTĐT của một ngành học được quy định đào tạo trong một số năm nhất định Ví dụ CTĐT trình độ đại học được
Trang 27cấp bằng cử nhân thường đào tạo trong 4 năm, cấp bằng kỹ sư được đào tạo trong 5 năm, cấp bằng bác sỹ được đào tạo trong 6 năm SV học hết thời gian quy định nếu không bị lưu ban, dừng tiến độ học tập thì được cấp bằng tốt nghiệp đại học, được ra trường
T ổ chức đào tạo theo niên chế
Trong đào tạo theo niên chế lịch học, lịch thi được phòng Đào tạo chuẩn bị sẵn Các lớp SV được biên chế cố định ngay từ ngày nhập trường và ít khi có sự biến động SV chấp hành tốt các lịch học, lịch thi, các quy định, quy chế của nhà trường, tích cực học tập và rèn luyện thì sẽ đạt kết quả tốt Tổ chức đào tạo theo niên chế tương đối thuận lợi, kế hoạch đào tạo, lịch giảng, lịch thi có thể làm ngay
từ đầu năm học và ít khi có sự biến động Thời gian học tập của SV phải theo quy định và có thể kéo dài nhưng rất khó có thể rút ngắn
T ổ chức đào tạo theo tín chỉ
Trong đào tạo theo HCTC, SV phải tự đăng ký lịch học (đăng ký môn học),
SV không đăng ký sẽ không có lịch học (thời khóa biểu) Để làm được việc đó SV phải nghiên cứu kỹ, nắm chắc các tài liệu của nhà trường như quyển niên giám, sổ tay SV, nắm vững CTĐT, các học phần tiên quyết, các học phần tự chọn, các học phần học song hành, phần kiến thức giáo dục đại cương, phần kiến thức giáo dục chuyên nghiệp… để đăng ký lịch học cho từng học kỳ phù hợp (với quy định của nhà trường và sức học của SV) Ưu điểm của cách tổ chức này là SV có quyền lựa chọn không những các môn chính khóa của ngành được đào tạo mà còn có thể được đăng ký học thêm 1 số học phần tự chọn yêu thích hỗ trợ cho hướng phát triển ngành nghề sau này Thời gian học tập của SV có thể rút ngắn hoặc kéo dài theo quy định của từng Trường
Chương trình đào tạo theo niên chế
CTĐT theo niên chế có khối kiến thức giáo dục đại cương và khối kiến thức giáo dục chuyên nghiệp, các khối kiến thức này được bố trí theo một tỷ lệ nhất định Khi xây dựng chương trình của các ngành người ta chỉ chú ý đến liên thông dọc và các bậc học tiếp theo (các bậc học cao hơn), còn ít chú ý đến liên thông ngang giữa các ngành trong cùng một trình độ đào tạo Vì vậy CTĐT của các ngành khác nhau
Trang 28trong cùng lĩnh vực ít nhiều mang tính độc lập, không tận dụng được hiệu quả đào tạo Trong đào tạo theo niên chế những người phấn đấu học được 2 bằng, 3 bằng đại học là rất khó, mà điều này rất quan trọng vì các lĩnh vực kiến thức sẽ bổ trợ cho nhau trong quá trình công tác sau này
Ch ương trình đào tạo theo HCTC
Một trong những điểm mấu chốt, quan trọng nhất trong xây dựng CTĐT theo HCTC là các CTĐT có tính liên thông cao Một chương trình giáo dục đại học bao giờ cũng có khối kiến thức đại cương (Toán, hóa, sinh ) và các môn chung như Mác - Lênin, ngoại ngữ, tin học Các môn học này được xây dựng trên một nền chung đáp ứng cho tất cả các ngành đào tạo trong một lĩnh vực đào tạo nhất định Việc tổ chức xây dựng chương trình có tính liên thông ngang cao như vậy sẽ đào tạo cho SV một tiềm năng lớn và SV có khả năng học liên thông các ngành trong cùng một lĩnh vực
Khi đã xây dựng được chương trình có tính liên thông cao, liên thông ngang giữa các ngành trong cùng một khối và liên thông dọc từ cao đẳng lên đại học thì
SV rất có điều kiện để học cùng một lúc nhiều ngành và trong một thời gian nhất định có thể phấn đấu học được hai hoặc ba bằng đại học
Ph ương pháp giảng dạy trong đào theo niên chế
Đơn vị đo lường khối lượng học tập của SV là đơn vị học trình (đvht) tương đương với 15 tiết học lý thuyết ở trên lớp, 30 giờ thực hành thí nghiệm…, mỗi năm
SV đại học phải tích lũy khoảng 50 (đvht) nên CTĐT có cấu trúc như sau:
CTĐT đại học 4 năm tương đương với 200 ĐVHT
CTĐT đại học 5 năm tương đương với 250 ĐVHT
CTĐT đại học 6 năm tương đương với 300 ĐVHT
Trong đào tạo theo niên chế áp dụng rất nhiều phương pháp giảng dạy như thuyết trình, giảng dạy dựa trên vấn đề, semina, thảo luận nhóm, thực hành, thí nghiệm, đi thực tập thực tế cộng đồng, thực tập tốt nghiệp Tuy đã có đổi mới công tác giảng dạy nhưng PPHT SV ở trên lớp còn thụ động, chủ yếu là nghe giảng, ghi chép, học thuộc lòng, ít tham gia vào bài giảng
Trang 29Ph ương pháp giảng dạy trong đào tạo theo HCTC
Đơn vị đo lường khối lượng học tập là tín chỉ, 1 TC tương đương với 15 tiết giảng lý thuyết, 30 tiết thực hành thí nghiệm Mỗi học kỳ SV phải tích lũy tương đương
15 TC, nên các CTĐT có khối lượng TC như sau:
CTĐT đại học 4 năm tương đương 130 TC
CTĐT đại học 5 năm tương đương 150 TC
CTĐT đại học 6 năm tương đương 180 TC
Để chuyển đổi sang đào tạo theo tín chỉ, Bộ GD&ĐT tạo đã quy định chuyển đổi CTĐT theo niên chế sang CTĐT theo tín chỉ theo tỷ lệ: cứ 1 ĐVHT quy đổi thành 1TC, tương đương 15 tiết giảng lý thuyết ở trên lớp (trong đào tạo theo niên chế) Việc tiếp tục giảng dạy bằng phương pháp truyền đạt 1chiều không còn phù hợp nữa, nếu GV cùng với phương tiện hỗ trợ (máy tính + Projector) tăng tốc độ
giảng lên 2 lần để cho không bị "cháy giáo án" thì SV sẽ bị quá tải về thông tin và
không phân biệt được các vấn đề chính, vấn đề phụ của bài giảng, từ đó không hiểu bài, không hiểu bản chất của vấn đề, dẫn đến chất lượng học tập giảm sút Hoặc có
xu hướng GV coi việc đọc bài của SV trước khi đến lớp đã có hiệu quả rồi, lên lớp chỉ giảng những vấn đề khó và trả lời các thắc mắc của SV, kiểm tra nhận thức của
SV Nếu theo xu hướng này bài giảng sẽ không có hệ thống, không được trình bày theo giáo án và sự tự học của các SV không đồng đều, cũng không đạt được hiệu quả trong đào tạo
Như vậy trong đào tạo theo tín chỉ, thời gian có mặt ở trên lớp giảm đi 1/3 thay vào đó là thời gian tự học phải tăng lên và yêu cầu về chuẩn đào tạo không hề thay đổi Theo quy định cứ 1 tín chỉ SV phải tự học là 30 tiết Vậy để đảm bảo chất lượng là phải đổi mới phương pháp giảng dạy, phải giảng dạy bằng phương pháp tích cực Các phương pháp giảng dạy trong đào tạo theo niên chế vẫn tiếp tục được phát huy các điểm mạnh, nhưng việc tích cực SV trong giờ học được đặt lên hàng đầu Để đáp ứng được yêu cầu này SV phải nghiên cứu tài liệu trước khi lên lớp, GV phải tăng cường cho SV tự học ngay trên lớp bằng các biện pháp như nêu ra các vấn đề của bài giảng để
SV tìm ra cách giải quyết theo định hướng của GV để SV có thói quen tự học
Trang 30Phương châm giảng - dạy là học - hiểu, dưới sự hướng dẫn của GV, SV phải được tham gia vào từng vấn đề của bài giảng cho đến khi tất cả các vấn đề của bài giảng được làm sáng tỏ, được giải quyết dưới sự hướng dẫn của GV
T ự học trong đào tạo theo tín chỉ
Trong đào tạo theo tín chỉ, đối với SV tự học là vấn đề quan trọng nhất, SV phải tự học ngay trên lớp, lên lớp là làm việc thực sự (chứ không phải đi nghe giảng, dự giờ) Muốn tự học trên lớp có hiệu quả SV phải tự đọc tài liệu trước, không chỉ đọc giáo trình mà phải đọc tài liệu có liên quan, không phải đọc cả quyển tài liệu mà chỉ đọc những vấn đề trực tiếp liên quan đến bài giảng Các vấn đề liên quan đều phải được đánh dấu, ghi chép lại hoặc có chỉ dẫn rõ ràng để khi cần lập tức có thể tra cứu được ngay
SV học ở trên lớp phải chịu khó ghi chép, hăng hái phát biểu, tích cực tìm hiểu, phấn khởi khi được GV kiểm tra, vấn đề gì chưa rõ phải hỏi GV cho rõ, nếu vẫn chưa hiểu thì trao đổi lại với nhóm học tập (thảo luận nhóm) Thảo luận nhóm
