1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ của bệnh giun đũa ở bê, nghé và biện pháp phòng trị tại ba huyện của tỉnh thái nguyên

99 616 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 99
Dung lượng 3,31 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bệnh giun đũa bê, nghé nói riêng và bệnh ký sinh trùng nói chung không gây thành ổ dịch lớn như các bệnh do vi khuẩn và virus, nhưng nó thường kéo dài âm ỉ, làm giảm năng suất chăn nuôi,

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

NGUYỄN THU HÀ

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ BỆNH GIUN ĐŨA Ở BÊ, NGHÉ VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỊ TẠI BA HUYỆN THUỘC

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

NGUYỄN THU HÀ

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ BỆNH GIUN ĐŨA Ở BÊ, NGHÉ VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỊ TẠI BA HUYỆN THUỘC

TỈNH THÁI NGUYÊN

Chuyên ngành: Thú y

Mã số ngành: 60.64.01.01 LUẬN VĂN THẠC SĨ THÚ Y

Người hướng dẫn khoa học: 1 TS HOÀNG VĂN DŨNG

2 TS NGUYỄN THỊ NGÂN

Thái Nguyên - 2015

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan: Các kết quả nghiên cứu trong luận văn là của chúng tôi (học viên và người hướng dẫn khoa học) Các số liệu, kết quả trong luận văn này là trung thực và chưa từng được ai công bố, sử dụng để bảo vệ một học vị nào

Tôi xin cam đoan các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc

Thái Nguyên, tháng 8 năm 2015

Tác giả luận văn

Nguyễn Thu Hà

Trang 4

Tôi xin trân trọng cảm ơn Trạm Thú y, nhân dân địa phương của các huyện Phú Lương, Phú Bình, Đồng Hỷ (tỉnh Thái Nguyên) đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài

Được sự động viên, giúp đỡ của gia đình, bạn bè, tôi đã vượt qua mọi khó khăn trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện đề tài

Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn, cảm ơn chân thành tới những tập thể

và cá nhân đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành chương trình học tập

Thái Nguyên, tháng 8 năm 2015

Tác giả luận văn

Nguyễn Thu Hà

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

MỞ ĐẦU 1

1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 1

2 MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI 3

3 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 3

3.1 Ý nghĩa khoa học 3

3.2 Ý nghĩa thực tiễn 3

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 4

1.1.1 Đặc điểm sinh học của giun đũa ký sinh ở bê, nghé 4

1.1.2 Dịch tễ học của bệnh giun đũa bê, nghé 9

1.1.3 Đặc điểm bệnh lý và lâm sàng của bệnh giun đũa bê, nghé 11

1.1.4 Chẩn đoán bệnh giun đũa bê, nghé 14

1.1.5 Biện pháp phòng trị bệnh 15

1.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC 17

1.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 17

1.2.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 19

Chương 2 NỘI DUNG, VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22

2.1 ĐỐI TƯỢNG VÀ VẬT LIỆU NGHIÊN CỨU 22

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu: 22

2.1.2 Vật liệu nghiên cứu: 22

2.2 ĐỊA ĐIỂM VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU 22

2.2.1 Địa điểm nghiên cứu 22

2.2.2 Thời gian nghiên cứu: 23

2.3 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 23

2.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24

2.4.1 Bố trí điều tra và nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh giun đũa bê, nghé ở 3 huyện của tỉnh Thái Nguyên 24

Trang 6

2.4.2 Phương pháp nghiên cứu đặc điểm lâm sàng của bệnh giun đũa bê,

nghé 27

2.4.3 Nghiên cứu đề xuất biện pháp phòng, trị bệnh giun đũa cho bê, nghé 28

2.5 PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ SỐ LIỆU 29

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 30

3.1 NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ BỆNH GIUN ĐŨA BÊ, NGHÉ Ở 3 HUYỆN THUỘC TỈNH THÁI NGUYÊN 30

3.1.1 Nghiên cứu tình hình nhiễm giun đũa bê, nghé 30

3.1.2 Nghiên cứu sự phát triển của trứng giun đũa bê, nghé và sự tồn tại của trứng có sức gây bệnh ở ngoại cảnh 41

3.2 NGHIÊN CỨU BỆNH LÝ LÂM SÀNG CỦA BỆNH GIUN ĐŨA BÊ, NGHÉ 49

3.2.1 Những biểu hiện lâm sàng của bê, nghé bị bệnh giun đũa ở một số huyện thành của tỉnh Thái Nguyên 49

3.2.2 Bệnh tích đại thể ở cơ quan tiêu hoá bê, nghé do giun đũa gây ra 51

3.2.3 Sự thay đổi một số chỉ số máu của bê, nghé khỏe và bê, nghé bị bệnh giun đũa 52

3.2.4 So sánh công thức bạch cầu của bê, nghé bị bệnh giun đũa và bê, nghé khỏe mạnh 54

3.3 NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP PHÒNG TRỊ BỆNH GIUN ĐŨA CHO BÊ, NGHÉ 57

3.3.1 Phương pháp ủ phân nhiệt sinh học để diệt trứng giun đũa bê, nghé 57

3.3.2 Phương pháp điều trị bệnh giun đũa cho bê, nghé 58

3.3.3 Một số chỉ tiêu sinh lý của bê, nghé trước và sau khi dùng thuốc 60

3.4 ĐỀ XUẤT QUY TRÌNH PHÒNG, TRỊ BỆNH GIUN ĐŨA BÊ, NGHÉ 61

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 64

TÀI LIỆU THAM KHẢO 66

PHỤ LỤC 73

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang Bảng 3.1 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun đũa bê, nghé tại 3 huyện Phú Lương,

Đồng Hỷ, Phú Bình 31

Bảng 3.2 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun đũa bê, nghé theo mùa 34

Bảng 3.3 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun đũa bê, nghé theo tuổi 37

Bảng 3.4 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun đũa ở bê và nghé 39

Bảng 3.5 Tình trạng ô nhiễm trứng giun đũa bê, nghé ở chuồng trại và khu vực xung quanh chuồng nuôi trâu, bò 41

Bảng 3.6 Tỷ lệ và cường độ nhiễm trứng giun đũa bê, nghé ở khu vực bãi chăn nuôi trâu, bò 43

Bảng 3.7 Sự phát triển của trứng giun đũa bê, nghé trong phân thành trứng có sức gây bệnh 46

Bảng 3.8 Khả năng tồn tại của trứng giun đũa bê, nghé có sức gây bệnh trong phân ở điều kiện tự nhiên 48

Bảng 3.9 Biểu hiện lâm sàng chủ yếu của bê, nghé bị bệnh giun đũa 50

Bảng 3.10 Sự thay đổi một số chỉ số máu của bê, nghé khỏe và bê, nghé bị bệnh giun đũa 52

Bảng 3.11 Sự thay đổi công thức bạch cầu của bê, nghé bị bệnh giun đũa và bê, nghé khỏe mạnh 55

Bảng 3.12 Kết quả theo dõi ủ phân và tác dụng diệt trứng giun đũa 57

Bảng 3.13 Hiệu lực thuốc điều trị bệnh giun đũa cho bê, nghé 59 Bảng 3.14 Một số chỉ tiêu sinh lý của bê, nghé trước và sau khi dùng thuốc 60

Trang 8

DANH MỤC CÁC HÌNH

Trang

Hình 3.1 Biểu đồ tỷ lệ nhiễm giun đũa bê, nghé ở các huyện 32

Hình 3.2 Biểu đồ cường độ nhiễm giun đũa bê, nghé ở các huyện 32

Hình 3.3 Biểu đồ tỷ lệ nhiễm giun đũa bê, nghé theo mùa ở các huyện 34

Hình 3.4 Biểu đồ cường độ nhiễm giun đũa bê, nghé theo mùa 35

Hình 3.5 Biểu đồ tỷ lệ nhiễm giun đũa bê, nghé theo lứa tuổi 38

Hình 3.6 Biểu đồ tỷ lệ nhiễm giun đũa ở bê và nghé 40

Hình 3.7 Biểu đồ tỷ lệ ô nhiễm trứng giun đũa bê, nghé ở nền chuồng và khu vực xung quanh chuồng 42

Hình 3.8 Biểu đồ tỷ lệ ô nhiễm trứng giun đũa bê, nghé ở khu vực bãi chăn thả 44

Hình 3.9 Biểu đồ sự thay đổi một số chỉ số máu của bê, nghé khỏe và bê, nghé bị bệnh giun đũa 53

Hình 3.10 Biểu đồ sự thay đổi công thức bạch cầu của bê, nghé khỏe và bê, nghé bị bệnh giun đũa 55

Trang 9

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

cs: Cộng sự g: gam Nxb: Nhà xuất bản PTNT: Phát triển nông thôn TN: Thí nghiệm

TT: Thể trọng

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Chăn nuôi trâu, bò ở nước ta trước đây chủ yếu để cung cấp sức kéo cho

nông nghiệp và lâm nghiệp Những năm gần đây, ngành chăn nuôi của nước ta phát triển khá mạnh, theo hướng ứng dụng tiến bộ kỹ thuật, sản xuất sản phẩm hàng hóa tập trung Chăn nuôi góp phần tích cực phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao thu nhập của người nông dân Ngành chăn nuôi trâu bò cung cấp cho con người hai loại thực phẩm có giá trị cao và hoàn chỉnh về dinh dưỡng là thịt và sữa Thịt trâu, bò được xếp vào loại thịt đỏ có giá trị dinh dưỡng cao, hàng năm thế giới tiêu thụ khoảng 40 - 50 triệu tấn thịt, giá 1kg thịt dao động từ 6- 7 USD/kg Sữa bò được xếp vào loại thực phẩm cao cấp vì đây là loại thực phẩm hoàn chỉnh về dinh dưỡng và giúp tiêu hóa tốt Trâu bò có khả năng chuyển hóa thức ăn rẻ tiền như cây cỏ, rơm rạ thành sản phẩm có chất lượng cao là thịt, sữa Tuy nhiên, các bệnh xảy ra ở lứa tuổi bê, nghé đã gây ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả kinh tế trong công tác phát triển chăn nuôi trâu bò, trong đó phải kể đến bệnh giun đũa bê, nghé

Bệnh giun đũa bê, nghé nói riêng và bệnh ký sinh trùng nói chung không gây thành ổ dịch lớn như các bệnh do vi khuẩn và virus, nhưng nó thường kéo dài âm ỉ, làm giảm năng suất chăn nuôi, ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng và phát triển của bê, nghé

Bệnh giun đũa là bệnh khá phổ biến ở bê, nghé của nước ta Bệnh thường phát vào vụ đông – xuân, ở bê, nghé dưới 3 tháng tuổi Bê, nghé ở miền núi nhiễm giun đũa cao hơn trung du và đồng bằng

Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [12], Phan Địch Lân và cs (2005)

[22], bệnh do giun Neoascaris vitulorum gây ra, chúng ký sinh trong ruột non

của bê, nghé và gây ra các tác hại như: gây tổn thương ruột non, một số cơ quan

Trang 11

(gan, phổi ) do ấu trùng di hành, giun lấy chất dinh dưỡng làm cho bê, nghé gầy còm, chậm lớn Ngoài ra, giun đũa còn tiết độc tố làm cho bê, nghé bị trúng độc, sốt cao, ỉa chảy, gầy sút và dễ chết nếu không được điều trị kịp thời

