1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ, đánh giá đáp ứng miễn dịch vaccin thương phẩm phòng hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp (PRRS) trên đàn lợn nuôi tại tỉnh thái nguyên

82 359 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 82
Dung lượng 1,87 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đây là bệnh mới, nên việc ứng dụng và đánh giá khả năng đáp ứng miễn dịch của các loại vaccin phòng bệnh Tai xanh trên địa bàn tỉnh vẫn chưa được thực hiện trong thời gian qua.. Xuất phá

Trang 1

NGUYỄN VĂN THỊNH

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ, ĐÁNH GIÁ ĐÁP ỨNG MIỄN DỊCH VACXIN THƯƠNG PHẨM PHÒNG HỘI CHỨNG RỐI LOẠN SINH SẢN VÀ HÔ HẤP (PRRS) TRÊN ĐÀN

LỢN NUÔI TẠI TỈNH THÁI NGUYÊN

LUẬN VĂN THẠC SĨ THÚ Y

THÁI NGUYÊN - 2015

Trang 2

NGUYỄN VĂN THỊNH

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ, ĐÁNH GIÁ ĐÁP ỨNG MIỄN DỊCH VACXIN THƯƠNG PHẨM PHÒNG HỘI CHỨNG RỐI LOẠN SINH SẢN VÀ HÔ HẤP (PRRS) TRÊN ĐÀN

LỢN NUÔI TẠI TỈNH THÁI NGUYÊN

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu

và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác và chưa từng sử dụng để bảo vệ một học vị nào

Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện đề tài nghiên cứu và hoàn thành luận văn đều đã được cảm ơn, các thông tin trích dẫn chính xác và

đã được chỉ rõ nguồn gốc

Thái Nguyên, ngày tháng năm 2015

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Nguyễn Văn Thịnh

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt quá trình thực hiện đề tài và hoàn thành bản luận văn, tôi luôn nhận được sự giúp đỡ của nhiểu tổ chức và cá nhân Nhân dịp này tôi xin trân trọng cảm ơn Ban giám đốc, Ban quản lý Sau đại học Đại học Thái Nguyên, phòng Quản lý đào tạo Sau đại học, khoa Chăn nuôi Thú y, trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã tạo điều kiện cho tôi được theo học chương trình đào tạo thạc sỹ tại trường

Tôi xin trân trọng cảm ơn tập thể cán bộ khoa Chăn nuôi Thú y, trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên; Phòng Virus - Trung tâm Chẩn đoán Thú y trung ương và Chi cục Thú y tỉnh Thái Nguyên đã nhiệt tình giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi nhất để tôi hoàn thành đề tài nghiên cứu

Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến các thầy hướng dẫn khoa học là TS Sa Đình Chiến và GS.TS Nguyễn Quang Tuyên đã trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn

Tôi luôn biết ơn gia đình, bạn bè và các học viên cao học động viên và giúp đỡ tôi hoàn thành luận án này

Tôi xin chân thành cảm ơn./

Thái Nguyên, tháng năm 2015

HỌC VIÊN

Nguyễn Văn Thịnh

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU vi

DANH MỤC CÁC BẢNG vi

DANH MỤC CÁC HÌNH vii

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu của đề tài 2

3 Ý nghĩa khoa học và thực tế 2

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1 Tình hình Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở lợn 3

1.1.1 Tên bệnh 3

1.1.2 Tình hình bệnh Tai xanh trên thế giới 3

1.1.3 Tình hình bệnh Tai xanh tại Việt Nam 4

1.2 Bệnh nguyên 7

1.2.1 Hình thái, cấu tạo 7

1.2.2 Phân loại 10

1.2.3 Sức đề kháng của virus 11

1.2.4 Đặc tính nuôi cấy virus trong môi trường tế bào 12

1.3 Dịch tễ học 12

1.3.1 Loài vật và lứa tuổi mắc bệnh 12

1.3.2 Chất chứa mầm bệnh 13

1.3.3 Đường truyền lây 14

1.4 Cơ chế sinh bệnh 16

Trang 6

1.5 Triệu chứng, bệnh tích 17

1.5.1 Triệu chứng 17

1.5.2 Bệnh tích 18

1.6 Chẩn đoán 18

1.6.1 Chẩn đoán lâm sàng 19

1.6.2 Chẩn đoán trong phòng thí nghiệm 19

1.7 Đáp ứng miễn dịch của vật chủ chống lại PRRS 20

1.7.1 Miễn dịch dịch thể 20

1.7.2 Miễn dịch qua trung gian tế bào 22

1.8 Phòng và điều trị bệnh 23

1.8.1 Vệ sinh phòng bệnh 23

1.8.2 Phòng bệnh bằng vaccin 23

1.9 Vaccin phòng, chống Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở lợn 24

Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28

2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 28

2.1.1 Đối tượng, vật liệu nghiên cứu 28

2.1.2 Phạm vi nghiên cứu 28

2.2 Nội dung nghiên cứu 28

2.2.1 Điều tra một số đặc điểm dịch tễ bệnh Tai xanh ở lợn nuôi tại tỉnh Thái Nguyên từ năm 2008-2013 28

2.2.2 Xác định khả năng đáp ứng miễn dịch và độ dài miễn dịch của vaccin phòng bệnh Tai xanh 29

2.3 Phương pháp nghiên cứu 29

2.3.1 Phương pháp nghiên cứu dịch tễ học 29

2.3.2 Phương pháp xử lý số liệu 36

Trang 7

Chương 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 39

3.1 Tỷ lệ lợn mắc bệnh Tai xanh và chết tại Thái Nguyên từ năm 2010-2013 39

3.2 Tỷ lệ lợn mắc bệnh Tai xanh và chết ở các loại lợn 41

3.3 Tỷ lệ lợn mắc bệnh Tai xanh theo hình thức chăn nuôi 44

3.4 Tỷ lệ lợn nái mắc bệnh Tai xanh tại các địa phương 46

3.5 Tỷ lệ lợn mắc bệnh Tai xanh theo mùa vụ 47

3.6 Kết quả xác định nguy cơ lợn mắc bệnh Tai xanh và chết 49

3.6.1 Kết quả xác định nguy cơ mắc bệnh Tai xanh ở các loại lợn 49

3.6.2 Kết quả xác định nguy cơ lợn chết do mắc bệnh Tai xanh 50

3.7 Kết quả xác định tỷ lệ lưu hành kháng thể PRRS 51

3.8 Kết quả xác định chỉ tiêu sinh lý, biểu hiện lâm sàng của lợn trước và sau khi tiêm vaccin 53

3.8.1 Kết quả xác định một số chỉ tiêu sinh lý của lợn trước và sau khi tiêm vaccin 53

3.8.2 Kết quả xác định biểu hiện lâm sàng của lợn trước và sau khi tiêm phòng vaccin 54

3.9 Kết quả xác định hiệu giá kháng thể của lợn sau khi tiêm vaccin 55

3.9.1 Kết quả xác định hiệu giá kháng thể của lợn sau khi tiêm vaccin 1 tháng 55

3.9.2 Kết quả xác định hiệu giá kháng thể của lợn sau khi tiêm vaccin được 3 tháng 57

3.9.3 Kết quả xác định hiệu giá kháng thể của lợn sau khi tiêm vaccin được 4 tháng 58

3.10 Kết quả theo dõi các mô hình 59

TÀI LIỆU THAM KHẢO 62

HÌNH ẢNH MINH HỌA 70

Trang 8

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU

ADN : Acid Deoxyribonucleic

AEC : 3 - Amino - 9 - ethylcarbazole

Cs : Cộng sự

ELISA : Enzyme - linked Immuno sorbant assay

IPMA : Immuno Peroxidase Monolayer Assay

MARC-145 : Tế bào thận khỉ xanh Châu Phi

mARN : Messenger Acide RiboNucleotide

MEM : Modified Eagles medium

OIE : Tổ chức Thú y thế giới

PAM : Porcine alveolar macrophages

PBS : Phosphat buffer solution

PCR : Polymerase Chain Reaction

PRRS : Porcine Reproductive and Respiratory Syndrome PRRSV : Porcine Reproductive and Respiratory Syndrome Virus

RR : Relative Risk

TCID50 : 50 % tissue culture infective dose

Trang 9

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1 Tỷ lệ lợn mắc bệnh Tai xanh và chết tại Thái Nguyên từ

năm 2010-2013 39

Bảng 3.2 Tỷ lệ lợn mắc bệnh Tai xanh và chết ở các loại lợn 41

Bảng 3.3 Tỷ lệ lợn mắc bệnh Tai xanh theo hình thức chăn nuôi 44

Bảng 3.4 Tỷ lệ lợn nái mắc bệnh Tai xanh tại các địa phương 46

Bảng 3.5 Tỷ lệ lợn mắc bệnh Tai xanh theo mùa vụ 47

Bảng 3.6 Nguy cơ mắc bệnh Tai xanh ở các loại lợn 49

Bảng 3.7 Nguy cơ lợn chết do mắc bệnh Tai xanh ở các loại lợn 50

Bảng 3.8 Tỷ lệ lưu hành kháng thể PRRS trên đàn lợn tại Thái Nguyên 51

Bảng 3.9 Chỉ tiêu sinh lý của lợn trước và sau khi tiêm vaccin 53

Bảng 3.10 Biểu hiện lâm sàng của lợn trước và sau khi tiêm vaccin 54

Bảng 3.11 Hiệu giá kháng thể của lợn sau khi tiêm vaccin 1 tháng 56

Bảng 3.12 Hiệu giá kháng thể của lợn sau khi tiêm vaccin 3 tháng 57

Bảng 3.13 Hiệu giá kháng thể của lợn sau khi tiêm vaccin 4 tháng 59

Bảng 3.14 Kết quả theo dõi đàn lợn nuôi tại các mô hình 64

Trang 10

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 3.1: Biểu đồ tỷ lệ lợn mắc bệnh Tai xanh và chết tại Thái Nguyên

từ năm 2010-2013 41

Hình 3.2: Biểu đồ Lợn mắc bệnh Tai xanh và chết ở các loại lợn trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên 43

Hình 3.3: Biểu đồ tỷ lệ lợn mắc bệnh Tai xanh theo hình thức chăn nuôi 45

Hình 3.4: Tỷ lệ lợn nái mắc bệnh Tai xanh tại các địa phương 47

Hình 3.5: Tỷ lệ lợn mắc bệnh Tai xanh theo mùa vụ 48

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở lợn (PRRS) hay còn gọi là

“Bệnh Tai xanh ở lợn” là bệnh truyền nhiễm nguy hiểm do virus thuộc họ

Arteriviride gây nên Bệnh gây suy giảm hệ thống miễn dịch của lợn, tạo điều

kiện cho các vi khuẩn, virus khác xâm nhập gây bệnh kế phát Lợn mắc bệnh khó điều trị với tỷ lệ chết cao

Ở nước ta, bệnh xuất hiện vào những năm cuối thập kỷ 90 của thế kỷ

XX, bùng phát và gây ra thành dịch lớn từ năm 2007 ở hầu hết các tỉnh, thành trong cả nước

Tại Thái Nguyên, dịch xuất hiện gây hại từ năm 2008 đến năm 2013

đã có 56/181 xã, phường, thị trấn có dịch Tai xanh ở lợn Số lợn chết và tiêu hủy do mắc bệnh là 5.431 con gây thiệt hại nhiều tỷ đồng cho Nhà nước cũng như nhân dân

Là bệnh truyền nhiễm cấp tính xảy ra ở mọi lứa tuổi của lợn, chúng lây lan nhanh, làm suy giảm hệ thống miễn dịch của lợn Bệnh gây chết nhiều lợn, làm tổn thất lớn về kinh tế cho người chăn nuôi Mầm bệnh thường xuyên có trong tự nhiên và động vật, đặc biệt là ở lợn, khi gặp điều kiện thuận lợi chúng bùng phát thành dịch