là hình thức rất quan trọng, qua thảo luận nhóm SV phát hiện những vấn đề mình còn thiếu hụt để tự bổ sung Những vấn đề đã nắm bắt được qua thảo luận nhóm cũng được khẳng định
1.3.3 Những ưu điểm của phương thức đào tạo theo tín chỉ
1.3.3.1 Hiệu quả đào tạo cao
Đào tạo theo HCTC thể hiện triết lý giáo dục lấy người học làm trung tâm
SV buộc phải tham gia học tập với thái độ tích cực, chủ động Họ có 2 giờ chuẩn bị kiến thức và hiểu biết để tiếp thu tri thức 1 tiết giảng,GV sẽ có nhiều hình thức kiểm tra quá trình chuẩn bị bài của SV SV có thể đăng ký theo học từng môn học phù hợp với kế hoạch và điều kiện học tập của bản thân Họ cũng phải chủ động tìm kiếm và tham khảo các tài liệu thích hợp với từng môn học, từng chuyên đề khác nhau để đạt yêu cầu của mỗi tín chỉ Với HCTC, SV được chủ động thiết kế kế hoạch học tập cho mình, được lựa chọn cho mình tiến độ học tập thích hợp với khả năng, sở trường và hoàn cảnh riêng của mình Điều đó đảm bảo cho quá trình đào tạo trong trường đại học trở nên mềm dẻo hơn, đồng thời cũng tạo khả năng cho
Trang 31việc thiết kế chương trình liên thông giữa các cấp đào tạo đại học và giữa các ngành đào tạo khác nhau
HCTC cho phép ghi nhận cả những kiến thức và khả năng tích lũy được ngoài trường lớp để đạt được văn bằng, khuyến khích SV xuất phát từ nhiều nguồn gốc khác nhau có thể tham gia học đại học một cách thuận lợi Về phương diện này
có thể nói HCTC là một trong những công cụ quan trọng để chuyển từ nền đại học mang tính tinh hoa thành nền đại học mang tính đại chúng
Bên cạnh đó đội ngũ GV giảng dạy buộc phải đổi mới phương pháp lên lớp
và sẽ có động lực để nâng cao trình độ chuyên môn Giảng viên sẽ không trình bày bài giảng theo phương pháp thuyết trình mà bằng phương pháp nêu vấn đề, nhằm kích thích sự tìm tòi sáng tạo của SV Muốn bài giảng có chất lượng cao, đồng thời thu hút người học, GV phải nắm vững đối tượng, có phương pháp dẫn dắt vấn đề, kích thích hứng thú học tập và sáng tạo của SV Giảng viên phải đầu tư nhiều công sức hơn cho việc soạn bài giảng, chuẩn bị tài liệu, hướng dẫn thảo luận Việc SV đăng ký học như thế nào và các ý kiến phản hồi của SV cũng được coi là tiêu chí để đánh giá GV
1.3.3.2 Tính mềm dẻo và khả năng thích ứng cao
Đào tạo theo HCTC là cách tiết kiệm nhất về kinh phí, thời gian cho cả người học và toàn xã hội Với HCTC, SV có thể chủ động ghi tên học các học phần khác nhau dựa theo những qui định chung về cơ cấu và khối lượng của từng lĩnh vực kiến thức Nó cho phép SV dễ dàng thay đổi ngành chuyên môn trong tiến trình học tập khi thấy cần thiết mà không phải học lại từ đầu SV có nhiều cơ hội để thay đổi chuyên môn trong quá trình đào tạo, cũng như học thêm ngành mới, học văn bằng hai, học chuyên ngành phụ … Một cách thuận lợi và tiết kiệm nhất
Phương pháp này tạo điều kiện thuận lợi để thực hiện xã hội hóa về đào tạo, tăng cường tính liên thông giữa các trường đại học và các chuyên ngành đào tạo khác nhau Các trường đại học có thể mở thêm ngành học mới một cách dễ dàng khi nhận được tín hiệu về nhu cầu thị trường và tình hình lựa chọn ngành nghề của SV
Trang 321.3.3.3 Quản lí đào tạo đạt hiệu quả cao và giảm giá thành đào tạo
Với HCTC, kết quả học tập của SV được tính theo từng học phần chứ không phải theo năm học, do đó việc chưa đạt một học phần nào đó không cản trở quá trình học tiếp tục, SV không bị buộc phải học lại cả năm (lưu ban) nếu điểm trung bình chung cả năm (của tất cả các học phần tích lũy của năm đó) không đạt điểm trung bình mà chỉ cần học lại một phần chưa đạt đó mà thôi Chính vì vậy giá thành đào tạo theo HCTC thấp hơn so với đào tạo theo niên chế
