1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ ương, mật độ tảo đáy lên sinh trưởng và tỷ lệ sống của bào ngư chín lỗ (haliotis diversicolor reeve, 1864) từ giai đoạn ấu trùng bánh xe (trochophora) đến giai đoạn con non kích thước 4 mm tại vùng biển bạc

69 292 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 69
Dung lượng 1,39 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CAM ĐOANTôi xin cam đoan mọi kết quả nghiên cứu của đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ ương, mật độ tảo đáy lên sinh trưởng và tỷ lệ sống của bào ngư chín lỗ Haliotis diversico

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan mọi kết quả nghiên cứu của đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng

của mật độ ương, mật độ tảo đáy lên sinh trưởng và tỷ lệ sống của bào ngư chín lỗ (Haliotis diversicolor Reeve, 1864) từ giai đoạn ấu trùng bánh xe (Trochophora) đến giai đoạn con non kích thước 4 mm tại vùng biển Bạch Long Vỹ - Hải Phòng”

là công trình nghiên cứu của riêng tôi và chưa từng được công bố trong bất cứ côngtrình khoa học nào khác cho tới thời điểm này

Tác giả

Phạm Công Ánh

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt thời gian thực hiên đề tài, tôi đ ã nhận được sự giúp đỡ của quý Phòngban Trường Đại học Nha Trang, Trại sản xuất giống bào ngư Bạch Long Vỹ - HảiPhòng đã tạo điều kiện tốt nhất cho tôi được hoàn thành đề tài Đăc biệt là sự hướngdẫn tận tình của TS Nguyễn Quang Hùng - Viện Nghiên Cứu Hải sản và TS Ngô AnhTuấn - Trường Đại học Nha Trang đã giúp tôi hoàn thành tốt đề tài Qua đây, tôi xingửi lời cảm ơn sâu sắc đến sự giúp đỡ này

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất tới ThS Lại Duy Phươngcùng các anh (chị) thực hiện đề tài:" Hoàn thiện quy trình công nghệ và xây dựng môhình trình diễn, sản xuất cung cấp giống Bào ngư tại Bạch L ong Vĩ.” do ThS Lại DuyPhương - Viện Nghiên cứu Hải sản - làm chủ nhiệm dự án đã giúp đỡ và tạo mọi điềukiện tốt nhất để tôi thực hiện đề tài

Tôi xin được bày tỏ lòng kính trọng, biết ơn chân thành tới các thầy cô giáo trongtrường Đại học Nha Trang, trong suốt hai năm học tại trường, tôi đã nhận được sự dạy

dỗ, dìu dắt tận tình của các thầy cô giáo trong trường

Nhân đây, tôi xin gửi lời cảm ơn tới tất cả bạn bè, các bạn đồng nghiệp nhữngngười đã góp ý chân thành, giúp đỡ và động viên tôi trong suốt thời gian tôi hoànthành luận văn này

Cuối cùng, con xin cảm ơn bố mẹ, các anh chị em đã luôn cổ vũ, động viên controng những lúc khó khăn nhất giúp con có thêm nghị lực để có được ngày hôm nay

Tác giả

Phạm Công Ánh

Trang 5

MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN III LỜI CẢM ƠN IV DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT VII DANH MỤC BẢNG VIII DANH MỤC HÌNH IX TRÍCH YẾU LUẬN VĂN X

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1 TỔNG QUAN VỀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI 4

1.1.1 Đối tượng nghiên cứu 4

1.1.2 Một số đặc điểm sinh học cơ bản của bào ngư chín lỗ 4

1.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU NGOÀI NƯỚC 8

1.3 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC 14

1.4 ĐẶC ĐIỂM ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ MÔI TRƯỜNG TẠI ĐẢOBẠCHLONGVĨ 18

CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24

2.1 THỜI GIAN,ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU 24

2.2 VẬT LIỆU NGHIÊN CỨU 24

2.2.1 Đối tượng nghiên cứu 24

2.2.2 Dụng cụ, thiết bị phục vụ nghiên cứu 24

2.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26

2.4.1 Phương pháp thiết kế và bố trí thì nghiệm 26

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 33

3.1 KẾT QUẢ THEO DÕI MỘT SỐ YẾU TỐ MÔI TRƯỜNG TRONG QUÁ TRÌNH ƯƠNG NUÔI33 3.1.1 Nhiệt độ 33

3.1.2 Độ mặn 34

3.1 3 Độ pH 35

3.1.4 Hàm lượng oxy hoàn tan (DO) .36

Trang 6

3.2 KẾT QUẢ ƯƠNG NUÔI ẤU TRÙNG BÀO NGƯ TỪ GIAI ĐOẠN ẤU TRÙNG BÁNH XE

ĐẾN GIAI ĐOẠN CON NON4MM .37

3.2.1 Kết quả nghiên cứu ản h hưởng của thức ăn đến sinh trưởng và tỷ lệ sống của bào ngư .39

3.2.1.1 Ảnh hưởng của thức ăn đến sinh trưởng của bào ngư 39

3.2.1.2 Ảnh hưởng của thức ăn đến tỷ lệ sống của bào ngư 40

3.2.2 Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ ương nuôi đến sinh trưởng và tỷ lệ sống của bào ngư .41

3.2.2.1 Ảnh hưởng của mật độ ương nuôi đến sinh trưởng của bào ngư 42

3.2.2.2 Ảnh hưởng của mật độ ương nuôi đến tỷ lệ sống của bào ngư 42

CHƯƠNG IV: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT Ý KIẾN 47

4.1 KẾT LUẬN 47

4.2 ĐỀ XUẤT Ý KIẾN 47

TÀI LIỆU THAM KHẢO 48

TÀI LIỆU TIẾNGVIỆT 48

TÀI LIỆU TIẾNGANH 49

PHỤ LỤC 52

Trang 7

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

CT

ĐVTM

Nghiệm thứcĐộng vật thân mềm

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Hình 1.1 Mặt ngoài và mặt trong của bào ngư chín lỗ 4

Hình 1.2 Vòng đời sinh trưởng và phát triển của bào ngư 11

Hình 1.3 Bản đồ địa lý đảo Bạch Long Vĩ – Hải phòng 18

Hình 3.2 Bốn loại vi tảo sử dụng làm thức ăn cho ấu trùng bào ngư 38

Hình 3.2 Bể nuôi sinh khối tảo và giá cho tảo bám 35

Hình 3.1 Bể ương nuôi ấu trùng bào ngư 37

Hình 3.4 Ấu trùng bào ngư giai đoạn trùng Trochophora và Veliger 44

Hình 3.5 Quá trình phát triển của bào ngư giống cỡ nhỏ 45

Trang 9

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1 Mặt ngoài và mặt trong của bào ngư chín lỗ 4

Hình 1.2 Vòng đời sinh trưởng và phát triển của bào ngư 11

Hình 1.3 Bản đồ địa lý đảo Bạch Long Vĩ – Hải phòng 18

Hình 3.1 Bể ương nuôi ấu trùng bào ngư 37

Hình 3.2 Bốn loại vi tảo sử dụng làm thức ăn cho ấu trùng bào ngư 38

Hình 3.3 Bể nuôi sinh khối tảo và giá cho tảo bám 39

Hình 3.4 Ấu trùng bào ngư giai đoạn trùng Trochophora và Veliger 44

Hình 3.5 Quá trình phát triển của bào ngư giống cỡ nhỏ 45

Trang 10

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN

Bào ngư (Haliotis) thuộc nhóm động vật thân mềm một mảnh vỏ thuộc họ Bào ngư (Haliotidae), bộ Chân bụng Nguyên thủy ( Archaeogastropoda), lớp Chân bụng (Gastropoda) Là loài có giá trị kinh tế cao do hàm lượng dinh dưỡng trong thịt của nó

rất cao và có khả năng chữa bệnh cho con người nên nhu cầu tiêu thụ trên thị trườngthế giới cũng ngày một gia tăng Hiện nay, các nhà khoa học trên thế giới đã phát hiệnđược khoảng 100 loài bào ngư [Winther, 1985] (trong đó có khoảng 10 loài có giá trịkinh tế cao và hứa hẹn sẽ mang lại nguồn thu nhập cho người dân) thuộc giốngHaliotis, họ bào ngư (Haliotidae), bộ chân bụng nguyên thủy (Archaeogastropoda), lớpchân bụng (Gastropoda) (Cox, 1930) [20]

Đến nay ở Việt Nam đã xác định được 4 loài bào ngư phân bố (Nguyễn Chính ,

1996) [2], bao gồm: bào ngư chín lỗ (Haliotis diversicolor Reeve, 1846), bào ngư dài (Haliotis varia Linnaeus, 1758), bào ngư bầu dục (Haliotis ovina Gmelin, 1791), bào ngư vành tai (Haliotis asinina Linnaeus, 1758) Trong đó bào ngư chín lỗ (Haliotis diversicolor Reeve, 1846), còn gọi là ốc cửu khồng, là một trong những loài có giá trị

kinh tế cao nhất Và loài này đang tập trung phân bố ở vùng ven biển vịnh Bắc Bộ, nơi

có các rạn đá ngầm như Cô Tô, Minh Châu, Quan Lạn (Quảng Ninh), Cát Bà, BạchLong Vĩ (Hải Phòng)

Vùng biển đảo của Hải Phòng, đặc biệt là ven đảo Bạch Long Vĩ, qua nhiều nămkhai thác, nguồn lợi bào ngư chín lỗ ven đảo Bạch Long Vĩ giảm sút nhanh Chính vìvậy, việc sản xuất giống và nuôi giống cung cấp nguồn giống cho nuôi thương p hẩm làrất cần thiết và cấp bách Để bảo vệ nguồn lợi và phát triển nguồn bào ngư chín lỗnhằm đáp ứng đủ nhu câu thị trường trong nước hiện nay và xuất khẩu ra nước ngoàithì việc tiến hành nghiên cứu sản xuất và ương nuôi con giống, nuôi thương phẩm,v.v., là việc hết sức cần thiết đối với nghề nuôi trồng hải sản hiện nay

Vì vậy đề tài thực hiện với mục tiêu “Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ ương,mật độ tảo đáy lên sinh trưởng và tỷ lệ sống của b ào ngư chín lỗ (Haliotis diversicolorReeve, 1864) từ giai đoạn ấu trùng bánh xe (Trochophora) đến giai đoạn con non kíchthước 4 mm tại vùng biển Bạch Long Vỹ - Hải Phòng”