Thái Nguyên là tỉnh trung du có nhiều đồi núi, bãi chăn thả rộng nên có điều kiện thuận lợi để phát triển chăn nuôi trâu bò thịt Theo kết quả điều tra thống kê báo cáo của Sở Nông nghiệp và PTNT Thái Nguyên số lượng trâu,

bò tại thời điểm 01/4/2014, tổng đàn trâu, bò trên toàn tỉnh Thái Nguyên, cụ thể như sau: Đàn trâu là 71.158 con, đàn bò là 34.033 con Định hướng chung của tỉnh là phát triển chăn nuôi trâu bò thịt theo hướng sản xuất sản phẩm hàng hóa, tập trung nâng cao chất lượng, giá trị, sức cạnh tranh sản phẩm chăn nuôi; đa dạng loại hình chăn nuôi phù hợp với điều kiện của từng địa phương quy mô nông hộ, trang trại, chăn nuôi công nghiệp, bán chăn thả Trong những năm gần đẩy tỉnh Thái Nguyên rất quan tâm đến công tác phòng chống dịch bệnh đàn gia súc, gia cầm nói chung, đàn trâu, bò nói riêng Tuy vậy mới chỉ tập trung vào nghiên cứu, đề ra các giải pháp phòng chống các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm như bệnh lở mồm long móng, tụ huyết trùng trâu, bò Bệnh ký sinh trùng nói chung, bệnh giun đũa ở bê, nghé mặc dù tỷ

lệ nhiễm cao, gây hại đáng kể nhưng chưa được quan tâm đúng mức Vì vậy,

bê, nghé ở các địa phương của tỉnh còn bị bệnh phân trắng nhiều, gây thiệt hại kinh tế đáng kể Mặt khác, điều kiện tự nhiên, thời tiết khí hậu, tổng đàn gia súc, phương thức chăn thả, điều kiện chăn nuôi ở nước ta nói chung và các tỉnh miền núi nói riêng có nhiều thay đổi Điều đó có thể ảnh hưởng và làm thay đổi đặc điểm dịch tễ của bệnh giun đũa ở bê, nghé

Xuất phát từ yêu cầu cấp thiết của thực tiễn chăn nuôi trâu bò ở Thái

Nguyên, chúng tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ

của bệnh giun đũa ở bê, nghé và biện pháp phòng trị tại ba huyện của tỉnh Thái Nguyên”

Trang 12

2 MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI

- Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ học của bệnh giun đũa bê, nghé

trong điều kiện chăn nuôi hiện nay

- Nghiên cứu một số đặc điểm bệnh lý lâm sàng của bệnh giun đũa bê, nghé và xây dựng được biện pháp phòng chống bệnh giun đũa bê, nghé hiệu quả, phù hợp với điều kiện chăn nuôi trâu bò ở Thái Nguyên

3 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

3.1 Ý nghĩa khoa học

Kết quả của đề tài là những thông tin khoa học về đặc điểm dịch tễ, bệnh lý, lâm sàng và biện pháp phòng chống bệnh giun đũa bê, nghé; đồng thời có thêm một số đóng góp mới cho khoa học

3.2 Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả của đề tài là cơ sở khoa học để khuyến cáo người chăn nuôi áp dụng biện pháp phòng, trị bệnh giun đũa, nhằm hạn chế tỷ lệ và cường độ nhiễm giun đũa ở bê, nghé; hạn chế thiệt hại do giun đũa gây ra, góp phần nâng cao năng suất chăn nuôi, thúc đẩy ngành chăn nuôi trâu, bò phát triển

Trang 13

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI

1.1.1 Đặc điểm sinh học của giun đũa ký sinh ở bê, nghé

1.1.1.1 Vị trí của giun đũa bê, nghé trong hệ thống phân loại động vật

Bệnh giun đũa do loài giun Neoascaris vitulorum (Goeze, 1782), hay còn có tên gọi khác là Toxocara vitulorum thuộc họ Anikidae gây ra

Theo Phan Thế Việt và cs (1977) [40], giun đũa bê, nghé có vị trí trong

hệ thống phân loại động vật học như sau:

Ngành Nemathelminthes Schneider, 1873

Lớp Nematoda Rudolphi, 1808

Phân Lớp Rhabditia Pearse, 1942

Bộ Ascaridida Skrjabin et Schulz, 1940

Phân bộ Ascaridina Skrjabin, 1915

Họ Anisakidae Skrjabin et Karokhin, 1945

Giống Neoascaris Travassos, 1927

Loài Neoascaris vitulorum Goeze, 1782

1.1.1.2 Đặc điểm hình thái của Neoascaris vitulorum

Theo Phạm Văn Khuê và cs (1996) [11]; Nguyễn Thị Kim Lan và cs

(1999) [12], giun tròn Neoascaris vitulorum có thân màu vàng nhạt, đầu có ba

lá môi, rìa của những môi này có răng cưa, thực quản dài 3 - 4,5 mm, chỗ nối tiếp với ruột phình thành dạ dày nhỏ, vòng thần kinh và lỗ bài tiết ở ngang nhau phần đầu Giun đực không có cánh đuôi, dài 13 - 15 cm, rộng nhất 0,35 cm, đuôi dài 0,21 - 0,46 mm, thon tròn, trước và sau hậu môn ở phía bụng có 20 -

27 gai, có một đôi gai giao hợp dài 0,95 - 1,20 mm Giun cái dài 19 – 23 cm, chỗ rộng nhất là 0,5 cm, âm hộ ở khoảng 1/8 trước thân, đuôi hình nón dài 0,37

- 0,42 mm, đuôi có nhiều gai bao phủ Trứng giun hơi tròn, có vỏ với nhiều chỗ lõm nhỏ, dài 0,080 - 0,090 mm, rộng 0,070- 0,075 mm

Trang 14

Theo Phan Địch Lân và cs (2005) [22], giun đũa Neoascaris vitulorum

(Goeze, 1782) ký sinh ở bê nghé có kích thước: Giun đực ở nghé dài 13 -15

cm, đường kính 0,3 cm; ở bê dài 14 -16 cm Giun cái ở nghé dài 19-23 cm, đường kính 0,5 cm, trứng 70-75 x 80-90 µm; giun cái ở bê dài 20-26 cm, trứng 75-85 x 90-100 µm Vị trí âm hộ của giun cái là 1/8 phần trước thân

Phan Lục (2005) [26] cho biết, giun đũa cỏ kích thước to, vàng nhạt, dài 13-22 cm, trên đầu cò 3 môi Thực quản hình ống dài, phần cuối có chỗ phình to ra gọi là dạ dầy giả Xung quanh lỗ hậu môn của giun đực có nhiều gai chồi, có hai gai giao hợp to bằng nhau Trứng có 4 lớp vỏ màu nhạt, lớp ngoài cùng lỗ chỗ như tổ ong, trứng dài 0,08 - 0,09 mm, rộng 0,07 - 0,75mm

Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [23] đã mô tả cấu tạo của giun đũa: giun đực dài 110 - 189 mm, rộng nhất 3,52 - 4,81mm; đuôi dài 0,21 - 0,46 mm, thon dần về cuối mút; thực quản dài 4,49 mm; gai sinh dục dài 0,57 - 1,19

mm, có màng mỏng bao bọc; ở phía trước hậu môn có 20 - 27 nhú xếp thành

2 hàng, sau hậu môn có 5 đôi nhú, đôi nhú thứ nhất kép Giun cái dài 151 –

200 mm, rộng 4,0 - 5,7 mm; đuôi hình nón, phủ nhiều gai, dài 0,37 - 0,42 mm; gần mút đuôi có 2 nhú bên; lỗ sinh dục nằm ở phần trước cơ thể, cách mút đầu khoảng 1/10 - 2/10 chiều dài cơ thể; trứng hình cầu kích thước 0,076 - 0,095 x 0,065 - 0,080 mm

Theo những nghiên cứu của Taira N và Fujita J (1991) [63]: Từ năm

1982 - 1988 giun tròn đã được tìm thấy và nghiên cứu ở hai huyện Kyushu và

Okinawa, Nhật bản Hai tác giả đã nghiên cứu 7 giun đũa đực và 21 giun đũa cái về hình thái học, cho thấy độ dài trung bình của giun đực là 15,64 cm (14-18cm) giun cái 25,75 cm (16,5 – 34 cm) Thân trắng đục và mềm, trứng giun dài 81,6 µm và rộng 71,8 µm, bề mặt vỏ trứng trơn nhẵn, không nhăn nheo

Prokopic J và Sterba J (1989) [56] đã quan sát giun đũa Neoascaris

vitulorum trên kính hiển vi điện tử, thấy cấu trúc bề mặt của giun gồm môi,

răng, gai nhỏ và phần đuôi; ở giun non răng hình nón và nhọn chúng dài hơn khi tuổi giun tăng lên

Trang 15

Theo mô tả của Urquhart G.M và cs (1996) [64] thì giun đũa T

viturlorum là ký sinh trùng đường ruột lớn nhất ở bê nghé, giun cái dài có thể

đến 30,00 cm Giun đũa có thân dày, màu hơi hồng khi còn sống, và lớp biểu

bì khá trong suốt nên có thể nhìn thấy được các cơ quan nội tạng Trứng giun đũa có một lớp vỏ dày và trong suốt

1.1.1.3 Đặc điểm vòng đời của Neoascaris vitulorum

Vòng đời của giun đũa bê, nghé là vòng đời trực tiếp không qua ký chủ trung gian Dactian (1934-1937) làm thí nghiệm: cho bê nuốt trứng giun đũa

có sức gây bệnh thì sau 43 ngày có thể thấy giun đũa trưởng thành và con non

ở cơ thể bê Ngoài ra, nếu cho bò mẹ trước khi đẻ 124 - 192 ngày nuốt trứng giun có sức gây bệnh thì bê đẻ ra 20 - 31 ngày trong phân đã có trứng giun đũa Điều đó chứng tỏ giun đũa bê, nghé có thể qua máu truyền vào bào thai

Ở trâu mẹ thời kỳ chửa đầu nuốt trứng giun cảm nhiễm thì tất cả nghé đẻ ra đều bị nhiễm giun qua nhau thai Giun đũa bê, nghé nhiễm vào cơ thể bằng 2 con đường: nhiễm trực tiếp và nhiễm qua bào thai (Nguyễn Hùng Nguyệt và

- Qua đường tiêu hóa do bê, nghé ăn phải trứng giun đũa cảm nhiễm

- Ấu trùng từ máu trâu, bò mang thai xâm nhập vào bào thai

Vichitr Sukhapesna (1982) [66] đã nghiên cứu 10 trâu, bò mẹ nhiễm

Strongyloides papillosus và Neoascaris vitulorum cùng với bê nghé kể từ

khi bê nghé được sinh ra Tác giả cho rằng trâu, bò mẹ là nơi chứa mầm

bệnh chính làm cho bê nghé con bị nhiễm S papillosus và N vitulorum Bê nghé đã bị nhiễm S papillosus qua bú sữa từ trâu, bò mẹ và nhiễm N

vitulorum qua nhau thai

Trang 16

Nghé đẻ ra sau 14 ngày đã có trứng giun trong phân (tức là có giun trưởng thành trong ruột) chứng tỏ nghé bị nhiễm bệnh từ trong bào thai

Giun đũa có chu kỳ phát triển trực tiếp, không qua ký chủ trung gian Giun trưởng thành sống trong ruột non của bê nghé đẻ trứng, trứng theo phân

ra ngoài, gặp điều kiện thuận lợi thì phát triển thành phôi thai trong trứng Trứng có phôi thai là trứng đã có sức gây bệnh Sau đó trứng này lại vào cơ thể con vật theo thức ăn, nước uống Khi mới theo phân ra ngoài trứng không phân chia Tuỳ theo điều kiện nhiệt độ và độ ẩm bên ngoài, thời gian trứng phát triển thành trứng cảm nhiễm có khác nhau

Galila A B và cs (1990) [49] cho biết, ở 250C trứng giun đũa phát triển thành trứng ấu trùng sau 7 ngày

Trứng giun cảm nhiễm có sức đề kháng cao với một số hoá chất cũng như yếu tố vật lý Khi trứng ở trong phân thì trứng có sức đề kháng cao đối với một số chất sát trùng