Nếu triển khai HCTC thì các trường đại học lớn có thể tổ chức những môn học chung cho SV các trường, các khoa, tránh dạy trùng lặp một môn học ở nhiều nơi, ngoài ra SV có thể lựa chọn học một môn học cùng được dạy ở các khoa khác nhau Cách tổ chức nói trên cho phép sử dụng được đội ngũ GV giỏi nhất và phương tiện tốt nhất cho từng môn học và thuận tiện cho người học Ngoài ra, kết hợp với việc đào tạo theo HCTC, nếu trường đại học tổ chức thêm những kỳ thi đánh giá kiến thức và kỹ năng của người học tích lũy được ở bên ngoài nhà trường hoặc bằng con đường tự học để cấp cho họ một tín chỉ tương đương, thì sẽ tạo thêm
cơ hội cho họ nhanh chóng và dễ dàng đạt được văn bằng đại học Ở Mỹ có trên một nghìn trường đại học chấp nhận cung cấp tín chỉ cho những kiến thức và kỹ năng mà người học đã tích lũy được ngoài nhà trường
1.3.4 Những thách thức của phương thức đào tạo theo tín chỉ
Tìm hiểu về phương thức đào tạo theo HCTC, đối chiếu với tình hình thực tiễn của các trường đại học ở Việt Nam, chúng tôi cho rằng các trường có thể sẽ gặp một số khó khăn cơ bản sau:
- Đối với người dạy
GV phải nắm rõ về đào tạo theo HCTC Hiện nay, những GV đạt được yêu cầu này chưa nhiều
Để đào tạo theo HCTC, tài liệu dạy học cần phong phú hơn nhiều, có như vậy mới phục vụ được cho hoạt động tự học của SV, nhưng khả năng cập nhật tài liệu dạy học mới của một số cơ sở đào tạo và GV chưa thật tốt
Giờ lên lớp chủ yếu là giới thiệu tài liệu, hướng dẫn phương pháp tự học, giải đáp thắc mắc… nhưng trong thực tế nhiều GV chưa thực hiện tốt phương pháp làm việc này
Trang 33- Đối với công tác tổ chức, quản lí cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học
Việc sử dụng, khai thác cơ sở vật chất, trang thiết bị học tập cần sắp xếp, bố trí một cách linh hoạt, sử dụng triệt để đáp ứng quá trình học tập của sinh viên Cơ
sở vật chất, trang thiết bị dạy học phải tiên tiến, hiện đại đáp ứng yêu cầu của người học và thực tiễn của xã hội Nhưng hiện nay, công tác tổ chức, quản lí chưa cao, vẫn còn sử dụng các thiết bị đã lạc hậu, chưa khai thác được tối đa việc sử dụng cơ sở vật chất, trang thiết bị hiện đại cho học tập tín chỉ của sinh viên
Số lượng phòng học, diện tích phòng học, cơ sở vật chất tối thiểu cho phòng học phải được tu sửa, điều chỉnh cho phù hợp với đào tạo tín chỉ Tùy thuộc vào số lượng sinh viên đăng ký học để sắp xếp, bố trí học cho hợp lý Nay vẫn còn tình trạng, những môn học số lượng sinh viên quá đông thì không bố trí được đủ phòng học với trang thiết bị hiện đại cần thiết; những môn sinh viên quá ít thì không sử dụng hết trang thiết bị dẫn đến lãng phí
- Cắt vụn kiến thức: Phần lớn các module trong HCTC được quy định tương
đối nhỏ, cỡ 3 hoặc 4 TC, do đó không đủ thời gian để trình bày kiến thức thật sự có đầu, có đuôi, theo một trình tự diễn biến liên tục, từ đó gây ấn tượng kiến thức bị cắt vụn Đây thật sự là một nhược điểm, và người ta thường khắc phục nhược điểm này bằng cách không thiết kế các môđun quá nhỏ dưới 3 TC, và trong những năm cuối người ta thường thiết kế các môn học hoặc tổ chức các kỳ thi có tính tổng hợp
để SV có cơ hội liên kết, tổng hợp các kiến thức đã học
- Khó tạo nên sự gắn kết trong SV: Vì các lớp học không ổn định, khó xây
dựng các tập thể gắn kết chặt chẽ như các lớp theo khóa học nên việc tổ chức sinh hoạt đoàn thể của SV có thể gặp khó khăn Chính vì nhược điểm này mà có người nói HCTC khuyến khích chủ nghĩa cá nhân, không coi trọng tính cộng đồng Khó khăn này là một nhược điểm thực sự của HCTC, tuy nhiên người ta thường khắc phục bằng cách xây dựng các tập thể tương đối ổn định qua các lớp khóa học trong năm thứ nhất, khi SV phải học chung phần lớn các module kiến thức, và đảm bảo sắp xếp một số buổi xác định không bố trí thời khóa biểu để
