BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG TRỊNH UYÊN BẢO THỬ NGHIỆM NUÔI THƯƠNG PHẨM CÁ TRÊ SUỐI PHÚ QUỐC Clarias gracilentus Ng, Dang & Nguyen, 2011 TRONG HỆ THỐNG TUẦN HOÀN
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
TRỊNH UYÊN BẢO
THỬ NGHIỆM NUÔI THƯƠNG PHẨM CÁ TRÊ SUỐI PHÚ
QUỐC (Clarias gracilentus Ng, Dang & Nguyen, 2011) TRONG
HỆ THỐNG TUẦN HOÀN
LUẬN VĂN THẠC SĨ
KHÁNH HÒA - 2016
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
TRỊNH UYÊN BẢO
THỬ NGHIỆM NUÔI THƯƠNG PHẨM CÁ TRÊ SUỐI
PHÚ QUỐC (Clarias gracilentus Ng, Dang & Nguyen, 2011)
TRONG HỆ THỐNG TUẦN HOÀN
LUẬN VĂN THẠC SĨ
KHÁNH HÒA - 2016
Người hướng dẫn khoa học:
TS LÊ ANH TUẤN
Chủ tịch Hội đồng:
PGS.TS LẠI VĂN HÙNG
Khoa sau đại học:
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan mọi kết quả của đề tài: “Thử nghiệm nuôi thương phẩm cá Trê suối Phú Quốc (Clarias gracilentus Ng, Dang & Nguyen, 2011) trong hệ thống tuần hoàn” là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi và chưa từng được công bố trong
bất cứ công trình khoa học nào khác cho tới thời điểm này
Kiên Giang, Ngày 20 tháng 6 năm 2016
Tác giả luận văn
TRỊNH UYÊN BẢO
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian thực hiện đề tài, tôi đã nhận được sự giúp đỡ của quý phòng ban trường Đại học Nha Trang và quý Thầy Cô đã tạo điều kiện tốt nhất cho tôi được hoàn thành đề tài, đặc biệt là sự hướng dẫn tận tình của TS Lê Anh Tuấn đã giúp tôi hoàn thành tốt đề tài Qua đây, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến sự giúp đỡ của Trung tâm Khuyến nông tỉnh Kiên Giang, Th.s Đặng Khánh Hồng; Kỹ sư Nguyễn Thị
Lan Thanh, chủ nhiệm đề tài “Ứng dụng Công nghệ hệ thống tuần hoàn nuôi thương phẩm cá Trê suối Phú Quốc (Clarias gracilentus Ng, Dang & Nguyen, 2011)”đã nhiệt
tình giúp đỡ, tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành đề tài Xin được gởi lời cảm
ơn đến Ban Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Kiên Giang, Lãnh đạo Ban quản lý rừng An Biên-An Minh tỉnh Kiên Giang, Ban lãnh đạo Chi cục Chăn nuôi và Thú y, các anh, chị và các bạn đồng nghiệp cơ quan đã tạo điều kiện thuận lợi, giúp đỡ, động viên trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu của tôi
Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến gia đình và tất cả bạn bè đã giúp đỡ, động viên tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Tác giả
Trịnh Uyên Bảo
Trang 5MỤC LỤC
Trang phụ bìa Trang
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn iv
Mục lục ivi
Danh mục chữ viết tắt v
Danh mục các bảng viii
Danh mục hình ix
Danh mục biểu đồ vxii
Trích yếu luận văn xi
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 3
1.1.Một số đặc điểm sinh học của cá Trê suối Phú Quốc 3
1.1.1 Hệ thống phân loại 3
1.1.2 Đặc điểm hình thái 3
1.1.3 Sự phân bố 5
1.1.4.Đặc điểm dinh dưỡng 6
1.1.4.1.Hệ thống tiêu hóa 6
1.1.4.2.Tính ăn 2
1.1.5.Đặc điểm sinh trưởng 5
1.1.6.Đặc điểm sinh sản 6
1.1.6.1 Xác định giới tính 6
1.1.6.2 Các giai đoạn phát triển của tuyến dinh dục 6
1.1.6.3.Hệ số thành thục 6
1.2.Tổng quan về ứng dụng hệ thống tuần hoàn trong nuôi các loài thủy sản 7
1.2.1 Trên thế giới 7
1.2.2 Tại Việt Nam 10
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 12
2.1 Địa điểm, thời gian và đối tượng nghiên cứu 12
2.2 Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu 12
2.2.1.Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu 12
2.2.2 Nội dung nghiên cứu 12
Trang 62.2.3 Phương pháp thu thập số liệu 19
2.2.4 Phương pháp xử lý số liệu 23
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 24
3.1 Tình hình nuôi cá trê suối Phú Quốc tại Kiên Giang 24
3.1.1 Tình hình nuôi thử nghiệm cá trê suối Phú quốc trong ao 24
3.1.2 Hiện trạng kỹ thuật nuôi 25
3.1.2.1.Hệ thống công trình 25
3.1.2.2.Kiểm tra và tạo điều kiện môi trường thích hợp cho cá 26
3.1.2.3 Chọn và thả giống 26
3.1.2.4 Thức ăn và kỹ thuật cho ăn 26
3.1.2.5.Chăm sóc và quản lý 27
3.1.2.6 Bệnh và biện pháp phòng trị 27
3.2 Thử nghiệm nuôi cá trê suối Phú Quốc trong hệ thống tuần hoàn 28
3.2.1.Vận chuyển cá giống 20
3.2.2 Kết quả thí nghiệm nuôi cá trê suối trong hệ thống tuần hoàn 28
3.2.2.1.Diễn biến các yếu tố môi trường trong quá trình thí nghiệm 28
3.2.2.2.Ảnh hưởng của mật độ nuôi lên sinh trưởng của cá trê suối Phú Quốc 29
3.2.2.3 Ảnh hưởng của mật độ nuôi lên tỷ lệ sống và hiệu quả sử dụng thức ăn 30
3.3 Đánh giá hiệu quả các mô hình nuôi cá trê suối Phú Quốc 32
3.3.1 Hiệu quả kỹ thuật 32
3.3.2.Hiệu quả kinh tế và môi trường 33
CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT Ý KIẾN 35
4.1 Kết luận 35
4.1.1 Tình hình nuôi cá trê suối Phú Quốc tại Kiên Giang 35
4.1.2.Thử nghiệm nuôi cá trê suối Phú Quốc trong hệ thống tuần hoàn 35
4.1.3.Đánh giá hiệu quả các mô hình nuôi cá trê suối Phú Quốc 35
4.2 Đề xuất ý kiến 36
TÀI LIỆU THAM KHẢO 37
PHỤ LỤC 41
Trang 7DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
BOD Nhu cầu oxy sinh học (Biological Oxygen Demand) CDTB Chiều dài trung bình
DGR Tốc độ sinh trưởng hằng ngày (Daily Growth Rate)
FCR Hệ số chuyển đổi thức ăn (Food Conversion Ratio) KLTB Khối lượng trung bình
Trang 8
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Loại thức ăn và tần số xuất hiện thức ăn trong dạ dày cá trê suối Phú Quốc 3
Bảng 1.3 Tỷ lệ cấp độ no của cá trê suối Phú Quốc (n = 50) 4
Bảng 3.1 Kết quả nuôi thử nghiệm cá trê suối Phú Quốc trong ao tại Kiên Giang 25
Bảng 3.2 Các loại bệnh thường gặp ở cá trê suối nuôi thương phẩm 27
Bảng 3.3 Các yếu tố môi trường trong quá trình nuôi thương phẩm cá trê suối Phú Quốc28 Bảng 3.4 Kết quả tăng trưởng của cá trê suối Phú Quốc nuôi thử nghiệm 29
Bảng 3.5 Thông số sản xuất của các hệ thống nuôi cá trê suối Phú Quốc 32
Bảng 3.6 Hiệu quả kinh tế và môi trường của các hệ thống nuôi cá trê suối Phú Quốc 33
Trang 9DANH MỤCHÌNH
Hình 1.1 Hình dạng ngoài của cá trê suối Phú Quốc 3
Hình 1.2 Nơi ở của cá trê suối Phú Quốc vào mùa khô 6
Hình 1.3 Nơi ở của cá trê suối Phú Quốc vào mùa mưa 6
Hình 1.4 HìnhdạngphiếnrăngtiềnhàmvàlámíathứnhấtcủacátrêPhúQuốc 1
Hình 1.5 HìnhdạnglượcmangtrêncungmangcủacátrêPhúQuốc 1
Hình 1.6 Hình dạng ống tiêu hóa của cá trê Phú Quốc 2
Hình 1.7 Thức ăn đang tiêu hóa của cá trê Phú Quốc, (a) cá và (b) giáp xác 2
Hình 1.8 Lượngthứcănđượctìmthấyở mộtmẫucátrêPhúQuốc 3
Hình 1.9 Phân biệt đực cái ở cá trê Phú Quốc; (a) cá đực, (b) cá cái 6
Hình 2.1 Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu 12
Hình 2.2 Sơ đồ bố trí thí nghiệm nuôi cá trê suối thương phẩm bằng hệ thống tuần hoàn13 Hình 2.3 Mô tả hệ thống 15
Hình 2.4 Bể sinh học nhỏ giọt và bể sinh học hiếu khí 17
Hình 2.5 Bể lọc nhỏ giọt 19
Hình 3.1 Ao nuôi cá trê suối trên bể lót bạt 52
Hình 3.2 Ao nuôi cá trê suối có lót bạt 26
Bảng 3.2 Các loại bệnh thường gặp ở cá trê suối nuôi thương phẩm 27
Hình 3.4 Vận chuyển cá giống vào trại nuôi bằng thùng xốp 53
Hình 3.5 Xử lý cá trước khi thả vào bể nuôi 20
Hình 3.6 Cá trê suối giống khi thả nuôi 20
Trang 10DANH MỤC ĐỒ THỊ
Biểu đồ 3.1 Chiều dài cuối của cá trê suối nuôi ở các mật độ khác nhau 36 Biểu đồ 3.2 Tốc độ sinh trưởng đặc trưng (chiều dài) cá trê suối nuôi ở các mật độ khác nhau 36 Biểu đồ 3.3 Khối lượng sau của cá trê suối nuôi ở các mật độ khác nhau 37 Biểu đồ 3.4 Tốc độ sinh trưởng hàng ngày của cá trê suối nuôi ở các mật độ khác nhau 37 Biểu đồ 3.5 Tốc độ sinh trưởng đặc trưng của cá trê suối nuôi ở các mật độ khác nhau 38 Bảng 3.6 Tỷ lệ sống và hiệu quả sử dụng thức ăn của cá trê suối nuôi ở mật độ khác nhau 38 Biểu đồ 3.7 Lượng thức ăn được tiêu thụ bởi cá trê suối nuôi ở các mật độ khác nhau 39 Biểu đồ 3.8 Hệ số thức ăn của cá trê suối nuôi ở các mật độ khác nhau 40 Biểu đồ 3 Tỷ lệ sống của cá trê suối nuôi ở các mật độ khác nhau 40
Trang 11TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
Cá trê suối (Clarias gracilentus Ng, Dang & Nguyen, 2011) là một loài thủy sản
đặc hữu của huyện đảo Phú Quốc tỉnh Kiên Giang Do cá có phẩm chất thịt thơm ngon nên nhu cầu tiêu thụ cá trê suối Phú Quốc ngày càng tăng Việc khai thác cá chưa được quản lý nên có thể dẫn đến lạm thác và làm tuyệt chủng loài cá này.Đề tài luận văn được thực hiện nhằmlựa chọn mô hình nuôi thương phẩm thích hợp cho cá trê suối Phú Quốc qua đó đa dạng hóa đối tượng thủy sản nuôi, bảo tồn và phát triển loài thủy đặc sản có giá trị kinh tế này
Các nội dung nghiên cứu của luận văn được thực hiện dựa trên sự kết hợp giữa điều tra thực tiễn sản xuất qua phiếu câu hỏi và thí nghiệm Các kết quả nghiên cứu sau đó được phân tích, tổng hợp và đánh giá ở các khía cạnh kỹ thuật, kinh tế - xã hội
và hiệu quả sử dụng tài nguyên – môi trường
Từ kết quả nghiên cứu, một số kết luận được rút ra như sau:
- Mô hình nuôi trong ao lót bạt cho tỷ lệ sống cao hơn so với trong ao đất và mật
độ nuôi thích hợp nằm trong khoảng 4-5 con/m2 Kỹ thuật nuôi của dân còn ở mức độ
sơ khai: công trình nuôi đơn giản, công tác chăm sóc quản lý ao nuôi chưa được tốt, chất lượng nước nuôi kém dễ kéo theo một số bệnh trên cá nuôi như bệnh đốm đỏ, bệnh trắng da và bệnh hoại tử
- Về nuôi thử nghiệm trong bể tuần hoàn, các yếu tố môi trường nhìn chung không thích hợp cho sự phát triển của cá trê suối Phú Quốc: pH mang tính axit nhẹ (6,2 - 6,3); Các loại khí độc NO2 và NH3 ở mức gây hại và hàm lượng của chúng có xu hướng tăng lên khi mật nuôi tăng lên (NO2 từ 0,55-1,04; NH3 từ 0,55-0,92 tương ứng với mật độ 150-300 con/m3) Sau thời gian nuôi 09 tháng, khối lượng cá đạt cao nhất ở nghiệm thức mật độ 150 con/m3 (44,0 g/con), thấp nhất ở nghiệm thức 300 con/m3
(34,3 g/con) (P<0,05).Hệ số thức ăn (FCR = 2,0 ± 0,02) và tỷ lệ sống của cá trê suối nuôi (70,3-72,3%) không khác nhau có ý nghĩa giữa các nghiệm thức (P>0,05)
- Nuôi cá trê suối Phú Quốc trong ao, đặc biệt ao lót bạt ít rủi ro nhất và đạt hiệu quả về mặt kỹ thuật, kinh tế và môi trường: Tốc độ sinh trưởng (0,66-1,24%/ngày), Lợi nhuận biên (60,2-65,5%), Tỷ suất lợi nhuận (151,4-190,1%), Hiệu quả sử dụng Ni-tơ (~28%) đều ở mức cao
Trang 12MỞ ĐẦU
Lý do chọn đề tài
Cá trê suối (Clarias gracilentus Ng, Dang & Nguyen, 2011) là một loài thủy sản
đặc hữu của huyện đảo Phú Quốc tỉnh Kiên Giang.Trong tự nhiên, nơi ở của cá Trê suối Phú Quốc là những con suối có nước chảy nhẹ hay các bưng trong rừng của vườn Quốc gia nằm ở phía bắc đảo.Vào mùa khô, khi nước trong suối và bưng bị cạn, cá có thể ẩn mình trong các hang hốc nhỏ dưới các gốc cây chết.Đến mùa mưa, do lượng mưa lớn nên các bưng, suối bị tràn nước và môi trường sống của cá được mở rộng ra
Từ lâu, người dân trên đảo đã tiến hành khai thác loài cá này và sử dụng như nguồn thực phẩm cá nước ngọt Do cá có phẩm chất thịt thơm ngon nên nhu cầu tiêu thụ cá Trê suối Phú Quốc ngày càng tăng Việc khai thác cá chưa được quản lý nên có thể dẫn đến khai thác quá mức và làm tuyệt chủng loài cá này Năm 2011, cá Trê suối
Phú Quốc, với tên khoa học Clarias gracilentus Ng, Dang & Nguyen, 2011, đã được
định danh,bổ sung vào các loài cá trê của Việt Nam và thế giới
Kết quả khảo sát được từ thực tế những năm qua cho thấy việc nuôi cá Trê suối Phú Quốc còn tồn tại một số khó khăn như: đây là đối tượng mới, sống trong môi trường nước suối trong và nhiệt độ không cao, thời gian nuôi lại dài (12 tháng), người dân muốn nuôi được phải chủ động nguồn nước; tăng sản lượng, người nuôi phải thâm canh hóa bằng cách gia tăng mật độ nuôi, tận dụng tối đa quỹ đất sẵn có để xây dựng các bể nuôi; sử dụng lượng lớn thức ăn giàu chất dinh dưỡng (35-42% đạm cho thức
ăn viên), dẫn đến việc thay nước thường xuyên và một lượng lớn chất thải từ hệ thống nuôi được xả vào môi trường, làm cho môi trường nuôi và nguồn nước cấp bị ô nhiễm, ảnh hưởng tới tài nguyên nước và nguồn lợi thủy sản tự nhiên; sử dụng thuốc và hóa chất quản lý dịch bệnh trong điều kiện nuôi mật độ cao, những hóa chất này sẽ tồn lưu trong sản phẩm làm giảm chất lượng sản phẩm; nguồn nước nuôi thường bị ô nhiễm không được trong sẽ làm ảnh hưởng đến màu sắc cá, cá không được sáng đẹp, giảm giá trị cá nuôi
Từ những quan tâm về sự ô nhiễm trong nuôi trồng thủy sản và những tồn tại của nghề nuôi cá Trê suối Phú Quốc hiện nay, việc xây dựng mô hình nuôi ít thay nước, giảm xả chất thải vào môi trường, tăng hiệu quả sử dụng thức ăn và tăng sản lượng trên một đơn vị diện tích là cần thiết Theo Verdegem et al, (2006) hệ thống nuôi thủy
Trang 13sản tuần hoàn nước (Recirculating Aquaculture System – RAS) là mô hình giải quyết được các vấn đề sử dụng tài nguyên nước và giúp nghề nuôi phát triển bền vững Nhằm hướng đến nuôi những loài thủy sản đạt sản lượng lớn, năng suất cao, chất lượng tốt, tiết kiệm diện tích và không gây ô nhiễm môi trường, công nghệ nuôi thủy sản trong hệ thống lọc tuần hoàn là một sự lựa chọn hợp lý
Từ những mục đích trên thì đề tài: “Thử nghiệm nuôi thương phẩm cá Trê suối Phú Quốc (Clarias gracilentus Ng, Dang & Nguyen, 2011) trong hệ thống tuần hoàn ” là hướng đi rất cần thiết
Nội dung nghiên cứu
Mục tiêu chung
Đa dạng hóa các đối tượng thủy sản nuôi, bảo tồn và phát triển các loài thủy đặc sản có giá trị kinh tế; lựa chọn mô hình nuôi thương phẩm thích hợp cho cá Trê suối Phú Quốc trên cơ sở hạn chế sử dụng thuốc hóa chất trong nuôi thủy sản, tiết kiệm nguồn tài nguyên nước sử dụng, giảm ô nhiễm môi trường
Mục tiêu cụ thể
Tìm hiểu nghề nuôi cá trê suối Phú Quốc trong ao đất tại huyện đảo Phú Quốc và thử nghiệm nuôi thương phẩm bằng hệ thống tuần hoàn, qua đó nhằm đề xuất mô hình nuôi thích hợp cho đối tượng này
Nội dung nghiên cứu
- Tình hình nuôi cá trê suối Phú Quốc tại Kiên Giang
- Thử nghiệm nuôi cá trê suối Phú Quốc trong hệ thống tuần hoàn
- Đánh giá hiệu quả các mô hình nuôi cá trê suối Phú Quốc
Ý nghĩa của đề tài
Về mặt khoa học, đề tài góp phần xây dựng cơ sở dữ liệu sinh học thực nghiệm
về cá trê suối Phú Quốc ở Kiên Giang trong điều kiện nuôi
Về mặt thực tiễn, đề tài góp phần xây dựng mô hình nuôi thương phẩm thích hợp cho cá trê suối Phú Quốc tại Kiên Giang
Trang 14CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
1.1 Một số đặc điểm sinh học của cá Trê suối Phú Quốc
1.1.1 Hệ thống phân loại
Lớp cá xương: Osteichthyes
Bộ cá nheo: Siluriformes
Họ cá trê: Clariidae Giống cá trê: Clarias Scopoli 1777
Loài: Clarias gracilentus Ng, Dang & Nguyen, 2011
Tên Việt Nam: cá trê suối Phú Quốc
”Nguồn: nhóm tác giả Nguyễn Văn Tư, Đặng Khánh Hồng và Heok Hee Ng”
Hình 1.1Hình dạng ngoài của cá trê suối Phú Quốc 1.1.2 Đặc điểmhình thái
Đầu cá trê suối Phú Quốc nhỏ và dẹt đứng, mặt lưng hơi cong và mặt bụng thẳng Mặt lưng của đầu cá phủ da dầy nên rất khó nhận thấy các xương đầu Cặp lỗ mũi trước dạng ống và nằm ở giữa đối với gốc râu hàm trên Cặp lỗ mũi sau được bao quanh bởi râu mũi và nằm ở giữa-sau đối với gốc râu hàm trên Mắt nhỏ, hình oval nằm ở mặt lưng–bên với trục dọc lớn nhất
Miệng cá trê suối Phú Quốc gần tận cùng với các môi có nếp gấp và nhiều thịt Răng miệng nhỏ và sắp xếp thành nhiều hàng không đều trên các tấm răng Tấm răng tiền hàm có dạng hình chữ nhật Tấm răng trên xương lá mía liên tục ngang đường giữa Cá có bốn đôi râu dài, mảnh và dầy lên ở phần gốc Râu hàm trên có thể kéo dài tới gốc của tia vây thứ ba hoặc bốn của vây lưng Râu mũi kéo dài tới giữa vây ngực
Trang 15Râu trong hàm dưới nằm gần giữa, dài và dầy hơn râu mũi, và kéo dài tới quá gốc tia vây ngực cuối Râu ngoài hàm dưới nằm sau bên so với râu trong hàm dưới và kéo dài tới điểm giữa khoảng cách gốc tia vây ngực cuối và gốc tia vây bụng thứ nhất
Cá trê vàng có 4 đôi râu khá phát triển: 1 đôi râu mũi, 1 đôi râu mép và 2 đôi râu cằm dưới, râu mép
Cá trê phi Clarias griepinuscó 8 râu (Nandi và ctv, 1992)
Cơ thể cá trê suối Phú Quốc hình ống, dạng chình và trở nên dẹt đứng ở phần cuống đuôi Mặt lưng của cá nâng cao từ mõm cho tới khởi điểm vây lưng và sau đó gần như nằm ngang cho tới cuống đuôi Mặt bụng của cá hơi cong cho tới phần giữa đầu và sau đó gần như nằm ngang cho tới cuống đuôi Da cá trơn láng Đường bên của
cá tương đối rõ và liên tục, nằm trên trục ngang giữa thân và vây, kéo dài từ sau đầu đến điểm gốc vây đuôi Cơ thể cá trê vàng thân dài phía trước tròn, phần sau mỏng, dẹp Cuống đuôi ngắn Cơ gốc vi phát triển, phủ lên gần tới ngọn các tia vi Gai vi ngực cứng, đầu đều có răng cưa hướng xuống gốc, xương đai vi ngực lộ hẳn ra ngoài
Vi đuôi tròn chẻ hai (Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương, 1993) Cá trê phi hình trụ, đuôi dẹp, xương chầm có hình “M” rất nhọn và rõ, đây là đặc điểm để phân biệt với các loài cá trê khác (Huỳnh Văn Dứt, 2005)
Vây lưng dài, khoảng 3 phần 4 chiều dài thân, được bao phủ bởi lớp da dầy Rìa vây lưng thẳng, song song với cạnh lưng của thân Vây ngực có một gai nhỏ với 8 tia vây Gốc vây bụng ở khoảng 1 phần 3 phía trước thân với 6 tia vây (i,5) Vây hậu môn dài, khoảng 3 phần 5 chiều dài thân, được bao phủ bởi lớp da dầy với 74–92 tia vây Rìa vây hậu môn thẳng, song song với cạnh bụng của thân.Cá có cuống đuôi rất ngắn.Vây đuôi tròn.Vây lưng, vây đuôi và vây hậu môn không dính liền nhau
Về màu sắc: cá trê suối Phú Quốc có màu nâu đậm ở phần lưng và bên của đầu
và thân, nhạt dần về phần bụng Hai bên thân cá có các hoa văn 2 dãy không đều các điểm màu trắng lớn hơn chạy dọc theo thân cá và phía dưới đường bên.Đối với cá trê vàngmặt lưng của thân ở phần đầu có màu xám đến nâu đen và nhạt dần xuống mặt bụng và dưới của đầu có màu vàng.Trên thân có 10 hàng chấm nhỏ nằm vắt ngang thân (Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương, 1993).Cá trê phi có màu xám tro nhạt xen kẻ với hoa vân màu cẩm thạch hai bên mặt lưng, dưới bụng có màu hơi xám trắng, có 8 râu (Nandi và ctv, 1992)
Trang 161.1.3 Sự phân bố
Ở Việt Nam có 6 loài cá trê đã được mô tả, đó là: cá trê đen (C fuscus) ở miền Bắc (Mai Đình Yên, 1978; Nguyễn Văn Hảo, 2005), cá trê trắng (C batrachus) và cá trê vàng (C macrocephalus) ở miền Nam (Mai Đình Yên và ctv., 1992; Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương, 1993; Nguyễn Văn Hảo, 2005), cá trê xám (C meladerma) ở miền Nam (Nguyễn Văn Hảo, 2005), cá trê đuôi vẹo niêu (C nieuhofii)
và cá trê đuôi vẹo cata (C cataractus) ở Tây nguyên (Nguyễn Thị Thu Hè, 2000;
Nguyễn Văn Hảo, 2005) Vào những năm 1970 của thế kỉ XX, Việt Nam đã nhập nội
loài cá trê phi (C gariepinus)
Theo Ng (1999), chín loài của giống Clarias được công nhận ở Đông Nam Á
(bao gồm Thái Lan, Việt Nam, Campuchia, Malaysia, Philippines và Indonesia) là
Clarias anfractus Ng, 1999; C batrachus Linnaeus, 1758; C batu Lim & Ng, 1999;
C leiacanthus Bleeker, 1851; C macrocephalus Günther, 1864; C meladerma Bleeker, 1846; C nieuhofii Valenciennes, in Cuvier & Valenciennes, 1840; C olivaceus Fowler, 1904 và C planiceps Ng, 1999 Tác giả này không đề cập tới C fuscus Lacepède, 1803, một loài thuộc khu hệ cá Trung Quốc, với một ghi nhận ở
Philippines (Fowler, 1941) có thể đã được đưa ra bởi sự nhận dạng nhầm và một ghi nhận khác về loài này tại Sumatra (Valenciennes, 1840) nhưng gần đây được xem như
là mẫu vật của C leiacanthus Tuy thế, Pouyaud (2001) đề nghị xem loài này (C fuscus), chỉ xuất hiện ở miền Bắc Việt Nam, như một loài của giống Clarias khu vực Nam Á Gần đây, nhiều loài cá trê mới đã được mô tả bao gồm C microstomus Ng, 2001; C intermedius Teugels, Sudarto & Pouyaud, 2001; C insolitus Ng, 2003; C nigricans Ng, 2003; C kapuasensis Teugels, Pouyaud & Sudarto, 2003; C pseudoleiacanthus Teugels, Sudarto & Pouyaud, 2003; C sulcatus Ng, 2004; C pseudonieuhofii Sudarto, Teugels & Pouyaud, 2004 và C microspilus Ng & Hadiaty,
2011, đã làm tăng số loài cá trê ở khu vực Đông Nam Á lên 20 loài (Ng và ctv, 2011)
Các loài cá trê nói chung đều chịu đựng cao với môi trường khắc nghiệt như: ao
tù, mương rãnh, nơi có hàm lượng oxygen thấp vì cơ thể cá trê có cơ quan hô hấp phụ gọi là “hoa khế” giúp cá hô hấp được nhờ khí trời Phân bố ở sông, suối, ao, mương, rạch đầm.Thái Lan, Malaysia, Philipine, Lào Ở Việt Nam gặp nhiều ở Nam Bộ (Võ Thị Thùy Trang, 2009)
Trang 17Trong tự nhiên cá trê Phú Quốc sống ở những con suối có nước chảy nhẹ hay các bưng trongrừng của Vườn quốc gia nằm phía bắc đảo huyện Phú Quốc tỉnh Kiên Giang Vào mùa khô, khi nước trong suối và bưng bị cạn, cá có thể ẩn mình trong các hang hốc nhỏ dưới các gốc cây chết (Hình 1.2) Đến mùa mưa, do lượng mưa lớn nên các bưng, suối bị tràn nước và môi trường sống của cá được mở rộng ra khỏi phạm vi rừng của Vườn quốc gia Phú Quốc, thậm chí tới đất canh tác ven rừng (Hình 1.3) Chất lượng nước của môi trường sống của cá trê Phú Quốc trong các bưng, suối trong rừng như sau: nhiệt độ nước = 24°C, oxygen hòa tan = 4 mg/L, pH = 4,5 – 5 và ammonia (NH3) = 0 mg/L (Đặng Khánh Hồng, Nguyễn Văn Tư, 2009)
Tuy nhiên, khi đưa vào nuôi thương phẩm cá vẫn có thể sống và tăng trưởng tốt trong môi trường ao đất, ít thay nước (các mô hình đã thực hiện tại huyện Phú Quốc từ năm 2009 đến năm 2012)
Cá trê suối Phú Quốc là loài đặc hữu của vùng đất này đồng thời là một loài thủy sản mới được định danh vào năm 2011 Trước đây có tài liệu cho rằng tiến sĩ Heok Hee Ng, nhà phân loại học tại trường Đại học quốc gia Singapore đã từng bắt gặp loài
cá này ở Campuchia (Đặng Khánh Hồng, Nguyễn Văn Tư, 2009)
Hình 1.2 Nơi ở của cá trê suối Phú Quốc vào
mùa khô
Hình 1.3 Nơi ở của cá trê suối Phú Quốc vào mùa
mưa
(Nguồn: Đặng khánh Hồng, Nguyễn Văn Tư, 2009)
1.1.4 Đặc điểm dinh dưỡng
2.2.1.1 Hệ thống tiêu hóa
Hệ thống tiêu hóa của cá trê Phú Quốc bao gồm cơ quan bắt mồi là miệng, răng, lược mang và cơ quan tiêu hóa là thực quản, dạ dày, ruột
Trang 18Cơ quan bắt mồi
Cá trê Phú Quốc có miệng rộng ở tận cùng của đầu Trong miệng có nhiều răng nhỏvà nhọn, mọc thành nhiều hàng trên hàm và xương lá mía Tấm răng tiền hàm và xương lámía hình vòng cung liên tục Với miệng rộng và răng khá phát triển, có thể dự đoán đây làloài cá ăn tạp thiên về động vật (Hình 1.4) Lược mang cá trê Phú Quốc có hình que, phân bố trên các đôi cung mang.Ở cungmang thứ nhất có 17–20 lược mang.Các lược mang của cá trê Phú Quốc ít phát triển sovới cá dữ như cá lóc (Hình 1.5) (Đặng Khánh Hồng, Nguyễn Văn Tư, 2009)
Hình 1.4 Hình dạng phiến răng tiền hàm và lá mía thứ nhất của cá trê Phú Quốc
(Nguồn: Đặng Khánh Hồng, Nguyễn Văn Tư, 2009)
Hình 1.5HìnhdạnglượcmangtrêncungmangcủacátrêPhúQuốc
(Nguồn: Đặng Khánh Hồng, Nguyễn Văn Tư, 2009)
Cơ quan tiêu hóa :
Cá trê Phú Quốc có thực quản ngắn, hình ống Vách thực quản dày và ranh giới giữa thực quản và dạ dày không rõ ràng Dạ dày cá trê Phú Quốc rất phát triển và có vách dày Dạ dày cá có khả năng co giãn lớn Ruột của cá trê Phú Quốc ngắn, gấp khúc và có
vách tương đối dày (Hình 1.6)
Trang 19Hình 1.6 Hình dạng ống tiêu hóa của cá trê Phú Quốc
((Nguồn: Đặng Khánh Hồng, Nguyễn Văn Tư, 2009)
Chiều dài tương đối của ruột (RLG) nhỏ hơn 1, ruột của cá có tính ăn động vật (Nikolsky,1963) RLG ít thay đổi ở các nhóm cá có chiều dài khác nhau Điều này chứng tỏ cá trê Phú Quốc không thay đổi tính ăn theo sự sinh trưởng của cá
1.1.4.2 Tính ăn
Thức ăn và sự ăn mồi:
Theo Nguyễn Văn Tư và ctv (2009), kết quả phân tích mẫu thức ăn trong dạ dày của 60 con cá trê Phú Quốc thu được cho thấy các loại thức ăn phổ biến là cá (cá bã
trầu (Bettacf.prima), cá lóc (Channasp.)) với tần số xuất hiện cao nhất; tiếp theo là giáp
xác (chủ yếu là cua), côn trùng (kiến, mối, nhện) Ở một vài mẫu còn tìm thấy lá cây và
rễ cây nhỏ với tần số xuất hiện thấp (Bảng1 2 ) Ở nhiều mẫu dạ dày của cá trê Phú Quốc, cá mồi chỉ mới bắt đầu được tiêu hóa và vẫn còn giữ nguyên hình dạng; đặc biệt
ở 2 mẫu dạ dày có thể nhận thấy cá mồi là cá trê suối Phú Quốc Điều này cho thấy cá trê suối Phú Quốc sẵn sàng ăn nhau khi bị đói ( Nguyễn Văn Tư và ctv, 2009)
Hình 1.7 Thức ăn đang tiêu hóa của cá trê Phú Quốc, (a) cá và (b) giáp xác
(Nguồn: Nguyễn Văn Tư và ctv, 2009)
Trang 20Khảo sát những mẫu cá trê Phú Quốc có thức ăn chứa đầy trong ống tiêu hóa thì thức ăn là cá có thể chiếm đến 80,78% tổng khối lượng thức ăn có trong dạ dày Dựa vào việc phân tích thành phần thức ăn theo phương pháp tần số xuất hiện và khối lượng, nhóm tác giả cho rằng thức ăn ưa thích của cá trê Phú Quốc là cá và giáp xác Thức ăn có nguồn gốc thực vật có thể là thức ăn tình cờ khi cá ăn các loại thức ăn ưa thích Lọp bắt cá trê suối Phú Quốc thường được đặt trong vùng ngập nước có nhiều cây cỏ nên cá đã ngẫu nhiên ăn phải thức ăn này (Nguyễn Văn Tư và ctv, 2009)
Bảng 1.1 Loại thức ăn và tần số xuất hiện thức ăn trong dạ dày cá trê suối Phú
Hình 1.8 Lượng thức ăn được tìm thấy ở một mẫu cá trê Phú Quốc
(Nguồn: Nguyễn Văn Tư và ctv, 2009) Tuy nhiên, do các mẫu cá trê Phú Quốc đã khảo sát được thu bằng hình thức đặt lọp nên thành phần thức ăn chủ yếu là các sinh vật khác đã đi vào trong lọp.Trong
tự nhiên (cá tự do tìm mồi) thành phần thức ăn của cá trê suối Phú Quốc có thể đa dạng hơn (Nguyễn Văn Tư và ctv, 2009)
Trang 21Chỉ số độ no
Chỉ số độ no phản ánh cường độ ăn mồi và lượng ăn của cá Chỉ số độ no của cáphụ thuộc vào nhiều yếu tố như chất lượng môi trường nước, chất lượng thức ăn, trạng tháisinh lý của cá,….Kết quả khảo sát 50 mẫu cá có chứa thức ăn trong dạ dày cho thấy chỉ số độ no đạttừ cấp 1 đến cấp 5, không có cấp 0 Tỷ lệ cá có chỉ số độ no
từ cấp 3 trở lên chiếm 80%cho thấy cường độ ăn mồi của cá rất lớn (Bảng 1.3)(Nguyễn Văn Tư và ctv, 2009)
Bảng 1.2 Tỷ lệ cấp độ no của cá trê suối Phú Quốc (n = 50)
Chỉ số no đầy chung của cá là 148,2 Ngoài ra, có mẫu dạ dày chứa thức ăn đến
5 cá mồi (Hình1.10) nên có thể nói cá trê suối Phú Quốc có lượng thức ăn rất lớn Do
cá trê suối Phú Quốc được đánh bắt bằng lọp Lọp được đặt vào chiều ngày hôm trước và thu vào sáng ngày hôm sau Hầu hết các mẫu dạ dày của cá đều có đầy thức
ăn nên nhóm nghiên cứu dự đoán đây là loài cá có tập tính ăn mồi ban đêm Tất cả các mẫu dạ dày được khảo sát đều có thức ăn đang trong giai đoạn bị tiêu hóa nên có thể nói cá trê suối Phú Quốc là loài rất háu ăn; sau khi ăn no và tiêu hóa hết thức ăn
cá mới ăn lại (Nguyễn Văn Tư và ctv, 2009)
Cá trê nói chung là những loài sống đáy, thích nơi tối tăm bụi rậm, nên đôi râu rất phát triển để tìm mồi (Togsanga và ctv, 1963; Dương Thúy Yên , Vũ Ngọc Út, 1991)
So sánh tính ăn và sự ăn mồi của cá trê suối Phú Quốc với các loài cá trê khác:
Cá trê vàng là loài ăn tạp thiên về động vật (Goss, 1963, Dương Thúy Yên , Vũ Ngọc Út, 1991) Giai đoạn cá hương và cá giống thức ăn chủ yếu là Daphnia, copepoda ngoài ra trong dạ dày còn xuất hiện một số giống loài thực vật phù du với lượng rất nhỏ ( Lê Thị Kim Hoa, 1981; Dương Thúy Yên , Vũ Ngọc Út, 1991) Cá
Trang 22trưởng thành có tính ăn thịt, nhất là thức ăn thối rữa ( Blache, 1964; Dương Thúy Yên, Vũ Ngọc Út, 1991)
Cá trê là loài ăn tạp thiên về chất hữu cơ là xác chết động vật Khi còn ở giai đoạn cá bột và cá hương, cá trê cũng thể hiện tính hung dữ như cá tra (Phạm Minh Thành và Nguyễn Văn Kiểm, 2008) Cá trê vàng lai có tính ăn tương tự như cá trê vàng, ăn tạp và rất háu ăn (Bạch Thị Huỳnh Mai, 2004)
1.1.5 Đặc điểm sinh trưởng
Sinh trưởng của cá là quá trình gia tăng về kích thước và khối lượng cơ thể Quá trình này đặc trưng cho từng loài cá và thể hiện qua mối tương quan giữa chiều dài và khối lượng của cá (Nikolsky, 1963)
Phương trình tương quan giữa chiều dài (L = 8,8–46,0 cm) và khối lượng (W = 2,6–420 g), từ 80 mẫu cá thu được, của cá trê Phú Quốc là W = 0,0037 L3,0747với hệ sốtương quan R2 = 0,9835 (Hình11 ) Với giá trị R thu được cho thấy tương quan giữa chiều dài và khối lượng của cá trê Phú Quốc là rất chặt chẽ Phân tích tương quan giữa chiều dài và khối lượng cho thấy, khi cá trê Phú Quốc còn nhỏ (L < 25 cm) cá tăng trưởng chủ yếu về chiều dài và tăng trưởng về khối lượng không đáng kể; khi cá lớn hơn (L > 25 cm), cá bắt đầu tăng trưởng nhanh về khối lượng (Nguyễn Văn Tư và ctv, 2009)
Theo Mai Đình Yên và ctv, (1982) thì sự tăng nhanh về chiều dài ở giai đoạn
đầu của đời sống có ý nghĩa thích nghi rất lớn nhằm vượt khỏi sự chèn ép của kẻ thù; sau đó quá trình tăng trưởng giữa chiều dài và khối lượng diễn ra song song và trước lúc đạt sự thành thục sinh dục lần đầu cá chủ yếu tăng nhanh về khối lượng Quy luật này cũng phù hợp đối với sự tăng trưởng của cá trê Phú Quốc trong tự nhiên
Do cá được khai thác chủ yếu bằng lọp kích cỡ nhỏ nên mẫu cá lớn nhất mà nhóm tác giả thu được đạt chiều dài tổng cộng 38,7 cm Tuy nhiên, theo mô tả của ngư dân, kích cỡ cá lớn nhất đã được đánh bắt ngoài tự nhiên có thể đạt tới 70 cm
Theo Lê Trọng Lư và Ngô Đăng Khuyến, (2000) Cá trê vàng lớn 01 tuổi , thân dài 20,5 cm, nặng 70g Cỡ cá lớn 02 tuổi dài 35 cm, nặng 250 g
Tốc độ tăng trưởng của cá trê vàng ở mức trung bình, ở giai đoạn cá bột lên cá giống tăng nhanh về chiều dài Khi đạt 15 cm thì trọng lượng của cá tăng nhanh hơn (Đoàn Khắc Độ, 2008)
Trang 23Cá trê phi có tốc độ lớn nhanh , 6 tháng đạt bình quân 1kg/con, thân thường dài 35-50 cm, nặng 250-2500 g có con 2 tuổi đạt 4,3 kg, thân dài 63 cm (Ngô Trọng Lư
và Lê Đăng Khuyến, 2000)
Theo Đoàn Khắc Độ (2008) thì cá trê vàng lai cũng tăng trọng rất nhanh Nếu nuôi với mật độ thích hợp với chế độ cho ăn và chăm sóc tốt thì 3-4 tháng nuôi cá sẽ đạt trọng lượng 150-200g/con
1.1.6 Đặc điểm sinh sản
1.1.6.1 Xác định giới tính
Hình 1.9 Phân biệt đực cái ở cá trê Phú Quốc; (a) cá đực, (b) cá cái
(Nguồn: Nguyễn Văn Tư và ctv, 2009)
Việc xác định giới tính ở cá trê Phú Quốc là tương đối dễ dàng; đặc biệt, đối với những cá thể đã thành thục sinh dục.Đối với cá đực, gai sinh dục dài hình tam giác, phía đầu mút nhọn, thường có màu trắng đến hồng nhạt.Đối với cá cái, không có gai sinh dục, lỗ sinh dục tròn, thường có màu trắng đến hồng nhạt.Cá cái khi thành thục sinh dục có bụng to, mềm đều, lỗ sinh dục phồng to và có màu ửng hồng (Hình 1.12).Ngoài ra, cá trê Phú Quốc đực thường có kích thước và trọng lượng lớn hơn cá cái cùng tuổi
1.1.6.3 Hệ số thành thục
Mối tương quan giữa HSTT và các giai đoạn phát triển tuyến sinh dục
Trang 24Hệ số thành thục trung bình của cá cái và cá đực đều tăng dần từ giai đoạn II, III
và IV với các chỉ số GSI lần lượt là 0,2, 0,46 và 3,19% cho cá cái, và 0,16; 0,20 và 0,27% cho cá đực (Hình 1.17) Theo Xakun và Buskaia (1968), GSI đạt cao nhất ở cả hai giới tính khi tuyến sinh dục đạt giai đoạn IV thành thục Đây là giai đoạn cá có thể tham gia sinh sản khi có các điều kiện sinh thái thích hợp Cá cái khi thành thục sinh dục có chỉ số GSI (3,19%) cao hơn rất nhiều so với cá đực (0,27%)
Cá trê Phú Quốc có tuổi thành thục về sinh dục tương đối sớm (1+).Mùa vụ sinh sản của cá bắt đầu vào đầu mùa mưa.Cá trê Phú Quốc có sức sinh sản tương đối lý thuyết là 19.687 trứng/kg thể trọng (Nguyễn Văn Tư và ctv, 2009)
So sánh đặc điểm sinh sản của cá trê suối Phú Quốc và một sô đối tượng khác:
Cá trê vàng thành thục sinh dục lần đầu tiên khi được 8 tháng tuổi, mùa vụ sinh sản tập trung từ tháng 5-7 và đẻ trứng dính (Phạm Minh Thành,2005) Thân cá dài 37cm có 35.770 trứng, thân cá dài 19cm có 10.640 trứng (Ngô Trọng Lư và Lê Đăng Khuyến, 2000).Cá trê vàng không thể tự sinh sản, phải tiêm kích dục tố để kích thích
sự sinh sản của chúng Cá trê vàng đẻ trứng tương đối nhiều, trung bình 50.000 trứng/1kg cá cái (Đoàn Khắc Độ,2008)
30.000-Cũng giống như các loài cá khác, cá trê Phi thành thục sinh dục và sinh sản theo mùa mưa Quá trình thành thục sinh dục chịu ảnh hưởng của sự thay đổi nhiệt độ và chu kỳ chiếu sáng hàng năm và cuối cùng là đẻ trứng do sự gia tăng mực nước theo lượng mưa (Gertjan de Graaf and Hans Janssen, 1996) Đối với cá trê Phi, sinh sản kéo dài từ tháng 4-10, sinh sản tập trung từ tháng 5-8, sau tháng 10 cá ít sinh sản Giới hạn nhiệt độ nước cho quá trình sinh sản từ 20- 36oC, cá trê Phi được nuôi vỗ tích cực
và có nước chảy kích thích thì chu kỳ đẻ trứng rút ngắn xuống còn từ 15-20 ngày, mỗi năm cá có thể tham gia sinh sản 8-11 lần (Ngô Trọng Lư và Lê Đăng Khuyến, 2000).Trong tự nhiên cá trê chọn nơi có bóng tối ở các thủy vực nước nông thuộc sông hồ, các con suối để làm tổ và đẻ trứng (Gertjan de Graaf and Hans Janssen, 1996)
1.2 Tổng quan về ứng dụng hệ thống tuần hoàn trong nuôi các loài thủy sản 1.2.1 Trên thế giới
Hệ thống tuần hoànRAS (Recirculating Aquaculture System) là một hệ thống nuôi khép kín, ít hoặc không thay nước Nước trong hệ thống nuôi được lọc sạch, tái
Trang 25sử dụng liên tục và ổn định chất lượng nhờ các cơ chế lọc sinh học và cơ học Các hợp phần của hệ thống xử lý nước được thiết kế với chức năng khác nhau để duy trì chất lượng nước khi thức ăn được cung cấp liên tục vào hệ thống nuôi Các hợp phần này bao gồm hệ thống tách chất thải rắn, cung cấp oxy, khử chất hữu cơ hòa tan, lọc sinh học khử NH3, NO2, và NO3 nhờ hoạt động của các nhóm vi khuẩn chuyển hóa đạm Tảo hay các loại thực vật thủy sinh cũng được sử dụng kết hợp để xử lý nước
(Timmons et al, 2002) Hiện nay, hệ thống nuôi thủy sản tuần hoàn nước đã được các
nước phát triển ứng dụng rất thành công trong sản xuất thâm canh cá trê phi, cá chình,
cá hồi, cá bơn và cá rô phi Hệ thống tuần hoàn có một số ưu điểm sau: 1) ít tốn không gian hay diện tích nuôi; 2) nuôi mật độ cao nên làm tăng năng suất; 3) ít tiêu thụ nước
so với nuôi thông thường; 4) an toàn sinh học và thực phẩm, hạn chế sử dụng thuốc và hóa chất; 5) không ô nhiễm môi trường; 6) nâng cao chất lượng sản phẩm
Hệ thống lọc sinh học bao gồm: lọc chảy nhỏ giọt (Trickling filter) lọc quay (Rotating biological contactor), lọc hạt (Bead filter), lọc giá thể chuyển động (Moving bed biofilm reactor), lọc giá thể chìm (Submerged filter), lọc dòng đáy (Fluidized bed filter) Trong đó lọc chảy nhỏ giọt, lọc quay và lọc giá thể chuyển động được sử dụng phổ biến
Trong hệ thống tuần hoàn (nói chung) khoảng 3% thức ăn hàng ngày sẽ được sinh ra dưới dạng ammonia-nitơ mặc dù nó cũng liên quan đến hàm lượng protein có trong thức ăn Ngoài ra, thức ăn dư thừa và vật chất hữu cơ được vi khuẩn phân hủy sinh ra ammonia thông qua quá trình khoáng hóa Bên cạnh đó, 1g ammonia sinh ra 4,42 g nitrate và 5,93 g gam CO2, thêm vào đó là lượng nhỏ sinh khối của vi sinh vật Quá trình nitrate hóa này tiêu thụ 4,57 g O2 and 7,14 g độ kiềm (Eding et al, 2006)
Những thuận lợi của lọc chảy nhỏ giọt (trickling filter) so với các loại lọc khác là: (1) độ bền quy trình cao (do xy hòa tan cao); (2) khử CO2 tốt ; (3) nước sẽ mát hơn vào mùa hè nóng; và (4) dễ thiết kế xây dựng, vận hành và quản lý Tuy nhiên hệ thống này cũng tồn tại nhiều khuyết điểm: (1) tỷ lệ thể tích nước xử lý thấp (2) lớp màng nhày vi sinh vật (biofilm) dễ bong tróc; và (3) rủi ro sự cố nghẹt khi thiết kế và
vận hành không hợp lý (Eding et al, 2006)
Hệ thống lọc giá thể chuyển động (moving bed bioreactor) được phát triển đầu tiên ở Na Uy vào những năm đầu của thập niên 80 Hiện nay hệ thống này được sử
Trang 26dụng phổ biến ở châu Âu trong các mô hình nuôi thương phẩm lớn nhỏ vì những tiện ích: quá trình xử lý của vi sinh vật được diễn ra liên tục, màng vi sinh vật không bị bong tróc với diện tích bề mặt lớn và không cần vệ sinh nhiều Màng vi sinh vật hoạt động trên giá thể được diễn ra liên tục thông qua quá trình sục khí và chuyển động của giá thể Và thông thường thể tích giá thể chiếm khoảng 50-70% thể tích lọc và nếu tỷ
lệ này cao hơn dẫn đến hiệu quả giảm sút do giá thể không chuyển động được (Weiss
et al,2005)
Hệ thống lọc quay hoạt động trên nguyên lý là loại đưa nước thải qua hệ thống quay có giá thể để vi khuẩn chuyển hóa ammonina và nitrite Trong hệ thống này, oxy được cung cấp từ không khí; ammonina và nitrite được cung cấp từ nước Hệ thống lọc quay thường có khoảng thích hợp cho ngập nước là từ 35-45% và tốc độ quay thường 0,18-0,39m/s (Hochheimer & Wheaton, 1998) Hệ thống lọc này có những thuận lợi là: sục khí thụ động, ít bị nghẹt, khử khí tốt, dễ kết nối với các bộ phận khác Bên cạnh
đó hệ thống này cũng có những nhược điểm là: thiết bị đắt tiền, nguyên lý hoạt động phức tạp, chiếm diện tích lớn
Hiện nay, ở châu Âu đặc biệt là Bỉ và Hà Lan, cá trê (Clarias gariepinus) được
nuôi thương phẩm trong bể, sử dụng hệ thống tuần hoàn với giá thể lọc là nhựa; thể tích nước trung bình để sản xuất ra 1kg cá 0,13 m3 và hàng năm năng suất thu được là
700 – 1000 kg/m3 (FAO, 2010) Theo Emmanuelle (2009) sự phát triển của cá hồi giai đoạn 100 đến 700 g là tương đương ở mật độ 60 kg/m3 giữa hệ thống lọc chuyển động (70 m3) so với hệ thống nước chảy thông thường, kết quả cũng cho thấy không có dấu
hiệu của bệnh trên cá Cá rô phi (Oreochromis niloticus L) cũng là đối tượng quan
trọng được nuôi thương phẩm trong hệ thống tuần hoàn Mohammad and Emmanuel (2000) tiến hành thí nghiệm trên hai loại giá thể nhựa (polypropylene và polyethylene) trong thời gian là 172 ngày cùng diện tích bề mặt; kết quả về tăng trưởng (1,17 and 1,18 g/ ngày), FCR (2,04 và 1,98), tỷ lệ sống (97,6 và 98,2%) và năng suất bình quân tương đương nhau là 215 kg/m3 Khi so sánh về hiệu quả của hệ thống tuần hoàn so với các hệ thống nuôi thay nước thì vấn đề về hệ số chuyển hóa thức ăn FCR là rất
được quan tâm Theo Martins et al, (2010) FCR trên cá hồi (Oncorhynchus mykiss)
giảm được 30% và giảm được gần như 20% chất thải tác động đến môi trường Vì hệ thống tuần hoàn cung cấp môi trường nuôi thuận lợi quanh năm (hàm lượng CO2 và ammonina đều thấp hơn) Các thông số về chất lượng nước đều nằm trong khoảng an
Trang 27toàn cho sự sinh trưởng của cá Điều đó chứng tỏ rằng hệ thống tuần hoàn sử dụng thể tích nước hạn chế nhưng tiềm năng về khả năng sản suất là rất lớn
Trong hệ thống lọc sinh học tuần hoàn, hàm lượng nitrate hình thành trong quá trình nitrate hóa có khuynh hướng tăng dần trong hệ thống Mặc dù nitrate không độc nhưng nếu hàm lượng quá cao sẽ ảnh hưởng xấu đối với thủy sinh vật, một số nghiên tcứu cho rằng hàm lượng nitrate cao hơn 20 mg/l có thể ảnh hưởng đến hệ miễn dịch
và khả năng sinh sản của thủy sinh vật (Phạm Thị Tuyết Ngân và ctv, 2008).Vì vậy, nghiên cứu biện pháp loại bỏ nitrate trong hệ thống lọc sinh học là hướng nghiên cứu được nhiều nhà khoa học quan tâm Hiện nay có nhiều hướng nghiên cứu để loại nitrate ra khỏi hệ thống tuần hoàn: thực vật, tảo, vi khuẩn Việc loại bỏ nitrate ra khỏi
hệ thống được tiến hành xuất phát từ những lợi ích: (1) duy trì nồng độ nitrate thấp hơn hoặc bằng ngưỡng 11,3mg NO3-N/l (European Council Directive, 1998 trích bởi
Jaap et al, 2006), (2) ngăn chặn nồng độ nitrite cao từ quá trình khử nitrate thụ động
diễn ra không hoàn toàn, (3) duy trì khả năng của hệ đệm nước, (4) carbon hữu cơ, orthophosphate và sulfide sẽ được loại bỏ cùng quá trình loại bỏ nitrate sinh học (Jaap
et al, 2006)
1.2.2 Tại Việt Nam
Ở Việt Nam, RAS được cải tiến, áp dụng trong các trại sản xuất giống tôm từ năm 2000, nhất là các trại giống ở ĐBSCL, đem lại hiệu quả rõ rệt đối với việc kiểm soát yếu tố môi trường, tiết kiệm nước và nâng cao tỷ lệ sống của ấu trùng (70 - 92%) Năm 2005, Trương Trọng Nghĩa và Thạch Thanh (Khoa Thuỷ sản, Đại học Cần Thơ)
đã nghiên cứu ứng dụng RAS trong sản xuất giống tôm sú, tạo ra giống tôm sạch bệnh, bảo vệ môi trường và giảm 50% chi phí sản xuất Hiện có khoảng 50 trại tôm giống, chủ yếu ở các tỉnh phía Nam áp dụng hệ thống sản xuất giống lọc sinh học tuần hoàn Năm 2010 - 2012, Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản 2 cùng các chuyên gia Đại học Wageningen (Hà Lan) lắp đặt và vận hành RAS nuôi cá tra thương phẩm Kết quả, năng suất đạt trên 600 tấn/ha/vụ, cao gấp 2 lần tính theo diện tích và cao hơn 4,9 lần tính theo thể tích, chi phí thức ăn giảm 5%, chi phí dịch bệnh giảm 30% so với
nuôi bình thường (Nguyễn Nhứt, 2013)
Năm 2012, Luận án “nghiên cứu ứng dụng công nghệ lọc sinh học xử lý tuần hoàn nước thải trong ương nuôi cá biển” của tác giả Nguyễn Thị Thu Hiền đã nghiên
Trang 28cứu chuyên sâu và toàn diện quátrình nitrathóa chuyển hóa nitơ, quá trình chuyển hóa phốt pho Tập trung đánh giá hiệu suất và đề xuất phương án xử lý Nghiên cứu qua qui mô thí nghiệm, qui mô thử nghiệm (pilot), qui mô ứng dụng sản xuất dựa trên nguyên lý hoạt động, bản chất của quá trình nitrat hóa và quá trình chuyển hóa phốt pho được thực hiện bởi vi sinh vật sống dính bám trên màng sinh học để làm sạch nước và tái sử dụng nước
Trang 29CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Địa điểm, thời gian và đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Cá trê suối Phú Quốc (Clarias glaricentus Ng, Nguyen
&Dang 2011)
- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 09/2014 đến tháng 09/2015
- Địa điểm nghiên cứu: Trại thực nghiệm nuôi thủy sản Ba Hòn, huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang
2.2 Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu
2.2.1 Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu
Hình 2.1 Sơ đồ khối nội dung nghiêncứu 2.2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.2.1 Tìm hiểu về tình hình nuôi cá trê suối Phú Quốc tại Kiên Giang
- Điều tra hiện trạng nuôi cá trê suối qua các loại hình nuôi khác nhau như: Nuôi trong ao đất, nuôi trong ao đất có lót bạt, nuôi bằng con giống thu gom ngoài tự nhiên
và nuôi bằng con giống sinh sản nhân tạo với mật độ thấp
Thử nghiệm nuôi thương phẩm cá trê suối Phú Quốc trong hệ thống tuần
Kết luận và Kiến nghị
Trang 30+ Chọn mẫu điều tra: do tình hình thực tế hiện nay người dân trên đảo chỉ có vài
hộ nuôi đối tượng này nên đề tài điều tra tất cả các hộ đang nuôi Số mẫu điều tra tổng thể cho từng loại hình nuôi như sau:
Số hộ nuôi ao đất sử dụng con giống tự nhiên (n=3),
Số hộ nuôi ao lót bạt sử dụng con giống tự nhiên (n=11)
Số hộ nuôi ao lót bạt sử dụng giống nhân tạo (n=3)
+ Nội dung: Diện tích ao nuôi, sử dụng con giống, thức ăn, chăm sóc, quản lý môi trường ao nuôi, các loại bệnh thường gặp, hiệu quả kinh tế của mô hình
- Phân tích, đánh giá ưu nhược điểm của các hình thức nuôi
2.2.2.2 Nghiên cứu nuôi thương phẩm cá trê suối Phú Quốc bằng hệ thống tuần hoàn với các mật độ nuôi khác nhau để tìm ra mật độ nuôi phù hợp
Thí nghiệm được bố trí với 4 nghiệm thức (mật độ nuôi của mỗi nghiệm thức là
150 con/m3, 200 con/m3, 250 con/m3 và 300 con/m3) trong hệ thống tuần hoàn, mỗi nghiệm thức được lặp lại 3 lần, sử dụng cùng loại thức ăn dạng viên do công ty TNHH GUYOMARC’H-VN sản xuất (thuộc tập đoàn INVIVO NSA –PHÁP) Thí nghiệm thực hiện trong 12 tháng (tháng 9/2014 – 9/2015)
Hình 2.2.Sơ đồ bố trí thí nghiệm nuôi cá trê suối thương phẩm bằng hệ thống tuần hoàn
Nghiên cứu nuôi cá trê suối thương phẩm bằng hệ thống tuần
Trang 31Chú thích
NT 1: nghiệm thức nuôi 150 con/m3 (bể C1,C2,C3)
NT 2: nghiệm thức nuôi 200 con/m3 (bể C4,C5,C6)
NT 3: nghiệm thức nuôi 250 con/m3 (bể C7,C8,C9)
NT 4: nghiệm thức nuôi 300 con/m3 (bể C10,C11,C12)
a Mô tả hệ thống tuần hoàn:
- Mỗi nghiệm thức thí nghiệm được thiết kế thành 01 cụm của hệ thống tuần hoàn, gồm:
+ 03 bể nuôi cá 4 m3 (màu xám), bể có dạng hình trụ, đường kính 2,2m, cao 1,25m và chân đỡ bể 0,2m;
+ 01 bể lắng 700 lít (màu xanh), đường kính 0,5m, cao 1m và chân đỡ bể 0,2m; + 01 bể sinh học hiếu khí 2 m3 (màu xám), bể có dạng hình trụ, đường kính 1,4m, cao 1,2m và chân đỡ bể 0,2m;
+ 01 bể sinh học nhỏ giọt 700 lít (màu xanh), đường kính 0,5m, cao 1m và chân
dỡ bể 1,4m
Như vậy, tổng số bể phục vụ cho thí nghiệm là 12 bể nuôi, thể tích 4 m3/bể, 04
bể lắng 700 lít, 04 bể sinh học hiếu khí 2 m3 (có giá thể và sục khí), giá thể lọc sinh học (sử dụng giá thể lọc là hạt nhựa tiếp xúc màu trắng F10-4, kích thước 10 mm x 10
mm, có diện tích bề mặt riêng (SSA) là 1.200 m2/m3, khối lượng đóng gói là 125 kg/m3) và 04 bể sinh học nhỏ giọt 700 lít, 4 máy bơm, 2 máy sục khí
- Thiết kế hệ thống: Hệ thống nuôi tuần hoàn khép kín
Hệ thống lọc sinh học được thiết kế dạng chuyển động (MBR), sử dụng giá thể nhựa, tổng thể tích giá thể sử dụng cho mỗi hệ thống là 0,6 m3
Nguồn nước sử dụng trong thí nghiệm lấy từ nước máy đã khử Chlorine.Hệ thống lọc được chạy và ổn định trước khi đưa vào vận hành thí nghiệm
+ Phương pháp cấy NH4Cl để tạo dòng vi khuẩn:
- Lần 1: Cấy 1 mg/l NH4Cl vào bể lọc
- Lần 2: Sau một thời gian khoảng vài ngày, kiểm tra hàm lượng NH3-N và NO2
-N có trong mẫu nước -Nếu nồng độ -NH3-N trong khoảng 0 - 0,8 mg/l và NO2-N: 0 - 0,2 mg/l cần phải bón thêm nồng độ gấp đôi lần 1 Cứ 24h ta đo một lần
Trang 32- Lần 3: Tiếp tục kiểm tra để xác định nồng độ NH3-N và NO2-N đến khi nào nitrate hóa toàn bộ về 0 sau 24h, cho hai thông số NH3-N và NO2-Nvề bằng 0 lúc đó
hệ thống lọc hoạt động được
+ Nguyên lý vận hành:
Hình 2.3 Mô tả hệ thống
* Bể lắng cơ học: Nước thải từ các bể nuôi được dẫn về bể lắng theo hình thức
tự chảy bằng ống nhựa Ф=60 mm Bể làm bằng nhựa hoặc composite, kích thước chiếm 10% diện tích bể nuôi Tại đây quá trình lắng diễn ra dựa trên nguyên lý trọng lực, các chất lơ lửng bị va đập vào thành ống phân phối trung tâm làm cho chúng rơi xuống đáy bể và lắng tại đó Cặn lắng sẽ định kỳ thải bỏ bằng ống Ф= 90 mm đã lắp đặt dưới đáy bể Hiệu suất của bể dao động từ 50 – 70% các chất lơ lửng.Nước từ bể
đã loại bỏ phần lớn cặn lơ lửng và chuyển vào bể chứa bùn Lúc này nước đã được loại
bỏ các chất rắn nhưng hàm lượng các chất hữu cơ ở dạng hòa tan như TDS, BOD5,
NH4+, PO43-… còn khá cao, vì vậy cần xử lý tiếp theo
* Bể sinh học hiếu khí có giá thể: Nước sau khi lắng tại bể lọc cơ học được đưa
qua bể sinh học hiếu khí có giá thể (nhựa hạt tiếp xúc F10-4, xốp…) theo nguyên tắc
tự chảy do chênh lệch cột áp Trên bề mặt giá thể có nhiều lồi lõm để tăng diện tích
Trang 33tiếp xúc bên ngoài Mỗi m3 giá thể này có diện tích bề mặt tiếp xúc 1.200 m2/m3 Khi nước từ bể lắng chảy liên tục trong bể sinh học hiếu khí có chứa giá thể thì trên bề mặt giá thể sẽ dần hình thành màng sinh học bao gồm các vi khuẩn hiếu khí, tùy nghi và kỵ khí (Nitrosomonas và Nitrobacte) Các loại vi khuẩn bám trong màng lọc sẽ hấp thụ Ammonia và Nitrite để thực hiện quá trình nitrate hóa, chuyển hóa các hợp chất chứa nitơ và cacbon thành dạng không độc, được thể hiện bằng phương trình phản ứng sau:
Quá trình vi sinh vật phân hủy chất hữu cơ thành thể khí và tế bào vi sinh gọi là quá trình oxi hóa sinh học Quá trình này lần lượt xảy ra theo các bước sau:
Di chuyển các chất lỏng tới bề mặt của tế bào vi sinh vật do khuyếch tán đối lưu
và phân tử
Di chuyển chất từ bề mặt ngoài tế bào qua màng bán thấm bằng khuyếch tán do
sự trên lệch nồng độ các chất ở trong và ngoài tế bào
Quá trình chuyển hóa các chất ở trong tế bào VSV là quá trình kết hợp hai phản ứng: phản ứng dị hóa bẻ gãy các mạch hữu cơ tạo năng lượng và các phân tử đơn giản, phản ứng đồng hóa hình thành các phân tử phức tạp hơn và đòi hỏi tiêu tốn năng lượng
Phản ứng oxi hóa tạo năng lượng:
CxHyOzN + (
4
3 3
4
y x
x )O2 menVSV xCO2 +
2 3
y H2O + NH3 + H Phản ứng tổng hợp tế bào mới:
CxHyOzN + NH3 + O2 menVSV C5H7O2N + CO2 + H
Trang 34CxHyOzN chất hữu cơ có trong nước thải
đó tạo điều kiện cho các vi khuẩn nitrat hóa hoạt động nhờ đó các hợp chất nitơ hữu cơ được xử lý Nước thải được bơm ra khỏi bể bằng 1 bơm chìm Bơm chìm sẽ được gắn hai phao chống tràn và chống cạn giúp bể hoạt động ổn định
Hình 2.4 Bể sinh học nhỏ giọt và bể sinh học hiếu khí
* Bể sinh học nhỏ giọt: Nước thải được bơm lên bể sinh học nhỏ giọt, tại đây
ngừng cung cấp oxy Trong bể sinh học nhỏ giọt, bố trí các giá thể nhằm tăng diện tích tiếp xúc với nước lớn nhất trong điều kiện có thể Nước thải được phân phối bằng cách
Trang 35tạo dàn mưa phun đều lên bề mặt lớp vật liệu Nước thải tiếp xúc với lớp giá thể sẽ chia thành các hạt nhỏ qua khe lọc đi xuống Trong thời gian tiếp xúc với màng nhầy gelagin bám quanh giá thể Sau một thời gian lớp nhầy gelagin dầy lên ngăn cản không cho oxy trong không khí vào trong lớp nhầy, trong điều kiện không có không khí vi sinh yếm khí, thiếu khí trong lớp nhầy phát triển mạnh tạo ra sản phẩm cuối cùng là khí CH4 và CO2 là tróc màng nhầy ra khỏi vật liệu cứng và theo nước cuốn trôi xuống phía dưới Trên bề mặt vật liệu cứng hình thành một lớp màng nhầy mới, hiện tượng nầy lặp đi lặp lại tuần hoàn và nước thải được làm sạch BOD5 và các chất ô nhiễm Nước thải sau khi ra khỏi bể sẽ được chứa trong bể chứa phía dưới và cung cấp lại cho
bể nuôi cá, như vậy nước thải được xử lý tuần hoàn Chính vì vậy sẽ tiết kiệm nước, giảm được chi phí nuôi trồng thủy sản, cũng như chủ động hơn trong quá trình nuôi, không lệ thuộc vào điều kiện môi trường xung quanh
Hình 2.5Tấm nhựa làm giá thể trong bể sinh học nhỏ giọt
Trong suốt quá trình nuôi, nước sẽ tuần hoàn trong một hệ thống kín, chỉ một lượng nhỏ nước mới được cấp thêm vào hệ thống để bù đắp cho lượng nước hao hụt khi rút bỏ cặn lắng tích tụ đáy bể hoặc do bốc hơi Lượng nước rút ra, thêm vào bể nuôi để bù đắp cho lượng nước hao hụt, đảm bảo các chỉ tiêu môi trường nước thích hợp cho sự phát triển của cá.Nước mới phải được khử chlorine trước khi cấp thêm vào
hệ thống
Sau khi hệ thống được vận hành, kiểm tra thông số môi trường (oxy hòa tan, pH,
NH3, nhiệt độ) sau đó có thể thả cá vào bể nuôi
Trang 36Hình 2.6 Bể lọc nhỏ giọt 2.2.2.3 Đánh giá hiệu quả các mô hình nuôi cá trê suối Phú Quốc
Kết quả từ hoạt động điều tra và thí nghiệm sẽ được xử lý và phân tích để đánh giá hiệu quả về mặt kỹ thuật, kinh tế và môi trường
2.2.3 Phương pháp thu thập số liệu
+ Phương pháp thu mẫu và phân tích mẫu các chỉ tiêu chất lượng nước được trình bày ở Bảng sau:
Chỉ tiêu Phương pháp
thu mẫu
Phương pháp phân tích
Ngưỡng thích hợp Thời gian
2 lần/ngày
Oxy hòa tan Đo trực tiếp Test đo DO > 4mg/l hoặc ≥ 60%
bão hòa
NO2- Đo trực tiếp Test đo NO2- <0,5mg/l
NO2- Gửi mẫu về Trung tâm Ứng
dụng và Chuyển giao Công nghệ Kiên Giang phân tích
Trang 37b Các bước chuẩn bị:
- Bể nuôi được rửa sạch bằng xà phòng, ngâm chlorine nồng độ 100 ppm trong
24 giờ, sau đó rửa sạch trước khi cấp nước
- Nguồn nước sử dụng trong thí nghiệm lấy từ nước máy đã khử chlorine
- Lắp đặt hệ thống lọc tuần hoàn, các mô tơ bơm nước và hệ thống chiếu sáng
c Vận chuyển cá giống
Sau khi ương từ cá bột đến khi cá trê suối Phú Quốc đạt kích cỡ 10 ± 0,7 cm, khối lượng 10 ± 0,3 g thì được đóng trong thùng xốp, vận chuyển từ Phú Quốc vào Hà Tiên bằng đường thủy, từ Hà Tiên vận chuyển bằng đường bộ về trại nuôi Hình 3.4 (phụ lục)
Phương pháp vận chuyển: thùng xốp có kích cỡ 80x60 cm Mật độ cá mỗi thùng
600 con, có túi nước đá để giữ lạnh (~20-24oC) trong quá trình vận chuyển Mức nước trong thùng khoảng ½ chiều cao thùng
Hình 1.7 Xử lý cá trước khi thả vào bể nuôi Hình 2.8 Cá trê suối giống khi thả nuôi
d Chế độ chăm sóc:
- Cho ăn ngày 2 lần vào 6h và 18h Lượng cho ăn được điều chỉnh theo khả năng bắt mồi của cá
- Theo dõi tình trạng sức khỏe, hoạt động bắt mồi của cá hàng ngày
e Thức ăn và chế độ cho ăn:
- Thức ăn được sử dụng trong thí nghiệm là thức ăn công nghiệp dạng viên có độ đạm ≥ 30% protein Thời gian đầu từ 1-3 tháng khẩu phần ăn từ 8-7% tổng trọng
Trang 38lượng đàn cá Từ 3-6 tháng khẩu phần ăn từ 7-5 % tổng trọng lượng đàn cá Từ 6-9 tháng khẩu phần ăn từ 5-4 % tổng trọng lượng đàn cá Từ 9-12 tháng khẩu phần ăn 4-3
%tổng trọng lượng đàn cá Lượng thức ăn hàng ngày điều chỉnh theo nhu cầu và quá trình phát triển của cá Cho cá ăn 2 lần/ngày
- Do cá hoạt động mạnh vào ban đêm, buổi sáng vào lúc 6 giờ chỉ cho ăn 1/3 khẩu phần thức ăn, buổi tối vào lúc 18giờ cho ăn 2/3 khẩu phần thức ăn còn lại Trước khi cho cá ăn tạo tiếng động như tiếng kẻng để tập cho cá phản xạ có điều kiện
f Theo dõi các yếu tố môi trường
+ Các chỉ tiêu về chất lượng nước gồm: Oxy hòa tan, pH, nhiệt độ, NO2- , NO3-,
NH3 được xác định hàng ngày bằng cách đo trực tiếp vào buổi sáng và chiều Mẫu nước đầu vào và đầu ra của hệ thống được thu tại 2 vị trí: (i) nước vào bể cá, (ii) nước trong bể lắng
+ Các chỉ tiêu về chất lượng nước gồm: NO2-, NO3-, NH3 được xác định lại hàng tháng Thu và gửi mẫu phân tích tại Trung tâm Ứng dụng và Chuyển giao Công nghệ Kiên Giang
g Hệ số thức ăn (FCR) thực tế: Lượng thức ăn hàng ngày sử dụng cho mỗi bể
được ghi chép đầy đủ trong sổ nhật ký theo dõi Kết thúc thí nghiệm sẽ tính toán lại hệ
số thức ăn thực tế của mô hình nuôi.FCR = Tổng lượng thức ăn đã cho cá ăn/ Tổng lượng cá tăng lên đến khi thu hoạch
h Bệnh: Theo dõi hàng ngày, ghi nhận các dấu hiệu bất thường của cá, ghi
chép đầy đủ, chi tiết loại thuốc và hóa chất sử dụng (nếu có) trong sổ nhật ký theo dõi
i Theo dõi tăng trưởng, tỷ lệ sống, sản lượng và đánh giá hiệu quả kinh tế của
mô hình:
- Xác định tốc độ tăng trưởng:Một tháng thu mẫu 1 lần, mỗi lần thu 30 con/bể
Xác định bằng cách cân khối lượng, đo chiều dài trực tiếp bằng thước có chia vạch 1mm
- Tỷ lệ sống SR(%) (Survival rate):
SR (%)= (Số lượng cá thu hoạch/số lượng cá thả ban đầu) × 100
- Tốc độ sinh trưởng hàng ngày về khối lượng: DGRw (g/ngày) = We−Ws
d
Trang 39- Tốc độ sinh trưởng đặc trưng về khối lượng: SGRw (%/ngày) = LnWe−LnWs
- Đánh giá hiệu quả kinh tế của mô hình:
Dựa vào kết quả thử nghiệm, hiệu quả kinh tế mang lại từ mô hình nuôi được tính toán và phân tích Tổng chi phí xây dựng mô hình gồm (1) chi phí cố định: khấu hao hệ thống nuôi tuần hoàn (bể, máy bơm, giá thể lọc ); (2) chi phí biến đổi bao gồm chi phí vận hành hệ thống nuôi, con giống, thức ăn, hóa chất xử lý môi trường, nhiên liệu và công lao động
Tổng thu = Tổng sản lượng thu hoạch (kg) x Giá (đồng/kg)
Lợi nhuận = Tổng thu - Tổng chi
Tỷ suất lợi nhuận (%) = (Lợi nhuận/ Vốn đầu tư) x 100
Ghi chú:
We: Khối lượng cá khi kết thúc thí nghiệm (g);
Ws: Khối lượng cá khi bắt đầu thí nghiệm (g);
Le: Chiều dài cá khi kết thúc thí nghiệm (cm);
Ls: Chiều dài cá khi bắt đầu thí nghiệm (cm);
d: thời gian thí nghiệm tính theo ngày (ngày);
Trang 40 P: Giá bán (đồng/con);
TC: Tổng chi phí sản xuất (đồng)
- Các chỉ tiêu đánh giá tác động môi trường (dựa theo công thức Beveridge)
Nthải: (g/kg cá) được tính qua công thức: ∑Nthải = ∑Nthức ăn - ∑Ntích lũy
Trong đó, ∑Nthức ăn = Ncó trong thức ăn x FCR; ∑Ntích lũy = Ncó trong cá x Q
Ncó trong thức ăn: được tính dựa trên hàm lượng đạm thô (CP) của thức ăn
Hàm lượng CP và Ni-tơ được chuyển đổi qua công thức: %CP=% N x 6,25
Phương pháp phân tích Ni-tơ thịt cá: hàm lượng Ni-tơ được xác định
theoPhương pháp phân giải bằng acid (còn gọi là Phương pháp Kjeldhl), có ký hiệu
AOAC 988.05 (AOAC International (1999))
Hiệu quả sử dụng Ni-tơ: H (%) = ∑Nthức ăn x 100/∑Ntích lũy
2.2.4 Phương pháp xử lý số liệu
Số liệu được lưu trữ và xử lý bằng phần mềm Microsoft Excel 2007; sử dụng phần mềm SPSS Version 16.0 trong phân tích so sánh phương sai 1 yếu tố (One Way ANOVA), ở mức ý nghĩa p<0,05