Đối với một số chất sát trùng thông thường như Lysol 2%, Zyphen 4 - 5%, sau 17 - 20 giây phôi bị huỷ hoàn toàn, nhưng ở trong phân thì phôi không bị diệt Phạm Chức (1980) [4] cũng cho biết, Lysol 5% diệt trứng giun đũa trong một giờ; Axit phênic 5% diệt trứng trong thời gian 45 phút đến một giờ Theo Đỗ Dương Thái và Trịnh Văn Thịnh (1978) [31], trứng giun đũa phát dục thành phôi thai trong khoảng 20 ngày ở nhiệt độ 19 - 22°C, nhưng phải cần 38 ngày ở nhiệt độ 15 - 17°c

Dương Công Thuận và cs (1986) [38] đã lấy phân của bê, nghé bị nhiễm giun đũa có nhiều trứng, trộn với nước để giữ ẩm, cho vào đĩa Pettri,

để ở nhiệt độ trong phòng khoảng 15 - 22°C (tháng 10 - 11), thấy trứng phát triển thành phôi thai sau 20 ngày, ở nhiệt độ 15 - 17°C phôi hình thành sau

38 ngày

Phạm Sỹ Lăng và Phan Địch Lân (1999) [22] cho biết, con cái đẻ trứng

ở ruột non, theo phân ra ngoài, gặp nhiệt độ thích hợp trứng phát triển thành

Trang 17

trứng có khả năng gây bệnh (nhiệt độ 15 - 17°C cần 38 ngày, 19 - 22°C cần

20 ngày, 25°C cần 10 - 12 ngày, 28 - 30°C cần 65 ngày, nhưng khi nhiệt độ đến 34 - 35°C thì trứng không phát triển

Theo Nguyễn Hùng Nguyệt và cs (2008) [28], trứng giun đũa bê, nghé có sức đề kháng với điều kiện ngoại cảnh, chỉ bị diệt ở nhiệt độ 45°C trở lên và ánh sáng mặt trời chiếu trực tiếp

Sau khi trứng giun cảm nhiễm vào cơ thể trâu bò mẹ, dưới tác dụng của dịch vị và ruột non, ấu trùng nở ra và vào từ ruột non theo mạch máu vào gan, qua tim lên phổi, ấu trùng đến tim và từ đó vào đại tuần hoàn Phần lớn ấu trùng đều theo mạch máu đến các mô và phủ tạng, ở đó nó đóng kén

và có thể sống từ 5 đến 6 tháng hoặc lâu hơn Trường hợp trâu bò cái nhiễm phải trứng giun trong giai đoạn có chửa thì ấu trùng có thể qua hệ tuần hoàn của nhau thai đến bào thai, hoặc có thể trâu, bò cái nhiễm trong thời gian không chửa, ấu trùng đóng kén ở mô và phủ tạng, khi trâu bò chửa, ấu trùng thoát ra khỏi kén theo mạch máu đến nhau thai và vào bào thai

Kén của ấu trùng có thể thấy ở nhiều mô và phủ tạng của trâu, bò mẹ như: cơ, thận, não, gan, phổi Ấu trùng có thể sống ở đó 6 tháng Ở con vật không chửa, quá thời gian 6 tháng ấu trùng chết Ở con vật chửa trong vòng

6 tháng, ấu trùng chui ra khỏi kén đi vào nhau thai Ở bào thai ấu trùng sống trong gan Nhưng kết quả nghiên cứu đều cho thấy: chỉ sau khi bê nghé được

đẻ ra, ấu trùng mới tiếp tục biến thái sau khi hoàn thành một đợt di hành qua phổi, khí quản, ruột giống như sự di hành của giun đũa lợn, xuống ruột, giun lớn lên nhanh chóng và phát triển thành giun trưởng thành đẻ trứng Trong điều kiện tự nhiên, ở bê nghé từ 17 ngày tuổi trở lên đã cỏ thể tìm thấy trứng giun đũa trong phân Đối với một số giun đũa khác như Ascaris của lợn, người, Parascaris của ngựa, thời gian từ khi con vật bắt đầu cảm nhiễm trứng giun đũa cho đến khi thành giun trưởng thành có khả năng đẻ trứng phải tối thiểu trên một tháng Tuổi mắc bệnh quá sớm của bê nghé làm người ta nghĩ đến bê nghé có thể mắc bệnh từ khi còn trong bào thai

Trang 18

1.1.2 Dịch tễ học của bệnh giun đũa bê, nghé

Bệnh giun đũa bê nghé do Neoascaris vitulorum gây ra, thường xảy

ra hầu khắp các nơi trên thế giới

Swain G D (1987) [62] cho biết, đã kiểm tra 12 nghé ở Ấn Độ, thấy

4 con có Neoascaris vitulorum, có con có tới 400 giun trong ruột Tripathi J

C (1967) cũng cho biết, bê nghé ở Ấn Độ thường bị giun đũa ký sinh

Theo Vichitr Sukhapesna (1981) [65], bê, nghé nhiễm giun đũa

Neoascaris vitulorum chủ yếu qua bào thai và sữa

Muangyai M (1989) [53] thông báo rằng, giun đũa bê, nghé

Neoascaris vitulorum là một trong những ký sinh trùng chủ yếu gây bệnh

cho bê, nghé

Theo Panday V S và cs (1990) [55], kiểm tra phân của 20 bê, nghé

trong giai đoạn 15 - 20 ngày tuổi ở đồng cỏ Zimbabwe, thấy trứng giun có trong phân, số trứng đếm được từ 257 - 19821 trứng/gam phân

Akyol C V (1993) [45] cho biết, bê ở khu vực Barsa (Thổ Nhĩ Kỳ) bị nhiễm Neoascaris vitulorum phổ biến qua việc kiểm tra trứng trong phân Ấu

trùng cũng được tìm thấy trong mẫu sữa Đồng cỏ là nơi có nhiều trứng giun nên làm bê, nghé bị nhiễm bệnh nhanh Tỷ lệ nhiễm bệnh giữa các vùng sinh thái khác nhau là khác nhau

Một thông báo khác cho biết, ở Braxin nghé bị nhiễm giun đũa với tỷ

lệ 58% ở tuần tuổi thứ nhất; 87,5% ở tuần tuổi thứ 2; 96% ở tuần tuổi thứ 3

và 100% ở tuần tuổi thứ 4 Hầu hết bị nhiễm qua bào thai, một số ít trường hợp nhiễm qua sữa Bê, nghé phát bệnh trong độ tuổi 3 – 17 tuần tuổi (Barbosa và Correa, 1989 [45])

Starke W A., Machado R Z., Becchara G H và Zocollier M C (1996) [60] đã kiểm tra 75 mẫu phân bê nghé từ 9 – 115 ngày tuổi, thấy có 86,7% bê nghé nhiễm giun đũa Số lượng trứng cao nhất khi 45 ngày tuổi

Trang 19

Theo Roberts J A (1990) [58], tỷ lệ chết của nghé trong 6 tháng đầu

sau khi sinh ở vùng Đông Nam Á tới 30% do giun Neoascaris vitulorum và

nó gây thiệt hại lớn cho đàn trâu sinh sản ở miền núi

Đỗ Dương Thái và Trịnh Văn Thịnh (1978) [31] cho biết, do ảnh hường của khí hậu thời tiết nên mầm bệnh lưu truyền từ mùa này sang mùa khác Trứng giun đũa có phôi thai có thể tồn tại từ mùa đông này qua mùa đông năm sau, gặp đợt nghé đẻ ra chúng sẽ nhiễm vào nghé, gây bệnh tạo thành vùng "nghé ỉa cứt trắng"

Do tập tính sinh sản của trâu bò miền núi phía bắc nước ta là đẻ vào mùa đông khô lạnh, thiếu cỏ, thiếu nước nên bệnh giun đũa bê nghé gây tác hại nhiều đối với nghé sơ sinh

Theo Lê Đăng Đảnh và cs (2004) [7] thì bệnh giun đũa bê là bệnh phổ biến ở nước ta, tuổi bê dễ mắc bệnh là 20 - 35 ngày sau khi đẻ, chưa thấy bò trưởng thành mắc bệnh Ở nghé nếu mắc phải giun đũa thì mẫn cảm hơn là ở

bê và có thề bị chết do tiêu chảy

Phùng Quốc Quảng và cs (2006) [30] cho biết, bệnh giun đũa ở bê phổ biến ở lứa tuổi 20 - 25 ngày sau khi đẻ Bệnh phân bố khắp nơi trên thế giới

Ở nước ta, bệnh thường phát vào mùa rét, tại các vùng nuôi bò thuộc đồng bằng, trung du, miền núi Bệnh phổ biến hơn ở miền núi vì bê thường thả rông đi theo mẹ đi ăn

Tô Du (2005) [6] cho biết, bệnh giun đua ở bê, nghé hay mắc từ 15 –

60 ngày tuổi vì trong đất nền chuồng, hoặc ngoài bãi cỏ cỏ dính trứng giun đũa, bê nghé khi gặm cỏ liếm phải rồi mắc bệnh Bệnh thường gặp nhiều ở nghé đẻ vào vụ Đông – Xuân

Trang 20

Bệnh giun đũa bê nghé thường thấy ở bê, nghé dưới 3 tháng tuổi ở các vùng chăn nuôi trâu, bò thuộc miền núi, trung du, đông bằng và ở các cơ sở chăn nuôi trâu bò sữa (Phạm Sỹ Lăng và Phan Địch Lân, 1999 [22])

Nguyễn Hùng Nguyệt và cs (2008) [28] cho biết: bê, nghé nuôi ở vùng núi bị bệnh giun đũa nhiều hơn so với vùng trung du và đồng bằng Ở nước

ta bê nghé thường bị bệnh vào tháng 12, 1, 2 hàng năm (vụ Đông - Xuân), do trâu bò thường đẻ vào các tháng 11, 12, 1 Bê nghé mắc bệnh giun đũa sớm nhất là 14 ngày tuổi, nhiều nhất ở lứa tuổi 30 - 45 ngày tuổi và muộn nhất ở

65 ngày tuổi, trâu bò không mắc bệnh

1.1.3 Đặc điểm bệnh lý và lâm sàng của bệnh giun đũa bê, nghé

1.1.3.1. Cơ chế sinh bệnh

Khi bê nghé nuốt phải trứng giun đũa có sức gây bệnh, sau 43 ngày có thể thấy giun đũa trưởng thành ở ruột non bê, nghé Trong thời kỳ ấu trùng giun đũa di hành đến một số khí quan như phổi, gan Khi giun trưởng thành ở ruột non số lượng nhiều, vít chặt làm tắc ruột non, có khi làm thủng ruột hoặc chui vào ống dẫn mật, gan

Giun còn tiết chất độc làm cho bê, nghé bị trúng độc, gây ỉa chảy, gầy sút nhanh Giun lấy chất dinh dưỡng làm bê, nghé gầy yếu (Phạm Văn Khuê

và Phan Lục, 1996 [11]) Giun đũa Neoascaris viíulorum cũng như các loài

giun sán khác, ngoài tác động chiếm đoạt chất dinh dưỡng của vật chủ, còn gây tổn thương niêm mạc ruột, tạo điều kiện cho các vi khuẩn có trong

đường tiêu hoá (E.coli, Salmonela, Proteus ) xâm nhập gây rối loạn quá

trình phân tiết, viêm ruột và tiêu chảy cấp tính hoặc mãn tính

Ngoài ra, giun đũa còn gây viêm ruột cata, một số ít bị biến đổi hoại tử

ở gan Giun ở trong ống dẫn mật gây viêm có mủ, viêm do tổn thương ở phổi cũng được phát hiện Gia súc non mắc bệnh giun đũa bị viêm ruột thứ phát

có thể chết đến 80%

Trang 21

Đặc điểm chủ yếu của bệnh là gây tiêu chảy song không liên tục, có sự xen kẽ giữa tiêu chảy và bình thường, cơ thể thiếu máu, da nhợt nhạt, bê nghé có biểu hiện nôn từng cơn, kém ăn, thể trạng sa sút Nếu không phát hiện sớm và điều trị kịp thời bê, nghé chết rất nhanh