SV có thể cùng tham gia các sinh hoạt đoàn thể chung
Trang 34- Khó tổ chức lớp học do SV có thể đăng kí học với số lượng ít hoặc quá
nhi ều Nhà trường không có đủ GV, phòng học cũng như các trang thiết bị khác
phục vụ cho lớp ít SV
1.4 Quản lí hoạt động dạy học trong đào tạo theo học chế tín chỉ
1.4.1 Quản lí hoạt động dạy của giảng viên theo học chế tín chỉ
Khi chuyển đổi sang phương thức đào tạo theo HCTC, việc quản lí hoạt động giảng dạy của GV và hoạt động học của SV cũng có sự thay đổi căn bản Ngoài việc truyền đạt kiến thức, GV phải hướng dẫn và giao nhiệm vụ cho SV tự tìm kiếm kiến thức ở ngoài lớp học được thể hiện trong đề cương môn học mà mỗi GV bắt buộc phải có và phát cho SV trước hoặc ngay trong buổi lên lớp đầu tiên Chính vì vậy quản lí việc viết đề cương và thực hiện dạy học theo đề cương môn học là một việc làm hết sức cần thiết khi chuyển đổi sang phương thức đào tạo theo HCTC
*T ổ chức viết ĐC môn học và thực hiện HĐDH theo đề cương môn học
Đề cương môn học (xuất xứ từ tiếng anh: syllabus, nhưng khi dịch sang tiếng việt có nơi gọi là đề cương chi tiết môn học, chương trình chi tiết để dạy học trong HCTC…) Syllabus là công cụ định hướng cho HĐDH theo HCTC Dựa trên CTĐT
đã được nhà trường phê duyệt, các khoa, bộ môn phải cụ thể hoá chương trình dạy học môn học thông qua các bản đề cương môn học Đề cương môn học tối thiểu phải mô tả được: Mục đích của môn học, mục tiêu môn học, nội dung chi tiết môn học và PPDH, hình thức KT- ĐG…GV phải biên soạn và nộp bản đề cương môn học (syllabus) cho Khoa/Bộ môn
Đề cương môn học có thể không hoàn toàn giống nhau ở các cơ sở đào tạo khác nhau Tuy nhiên thường bao gồm các nội dung sau:
Thông tin về GV phụ trách môn học (để SV có thể liên hệ xin tư vấn)
+ Các môn học tiên quyết, kế tiếp (để SV có thể lựa chọn tiến độ phù hợp)
+ Mục tiêu chung của môn học, các nội dung cốt lõi của môn học (để SV có thể hình dung được môn học và vai trò của nó trong CTĐT)
+ Mục tiêu chi tiết môn học, nội dung chi tiết môn học (để SV có thể nắm bắt được “hình hài của môn học”, chủ động lập kế hoạch học tập đối với môn học)
Trang 35+ Các hình thức và tiêu chí KT-ĐG (để SV có thể tham gia vào quá trình đánh giá thông qua tự đánh giá)
+ Lịch trình chung của môn học (để SV chủ động tự điều chỉnh tiến độ học tập của mình so với yêu cầu của môn học)
+ Lịch trình chi tiết (chỉ rõ các phương thức dạy học phù hợp với nội dung môn học theo tiến độ học tập) của môn học
+ Chính sách môn học do GV phụ trách quy định (bên cạnh quy định chung của quy chế đào tạo và của nhà trường)
Đề cương môn học trong dạy học theo HCTC là một công cụ quan trọng nhất tạo điều kiện cho GV và SV tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong việc triển khai kế hoạch dạy học của mình sau khi đã được cấp quản lí phê duyệt Đề cương môn học cũng là công cụ để giám sát, theo dõi và QL tiến trình dạy học và việc thực hiện các
quy định trong dạy học theo TC Có thể nói rằng để “thống nhất trong đa dạng” khi
triển khai đào tạo theo TC thì vai trò của đề cương môn học là rất quan trọng Để phát huy tính tự chủ, sáng tạo của GV và SV trong quá trình dạy và học, đề cương
môn học luôn là “cái thống nhất” vì ở đó quy định mục tiêu môn học, quy trình dạy
học và cách thức KT- ĐG, cái mà bất cứ GV nào triển khai cùng một môn học đều phải thống nhất Việc sáng tạo ra cách truyền tải nội dung dạy học của GV và tích luỹ kiến thức, kỹ năng của SV thuộc vào mục tiêu của từng môn học và năng lực của đối tượng thực hiện đề cương