Trang 11

Phương pháp nghiên cứu của đề tài như sau:

- Bố trí thực nghiệm 2 bể ương giống, mỗi bể có kích thước là 3x2x0,5m, 9 lồngnuôi trong bể xi măng (kích thước 0,2 m2), lồng treo cách đáy 20 cm

+ Thí nghiệm nghiên cứu ảnh hưởng của thức ăn đến sinh trưởng và tỷ lệ sống củabào ngư:

Bể ương giống bố trí gồm 3 công thức, mỗi công thức lặp lại 3 lần, bào ngư đượccho ăn tại các lồng với khẩu phần thức ăn khác nhau:

- CT1: Cho ăn tảo đáy với mật độ 2.000 tế bào/cm2

;

- CT2: Cho ăn tảo đáy với mật độ 2.500 tế bào/cm2

;

- CT3: Cho ăn tảo đáy với mật độ 3.000 tế bào/cm2

- Đối chứng là sử dụng các bể ương nuôi bào ngư giống bình thường

Ương nuôi với mật độ 600 con/L; định ký kiểm tra môi trường nuôi, thức ăn trêncác tấm bám để bổ sung thức ăn kịp thời cho ấu trùng

+ Thí nghiệm nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ ương nuôi đến sinh trưởng và tỷ lệsống của bào ngư:

Bể ương giống bố trí gồm 3 công thức, mỗi công thức lặp lại 3 lần, bào ngư đượcnuôi tại các lồng với các mật độ khác nhau và cho ăn các loại tảo đáy giống nhau:

- CT1: Ương nuôi ấu trùng mật độ 400 con/L ;

- CT2: Ương nuôi ấu trùng mật độ 450 con/L;

- CT3: Ương nuôi ấu trùng mật độ 500 con/L

- Ở cả 3 nghiệm thức đều cho ăn tảo đáy mật độ 2.500 tế bào/cm2; chăm sóc vàquản lý bể ương thường xuyên, kiểm tra các tấm bám để bổ sung tảo kịp thời

Trang 12

+ Nguồn giống: Giống lấy từ sinh sản nhân tạo

Với phương pháp nghiên cứu trên chúng tôi đã thu được những kết quả như sau:

Các yếu tố môi trường trong bể ương nuôi ấu trùng được đả m bảo với: nhiệt độdao động từ 23 – 27oC, đô mặn nằm trong khoảng từ 32,1 – 32,4‰, pH nằm trongngưỡng 7,5 – 7,8, hàm lượng Oxy hòa tan không có sự biến động mạnh đáng kể nào vànằm trong ngưỡng 6,86 – 7,67 Nhưng nhìn chung, các yếu tố môi trường luôn nằmtrong khoảng cho phép là nhiệt độ 20-29oC, độ mặn 29-34‰, pH 7,5-8,4, DO >5mg/l

Ở mật độ ương nuôi 600 ấu trùng/lít thì thu được tốc độ tăng trưởng và tỷ lệ sốngcao nhất ở khẩu phần thức ăn bằng tảo đáy là 2.000 tế bào/cm2đạt tốc độ tăng trưởngchiều dài vỏ là 49,6 µm/ngày, tỷ lệ sống là 13,97 % với tổng số bào ngư con non thuđược là 15.841 con/lô thí nghiệm Cao hơn hẳn thí nghiệm cho ăn tảo đáy ở mật độ2.500 tế bào/cm2 và 3.000 tế bào/cm2, số bào ngư con non thu được ở cả 2 nghiệmthức là 27.476 con

Ở thí nghiệm về mật độ ương nuôi cũng cho thấy mật độ ương nuôi là yếu tốquan trọng nâng cao tỷ lệ sống và tránh sự cạnh tranh thức ăn và không gian sống giúpbào ngư sinh trưởng và phát triển tốt trong quá tr ình ương nuôi Thí nghiệm cho kếtquả là mật độ ương nuôi càng thấp thì tốc độ sinh trưởng và tỷ lệ sống càng cao, trong

đó thí nghiệm nuôi ở mật độ 400 ấu trùng/lít đạt tỷ lệ cao nhất với tốc độ tăng trưởngchiều dài vỏ là 52,33 µm/ngày - con non đạt 4,4 mm và tỷ lệ sống đạt 11,36% Thínghiệm ương nuôi mật độ 500 ấu trùng/lít cho kết quả thấp nhất, tốc độ tăng trưởngchiều dài vỏ chỉ đạt 47,53 µm/ngày - con non đạt 4,023 mm, tỷ lệ sống là 8,64%

Trang 13

MỞ ĐẦU

Bào ngư (Haliotis) là nhóm động vật thân mềm một vỏ thuộc họ Bào ngư (Haliotidae), bộ Chân bụng Nguyên thủy (Archaeogastropoda), lớp Chân bụng (Gastropoda) Là loài có giá trị kinh tế cao do hàm lượng dinh dưỡng trong thịt của nó

rất cao và có khả năng chữa bệnh cho con người nên nhu cầu tiêu thụ trên thị trườngthế giới cũng ngày một gia tăng Hiện nay, các nhà khoa học trên thế giới đã phát hiệnđược khoảng 100 loài bào ngư [Winther, 1985] (trong đó có khoảng 10 loài có giá trịkinh tế cao và hứa hẹn sẽ mang lại nguồn thu nhập cho người dân) thuộc giốngHaliotis, họ bào ngư (Haliotidae), bộ chân bụng nguyên thủy (Archaeogastropoda), lớpchân bụng (Gastropoda) (Cox, 1930) [20]

Đến nay ở Việt Nam đã xác định được 4 loài bào ngư phân bố (Nguyễn Chính,

1996) [2], bao gồm: bào ngư chín lỗ (Haliotis diversicolor Reeve, 1846), bào ngư dài (Haliotis varia Linnaeus, 1758), bào ngư bầu dục (Haliotis ovina Gmelin, 1791), bào ngư vành tai (Haliotis asinina Linnaeus, 1758) Trong đó bào ngư chín lỗ (Haliotis diversicolor Reeve, 1846), còn gọi là ốc cửu khồng, là một trong những loài có giá trị

kinh tế cao nhất Và loài này đang tập trung phân bố ở vùng ven biển vịnh Bắc Bộ, nơi

có các rạn đá ngầm như Cô Tô, Minh Châu, Quan Lạn (Quảng Ninh), Cát Bà, BạchLong Vĩ (Hải Phòng)

Do nhu cầu tiêu thụ cũng như sức ép khai thác trong những năm gần đây, nguồnlợi bào ngư tự nhiên ngày một suy giảm Trước thực trạng đó, nhiều nước trên thế giớinhư New Zealand, Australia, Chile, Japan, China, Indonesia, Malaysia, Philippines vàThailand, v.v đã tiến hành những nghiên cứu về sinh học, sinh sản, sinh thái học

Và cho sản xuất giống nhân tạo nhằm cung cấp cho nhu cầu nuôi thương phẩm ở quy

mô công nghiệp, đồng thời bổ sung nguồn giống ra môi trường tự nhiên nhằm bảo tồn,khôi phục và phát triển bền vững nguồn lợi

Ở nước ta hiện nay, tuy đã có một số nghiên cứu về quy trình sản xuất giống bàongư như Viện nghiên cứu nuôi trồng thủy sản III, Viện nghiên cứu Hải sản nhưng kếtquả còn nhiều hạn chế do tỷ lệ sống của ấu trùng đến giai đoạn bào ngư giống cònthấp, quy trình chưa ổn định, chưa đi vào thực tiễn sản xuất vì vậy nguồn giống cungcấp nuôi thương phẩm còn gặp rất nhiều khó khăn

Trang 14

Vùng biển đảo của Hải Phòng, đặc biệt là ven đảo Bạch Long Vĩ, qua nhiều nămkhai thác, nguồn lợi bào ngư chín lỗ giảm sút nhanh Từ đó chho thấy, việc bảo vệnguồn lợi và phát triển nguồn bào ngư chín lỗ nhằm đáp ứng đủ nhu cầu thị trườngtrong nước hiện nay và xuất khẩu ra nước ngoài thì việc tiến hành nghiên cứu sản xuất

và ương nuôi con giống, nuôi thương phẩm, v.v., là việc hết sức cần thiết đối với nghềnuôi trồng hải sản hiện nay

Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn, học viên đã lựa chọn đề tài “Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ ương, mật độ tảo đáy lên sinh trưởng và tỷ lệ sống của b ào ngư chín lỗ (Haliotis diversicolor Reeve, 1864) từ giai đoạn ấu trùng bánh xe (Trochophora) đến giai đoạn con non kích thước 4 mm tại vùng biển Bạch Long Vỹ - Hải Phòng” nhằm nghiên cứu nâng cao tỷ lệ sống trong ương nuôi sản xuất giống bào

ngư; đồng thời bổ sung thêm nguồn con giống cho nuôi bào ngư thương phẩm

Mục tiêu nghiên cứu

- Xác định được mật độ ương nuôi phù hợp cho giai đoạn ấu trùng bánh xe(Trochophora) đến giai đoạn con non kích thước 4 mm

- Xác định được mật độ thức ăn phù hợp cho giai đoạn ấu trùng bánh xe(Trochophora) đến giai đoạn con non kích thước 4 mm

- Đề xuất được các giải pháp kỹ thuật ương nuôi ấu trùng loài bào ngư chín lỗ

(Haliotis diversicolor Reeve, 1846) nhằm ứng dụng rộng rãi trong thực thiển sản xuất Nội dung nghiên cứu của đề tài:

- Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ ương nuôi đến sinh trưởng và tỷ lệ sống c ủabào ngư từ giai đoạn ấu trùng bánh xe (Trochophora) đến con non kích thước 4 mm

- Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ tảo đáy đến sinh trưởng và tỷ lệ sống của bàongư từ giai đoạn ấu trùng bánh xe (Trochophor a) đến con non kích thước 4 mm

Ý nghĩa khoa học thực tiễn của đề tài

- Kết quả của đề tài là cơ sở khoa học để xây dựng quy trình kỹ thuật ương nuôicon giống loài bào ngư chín lỗ tại Việt Nam