Theo Chu Thị Thơm và cs (2006) [33], ấu trùng sau khi xâm nhập vào

cơ thể bê nghé, ấu trùng di hành gây tổn thương nhiều cơ quan Chúng đem theo nhiều vi khuẩn, virus gây các bệnh truyền nhiễm kế phát Giun chiếm đoạt nhiều chất dinh dưỡng, tiết độc tố đầu độc vật chủ làm bê nghé gầy yếu,

ỉa chảy, ỉa phân trắng Do giun có kích thước lớn, khi ký sinh với số lượng lớn thường gây tắc ruột, thủng ruột, tắc ống mật

Nguyễn Hùng Nguyệt và cs (2008) [28] cho biết giun đũa ký sinh trong ruột non bê nghé sẽ gây ra các tác động:

- Tác động cơ giới: Ấu trùng di hành làm tổn thương gan, phổi Giun trưởng thành dùng các lá môi bám vào niêm mạc ruột và gây tổn thương niêm mạc ruột, viêm cata, ảnh hưởng đến tiêu hóa, sữa không tiêu hóa bị vón lại Sữa này bị vi khuẩn lên men phân hủy, sinh ra nhiều sản phẩm của quá trình phân hủy protit Vì vậy, khi phân ra ngoài có màu trắng sữa, lỏng và có mùi thối khắm Số lượng giun đũa nhiều sẽ gây tắc, thủng ruột, gây viêm

1.1.3.2 Biểu hiện lâm sàng và bệnh tích

Bệnh tiến triển ngắn nhất là 5 ngày, dài nhất là 48 ngày, phổ biến là 11-

30 ngày Nghé thường chết vào 7 - 16 ngày sau khi phát bệnh Thời gian tiến triển cùa bệnh dài hay ngắn phụ thuộc vào tuổi, sức khỏe của gia súc, cách nuôi dưỡng

Trang 22

Theo Nguyễn Văn Thiện và cs (1977) [35], bê nghé bị bệnh giun đũa

có dáng đi lù đù, đầu cúi, lưng cong đuôi cụp, bụng ỏng, có khi con vật không theo mẹ Bệnh nặng bê nghé gầy rạc, xù lông, mắt lờ đờ, chảy nước mắt có nhử, mũi khô, thân nhiệt khoảng 40 - 41°C Con vật mệt mỏi, đứng lên nằm xuống, ỉa phân lúc đầu táo hoặc lổn nhổn, màu đen, dần dần chuyển thành màu trắng, lỏng

Theo Đỗ Dương Thái và Trịnh Văn Thịnh (1978) [31], con vật ăn kém,

ỉa chảy, đôi khi táo bón, chướng hơi, đi lại không yên, đau bụng, ho, co giật Trường hợp tự thải giun hay được điều trị thì các triệu chứng sẽ mất đi, ở thể mãn tính bệnh kéo dài 2 - 3 tháng

Phan Địch Lân (1986) [19] đã thông báo bê Zê bu mắc bệnh giun đũa

ở Nông trường Phú Man (tỉnh Hà Sơn Bình nay là tỉnh Hà Tây và Hòa Bình)

có triệu chứng ỉa chảy, ủ rũ, nằm liệt tại chỗ và có con chết

Dương Công Thuận và Nguyễn Văn Lốc (1986) [38], Phạm Sỹ và cs (2002) [14] cho biết, bê nghé mắc bệnh thường lù đù, chậm chạp, đầu cúi, lưng cong, bụng to, lông xù lên, khoeo và đuôi dính phân bẩn, phân có mùi tanh khắm, màu trắng ngà

Chu Thị Thơm và cs (2006) [32] cho biết về lâm sàng của bệnh giun đũa bê nghé: bệnh xảy ra phổ biến ở bê nghé từ 11 – 30 ngày tuổi Bê nghé ủ

rũ, lù xù, chậm chạp đầu cúi, lưng cong, đuôi cụp thường chết vào ngày thứ 7

- 16 Lúc đầu còn theo mẹ, khi bệnh nặng bỏ bú, không theo mẹ nằm một chỗ, thở yếu, đau bụng, nằm ngửa dãy dụa, đạp chân lên phía trước bụng Có khi nghe rõ tiếng sôi bụng Bê, nghé gầy sút nhanh chóng, da khô, lông dựng, mắt lờ đờ, niêm mạc nhợt nhạt, mủi khỏ, hơi thờ thối

Phân màu trắng, mùi rất thối, con vật ỉa chảy nặng, ỉa vọt cần câu, phân dính ở khuỷu chân và xung quanh hậu môn Có thể xem đây là một triệu chứng điển hình giúp cho việc chẩn đoán xác định bệnh giun đũa bê nghé

Aumont và cs (1991) cho biết, giun đũa Neoascaris vitulorum là ký

sinh trùng chính của bê trong 2 tháng tuổi và làm giảm khối lượng từ sơ sinh đến giai đoạn cai sữa khoảng l0,5 kg

Trang 23

Theo Srivastava A K., Sharma D N (1981), ở Muthura - Ấn Độ, 16

trong 90 nghé 1 tháng tuổi đã có 500 - 700 trứng giun đũa trong 1 gam phân,

có những triệu chứng biếng ăn, gầy còm, xù lông, táo bón, ỉa chảy, phân hôi thối, lưng cong, đau bụng và dáng đi cứng nhắc

Mổ khám thấy ruột non viêm cata, có nhiều giun đũa ký sinh, có thể tạo thành búi làm tắc ruột Sữa bị vón cục, màu trắng, có mùi khó chịu, gạt lớp sữa, chất chứa và giun đũa ra thấy niêm mạc có nhiều vết loét Có trường hợp bị thủng ruột, chất chứa lọt ra xoang bụng gây viêm phúc mạc Ngoài một non, có thể thấy giun đũa ở các bộ phận: dạ cỏ, dạ múi khế Biến đổi hoại tử ở gan, thấy giun ở trong ống dẫn mật, viêm có mủ ở vỏ thận và viêm

do tổn thương ở phổi

1.14 Chẩn đoán bệnh giun đũa bê, nghé

Chẩn đoán bệnh giun đũa Neoascaris vitulorum ở bê nghé dựa vào

triệu chứng lâm sàng, các thông tin về dịch tễ học, xét nghiệm mẫu phân bê nghé bằng phương pháp Fulleborn để tìm trứng giun đũa, kết hợp mổ khám kiểm tra bệnh tích ở ruột non cho phép chẩn đoán chính xác bệnh

*Đối với bê, nghé sống:

Theo nhiều tác giả, việc chẩn đoán bệnh giun đũa Neoascaris vitulorum

ở bê nghé có thể căn cứ vào những đặc điểm dịch tễ học: vùng và mùa phát

bệnh, tỷ lệ nhiễm bệnh, tuổi mắc bệnh

Phạm Văn Khuê và cs (1996) [11], Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [12] cho biết, bệnh giun đũa bê nghé thường mắc nhiều nhất ở miền núi, bệnh thường phát nhiều vào tháng 12, 1, 2 Tuổi mắc bệnh sớm nhất là 14 ngày, tuổi càng cao thì tỷ lệ nhiễm càng giảm, tới 3 - 4 tháng tuổi thì không

bị nhiễm Trâu bò không mắc bệnh này Đây chính là những điều tra cơ bản

để sơ bộ chẩn đoán bệnh Triệu chứng lâm sàng đáng chú ý như: phân màu trắng rất thối, nếu bệnh nặng bê nghé ỉa vọt cần câu, phân dính ở xung quang hậu môn và khuỷu chân là những dấu hiệu hết sức quan trọng để chẩn đoán bệnh giun đũa bê nghé

Trang 24

Tuy nhiên, nếu chỉ dựa vào triệu chứng lâm sàng, đặc điểm dịch tễ học của bệnh thì chưa chẩn đoán chính xác được bệnh gì, vì có rất nhiều bệnh ký sinh trùng có biểu hiện giống nhau Chính vì vậy, xét nghiệm phân tìm trứng

trứng giun đũa Neoascaris vitulorum là căn cứ quyết định kết quả chẩn đoán

bệnh Các phương pháp thường dùng là phương pháp Fullerborn, Darling, có thể dùng phương pháp đếm trứng giun trong 1 gam phân bằng buồng đếm

Mc Master để xác định mức độ nhiễm giun đũa nặng hay nhẹ

*Đối với bê, nghé chết:

Mổ khám, quan sát những biến đổi bệnh tích trong đường tiêu hoá của

bê, nghé, tìm giun đũa trưởng thành ở ruột non

Theo Phạm Văn Khuê và Phan Lục (1996) [11], áp dụng phương pháp

mổ khám toàn diện của Skriabin K I (1982) Phương pháp mổ khám có thể phát hiện tất cả các loài giun sán ký sinh trong cơ thể bê nghé Phương pháp này được đánh giá là phương pháp chẩn đoán bệnh chính xác nhất, không những xác định được tỷ lệ nhiễm, cường độ nhiễm, mà còn quan sát được những tổn thương ở đường tiêu hoá do giun sán gây ra

- Cho trâu, bò mẹ ăn uống tốt để có đủ sữa cho con bú, kết hợp vệ sinh chuồng trại, môi trường, cho uống nước sạch Giữ chuồng nuôi ấm và khô ráo Tập trung phân ủ để diệt trứng giun

Theo Phạm Sỹ Lăng và Lê Thị Tài (1997) [15], Piperazin, Mebendazol, Tetramisol, Thiabendazol có tác dụng rất tốt khi sử dụng để tẩy giun đũa cho bê nghé

Trang 25

Nguyễn Văn Thiện và cs (1977) [35] đã dùng 8 hạt cau tươi giã nhỏ, trộn với 20 gam bột diêm sinh, hoà với 1/3 lít nước hơi ấm, cho uống vào buổi sáng trong 3 ngày liền; hoặc một nắm vỏ xoan (50 gam) giã nhỏ, trộn với 2 gam muối hoà với 13 lít nước ấm, để lắng, gạn lấy nước cho uống vào buổi sáng, 3 ngày liền; hoặc 2 đến 3 lá đu đủ non giã nhỏ hoà với 1/3 lít nước, cho uống vào buổi sáng ba ngày liền Có thể cho uống 3 ml tinh dầu giun trộn với 60ml dầu đu đủ, cho uống 1 lần vào buổi sáng Cũng có thể cho uống Phenothiazine 1,5 - 2,0 gam/ngày trong ba ngày, hoặc Piperazin 0,2 - 20,3 gam/kg TT

Lê Đăng Đảnh và cs (2004) [7] cho biết, để chủ động phòng trị bệnh giun đũa bê, nghé ngay sau khi sinh, chúng ta dùng một số loại thuốc đặc trị bệnh giun đũa bê, nghé, có thể dùng: Polystrongle với liều 1 ml/50kg TT

Vichitr Sukhapesna (1981) [65] đã dùng Pyrantel Tartrate các liều khác nhau 5, 10 và 20 mg/kg tẩy cho 28 bê nghé bị nhiễm giun đũa thì thấy với các liều lượng trên thì đều có hiệu quả cao (100%) Số lượng trứng giun đũa thải ra theo phân giảm nhiều sau 1 tuần điều trị

Theo Trịnh Văn Thịnh và cs (1982) [34]: Piperazin 0,3 – 0,5 gam/kg

TT, Silicofluorat natri liều 0,035 g/kg TT chia hai lần trong ngày, tinh dầu giun 30 - 60 ml, cho uống, kết hợp giữ gìn vệ sinh sạch sẽ, ủ phân, chăm sóc chu đáo cho trâu bò mẹ Phạm Văn Khuê và Phan Lục (1996) [11] cũng sử dụng những hoá dược như trên tẩy giun đũa bê nghé cho kết quả tốt