- Đề cương môn học cũng là công cụ quản lí HĐDH theo HCTC Hệ thống đề cương môn học chính là bản hợp đồng trách nhiệm đào tạo giữa các khoa chuyên môn với nhà trường và các đơn vị quản lí đào tạo, đề cương môn học cũng trở thành phương tiện quản lí việc GV và SV chủ động thực hiện các nhiệm vụ trong quá trình triển khai môn học Để đảm bảo sự thống nhất cao, sự công khai trong học tập và KT- ĐG thì việc tạo ra một công cụ để quản lí là đặc điểm cần thiết và đề cương môn học được xem là một công cụ đặc biệt hữu hiệu trong quản lí quá trình dạy và học khi triển khai môn học trong HCTC
Trang 36Các cán bộ quản lí đào tạo, tuỳ theo chức năng của mình, đối chiếu theo đề cương môn học đã được phê duyệt để lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra toàn
bộ quá trình dạy học
PPDH thể hiện sự sáng tạo của GV nhưng mục tiêu và quy trình đào tạo phải được thực hiện thống nhất thông qua đề cương môn học Người GV vẫn thực hiện nghiêm túc những điều đã cam kết với nhà trường, với SV thông qua bản đề cương môn học và còn có nhiệm vụ giúp SV thực hiện tốt những quy định trong đó
Nội dung chi tiết môn học được mô tả trong đề cương môn học và được thiết
kế theo chương, mục, tiểu mục và ấn định thời gian thực hiện theo từng phần hoặc bội số của nó
*Qu ản lí việc đổi mới nội dung, PPDH
Công việc của GV là truyền đạt kiến thức cho SV, nhưng phương pháp
thuyết trình “thầy giảng, trò chép” không còn thích hợp trong HCTC Với số giờ
giảng trên lớp giảm thì không đủ thời gian cho thầy thuyết trình, buộc thầy phải thay đổi phương pháp khác thích hợp hơn
PPDH ở đại học, với tư cách tổ hợp các cách thức hoạt động, tương tác giữa thầy
và trò trong quá trình dạy học nhằm đạt được mục đích dạy học, có chức năng xác định những phương thức hoạt động dạy và học theo nội dung nhất định nhằm thực hiện tốt mục tiêu và nhiệm vụ dạy học Đổi mới phương thức đào tạo đòi hỏi phải đổi mới phương pháp giảng dạy Quản lí PPDH trong đào tạo theo HCTC hướng đến đảm bảo các phương pháp đào tạo phải góp phần hình thành động cơ nhận thức, các phương pháp nhận thức, bồi dưỡng cho SV phương pháp tự học, tự nghiên cứu để chiếm lĩnh tri thức, nâng cao tính tích cực, độc lập, sáng tạo của SV, phát huy năng lực vận dụng lý thuyết vào thực tiễn
Có thể thấy, khi thực hiện việc tổ chức giảng dạy trong HCTC, người GV sẽ phải đi vào các vấn đề kỹ thuật thao tác nhiều hơn, thay vì đơn thuần chỉ thuyết trình theo cách giảng dạy như đào tạo theo niên chế học phần trước đây, thì đối với đào tạo theo HCTC, hình thức tổ chức giảng dạy có phần đa dạng hơn Vì vậy, GV khi thực hiện giờ lý thuyết cũng như thực hành trên lớp, ngoài khả năng chuyên môn ra, người thầy cần phải có kinh nghiệm điều hành và quản lí lớp học
Trang 37Như vậy, để thực hiện tốt hoạt động giảng dạy theo HCTC, người thầy không chỉ truyền đạt những tri thức khoa học mà điều quan trọng là hướng cho SV phát huy tính chủ động, sáng tạo, tự học và rèn luyện tốt các kỹ năng thao tác trong quá trình tự đào tạo Để làm tốt điều này, GV phải có trách nhiệm:
- Nắm vững quy chế đào tạo, các quy định và hướng dẫn của Nhà trường về công tác đào tạo tín chỉ
- Chuẩn bị bài giảng nghiêm túc, giảng dạy theo đúng đề cương môn học đã được phê duyệt Quản lí SV của lớp môn học trong các giờ học và các hoạt động giảng dạy khác Quyết định về điều kiện thi kết thúc môn học của SV đối với từng trường hợp cụ thể
- Sử dụng các PPDH tiên tiến và phù hợp với phương thức đào tạo theo tín chỉ để đảm bảo truyền thụ cho SV nội dung môn học, hướng dẫn SV rèn luyện năng lực nhận thức, năng lực tư duy sáng tạo, năng lực thu thập thông tin, xử lý thông tin, năng lực làm việc nhóm, năng lực tự học và tự nghiên cứu