Đây là bệnh mới, nên việc ứng dụng và đánh giá khả năng đáp ứng miễn dịch của các loại vaccin phòng bệnh Tai xanh trên địa bàn tỉnh vẫn chưa được thực hiện trong thời gian qua

Xuất phát từ tình hình thực tế, để có các giải pháp mang tính khoa học và công nghệ nhằm phòng, khống chế bệnh Tai xanh một cách có hiệu quả, chúng

tôi tiến hành thực hiện đề tài: "Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ, đánh giá đáp ứng miễn dịch vaccin thương phẩm phòng Hội chứng rối loạn sinh sản

và hô hấp (PRRS) trên đàn lợn nuôi tại tỉnh Thái Nguyên"

Trang 12

2 Mục tiêu của đề tài

- Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh Tai xanh ở lợn nuôi tại tỉnh Thái Nguyên;

- Đánh giá được khả năng đáp ứng miễn dịch của một số loại vaccin

phòng bệnh Tai xanh ở lợn nuôi tại tỉnh Thái Nguyên

3 Ý nghĩa khoa học và thực tế

- Ý nghĩa khoa học: Kết quả của đề tài là những thông tin khoa học về một số đặc điểm dịch tễ và khả năng đáp ứng miễn dịch của một số loại vaccin phòng bệnh Tai xanh ở lợn nuôi tại Thái Nguyên

- Ý nghĩa thực tiễn: Đề xuất được biện pháp phòng, chống bệnh Tai xanh

có hiệu quả, qua đó hạn chế những thiệt hại do dịch bệnh Tai xanh gây ra

Trang 13

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Tình hình Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở lợn

1.1.1 Tên bệnh

Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở lợn là một bệnh truyền nhiễm nguy hiểm đối với lợn, do virus gây ra Bệnh lây lan nhanh với các biểu hiện đặc trưng viêm đường hô hấp rất nặng như: Sốt, ho, thở khó và ở lợn nái là các rối loạn sinh sản như: sẩy thai, thai chết lưu, lợn sơ sinh chết yểu

Bệnh được ghi nhận lần đầu tiên tại Hà Lan năm 1986 và sau đó ở Mỹ, tại vùng Bắc của bang California, bang Iowa và bang Minnesota vào khoảng năm 1987 Thời gian đầu do chưa xác định được nguyên nhân và chưa có những hiểu biết rõ ràng về bệnh nên các triệu chứng lâm sàng và bệnh tích đã được sử dụng để đặt tên cho bệnh với những tên gọi khác nhau như sau:

- Hội chứng hô hấp và vô sinh của lợn (SIRS);

- Bệnh bí hiểm ở lợn (MDS) như ở châu Mỹ;

- Hội chứng hô hấp và sảy thai ở lợn (PEARS);

- Bệnh Tai xanh như ở châu Âu

Năm 1992, Hội nghị Quốc tế về Hội chứng này được tổ chức tại Minesota (Mỹ), Tổ chức Thú y thế giới (OIE) đã thống nhất tên gọi là Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở lợn viết tắt là PRRS

1.1.2 Tình hình bệnh Tai xanh trên thế giới

Bệnh được phát hiện lần đầu tiên ở Hà Lan năm 1986 và sau đó tại Hoa

Kỳ năm 1987 (Keffaber, 1989) [42]; (Loula, 1991) [44] Bệnh có tốc độ lây lan nhanh, đã có hơn 3.000 ổ dịch được ghi nhận tại CHLB Đức vào năm

1992 Sau đó, Hội chứng tương tự cũng đã xuất hiện ở nhiều nước có chăn nuôi lợn ở quy mô công nghiệp như Canada (1987); các nước vùng châu Âu:

Trang 14

Hà Lan, Tây Ban Nha, Bỉ, Anh, Pháp năm 1991 (Baron và cs, 1992) [33] và Đan Mạch, Hà Lan năm 1992 Tại Châu Á, năm 1988 bệnh xuất hiện tại Nhật Bản (Hirose và cs, 1995) [40], 1991 tại Đài Loan (Chang và cs, 1993) [36]

Chỉ tính từ năm 2005 trở lại đây, 25 nước và vùng lãnh thổ thuộc tất cả các châu lục trên Thế giới đều có dịch Tai xanh lưu hành (trừ châu Úc và Newzeland)

Tại Hồng Kông và Đài Loan đã xác định có cả hai chủng Châu Âu và Bắc Mỹ cùng lưu hành; dịch Tai xanh cũng được thông báo ở Thái Lan từ các năm 2000 - 2007

Từ tháng 6/2006, đàn lợn tại các trại chăn nuôi vừa và nhỏ ở Trung Quốc đã bị ảnh hưởng nghiêm trọng bởi: “Hội chứng sốt cao ở lợn”, với biểu hiện sốt cao và tỉ lệ tử vong cao (50%) trong vòng 5-7 ngày kể từ khi xuất hiện triệu chứng lâm sàng bệnh Hội chứng thấy ở lợn các lứa tuổi nhưng ở lợn con bệnh nặng hơn (Kegong Tian và cs, 2007) [43]

Tháng 7/2007, Philippines là nước thứ 3 (sau Trung Quốc và Việt Nam) báo cáo có dịch Tai xanh do chủng virus độc lực cao gây ra Tiếp theo, vào tháng 9/2007, Nga cũng đã báo cáo có dịch bệnh Tai xanh do chủng virus độc lực cao này gây ra Hiện nay, Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản dạng

cổ điển đã trở thành dịch địa phương ở nhiều nước trên thế giới, kể cả các nước có ngành chăn nuôi lợn phát triển như Mỹ, Hà Lan, Anh … và đã gây ra những tổn thất rất lớn về kinh tế cho người chăn nuôi Riêng bệnh Tai xanh thể độc lực cao xuất hiện lần đầu vào năm 2006 tại Trung Quốc và đã lây lan sang các nước xung quanh (Nguyễn Tiến Dũng, 2011) [6]

1.1.3 Tình hình bệnh Tai xanh tại Việt Nam

Virus PRRS (PRRSV) dạng cổ điển đã xuất hiện và lưu hành tại nước

ta năm 1997, trên đàn lợn nhập từ Mỹ vào các tỉnh phía Nam, 10 trong số 51 con có huyết thanh dương tính với PRRSV và cả đàn được tiêu hủy ngay Tuy nhiên, theo điều tra ở một số địa bàn thuộc thành phố Hồ Chí Minh và các

Trang 15

tỉnh lân cận cho thấy 25% mẫu huyết thanh lợn có kháng thể virus PRRS (596/2308 mẫu) và 5/15 trại (chiếm 33%) nhiễm PRRS (Nguyễn Lương Hiền

và cs, 2001) [11] Một nghiên cứu khác cũng cho thấy tỷ lệ nhiễm ở một trại chăn nuôi công nghiệp tại TP Hồ Chí Minh là 5,97% (Trần Thị Bích Liên và Trần Thị Dân, 2003) [15] Năm 2003, tỷ lệ nhiễm virus PRRS trên lợn nuôi tập trung ở Cần Thơ là 66,86% (La Tấn Cường, 2005) [5]

Năm 2007: Dịch Tai xanh thể độc lực cao xuất hiện tại 405 xã, thuộc

75 huyện của 21 tỉnh, thành phố Tổng số gia súc mắc bệnh là 88.945 con, số chết và phải tiêu hủy là 19.217 con, cụ thể:

Đợt dịch thứ nhất: Ngày 12/3/2007, lần đầu tiên dịch Tai xanh xuất hiện tại nước ta trên đàn lợn tại Hải Dương Do việc buôn bán, vận chuyển lợn không được kiểm soát triệt để nên dịch đã lây lan nhanh Sau đó, dịch đã lây lan nhanh và phát triển mạnh tại 146 xã, phường thuộc 25 huyện, thị xã của 9 tỉnh là: Hải Dương, Hưng Yên, Quảng Ninh, Thái Bình, Bắc Ninh, Bắc Giang, Bắc Kạn, Nam Định và Hải Phòng Số lợn mắc bệnh là 31.928 con, số lợn chết và xử lý là 7.464 con

Đợt dịch thứ 2: Ngày 25/6/2007, dịch bắt đầu xuất hiện tại tỉnh Quảng Nam và đã lây lan ra diện rộng Trong đợt dịch này, dịch đã lây lan ra 178 xã, phường của 40 huyện, thị xã thuộc 14 tỉnh, thành phố là: Cà Mau, Long An,

Bà Rịa - Vũng Tàu, Khánh Hoà, Bình Định, Quảng Ngãi, Quảng Nam, Đà Nẵng, Thừa Thiên Huế, Quảng Trị, Lạng Sơn, Hà Nội, Thái Bình, Hải Dương Tổng số lợn ốm là 57.0177 con, số chết và xử lý là 11.753 con

Năm 2008: Ngày 20/3/2008, dịch xuất hiện ở nhiều xã thuộc tỉnh Hà Tĩnh và Thanh Hóa Sau đó dịch đã xuất hiện ở 949 xã, phường của 99 huyện, thị xã thuộc 28 tỉnh là: Bạc Liêu, Lâm Đồng, Quảng Nam, Thừa Thiên Huế,

Hà Tĩnh, Nghệ An, Thanh Hoá, Ninh Bình, Nam Định, Thái Bình, Thái Nguyên… Tổng số lợn mắc bệnh là 298.095 con, số chết và phải tiêu huỷ là 286.351 con

Trang 16

Năm 2009: Từ đầu năm 2009, dịch xảy ra ở 49 xã thuộc 14 huyện của 8 tỉnh, thành phố: Hưng Yên, Quảng Ninh, Bắc Giang, Quảng Nam, Gia Lai, Bạc Liêu, Bà Rịa - Vũng Tàu và Đắk Lắk với 5.044 lợn mắc bệnh và 4.363 lợn buộc phải tiêu huỷ

Năm 2010: Đợt dịch thứ nhất/2010 (tại miền Bắc): Dịch lợn Tai xanh

đã xảy ra từ ngày 23/3/2010 tại Hải Dương Tính đến hết tháng 6/2010, toàn quốc ghi nhận các ổ dịch tại 461 xã, phường thuộc 71 quận, huyện thuộc 16 tỉnh, thành phố: Hải Dương, Hưng Yên, Hải Phòng, Thái Bình, Bắc Ninh, Bắc Giang, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Hà Nội, Nam Định, Hà Nam, Nghệ An, Quảng Ninh, Hòa Bình, Cao Bằng, Sơn La Tổng số lợn mắc bệnh là 146.051 con trong đó số tiêu hủy là 65.911 con Đợt dịch thứ 2/2010 (tại miền Nam): theo kết quả điều tra, đợt dịch này bắt đầu từ ngày 11/6/2010 tại Sóc Trăng Trong đợt dịch này dịch xảy ra tại 42.080 hộ chăn nuôi của 1.517 xã, phường, thị trấn thuộc 215 quận huyện của 36 tỉnh, thành phố: Sóc Trăng, Quảng Trị, Tiền Giang, Lào Cai, Long An, Bình Dương, Bạc Liêu, Quảng Nam, Đồng Nai, Bình Phước, Đà Nẵng, Vĩnh Long, Khánh Hòa, Đắk Lắk, Hậu Giang, Bà Rịa-Vùng Tàu, Lâm Đồng, Tây Ninh, Đồng Tháp, An Giang, Cần Thơ, Kiên Giang, Bến Tre, Cà Mau, KonTum, Đắc Nông, Gia Lai, Trà Vinh, Bình Thuận, Quảng Ninh, Ninh Thuận, Phú Yên, Sơn La, Nam Định, Thanh Hóa,