Trang 15

- Việc nghiên cứu hoàn thiện kỹ thuật ương nuôi con giống bào ngư giai đoạn ấutrùng bánh xe (Trochophora) đến giai đoạn con non kích thước 4 mm thành công, đây

sẽ là cơ sở khoa học và thực tiễn để ứng dụng nhân rộng trong thực tiễn sản xuất.Ngoài ra, tài liệu và kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ góp phần nâng cao nănglực, trình độ nghiên cứu cơ bả n và là tài liệu tham khảo phục vụ cho công tác đào tạo

và nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực nuôi trồng thủy hải sản

Trang 16

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU1.1 Tổng quan về đối tượng nghiên cứu của đề tài

1.1.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là loài bào ngư chín lỗ (Haliotis diversicolor Reeve, 1846):

Loài : Haliotis diversicolor Reeve, 1846

Tên tiếng Anh: Abalone snail

Tên tiếng Việt: Bào ngư chín lỗ, cửu khổng

Hình 1.1 Mặt ngoài và mặt trong của bào ng ư chín lỗ (Haliotis diversicolor)

1.1.2 Một số đặc điểm sinh học cơ bản của bào ngư chín lỗ

Đặc điểm hình dạng vỏ:

Vỏ có dạng hình vành tai người, chiều rộng bằng 2/3, chiếu cao bằng 1/4 chiềudài Thông thường có 3 tầng xoắn ốc, đường suture giữa tầng thân và tháp vỏ sâu, tầngthân rất phát triển chiếm toàn bộ cơ thể Đỉnh vỏ tù, cá thể trưởng thành đỉnh vỏ

Trang 17

thường bị bào mòn để lộ tầng ngọc trai ra ngoài Bắt đầu từ mép vỏ của tầng xoắn ốcthứ 2 có khoảng 30 gờ nhỏ sắp xếp có thứ tự đến tận mép của miệng vỏ, 7 – 9 gờ nhỏcuối cùng đầu không k ín, dạng lỗ, những lỗ này tương ứng với lỗ hở của màng áo(lỗ hô hấp).

Mặt ngoài vỏ, gờ xoắn ốc và gờ sinh trưởng cắt nhau có dạng vải thô Mặt trong

vỏ tầng xà cừ phát triển óng ánh, không có nắp vỏ, miệng vỏ hình bầu dục Thường bắtgặp cá thể có vỏ dài 60 - 90 mm

Về cấu tạo trong bao gồm:

- Đầu: Nằm ở phía trước cơ thể có dạng hình túi bào gồm toàn bộ nang nội tạng.

Hai bên đầu có một đôi xúc tu, một đôi mắt có cuống dài Giữa 2 xúc tu có màng dagọi là lá đầu Mặt bụng của đầu là phiến môi hình đĩa r ất phát triển, giữa phiến môi làmiệng

- Màng áo: Nằm ở mặt lưng của cơ thể có dạng hình túi bào trùm toàn bộ nang nội

tạng Giữa màng áo và nang nội t ạng là xoang màng áo, trong xoang màng áo có mộtđôi mang hình lông chim và cơ quan kiểm tra chất nước (os phradium) Trên màng áo

có xúc tu và tế bào sắc tố làm nhiệm vụ cảm giác Trên màng áo có các lỗ thông vớibên ngoài tương ứng với các lỗ trên vỏ Màng áo tiết ra một vỏ che đậy mặt lưng cơthể bào ngư

- Hệ thống cơ gồm:

+ Cơ trục vỏ: Gắn phần thân mềm với vỏ, cơ rất lớn.

+ Cơ vòng: nằm xung quanh mép màng áo.

+ Cơ phóng xạ: Chạy dọc trên mang áo.

+ Cơ co duỗi chân

- Hệ thần kinh: Trung khu hệ thống thần kinh chưa tập trung, các hạch thần kinh

thô, kéo dài và dẹp Gồm:

+ Hạch não: một đôi ở phía trước hai bên túi xoang miệng.

+ Hạch bên: một đôi nằm trong hố sâu phía trước bên phải của vỏ.

+ Hạch chân: Một đôi nằm gần hạch bên.

Trang 18

+ Hạch tạng: Từ bên trái khối thần kinh bên -chân có dây thần kinh đi qua mặt

bụng của thực quản đến gần phía trước mang phải dây thần kinh này chia làm 2 nhánh

- Hệ hô hấp: Gồm một đôi mang nằm trong xoang màng áo, vị trí của mang nằm

phía trước tâm thất, mang dạng lông chim Mang trái phát triển hơn mang phải Độngmạch vào mang ở mặt lưng của mang Tĩnh mạch ra mang ở mặt bụng của mang

- Hệ thống tiêu hoá: Miệng nằm ở mặt bụng phía trước của đầu, miệng đơn giản

gồm:

+ Túi xoang miệng: Trong túi xoang miệng có phiến hàm và lưỡi sừng, trên lưỡixừng có nhiều rằng sừng

+ Thực quản: Từ miệng trước khi vào thực quản có 2 van ngăn cách làm cho thức

ăn đi theo một chiều từ miệng vào thực quản Thực quản tương đối dài, mặt trong cónhiều nếp nhăn nheo

+ Túi crop (diều): Sau thực quản là túi phình to được gọi là túi crop

+ Manh nang dạ dày: Là một bộ phận xoắn ốc của tuyến tiêu hóa, từ manh nang

dạ dày vào dạ dày có van ngăn cách

+ Dạ dày: dạ dày lớn hình túi, vách mỏng, bao quanh dạ dày là tuyến tiêu hóamàu xanh nâu

+ Ruột: Ruột dài uốn khúc hình ch ữ “N”, ruột chia làm 3 đoạn: ruột trên, ruộtdưới và trực tràng, tận cùng là hậu môn đổ ra ở gốc khe màng áo

- Hệ bài tiết: bao gồm thận, tuyến xoang bao tim, tế bào tuyến ở xoang máu + Thận gồm một đôi, thận phải phát triển hơn thận trái.

+ Tuyến xoang bao tim nằm ở mặt ngoài tâm nhĩ có nhiệm vụ bài tiết cặn bã

+ Ngoài ra ở xoang máu có các tế bào Leydig có tác dụng bài tiết.

- Hệ sinh dục: Bào ngư sinh sản đơn tính, không có cơ quan giao hợp, không có

tuyến sinh dục phụ nên nhìn hình dạng ngoài rất khó phân biệt đực và cái Cơ quansinh dục bao quanh gan và kéo dài về phía trước ôm lấy cơ trục vỏ

+ Tuyến sinh dục cấu tạo gồm 3 phần: túi sinh dục, ống sinh dục, ống dẫn sản phẩm

sinh dục và cuối cùng là lỗ sinh dục

Trang 19

Đặc điểm phân bố: Bào ngư sống ở vùng biển cạn, hải đảo có các rạng đá ngầm

và san hô chết, ở các vùng biển ấm có nhiệt độ từ 10 – 35 oC, độ mặn tương đối cao từ

25 - 35 %o Phân bố ở dưới tuyến hạ triều đến độ sâu - 20 m so với số 0 hải đồ, tậptrung nhiều ở độ sâu -4 m đến -6 m, thể càng lớn càng phân bố sâu hơn Sống ở vùng

có nhiều rong biển như rong đỏ (Rhodophyta), rong nâu (Phaeophyta), đặc biệt là rong

mơ (Sargassum)

Phương thức sống của bào ngư thay đổi theo quá trình phát triển: giai đoạn ấutrùng phù du sống tự do bơi lội trong nước, giai đoạn trưởng thành sống bò lê và bámtrên đáy đá

Dinh dưỡng, sinh trưở ng

Thức ăn của bào ngư rất phong phú và thay đổi theo từng giai đoạn:

+ Giai đoạn ấu trùng bánh xe và giai đoạn đầu của ấu trùng diện bàn, chúng dinhdưỡng dựa vào nguồn noãn hoàng ở trong trứng

+ Cuối giai đoạn ấu trùng diện bàn, chúng sử dụng các lo ại tảo đơn bào có kích

thước nhỏ làm thức ăn như: Isochrysis, Chlorella, Monas, Platymonas, Cryptomonas,

+ Giai đoạn sống đáy: chúng ăn các loài tảo đơn bào sống đáy như Navicula, Nitzschia, Coscinodiscus,

+ Giai đoạn trưởng thành: thức ăn chủ yếu là 2 ngành rong: rong nâu(Phaeophyta) và rong đỏ (Rhodophyta)

Bào ngư bắt mồi chủ động, thường hoạt động vào ban đêm Chúng kết hợp phiếnhàm và lưỡi sừng để lấy và cắt thức ăn Dùng lưỡi sừng nạo sạch rong rêu bám trên đá

Đặc điểm sinh sản

Bào ngư 2 tuổi sẽ bắt đầu tham gia sinh sản Mùa vụ sinh sản chính tập trung vào

2 mùa: xuân hè từ tháng 4 đến tháng 5 và thu đông là từ tháng 10 đến tháng 11

Bào ngư Bào ngư đạt kích thước từ 7 - 9cm, độ tuổi phù hợp cho sinh sản là từ

2 - 3 tuổi (khoảng 15 con/kg) là có thể cho tham gia sinh sản được

Trang 20

Bào ngư thành thục sinh dục mang tuyến sinh dục > 80% tinh hoặc trứng đã chín tuyếnsinh dục thành thục và chín (cuối giai đoạn III) khi con đực có tuyến sinh dục màutrắng - sữa đục, con cái có buồng trứng màu xanh - xám đen.