- Cung cấp danh mục các tài liệu tham khảo, hướng dẫn SV về mục tiêu và phương pháp đọc tài liệu tham khảo, tổ chức thảo luận, thực hành và các hoạt động chuyên môn khác
- Hướng dẫn cho SV tự học, tự nghiên cứu ở nhà và phải có hình thức kiểm tra, kiểm soát và đánh giá kết quả tự học, tự nghiên cứu của sinh viên Có trách nhiệm tham gia hướng dẫn SV nghiên cứu khoa học theo phân công của khoa trong
kế hoạch giảng dạy hàng năm
- Ra đề thi, chấm thi và trả bài thi theo đúng thời gian quy định
Như đã trình bày ở trên, ta thấy hoạt động giảng dạy trong phương thức đào tạo theo HCTC có nhiều điểm khác, phức tạp hơn so với phương thức đào tạo theo niên chế học phần Để tổ chức quản lí tốt hoạt động giảng dạy khi chuyển đổi sang phương thức đào tạo mới này, Nhà trường nói chung và khoa nói riêng phải có quy chế, quy định hướng dẫn phù hợp và một hệ thống quản lí theo dõi và kiểm tra một cách chặt chẽ
Trang 381.4.2 Quản lí hoạt động học của sinh viên theo học chế tín chỉ
* Qu ản lí hoạt động học trên lớp của SV
Sinh viên một mặt là đối tượng của hoạt động dạy, mặt khác là chủ thể của hoạt động nhận thức có tính chất nghiên cứu Kết quả đào tạo phụ thuộc vào tính tích cực nhận thức của SV Một trong những mục tiêu quan trọng của việc áp dụng HCTC là tạo điều kiện để SV phát huy được tối đa vai trò chủ thể trong hoạt động học tập, nghiên cứu của mình
Như vậy, quản lí hoạt động học của SV phải đảm bảo sao cho SV không chỉ
là khách thể của hoạt động dạy mà phải biến thành chủ thể hoạt động tích cực, độc lập, sáng tạo chiếm lĩnh tri thức, kỹ năng, kỹ xảo và năng lực nghề nghiệp tương lai Những nội dung quản lí hoạt động học của SV bao gồm: đảm bảo SV thực hiện đầy đủ, chính xác quy chế học tập và rèn luyện; đổi mới PPHT, xây dựng phương pháp
tự kiểm tra, tự đánh giá phù hợp, hướng dẫn SV xây dựng mục tiêu và kế hoạch học tập
cá nhân
Nội dung then chốt trong quản lí hoạt động học của SV là đổi mới PPHT, nghiên cứu của SV Việc này được bắt đầu từ việc GV đổi mới PPDH, phương pháp KT- ĐG Giảng viên có nhiệm vụ bồi dưỡng cho SV phương pháp và kỹ năng tự học ngay trên lớp thông qua việc tạo điều kiện cho SV bộc lộ khả năng diễn đạt, phân tích, tổng hợp, khái quát, trừu tượng hoá vấn đề, bồi dưỡng cho SV phương pháp đọc sách, truy cập tài liệu, tóm tắt, hệ thống hoá tài liệu
Học chế tín chỉ phản ánh quan điểm lấy SV làm trọng tâm của HĐDH SV là người tiếp cận kiến thức, đồng thời cũng là người chủ động tạo ra kiến thức Họ không được giảng viên “chuyển giao” đầy đủ mọi kiến thức của bài học qua quá trình lên lớp
Vì vậy, phương pháp học thụ động không còn hiệu quả đối với phương thức đào tạo này Vậy công việc của nhà QL là làm sao thúc đẩy động lực học và nâng cao phương pháp học cho SV Vì nhà QL không thể theo sát SV trong mọi hoạt động của họ nên việc nâng cao tính tự chủ và tự chịu trách nhiệm cho SV là vô cùng quan trọng Trên lớp nhà QL cũng như GV chỉ có thể kiểm tra sự tham gia các giờ học trên lớp của SV cùng với kết quả các bài kiểm tra quá trình học Trong các giờ trên lớp, SV học tập theo sự hướng dẫn, KT- ĐG của GV: nghe giảng, thảo luận làm việc nhóm Nếu SV không tự giác, tích cực chủ động trong phương pháp học của mình thì sẽ không thể hoàn thành được khối lượng kiến thức mà phương thức đào tạo theo TC yêu cầu và
Trang 39không thể kết thúc được quá trình học tập Họ cần rèn luyện thói quen cập nhật kiến thức mới liên tục và niềm say mê học suốt đời Đây là một thách thức rất lớn đối với lớp SV đã có thói quen thụ động trong quá trình học tập Để có phương pháp học hiệu quả nhà trường cần có các biện pháp để giúp SV nắm chắc đề cương môn học và chủ động lập kế hoạch học tập cho mình Bên cạnh đó, cần có cơ chế cho SV phát huy năng lực chủ động trong việc học tập thông qua việc thực hiện đúng đề cương môn học đã được công bố