Hà Tĩnh Tổng số lợn trong đàn mắc bệnh là 968.115 con, trong đó, số mắc bệnh là 666.896 con, số chết, tiêu hủy là 372.788 con

Năm 2011- Đợt 1: Dịch xảy ra từ đầu năm đến ngày 10/6/2011 tại 127

xã, phường, thị trấn của 20 quận, huyện thuộc 7 tỉnh là Bắc Ninh, Hải Dương, Thái Bình, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Trị và Bình Dương Tổng số lợn mắc bệnh là 14.759 con trong đó có 1.468 con lợn nái, 5.346 con lợn thịt và 7.665 con lợn con; tổng số lợn phải tiêu hủy là 14.158

Trang 17

Năm 2011 - Đợt 2: Dịch xảy ra từ ngày 30/8/2011 tại tỉnh Tây Ninh, đến hết năm 2011 toàn quốc ghi nhận các ổ dịch Tai xanh tại 137 xã, phường, thị trấn của 29 quận, huyện thuộc 8 tỉnh là Tây Ninh, Long An, Tiền Giang, Sóc Trăng, Quảng Nam, Cần Thơ, Khánh Hòa và Hà Nội Tổng số lợn mắc bệnh là 27.558 con; tổng số lợn phải tiêu hủy là 12.361 con

Năm 2012: Dịch lợn Tai xanh đã xảy ra từ ngày 11/01/2012 tại tỉnh Lào Cai, toàn quốc ghi nhận các ổ dịch Tai xanh tại 353 xã, phường, thị trấn của 74 quận, huyện thuộc 23 tỉnh là Bắc Cạn, Bạc Liêu, Bắc Ninh, Bình Dương, Cao Bằng, Đắk Lắk, Điện Biên, Đồng Nai, Hoà Bình, Khánh Hòa, Phú Yên, Lai Châu, Lạng Sơn, Lào Cai, Long An, Nam Định, Nghệ An, Phú Thọ, Quảng Nam, Quảng Ninh, Tuyên Quang, Thái Bình và Yên Bái Tổng số lợn mắc bệnh

là 77.482, tổng số chết là 13.290 con, tổng số lợn phải tiêu hủy là 44.962 con Qua giám sát diễn biến của từng ổ dịch theo từng tháng của năm, có thể thấy rằng dịch bắt đầu xuất hiện lẻ tẻ vào đầu tháng 1 đến cuối tháng 3, sau đó phát triển lây lan trên diện rộng trong giai đoạn tháng 4 đến cuối tháng 7

Như vậy, hiện nay tại Việt Nam cùng tồn tại 2 dạng bệnh Tai xanh là dạng thể độc lực cao và dạng cổ điển Điều này gây ra rất nhiều khó khăn trong việc chẩn đoán phân biệt và áp dụng các biện pháp phòng, chống bệnh Tai xanh cho đàn lợn nuôi tại các địa phương

Trang 18

Virus gây bệnh Tai xanh là ARN virus với bộ gen là một phân tử ARN sợi đơn dương, có những đặc điểm chung của nhóm Arterivirus Sợi ARN này

có kích thước khoảng 15 kilobase, có chín ORF (open reading frame) mã hoá cho chín protein cấu trúc Tuy nhiên, có sáu phân tử protein chính có khả năng trung hoà kháng thể bao gồm bốn phân tử glycoprotein, một phân tử protein xuyên màng (M) và một protein nucleocapsid (N) (Tô Long Thành, 2007) [22]

Nguyễn Bá Hiên và cs (2013) [10] cho biết, sợi đơn ARN của virus bao gồm một bộ gen có khoảng 15 kb, mã hóa 9 ORFs Bộ gen PRRSV bao gồm hai gen polymerase là ORF1a và ORF1b và bẩy gen cấu trúc là ORF2a, 2b, 3,

4, 5, 6 và 7 ORF1a và ORF1b cấu thành khoảng 75% bộ gen của virus và được đặc trưng bởi một quá trình khung ribosome chuyển dịch thành một polyprotein lớn mà sự phân tách làm phát sinh các protein không cấu trúc (NSP) bao gồm cả ARN phụ thuộc polymerase Các khung đọc mở ORF2a, 3,

4 và 5 tất cả mã hóa cho các protein glycosyl hóa là GP2a, GP3, GP4, GP5 tương ứng Các ORF2b mới được định nghĩa mã hóa các protein nhỏ nhất của các hạt virus được chỉ định GP2b ORF7 mã hóa các protein nuclocapsid không glycosyl hóa (N)

PRRSV không có khả năng ngưng kết hồng cầu của lợn, dê, cừu, thỏ, chuột lang, vịt, gà và nhóm máu O của người Bộ gen của virus là chuỗi dương ARN có kích thước từ 13- 15kb Sợi ARN của virus có đầu 5’ và đầu 3’ Gen ARN polymeraza chiếm khoảng 75% đầu 5’ của bộ gen Gen này mã hoá cho các protein cấu trúc của virus nằm ở đầu 3’

Hạt virus bao gồm protein nucleocapsid (N) có khối lượng phân tử 1.200bp, protein màng (M) không có đường hình cầu với khối lượng phân tử 16.000bp, protein peplomer N - glycosylate (GS) có khối lượng phân tử 25.000bp và protein GL có khối lượng phân tử 42.000 Acid Nucleic: Sự nhân lên của virus không bị ảnh hưởng khi dùng hợp chất ức chế tổng hợp ADN là 5-bromo-2-deoxyuridin, 5-iodo-2-deoxyuridin và mitomycin C chứng tỏ axit nucleic đó là ARN Sợi ARN này có kích thước khoảng 15kb

Trang 19

Cấu trúc hệ gen của PRRSV bao gồm 7 khung đọc mở (ORF), gồm: ORF1, ORF2, ORF3, ORF4, ORF5, ORF6 và ORF7

Bảng 1.1: Protein cấu trúc của PRRSV Protein KL phân tử Gen mã hóa Vai trò

GP 3 45 KD ORF 3 Quan trọng trong miễn dịch

GP 5 25 KD ORF 5 Bám dính tế bào đa dạng nhất

Trong đó, ORF1 được chia làm hai phần bao gồm ORF1a và ORF1b, chiếm tới khoảng 80% tổng số độ dài hệ gen của virus, chịu trách nhiệm mã hoá ARN thông tin tổng hợp các enzym ARN polymerase của virus ORF2, ORF3, ORF4, ORF5, ORF6 và ORF7 là các phần gen tạo nên khung đọc mở

mã hoá các protein tương ứng, đó là GP2 (glycoprotein 2), GP3, GP4, GP5 (hay còn gọi là glycoprotein vỏ (E, envelope), protein màng M (membrane protein) và protein cấu trúc nucleocapsid N Các protein được glycosyl hóa (là hiện tượng gắn thêm hydrat cacbon vào một vị trí axit amin xác định) là: GP2, GP3, GP4, GP5 và các protein không được glycosyl hóa là M và N

Các nghiên cứu đã dựa vào phân tích trình tự axit amin của virus chủng

2332 và chủng Lelystad cho thấy rằng các virus này đang tiến hóa do đột biến ngẫu nhiên và tái tổ hợp trong gen

Những nghiên cứu của Benfield, Wensvoort và cs (1992) [34] cho thấy các chủng virus thuộc dòng Châu Âu tương tự nhau về cấu trúc kháng nguyên nhưng chúng có những sai khác nhất định so với chủng virus của Châu Mỹ Tương tự, dòng virus Châu Mỹ cũng có sự tương đồng nhau về cấu trúc kháng nguyên

Trang 20

Trong các tế bào bị nhiễm virus PRRS, virus sinh ra 6 ARNm Tất cả 6 ARNm có trình tự sắp xếp chung ở đầu 5' của hệ gen ARN và tất cả chúng đều có đuôi 3' polyA Meulenberg và cs (1993) [47] dựa trên cấu trúc chuỗi nucleotit, tổ chức hệ gen, cũng như cách nhân lên của virus đã xếp chúng vào nhóm virus động mạch (Arteri virus)

Qua nghiên cứu giải mã gen của virus tại Mỹ và Trung Quốc cho thấy các chủng PRRSV tại Việt Nam có mức tương đồng về amino acid từ 99 đến 99,7%

so với chủng virus gây bệnh thể độc lực cao ở Trung Quốc và đều bị mất 30 axit amin Điều này cho thấy các chủng PRRSV ở nước ta hiện nay thuộc dòng Bắc

Mỹ, có độc lực cao giống chủng ở Trung Quốc (Cục thú y, 2008) [4]

Nhiều nghiên cứu của các tác giả trong nước từ năm 2009 đến nay đã nhận định PRRSV tại Việt Nam hiện nay được xác định thuộc chủng Bắc Mỹ dòng Trung Quốc (Lê Thanh Hòa và cs, 2009 [13]; Nguyễn Văn Cảm và cs,

2011 [2]; Cao Văn Thật và cs, 2012 [27]; Lý Thị Liên Khai và Võ Thị Cẩm Giàng, 2012 [14])

Trang 21

Dựa vào những kết quả nghiên cứu tổn thương đại thể và vi thể của tổ chức phổi ở lợn mắc bệnh, người ta chia ra hai nhóm virus:

Dạng cổ điển: Có độc lực thấp, ở dạng này khi lợn mắc bệnh thì các triệu chứng bệnh không rõ ràng, có tỷ lệ chết thấp, chỉ từ 1 - 5% trong tổng đàn

Bảng 1.2: Sự tương đồng về nucleotide của các chủng PRRS

khi so sánh với chủng Bắc Mỹ VR2332 Chủng Nước phát hiện Tỷ lệ % tương đồng

1.2.3 Sức đề kháng của virus

Virus gây bệnh Tai xanh có thể tồn tại một năm ở nhiệt độ lạnh từ 20 đến

-700C; trong điều kiện 40C virus có thể sống một tháng; nhiệt độ cao virus đề kháng kém ở 370C chịu được 48 giờ, còn ở 560C bị chết sau một giờ Virus thích hợp ở pH 5 - 7 Với các chất sát trùng thông thường và môi trường có pH axit, virus dễ dàng bị tiêu diệt Dưới tác động của ánh nắng mặt trời hoặc tia tử ngoại virus bị vô hoạt một cách nhanh chóng (Tô Long Thành, 2007) [22]

Tính gây nhiễm của PRRSV bị ảnh hưởng bởi pH, PRRSV chịu đựng được pH trong khoảng 6,5 - 7,5, khả năng gây nhiễm của PRRSV bị bất hoạt nhanh chóng ở pH < 6 và pH > 7 (Benfield và cs, 1992)[34] (Bùi Quang Anh

và cs, 2008)[1]

Trang 22

Trong thịt đông lạnh ở 40C PRRSV tồn tại tới 48 giờ PRRSV bất hoạt nhanh chóng trong điều kiện khô hạn ở môi trường bên ngoài, nhưng tồn tại được 9 ngày trong nước giếng, 11 ngày trong nước máy (Trần Thị Bích Liên, 2008) [15]

Trong mẫu huyết thanh giữ ở 250C, thì vẫn phân lập được virus từ 47%, 14%, 7% mẫu huyết thanh trong 24, 48, 72 giờ, một cách tương ứng Giữ ở 40C hoặc - 250C, thì 85% mẫu huyết thanh vẫn phân lập được PRRSV trong 72 giờ (Zimmermen và cs, 1999) [58]

1.2.4 Đặc tính nuôi cấy virus trong môi trường tế bào

PRRSV phát triển ở mật độ 105-107

TCID50 ở các loại tế bào:

- Đại thực bào phế nang lợn (pulmonary alveolar marcrophage - PAM)