Trứng Bào ngư thụ tinh ngoài: trứng và tinh trùng được phóng ra môi trườngnước và thụ tinh ngoài nước, quá trình phát triển phôi cũng diễn ra trong môi trườngnước

Các cá thể bào ngư bố mẹ càng lớn cho tỷ lệ số trứng càng nhiều Cần thu bàongư bố mẹ vào các tháng có nhiệt độ thấp (từ giữa mùa thu đến đầu mùa xuân, nên thugom vào sáng sớm hoặc chiều mát), vận chuyển và đưa nhanh đàn bào ngư bố mẹ vềtrại sản xuất

1.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước

Bào ngư là loài động vật thân mềm chân bụng, thuộc giống Halotis, họ bào ngư (Haliotidae), bộ chân bụng nguyên thủy (Archaeogastropoda), lớp chân bụng (Gastropoda) Theo Croft (1929) lần đầu tiên nhóm bào ngư được nghiên cứu từ thế

kỷ thứ IV trước Công Nguyên bời nhà khoa học Aristotle Tuy nhiên, đến năm 1740bào ngư mới chính thức được nhà khoa học Linne’ nghiên cứu, định loại và có tên

giống trong hệ thống phân loại là Haliotis Trong tuyển tập 10 sách có tựa đề

“Systema Naturae” xuất bản năm 1755, ông mô tả đặc điểm phân loại của 7 loài trong

giống Haliotis (Haliotis midae, H tuberculata, H friata, H varia, H marmorata, H asinina, H parva) Sau đó, vào năm 1791 Gmelin là người thứ hai mô tả đặc điểm phân loại của một số loài khá như H garbra, H ovina, H gigantean Tuy nhiên,

người có công lớn nhất trong việc xác định hệ thống phân loại của bào ngư làRafinesque (Cox, 1962) [20] Năm 1815, ông xếp bào ngư vào họ phụ Haliotidia và

mô tả một số đặc điểm cơ bản của họ bào ngư Năm 1822, Fleming đã xếp bào ngư là

một giống Halotis duy nhất Qua đó cho thấy, đến năm 1822 hệ thống phân loại bào

ngư mới được hoàn thiện Đến nay đã xác định được khoảng 100 loài thuộc 1 giống

duy nhất Haliotis (10 loài có giá trị kinh tế cao, trong đó có bào ngư chín lỗ - H diversicolor Reeve, 1846), phân bố rộng trên toàn thế giới (Cox, 1962) [20].

Bào ngư phân bố ở các vùng sinh thái biển có môi trường nước trong, xa c ửasông, độ mặn cao (25 - 32‰), vùng nước có sóng gió, hàm lượng oxy hòa tan cao

Trang 21

Các cá thể con non có chiều dài vỏ nhỏ hơn 50mm thường sống bám trên rong, mặtdưới của đá tảng ở vùng nước cạn có độ sâu từ 1 - 3m nước Các cá thể có kích thướclớn hơn (trên 50 - 100mm) sống tập trung theo quần đàn ở các rạn đá ngầm có mựcnước sâu hơn Nhiều cá thể trưởng thành có thể phân bố ở vùng rạn có độ sâu lên tới20m nước (Newman, 1968) [30] Đầu những năm 60, trong báo cáo của mình Cox đãđiểm lại các công trình nghiên cứu về phân bố của bào ngư trên thế giới Sự phát hiệncác hóa thạch của vỏ bào ngư có niên đại ở thế kỷ Oligocene cách đây 30 - 35 triệunăm cho thấy chúng phân bố rộng ở tất cả các lục địa lớn, ven cá hòn đỏa ở Thái BìnhDương, Đại Tây Dương và Ấn Độ Dương (Cox, 1962) [20].

Ở vùng biển Tây Thái Bình Dương, bào ngư phân bố từ bán đ ảo Kamchatka đếnvùng bờ biển Nhật Bản, Triều Tiên, Hàn Quốc, Trung Quốc, Đài Loan, Việt Nam,Thái Lan, Malaixia, Philippin, Inđônêxia, Ôxtơrâylia, Niudilân Ở bờ biển phía Tâycủa Bắc Mỹ kéo dài từ bán đảo Alaska đến vịnh Baja của bang California cũng cónhiều loài bào ngư phân bố Tuy nhiên, ở vịnh Mêxicô, Trung Mỹ và vùng bờ tây củaNam Mỹ không có bào ngư phân bố Ở Ấn Độ Dương, bào ngư phân bố ở các đảo củavịnh Bengal (vùng bờ biển Alaska và Nicobas), dọc theo bờ biển của Ấn Độ, Sri Lancatới vịnh Pecxích và biển Hồng Hải Nhiều loài bào ngư sống ở vùng bờ phía đông củachâu Phi, kéo dài dọc theo bờ biển Tandania, đảo Mađagaxca cho đến vùng biển củaNam Phi

Những năm gần đây nhiều nghiên cứu sản xuất giống các loài bào ngư ở vùngbiển nhiệt đới đã bắt đầu được triển khai Do có kích thước cá thể lớn, tốc độ tăng

trưởng nhanh nên bào ngư vành tai H asinina đã được nghiên cứu sản xuất giống ở

Thái Lan, Philipin, Malaixia, Indonexia Tuy nhiên kết quả rất hạn chế do tỷ lệ sốngđến giai đoạn bào ngư giống rất thấp Kết quả nghiên cứu của Singhagraiwan (1991)[35] cho thấy tỷ lệ sống của ấu trùng từ giai đoạn Trochophora đến giai đoạn Veligerđạt 90% và đến giai đoạn ấu trùng thể bám Spat chỉ đạt 5 - 7% Nghiên cứu củaPoontong (1997) [32] đã tăng tỷ lệ sống đến giai đoạn bào ngư hơn 1 tháng tuổi lên 10

- 20% Trong khi đó, kết quả nghiên cứu của Fermin (1998) [22] ở SEAFDEC,Philipin chỉ đạt dưới 10% Công bố của Viện Nghiên cứu Thủy sản Penang, Malaixia

về tỷ lệ sống đến giai đoạn bám đáy là 5 - 10%

Trang 22

Trên thế giới đã có một số công trình nghiên cứu về sản xuất giống một số loài

bào ngư như H discis, H siebolii, H gigantea Các kết quả nghiên cứu còn nhiều vấn

đề chưa thống nhất: Năm 1935, Murayama [29] đã nghiên cứu sản xuất giống Bào ngư

H discis hannai và kích thích sinh sản bằng cách nâng nhiệt độ, pH nước, ương nuôi

ấu trùng trong 6 tuần lễ, đạt chiếu dài vỏ 1 mm Năm 1952, Ino [25] thành công trong

sản xuất giống 2 loài Bào ngư khác là H discus và H siebolii Ông ương nuôi được

Bào ngư đến hơn 1 tháng tuổi, đạt kích thước 2 mm Năm 1984, Uki và Kikuchi [38]xem xét các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình thành thục sinh dục, có khả năng sinh sản.Điều quan trong là xác định được điều kiện môi trường và các yếu tố dinh dưỡng, chu

kỳ chiếu sáng và nhiệt độ nước Số lượng và c hất lượng thức ăn đóng vai trò quantrọng trong quá trình phát triển và thành thục sinh dục của bào ngư bố mẹ

Kết quả điều tra tỉ lệ đực cái ở các nhóm kích thươc khác nhau của 1100 cá thể

loài H corrugata, loài H fulgens và 600 loài H sorenseri ở vùng biển phía tây nước

Mỹ cho thấy, tỉ lệ đực cái xấp xỉ 1:1 ở tất cả các nhóm kích thước cá thể Tuy nhiên, ởkích thước nhỏ thì con cái nhiều hơn con đực và kích thước lớn hơn thì con đực nhiềuhơn con cái (Tutschulte, 1981) [37] Kết quả các nghiên cứu c ho thấy mùa sinh sảncủa các loài bào ngư liên quan đến sự phân bố theo vĩ độ, các điều kiện môi trườngsống, sự biến đổi nhiệt độ nước trong năm và nguồn thức ăn nơi phân bố Kích thước

là tuổi thành thục sinh dục lần đầu của bào ngư cũng biến đổi phụ thuộc vào nơi phân

bố của chúng Tỉ lệ đực cái trong quần thể tự nhiên là 1:1 (Ino, 1952 [25]; Lee 1973[27]; Shepherd, 1974 [34]) Sức sinh sản của một số loài bào ngư đang được nuôithương phẩm trên thế giới dao động từ 1,3x103(kích thước cá thể 68 mm) đến 1,1x107trứng/cá thể (kích thước 182 mm)

Nghiên cứu về sinh trưởng: Việc nghiên cứu tốc độ sinh trưởng và các yếu tố ảnh

hưởng đến sinh trưởng của bào ngư có ý nghĩa rất quan trọng trong việc tính toán hiệuquả nuôi trồng và quản lý nguồn lợi Sakai (1962) đã nghiên cứu tốc độ sinh trưởng

của loài bào ngư H discus hannai trong điều kiện tự nhiện bằng phương pháp tính

vòng sinh trưởng năm trên vỏ Tác giả đã xác định được sự tăng trưởng trong 2 năm là

4,7 cm, 4 năm 8,5 cm và 5 năm 10 cm Đối vi loài bào ngư H midae ở vùng biển

Nam Phi có vòng sinh trưởng năm không rõ ràng Do vậy Newman (1968) [30] đã ước

Trang 23

tính sinh trưởng bằng phương pháp đánh dấu thả nuôi - bắt lại và phân tích tần số

chiều dài vỏ Shepherd và cộng sự đã nghiên cứu sự sinh trưởng của l oài H mariae ở

vùng biển Ôman Số liệu cho thấy sự tăng trưởng chiều dài vỏ đạt 43 mm trong nămđầu tiên và giảm xuống 20 mm ở năm thứ 2 Kết quả nghiên cứu này đã giúp ích hữuhiệu cho việc đánh giá nguồn lợi bào ngư ở vùng biển Ôman

Bào ngư có tốc độ tăng trưởng chiều dài vỏ nhanh trong năm thứ nhất và năm thứhai Theo kết quả nghiên cứu cảu Akio (1984) [18] ở Nhật Bản, con giống Bào ngưsản xuất vào tháng 10,11 phải được nuôi trong vòng 8 tháng mới cho con giống cỡ 13 -

15 mm Con giống này cũng được g ọi là giống 1 năm tuổi

Chu kì sinh trưởng và tuổi thọ của bào ngư có sự dao động lớn giũa các loài.Tuổi thọ dao động từ 10 năm đối với những loài kích thước nhỏ, đến 40 năm vớinhững loài bào ngư trắng (McShane, 1994) [28] Tổng hợp các kết quả nghiên cứusinh trưởng bào ngư cho thấy: 1) Tốc độ sinh trưởng cảu bào ngư thay đổi theo khuvực, mùa và yếu tố nhiệt độ 2) Tốc độ sinh trưởng có thể không giống nhau trongcùng một loài ở cùng một khu vực

Hình 1.2 Vòng đời sinh trưởng và phát triểu của bào ngư

Nghiên cứu về thức ăn: Việc nghiên cứu về thức ăn ảnh hưởng đến bào ngư rất

quan trọng Theo kết quả nghiên cứu của S Sawatpeera và cộng sự, P Jarayabhand vàcộng sự về thành phần thức ăn của bào ngư bầu dục và bào ngư vành tai ở Thái Lan

Trang 24

cho thấy ngoài các loài rong sống đáy làm thức ăn như Gracilaria salicornia, Enteromorpha intestinalis cò có tảo đáy như Navicula, Nitzschia, Amphora, Diploneis, Cocconeis.

Nghiên cứu về mô hình nuôi: Hiện có 3 hình thức nuôi bào ngư: nuôi lồng trong

bể xi măng, nuôi lồng treo bè ngoài biển, nuôi thả đáy trên bãi đá, rạn san hô dọc bờbiển

- Nuôi bằng lồng trong bể xi măng

+ Lồng nuôi hình chữ nhật bằng nhựa có lỗ, kích thước 50 x 40 x 30 cm, treotrong bể xi măng hoặc xếp trồng lên nhau cách đáy 20 cm Bể xi măng hình chữ nhậtdiện tích 10 x 2 x 1 m, có mái che nắng, xung quanh để trống, trong đó có một hộc nhỏ

để lọc nước biển chảy tuần hoàn: nhiệt độ 26 – 30oC, độ mặn 30 - 35 ‰, độ pH = 7,6

- 8,7, ôxy hoà tan 5 ml/lít

+ Cho ăn: dùng rong mơ thái vụn 1cm hoặc rong câu chỉ vàng, 3 - 4 ngày cho ăn

1 lần và cho ăn dư thừa, với hệ số 16:1 Tạo dòng nước luân chuyển tuần hoàn trong

bể với tốc độ 10 lít/phút để kích thích bào ngư ăn và sinh trưởng Hàng ngày thay 20 –

30 cm nước trong bể, vớt xác chết, thức ăn thừa trong lồng Hàng tháng thay 100%nước, thay lồng và chuyển sang bể nuôi mới

+ Mật độ nuôi: 60 - 100 con/lồng kích cỡ 100 mm trở lên Khi bào ngư nuôi đạtkích thước 20 – 25 mm thì san lồng nuôi với mật độ 30 con/lồng

- Nuôi bằng lồng treo bè ngoài biển

+ Vị trí nuôi: bào ngư nuôi ở vùng tương đối kín gió, không có sóng lớn (khônglàm hỏng lồng nuôi và bè), độ mặn ổn định 30 – 35 ‰, xa cửa sông, không có nướcngọt chảy vào và có dòng chảy lưu thông, độ sâu 6 – 8 m

+ Lồng nuôi: sử dụng lồng nuôi hình chữ nhật bằng nhựa có lỗ (3 – 4 mm), kíchthước 50 x 40 x 30 cm có dùng móc nhựa gài nắp để tiện cho việc kiểm tra và cho ăn.Lồng được treo trên bè nổi cách nhau 0,5 m và ở độ sâu 2 – 5 m

+ Bè nuôi: có thiết kế và quy cách như bè nuôi tôm hùm Có thể nuôi tôm hùm ở dưới,nuôi bào ngư ở lớp nước trên Bè nuôi thiết kế di động để có thể di chuyển khi mưabão, sóng lớn

Trang 25

+ Mật độ nuôi 60 - 100 con/lồng (cỡ 10 mm trở lên) Khi bào ngư đạt 20 – 25

mm san lồng nuôi mật độ 30 con/lồng

+ Cho ăn: rong câu chỉ vàng, rong mơ thái vụn, 3 - 4 ngày cho ăn 1 lần và cho ăn

dư thừa

+ Vệ sinh lồng nuôi: sau 1 tuần nuôi, dùng bàn chải cọ kỹ lồng nuôi, diệt trừ địchhại, vớt thức ăn thừa, xác bào ngư chết Hàng tháng thay lồng nuôi mới

- Nuôi thả đáy trên bãi đá dọc bờ biển

+ Vị trí nuôi: nuôi bào ngư ở vùng trung triều có độ sâu khi triều xuống cạn còn

1 – 2 m nước, độ mặn cao và ổn định 30 – 35‰, dòng chảy tương đối (5 m/giây),không có nước ngọt chảy vào, xa cửa sông Đáy đặc biệt là đá tảng hay rạn san hô đ ểbào ngư ẩn trốn và nhiều tảo, rong

+ Thức ăn: ngoài các loại rong, cần rải định kỳ rong câu chỉ vàng (5 - 7 ngày/lần)

để tăng cường thức ăn cho bào ngư, rải vào 4 - 5 giờ chiều tối để bào ngư ra ăn

+ Cách thả giống: trước khi thả phải ương bào ngư giống trong bể xi măng từ 3 –

5 mm cho tới khi bào ngư được 15 mm thì thả giống Thả vào lúc 6 – 9 giờ sáng Đểbào ngư bám vào bản tảo rồi thả xuống vùng nuôi, sau đó bào ngư phát tán ra xungquanh

+ Mật độ nuôi: 15 - 20 con/lồng Trước khi thả phải lặn bắt hết địch hại như saobiển, bạch tuộc Thả thức ăn rong tảo xuống, kiểm tra định kỳ tỉ lệ sống chết của bàongư

Nghiên cứu về phục hồi nguồn lợi bào ngư:

Nhiều nước trên thế giới nghiên cứu hồi phục và phát triển nguồn lợi tự nhiên.Một trong những hướng quan trọng và hiệu quả mà nhiều nước đang tiến hành nghiêncứu thử nghiệm đó là thả giống nhân tạo xuống biển để phục hồi nguồn lợi Thửnghiệm của Tong và cộng sự đã mang lại kết quả khả quan khi thả 300.000 ấu trùng

Veliger 13 tuổi loài Bào ngư H.irris xuống rạn đá nhô ra biển Ấu trùng Veliger thường bám vào bề mặt của loài rong Lithothamnium và biến thái chuyển sang giai

đoạn Bào ngư con có kích thươc 2 -3 mm Tốc độ sinh trưởng ngày của ấu trùng bámSpat là 22 µm và mật độ đạt tới 68 cá thể/m2+(Tong, 1987) [36]

Trang 26

Từ những kết quả nghiên cứu cho thấy, trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu vềtình hình phân bố, đặc điểm sinh học, sinh sản, sinh trưởng, thức ăn, nguồn lợi Những năm gần đây, một số nước đang tập trung nghiên cứu, tiến hành sản xuấ t giống

và nuôi thương phẩm Tuy nhiên, những nghiên cứu cụ thể về loài bào ngư chín lỗ

(Haliotis diversicolor) còn ít và rất hạn chế, đặc biệt là những nghiên cứu về thức ăn

nhân tạo cho bào ngư chín lỗ còn chưa được thực hiện

1.3 Tình hình nghiên cứu trong nước

Tổng hợp kết quả nghiên cứu về thành phần loài, phân bố sinh thái, sinh sản vàbảo tồn, phục hồi nguồn lợi bào ngư ở Việt Nam cho thấy Từ giai đoạn trước cho đếnnăm 1991, các nghiên cứu bào ngư ở Việt Nam chủ yếu tập trung vào những nghiêncứu điều tra và thống kê danh mục thành phần loài, mô tả hình thái cấu tạo và sinh tháiphân bố (Nguyễn Chính, 1996) [2] Sau năm 1992 đến nay, có một số nghiên cứu vềđặc điểm thành phần loài, phân bố, sinh học sinh sản tự nhiên, sinh sản nhân tạo v ànuôi thương phẩm bào ngư (Nguyễn Văn Chung, 1996 [3]; Hà Đức Thắng, 1996 [12];

Lê Đức Minh, 1999,2000 [8,9])

Thành phần dinh dưỡng:

Theo Bộ Thủy sản – Trung tâm tin học (2005) [1], Bào ngư là loài hải sản cóhàm lượng dinh dưỡng cao Trong thành phần dinh dưỡng thì hàm lượng Protein khácao (20,5%), Glucid là 7,4%, trong khi đó hàm lượng lipit thấp (0,9%), canxi cao(3,038%) Chính vì thế thịt Bào ngư còn là loại thức ăn phù hợp cho những ngườigiảm béo Thành phần dinh dưỡng trong thịt Bào ngư được th ể hiện trong bảng 1

Bảng 1.1: Thành phần dinh dưỡng chính trong 100 g thịt Bào ngư

Trang 27

Nguồn: Tony Hsu Taiwan food&beverage Publishing Co, march 2000

Vùng phân bố chính: Ở Việt Nam, bào ngư chín lỗ (Haliotis diversicolor) phân

bố ở vùng biển vịnh Bắc Bộ, tập trung chủ yếu ven các đảo Cô Tô, Quan Lạn (QuảngNinh), Bạch Long Vĩ, Cát Bà (Hải Phòng), phân bố ở khu vực có độ sâu 5 - 20m, nơi

có sóng gió, đáy là các rạn đá tảng, độ mặn 27 - 32‰, nhiệt độ nước 20 - 28oC Mùa

vụ sinh sản rộ nhất vào tháng 2 - 4 và tháng 8 - 10 âm lịch (Bộ Thủy sản, Trung tâmtin học - FICEN, 2005) [1]

Theo nghiên cứu của Hà Đức Thắng (1996) [12], bào ngư chín lỗ (Haliotis diversicolor) phân bố chủ yếu ở Quảng Ninh, Hải Phòng Chúng sống ở nơi có độ

trong cao, ít bị ảnh hưởng của nước ngọt Ban ngày ẩn nấp ở vách khe đá, ba n đêm bò

Trang 28

Đặc điểm sinh học sinh sản: Bào ngư chín lỗ có 2 mùa vụ sinh sản chính là vào tháng 4 - 5 và tháng 10 - 11 Bào ngư bầu dục (H ovina), bào ngư dài (H varia), bào ngư vành tai (H asinina) sinh sản quanh năm và tập trung nhiều ở một số tháng Cá

thể bào ngư bầu dục và bào ngư vành tai thành thục sinh dục khi chiều dài vỏ lớn hơn40mm Tỷ lệ đực cái mẫu thu được xấp xỉ 1:1 (Nguyễn Văn Chung, 1998 [4]; Hà ĐứcThắng, 1996 [12]; Lê Đức Minh, 1998,1999,2000 [7,8,9, 10]) Những nghiên cứu vềsinh sản nhân tạo và thử nghiệm sản xuất giống các loại bào ngư chín lỗ, bào ngư bầudục và bào ngư vành tai đã dùng 3 phương pháp kích thích sinh sản có h iệu quả: chiếutia cực tím vào nguồn nước trước khi chảy vào bể đẻ, tăng giảm nhiệt độ nước và thayđổi chu kỳ chiếu sáng ngày đêm Sau 5 – 7 h đối với bào ngư vành tai, 10 - 13h đối vớibào ngư bầu dục Trứng thụ tinh nở thành ấu trùng Trochophora và chuyển sang ấutrùng Veliger, ấu trùng bám Spat, sau 2 - 3 tháng bào ngư đạt kích >4 mm chuyền sangnuôi thương phẩm Kết quả cũng cho thấy rong mơ là thức ăn thích hợp cho bào ngưgiống nuôi thương phẩm

Nghiên cứu về thức ăn:

Năm 2006, Lê Đức Minh [11] đã bố trí các lô thức ăn về thức ăn tổng hợp và

rong câu để theo dõi tố độ tăng trưởng của bào ngư vành tai ( Haliotis asinina, Linne’,

1758) giai đoạn 3 - 5,5mm cho thấy: từ khi thả đến ngày thứ 60 , thời gian đầu tốc độtăng trưởng và tỷ lệ sống của bào ngư khi cho ăn rong câu chỉ vàng nhanh hơn cho ănthức ăn tổng hợp; nhưng từ ngày thứ 70, do bào ngư đã quen với thức ăn tổng hợp thìtốc độ tăng trưởng và tỷ lệ sống lại cao hơn khi cho bào ngư ăn t hức ăn là rong câu chỉvàng

Qua những kết quả trên có thể nhận thấy rằng, những nghiên cứu về bào ngư ởViệt Nam mới chỉ bắt đầu trong những năm gần đây Đặc biệt, cho đến nay, chỉ có

nghiên cứu loài bào ngư chín lỗ (Haliotis diversicolor Reeve, 1846) về sinh sản, ương

giống và nuôi thương phẩm bằng thức ăn tự nhiên

Qua các công trình nghiên cứu về phân bố của bào ngư chín lỗ cho thấy, chúngphân bố tập trung ở vùng biển Cô Tô, Quan Lạn (Quảng Ninh), Đông Nam đảo Cát Bà

và đảo Bạch Long Vĩ (Hải Phòng) Trong đó, đảo Bạch Long Vĩ là nơi có độ trong, độmặn ít chịu ảnh hưởng của nước ngọt nên đây là nơi lý tưởng để bào ngư sinh sống và

Trang 29

phát triển Chính vì thế, việc chọn đảo Bạch Long Vĩ (Hải Phòng) làm địa điểm triểnkhai thực nghiệm sản xuất giống để tìm hiểu ảnh hưởng của thức ăn đối với bào ngưchín lỗ là phù hợp.

Kết quả điều tra thực tế của Viện Nghiên cứu Hải sản giai đoạn từ năm 2008

-2010 cho thấy khu vực bào ngư phân bố như sau: Địa hình nền đáy biển là đá tấm, đáphiến, vỉa san hô tạo nên nhiều hang hốc làm nơi trú ngụ; Độ mặn ổn định, cao, daođộng trong khoảng 29-32‰; Nhiệt độ >20o C; pH > 8; DO >5mg/l; Nơi nước lưuthông với lưu tốc ≤ 5 m/s, có sóng thường xuyên, nước trong; Độ sâu phân bố từ 1-20

m nước nơi có nhiều rong biển, mùn bã hữu cơ, các động vật có kích thước nhỏ và ítđịch hại

Kết quả khảo sát, điều tra của Viện Nghiên cứu Hải sản năm 2008 - 2010 tạiBạch Long Vĩ còn cho thấy: Tổng diện tích bào ngư phân bố là 6,645 km2 với trữlượng ước tính là 74.493 kg Ước tính trữ lượng khai thác cho phép là từ 700 - 750 kgbào ngư/năm trong thời gian 3-5 năm tới nhằm phục hồi trữ lượng bào ngư tại đảo(bảng 1.2)

Bảng 1.2 Mật độ, diện tích phân bố và khả năng khai thác bào ngư

Mật độ

(con/m 2 )

Diện tích bào ngư phân bố (km 2 )

Sinh lượng trung bình (g/m 2 )

Trữ lượng tức thời (kg) Mức khai thác bền vững (kg)

Bảng 1.3 Bảng chỉ tiêu thông số môi trường nuôi bào ngư thương phẩm.

Trang 30

Bạch Long Vĩ có tọa độ địa lý 20o07'35'' - 20o08'36'' vĩ độ Bắc; 107o 42'20''

-107o 44'15'' kinh độ Đông Do vị trí giữa vịnh (cách Hòn Dấu - Hải Phòng 110 km,cách đảo Hạ Mai 70 km, cách mũi Ta Chiao - Hải Nam 130 km), đảo có một vị tríquan trọng trong việc phân định ranh giới trên biển ở Vịnh Bắc Bộ Ngoài ra, đảo cònthuộc một trong 8 ngư trường lớn của vịnh, có một vị trí quan trọng trong chiến lượcphát triển kinh tế, an ninh - quốc phòng biển của nước ta ở vịnh Bắc Bộ

Hình 1.3 Bản đồ địa lý đảo Bạch Long Vĩ - Hải Phòng

Trang 31

Đặc điểm thuỷ lý, thuỷ hoá

- Nhiệt độ nước (t0C): Nước biển quanh khu vực đảo có nhiệt độ dao động từ18,7 đến 29,70C, trung bình 24,40C Nhiệt độ nước biển thường thấp vào tháng mùaĐông (tháng 11 đến tháng 4 năm sau), dao động từ 18,7 đến 20,90C, thấp nhất vàotháng 1, 2 Các tháng mùa Hè nhiệt độ nước cao hơn, tháng 7, 8 nhiệt độ nước daođộng từ 24,0 - 29,70C Quan trắc của Trần Lưu Khanh (2007)[6] cũng cho kết quảtương tự với nhiệt độ nước quanh đảo tháng 4 - 5 ổn định từ 23,4 - 24,60C; tháng 9 -

10 nhiệt độ từ 28,9 - 30,00C, nhiệt độ nước biển quanh đảo thuận lợi cho sinh vật biểnnhiệt đới phát triển

- Độ mặn (S‰): Nước biển ven bờ đảo có độ mặn cao và khá ổn định từ 33,8‰, trung bình 33,1‰ và có sự khác biệt theo mùa mưa và khô Vào mùa mưa khigió mùa Tây Nam hoạt động mạnh cộng với sự ảnh hưởng của dải hội tụ nhiệt đới tâyThái Bình Dương đã gây mưa trên toàn vùng biển phía Bắc của nước ta Vào các thángmùa mưa, độ mặn ổn định trong khoảng hẹp từ 32,3 - 32,5‰ thấp hơn so với các thángmùa khô, nồng độ mặn 32,8-33,4 ‰ (http://www.haiphong.gov.vn)

32,2-Theo kết quả khảo sát của Cục cảnh sát biển Việt Nam (2006) [17], đợt tháng 6năm 2006 khu vực quanh đảo cho kết quả độ mặn khá cao 33,1-34,0‰ Kết quả quantrắc năm 2007 của Trần Lưu Khanh (2007) [6], tháng 4 - 5 ghi nhận độ mặn trongnước khu vực trung bình đạt 34,1‰; tháng 9 - 10, độ mặn thấp hơn (trung bình32,6‰)

- Hàm lượng ôxy hòa tan (DO):Hàm lượng DO tại khu vực biển Bạch Long Vĩkhá cao dao động từ 5,0 - 6,5mg/l Tuy nhiên, môi trường nước trong khu vực có biểuhiện thiếu hụt DO cục bộ tại tầng đáy một số trạm nghiên cứu khu vực âu tàu Kết quảnghiên cứu của đề tài cao hơn kết quả nghiên cứu của Cục Cảnh sát biển Việt Nam đợttháng 6/2006, hàm lượng DO dao động 4,77 - 5,50 mg/l, trung bình đạt 5,22 mg/l; kếtquả quan trắc của Trần Lưu Khanh (2007) [6] cho thấy hàm lượng DO trong tháng 4 -

5 tương đối cao (5,60 - 6,70mg/l), tháng 9 - 10 có biểu hiện suy giảm với hàm lượng

DO dao động 4,59 - 5,56mg/l

- Trị số pH: Trị số pH trong nước khu vực quanh đảo mang đặc trưng môi trườngnước biển khơi với các kết quả nghiên cứu đều cho giá trị kiềm yếu và nằm trong

Trang 32

GHCP (6,5-8,5) theo QCVN 10:2008 Hàm lượng pH tương đối ổn định, dao động từ8,05 - 8,25 Kết quả quan trắc của Trần Lưu Khanh (2007) [6], cho kết quả trị số pHtrong tháng 4-5 dao động 8,05 - 8,25; tháng 9, trị số pH giảm dao động từ 7,79- 7,99.

- Độ đục:Do nằm khá xa đất liền nên không bị ảnh h ưởng nhiều bởi nguồn nước

đục từ lục địa đổ ra, do đó môi trường nước biển ven đảo Bạch Long Vĩ có độ đục kháthấp, dao động 2-9 NTU, trung bình 4,4 NTU

Bảng 1.4 Giá trị các thông số môi trường cơ bản nước biển đảo Bạch Lon g Vĩ Thông số

Giá trị

Nhiệt độ ( o C)

Độ mặn (‰)

DO (mg/l)

(NTU)

5

T9-Trung bình 24,2 29,7 34,1 32,6 6,10 5,18 8,19 7,95 4,4 5,6

Hiện trạng đa dạng sinh vật.

Đảo Bạch Long Vĩ (Hải Phòng) nằm ở ngoài khơi, giữa vịnh Bắc Bộ có vị tríchiến lược rất quan trọng Ở đây hệ sinh thái san hô phát triển tốt, là nơi sinh cư củanhiều loài sinh vật biển Xung quanh đảo Bạch Long Vĩ là những bãi cá, tôm, mựcthuộc loại lớn nhất vịnh Bắc Bộ Vùng biển đảo Bạch Long Vĩ có thể xem là một nơicung cấp nguồn gen sinh vật biển, nguồn giống cho cả vùng trung tâm và vùng ven bờcủa vịnh Bắc Bộ Hệ sinh thái sinh vật đảo Bạch Long Vĩ tương đối phong phú baogồm các loài thực vật phù du, động vật phù du, động vật đáy cỡ lớn Để làm rõ mốiquan hệ giữa thức ăn và môi trường sống, chúng ta tóm lược qua một số thông tin vềloài bào ngư chín lỗ và thành phần các loài rong biển

Bào ngư chín lỗ (Haliotis diversicolor)

Bào ngư chín lỗ (Haliotis diversicolor) Chúng phân bố chủ yếu ở phía Đông và

Đông Nam đảo, đến độ sâu 20 m nước Khu vực này đá gốc có cấu trúc kiểu vỉa hàmếch hướng sóng, là giá bám lý tưởng cho bào ngư Nghiên cứu trước đây của Nguyễn

Trang 33

Chu Hồi và ctv (1997) đã xác định sản lượng bào ngư trước năm 1997 là khoảng 50tấn/năm, nhưng hiện nay nguồn lợi bị suy giảm nghiêm trọng Nguyên nhân chủ yếuđược xác định là khai thác quá mức.

có 5 loài mỗi họ (chiếm 10,87%), 14 họ còn lại có số loài rất ít, từ 1 -3 loài trong mỗihọ

Từ số lượng loài của 3 nhóm rong được xác định, chỉ số Cheney (C) = (Số loàirong Đỏ + Số loài rong Lục) / Số loài rong Nâu = (26 + 10) / 10 = 3,6 > 3, khu hệ rongbiển Bạch Long Vĩ mang tính hỗn hợp hay á nhiệt đới (Đàm Đức Tiến, 1997) [13].Theo Đàm Đức Tiến (2004) [14], khu hệ rong biển miền bắc Việt Nam mang đặctrưng của khu hệ cận nhiệt đới, chỉ số trung bình C = 2,32 < 3 Từ đó, có thể thấy rằngviệc phân chia rong biển thành 3 khu hệ (cận nhiệt đới, hỗn hợp/á nhiệt đới và nhiệtđới) và việc áp dụng chỉ số Cheney để phân chia rong biển ở nước ta theo 3 khu hệtrên là hợp lý

- Phân bố về số lượng loài và sinh lượng

+ Phân bố về số lượng loài: Rong biển phân bố ở 4 phía của đảo nhưng tập trungnhiều ở khu vực mỏm đá phía Bắc và Tây Bắc đảo Các khu vực khác, đặc biệt là khuvực phía Tây thành phần loài rong biển không đáng kể.Chỉ số H’ ở các khu vực nghiêncứu dao động từ 0,71-1,36 và H’ cho toàn đảo là 1,28 (Bảng 1.4) Địa hình và dạngđáy có vai trò rất quan trọng đối với phân bố của rong biển Hầu hết rong biển, đặc biệt

là chi rong mơ Sargassum ưa phân bố trên nền đáy đá vôi phong hoá, đá bazan và rạnsan hô (chết và sống), các dạng địa hình này thường gồ ghề tích tụ nhiều vật chất hữu

cơ (Nguyễn Văn Tiến, 1994) [15] Các ghi nhận trong quá trình khảo sát cho thấy

Trang 34

vùng biển phía Đông và Đông Bắc đảo cũng có dạng địa hình kiểu này, do đó ở haikhu vực này đều có ưu thế thuộc về chi rong mơ Sargassum, tuy nhiên sinh khối củachi này không lớn Một kiểu địa hình khác khá phổ biến ở đảo Bạch Long Vĩ là kiểuđáy cát lẫn vỏ ĐVTM, vụn san hô xen lẫn đáy cát mỏng phủ trên bề mặt đá mẹ phẳngphiu Kiểu địa hình này khá phổ biến ở khu vực phía Tây và Tây Bắc đảo Trên kiểuđịa hình đáy này thường ưu thế thuộc về chi rong quạt (Padina) và chi rong(Lobophora).

Bảng 1.5 Số loài, chỉ số đa dạng (H’) và sinh lượng rong vùng biển Bạch Long Vĩ Khu vực nghiên cứu Số lượng loài Chỉ số (H’) Sinh lượng (kg/m 2 )

mơ (Sargassum), chi rong đông (Hypnea) và chi rong quạt (Padina)

Các loài có giá trị kinh tế

Những loài rong biển có giá trị kinh tế là những loài phục vụ cho đời sống hàngngày của con người như: làm thực phẩm, chế biến đồ giải khát hoặc những loài dùnglàm nguyên liệu để chiết xuất các loại keo agar, carrageenan, alginat và những chếphẩm khác v.v Kết quả nghiên cứu đã xác định được 13 loài rong biển có giá trị kinh

tế ở đảo Bạch Long Vĩ gồm:

+ 5 loài thuộc chi Hypnea có sinh lượng 3,6 kg/m2; và 2 loài thuộc chi Padina cósinh lượng 1,37 kg/m2dùng để chiết xuất carrageenan

Ngày đăng: 31/10/2016, 09:23

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Thủy sản, Trung tâm thông tin KHKT và kinh tế thủy sản (nay là Trung tâm Tin học-FICEN), 2005, Động vật thủy sản thân mềm thường gặp ở Việt nam, Trung tâm tin học-Hà Nội, Trang 112 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Động vật thủy sản thân mềm thường gặp ở Việt nam
2. Nguyễn Chính, 1996, Một số loài động vật nhuyền thể (Mollusca) có giá trị kinh tế ở biển Việt Nam, Nhà xuất bản khoa học và kỹ thuật - Hà Nội, tr 132 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số loài động vật nhuyền thể (Mollusca) có giá trị kinh tếở biển Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản khoa học và kỹ thuật - Hà Nội
3.Nguyễn Văn Chung và cộng sự, 1996, Nghiên cứu sinh học sinh sản và nuôi Bào ngư (Haliotis spp) tại Khánh Hòa, Báo cáo tổng kết đề tài khoa học, Viện Hải Dươn g Học Nha Trang, Tr 53 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu sinh học sinh sản và nuôi Bàongư (Haliotis spp) tại Khánh Hòa
4. Nguyễn Văn Chung và Nguyễn Thanh Tùng, 1998, Nghiên cứu sự phát triển buồng trứng của loài bào ngư bầu dục (Haliotis ovina Gmelin), Tuyển tập nghiên cứu biển, tập VIII, tr 135-140 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu sự phát triển buồngtrứng của loài bào ngư bầu dục (Haliotis ovina Gmelin)
5.Phan Hồng Dũng ( 2011), Ứng dụng công nghệ sinh sản nhân tạo bào ngư chín lỗ (Haliotis diversicolor), thử nghiệm và đề xuất hình thức nuôi thương phẩm phù hợp tại đảo Bạch Long Vĩ, Hải Phòng. Báo cáo tổng kết đề tài KH&amp;CN cấp thành phố Hải Phòng, Viện Nghiên cứu Hải sản, Hải Phòng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ứng dụng công nghệ sinh sản nhân tạo bào ngư chín lỗ(Haliotis diversicolor), thử nghiệm và đề xuất hình thức nuôi thương phẩm phù hợp tạiđảo Bạch Long Vĩ, Hải Phòng
6. Lê Đức Minh, 1998, Một số đặc điểm sinh học sinh sản của loài bào ngư bầu dục (Haliotis ovina Gmelin) ở vịnh Nha Trang, Tuyển tập nghiên cứu biển, tập VIII, tr 141-147 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số đặc điểm sinh học sinh sản của loài bào ngư bầu dục(Haliotis ovina" Gmelin") ở vịnh Nha Trang
7. Lê Minh Đức, 1999, Ứng dụng một số phương pháp kích thích bào ngư bầu dục (Haliotis ovina Gmelin) đẻ nhân tạo trong phòng thí nghiệm, Tuyển tập nghiên cứu biển, tập IX, tr 313-317 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ứng dụng một số phương pháp kích thích bào ngư bầu dục(Haliotis ovina" Gmelin") đẻ nhân tạo trong phòng thí nghiệm
8. Trần Lưu Khanh và ctv(2007), Báo cáo kết quả quan trắc cảnh báo chất lượng môi trường khu vực nuôi hải sản biển, cảng cá - bến cá, khu bảo tồn biển Việt Nam. Viện nghiên cứu Hải sản, năm 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả quan trắc cảnh báo chất lượng môitrường khu vực nuôi hải sản biển, cảng cá - bến cá, khu bảo tồn biển Việt Nam
Tác giả: Trần Lưu Khanh và ctv
Năm: 2007
9. Lê Đức Minh, Một số dẫn liệu về tuổi và sinh trưởng của loài bào ngư bầu dục (Haliotis ovina Gmelin) ở vùng biển Khánh Hòa. Tuyển tập nghiên cứu biển, tập IX/1999, 141-147 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số dẫn liệu về tuổi và sinh trưởng của loài bào ngư bầu dục(Haliotis ovina" Gmelin") ở vùng biển Khánh Hòa
10. Lê Minh Đức, 2000, Sinh học và ký thuật sản xuất gioon sg bào ngư vành tai (Haliotis asinina Linne), Nhà xuất bản Nông nghiệp - TP Hồ Chí Minh, tr 51 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh học và ký thuật sản xuất gioon sg bào ngư vành tai(Haliotis asinina
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp - TP Hồ Chí Minh
11. Lê Đức Minh, 2006, Hoàn thiện công nghệ sản xuất giống và nuôi bào ngư vành tai thương phẩm. Báo cáo tổng kết khoa học và kỹ thuật dự án giai đoạn 2001 - 2005, 68tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện công nghệ sản xuất giống và nuôi bào ngư vànhtai thương phẩm
12. Hà Đức Thắng, 1996, Nghiên cứu ký thuật sản xuất giống và nuôi trai ngọc, bào ngư, Các công trình nghiên cứu Khoa học Công nghệ Thủy sản 1991-1995, Trung tâm Thông tin Khoa học kỹ Thuật và Kinh tế Thủy sản -Hà Nội, tr 81-84 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu ký thuật sản xuất giống và nuôi trai ngọc, bàongư
13. Đàm Đức Tiến(1997), Rong biển khu vực đảo Bạch Long Vĩ. Tài nguyên và Môi trường biển. Tập IV. Nhà xuất bản khoa học và kỹ thuật Hà Nội. p244 -251 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rong biển khu vực đảo Bạch Long Vĩ
Tác giả: Đàm Đức Tiến
Nhà XB: Nhà xuất bản khoa học và kỹ thuật Hà Nội. p244 -251
Năm: 1997
14. Đàm Đức Tiến (2004),Thành phần loài và phân bố của rong biển vùng triều phía Bắc Việt Nam . Trích trong: Đỗ Công Thung, Massimo Sarti (2004). Bảo tồn đa dạng sinh học dải ven bờ Việt Nam (Biodiversity conservation in the coastal zone of Vietnam). Nhà XB Đại học Quốc gia Hà Nội, trang 72-83 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thành phần loài và phân bố của rong biển vùng triều phíaBắc Việt Nam
Tác giả: Đàm Đức Tiến (2004),Thành phần loài và phân bố của rong biển vùng triều phía Bắc Việt Nam . Trích trong: Đỗ Công Thung, Massimo Sarti
Năm: 2004
15. Nguyễn Văn Tiến (1994), Nguồn lợi rong biển-Chuyên khảo biển Việt Nam nguồn lợi sinh vật và các hệ sinh thái biển, Tập IV Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguồn lợi rong biển
Tác giả: Nguyễn Văn Tiến
Năm: 1994
17.Cục Cảnh sát biển Việt Nam, 2006. Báo cáo tóm tắt “Kết quả điều tra, nghiên cứu hiện trạng môi trường khu trú đậu tàu thuyền thuộc huyện đảo Bạch Long Vĩ”. Bộ tư lệnh Hải quân, tháng 6 năm 2006.Tài liệu tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tóm tắt “Kết quả điều tra, nghiên cứuhiện trạng môi trường khu trú đậu tàu thuyền thuộc huyện đảo Bạch Long Vĩ
19. Chen, H.C., 1995, Abalone culture, proceedings of the Semina on Fisheries, 17-19 august, Madras, India, 203-235 page Sách, tạp chí
Tiêu đề: Abalone culture
20.Cox, K.W., 1962, California abalones, faamily Haliotidae, Calif, Dept, Fish and Game, Fish, Bull, No.118, 1-113 page Sách, tạp chí
Tiêu đề: California abalones, faamily Haliotidae
22.Fermin, A.C., 1998, Abalone culture in the Philippines.1, TMMP/SEAFDEC Training course on Biology and Culture ò Molluscs, 15-19 November, tigbauan, Iloilo, Philippine Sách, tạp chí
Tiêu đề: Abalone culture in the Philippines.1
23.Flowler J.,L. Cohen &amp; P.Javis, 1998, Practical statistics for field biology, Wiley publisher, Chichester, New York Sách, tạp chí
Tiêu đề: Practical statistics for field biology

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1 Mặt ngoài và mặt trong của bào ng ư chín lỗ (Haliotis diversicolor) - Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ ương, mật độ tảo đáy lên sinh trưởng và tỷ lệ sống của bào ngư chín lỗ (haliotis diversicolor reeve, 1864) từ giai đoạn ấu trùng bánh xe (trochophora) đến giai đoạn con non kích thước 4 mm tại vùng biển bạc
Hình 1.1 Mặt ngoài và mặt trong của bào ng ư chín lỗ (Haliotis diversicolor) (Trang 16)
Hình 1.2 Vòng đời sinh trưởng và phát triểu của bào ngư - Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ ương, mật độ tảo đáy lên sinh trưởng và tỷ lệ sống của bào ngư chín lỗ (haliotis diversicolor reeve, 1864) từ giai đoạn ấu trùng bánh xe (trochophora) đến giai đoạn con non kích thước 4 mm tại vùng biển bạc
Hình 1.2 Vòng đời sinh trưởng và phát triểu của bào ngư (Trang 23)
Bảng 1.1: Thành phần dinh dưỡng chính trong 100 g thịt Bào ngư - Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ ương, mật độ tảo đáy lên sinh trưởng và tỷ lệ sống của bào ngư chín lỗ (haliotis diversicolor reeve, 1864) từ giai đoạn ấu trùng bánh xe (trochophora) đến giai đoạn con non kích thước 4 mm tại vùng biển bạc
Bảng 1.1 Thành phần dinh dưỡng chính trong 100 g thịt Bào ngư (Trang 26)
Hình 1.3 Bản đồ địa lý đảo Bạch Long Vĩ - Hải Phòng - Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ ương, mật độ tảo đáy lên sinh trưởng và tỷ lệ sống của bào ngư chín lỗ (haliotis diversicolor reeve, 1864) từ giai đoạn ấu trùng bánh xe (trochophora) đến giai đoạn con non kích thước 4 mm tại vùng biển bạc
Hình 1.3 Bản đồ địa lý đảo Bạch Long Vĩ - Hải Phòng (Trang 30)
Bảng 1.4 Giá trị các thông số môi trường cơ bản nước biển đảo Bạch Lon g Vĩ Thông số - Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ ương, mật độ tảo đáy lên sinh trưởng và tỷ lệ sống của bào ngư chín lỗ (haliotis diversicolor reeve, 1864) từ giai đoạn ấu trùng bánh xe (trochophora) đến giai đoạn con non kích thước 4 mm tại vùng biển bạc
Bảng 1.4 Giá trị các thông số môi trường cơ bản nước biển đảo Bạch Lon g Vĩ Thông số (Trang 32)
Bảng 3.3: Kết quả theo dõi pH trong quá trình ương. - Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ ương, mật độ tảo đáy lên sinh trưởng và tỷ lệ sống của bào ngư chín lỗ (haliotis diversicolor reeve, 1864) từ giai đoạn ấu trùng bánh xe (trochophora) đến giai đoạn con non kích thước 4 mm tại vùng biển bạc
Bảng 3.3 Kết quả theo dõi pH trong quá trình ương (Trang 47)
Hình 3.1 Bể ương nuôi ấu trùng bào ngư - Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ ương, mật độ tảo đáy lên sinh trưởng và tỷ lệ sống của bào ngư chín lỗ (haliotis diversicolor reeve, 1864) từ giai đoạn ấu trùng bánh xe (trochophora) đến giai đoạn con non kích thước 4 mm tại vùng biển bạc
Hình 3.1 Bể ương nuôi ấu trùng bào ngư (Trang 50)
Hình 3.3 Bể nuôi sinh khối tảo và giá bám cho tảo bám - Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ ương, mật độ tảo đáy lên sinh trưởng và tỷ lệ sống của bào ngư chín lỗ (haliotis diversicolor reeve, 1864) từ giai đoạn ấu trùng bánh xe (trochophora) đến giai đoạn con non kích thước 4 mm tại vùng biển bạc
Hình 3.3 Bể nuôi sinh khối tảo và giá bám cho tảo bám (Trang 51)
Bảng 3.6 Ảnh hưởng của thức ăn đến tỷ lệ sống của ấu trùng bào ngư - Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ ương, mật độ tảo đáy lên sinh trưởng và tỷ lệ sống của bào ngư chín lỗ (haliotis diversicolor reeve, 1864) từ giai đoạn ấu trùng bánh xe (trochophora) đến giai đoạn con non kích thước 4 mm tại vùng biển bạc
Bảng 3.6 Ảnh hưởng của thức ăn đến tỷ lệ sống của ấu trùng bào ngư (Trang 53)
Hình 3.4 Ấu trùng bào ngư giai đoạn trùng Trochophora và Veliger - Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ ương, mật độ tảo đáy lên sinh trưởng và tỷ lệ sống của bào ngư chín lỗ (haliotis diversicolor reeve, 1864) từ giai đoạn ấu trùng bánh xe (trochophora) đến giai đoạn con non kích thước 4 mm tại vùng biển bạc
Hình 3.4 Ấu trùng bào ngư giai đoạn trùng Trochophora và Veliger (Trang 56)
Hình 3.5. Quá trình phát triển của bào ngư giống cỡ nhỏ - Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ ương, mật độ tảo đáy lên sinh trưởng và tỷ lệ sống của bào ngư chín lỗ (haliotis diversicolor reeve, 1864) từ giai đoạn ấu trùng bánh xe (trochophora) đến giai đoạn con non kích thước 4 mm tại vùng biển bạc
Hình 3.5. Quá trình phát triển của bào ngư giống cỡ nhỏ (Trang 58)
Phụ lục 3: Hình ảnh một số hoạt động sản xuất tại trung tâm giống bào ng ư - Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ ương, mật độ tảo đáy lên sinh trưởng và tỷ lệ sống của bào ngư chín lỗ (haliotis diversicolor reeve, 1864) từ giai đoạn ấu trùng bánh xe (trochophora) đến giai đoạn con non kích thước 4 mm tại vùng biển bạc
h ụ lục 3: Hình ảnh một số hoạt động sản xuất tại trung tâm giống bào ng ư (Trang 67)
Hình 3. Hóa chất và thiết bị dùng để cấy vi tảo tại phòng thí nghiệm của trại sản xuất - Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ ương, mật độ tảo đáy lên sinh trưởng và tỷ lệ sống của bào ngư chín lỗ (haliotis diversicolor reeve, 1864) từ giai đoạn ấu trùng bánh xe (trochophora) đến giai đoạn con non kích thước 4 mm tại vùng biển bạc
Hình 3. Hóa chất và thiết bị dùng để cấy vi tảo tại phòng thí nghiệm của trại sản xuất (Trang 68)
Hình 4. Kính hiển vi điện tử dùng để kiểm tra ấu trùng bào ngư - Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ ương, mật độ tảo đáy lên sinh trưởng và tỷ lệ sống của bào ngư chín lỗ (haliotis diversicolor reeve, 1864) từ giai đoạn ấu trùng bánh xe (trochophora) đến giai đoạn con non kích thước 4 mm tại vùng biển bạc
Hình 4. Kính hiển vi điện tử dùng để kiểm tra ấu trùng bào ngư (Trang 68)
Hình 5. Lồng nuôi bào ngư con giống - Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ ương, mật độ tảo đáy lên sinh trưởng và tỷ lệ sống của bào ngư chín lỗ (haliotis diversicolor reeve, 1864) từ giai đoạn ấu trùng bánh xe (trochophora) đến giai đoạn con non kích thước 4 mm tại vùng biển bạc
Hình 5. Lồng nuôi bào ngư con giống (Trang 69)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w