Theo Cao Tuyết Lan (1996) [13], dùng Mebenvet liều 120 mg/kg TT tẩy cho nghé nhiễm giun đũa ở thị xã Lai Châu có hiệu quả tốt

Vương Đức Chất (1995) [3] đã tẩy giun đũa cho bê nghé bằng thuốc Piperazin 0,25 g/kg TT, Mebendazole 10 mg/kg TT đạt kết quả tốt

Phạm Văn Khuê và Phan Lục (1996) [11] đã thử nghiệm dùng

Benzimidazole liều 7,6 - 9 mg/kg TT, tẩy cho 73 bê nhiễm Neoascaris

vitulorum, kết quả đạt 100% ở Mê Linh, Phong Châu (Vĩnh Phú), Kim Bảng

Trang 26

(Nam Hà), Gia Lâm, Đông Anh, Từ Liêm, Sóc Sơn (Hà Nội)

Phạm Sỹ Lăng và Phan Địch Lân (1996) [14] cho biết, dùng các loại hoá dược như Piperazin 0,3 - 0,5 g/kg TT, Tetramizole 10 mg/kg TT, Mebenvet 0,5

g/kg TT và một số hoá dược khác để tẩy trừ Neoascaris vitulorum cho kết quả

rất tốt

Chu Thị Thơm và cs (2006) [32] đã đưa ra các phác đồ sau: Dùng Piperazin 0,5 g/kg TT trộn lẫn với thức ăn hay hoà vào nước cho uống, tẩy vào buổi sáng; Phenolthiazin 0,5 g/kg TT uống 2 lần trong ngày, uống 2 ngày liền; Tetramisol 10-15 mg/kg TT, cho uống sau khi bê nghé đã bú hoặc ăn Ngoài ra tác giả còn đưa ra một số loại thuốc nam có tác dụng tẩy giun đũa như:

- Vỏ xoan: cạo bỏ lớp vỏ nâu, sao vàng tán nhỏ thành bột Cho gia súc uống 3 – 5 g liên tục 3 buổi sáng hoặc có thể sắc lấy nước, cô đặc, cho uống vào lúc sáng sớm trước khi cho ăn với liều lượng 30 - 50 ml

- Hạt cau: nghiền nhỏ 4 g hạt cau, sắc lấy nước cho gia súc uống hoặc nghiền nhỏ, rang khô đem trộn thức ăn, cho ăn vào buổi sáng

1.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC

1.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước

Theo Nguyễn Văn Thiện và cs (1977) [35] bê nghé từ 15 - 60 ngày tuổi hay mắc bệnh ỉa cứt trắng, bệnh thường hay gặp nhất ở miền núi

Phạm Văn Khuê và cs (1981) [10] cho biết, bệnh giun đũa bê nghé khá phổ biến ở các tỉnh miền núi phía bắc Theo Nguyễn Bá Phụ (1992), ở Việt Bắc bê, nghé thường mắc bệnh giun đũa từ 30 - 50%

Dương Công Thuận và Nguyễn Văn Lốc (1986) [38] đã điều tra tình hình nhiễm giun đũa ở nghé Murah nuôi tại Việt Nam: nghe 3 tuần tuổi nhiễm 58,1%; nghé 4 tuần tuổi nhiễm 67,2%; nghé 6 tuần tuổi nhiễm 25,2%; nghé 7 tuần tuổi nhiễm 28%; nghé 9 tuần tuổi nhiễm 25%; nghé 10 tuần tuổi nhiễm 23%

Trang 27

Phan Địch Lân (1986) [19] đã kiểm tra 30 bê Hà Lan nhập nội ở nông trường Sao Đỏ, cho kết quả tỷ lệ nhiễm giun đũa ở bê, nghé là 25% Ở Mộc Châu, kiểm tra 50 bê Hà Lan dưới 6 tháng thấy tỷ lệ nhiễm 30% Nghé Murah dưới 3 tháng tuổi nuôi ở HTX Trực Chính - Khánh Phù - Phù Thượng

- Hà Nam Ninh nhiễm giun đũa tới 71%, nghé 1 tháng tuổi nhiễm 67%

Phan Lục (1993) [24] đã điều tra bệnh ký sinh trùng đường tiêu hoá ở trâu, bò vùng đồng bằng Sông Hồng cho thấy: trâu, bò bị nhiễm nhiều loại ký sinh trùng, trong đó nghé nhiễm giun đũa là 15,1%, bê là 5,4%

Vương Đức Chất (1995) [2] cũng thấy tỷ lệ nhiễm giun đũa trên đàn bê

ở Hà Nội qua mổ khám là 15,6%

Phạm Sỹ Lăng và Phan Địch Lân (1996) [14] cho biết, bệnh giun đũa

bê nghé có tỷ lệ nhiễm từ 23% - 64% ở nghé trong độ tuổi 1- 3 tháng, bê trong độ tuổi 17 ngày đến 3 tháng tuổi cũng bị nhiễm bệnh

Theo Cao Tuyết Lan (1996) [13], tỷ lệ bê, nghé nhiễm giun đũa là 35,3%, cao nhất lúc 31 - 45 ngày tuổi (71,4%)

Theo Phạm Sỹ Lăng (2002) và cs [17], có thể sử dụng một trong các loại hóa dược sau để điều trị bệnh giun đũa bê nghé: Piperazin dùng liêu 0,3 - 0,5 gam/kg TT, thuốc cho uống trực tiếp hoặc trộn với thức ăn; Levamisol dùng với liều 15-20 mg/kg TT, cho uống hoặc 10-15 mg/kg TT dùng tiêm; Mebenvet (10% Mebendazol) dùng liều 0,5 gam/kg TT; Ivermectin dùng liều 0,2 mg/kg TT tiêm cho bê nghé

Lê Thị Thanh Nhàn (2008) [29] đã điều trị tiêu chảy cho bê, nghé do giun đũa bằng cách: sử dụng một trong các thuốc kháng sinh như Norfacoli hoặc Colistin để điều trị tiêu chảy, sau vài ngày dùng thuốc tẩy giun đũa cho

bê, nghé dưới 3 tháng tuổi với mục đích điều trị cho những nghé bị bệnh và tẩy phòng cho những nghé mang giun đũa Trong quá trình điều trị bổ sung

chất điện giải và vitamin C để tăng cường sức đề kháng cho con vật

Trang 28

1.2.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài

Hussein M O và Barriga O (1991) [50] đều cho biết: giun đũa

Neoascaris vitulorum có thể lây nhiễm sang nhiều loài động vật khác, nhưng

ký sinh chính là trên bê, nghé ở các nước nhiệt đới và cận nhiệt đới Bằng thực nghiệm, người ta thấy giun đũa có thể lây nhiễm sang thỏ và chuột

Swain G D., Misra S C., Panda D N (1987) [62] cho biết, ở Ấn Độ trứng giun đũa đã được tìm thấy trứng mẫu phân của 170 nghé dưới 6 tháng tuổi, tỷ lệ nhiễm cao nhất ở nghé l - 2 tháng tuổi, giảm dần sau 3 tháng tuổi

Roberts J A (1989) [57], Devi và cs (2001) cho rằng, giun đũa

Neoascaris vitulorum muốn phát triển thành ấu trùng lây nhiễm đòi hỏi phải

có đầy đủ độ ẩm và nhiệt độ trong khoảng 20°C đến 30°C Trong mùa hè

nóng, hầu hết các ấu trùng bị chết Tuy nhiên, ở nhiều khu vực ẩm ướt, có lượng mưa lớn, sự phát triển của ấu trùng rất thuận lợi

Theo Roberts J A (1990) [58], giun đũa Toxocara vitulorum chỉ ký

sinh ở trong ruột của bê, nghé dưới 3 tháng tuổi Bệnh được truyền cho bê, nghé qua bào thai và qua sữa non của trâu, bò mẹ Bê nghé bắt đầu có giun đũa trưởng thành ký sinh sau 22 ngày tuổi Trứng giun đũa được thải ra trong phân có chứa ấu trùng giai đoạn 1, sau đó chúng phát triển thành ấu trùng giai đoạn 2 và giai đoạn 3 trong 2 - 4 tuần Trứng có chứa ấu trùng giai đoạn 3 không nở cho đến khi chúng được nuốt vào đường tiêu hóa của bê, nghé

Trâu, bò mang thai bị nhiễm trứng giun đũa do ăn phải trứng chứa phôi

từ môi trường Ấu trùng Neoascaris vitulorum di chuyển qua gan, phổi, cơ

bắp, não, thận, hạch bạch huyết, tuyến vú và các cơ quan khác, tuy nhiên giun trưởng thành không tìm thấy trong ruột non của trâu, bò mẹ

Theo Lora R B (2001) [51], trứng Neoascaris vitulorum phát triển đến giai đoạn lây nhiễm từ 7 đến 12 ngày ở 28°C - 30°C, là nhiệt độ tối ưu để phát triển Dưới 12°C trứng không phát triển, nhưng trứng tồn tại và sẽ tiếp tục phát triển khi nhiệt độ tăng lên Trứng Neoascaris vitulorum có thể tồn tại ở

Trang 29

môi trường không thuận lợi trong vài tháng và có thể lên đến hai năm

Hussein M O., Barriga O (1991) [50] đã làm thí nghiệm: gây nhiễm cho

10 thỏ cái New Zealand trứng giun đũa bê nghé có sức gây nhiễm Kết quả kiểm tra máu thấy tế bào hồng cầu giảm, nhưng bạch cầu ái toan và ái kiềm tăng

Starke W A và cs (2001) [61] đã tìm hiểu phản ứng miễn dịch, mức

độ kháng thể, kháng nguyên chiết xuất hòa tan (Ex) từ nghé bị nhiễm ấu trùng giun đũa bằng phương pháp ELISA gián tiếp với huyết thanh của 15 nghé con, mẫu được lấy ở 15 và 180 ngày tuổi Từ tất cả các mẫu huyết thanh kiểm tra trong thời gian 180 ngày đầu tiên, mức độ kháng thể thấp nhất và cao nhất trong bê ở 1 ngày tuổi và sau khi bú sữa đầu cho thấy rằng nguồn gốc của kháng thể là sữa non Ngay sau khi sinh, nồng độ kháng thể trong bê được bú sữa vẫn ở mức cao cho đến 15 ngày tuổi, sau đó bắt đầu giảm xuống mức thấp hơn từ 15 đến 20 ngày tuổi và tương đối ổn định cho đến 120 ngày tuổi

Mairia F N., Wilma A S B., Alessandra M M G (2003) [52] đã tìm hiểu sự phát triển phản ứng viêm của ruột và mô của bê bị nhiễm giun đũa trong các giai đoạn tuổi Các mẫu máu được thu thập hai tuần một lần từ khi sinh ra đến 174 ngày sau sinh và thấy trong mô cơ ở chân của bê bị nhiễm giun đũa, số lượng tế bào mast tăng đáng kể, số lượng bạch cầu ái toan tăng ở niêm mạc của tá tràng (gấp 2 - 5 lần so với bình thường)

Abdulalim Ayilin và cs (2005) [43] đã xác định tỷ lệ nhiễm giun đũa theo tuổi bê nghé ở Hakkari thuộc khu vực phía Đông của Thổ Nhĩ Kỳ bằng cách sử dụng phương pháp phù nổi Fulleborn và buồng đếm Mc Master để

đếm trứng giun đũa có trong 1 gam Trứng giun đũa Neoascaris vitulorum

đã được tìm thấy trong 208 mẫu phân trên trong 718 mẫu phân bê nghé được xét nghiệm (28,96%) Bê nghé từ 1 - 6 tháng tuổi tỷ lệ nhiễm là 34,4% , từ 6