* Qu ản lí SV học đúng tiến độ, CTĐT (gồm các môn tự chọn và bắt buộc)
Tiến độ học của SV được dựa vào CTĐT, cuối học kỳ nhà trường thông báo các môn học sẽ được mở trong học kỳ sau SV dựa vào khả năng, sức lực, tài lực và yêu cầu của môn học như môn học trước, môn tiên quyết thông qua hướng dẫn của GVCN, đội ngũ CVHT để đăng ký môn học sao cho phù hợp với quỹ thời gian và năng lực học tập của mình Đây là điểm khác biệt giữa hai hình thức đào tạo tín chỉ với niên chế Để việc quản lí SV học đúng tiến độ và CTĐT, GV và người CVHT
có một vai trò rất quan trọng Vai trò ấy được thể hiện:
- Hỗ trợ các điều kiện cần thiết cho việc SV hoàn thành đúng hạn các mục tiêu học tập
- Hỗ trợ SV trong việc đăng kí ban đầu với số lượng tín chỉ phù hợp với năng lực cá nhân của mỗi SV
- SV phải là người tích cực, chủ động trong việc thực hiện các mục tiêu ngắn hạn và dài hạn của CTĐT cùng với những trợ giúp tích cực từ GV và CVHT
- Hỗ trợ SV lựa chọn và đăng kí những CTĐT bắt buộc và tự chọn phù hợp với định hướng chuyên môn sâu và nghề nghiệp sau khi ra trường cho SV
1.4.3 Quản lí đội ngũ cố vấn học tập và giảng viên chủ nhiệm
Trong quá trình đào tạo theo TC không thể thiếu đội ngũ cố vấn học tập Đội ngũ này cần nắm chắc chương trình đào tạo và quy trình tổ chức đào tạo của từng ngành/chuyên ngành học theo từng khoá học và có tính chuyên nghiệp cao, hiểu biết tường minh về mọi quy chế đào tạo ngành học, các điều kiện học tập; kể cả kiến thức tâm lý học sư phạm để có thể giúp từng SV lựa chọn môn học, đăng ký học phù hợp với năng lực, thời gian và theo đúng yêu cầu của phòng đào tạo khi tổ
Trang 40chức môn học Nhờ đó mà SV lập kế hoạch học tập tối ưu nhất cho mình Để đội ngũ CVHT và GVCN lớp phát huy hết vai trò của mình trong HĐDH thì:
- Nhà trường nên tổ chức bồi dưỡng kỹ năng cố vấn học tập, giảng viên chủ nhiệm lớp các vấn đề liên quan: chia sẻ thông tin về các qui định, kinh nghiệm giải quyết các tình huống khi tiếp xúc với sinh viên…
- Phòng Đào tạo nên tổ chức cập nhật hóa các qui định, qui chế mới để cố vấn học tập, giảng viên chủ nhiệm hiểu chính xác yêu cầu quản lí của nhà trường và
có thêm cơ hội để giao lưu, chia sẻ thông tin giữa các cố vấn
- Hạn chế thay đổi cố vấn học tập sau mỗi năm học Việc theo sinh viên suốt khóa học tạo điều kiện cho CVHT nắm vững tình trạng học tập, sức học và tâm lý của sinh viên
- Nhà trường và các khoa nên có kế hoạch cho CVHT và GVCN một giờ cố định trong tuần để giảng viên sinh hoạt lớp
- Cố vấn học tập là một mắt xích không thể thiếu trong tiến trình giải quyết các vấn đề liên quan đến sinh viên Vì vậy, nhà trường cần có các buổi trao đổi chia
sẻ khó khăn gặp phải và tạo động lực, hỗ trợ thỏa đáng để giảng viên nhiệt tình, tâm huyết với công việc CVHT và GVCN
1.4.4 Quản lí công tác kiểm tra – đánh giá theo học chế tín chỉ
*Ph ương pháp KT-ĐG
Trong HCTC, có hai hình thức đánh giá cơ bản trong HĐDH đó là: đánh giá trong tiến trình (Formative assesment) và đánh giá tổng kết (summative assesment) Đánh giá trong tiến trình học của SV bao gồm đánh giá chuyên cần, đánh giá
ý thức học tập, kiểm tra định kỳ Theo HCTC, các bài kiểm tra cần tiến hành thường xuyên để đánh giá được việc học tích cực của SV cả tiến trình Điểm trung bình của các lần đánh giá được coi là điểm tiến trình và có một trọng số đáng kể trong điểm đánh giá môn học Các hình thức đánh giá trong tiến trình rất đa dạng: kiểm tra viết trên lớp, trình bày bài chuẩn bị ở nhà, tham gia thảo luận nhóm, làm bài tập lớn, tiểu luận…
Đánh giá tổng kết bao gồm bài kiểm tra, tiểu luận hết môn