1.3 Dịch tễ học

1.3.1 Loài vật và lứa tuổi mắc bệnh

Người và các động vật khác không mắc bệnh Tai xanh Tuy nhiên, trong các loài thuỷ cầm chân màng có vịt trời (Mallard duck) lại rất mẫn cảm Virus có thể nhân lên ở loài động vật này và chính đây là nguồn reo rắc mầm bệnh trên diện rộng nên rất khó khống chế (Albina và cs, 1994) [32]

Trang 23

Virus gây bệnh cho lợn ở tất cả các lứa tuổi, nhưng lợn con và lợn nái mang thai thường mẫn cảm hơn cả Lợn rừng là động vật mang trùng và có thể coi là nguồn dịch thiên nhiên (Tô Long Thành, 2007) [22] Các cơ sở chăn nuôi công nghiệp với quy mô lớn, bệnh thường lây lan rộng, tồn tại lâu dài trong đàn lợn nái, rất khó thanh toán Lợn nái, thường truyền mầm bệnh cho bào thai, gây sẩy thai, thai chết lưu và lợn chết yểu với tỷ lệ cao Lợn rừng, ở các lứa tuổi đều có thể cảm nhiễm virus, có thể phát bệnh, nhưng thường không có triệu chứng lâm sàng và trở thành nguồn tàng trữ mầm bệnh trong tự nhiên

Về độc lực, người ta thấy virus gây bệnh Tai xanh tồn tại dưới 2 dạng

đó là dạng cổ điển và dạng biến thể độc lực cao Dạng cổ điển có độc lực thấp, ở dạng này khi lợn mắc bệnh thì có tỷ lệ chết thấp, chỉ từ 1 - 5% trong tổng đàn Dạng biến thể độc lực cao gây nhiễm bệnh cho lợn lây lan nhanh, trầm trọng và chết nhiều (Kegong Tian, Yu, 2007) [44]

1.3.2 Chất chứa mầm bệnh

Khi đã nhiễm virus, lợn có thể thải virus trong dịch họng, nước bọt, nước tiểu, phân đến ít nhất 28 ngày sau khi nhiễm virus Virus có rất ít trong phân và chúng cũng bị bất hoạt nhanh chóng khi ở trong phân Tuy nhiên, việc bài thải virus qua phân là một vấn đề còn gây tranh cãi, một số nghiên cứu báo cáo rằng PRRSV có trong phân từ ngày 28 đến 35 sau khi gây nhiễm thực nghiệm, trong khi đó một số các nghiên cứu khác lại không phát hiện được virus trong các mẫu phân (Yoon và cs, 1993)[57]; (Will và cs, 1997a) [55]

Lợn đực có thể thải virus trong tinh dịch trong 43 ngày Bằng phương pháp RT - PCR, các nhà nghiên cứu đã phát hiện được ARN của PRRSV trong tinh dịch 92 ngày sau khi lợn bị nhiễm virus (Swenson và cs, 1994)[52]; (Christopher-Hennings và cs, 1995)[37] Nguồn gốc của virus trong tinh dịch lợn đực hiện nay chưa được xác định chính xác, nhưng người ta cũng đã phân

Trang 24

lập được virus trong dịch hoàn 25 ngày sau khi nhiễm, trong tuyến củ hành ở

101 ngày sau khi nhiễm virus Tinh dịch lợn có chứa virus cũng có thể lây nhiễm sang bào thai và lợn nái khi phối giống

Lợn nái nhiễm virus có thể truyền sang cho bào thai từ giai đoạn giữa thai kỳ trở đi và cũng thải qua nước bọt và sữa

Trong cơ thể lợn nhiễm virus:

- Từ 2 - 4 ngày sau khi nhiễm đã có thể phân lập được virus ở phổi, hạch lympho, hạch amidan, tuyến Thymus, lách và máu Lượng virus nhiều nhất ở hạch amidan và phổi ở 14 ngày sau khi nhiễm, ở hạch lympho sau 3 ngày

- Ở hạch amydan, hạch lympho và tuyến Thymus vẫn có thể phân lập được virus sau 21 ngày, ở phổi là sau 35 ngày

- PRRSV thường cư trú ở phế nang, vùng trung tâm hạch lympho và lách Ở những con nái có chửa virus có thể qua được nhau thai Tuy nhiên, khả năng qua nhau thai của virus này hiện còn nhiều tranh cãi Virus cũng có thể xâm nhập vào thận, não, gan, khí quản, tủy xương và đám rối màng treo ruột

Virus có thể xâm nhập vào đại thực bào vùng phổi, hạch amidan, hạch lympho, lách nhưng không xâm nhập được vào các đại thực bào ở gan, thận, tim và các tế bào tiền thân của đại thực bào như bạch cầu đơn nhân trung tính, tế bào tủy xương Tế bào đích chủ yếu của virus là đại thực bào phế nang, tại đây virus nhân lên một cách mạnh nhất Tuy nhiên, chỉ có 2% đại thực bào phế nang bị virus xâm nhập

1.3.3 Đường truyền lây

Đường truyền lây là một yếu tố quan trọng, nó ảnh hưởng đến tốc độ lây lan và quy mô dịch bệnh truyền nhiễm Các con đường truyền lây bệnh Tai xanh bao gồm:

Truyền lây trực tiếp: Các đường lây truyền trực tiếp của PRRSV trong

và giữa các quần thể lợn bao gồm các lợn nhiễm bệnh và tinh dịch bị nhiễm

Trang 25

virus PRRSV được phát hiện từ nhiều loại chất tiết và các chất thải từ lợn bao gồm máu, tinh dịch, nước bọt, dịch họng, phân, nước tiểu, hơi thở ra, sữa và sữa đầu (Yoon và cs, 1993)[57]; (Rossow và cs, 1994)[51]; (Swenson và cs, 1994)[52]; (Will và cs, 1997a)[55]; (Wagstrom và cs, 2001)[53]

Truyền lây gián tiếp:

- Các dụng cụ, thiết bị: Một số đường truyền lây gián tiếp qua các dụng cụ, thiết bị đã được xác định trong những năm gần đây Ủng và quần

áo bảo hộ đã được chứng minh là những nguồn lây nhiễm tiềm năng cho lợn mẫn cảm (Otake và cs, 2002a)[49] Kim tiêm cũng là phương tiện lan truyền PRRSV (Dee và cs, 2002)[39]

- Các phương tiện vận chuyển: Các phương tiện vận chuyển là một đường chính làm lây lan PRRSV Sử dụng một mô hình tỷ lệ 1:150, lợn mẫn cảm đã thu nhận PRRSV qua tiếp xúc ở bên trong mô hình vận chuyển vấy nhiễm virus; tuy nhiên, làm khô phương tiện vận chuyển đã làm giảm sự lây nhiễm (Dee và cs, 2002) [39]

- Côn trùng: Các loài côn trùng (muỗi - Aedes vexans và ruồi nhà - Musca domestica) được theo dõi thường xuyên suốt các tháng mùa hè và đã cho thấy virus nằm ở đường tiêu hóa của côn trùng và có hiện tượng lan truyền PRRSV bằng cơ học từ lợn nhiễm bệnh sang lợn mẫn cảm trong điều kiện thực nghiệm (Otake và cs, 2002b)[50]

- Các loài có vú khác và gia cầm: Điều tra vai trò của các loài có vú khác nhau (loài gặm nhấm, gấu trúc Mỹ, chó, mèo, thú có túi, chồn hôi) và các loài chim (chim sẻ, sáo nuôi) cho thấy không có loài nào là vector sinh học và cơ học trong việc lây lan PRRSV (Wills và cs, 1997b[56])

- Lây lan qua không khí: Hiện nay, sự truyền lây PRRSV qua các tiểu phần lơ lửng trong không khí giữa các trang trại với nhau vẫn còn gây nhiều tranh cãi Gần đây, từ một nghiên cứu dịch tễ học trên quy mô lớn cho thấy các tiểu phần không khí là đường truyền lây gián tiếp giữa các vùng chăn nuôi lợn với nhau

Trang 26

1.4 Cơ chế sinh bệnh

Sau khi xâm nhập vào cơ thể, đích tấn công của virus là các đại thực bào, đặc biệt là đại thực bào ở phế nang, phế quản Đây là tế bào có các thụ thể (receptor) phù hợp với cấu trúc hạt virus Vì thế, virus hấp thụ và thực hiện quá trình nhân lên chỉ trong tế bào này và phá huỷ nó Một tỷ lệ lớn tế bào đại thực bào trong nang phổi bị virus xâm nhiễm rất sớm

Virus phát triển tốt trên môi trường tế bào đại thực bào phế nang lợn, trên tế bào dòng CL 2621, tế bào MA 140 với bệnh tích phá huỷ tế bào, sau 2-

6 ngày tế bào co tròn, tập trung thành cụm dày lên, nhân co lại cuối cùng bong ra (William T.Christianson và Han Soo Joo, 2001) [31]

Lúc đầu, PRRSV có thể kích thích các tế bào này, nhưng sau 2 hoặc 3 ngày virus sẽ giết chết chúng Các virion được giải phóng và ồ ạt xâm nhiễm sang các tế bào khác Ở giai đoạn đầu của quá trình xâm nhiễm của PRRSV, dường như hiệu giá kháng thể kháng lại các loại virus và vi khuẩn khác không liên quan trong cơ thể của lợn tăng cao do sự kích hoạt của đại thực bào trong

hệ thống miễn dịch Điều này, rất dễ gây ra sự nhầm lẫn trong việc đánh giá mức độ miễn dịch đối với các bệnh truyền nhiễm ở cơ thể lợn

Khi tế bào đại thực bào bị virus phá huỷ, các phản ứng miễn dịch không xảy ra được, lợn nhiễm bệnh rơi vào trạng thái suy giảm miễn dịch và

dễ dàng mắc các bệnh nhiễm trùng thứ phát Điều này, có thể thấy rõ ở những đàn lợn vỗ béo chuẩn bị giết thịt, khi bị nhiễm PRRSV sẽ có sự tăng đột biến

về tỷ lệ viêm phổi kế phát do những vi khuẩn vốn sẵn có trong đường hô hấp

Viêm phổi làm thiếu oxy nên gây rối loạn chuyển hóa của thai, thai bị suy dinh dưỡng và gây chết thai, sảy thai Lợn chửa kỳ cuối thì nhu cầu oxy tăng cao vì phải nuôi thai, ở thời kỳ cuối thai tăng trưởng rất nhanh nên nhu cầu về oxy tăng gấp bội Vì vậy, lượng thiếu hụt oxy càng nghiêm trọng, nên thai hay sảy vào kỳ cuối Sau sảy thai tế bào nội mạc tử cung bị thoái hóa, hoại tử nên làm chậm các quá trình sinh lý khác

Trang 27

1.5 Triệu chứng, bệnh tích

1.5.1 Triệu chứng

Theo ghi nhận của nhiều nghiên cứu về các triệu chứng lâm sàng ở lợn mắc bệnh Tai xanh cho thấy: Lợn bệnh thường có các triệu chứng đầu tiên là sốt cao, bỏ ăn, mẩn đỏ da, khó thở, táo bón hoặc tiêu chảy và một số triệu chứng khác tuỳ thuộc vào bệnh kế phát và từng loại lợn:

Lợn nái: Các triệu chứng chủ yếu là tím âm hộ, sảy thai, thai chết lưu, thai gỗ hàng loạt, đẻ non, lợn con đẻ ra yếu ớt, tỷ lệ tử vong cao Tỷ lệ thai chết tăng lên theo độ tuổi của thai: Thai dưới 2,5 tháng tuổi tỷ lệ chết 20%, thai trên 2,5 tháng tỷ lệ chết là 93,75% (Phạm Ngọc Thạch và cs, 2009)[26] Lợn nái trong giai đoạn nuôi con thường lười uống nước, viêm vú, mất sữa, viêm tử cung âm đạo, mí mắt sưng, có thể táo bón hoặc tiêu chảy, viêm phổi

Lợn đực giống: Sốt cao, bỏ ăn, đờ đẫn hoặc hôn mê, một số con có hiện tượng Tai xanh Đặc biệt, xuất hiện hiện tượng viêm dịch hoàn, bìu tinh hoàn nóng đỏ (chiếm 95%), tinh hoàn sưng, lệch vị trí (85%), giảm hưng phấn (Lê Văn Năm, 2007)[17] lượng tinh ít, chất lượng kém biểu hiện: Nồng độ tinh trùng C <80.106, hoạt lực của tinh trùng A <0,6, sức kháng của tinh trùng

R <3000, tỷ lệ kỳ hình K >10%, tỷ lệ sống của tinh trùng < 70%, độ nhiễm khuẩn cao 20.103 Lợn đực giống rất lâu mới hồi phục được khả năng sinh sản của mình (Nguyễn Như Thanh, 2007)[20]

Lợn con theo mẹ: Hầu như lợn con sinh ra chết sau vài giờ Số con sống sót tiếp tục chết vào tuần thứ nhất sau khi sinh, một số tiếp tục sống đến lúc cai sữa nhưng có triệu chứng khó thở và tiêu chảy (Kamakawaa và cs, 2006[42]) Lợn có triệu chứng biếng ăn, ho nhẹ, lông xơ xác, gầy yếu, sưng

mí mắt và kết mạc, đôi khi đây là triệu chứng mang tính chẩn đoán đối với lợn con dưới 3 tuần tuổi mắc bệnh Tai xanh Lợn mắc bệnh, tai xanh tím, rối loạn hô hấp, tiêu chảy phân màu nâu đỏ hoặc xám Tỷ lệ lợn chết là 15% hoặc cao hơn do viêm phổi và bội nhiễm vi khuẩn kế phát

Trang 28

Một số bệnh tích khác có thể thấy như: Thận có thể có xuất huyết lấm tấm như đầu đinh ghim; não xung huyết; hạch hầu họng, amidan sưng hoặc sung huyết; gan sưng, tụ huyết; lách sưng, nhồi huyết; hạch màng treo ruột xuất huyết; loét van hồi manh tràng

Bệnh Tai xanh là bệnh làm giảm khả năng miễn dịch của lợn Do vậy,

dễ có hiện tượng nhiễm trùng kế phát Nên ngoài bệnh tích ở phổi còn có một

số bệnh tích khác tùy theo tình trạng bội nhiễm vi khuẩn Người ta thường thấy viêm màng bao tim, viêm màng phổi, viêm phúc mạc, viêm màng não

khi ghép với Salmonella cholerasuis, Haemophilus parasuis (Trần Thị Bích

Liên, 2008) [16]

1.6 Chẩn đoán

Chẩn đoán bệnh Tai xanh thường dựa vào các yếu tố chủ quan như: lịch

sử bệnh, triệu chứng lâm sàng, tổn thương đại thể và vi thể và các số liệu khách quan như: phân tích tình hình sinh sản, xét nghiệm huyết thanh học hoặc phát hiện virus Có thể nghi lợn mắc bệnh Tai xanh khi có triệu chứng lâm sàng về đường hô hấp hoặc rối loạn sinh sản

Trang 29

1.6.1 Chẩn đoán lâm sàng

Chẩn đoán lâm sàng dựa vào 2 nhóm triệu chứng sau:

- Triệu chứng đường sinh sản: Trong giai đoạn đầu của dịch, có thể thấy hiện tượng sảy thai ở thời kỳ đầu, đẻ non, đẻ ra thai yếu, thai chết lưu đồng thời thai gỗ, lợn con yếu chết trước khi cai sữa

- Triệu chứng đường hô hấp: Viêm phổi ở lợn con và lợn thịt Có thể dùng phương pháp chẩn đoán lâm sàng nghi vấn để chẩn đoán xác định bệnh trong các trường hợp như: sảy thai muộn > 20%; chết khi sinh > 5%; chết trước lúc cai sữa > 25%

Tuy nhiên, do tính đa dạng của các loại bệnh ở lợn nên việc chẩn đoán dựa vào lâm sàng thường rất khó, dễ nhầm lẫn (về các bệnh phổi, bệnh sinh sản khác)

Ngoài ra, việc phân lập virus cũng rất khó khăn Mặt khác, về mặt lâm sàng thể độc lực cao có các triệu chứng rất nghiêm trọng kể cả tử vong với tỷ

lệ cao (gần như 100% ở lợn con) Trong khi đó ở thể cổ điển biểu hiện lâm sàng gần như rất khó nhận biết

1.6.2 Chẩn đoán trong phòng thí nghiệm

Khi thấy lợn có các triệu chứng nêu trên, bước đầu có thể chẩn đoán là Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản Tuy nhiên, để đảm bảo độ chính xác cần phải lấy mẫu bệnh phẩm (máu lợn bệnh còn sống hoặc các tổ chức bệnh phẩm như: phổi, hạch của lợn chết) để làm các xét nghiệm chẩn đoán trong phòng thí nghiệm Kỹ thuật chẩn đoán trong phòng thí nghiệm đối với PRRSV thường dựa vào 3 tiêu chí: virus, kháng nguyên của virus và kháng thể đặc hiệu

- Dựa vào phương pháp miễn dịch đánh dấu bằng enzym (ELISA) hoặc phương pháp miễn dịch huỳnh quang gián tiếp (IFAT) theo quy trình của OIE

để phát hiện kháng thể

Trang 30

- Phương pháp PCR để phát hiện virus hoặc phương pháp phân lập virus gây bệnh trên các môi trường tế bào

Các phương pháp này cho độ chính xác cao (từ 92-95%) trong chẩn đoán xác định Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở lợn (Bùi Quang Anh

và cs, 2008)[1] Cần nhấn mạnh rằng không thể phân biệt virus PRRS dạng cổ điển với dạng đôc lực cao ở trong phòng thí nghiệm nếu không thực hiện việc giải mã gien và phân tích cấu trúc ARN

1.7 Đáp ứng miễn dịch của vật chủ chống lại PRRS

Sự phát triển khả năng thích ứng miễn dịch chống lại PRRS là một chuỗi liên tục nhiều khâu bất thường trong cả đáp ứng miễn dịch dịch thể và đáp ứng miễn dịch qua trung gian tế bào

1.7.1 Miễn dịch dịch thể

Thông thường khi nhiễm virus cơ thể động vật chống lại bằng cách tiết interferon (INF), các cytokin gây nhiễm để cản trở sự nhân lên và hạn chế sự lan tràn của virus Khi lợn nhiễm PRRS, hệ thống miễn dịch của chúng không chống virus tại chỗ nhiễm, không tiết ra INFα và các cytokin gây nhiễm Đáp ứng miễn dịch tự nhiên yếu đối với virus PRRS dẫn đến kích thích không hoàn chỉnh đáp ứng miễn dịch qua trung gian tế bào Bên cạnh đó giảm hoặc triệt tiêu đáp ứng miễn dịch tự nhiên chống virus có thể tăng nguy cơ nhiễm trùng kế phát Vì nguyên nhân nêu trên, khi nghiên cứu ảnh hưởng của Interferon α (IFN-α) đối với virus gây Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản

ở lợn, (Trần Xuân Hạnh và cs, 2012)[9] Việc tiêm vaccin phòng bệnh Tai xanh vô hoạt kết hợp với IFN-α đã kích thích đáp ứng kháng thể ở lợn IFN-α

có khả năng ứng chế sự nhân lên của virus PRRS và kích thích đáp ứng miễn dịch khi sử dụng kết hợp với vaccin vô hoạt PRRS Kháng thể dịch thể, đặc biệt là kháng thể trung hoà có vai trò quan trọng trong đáp ứng miễn dịch chống lại PRRS Các kháng thể lưu hành chống lại PRRS được phát hiện vào

Trang 31

các ngày 5-7 ở lợn sau nhiễm và có sự biến đổi trong huyết thanh vào ngày 14 sau nhiễm, sau đó giảm xuống tới mức không phát hiện được vào ngày 42 sau nhiễm Nồng độ IgG đạt giá trị tối đa vào khoảng các ngày 21- 49 sau nhiễm với các kháng thể trung hoà

Những kháng thể xuất hiện sớm nhất là kháng thể trực tiếp kháng lại protein nhân (N), tiếp theo là protein M, sau đến glycoprotein 5 (GP5) Một protein không cấu trúc 2 (nsp2) chứa một cụm epitope B không trung hoà và chúng là những protein miễn dịch quan trọng nhất của PRRS Hầu hết các test chẩn đoán chủ yếu phát hiện kháng thể kháng protein N Những kháng thể này xuất hiện trong tuần đầu tiên sau nhiễm trùng và tồn tại trong vài tháng, nhưng không có khả năng bảo vệ cơ thể bị nhiễm virus

Bằng phản ứng trung hoà virus trong huyết thanh, đã chứng minh được rằng có sự xuất hiện của kháng thể trung hoà nhưng muộn hơn Kháng thể trung hoà xuất hiện vào 4 - 5 tuần sau nhiễm PRRS, đạt tối đa vào lúc 10 tuần

và kéo dài miễn dịch khoảng 1 năm (Yoon và cs, 1993)[57] Riêng với lợn đực sau 10 tuần nhiễm PRRS, cơ thể lợn mới xuất hiện kháng thể trung hoà,

18 tuần đạt cực đại (Nelson và cs , 1994[48])

Kháng thể trung hoà được phát hiện ổn định vào ngày thứ 28 sau nhiễm hoặc muộn hơn, đóng vai trò quan trọng trong đáp ứng miễn dịch với PRRS

và có sự khác nhau trong nhiễm trùng tự nhiên so với tiêm phòng vaccin

Sự xuất hiện sớm của các kháng thể không trung hoà có thể tác động đáng kể đến sự tiến triển bệnh của bệnh Tai xanh Ngoài ra kháng thể không trung hoà làm tăng sự lây nhiễm của virus trong các túi thực bào của các đại thực bào, do tăng quá trình đáp ứng phụ thuộc kháng thể

Đáp ứng miễn dịch dịch thể của các kháng thể không trung hoà có thể tác động mạnh tới virus PRRS thông qua việc thoát vỏ “cởi áo” của virus và làm tăng sự bắt giữ các tiểu phần virus trong các tế bào đại thực bào

Trang 32

1.7.2 Miễn dịch qua trung gian tế bào

Đáp ứng miễn dịch qua trung gian tế bào (CMI, cell mediated immunity) có vai trò rất quan trọng đối với PRRS Sự hiểu biết về đáp ứng miễn dịch qua trung gian tế bào của cơ thể chống PRRS còn hạn chế Những nghiên cứu đầu tiên cho thấy sự tăng tế bào lympho xuất hiện ngắn từ 3- 9 ngày là dấu hiệu của lợn nhiễm PRRS Tuy nhiên, ở ngày thứ 14 sau khi nhiễm, tổng số tế bào ở mạch ngoại vi ở mức bình thường Sự tăng tế bào lympho TCD8 làm người ta giả thiết rằng những tế bào T tiết độc tố tế bào đặc hiệu được tạo ra (Trần Thị Bích Liên, 2008)[16] Virus PRRS ngăn cản sự trình diện kháng nguyên và hoạt hoá tế bào lympho T, đồng thời làm giảm đáp ứng miễn dịch tự nhiên bằng cách thay đổi hình dạng của tế bào thực bào

và làm giảm sự xuất hiện phân tử trình diện kháng nguyên đi kèm trên bề mặt

tế bào đại thực bào trong việc trình diện kháng nguyên

Những cá thể lợn đang bình phục có sự đáp ứng tăng sinh mạnh các tế bào lympho, hiện tượng này không được phát hiện trong 4 tuần sau nhiễm trùng và cùng với đáp ứng kháng thể trung hoà Các đáp ứng có vai trò cytokine, chủ yếu là interferon (IFN-c) và IL-2 nhưng vai trò interferon kéo dài ít hơn so với interleukin

Interferon (IFN): Do tế bào nhiễm virus tiết ra, để ngăn cản virus đó vào lần sau, cũng như tạo bức tường ngăn cản virus xâm nhập sang tế bào khác PRRS rất nhạy cảm với tác động của IFN type I, chúng có thể đã đề kháng lại với những phản ứng của IFN- Alfa, thậm chí cả IL- 10 và IL- 12 trong tế bào thực bào và tế bào tua Vì thế, PRRS có thể phá huỷ hàng loạt tế bào đại thực bào

Vai trò của Interleukin (IL): IL- 10 có vai trò quan trọng trong điều hoà đáp ứng miễn dịch đối với PRRS Sau khi nhiễm PRRS, hiệu giá của ARNtt của IL- 10 đã tăng lên ở các tế bào phế nang phổi của lợn và trong dịch rửa phế quản

Trang 33

Vai trò “tự nguyện chết” (Apoptosis): ở những lợn nhiễm PRRS người

ta tìm thấy nhiều tế bào chết do cơ chế này ở các mô bị nhiễm đặc biệt ở phổi, tinh hoàn và hạch amidal Tuy nhiên, PRRS gây ra hiện tượng apoptosis trực tiếp, gián tiếp hay qua tín hiệu truyền tải thì hiện nay còn chưa rõ ràng

1.8 Phòng và điều trị bệnh

1.8.1 Vệ sinh phòng bệnh

Để phòng PRRS cần phải thực hiện đồng bộ nhiều biện pháp, nhất là trong điều kiện thực tế của Việt Nam Để các biện pháp vệ sinh phòng bệnh đạt hiệu quả, việc thay đổi phương thức chăn nuôi từ nhỏ lẻ, phân tán sang chăn nuôi lớn tập trung, nhập con giống phải khoẻ mạnh rõ nguồn gốc đóng vai trò quan trọng đầu tiên Bên cạnh đó, cần phải áp dụng triệt để các biện pháp an toàn sinh học trong chăn nuôi, chuồng trại phải đảm bảo vệ sinh thú

y Thường xuyên chăm sóc tốt cho lợn để nâng cao sức đề kháng cho lợn, đối với lợn mới mua về không rõ nguồn gốc cần cách ly ít nhất 3 tuần để theo dõi

1.8.2 Phòng bệnh bằng vaccin

Hiện nay, chưa có loại thuốc nào đặc hiệu điều trị Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở lợn Có thể sử dụng một số thuốc tăng cường sức đề kháng, điều trị triệu chứng và chủ yếu là ngăn ngừa bệnh kế phát Chính vì vậy, để phòng, chống bệnh ngoài việc chăn nuôi an toàn sinh học, chăm sóc nuôi dưỡng tốt thì việc tiêm vaccin phòng bệnh cũng là một giải pháp hữu hiệu

Việc tiêm vaccin sẽ giúp tạo được miễn dịch dịch thể và miễn dịch tế bào cho đàn lợn, làm giảm tình trạng mẫn cảm của gia súc với chủng virus gây bệnh Cũng cần nêu lên rằng vai trò của miễn dịch dịch thể (kháng thể) kháng PRRS trong việc bảo hộ ký chủ hiện vẫn chưa được xác định rõ (Nguyễn Tiến Dũng, 2011)[6]

Trang 34

1.9 Vaccin phòng, chống Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở lợn

Ngay những năm 1994 trên thị thường Mỹ đã xuất hiện một loại vaccin phòng PRRS là RespPRRS/Repro và Prime Pac PRRS ra đời sau đó 2 năm (1996) Và đến nay, trên thế giới có rất nhiều loại vaccin phòng PRRS như: BSL-PS100, BSK-PS 100 (Bestar); Ingelvac PRRS ATP; MLV; KV (Boehringer); Amervac; Suipravac (Hipra); Porcilis PRRS (MSD Animal Health); SUIVAC PRRS-IN, SUIVAC PRRS-Ine (Dyntec); Pyrsvac-183 (SYVA Laboratorios); Progressis® (Merial); SuiShot® PRRS (Chong Ang); …

Cũng như nhiều bệnh truyền nhiễm khác, đối với Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản, việc phòng bệnh bằng vaccin là một trong những biện pháp quan trọng nhằm hạn chế dịch bệnh xảy ra Tuy nhiên, để đạt được mục tiêu này việc lựa chọn loại vaccin phù hợp và sử dụng đúng quy trình kỹ thuật là mấu chốt hàng đầu quyết định đến hiệu quả biện pháp phòng ngừa

Hiện nay, trong danh mục thuốc thú y được phép lưu hành của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn có một số loại vaccin PRRS như sau:

Vaccin BSL-PS 100: là vaccin PRRS nhược độc đông khô, thế hệ mới

có nguồn gốc từ chủng JKL-100 thuộc dòng Bắc Mỹ, một liều chứa ít nhất

105.0TCID50, có độ an toàn rất cao, vaccin an toàn dù chủng cao gấp 20 lần

Hiệu quả: thực nghiệm chứng minh đối với lợn con theo mẹ tỷ lệ tử vong 0% so với lô đối chứng không sử dụng vaccin là 7% Ở lợn thịt tăng trọng thêm 15% so với không tiêm phòng Một tuần sau khi tiêm phòng, hàm lượng kháng thể trong máu đạt được mức bảo hộ và thời gian miễn dịch kéo dài 16 tuần

Liều lượng và lịch tiêm phòng: tiêm bắp 2ml/liều

Nái tơ và nái mang thai: tiêm chủng trước khi tách con hoặc trước khi phối giống;

Lợn đực: tiêm chủng lúc 18 tuần tuổi và tái chủng hàng năm;

Trang 35

Lợn con: Ở trại không có dịch tiêm lúc 3 tuần tuổi, với trại đã có dịch tiêm lần 1 lúc 3 tuần tuổi, lần 2 lúc 6 tuần tuổi Nếu trại đang có dịch tiêm ngay cho nái mang thai dưới 70 ngày của thai kỳ

Lưu ý: chỉ được pha vaccin với nước pha chính của vaccin

Vaccin BSK-PS100: Là vaccin do công ty Besta - Singapore sản xuất, là loại vaccin vô hoạt chủng PRRSV dòng châu Âu Một liều vaccin chứa ít nhất

107.5 TCID50 Vaccin có độ an toàn rất cao, thực nghiệm đã chứng minh PS100 an toàn dù chủng cao gấp 10 liều Vaccin an toàn với lợn mang thai

BSK-Hiệu quả: thực nghiệm đã chứng minh trên lô lợn nái có chủng vaccin

tỷ lệ sống sót của lợn sơ sinh cao hơn 6,4%, tỷ lệ lợn sơ sinh chết thấp hơn 3,7%, tỷ lệ thai chết lưu và thai gỗ thấp hơn 3,6% và tỷ lệ lợn con cai sữa cao hơn 9,1% so với lợn nái không chủng vaccin

Liều lượng và lịch tiêm phòng: tiêm bắp 2ml/liều:

Lợn con: tiêm lúc 3 - 6 tuần tuổi;

Nái hậu bị: tiêm lúc 18 tuần tuổi, tái chủng sau 3 - 4 tuần;

Nái mang thai: tiêm phòng lúc 60 - 70 ngày của thai kỳ;

Đực giống: tiêm lúc 18 tuần tuổi, 6 tháng tái chủng một lần

Vaccin Amervac-PRRS: vaccin nhược độc dạng đông khô, chứa PRRSV dòng châu Âu VP046BIS, mỗi liều chứa ít nhất 103.5TCID50 do Tây Ban Nha sản xuất:

Hiệu quả: VP046BIS có khả năng bảo vệ tất cả chủng châu Âu khác và châu Mỹ Đây là chủng an toàn nhất trong các chủng châu Âu và hoàn toàn không gây hoàn nguyên độc lực

Liều lượng và lịch tiêm phòng: tiêm vào bắp cổ, mỗi liều 2ml/con không kể lứa tuổi, tính biệt, khối lượng

Lợn con: chủng một lần vào lúc 3-4 tuần tuổi, khả năng bảo hộ tới 5 tháng tuổi;

Trang 36

Nái hậu bị: chủng 1 lần vào lúc 5 tuần trước khi phối giống;

Đực giống: chủng lúc 5 tuần tuổi sau đó tái chủng 6 tháng 1lần;

Nái: chủng 1 liều sau khi sinh 12 - 15 ngày Bên cạnh việc tiêm phòng vaccin PRRS cần tuân thủ nghiêm ngặt quy trình tiêm phòng các bệnh có nguy cơ kế phát như: dịch tả lợn, tụ huyết trùng lợn, phó thương hàn lợn,

đóng dấu lợn, suyễn lợn và vaccin phòng E coli …

Vaccin JXA1-R: Đây là vaccin nhược độc, được chế tạo từ chủng virus cường độc JXA1 đã được cấy chuyển 82 đời để trở thành chủng không còn độc lực đối với lợn nhưng vẫn giữ được tính kháng nguyên Vaccin được kết hợp thêm chất bổ trợ là dầu để tăng thêm hiệu quả Vaccin an toàn cao khi sử dụng, hiệu quả phòng bệnh tốt

Giống sản xuất: Virus PRRS, chủng NVDC-JXA1, chủng độc lực cao, tương đồng với chủng độc lực cao của Việt Nam (99,7%), thuộc typ2 Bắc Mỹ

Hiệu quả: Theo kết quả khảo nghiệm sau khi tiêm phòng cho lợn sau 14 ngày thì tỷ lệ bảo hộ trên lợn là 100%, tức là 100% lợn đã tiêm vaccin không

bị chết khi bị virus PRRS cường độc tấn công, mặc dù một tỷ lệ nhỏ lợn vẫn

có triệu chứng lâm sàng của bệnh Tuy nhiên, từ 21 ngày sau khi tiêm vaccin trở đi lợn vẫn được bảo hộ 100% và không có lợn nào có triệu chứng lâm sàng của bệnh Ngoài ra, vaccin JXA1-R còn có khả năng bảo hộ chéo, chống lại được cả chủng virus PRRS cổ điển Các tác dụng phụ như sốc thuốc, sốt trên lợn sau tiêm phòng hoàn toàn không có, hoặc nếu có thì với tỷ lệ cực kỳ thấp và dễ dàng can thiệp bằng các loại thuốc thông thường Thêm vào đó, việc tiêm phòng cũng không làm ảnh hưởng đến bào thai, điều mà nhiều loại vaccin nhược độc khác hiện nay chưa khắc phục được

Cách sử dụng: tiêm bắp thịt, liều: 2ml/con đối với lợn ≥ 3 tuần tuổi (có thể tiêm nhắc lại sau 28 ngày nếu cần); 4ml/nái, nái giống nhắc lại sau 6 tháng;

Hạn sử dụng: 12 tháng khi bảo quản ở 2 - 80C;

Trang 37

Vaccin Porcilis của MSD Animal Health (Merck)

Vaccin vô hoạt chủng NVDC - JXA1 của Công ty Chengdu - Trung Quốc, thuộc dòng Bắc Mỹ

Vaccin Ingelvac PRRS MLV của Boehringer

Sự thành công của một loại vaccin PRRS cần có những yếu tố cơ bản như sau:

Virus vaccin có thể tồn tại hàng tuần, hàng tháng Sự tồn tại của nó trong cơ thể lợn có thể song song với sự có mặt của virus thực địa (Mengeling

Vaccin có hiệu quả khi nó có thể truyền virus vaccin thẳng qua nhau thai và truyền ngang đối với các cá thể khác trong bầy đàn (Botner và cs, 1997)[35]

Trang 38

Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

2.1.1 Đối tượng, vật liệu nghiên cứu

+ Lợn con, lợn thịt, lợn nái, lợn hậu bị, đực giống mắc bệnh tai xanh hoặc không mắc bệnh của các gia trại, các hộ chăn nuôi trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên;

+ Vaccin phòng bệnh Tai xanh do Tây Ban Nha, Singapor và Trung Quốc sản xuất: Vaccin BSL - PS100 (Singapore); Vaccin Amevac - PRRS (Tây Ban Nha); Vaccin Trung Quốc (Navetco cung ứng)

+ Huyết thanh lợn được tiêm phòng vaccin và lợn không được tiêm phòng vaccin; xác định tỷ lệ lưu hành kháng thể PRRS, tỷ lệ bảo hộ của vaccin ;

2.1.2 Phạm vi nghiên cứu

2.1.2.1 Địa điểm nghiên cứu

- Một số huyện, thành, thị trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên;

- Trung tâm Chẩn đoán Thú y Trung ương;

- Chi cục Thú y tỉnh Thái Nguyên

2.1.2.2 Thời gian nghiên cứu

Từ tháng 3/2014 đến tháng 8/2015

2.2 Nội dung nghiên cứu

2.2.1 Điều tra một số đặc điểm dịch tễ bệnh Tai xanh ở lợn nuôi tại tỉnh Thái Nguyên từ năm 2010-2013

Tỷ lệ lợn mắc Tai xanh và chết tại Thái Nguyên từ năm 2010-2013;

Tỷ lệ lợn mắc Tai xanh và chết ở các loại lợn;

Tỷ lệ lợn mắc bệnh Tai xanh theo hình thức chăn nuôi;

Tỷ lệ lợn nái mắc bệnh Tai xanh và chết tại các địa phương;

Tỷ lệ lợn nái mắc bệnh Tai xanh tại các địa phương theo mùa vụ

So sánh nguy cơ mắc bệnh Tai xanh và chết ở các loại lợn

Trang 39

2.2.2 Xác định khả năng đáp ứng miễn dịch và độ dài miễn dịch của vaccin phòng bệnh Tai xanh

Xác định tỷ lệ lưu hành kháng thể PRRS trên đàn lợn nuôi tại tỉnh Thái Nguyên;

Xác định khả năng đáp ứng miễn dịch của các loại vaccin phòng bệnh Tai xanh trên đàn lợn nuôi tại Thái Nguyên vào các thời điểm 1, 3 và 4 tháng sau khi tiêm phòng vaccin

2.3 Phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Phương pháp nghiên cứu dịch tễ học

2.3.1.1 Phương pháp nghiên cứu hồi cứu

Điều tra tỷ lệ lợn mắc bệnh Tai xanh theo hình thức chăn nuôi, địa phương, loại lợn mắc bệnh trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên từ năm 2010 đến năm 2013;

Dựa vào Báo cáo tình hình dịch bệnh hàng năm của các Trạm Thú y, Chi cục Thú y tỉnh Thái Nguyên từ 2010-2013;

2.3.1.2 Phương pháp nghiên cứu cắt ngang

Chọn hộ theo phương pháp ngẫu nhiên, mẫu chùm nhiều bậc: số bậc trong mẫu chùm, phụ thuộc vào số bậc đơn vị mẫu trung gian;

Trực tiếp điều tra, phỏng vấn các chủ hộ chăn nuôi về các thông tin cần thiết về biểu hiện lâm sàng, triệu chứng lợn mắc bệnh Tai xanh

Chọn hộ xây dựng 5 mô hình phòng, chống bệnh Tai xanh ở lợn Trực tiếp theo dõi, ghi chép các chỉ tiêu theo dõi, biểu hiện lâm sàng của bệnh trên đàn lợn tại 5 mô hình Trong đó:

Mô hình 1: Được xây dựng trên địa bàn thành phố Thái Nguyên Thực

hiện tiêm phòng cho lợn vaccin Amervac - PRRS do Tây Ban Nha sản xuất, đồng thời 50 lợn tại mô hình này được tiêm phòng các loại vaccin gồm dịch

tả, Tụ - Dấu và thực hiện công tác vệ sinh khử trùng tiêu độc định kỳ bằng phương pháp cơ giới, hóa học

Trang 40

Mô hình 2: Được xây dựng trên địa bàn thành phố Thái Nguyên Thực

hiện tiêm phòng cho lợn vaccin Tai xanh JXA1 - R do Trung Quốc sản xuất xuất, đồng thời 50 lợn tại mô hình này được tiêm phòng các loại vaccin gồm dịch tả, Tụ - Dấu và thực hiện công tác vệ sinh khử trùng tiêu độc định kỳ bằng phương pháp cơ giới, hóa học

Mô hình 3: Được xây dựng trên địa bàn huyện Phú Lương - tỉnh Thái

Nguyên Thực hiện tiêm phòng cho lợn vaccin BSL - PS100 do Singapor sản xuất, đồng thời 50 lợn tại mô hình này được tiêm phòng các loại vaccin gồm dịch tả, Tụ - Dấu và thực hiện công tác vệ sinh khử trùng tiêu độc định kỳ bằng phương pháp cơ giới, hóa học

Mô hình 4: Được xây dựng trên địa bàn huyện Phú Bình - tỉnh Thái

Nguyên Lợn tại mô hình này không được tiêm phòng vaccin Tai xanh, tuy nhiên dược tiêm đầy đủ các loại vaccin gồm: dịch tả, Tụ - Dấu, Phó thương hàn, Lở mồm long móng, Xoắn trùng, đồng thời thực hiện công tác vệ sinh khử trùng tiêu độc định kỳ bằng phương pháp cơ giới và hóa học

Mô hình 5: Được xây dựng trên địa bàn huyện Phú Lương - tỉnh Thái

Nguyên Thực hiện tiêm phòng cho lợn nái sinh sản vaccin Tai xanh JXA1 -

R do Trung Quốc sản xuất và tiêm đầy đủ các loại vaccin dịch tả, Tụ - Dấu, Khô thai, Suyễn, Xoắn trùng, đồng thời thực hiện công tác vệ sinh khử trùng tiêu độc định kỳ bằng phương pháp cơ giới, hóa học

2.3.1.3 Phương pháp lấy mẫu huyết thanh

Đối tượng lấy mẫu là huyết thanh lợn khỏe mạnh chưa được tiêm phòng vaccin phòng bệnh Tai xanh và lợn đã được tiêm vaccin phòng bệnh Tai xanh

Máu phải được lấy trước khi cho ăn và đảm bảo vô trùng, tiến hành lấy mẫu máu vào buổi sáng

Vị trí lấy: Có nhiều vị trí lấy máu như tĩnh mạch tai, tĩnh mạch đuôi, vịnh tĩnh mạch cổ

Ngày đăng: 31/10/2016, 09:46

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bùi Quang Anh, Hoàng Văn Năm, Văn Đăng Kỳ, Nguyễn Văn Long, Nguyễn Ngọc Tiến (2008), Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở lợn (PRRS). Nhà xuất bản Nông nghiệp: tr7 - tr21 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở lợn (PRRS)
Tác giả: Bùi Quang Anh, Hoàng Văn Năm, Văn Đăng Kỳ, Nguyễn Văn Long, Nguyễn Ngọc Tiến
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp: tr7 - tr21
Năm: 2008
2. Nguy ễn Văn Cảm, Nguyễn Tùng, Nguyễn Đăng Thọ , Tống Hữu Hiến (2011), “Điều tra sự lưu hành Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản (PRRS) trên đàn lợn một số tỉnh ở Việt Nam”, Tạp chí Khoa họ c kỹ thuậ t thú y, 18(1), tr. 21-30 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều tra sự lưu hành Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản (PRRS) trên đàn lợn một số tỉnh ở Việt Nam”," Tạp chí Khoa học kỹ thuật thú y
Tác giả: Nguy ễn Văn Cảm, Nguyễn Tùng, Nguyễn Đăng Thọ , Tống Hữu Hiến
Năm: 2011
3. Nguyễn Văn Cảm, Tống Hữu Tiến, Nguyễn Trọng Cường, Nguyễn Tùng và cộng sự (2013). “Khảo nghiệm vắc xin vô hoạt của Trung Quốc và vắc xin nhược độc của Đức phòng PRRS ở Việt Nam”. Tạp chí Khoa họ c kỹ thuậ t thú y, Tập XVIII số 1-2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo nghiệm vắc xin vô hoạt của Trung Quốc và vắc xin nhược độc của Đức phòng PRRS ở Việt Nam”. "Tạp chí Khoa học kỹ thuật thú y
Tác giả: Nguyễn Văn Cảm, Tống Hữu Tiến, Nguyễn Trọng Cường, Nguyễn Tùng và cộng sự
Năm: 2013
4. Cục Thú y (2008), Báo cáo về chẩn đoán và nghiên cứu virus gây Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở lợn Việt Nam từ tháng 3/2007 đến 5/2008, Hội thảo khoa học về phòng chống Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở lợn, ngày 21 tháng 5 năm 2008, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo về chẩn đoán và nghiên cứu virus gây Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở lợn Việt Nam từ tháng 3/2007 đến 5/2008
Tác giả: Cục Thú y
Năm: 2008
6. Nguyễn Tiến Dũng (2011), “Những vấn đề thời sự về Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở lợn”, Tạp chí Khoa học kỹ thuật thú y, Tập XVIII số 1-2011 tr 5-12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề thời sự về Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở lợn”," Tạp chí Khoa học kỹ thuật thú y
Tác giả: Nguyễn Tiến Dũng
Năm: 2011
7. Lê Văn Dương (2013), “Nghiên cứu một số đặc tính sinh học của vi khuẩn Actinobacillus pleuropneumoniae, Pasteurella multocida, Streptococcus suis gây viêm phổi trong Hội chứng Rối loạn hô hấp và sinh sản ở lợn tại Bắc Giang, biện pháp phòng trị”, Luận án tiến sỹ, Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số đặc tính sinh học của vi khuẩn "Actinobacillus pleuropneumoniae, Pasteurella multocida, Streptococcus suis" gây viêm phổi trong Hội chứng Rối loạn hô hấp và sinh sản ở lợn tại Bắc Giang, biện pháp phòng trị
Tác giả: Lê Văn Dương
Năm: 2013
8. Nguyễn Ngọc Hải (2011). “Kiểm soát bệnh rối loạn sinh sản và hô hấp trên heo (PRRS)”. Tạp chí heo kiến thức chăn nuôi. Xuất bản ngày 12/01/2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiểm soát bệnh rối loạn sinh sản và hô hấp trên heo (PRRS)”. "Tạp chí heo kiến thức chăn nuôi
Tác giả: Nguyễn Ngọc Hải
Năm: 2011
9. Trần Xuân Hạnh, Bùi Anh Thy, Kim Văn Phúc và Nguyễn Tăng Trường (2012). “Ảnh hưởng của Interferon α (IFN-α) đối với vi rút gây Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở lợn”. Tạp chí Khoa học kỹ thuật thú y. Tập XIX số 2-2012, tr 5-12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng của Interferon α (IFN-α) đối với vi rút gây Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở lợn”. "Tạp chí Khoa học kỹ thuật thú y
Tác giả: Trần Xuân Hạnh, Bùi Anh Thy, Kim Văn Phúc và Nguyễn Tăng Trường
Năm: 2012
10. Nguyễn Bá Hiên, Nguy ễn Thị Lan, Nguyễn Hữu Nam (2013), “Nghiên cứu chọn chủng virus gây Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản (PRRS) để sản xuất vaccine phòng bệnh tại Việt Nam”, Tạp chí Khoa học kỹ thuật thú y, Tập XX số 1-2013, tr 5-15 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu chọn chủng virus gây Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản (PRRS) để sản xuất vaccine phòng bệnh tại Việt Nam”, "Tạp chí Khoa học kỹ thuật thú y
Tác giả: Nguyễn Bá Hiên, Nguy ễn Thị Lan, Nguyễn Hữu Nam
Năm: 2013
11. Nguyễn Lương Hiền và cs (2001), “Bước đầu khảo sát hội chứng rối loạn sinh sản và hộ hấp ở một số trị heo giống thuộc vùng thành phố Hồ Chí Minh”. Báo cáo khoa học, Phần chăn nuôi thú y 1999-2000, tr244-247 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bước đầu khảo sát hội chứng rối loạn sinh sản và hộ hấp ở một số trị heo giống thuộc vùng thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả: Nguyễn Lương Hiền và cs
Năm: 2001
13. Lê Thanh Hòa, Lê Thị Kim Xuyến, Đoàn Thị Thanh Hương, Trần Quang Vui, Phạm Công Hoạt và Nguyễn Bá Hiên (2009). “Phân tích gen M mã hóa protein màng của vi rút gây bệnh “ Tai xanh” tại Việt Nam và so sánh với các chủng của Trung Quốc và thế giới”. Tạp chí Khoa học và Phát triển. Tập 7 số 3. Tr 283-387. Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích gen M mã hóa protein màng của vi rút gây bệnh “ Tai xanh” tại Việt Nam và so sánh với các chủng của Trung Quốc và thế giới”. "Tạp chí Khoa học và Phát triển. Tập 7 số 3. Tr 283-387
Tác giả: Lê Thanh Hòa, Lê Thị Kim Xuyến, Đoàn Thị Thanh Hương, Trần Quang Vui, Phạm Công Hoạt và Nguyễn Bá Hiên
Năm: 2009
14. Lý Thị Liên Khai, Võ Thị Cẩm Giàng (2012), “Khảo sát tình hình nhiễm ghép Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản với dịch tả heo tại các tỉnh Bạc Liêu và Sóc Trăng”, Tạp chí Khoa học kỹ thuật thú y, 19(6), tr. 29- 39 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát tình hình nhiễm ghép Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản với dịch tả heo tại các tỉnh Bạc Liêu và Sóc Trăng”," Tạp chí Khoa học kỹ thuật thú y
Tác giả: Lý Thị Liên Khai, Võ Thị Cẩm Giàng
Năm: 2012
15. Trần Thị Bích Liên and Trần Thị Dân (2003), “Tỷ lệ nhiễm PRRS và m ột số biểu hiện lâm sàng về rối loạn sinh sản - hô hấp trên heo tại một trại chăn nuôi”, Khoa học Kỹ thuật thú y, Tập X, số 4-2003, tr 79-81 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tỷ lệ nhiễm PRRS và một số biểu hiện lâm sàng về rối loạn sinh sản - hô hấp trên heo tại một trại chăn nuôi”, "Khoa học Kỹ thuật thú y
Tác giả: Trần Thị Bích Liên and Trần Thị Dân
Năm: 2003
16. Trần Thị Bích Liên (2008), Bệnh Tai xanh trên heo, NXB Nông nghiệp TP, Hồ Chí Minh 2008, tr 16- tr 17, tr 54- tr 56, tr 62- tr 63 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh Tai xanh trên heo
Tác giả: Trần Thị Bích Liên
Nhà XB: NXB Nông nghiệp TP
Năm: 2008
17. Lê Văn Năm (2007), “Kết quả khảo sát bước đầu các biểu hiện lâm sàng và bệnh tích đại thể PRRS tại một số địa phương thuộc Đồng bằng Bắc bộ Việt Nam”. Hộ i thảo Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản và bệnh liên cầu khuẩn gây ra ở lợn 10/2007, Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội, tr64-77 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả khảo sát bước đầu các biểu hiện lâm sàng và bệnh tích đại thể PRRS tại một số địa phương thuộc Đồng bằng Bắc bộ Việt Nam
Tác giả: Lê Văn Năm
Năm: 2007
18. Phan Trung Nghĩa và Nguyễn Như Thanh, 2012. “Một số đặc điểm về tần số dịch bệnh heo Tai xanh tại Bến Tre (từ tháng 8 đến tháng 10 năm 2010)”. Tạp chí Khoa học kỹ thuật thú y tập XIX số 1-2012, tr 34-39 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số đặc điểm về tần số dịch bệnh heo Tai xanh tại Bến Tre (từ tháng 8 đến tháng 10 năm 2010)”. "Tạp chí Khoa học kỹ thuật thú y tập XIX số 1-2012
19. Cù Hữu Phú (2011), Nghiên cứu mối liên quan giữa Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở lợn với vi khuẩn gây bệnh kế phát và xác định biện pháp phòng, trị bệnh, Báo cáo khoa học Viện Thú y Quốc gia 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu mối liên quan giữa Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở lợn với vi khuẩn gây bệnh kế phát và xác định biện pháp phòng, trị bệnh
Tác giả: Cù Hữu Phú
Năm: 2011
20. Nguyễn Như Thanh (2007), “Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản”. Hội thảo Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản và bệnh liên cầu khuẩn gây ra ở lợn 10/2007, Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản
Tác giả: Nguyễn Như Thanh
Năm: 2007
22. Tô Long Thành (2007), “Hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp ở lợn”, Tạp chí Khoa học kỹ thuật thú y, 14 (3), tr. 81-88 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp ở lợn”," Tạp chí Khoa học kỹ thuật thú y
Tác giả: Tô Long Thành
Năm: 2007
23. Tô Long Thành và Nguyễn Văn Long (2008), “Kết quả chẩn đoán và nghiên cứu vi rút gây Hội chứng rối lọan hô hấp và sinh sản trên lợn Việt Nam từ tháng 3/2007 đến 5/2008”, Khoa học kỹ thuật thú y, Tập XV, số 5- 2008, tr5 -13 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả chẩn đoán và nghiên cứu vi rút gây Hội chứng rối lọan hô hấp và sinh sản trên lợn Việt Nam từ tháng 3/2007 đến 5/2008”, "Khoa học kỹ thuật thú
Tác giả: Tô Long Thành và Nguyễn Văn Long
Năm: 2008

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 3.1: Biểu đồ tỷ lệ  lợn mắc bệnh Tai xanh và chết tại Thái Nguyên - Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ, đánh giá đáp ứng miễn dịch vaccin thương phẩm phòng hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp (PRRS) trên đàn lợn nuôi tại tỉnh thái nguyên
Hình 3.1 Biểu đồ tỷ lệ lợn mắc bệnh Tai xanh và chết tại Thái Nguyên (Trang 51)
Hình 3.2: Biểu đồ Lợn mắc bệnh Tai xanh và chết ở các loại lợn - Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ, đánh giá đáp ứng miễn dịch vaccin thương phẩm phòng hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp (PRRS) trên đàn lợn nuôi tại tỉnh thái nguyên
Hình 3.2 Biểu đồ Lợn mắc bệnh Tai xanh và chết ở các loại lợn (Trang 53)
Hình 3.3. Biểu đồ tỷ lệ lợn mắc bệnh Tai xanh theo hình thức chăn nuôi - Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ, đánh giá đáp ứng miễn dịch vaccin thương phẩm phòng hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp (PRRS) trên đàn lợn nuôi tại tỉnh thái nguyên
Hình 3.3. Biểu đồ tỷ lệ lợn mắc bệnh Tai xanh theo hình thức chăn nuôi (Trang 55)
Hình 3.4. Tỷ lệ lợn nái mang thai mắc bệnh Tai xanh tại các địa phương - Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ, đánh giá đáp ứng miễn dịch vaccin thương phẩm phòng hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp (PRRS) trên đàn lợn nuôi tại tỉnh thái nguyên
Hình 3.4. Tỷ lệ lợn nái mang thai mắc bệnh Tai xanh tại các địa phương (Trang 57)
Bảng 3.6. Nguy cơ mắc bệnh Tai xanh ở các loại lợn - Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ, đánh giá đáp ứng miễn dịch vaccin thương phẩm phòng hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp (PRRS) trên đàn lợn nuôi tại tỉnh thái nguyên
Bảng 3.6. Nguy cơ mắc bệnh Tai xanh ở các loại lợn (Trang 59)
Bảng 3.7. Nguy cơ lợn chết do mắc bệnh Tai xanh ở các loại lợn - Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ, đánh giá đáp ứng miễn dịch vaccin thương phẩm phòng hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp (PRRS) trên đàn lợn nuôi tại tỉnh thái nguyên
Bảng 3.7. Nguy cơ lợn chết do mắc bệnh Tai xanh ở các loại lợn (Trang 60)
Bảng 3.11: Hiệu giá kháng thể của lợn sau khi tiêm vaccin 1 tháng - Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ, đánh giá đáp ứng miễn dịch vaccin thương phẩm phòng hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp (PRRS) trên đàn lợn nuôi tại tỉnh thái nguyên
Bảng 3.11 Hiệu giá kháng thể của lợn sau khi tiêm vaccin 1 tháng (Trang 66)
Bảng 3.13: Hiệu giá kháng thể của lợn sau khi tiêm vaccin 4 tháng - Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ, đánh giá đáp ứng miễn dịch vaccin thương phẩm phòng hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp (PRRS) trên đàn lợn nuôi tại tỉnh thái nguyên
Bảng 3.13 Hiệu giá kháng thể của lợn sau khi tiêm vaccin 4 tháng (Trang 69)
Bảng 3.14: Kết quả theo dõi đàn lợn nuôi tại các mô hình - Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ, đánh giá đáp ứng miễn dịch vaccin thương phẩm phòng hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp (PRRS) trên đàn lợn nuôi tại tỉnh thái nguyên
Bảng 3.14 Kết quả theo dõi đàn lợn nuôi tại các mô hình (Trang 70)
HÌNH ẢNH MINH HỌA - Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ, đánh giá đáp ứng miễn dịch vaccin thương phẩm phòng hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp (PRRS) trên đàn lợn nuôi tại tỉnh thái nguyên
HÌNH ẢNH MINH HỌA (Trang 80)
Hình 1: Một số loại vaccin PRRS tiêm phòng cho lợn - Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ, đánh giá đáp ứng miễn dịch vaccin thương phẩm phòng hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp (PRRS) trên đàn lợn nuôi tại tỉnh thái nguyên
Hình 1 Một số loại vaccin PRRS tiêm phòng cho lợn (Trang 80)
Hình 3. Tiêm phòng vaccin PRRS cho đàn lợn - Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ, đánh giá đáp ứng miễn dịch vaccin thương phẩm phòng hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp (PRRS) trên đàn lợn nuôi tại tỉnh thái nguyên
Hình 3. Tiêm phòng vaccin PRRS cho đàn lợn (Trang 81)
Hình 4: Tiêm phòng các loại vaccin Dịch tả, Tụ - dấu,… cho đàn lợn - Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ, đánh giá đáp ứng miễn dịch vaccin thương phẩm phòng hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp (PRRS) trên đàn lợn nuôi tại tỉnh thái nguyên
Hình 4 Tiêm phòng các loại vaccin Dịch tả, Tụ - dấu,… cho đàn lợn (Trang 81)
Hình 5: Lấy máu lợn đã được tiêm phòng vaccin PRRS - Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ, đánh giá đáp ứng miễn dịch vaccin thương phẩm phòng hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp (PRRS) trên đàn lợn nuôi tại tỉnh thái nguyên
Hình 5 Lấy máu lợn đã được tiêm phòng vaccin PRRS (Trang 82)
Hình 6: Đàn lợn được tiêm phòng vaccin PRRS sinh trưởng, - Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ, đánh giá đáp ứng miễn dịch vaccin thương phẩm phòng hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp (PRRS) trên đàn lợn nuôi tại tỉnh thái nguyên
Hình 6 Đàn lợn được tiêm phòng vaccin PRRS sinh trưởng, (Trang 82)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w