- 12 tháng tuổi tỷ lệ nhiễm là 6,6%, trên 12 tháng tuổi là 3,3%

Theo nghiên cứu của Acacio Cardoso Amaral (2005) [44] ở Đông Timor bê nghé nhiễm giun đũa với số lượng trứng cao nhất là 1.830

Trang 30

trứng/gam phân Con số này thấp hơn so với ở các nước khác Ví dụ: số lượng này của bê, nghé tại Birsa, Ấn Độ là 8.000 đến 26.000 trứng/gam phân (Devi I và cs, 2000), của bê, nghé ở Nigeria là 10.000 đến 30.000 trứng/gam phân

Fabio R B., Sebastiao R F., Jackson V A., Juliana M A và Andre R

S I (2010) [47] đã nghiên cứu khả năng diệt của nấm Nematophagous và nấm Pochonia chlamydosporia đối với trứng giun đũa bê, nghé trong môi trường thạch có 2% nước Trứng giun đũa trong môi trường có nấm bị tiêu diệt trong 10 và 15 ngày còn ở môi trường không có nấm thì không thấy có

sự biến đổi của trứng giun đũa Những kết quả này cho thấy rằng Nematophagous và P chlamydosporia có khả năng diệt trứng giun đũa

Gabriel Davila, Maxlrsik và Ellis C G (2010) [48] đã đánh giá tỷ lệ nhiễm giun đũa ở bê tại Bắc Trung Bộ Florida - Mỹ Phân tích 433 mẫu phân

bê dưới 9 tháng tuổi thấy có trứng giun đũa trong phân Tỷ lệ nhiễm theo các lứa tuổi là: bê dưới 3 tháng tuổi là 17,6%, 3 - 4 tháng tuổi là 0,4% và bê 5 - 6 tháng tuổi có tỷ lệ nhiễm 0,9% và không thấy trứng trong bê lớn hơn 6 tháng tuổi 20 bê bị nhiễm giun đũa được tẩy bằng Fenbendazole (10% Fenbendazole) với liều 5 mg/kg TT Sau 2 tuần dùng thuốc, phân tích lại tỷ lệ

và cường độ nhiễm để đánh giá hiệu quả của Fenbendazole, thì thấy có 17 bê không có trứng giun đũa trong phân, chiếm tỷ lệ 85%

Abdel-Rahman, M A & El-Ashmawy, W R (2013) [42] đã tiến hành khám 134 con trâu ở các độ tuổi khác nhau tại Giza Governorate, kết hợp với các xét nghiệm huyết thanh học đã tìm thấy 38 (tỷ lệ 28,4%) con trâu nhiễm ấu

trùng Toxocara vitulorum Họ sử dụng các kháng nguyên của Toxocara

vitulorum để giám sát các phản ứng của một nhóm trâu mang thai nhiễm Toxocara vitulorum và sinh ra nghé, kết quả chẩn đoán trong sữa trâu cho con

bú bị nhiễm ấu trùng giun đũa trong vài ngày đầu sau đẻ

Trang 31

Chương 2 NỘI DUNG, VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 ĐỐI TƯỢNG VÀ VẬT LIỆU NGHIÊN CỨU

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu:

- Bê, nghé nuôi tại các hộ chăn nuôi, trại gia đình ở 3 huyện: Phú

Lương, Đồng Hỷ và Phú Bình thuộc tỉnh Thái Nguyên

- Bệnh giun đũa bê, nghé

2.1.2 Vật liệu nghiên cứu:

- Mẫu phân tươi của bê, nghé; mẫu đất (cặn) nền chuồng, nước ở bãi

chăn thả và khu vực xung quanh chuồng nuôi bê, nghé

- Trứng giun đũa bê, nghé (để xác định sự phát triển và tồn tại của chúng ở ngoại cảnh)

- Mẫu máu của bê, nghé bị bệnh và khoẻ mạnh (để xác định sự thay đổi một số chỉ số máu)

- Các loại thuốc phòng trị bệnh giun đũa bê, nghé: Tayzu (1 gói 4gam chứa 400mg Levamisol); Hanmectin - 25 ( Ivemectin 2,5mg/ml), Han - Dertil

- B (1viên chứa 300mg Triclbendazol và Albendazol)

- Kính hiển vi quang học Labophot - 2 gắn máy ảnh và màn hình, buồng đếm Mc Master, máy ly tâm điện, máy phân tích máu, máy cắt cúp tổ chức Microtom, tủ sấy…

- Các hóa chất và dụng cụ thí nghiệm khác

2.2 ĐỊA ĐIỂM VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU

2.2.1 Địa điểm nghiên cứu

- Địa điểm thu thập mẫu: Các mẫu phân bê, nghé thu thập ở các hộ

chăn nuôi, trại chăn nuôi gia đình và tập thể với các quy mô khác nhau tại các xã thuộc 3 huyện của tỉnh Thái Nguyên (huyện Phú Lương, Đồng Hỷ

và Phú Bình)

- Địa điểm xét nghiệm mẫu:

+ Phòng thí nghiệm Ký sinh trùng - Khoa Chăn nuôi Thú y - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên

+ Khoa xét nghiệm máu - Bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên

Trang 32

2.2.2 Thời gian nghiên cứu:

Từ tháng 8 năm 2014 đến tháng 8 năm 2015

2.3 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

2.3.1 Nghiên cứu tình hình nhiễm giun đũa ở bê, nghé

- Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun đũa ở bê, nghé tại 3 huyện Phú Lương, Phú Bình và Đồng Hỷ thuộc tỉnh Thái Nguyên

- Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun đũa ở bê, nghé theo mùa vụ

- Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun đũa theo lứa tuổi bê, nghé

- Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun đũa ở bê và nghé

2.3.2 Nghiên cứu sự phát triển của trứng giun đũa bê, nghé và khả năng tồn tại của trứng có sức gây bệnh ở ngoại cảnh

- Xác định tình trạng ô nhiễm trứng giun đũa bê, nghé ở chuồng trại, khu vực xung quang chuồng trại, ở trên bãi chăn thả (ở nền đất bề mặt, ở vũng nước trên bãi chăn thả)

- Sự phát triển của trứng giun đũa bê, nghé và khả năng sống của trứng trong phân ở điều kiện tự nhiên (nhiệt độ, ẩm độ tự nhiên)

2.3.3 Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng của bệnh giun đũa bê, nghé

- Nghiên cứu biểu hiện lâm sàng của bê, nghé bị bệnh giun đũa

- Sự thay đổi một số chỉ số huyết học của bê, nghé bị bệnh giun đũa

2.3.4 Nghiên cứu biện pháp phòng, trị giun đũa cho bê, nghé

- Nghiên cứu phương pháp ủ phân nhiệt sinh học theo phương pháp truyền thống để diệt trứng giun đũa bê, nghé

- Nghiên cứu lựa chọn loại thuốc và liều lượng thích hợp điều trị bệnh giun đũa cho bê, nghé

- Đề xuất quy trình phòng, trị bệnh giun đũa cho bê, nghé

Trang 33

2.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.4.1 Phương pháp nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh giun đũa

bê, nghé ở 3 huyện của tỉnh Thái Nguyên

2.4.1.1 Phương pháp nghiên cứu tình hình nhiễm giun đũa ở bê, nghé dưới 6 tháng tuổi

* Phương pháp xác định tỷ lệ nhiễm giun đũa ở bê, nghé tại 3 huyện của tỉnh

Thái Nguyên:

Mẫu phân bê, nghé mới thải ra được thu thập ngẫu nhiên tại các hộ ở 3 huyện Phú Lương, Phú Bình, Đồng Hỷ (mỗi huyện chọn 3 xã có nhiều trâu, bò) của tỉnh Thái Nguyên vào các buổi sáng, mỗi mẫu lấy khoảng 300 – 400 gram, hoặc lấy trực tiếp từ trực tràng, để trong túi bóng kính, có nhãn ghi các thông tin: tuổi, tính biệt, thời gian, địa chỉ, trạng thái phân và các biểu hiện lâm sàng của bê, nghé và tình trạng của trâu, bò mẹ (những thông tin này cũng được ghi vào sổ nhật ký đề tài), việc xét nghiệm phân được thực hiện trong ngày lấy mẫu

- Phương pháp xác định tỷ lệ nhiễm giun đũa ở bê, nghé theo mùa vụ:

Mùa vụ trong năm được theo dõi phân ra làm 2 vụ, gồm:

+ Vụ Đông - Xuân: từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau

+ Vụ Hè - Thu: từ tháng 5 đến tháng 10

- Phương pháp xác định tỷ lệ nhiễm giun đũa ở bê, nghé theo tuổi:

Theo dõi bê, nghé ở 5 lứa tuổi tại 3 huyện Bê, nghé các lứa tuổi tương đối đồng đều về tính biệt, điều kiện chăn sóc nuôi dưỡng, trong cùng một mùa vụ

* Phương pháp thu thập, xét nghiệm mẫu

- Mẫu phân được thu thập ngẫu nhiên tại các nông hộ chăn nuôi bê, nghé tại

3 huyện của tỉnh Thái Nguyên

- Lấy mẫu và bảo quản mẫu theo phương pháp thường quy

- Xét nghiệm mẫu bằng phương pháp Fulleborn

Trang 34

- Sử dụng dịch NaCl bão hòa để làm nổi trứng giun đũa bê, nghé Soi trứng giun đũa trên kính hiển vi có độ phóng đại 100 lần

* Phương pháp đếm trứng giun bằng buồng đếm Mc Master:

Căn cứ vào kết quả xét nghiệm và biểu hiện lâm sàng của bê, nghé quy

định cường độ nhiễm giun đũa bê, nghé (Neoascaris vitulorum) được đánh

giá bằng số lượng trứng/gam phân theo quy định của Roberts, J A (1990) [58], với 3 mức độ cao tương ứng là:

< 700 trứng/gam phân: nhiễm nhẹ (+)

700 – 1000 trứng/gam phân: nhiễm trung bình (++)

> 1.000 trứng/gam phân: nhiễm nặng (+++)

Số trứng/gam phân được đếm bằng phương pháp Mc Master: Cân 4 gam phân cho vào cốc thủy tinh, thêm 56 ml dung dịch nước muối bão hòa, khuấy đều cho tan phân Lọc qua lưới thép vào một cốc khác và khuấy đều Trong khi đang khuấy dừng lại đột ngột và lấy công tơ gút hút dung dịch phân nhỏ đầy hai buồng đếm Mc Master (mỗi buồng đếm có dung tích 0,5 ml), để yên 5 phút rồi kiểm tra dưới kính hiển vi quang học (độ phóng đại 100 lần) Đếm toàn bộ số trứng trong những ô của 2 buồng đếm

Số trứng/ 1 gam phân = ∑ số trứng ở hai buồng đếm x 15

( Tổng số trứng ở hai buồng đếm là số trứng có trong 1,0 ml dung dịch phân)

2.4.1.2 Phương pháp nghiên cứu tình trạng ô nhiễm trứng giun đũa bê, nghé ở chuồng nuôi, khu vực xung quanh chuồng nuôi và khu vực bãi chăn thả

- Phương pháp thu thập mẫu:

+ Mẫu đất hoặc cặn nền chuồng nuôi bê, nghé: Lấy mỗi ô chuồng, lấy mẫu đất (cặn) ở 4 góc chuồng và ở giữa chuồng, trộn đều được một mẫu xét nghiệm (khoảng 80 – 100 gam/ mẫu) Mỗi mẫu được để riêng trong túi nilon có nhãn ghi: loại mẫu, địa điểm và thời gian lấy mẫu

Trang 35

+ Mẫu đất bề mặt khu vực xung quanh chuồng: Lấy mẫu đất bề mặt tương

tự như cách lấy mẫu cặn nền chuồng

+ Mẫu đất bề mặt ở khu vực bãi chăn thả bê, nghé: Tại mỗi khu vực chăn thả, cứ khoảng 20 – 30 m2 lấy ngẫu nhiên ở vị trí 4 góc và ở giữa, trộn đều được một mẫu xét nghiệm (khoảng 80 – 100 gam/ mẫu) Mỗi mẫu được để riêng trong túi nilon có nhãn ghi: loại mẫu, địa điểm và thời gian lấy mẫu

+ Mẫu nước ở những vũng nước trên khu vực bãi chăn thả: Dùng que khuấy đều vũng nước, lấy cốc thủy tinh múc khoảng 150 – 200 ml/vũng, cho vào túi nilon nhỏ, có nhãn ghi loại mẫu, địa điểm và thời gian lấy mẫu

- Phương pháp xét nghiệm mẫu: Xét nghiệm mẫu bằng phương pháp Fulleborn để phát hiện trứng giun đũa bê, nghé

2.4.1.3 Phương pháp nghiên cứu sự phát triển của trứng giun đũa, khả năng sống của trứng có sức gây bệnh trong phân ở điều kiện từ nhiên

- Phương pháp thu thập mẫu: Thu thập mẫu phân của những bê, nghé nhiễm giun đũa cường độ nhiễm nặng (mỗi mẫu 300 – 400 gam)

- Phương pháp bố trí thí nghiệm:

+ Lô 1: Cho phân bê, nghé nhiễm giun đũa nặng vào 5 chậu nhựa đường kính 20 cm, cao 10 cm (mỗi chậu 300 – 400 gam, có dán nhãn ghi ngày tháng theo dõi) để tự nhiên ở điều kiện nhiệt độ và ẩm độ không khí bình thường

+ Lô 2: Cũng bố trí như lô 1, nhưng khác là hàng ngày bổ sung nước để duy trì mẫu phân luôn trong trạng thái ướt nhão

- Phương pháp theo dõi sự phát triển của trứng giun đũa bê, nghé:

Hàng ngày theo dõi nhiệt độ và ẩm độ không khí Mỗi ngày lấy 3 – 5 gam phân, xét nghiệm bằng phương pháp Fulleborn để kiểm tra sự phát triển trứng giun đũa bê, nghé Đếm số trứng/ vi trường/ mẫu, đếm số trứng có sức gây bệnh/vi trường/mẫu Từ đó xác định được thời gian phát triển của trứng và xác định được thời gian sống của trứng có sức gây bệnh ở ngoại cảnh Mô tả sự phát triển của trứng qua quá trình theo dõi

Trang 36

2.4.2 Phương pháp nghiên cứu đặc điểm lâm sàng của bệnh giun đũa

độ nhiễm

Sử dụng các phương pháp chẩn đoán lâm sàng như: đo thân nhiệt bằng nhiệt kế 430C, quan sát thể trạng, lông, da; quan sát màu sắc các niêm mạc; theo dõi màu sắc, trạng thái và mùi phân, số lần đi ỉa trong ngày, lượng phân thải ra

trong ngày, tình trạng ăn uống, biểu hiện tình trạng sức khỏe

2.4.2.2 Phương pháp xét nghiệm máu để xác định một số chỉ tiêu huyết học của bê, nghé bị bệnh giun đũa

* Phương pháp lấy mẫu máu

Lấy mẫu máu của bê, nghé khỏe và bê, nghé bị bệnh giun đũa ở tĩnh mạch

cổ (1ml/con) cho vào ống nghiệm có tráng chất chống đông máu

* Phương pháp xét nghiệm

Số lượng hồng cầu, bạch cầu, hàm lượng huyết sắc tố, tỷ lệ phần trăm từng loại được xác định bằng máy ABX Micros tại Khoa Huyết học - Bệnh viên Đa khoa Trung ương Thái Nguyên

*Phương pháp xác định bệnh tích đại thể

Trong quá trình đi điều tra, lấy mẫu phát hiện bê, nghé mắc bệnh giun đũa

bị chết và một số con bị mắc bệnh giun đũa nặng, chúng tôi tiến hành mổ khám Quan sát bằng mắt thường và kính lúp để xác định vị trí ký sinh, bệnh tích ở

dạ dày, ruột non, ruột già, gan, mật…vùng có bệnh tích điển hình

Trang 37

2.4.3 Nghiên cứu đề xuất biện pháp phòng, trị bệnh giun đũa cho bê, nghé

2.4.3.1 Phương pháp ủ phân nhiệt sinh học

Phân bê, nghé bị nhiễm giun đũa được thu gom và bố trí ủ phân theo

công thức 70% phân, 25% lá xanh (phân xanh), 5 % vôi bột hoặc lân

Cách ủ phân: Trộn đều phân được thu gom, sau đó các nguyên liệu được dải xuống hố ủ theo từng lớp như sau: 1 lớp lá xanh, 1 lớp vôi bột, 1 lớp phân, 1 lớp lá xanh, 1 lớp vôi, 1 lớp phân Sau cùng ta dùng vữa được trộn từ bùn và rơm khô chát kín xung quanh hố ủ tạo thành hình tháp, hố ủ có mái che mưa, nắng Cách 3 ngày dùng nhiệt kế, ẩm kế đo nhiệt độ, ẩm độ phân ủ

ở nhiều điểm khác nhau, đồng thời lấy phân ở 10 điểm khác nhau trên đống ủ

để xét nghiệm trứng giun đũa bê, nghé Từ đó xác định được khả năng sinh nhiệt và tác dụng diệt trứng giun đũa bê, nghé

2.4.3.2 Phương pháp điều trị giun đũa cho bê, nghé

Lựa chọn 3 loại thuốc: Tayzu, Hanmectin-25, Han- Dirtil-B để điều trị

bệnh giun đũa cho bê, nghé Mỗi loại thuốc được dùng cho 8 bê, nghé có cùng lứa tuổi, cường độ nhiễm và biểu hiện lâm sàng Sau 5, 10, 15 ngày dùng thuốc, xét nghiệm phân kiểm tra số trứng/g phân để đánh giá hiệu lực điều trị của từng loại thuốc Từ đó, lựa chọn 1 loại thuốc có hiệu lực tẩy cao nhất đưa vào tẩy đại trà

2.4.3.3 Phương pháp đánh giá hiệu lực của thuốc trị giun đũa bê, nghé

Trước khi dùng thuốc, xác định cường độ nhiễm bằng cách đếm số lượng trứng giun/g phân Sau khi dùng thuốc 15 ngày, xác định hiệu lực thuốc bằng phương pháp xét nghiệm lại phân bê, nghé tìm trứng giun đũa và đếm số trứng/g phân Nếu không thấy trứng trong phân thì đánh giá thuốc có hiệu lực triệt để với giun đũa; nếu vẫn thấy trứng giun trong phân nhưng số lượng trứng/g phân giảm rõ rệt thì đánh giá thuốc có hiệu lực với giun đũa nhưng

chưa triệt để; nếu thấy số lượng trứng/g phân vẫn không giảm so với trước khi

Trang 38

dùng thuốc hoặc giảm không đáng kể thì đánh giá thuốc không có hiệu lực với giun đũa

2.4.3.4 Phương pháp xác định độ an toàn của thuốc

Độ an toàn của thuốc được đánh giá bằng kết quả theo dõi trạng thái cơ thể, sự vận động, ăn uống và một số chỉ tiêu sinh lý (thân nhiệt, nhịp thở) của

bê, nghé trước và sau khi dùng thuốc 1 giờ

Từ đó chọn được loại thuốc trị bệnh giun đũa cho bê, nghé có hiệu quả cao và an toàn

2.4.3.5 Đề xuất biện pháp phòng trị bệnh giun đũa cho bê, nghé

Từ kết quả thu được về một số đặc điểm dịch tễ, sức đề kháng của trứng giun đũa và kết quả thử nghiệm thuốc trị giun đũa, đề xuất quy trình

phòng trừ tổng hợp bệnh giun đũa cho bê, nghé

2.5 PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ SỐ LIỆU

Số liệu thu được được xử lý bằng phương pháp thống kê sinh học (Nguyễn Văn Thiện, 1997) [36], trên phần mềm Excel 2003 và phần mềm Minitab 16

Trang 39

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

3.1 NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ BỆNH GIUN ĐŨA BÊ, NGHÉ Ở 3 HUYỆN THUỘC TỈNH THÁI NGUYÊN

3.1.1 Nghiên cứu tình hình nhiễm giun đũa bê, nghé

3.1.1.1 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun đũa ở bê, nghé tại một số địa phương

Để đánh giá cụ thể tình hình bê, nghé nhiễm giun đũa Neoascaris

vilulorum ở 3 huyện Phú Lương, Phú Bình, Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên,

chúng tôi đã kiểm tra 1008 bê, nghé ở 9 xã Kết quả về tỷ lệ nhiễm giun đũa ở các địa phương được trình bày ở bảng 3.1

Qua bảng 3.1 và hình 3.1 cho thấy: Trong 1008 bê, nghé kiểm tra tại 9

xã của 3 huyện thì số bê, nghé bị nhiễm giun đũa là 237 con, chiếm tỷ lệ 23,51% Tỷ lệ bê, nghé nhiễm giun đũa ở cường độ nhẹ là 41,35%, nhiễm ở cường độ trung bình là 45,57%, nhiễm ở cường độ nặng là 13,08%

Trong đó, tỷ lệ bê, nghé nhiễm giun đũa cụ thể như sau:

- Ở huyện Phú Lương, kiểm tra 295 bê, nghé, có 72 bê, nghé nhiễm giun, tỷ lệ nhiễm 24,41%

- Ở huyện Phú Bình, kiểm tra 294 bê, nghé, có 60 bê, nghé nhiễm giun,

Trang 40

Bảng 3.1 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun đũa bê, nghé tại 3 huyện Phú

Số bê, nghé nhiễm (con)

Tỷ lệ (%)

Cường độ nhiễm (Số trứng/g phân)

2 Phú

Lương Phú 90 22 24,44 12 54,55 8 36,36 2 9,09 Đào Xá 84 18 21,43 9 50,00 8 44,44 1 5,56 Tân Kim 120 20 16,67 7 35,00 10 50,00 3 15,00

3 Đồng Hỷ 419 105 25,06 45 42,86 47 44,76 13 12,38

Khe Mo 137 32 23,36 16 50,00 13 40,63 3 9,38 Văn Hán 183 52 28,42 21 40,38 24 46,15 7 13,46 Linh Sơn 99 21 21,21 8 38,10 10 47,62 3 14,29

Tính

chung 1008 237 23,51 98 41,35 108 45,57 31 13,08

Ngày đăng: 31/10/2016, 09:40

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
11. Phạm Văn Khuê, Phan Lục (1996), Ký sinh trùng thú y, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, tr. 124 - 127 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ký sinh trùng thú y
Tác giả: Phạm Văn Khuê, Phan Lục
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1996
12. Nguyễn Thị Kim Lan, Nguyễn Văn Quang, Nguyễn Quang Tuyên (1999), Giáo trình ký sinh trùng thú y, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, tr. 94 - 97 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình ký sinh trùng thú y
Tác giả: Nguyễn Thị Kim Lan, Nguyễn Văn Quang, Nguyễn Quang Tuyên
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1999
13. Cao Thị Tuyết Lan (1996),”Bệnh giun đũa bê, nghé ở thị xã Lai Châu và biện pháp phòng trừ”, Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Thú y, tập 3, (số 3), tr. 66 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Thú y
Tác giả: Cao Thị Tuyết Lan
Năm: 1996
14. Phạm Sỹ Lăng, Phan Địch Lân (1996), Bệnh thường thấy ở đàn bò sữa Việt Nam và kỹ thuật phòng trị, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, tr. 78 - 85 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh thường thấy ở đàn bò sữa Việt Nam và kỹ thuật phòng trị
Tác giả: Phạm Sỹ Lăng, Phan Địch Lân
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1996
15. Phạm Sỹ Lăng, Lê Thị Tài (1997), Thuốc điều trị và vacxin sử dụng trong thú y, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, tr.117-124 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thuốc điều trị và vacxin sử dụng trong thú y
Tác giả: Phạm Sỹ Lăng, Lê Thị Tài
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1997
16. Phạm Sỹ Lăng, Phan Địch Lân (1999), Bệnh ở trâu bò và biện pháp phòng trị, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội tr. 176 – 177 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh ở trâu bò và biện pháp phòng trị
Tác giả: Phạm Sỹ Lăng, Phan Địch Lân
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1999
17. Phạm Sỹ Lăng, Lê Văn Tạo (2002), Hướng dẫn phòng trị bệnh ký sinh trùng, bệnh nội khoa và nhiễm độc ở bò sữa, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, tr. 5-10, 125 – 131 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn phòng trị bệnh ký sinh trùng, bệnh nội khoa và nhiễm độc ở bò sữa
Tác giả: Phạm Sỹ Lăng, Lê Văn Tạo
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2002
18. Phạm Sỹ Lăng, Lê Văn Tạo (2002), Bệnh truyền nhiễm ở bò sữa và biện pháp phòng trị, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, tr. 5-10, 125 – 131 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh truyền nhiễm ở bò sữa và biện pháp phòng trị
Tác giả: Phạm Sỹ Lăng, Lê Văn Tạo
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2002
19. Phạm Sỹ Lăng (2005), Sổ tay điều trị một số bệnh phổ biến ở vật nuôi, Nxb Lao động – Xã hội, tr. 16 – 19 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay điều trị một số bệnh phổ biến ở vật nuôi
Tác giả: Phạm Sỹ Lăng
Nhà XB: Nxb Lao động – Xã hội
Năm: 2005
20. Phan Địch Lân (1986),”Tình hình nhiễm ký sinh trùng ở đàn bò nhập nội”, Kết quả nghiên cứu Khoa học và Kỹ thuật nông nghiệp (1979 – 1984), Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, tr. 199 – 121 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả nghiên cứu Khoa học và Kỹ thuật nông nghiệp (1979 – 1984)
Tác giả: Phan Địch Lân
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1986
21. Phan Địch Lân (1993),"Nghiên cứu và ứng dụng tiến bộ ký thuật thú y vào sản xuất, phục vụ chương trình lương thực, thực phẩm”, Công trình nghiên cứu khoa học năm (1990 – 1992), Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu và ứng dụng tiến bộ ký thuật thú y vào sản xuất, phục vụ chương trình lương thực, thực phẩm
Tác giả: Phan Địch Lân
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1993
22. Phan Địch Lân, Phạm Sỹ Lăng, Đoàn Văn Phúc (2005), Bệnh giun tròn của động vật nuôi ở Việt Nam, NXB Nông nghiệp, Hà Nội, tr.84 – 91 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh giun tròn của động vật nuôi ở Việt Nam
Tác giả: Phan Địch Lân, Phạm Sỹ Lăng, Đoàn Văn Phúc
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2005
23. Nguyễn Thị Lê, Phạm Văn Lực, Hà Duy Ngọ, Nguyễn Văn Đức, Nguyễn Thị Minh (1996), Giun sán ký sinh ở gia súc Việt Nam, Nxb Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội, tr. 228 – 229 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giun sán ký sinh ở gia súc Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thị Lê, Phạm Văn Lực, Hà Duy Ngọ, Nguyễn Văn Đức, Nguyễn Thị Minh
Nhà XB: Nxb Khoa học và kỹ thuật
Năm: 1996
24. Phan Lục (1993), "Tình hình nhiễm ký sinh trùng đường tiêu hóa của trâu bò vùng đồng bằng sông Hồng và thuốc phòng trị". Kết quả nghiên cứu khoa học, Khoa Chăn nuôi Thú y, Trường Đại học Nông nghiệp I (1991-1993), Nxb Nông nghiệp, tr. 92-93 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình nhiễm ký sinh trùng đường tiêu hóa của trâu bò vùng đồng bằng sông Hồng và thuốc phòng trị
Tác giả: Phan Lục
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1993
25. Phan Lục (1996), "Thí nghiệm phòng trị ký sinh trùng đường tiêu hóa trâu bò bằng Dertil và Benzimidazol", Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Thú y, Tập 3, (số 2), tr. 72-75 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thí nghiệm phòng trị ký sinh trùng đường tiêu hóa trâu bò bằng Dertil và Benzimidazol
Tác giả: Phan Lục
Năm: 1996
26. Phan Lục (2005), Giáo trình bệnh ký sinh trùng thú y, Nxb Hà Nội, tr. 127 – 128 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình bệnh ký sinh trùng thú y
Tác giả: Phan Lục
Nhà XB: Nxb Hà Nội
Năm: 2005
27. Phan Lục (2006), Giáo trình bệnh ký sinh trùng thú y, Nxb Hà Nội, tr. 32 - 33 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình bệnh ký sinh trùng thú y
Tác giả: Phan Lục
Nhà XB: Nxb Hà Nội
Năm: 2006
28. Nguyễn Hùng Nguyệt, Đỗ Trung Cứ, Nguyễn Văn Quang (2008), Một số bệnh phổ biến ở gia súc – gia cầm và biện pháp phòng trị (tập 1), Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, tr. 134 - 139 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số bệnh phổ biến ở gia súc – gia cầm và biện pháp phòng trị (tập 1)
Tác giả: Nguyễn Hùng Nguyệt, Đỗ Trung Cứ, Nguyễn Văn Quang
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2008
29. Lê Thị Thanh Nhàn (2008), Một số đặc điểm dịch tễ, vai trò của giun đũa Neoascaris vitulorum trong hội chứng tiêu chảy của bê nghè dưới 3 tháng tuổi ở tỉnh Tuyên Quang và biện pháp điều trị, Luận văn Thạc sỹ khoa học nông nghiệp, Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số đặc điểm dịch tễ, vai trò của giun đũa Neoascaris vitulorum trong hội chứng tiêu chảy của bê nghè dưới 3 tháng tuổi ở tỉnh Tuyên Quang và biện pháp điều trị
Tác giả: Lê Thị Thanh Nhàn
Năm: 2008
30. Phùng Quốc Quảng, Hoàng Kim Giao (2006), Nuôi bò thịt thâm canh trong nông hộ và trang trại, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, tr. 156 – 158 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nuôi bò thịt thâm canh trong nông hộ và trang trại
Tác giả: Phùng Quốc Quảng, Hoàng Kim Giao
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2006

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 3.1. Biểu đồ tỷ lệ nhiễm giun đũa bê, nghé ở các huyện - Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ của bệnh giun đũa ở bê, nghé và biện pháp phòng trị tại ba huyện của tỉnh thái nguyên
Hình 3.1. Biểu đồ tỷ lệ nhiễm giun đũa bê, nghé ở các huyện (Trang 41)
Hình 3.2. Biểu đồ cường độ nhiễm giun đũa bê, nghé ở các huyện - Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ của bệnh giun đũa ở bê, nghé và biện pháp phòng trị tại ba huyện của tỉnh thái nguyên
Hình 3.2. Biểu đồ cường độ nhiễm giun đũa bê, nghé ở các huyện (Trang 41)
Bảng 3.2. Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun đũa bê, nghé theo mùa - Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ của bệnh giun đũa ở bê, nghé và biện pháp phòng trị tại ba huyện của tỉnh thái nguyên
Bảng 3.2. Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun đũa bê, nghé theo mùa (Trang 43)
Bảng 3.3. Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun đũa bê, nghé theo tuổi - Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ của bệnh giun đũa ở bê, nghé và biện pháp phòng trị tại ba huyện của tỉnh thái nguyên
Bảng 3.3. Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun đũa bê, nghé theo tuổi (Trang 46)
Hình 3.5. Biểu đồ tỷ lệ nhiễm giun đũa bê, nghé theo lứa tuổi - Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ của bệnh giun đũa ở bê, nghé và biện pháp phòng trị tại ba huyện của tỉnh thái nguyên
Hình 3.5. Biểu đồ tỷ lệ nhiễm giun đũa bê, nghé theo lứa tuổi (Trang 47)
Hình 3.6. Biểu đồ tỷ lệ nhiễm giun đũa ở bê và nghé - Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ của bệnh giun đũa ở bê, nghé và biện pháp phòng trị tại ba huyện của tỉnh thái nguyên
Hình 3.6. Biểu đồ tỷ lệ nhiễm giun đũa ở bê và nghé (Trang 49)
Bảng 3.5. Tình trạng ô nhiễm trứng giun đũa bê, nghé ở chuồng trại và - Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ của bệnh giun đũa ở bê, nghé và biện pháp phòng trị tại ba huyện của tỉnh thái nguyên
Bảng 3.5. Tình trạng ô nhiễm trứng giun đũa bê, nghé ở chuồng trại và (Trang 50)
Hình 3.7. Biểu đồ tỷ lệ ô nhiễm trứng giun đũa bê, nghé ở nền chuồng và - Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ của bệnh giun đũa ở bê, nghé và biện pháp phòng trị tại ba huyện của tỉnh thái nguyên
Hình 3.7. Biểu đồ tỷ lệ ô nhiễm trứng giun đũa bê, nghé ở nền chuồng và (Trang 51)
Hình 3.8. Biểu đồ tỷ lệ ô nhiễm trứng giun đũa bê, nghé ở khu vực bãi - Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ của bệnh giun đũa ở bê, nghé và biện pháp phòng trị tại ba huyện của tỉnh thái nguyên
Hình 3.8. Biểu đồ tỷ lệ ô nhiễm trứng giun đũa bê, nghé ở khu vực bãi (Trang 53)
Bảng 3.8. Khả năng tồn tại của trứng giun đũa bê, nghé có sức gây bệnh - Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ của bệnh giun đũa ở bê, nghé và biện pháp phòng trị tại ba huyện của tỉnh thái nguyên
Bảng 3.8. Khả năng tồn tại của trứng giun đũa bê, nghé có sức gây bệnh (Trang 57)
Bảng 3.9. Biểu hiện lâm sàng chủ yếu của bê, nghé bị bệnh giun đũa - Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ của bệnh giun đũa ở bê, nghé và biện pháp phòng trị tại ba huyện của tỉnh thái nguyên
Bảng 3.9. Biểu hiện lâm sàng chủ yếu của bê, nghé bị bệnh giun đũa (Trang 59)
Hình 3.9. Biểu đồ sự thay đổi một số chỉ số máu của bê, nghé khỏe và bê, - Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ của bệnh giun đũa ở bê, nghé và biện pháp phòng trị tại ba huyện của tỉnh thái nguyên
Hình 3.9. Biểu đồ sự thay đổi một số chỉ số máu của bê, nghé khỏe và bê, (Trang 62)
Bảng 3.11. Sự thay đổi công thức bạch cầu của bê, nghé bị bệnh giun đũa - Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ của bệnh giun đũa ở bê, nghé và biện pháp phòng trị tại ba huyện của tỉnh thái nguyên
Bảng 3.11. Sự thay đổi công thức bạch cầu của bê, nghé bị bệnh giun đũa (Trang 64)
Bảng 3.13. Hiệu lực thuốc điều trị bệnh giun đũa cho bê, nghé - Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ của bệnh giun đũa ở bê, nghé và biện pháp phòng trị tại ba huyện của tỉnh thái nguyên
Bảng 3.13. Hiệu lực thuốc điều trị bệnh giun đũa cho bê, nghé (Trang 68)
Bảng 3.14. Một số chỉ tiêu sinh lý của bê, nghé trước và sau khi dùng thuốc - Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ của bệnh giun đũa ở bê, nghé và biện pháp phòng trị tại ba huyện của tỉnh thái nguyên
Bảng 3.14. Một số chỉ tiêu sinh lý của bê, nghé trước và sau khi dùng thuốc (Trang 69)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm