1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ, ứng dụng kit CATT chẩn đoán bệnh tiên mao trùng do trypanosoma evansi gây ra ở trâu tại huyện chi lăng, tỉnh lạng sơn và biện pháp phòng trị

116 414 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 116
Dung lượng 2,69 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Có nhiều trâu, bò mang mầm bệnh nhưng không phát bệnh, khi sức đề kháng giảm cũng là lúc bệnh tiên mao trùng phát ra có thể gây chết nhiều gia súc hoặc suy nhược, thiếu máu, mất khả năng

Trang 1

NGUYỄN LÊ KHÁNH

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ, ỨNG DỤNG KIT CATT CHẨN ĐOÁN BỆNH TIÊN

MAO TRÙNG DO TRYPANOSOMA EVANSI GÂY RA

Ở TRÂU TẠI HUYỆN CHI LĂNG - TỈNH LẠNG SƠN

Trang 2

NGUYỄN LÊ KHÁNH

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ, ỨNG DỤNG KIT CATT CHẨN ĐOÁN BỆNH TIÊN

MAO TRÙNG DO TRYPANOSOMA EVANSI GÂY RA

Ở TRÂU TẠI HUYỆN CHI LĂNG - TỈNH LẠNG SƠN

VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỊ

Ngành : Thú y

Mã số: 60.64.01.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ THÚ Y

Người hướng dẫn khoa học: 1.TS Sa Đình Chiến

2 GS.TS Nguyễn Thị Kim Lan

Thái Nguyên, năm 2015

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của chúng tôi Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận án này là hoàn toàn trung thực và chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Mọi thông tin trích dẫn trong luận án đều được chỉ

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành Luận văn này, cho phép tôi được bày tỏ lòng kính trọng và biết

ơn sâu sắc tới TS Sa Đình Chiến và GS TS Nguyễn Thị Kim Lan - Trường Đại

học Nông Lâm Thái Nguyên đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo tôi hết sức tận tình trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Chủ nhiệm Khoa Chăn nuôi Thú y, các thầy, các cô giảng dạy và nghiên cứu trong Khoa Chăn nuôi Thú y; Bộ môn Bệnh động vật, Khoa Chăn nuôi Thú y, Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã tận tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn này

Tôi xin trân trọng cảm ơn Chi cục Thú y Lạng Sơn, Trạm Thú y huyện Chi Lăng tỉnh Lạng Sơn và các hộ chăn nuôi trâu trên địa bàn nghiên cứu đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài

Tôi vô cùng biết ơn các thành viên trong gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã luôn ở bên tôi, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành Luận văn

Lạng Sơn , ngày tháng năm 2015

Tác giả luận văn

Nguyễn Lê Khánh

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu đề tài 2

3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài 2

3.1 Ý nghĩa khoa học 2

3.2 Ý nghĩa thực tiễn 3

4 Những đóng góp mới của đề tài 3

Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 4

1.1.1 Đặc điểm, hình thái, cấu trúc và phân loại tiên mao trùng 4

1.1.2 Dịch tễ học tiên mao trùng 8

1.1.3 Đặc điểm bệnh lý và lâm sàng của bệnh 12

1.1.4 Chẩn đoán bệnh tiên mao trùng 15

1.1.5 Phòng trị bệnh tiên mao trùng 19

1.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU BỆNH TIÊN MAO TRÙNG 22

1.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 22

1.2.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 25

Chương 2: ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 35

2.1 ĐỐI TƯỢNG VÀ VẬT LIỆU NGHIÊN CỨU 35

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 35

2.1.2 Vật liệu nghiên cứu 35

2.2 ĐỊA ĐIỂM VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU……… 36

2.3 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 36

2.3.1 Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh tiên mao trùng trên đàn trâu tại huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn 36

2.3.2 Ứng dụng Kit CATT trong chẩn đoán bệnh tiên mao trùng ở huyện Chi Lăng 37

2.3.3 Xác định phác đồ điều trị bệnh tiên mao trùng đạt hiệu quả 37

2.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 37

2.4.1 Phương pháp thu thập mẫu 37

2.4.2 Phương pháp phát hiện tiên mao trùng trong mẫu 38

Trang 6

2.4.3 Phương pháp định danh tiên mao trùng 39

2.4.4 Phương pháp ứng dụng Kit CATT chẩn đoán bệnh tiên mao trùng ở trâu 40

2.4.5 Phương pháp nghiên cứu khả năng mẫn cảm của T evansi với một số loại thuốc trên chuột bạch 41

2.4.6 Xây dựng phác đồ điều trị bệnh tiên mao trùng cho trâu 42

2.4.7 Một số quy định trong nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh tiên mao trùng 44

2.5 PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ SỐ LIỆU 44

Chương 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 45

3.1 NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ BỆNH TIÊN MAO TRÙNG TRÊN ĐÀN TRÂU TẠI HUYỆN CHI LĂNG 45

3.1.1 Định danh loài tiên mao trùng phân lập từ đàn trâu tại huyện Chi Lăng 45 3.1.2 Tình hình nhiễm tiên mao trùng trên đàn trâu tại huyện Chi Lăng 46

3.1.3 Nghiên cứu về ruồi, mòng hút máu truyền bệnh tiên mao trùng 55

3.2 ỨNG DỤNG KIT CATT TRONG CHẨN ĐOÁN BỆNH TIÊN MAO TRÙNG Ở HUYỆN CHI LĂNG 63

3.2.1 Kiểm tra độ nhạy, độ đặc hiệu của Kit CATT 63

3.2.2 Kết quả chẩn đoán bệnh tiên mao trùng ở huyện Chi Lăng bằng Kit CATT 65

3.3 XÁC ĐỊNH PHÁC ĐỒ ĐIỀU TRỊ BỆNH TIÊN MAO TRÙNG ĐẠT HIỆU QUẢ 67

3.3.1 Thử nghiệm thuốc điều trị bệnh tiên mao trùng trên diện hẹp 67

3.3.2 Thử nghiệm phác đồ điều trị bệnh tiên mao trùng trên diện rộng 68

3.3.3 Đề xuất biện pháp phòng chống bệnh T evansi trên đàn trâu tại huyện Chi Lăng 71

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 72

1 Kết luận 72

2 Đề nghị 73

TÀI LIỆU THAM KHẢO 74

PHỤ LỤC

Trang 7

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT

CATT Card Agglutination Test for Trypanosomiasis

EPC Kháng thể đối chứng dương ENC Kháng thể đối chứng âm

T evansi Trypanosoma evansi

T kiangsuensis Tabanus kiangsuensis

TMT Tiên mao trùng

T rubidus Tabanus rubidus

SAT Slide Agglutination Test

S calcitrans Stomoxys calcitrans

SDS Sodium Dodecyl Sulfate

spp species plural

VSG Variant Surface Glycoprotein

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Cách xác định độ nhạy, độ đặc hiệu của Kit 41

Bảng 2.2 Thuốc và liều lượng dùng trong bố trí thí nghiệm 41

Bảng 2.3 Phác đồ điều trị bệnh tiên mao trùng cho trâu 43

Bảng 3.1 Kết quả định danh loài tiên mao trùng ở huyện Chi Lăng 45

Bảng 3.3 Tỷ lệ nhiễm tiên mao trùng ở trâu theo lứa tuổi 48

Bảng 3.4 Tỷ lệ nhiễm tiên mao trùng ở trâu theo mùa vụ 50

Bảng 3.5 Tỷ lệ phát bệnh tiên mao trùng ở trâu theo mùa vụ 52

Bảng 3.6 Tỷ lệ nhiễm tiên mao trùng ở trâu theo tính biệt 54

Bảng 3.7 Kết quả định danh, sự phân bố và tần suất xuất hiện các loài ruồi, mòng hút máu 55

Bảng 3.8 Tỷ lệ loài ruồi, mòng trong số mẫu thu thập ở các địa phương nghiên cứu 58

Bảng 3.9 Quy luật hoạt động theo tháng của các loài ruồi, mòng hút máu 61

Bảng 3.10.Quy luật hoạt động trong ngày của các loài ruồi, mòng hút máu 62

Bảng 3.11 Xác định một số trâu nhiễm và không nhiễm TMT ở Chi Lăng 64

Bảng 3.12 Kết quả đánh giá độ nhạy, độ đặc hiệu của Kit CATT 64

Bảng 3.13 Tỷ lệ trâu nhiễm tiên mao trùng ở huyện Chi Lăng qua ứng dụng kit CATT chẩn đoán 66

Bảng 3.14 Thử nghiệm phác đồ điều trị bệnh tiên mao trùng cho trâu trên diện hẹp 67

Bảng 3.15 Thử nghiệm phác đồ điều trị bệnh tiên mao trùng trên diện rộng 69

Trang 9

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 3.1 Biểu đồ tỷ lệ nhiễm tiên mao trùng ở trâu tại huyện Chi Lăng 48

Hình 3.2 Đồ thị tỷ lệ nhiễm tiên mao trùng theo lứa tuổi 49

Hình 3.3 Biểu đồ tỷ lệ nhiễm tiên mao trùng ở trâu theo mùa vụ 51

Hình 3.4 Biểu đồ tỷ lệ phát bệnh tiên mao trùng ở trâu theo mùa vụ 52

Hình 3.5 Biểu đồ tỷ lệ nhiễm tiên mao trùng trên trâu theo tính biệt 54

Hình 3.6 Biểu đồ tỷ lệ loài ruồi, mòng ở các địa phương nghiên cứu 59

Hình 3.7 Biểu đồ điều trị bệnh tiên mao trùng trên diện rộng 70

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Loài tiên mao trùng Trypanosoma evansi là ký sinh trùng đơn bào đường máu (Protozoa) thuộc lớp trùng roi (Flagellata) có tầm quan trọng lớn đối với ngành Thú y Bệnh Trypanosoma evansi thấy phổ biến ở các loài gia súc như: trâu, bò, dê,

ngựa, hươu, lạc đà…, bệnh gây nhiều thiệt hại về kinh tế ở các nước châu Phi, Nam

Mỹ và châu Á do những vùng này có số lượng gia súc chết hàng năm lớn và đều là

do Trypanosoma evansi gây nên (Brun R và cs., 1998 [31]).

Theo Phan Văn Chinh (2006) [1]: Bệnh tiên mao trùng xuất hiện ở nhiều vùng trên cả nước, với tỷ lệ mắc khá cao: trên trâu là 13 – 30 %, trên bò là 7 – 14 %, trong đó tỷ lệ gia súc chết trong số gia súc mắc bệnh lên tới 6,3 – 20 %

Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển của nền kinh tế quốc dân, ngành chăn nuôi nói chung và chăn nuôi trâu nói riêng đã có những bước phát triển vượt bậc, trở thành ngành sản xuất quan trọng, từng bước góp phần cung cấp thực phẩm cho xã hội và có những đóng góp tích cực vào mục tiêu xóa đói giảm nghèo Chăn nuôi trâu là nguồn cung cấp thực phẩm như thịt, sữa cho con người, sức kéo và nguồn phân bón khá lớn cho sản xuất nông nghiệp

Hiện nay, nhiều bệnh do vi trùng và vi rút gây ra đã có vắc xin phòng bệnh Song hầu hết các bệnh ký sinh trùng cho đến nay vẫn chưa có vắc xin phòng bệnh nên bệnh xảy ra rất phổ biến và gây thiệt hại lớn cho chăn nuôi

Trâu, bò mắc bệnh tiên mao trùng thường gầy yếu, chậm sinh trưởng, phát triển Có nhiều trâu, bò mang mầm bệnh nhưng không phát bệnh, khi sức đề kháng giảm cũng là lúc bệnh tiên mao trùng phát ra có thể gây chết nhiều gia súc hoặc suy nhược, thiếu máu, mất khả năng lao tác, giảm phẩm chất thịt, đồng thời là cơ hội để các bệnh truyền nhiễm kế phát, gây thiệt hại lớn cho chăn nuôi

Chi Lăng là một huyện có địa hình đồi núi chiếm 80%, khí hậu nhiệt đới gió mùa, thời tiết nóng ẩm, mưa nhiều là điều kiện thuận lợi cho ruồi, mòng (vật môi giới trung gian truyền bệnh tiên mao trùng) phát triển Sự lây lan căn bệnh phụ

Trang 11

thuộc rất nhiều vào sự phát triển của ruồi, mòng Chúng hút máu, truyền bệnh tiên mao trùng từ trâu bệnh sang trâu khỏe, làm cho bệnh phát tán và lây lan

Theo số liệu thống kê của phòng thống kê huyện Chi Lăng, tính đến thời điểm cuối năm 2014, tổng đàn trâu của huyện Chi Lăng là 15.590 con Trong thời gian qua, cũng giống như nhiều địa phương khác, công tác giống, chăm sóc nuôi dưỡng

và phòng chống dịch bệnh, đặc biệt là việc phòng trị bệnh tiên mao trùng chưa được chú trọng Hàng năm, trâu bị ốm và chết khá nhiều trong vụ Đông - Xuân, khi thời tiết giá lạnh và thức ăn trở nên khan hiếm Cơ sở hạ tầng phục vụ công tác chẩn

đoán và điều trị bệnh cho đàn gia súc tại địa phương vẫn còn nhiều hạn chế, dẫn tới

hệ quả là bệnh tiên mao trùng trở nên phổ biến hơn, nghiêm trọng hơn và gây thiệt hại lớn hơn

Qua những phân tích ở trên về mức độ phổ biến cũng như những thiệt hại về kinh tế do bệnh tiên mao trùng gây ra trên trâu ở Việt Nam, đặc biệt là những khó

khăn trong công tác phòng và trị bệnh, chúng tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu một

số đặc điểm dịch tễ, ứng dụng kit CATT chẩn đoán bệnh tiên mao trùng do Trypanosoma evansi gây ra ở trâu tại huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn và biện pháp phòng trị”

2 Mục tiêu đề tài

- Xác định một số đặc điểm dịch tễ bệnh do T evansi gây ra ở đàn trâu tại

huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn

- Ứng dụng kit CATT chẩn đoán bệnh tiên mao trùng cho trâu tại địa phương nghiên cứu

- Lựa chọn phác đồ điều trị bệnh tiên mao trùng có hiệu quả, phù hợp với điều kiện chăn nuôi tại huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn

3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài

3.1 Ý nghĩa khoa học

Kết quả của đề tài là những thông tin khoa học có giá trị về đặc điểm dịch tễ,

phương pháp chẩn đoán bệnh do Trypanosoma evansi gây ra và biện pháp phòng

chống bệnh tiên mao trùng trên đàn trâu tại huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn

Trang 12

4 Những đóng góp mới của đề tài

- Đề tài là công trình nghiên cứu có tính hệ thống về bệnh tiên mao trùng do

loài Trypanosoma evansi gây ra trên đàn trâu tại huyện Chi Lăng

- Xây dựng được biện pháp phòng, trị bệnh tiên mao trùng có hiệu quả cao trên đàn trâu tại huyện Chi Lăng, khuyến cáo và áp dụng rộng rãi ra các nông hộ chăn nuôi trâu tại tỉnh Lạng Sơn

Trang 13

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI

Hiện nay nhiều loài tiên mao trùng đã được phát hiện trong máu nhiều loài

động vật, trong đó thì loài đơn bào Trypanosoma evansi ký sinh và gây bệnh cho

động vật đóng vai trò quan trọng nhất

Bệnh tiên mao trùng được Blanchard (1888) phát hiện đầu tiên ở Việt Nam Sau

đó, bệnh được thấy phổ biến ở hầu hết các tỉnh thành trong cả nước Trâu, bò,

ngựa,… mắc bệnh bị thiếu máu, suy nhược, giảm hoặc mất khả năng sinh sản và sức sản xuất, nếu mắc bệnh nặng súc vật dễ chết

1.1.1 Đặc điểm, hình thái, cấu trúc và phân loại tiên mao trùng

1.1.1.1 Đặc điểm, hình thái, cấu tạo của tiên mao trùng

Theo Phạm Văn Khuê và cs (1996) [7], T evansi là loài đơn bào ký sinh ngoài

hồng cầu, có hình thoi, dài 18-34 µm, giữa thân có một roi bắt nguồn là thể hình roi, cách đuôi khoảng 1,5 µm Roi này chạy dọc thân tạo thành nhiều màng rung động, cuối cùng roi này lơ lửng ở phần đầu thành roi tự do dài 6 µm Nhờ có roi, màng rung động

mà T evansi chuyển động được trong máu động vật Tiêu bản máu nhuộm Giemsa,

nguyên sinh chất bắt màu xanh nhạt, nhân bắt màu hồng Tiên mao trùng ký sinh trong máu hoặc ở một số tổ chức của động vật có xương sống, được truyền từ động vật bệnh sang động vật khoẻ theo phương thức cơ giới nhờ những côn trùng hút máu họ mòng

Tabanidae, họ ruồi Stomoxydinae

Theo Verma B B và Gautam O P (1978) [106], hiện nay người ta đã đưa

ra những khái niệm để phân biệt hình thái của tiên mao trùng theo 6 dạng:

1 Trypamastigote: Tiên mao trùng có hình dạng bình thường

2 Spimastigote: Tiên mao trùng có hình thái như Crithidia

3 Chosnomastigote: Tiên mao trùng có roi chạy thẳng theo thân, không tạo

thành màng rung động, không có những nếp gấp khúc

4 Promastigote: Tiên mao trùng có hình thái giống như Leptomonas

Trang 14

5 Amastigote: Tiên mao trùng có hình thái giống như Leishmanian

6 Phaeromastigote: Tiên mao trùng có hình thái giống như Leishmania nhưng có

roi có một đoạn tự do ngoài thân

Khi rung động, roi tự do vung ra phía trước và màng rung chuyển động giúp cho tiên mao trùng di chuyển nhanh trong máu vật chủ (Phạm Sỹ Lăng, 1982) [11]

Cấu trúc cơ bản của T evansi cũng giống như cấu trúc của các loài tiên mao trùng khác thuộc họ Trypanosomatidae Cấu trúc từ ngoài vào trong được chia

thành 3 phần chính:

Vỏ: Ngoài cùng là lớp vỏ hay còn gọi là màng bao (periplast) dày 8 - 10 nm,

vỏ được chia làm 3 lớp (lớp ngoài, lớp giữa và lớp trong; lớp ngoài và lớp trong tiếp giáp với nguyên sinh chất dày hơn lớp giữa) Lớp vỏ ngoài cùng được cấu tạo từ các phân tử glycoprotein Lớp vỏ (Variant Glycoprotein Surface -VGS) có khả năng biến đổi, nhờ vậy mà kí sinh trùng có thể né tránh đáp ứng miễn dịch của vật chủ Tiếp giáp với lớp trong cùng là 9 cặp vi ống xếp song song dọc theo chiều dài của thân tiên mao trùng Chính nhờ sự sắp xếp của các cặp vi ống này nên tiên mao trùng có hình dạng suốt chỉ mảnh

Nguyên sinh chất: gồm lớp trong và lớp ngoài Trong nguyên sinh chất có chứa các nội quan: ribosome có màu thẫm xen kẽ vùng không bào màu sáng, mitochrondno, reticulum (lưới nội bào), mạng lưới Golgi và đặc biệt là kinetoplast (thể cơ động) - là nơi roi sinh ra và chứa ADN và cũng là một điểm rất riêng của tiên mao trùng Lượng kADN chiếm khoảng 10 - 20% ADN của toàn bộ cơ thể, bao gồm 2 loại cấu trúc vòng ADN đó là: vòng lớn (maxicircles) và vòng nhỏ (minicircles)

Nhân: Nhân tiên mao trùng có thể ở các vị trí khác nhau trong cơ thể tiên mao trùng, tuy nhiên khi xuất hiện trong máu thì thường thấy ở giữa hoặc phía bên trên của tiên mao trùng Chứa ADN, hình bầu dục hoặc hình trứng Ngoài nhân, về phía cuối thân còn có thể kinetoplast chứa ADN (kADN), có đường kính vào khoảng 0,7 micromet Từ kinetoplast có một roi chạy vòng quanh thân lên đầu và ra phía ngoài

cơ thể thành một roi tự do Roi của tiên mao trùng có lớp vỏ ngoài cùng giống lớp

vỏ của thân Trong roi có 9 cặp vi ống ở xung quanh và một cặp ở trung tâm, xếp song song dọc chiều dài roi (Hoare C.A 1972) [60]

Trang 15

Hình 1.1 Cấu tạo của Trypanosoma evansi (Nguồn: Desquesnes M., 2004) [41]

A - Roi H - Phần thân chính

B - Tổ hợp cytoskeleton I - Bộ máy Golgi

C - Nhân J - Lưới nội sinh chất

D - Ty thể K - Màng rung

E - Thể cơ động kinetoplast L - Nơi tiếp xúc của roi với màng rung

F - Thể đặc M - Nơi tiếp xúc của roi với thân

G - Túi tiên mao

1.1.1.2 Phân loại tiên mao trùng ký sinh ở gia súc

Theo Levine N D và cs (1980) [70], dựa trên các nghiên cứu siêu cấu trúc của tiên mao trùng và theo Adl S M và cs (2005) [25] dựa vào đặc điểm hình thái

và sinh học phân tử, vị trí của tiên mao trùng trong hệ thống phân loại nguyên bào

(Protozoa) như sau:

Giống Trypanosoma Gruby, 1843

Loài Trypanosoma evansi Steel, 1885

Trang 16

Trong các loài tiên mao trùng đã được phát hiện, có 7 loài được tổ chức Thú y thế giới (OIE) thông báo là có khả năng gây bệnh cho người và động vật có vú, đó

là: Trypanosoma brucei, Trypanosoma congolense, Trypanosoma cruzi, Trypanosoma evansi, Trypanosoma gambiense, Trypanosoma siminae và Trypanosoma vivax (OIE, 2010 [86]) 1.1.1.3 Cấu trúc kháng nguyên của loài tiên mao trùng Trypanosoma evansi

Kháng nguyên của T evansi gồm hai loại: kháng nguyên ổn định (kháng

nguyên không biến đổi) và kháng nguyên biến đổi (Nguyễn Thị Kim Lan, 2008 [8])

* Kháng nguyên ổn định (kháng nguyên không biến đổi)

Trong quá trình ký sinh trong cơ thể vật chủ, phần lớn các thành phần kháng nguyên của tiên mao trùng không bị biến đổi Bằng phương pháp điện di miễn dịch huyết

thanh thỏ tối miễn dịch với T evansi, các nhà khoa học đã phát hiện tới 30 thành phần

kháng nguyên khác nhau Tất cả các loại tiên mao trùng thuộc cùng một nhóm hầu như

có cùng một loại kháng nguyên ổn định và chúng giống nhau một phần với các chủng

tiên mao trùng khác nhóm Thí dụ như T brucei thuộc giống phụ Trypanozoon, loài T congolense thuộc giống phụ Nannomonas đến 60% giống nhau, T.vivax thuộc giống phụ Duttonella có miễn dịch chéo với Trypanozoon và Nannomonas

Có ba loại kháng nguyên không biến đổi (ISG: Invariant Surface Glycoprotein)

ở màng nguyên sinh chất của tế bào Loại ISG 65, ISG 75 được phân bố trên toàn bộ

màng tế bào ước lượng số lượng khoảng 50.000 - 60.000 phân tử giống nhau Ở T evansi sống, kháng nguyên này không thể kết hợp được với kháng thể của vật chủ

Do cấu trúc không gian ba chiều và đặc tính ưa nước, các ISG này nằm chen vào phần VSG Bằng phương pháp miễn dịch huỳnh quang và phương pháp đánh dấu iode màng tế bào tiên mao trùng, có thể phát hiện và phân lập được các phân tử này Loại thứ ba, ISG 100 gần đây mới phát hiện Chúng có đặc tính ưa nước và không thể kết hợp được với kháng thể của vật chủ (Johanson H.C và cs., 2008)[64]

* Kháng nguyên biến đổi

Về kháng nguyên biến đổi, cần đề cập đến sự biến đổi lớp vỏ bề mặt VSG (Variant Surface Glycoprotein), những quan điểm mới về sự xuất hiện kháng nguyên biến đổi của tiên mao trùng và cơ chế di truyền của kháng nguyên biến đổi

Trang 17

Nhờ kháng thể đặc hiệu được đánh dấu mà các nhà khoa học đã phát hiện ra

sự biến đổi của lớp kháng nguyên bề mặt Lớp áo bề mặt của tiên mao trùng có thành phần là glycoprotein bao phủ toàn bộ bề mặt tế bào bằng một lớp phân tử giống nhau (mỗi tiên mao trùng có 107 phân tử) Lớp áo bề mặt này kích thích cơ thể vật chủ tạo ra kháng thể đặc hiệu với từng type kháng nguyên biến đổi VAT (Variable Antigen Type) Kháng nguyên biến đổi có tính miễn dịch cao, chiếm khoảng 10% protein của tiên mao trùng Loại kháng nguyên này kích thích tạo kháng thể đặc hiệu đối với từng loại sinh ra nó Đối với kháng nguyên biến đổi, chỉ mình nó có khả năng kích thích tạo ra miễn dịch chủ động Người ta ước lượng rằng, một con TMT có ít nhất vài trăm hoặc vài ngh́n VSG, nghĩa là 5 - 10% số gen của tiên mao trùng cung cấp cho kháng nguyên bề mặt này

Theo Holland W.G và cs (2001) [61], hiện tượng biến đổi kháng nguyên bề mặt của Tiên mao trùng còn thấy ở gia súc đã bị tiêm thuốc làm suy giảm miễn dịch

1.1.2 Dịch tễ học tiên mao trùng

1.1.2.1 Phân bố địa lý của bệnh

Bệnh tiên mao trùng phân bố rất rộng, từ phía Tây sang phía Đông bán cầu Phía Tây bán cầu thuộc châu Mỹ, phía Đông bán cầu trải dài từ châu Phi đến Philippine

Ở châu Phi, bệnh trải dài từ Tây sang Đông, phía Bắc qua vùng sa mạc Sahara,

dọc theo bờ biển Atlantique, Địa trung hải

Bệnh tiên mao trùng xảy ra với tên gọi "bệnh Surra” ở Ả Rập Saudi, Yêmen,

Sultanate, Ả Rập thống nhất, Thổ Nhĩ Kỳ, Israel, Syrie, Afganistan, Pakistan

Ở châu Á, bệnh xuất hiện ở Trung Á (thuộc Liên Xô cũ), Ấn Độ, Malaysia,

bán đảo Đông Dương, Trung Quốc, Indonexia, Philippine

Tại châu Úc, các nhà khoa học cũng đã xác định được sự tồn tại của bệnh tiên mao trùng trên lục địa này (Reid S A., 2002 [90])

Ở châu Âu, lần đầu tiên người ta đã phát hiện được hai trường hợp nhiễm bệnh

tiên mao trùng trên loài chuột có nguồn gốc từ Nam Mỹ và chó có nguồn gốc Nepal (Gutierrez C và cs., 2010 [54])

Bệnh tiên mao trùng xuất hiện ở châu Mỹ từ thế kỷ 16 do thực dân Tây Ban Nha mang những con ngựa bị bệnh tiên mao trùng từ Ả rập đến Colombia (Desquesnes M và cs., 2013 [45])

Trang 18

Ở Việt Nam, bệnh tiên mao trùng thấy ở hầu hết các vùng sinh thái khác nhau:

miền núi, trung du, đồng bằng và ven biển Theo Phạm Sỹ Lăng (1982) [11], bệnh tiên mao trùng có ở tất cả các tỉnh miền Bắc (Bắc Kạn, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Ninh Bình và Hà Tây) Trâu, bò nhiễm bệnh với tỷ lệ cao và khác nhau giữa các vùng khác nhau

1.1.2.2 Vật chủ và vật môi giới truyền bệnh tiên mao trùng

* Vật chủ

Trong số các loài TMT có khả năng gây bệnh cho người và động vật có vú thì

T evansi là loài gây bệnh phổ biến nhất Chúng ký sinh ở hầu hết các loài thú nuôi và

thú hoang, thấy nhiều hơn ở trâu, bò, ngựa, lợn, hươu, nai, hổ, báo, sư tử, chó, mèo, lạc đà, voi, thỏ, chuột cống, chuột lang, chuột bạch, nhưng không ký sinh ở người

Trâu, bò đều nhiễm Trypanosoma evansi tự nhiên, nhưng bò ít mẫn cảm và thường ở thể mãn tính Lạc đà thường nhiễm T evansi ở thể cấp tính, chết khá nhiều ở

một số nước châu Phi, châu Á

Holland W G (2001) [61], đã kiểm tra và phát hiện các thú hoang châu Á

nhiễm Trypanosoma evansi tự nhiên: hươu sao ở đảo Maurice; nai Cervus ở

Indonesia; cừu hoang và hoẵng; linh dương ở Kazakistan; con tinh tinh ở đảo

Saumatra; chuột Hamster ở Ấn Độ; khỉ Maracus rheusus ở một số nước Ở Nam

Mỹ và Trung Mỹ có một số loài thú cũng bị mắc bệnh tiên mao trùng do

Trypanosoma evansi gây ra ở thể cấp tính và chết: chó rừng, khỉ ở Venezuela, nai

đuôi trắng, hươu ở Panama và Colombia

Nguyễn Quốc Doanh và cs ( 2001) [3], đã nghiên cứu bệnh tiên mao trùng trên các loài bò sát, ếch nhái ở đồng bằng sông Hồng, trong đó: các loài rắn, ba ba,

cóc, ếch, nhái cũng nhiễm T evansi với tỉ lệ là 8,03%

Ngoài những động vật bị nhễm T evansi tự nhiên, trong phòng thí nghiệm có

thể truyền bệnh tiên mao trùng cho các loại động vật nhỏ, chuột nhắt trắng, chuột cống trắng, thỏ, chuột lang, chồn, cầy hương, chó, mèo, trong đó chuột nhắt trắng,

chuột cống trắng đặc biệt mẫn cảm với T evansi (Losos G J.và cs 1972)[69]

Trang 19

* Côn trùng môi giới truyền bệnh tiên mao trùng:

Sự lây truyền tiên mao trùng từ trâu, bò ốm sang trâu, bò khoẻ là do các loài

ruồi hút máu (thuộc họ phụ Stomoxydinae) và các loài mòng hút máu (thuộc họ Tabanidae) Ruồi và mòng hút máu gia súc bị bệnh (có chứa tiên mao trùng ở vòi

hút), sau đó lại hút máu gia súc khoẻ, trong khi hút máu sẽ truyền tiên mao trùng từ vòi hút vào máu con vật khoẻ Sự lây truyền này mang tính chất cơ học (Desquesnes M., 2004) [42] Sự xuất hiện lượng lớn của ruồi, mòng trong mùa mưa nóng ẩm luôn

có liên quan đến tình hình dịch tễ bệnh tiên mao trùng ở trâu, bò, lạc đà và dê

- Chu kỳ phát triển sinh học của ruồi, mòng:

Theo Luckins A G và Dwinger H (2004) [73]: ruồi, mòng nói chung và ruồi, mòng hút máu nói riêng đều có chu kỳ phát triển qua 4 giai đoạn là trứng, ấu trùng (dòi), nhộng và trưởng thành Ruồi cái trưởng thành có thể sống 1 - 2 tháng và cần hút máu vật chủ để nuôi dưỡng trứng Thông thường thì ruồi, mòng cần hút máu bốn lần trong một tuần hoặc hơn

Desquesnes M và cs (2009) [43] cho biết, giống Stomoxys có 18 loài, trong

đó phổ biến và quan trọng nhất đối với sự truyền lây bệnh tiên mao trùng là loài

Stomoxys calcitrans

Khác với các loài Tabanus spp., con cái và con đực của loài Stomoxys calcitrans ở cả hai giống đều hút máu, thời gian hoàn thành vòng đời của chúng là

15 - 28 ngày, tuổi thọ trung bình là 20 - 30 ngày

- Thành phần loài ruồi, mòng hút máu ở nước ta:

Phan Văn Chinh (2006) [1], đã tiến hành kiểm tra ruồi, mòng môi giới trung

gian truyền bệnh T evansi ở ba tỉnh Quảng Bình, Thừa Thiên Huế, Khánh Hoà đại

diện cho các khu vực địa lý khác nhau ở các tỉnh miền Trung, tiến hành kiểm tra từ

1998 đến 2004 thu thập được 17.600 tiêu bản mòng, ruồi thuộc 9 loài, trong đó

8 loài mòng thuộc hai giống Tabanus và Chrysops thuộc họ Tabanidae (Tabanus rubidus, Tabanus kiangsuensis, Tabanus striatus, Tabanus miser, Tabanus bruneothorax, Tabanus pseudofiventus, Chrysozona assamensis, Chrysops dispar) và 1 loài ruồi Stomoxys calcitrans rất phổ biến ở các vùng kiểm tra

Trang 20

Phan Địch Lân (2004) [17], phần lớn các loài mòng tập trung ở khu vực miền núi và trung du Trong 53 loài mòng thì có tới 44 loài phân bố ở vùng rừng núi có

độ cao dưới 1.000 mét so với mặt nước biển, càng lên cao số loài càng ít dần (độ

cao trên 1.000 mét chỉ có 26 loài) Ở vùng trung du, rừng thưa, độ cao không quá

500 mét so với mặt nước biển có 27 loài; vùng đồi trọc chỉ có 9 - 11 loài; vùng rừng núi ven biển phát hiện chỉ có 8 loài Những loài mòng phổ biến ở tất cả các vùng là:

Tabanus rubidus, Tabanus striatus, Chrysops ispar, Chrysozoma assamensis

- Vai trò truyền bệnh tiên mao trùng của ruồi, mòng:

Bùi Quý Huy (2006) [5] cho rằng: thời gian xâm nhập của tiên mao trùng càng lâu thì tỷ lệ gây bệnh càng giảm, điều này có thể do thời gian càng lâu thì số lượng và

độc lực của Trypanosoma evansi trong ruồi, mòng càng giảm dần

Phan Địch Lân (2004) [17] cho biết, kiểm tra ở nhiều địa điểm thấy hai loài

mòng T rubidus và T striatus mang tiên mao trùng với tỉ lệ 15,2 % và 14,0 %; ruồi hút máu Stomoxys calcitrans mang tiên mao trùng với tỉ lệ 12,5 % Ở những vùng

đang có bệnh tiên mao trùng, kiểm tra ruồi và mòng hút máu dễ dàng tìm thấy tiên

mao trùng Sau khi theo máu vào vòi hút ruồi và mòng, tiên mao trùng vẫn sống đến giờ thứ 53, thời gian hoạt động mạnh nhất là từ giờ thứ nhất đến giờ thứ 34 trung bình

là 24 giờ Sự hoạt động của tiên mao trùng yếu dần từ giờ thứ 35 đến 42 Từ 46 - 53 giờ thì tiên mao trùng ngừng hoạt động

Hình thái tiên mao trùng khi ở trong vòi ruồi, mòng biến đổi theo thời gian: từ 1- 34 giờ có hình thái, kích thước bình thường; 35 - 45 giờ: tiên mao trùng có hình dạng thay đổi, tăng kích thước chiều rộng và thô dần; 46 - 53 giờ: tiên mao trùng trương to, duỗi thẳng, mất khả năng di động và ngừng hẳn hoạt động

- Thời gian hoạt động của ruồi, mòng hút máu

Theo Phan Địch Lân (1983) [15], cho biết: nước ta có khí hậu, điều kiện sinh

thái thích hợp cho những ký chủ trung gian thuộc họ mòng Tabanidae, họ ruồi Stomoxydinae, chúng cần có thảm thực vật để cư trú, đẻ trứng, cần khí hậu nóng

(16oC - 30oC), độ ẩm (50 - 100%), mặt đất ướt để trứng nở, các giai đoạn ấu trùng phát triển, cuối cùng cần có trâu, bò, động vật thích hợp để hút máu duy trì sự sống

đồng thời truyền bệnh T evansi cho những động vật này

Trang 21

Desquesnes M và cs (2009) [43]: Điều kiện thuận lợi cho ruồi ṃng phát triển

là nhiệt độ khoảng 270C Chu kỳ sinh học của ruồi mòng ở vùng nhiệt đới thường là

4 tuần, có thể dao động từ 3 dến 7 tuần tùy theo nhiệt độ môi trường

Nguyễn Thị Kim Lan (2012) [10] cho biết: mùa phát sinh bệnh tiên mao trùng

có liên quan chặt chẽ với mùa côn trùng hoạt động Ruồi và ṃng thường hoạt động mạnh từ tháng 5 đến tháng 9 hàng năm, sau đó giảm đi

1.1.2.3 Tuổi vật chủ, mùa mắc bệnh

Trâu, bò và các loài gia súc khác ở mọi lứa tuổi đều nhiễm tiên mao trùng và

đều phát bệnh với triệu chứng suy nhược, thiếu máu, giảm sức đề kháng, giảm khả

năng sinh đẻ và sức sản xuất, thậm chí có thể dẫn đến tử vong

Phan Địch Lân (2004) [17] đã tổng hợp kết quả điều tra 3.172 trâu ở các tỉnh

đồng bằng: trâu dưới 3 năm tuổi nhiễm thấp nhất (3,2 - 6,l %), trâu 3 - 5 tuổi nhiễm

cao hơn (6 - 12,7%), trâu 6 - 8 tuổi nhiễm cao nhất (12,9 - 14,8%), trâu trên 9 năm tuổi tỉ lệ nhiễm giảm thấp hơn trâu 3 - 8 năm tuổi

Theo Phan Văn Chinh (2006) [1], tỉ lệ nhiễm tiên mao trùng cao nhất là ở 4 - 8 năm tuổi (trâu: 12,71%; bò: 5,77%), thấp nhất là trâu, bò dưới 3 năm tuổi (6,92% và 2,31%) Mùa lây lan bệnh thường xảy ra trong các tháng nóng ẩm, mưa nhiều (từ tháng 4 đến tháng 9) Thời gian này điều kiện sinh thái thuận lợi cho các loài ruồi, mòng phát triển, hoạt động mạnh, hút máu súc vật và truyền tiên mao trùng

Sự xuất hiện lượng lớn ruồi, mòng trong mùa mưa nóng ẩm luôn có liên quan

đến tình hình dịch tễ bệnh tiên mao trùng ở trâu, bò, dê, lạc đà Từ cuối mùa thu,

mùa đông và đầu mùa xuân, trâu bò nhiễm tiên mao trùng phải sống trong điều kiện thời tiết lạnh, thiếu thức ăn nên sức đề kháng giảm, bệnh thường phát ra vào thời gian này và trâu bò bị đổ ngã hàng loạt tiên mao trùng có sức đề kháng yếu, dễ chết khi tiếp xúc với nước cất, cồn và thuốc sát trùng

1.1.3 Đặc điểm bệnh lý và lâm sàng của bệnh

1.1.3.1 Đặc điểm bệnh lý

Khi vào máu, tiên mao trùng nhân lên theo cấp số nhân ở trong máu, trong bạch huyết và ở trong các mô khác của cơ thể vật chủ theo cách phân chia theo

Trang 22

chiều dọc Số lượng tiên mao trùng trong máu không phải lúc nào cũng như nhau Mật độ Tiên mao trùng thay đổi theo ngày Biểu đồ sóng tiên mao trùng cho thấy, xen kẽ giữa những sóng tiên mao trùng mạnh là những đợt sóng yếu Mỗi đợt sóng tiên mao trùng bắt đầu bằng sự tăng số lượng tiên mao trùng trong máu, sau đó giảm và khó phát hiện thấy tiên mao trùng Mỗi đợt tiên mao trùng tăng lên trong máu là biểu hiện sự xuất hiện một quần thể tiên mao trùng có tính kháng nguyên bề mặt mới, quần thể này có thể tiếp tục sinh sản và tồn tại một thời gian cho đến khi

cơ thể xuất hiện kháng thể đặc hiệu với chúng

Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2008) [14]: tiên mao trùng phát triển nhanh trong máu, tiêu thụ Glucose và các chất đạm, chất béo và khoáng chất trong máu ký chủ bằng phương thức thẩm thấu qua bề mặt cơ thể để duy trì hoạt động và sinh sản Ở súc vật bị bệnh, trong 1 ml máu có thể có 10.000 - 30.000 Tiên mao trùng Với số lượng nhiều như vậy, tiên mao trùng chiếm đoạt dinh dưỡng nhiều, làm cho súc vật bệnh gây còm, thiếu máu và mất dần khả năng sinh sản đồng thời làm giảm sức đề kháng với các bệnh khác

Sống trong máu vật chủ, tiên mao trùng còn tạo ra độc tố Trypanotoxin, độc tố này

gồm: độc tố do tiên mao trùng tiết ra qua màng thân trong quá trình sống và độc tố

do xác chết của tiên mao trùng phân huỷ trong máu sau 15 - 30 ngày Độc tố của tiên mao trùng tác động lên hệ thần kinh trung ương làm rối loạn trung khu điều hoà thân nhiệt, gây sốt cao và gián đoạn (lúc sốt, lúc hết sốt xen kẽ nhau) Khi sốt thường có rối loạn về thần kinh (kêu rống, run rẩy, ngã vật xuống) Độc tố cũng phá huỷ hồng cầu, ức chế cơ quan tạo máu làm cho vật chủ thiếu máu và suy nhược dần

Độc tố còn tác động tới bộ máy tiêu hoá, gây rối loạn tiêu hoá, làm con vật tiêu

chảy Hội chứng tiêu chảy thường xảy ra khi xuất hiện tiên mao trùng trong máu con vật bệnh

1.1.3.2 Triệu chứng lâm sàng của bệnh tiên mao trùng

Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2008) [8]: trâu, bò bị bệnh thể hiện các triệu chứng lâm sàng chủ yếu như sau:

Trang 23

Sốt cao và gián đoạn: sau 14 - 30 ngày bị ruồi, mòng hút máu truyền tiên mao trùng, trâu bò thường đột ngột lên cơn sốt (40 - 41,70C) kéo dài 2 - 4 ngày rồi giảm, thời gian sau nhiệt độ lại tăng lên Thời gian gián đoạn giữa hai cơn sốt dài hay ngắn tuỳ theo thể trọng con vật Khi sốt, kiểm tra máu thường thấy tiên mao trùng

Hội chứng thần kinh: ở một số trâu, bò khi lên cơn sốt còn thể hiện hội chứng thần kinh như điên loạn, mắt đỏ ngầu, húc đầu vào tường, chạy vòng quanh kêu rống lên Trường hợp nhẹ thấy run rẩy từng cơn, mắt trợn ngược rồi đổ ngã vật xuống, sùi bọt mép giống như trâu bị cảm nắng Sau 20 - 30 phút con vật lại đứng dậy đi lại được Những trâu bò mắc bệnh có triệu chứng lâm sàng như trên thường

là mắc bệnh ở thể cấp tính Trâu, bò bị bệnh mãn tính thường kéo dài, cơ thể suy yếu, liệt hai chân sau, nằm tư thế quỳ và không đi lại được Mặc dù nằm hệt nhưng vẫn ăn và nhai lại cho đến khi sắp chết Phù thũng dưới da: phù thũng thường thấy ở vùng thấp của cơ thể như ở bốn chân (từ khớp khuỷu trở xuống), phần yếm, ngực,

bộ phận sinh dục

Viêm giác mạc và kết mạc mắt: triệu chứng này thấy ở hầu hết trâu, bò bệnh Mắt có dử trắng hay vàng, chảy liên tục, nếu nặng thì mắt sưng đỏ ngầu Khi khỏi bệnh, mắt có màng trắng (củi nhãn) kẻo che kín giác mạc

Hội chứng tiêu hoá: một số trâu, bò bệnh bị ỉa chảy nặng, phân lỏng, màu vàng, sau chuyển màu xám, có lẫn bọt và chất nhầy Các đợt ỉa chảy tiếp theo những cơn sốt cách quãng Ỉa chảy trong bệnh tiên mao trùng thường dai dẳng và con vật vẫn ăn được

Gầy yếu, suy nhược: ở thể bệnh cấp tính trâu, bò gầy sút nhanh, chỉ sau 7 - 14 ngày từ khi phát bệnh con vật đã gầy rộc, mắt trũng sâu Nếu bệnh kéo dài thì con vật gầy xơ xác, lông dựng ngược, da khô nhăn nheo, niêm mạc mắt nhợt nhạt, lông

dễ rụng, dần dần suy nhược cơ thể nặng, mất khả năng cày kéo và sinh sản Nếu gặp

điều kiện bất lợi như thiếu ăn, rét mướt thì trâu, bò dễ chết

Ở thể mãn tính, các triệu chứng lâm sàng nhẹ hơn, con vật ngày càng gầy, da

khô do mất nước, niêm mạc mắt tụ máu màu đỏ tía, đôi khi có chấm máu Sức khoẻ suy yếu dần, kém ăn, kém nhai lại, đi phân táo có lẫn máu hoặc đi tháo lỏng mùi

Trang 24

thối khắm Thường thấy có thuỷ thũng ở hầu, ức, nách, chân, háng Trong trường hợp bệnh nặng, con vật còn bị sảy thai, gây nên chứng suy giảm miễn dịch (Luckins A và Dwinger H., 2004) [73]

1.1.3.3 Bệnh tích của bệnh tiên mao trùng

Trong quá trình ký sinh, T evansi đã tiết ra độc tố Trypanotoxin Độc tố này

theo máu đi khắp cơ thể, tác động lên nội quan của vật bệnh, đặc biệt là bộ máy tuần hoàn và gây ra một số bệnh tích đặc biệt Ở gia súc mắc bệnh, khi chết mổ khám thường thấy một số bệnh tích sau: chủ yếu là các tế bào gan bị hoại tử, bạch cầu đơn nhân thấm qua phế quản, tế bào ống thận bị hoại tử và bong ra Các hạch lâm ba bị sưng, niêm mạc nhợt nhạt

Theo Nguyễn Thị Kim Lan (2011) [9]: trâu, bò bị bệnh tiên mao trùng khi chết gầy xơ xác, mổ khám thấy có những biến đổi bệnh tích đại thể rõ rệt ở hệ tuần hoàn

và hô hấp; tim nhão, xoang bao tim tích nước vàng; phổi sung huyết và tụ máu từng

đám nhỏ; gan sưng to, nhạt màu; lách sưng, mềm nhũn và nhạt màu; hạch lâm ba

sưng và có tụ máu trong hạch; cơ nhão, mầu nhợt nhạt, nhát cắt rỉ nước; xoang ngực

và xoang bụng tích dịch màu vàng nhạt; có những đám keo nhầy vàng dưới vùng da thủy thũng

1.1.4 Chẩn đoán bệnh tiên mao trùng

1.1.4.1 Phương pháp chẩn đoán lâm sàng

Việc chẩn đoán lâm sàng bệnh tiên mao trùng thường rất khó khăn trên bệnh súc do các triệu chứng lâm sàng có thể trùng với các bệnh truyền nhiễm hoặc bệnh

ký sinh trùng đường máu khác Ngoài ra, T evansi không chỉ nhiễm trên một loài

gia súc, vì vậy cần phải tiến hành các phương pháp chẩn đoán phòng thí nghiệm để

khẳng định bệnh (Desquesnes M., 2004) [42]

1.1.4.2 Các phương pháp chẩn đoán thí nghiệm

* Phương pháp phát hiện tiên mao trùng:

Muốn phát hiện tiên mao trùng trực tiếp, có thể áp dụng những phương pháp sau:

- Phương pháp xem tươi (Direct smear)

Khi bệnh súc sốt, T evansi thường xuất hiện trong mao quản ngoại vi Vì vậy,

nên lấy máu vùng ngoại vi để xem týõi

Trang 25

Cho 1 giọt máu nhỏ lên phiến kính đã có sẵn 1 giọt EDTA; dùng góc của la men khuấy đều, đậy la men lên để máu dàn theo la men thành một lớp mỏng Soi dýới kính hiển vi (độ phóng đại 10 x 40) để phát hiện tiên mao trùng sống

- Phương pháp nhuộm Giemsa tiêu bản máu khô (Romanovsky)

+ Phương pháp giọt dầy: Đặt 1 giọt máu to vào giữa phiến kính, dùng một góc của đầu một phiến kính khác ria tṛn giọt máu với đường kính khoảng 1 - 1,25 cm

Để khô tự nhiên trong khoảng 1 giờ, rồi cố định bằng cồn Methanol, nhuộm Giemsa

[1 giọt Giemsa + 1 ml dung dịch PBS (Phosphat Buffered Saline) pH = 7,2] trong

25 phút Rửa tiêu bản dưới vòi nước chảy mạnh, để khô rồi soi dưới kính hiển vi (độ phóng đại 10 x 100)

+ Phương pháp giọt mỏng:

- Phương pháp làm tan hồng cầu: Dung dịch SDS (Sodium Dodecyl Sulfate)

là chất làm tan hồng cầu Nhờ dung dịch SDS, tiên mao trùng dễ dàng được phát hiện trong máu Dung dịch SDS rất độc nên tránh tiếp xúc với da và tránh hút bằng pipet Dung dịch SDS dễ bảo quản ở nhiệt độ thường trong nhiều tháng

- Phương pháp tập trung tiên mao trùng:

Phương pháp ly tâm tập trung bằng ống Haematocrit: Cho máu động vật nghi mắc bệnh vào ống Haematocrit, một đầu ống được bịt kín bằng chất dẻo matit, một

đầu ống để hở Ly âm với tốc độ 12.000 vòng/phút trong 5 phút Sau đó kiểm tra sự

tập trung của tiên mao trùng tại vị trí tiếp giáp giữa huyết tương và bạch cầu (độ phóng đại 10 x 10) (Nguyễn Như Thanh, 2000) [23]

- Phương pháp tiêm truyền động vật thí nghiệm:

Đây là phương pháp thường được ứng dụng để chẩn đoán bệnh tiên mao trùng ở

Việt Nam Phương pháp này có ưu điểm là chính xác, do trực tiếp phát hiện thấy tiên mao trùng sau khi nhân chúng lên trong động vật thí nghiệm mẫn cảm Song, nhược

điểm của phương pháp tiêm truyền động vật thí nghiệm là khi cần chẩn đoán nhanh,

với số lượng nhiều và thời gian ngắn thì phương pháp này không thể đáp ứng được (Nguyễn Như Thanh, 2000) [23]

Trang 26

* Phương pháp chẩn đoán huyết thanh học:

Bằng các phương pháp huyết thanh học đặc hiệu có thể phát hiện kháng thể hoặc kháng nguyên tiên mao trùng

- Các phương pháp phát hiện kháng thể kháng tiên mao trùng

Khi tiên mao trùng ký sinh, cơ thể vật chủ sinh ra kháng thể đặc hiệu chống lại tiên mao trùng Những phương pháp sau cho phép phát hiện kháng thể kháng tiên mao trùng trong máu vật chủ:

- Phản ứng ngưng kết trên phiến kính (CATT/T evansi: Card Agglutination Test for Trypanosomiasis):

Phương pháp CATT/T evansi đã được chứng minh là có độ đặc hiệu cao hơn

để phát hiện ra kháng thể hoặc kháng nguyên trên trâu nhiễm bệnh tiên mao trùng tự

nhiên, so với các phương pháp đánh giá khác (Davidson H C và cs 1999) [39] Phản ứng ngưng kết trên phiến kính được đánh giá như là một phương pháp chẩn đoán thực nghiệm để phát hiện bệnh tiên mao trùng trên lạc đà, trâu và bò (Reid S A và Copeman D B., 2003) [91]

Như vậy, phương pháp CATT/T evansi là một phương pháp kiểm tra tiên mao

trùng cho kết quả nhanh chóng, dễ thực hiện, có thể áp dụng trong điều kiện thực

địa thiếu các dụng cụ chẩn đoán đặc biệt Ngoài ra, phương pháp này còn dùng để

phát hiện những con vật bị bệnh và chọn lựa phác đồ điều trị kịp thời (Gutiérrez C.và cs., 2014) [55]

- Phương pháp LATEX (Latex Agglutination Test)

Phương pháp LATEX được dùng để phát hiện kháng thể lưu động có trong máu của gia súc mắc bệnh tiên mao trùng

Phương pháp này có thể ứng dụng trong kiểm tra dịch tễ và trên thực địa Tuy nhiên, tỷ lệ phát hiện bệnh không cao, do phương pháp này cho kết quả dương tính ngay cả khi con vật khỏi bệnh nhưng vẫn còn kháng thể tồn tại trong huyết thanh

(Holland W G và cs., 2005 [62]).

Trang 27

- Phương pháp kháng thể huỳnh quang gián tiếp IFAT (Indirect Fluorescent Antibody Test):

Đây là phản ứng huyết thanh học có độ nhạy cao, nhưng độ đặc hiệu kém hơn

hai phương pháp CATT và ELISA Ngoài mục đích dùng làm phản ứng chuẩn để so

sánh với các phương pháp huyết thanh học khác, phương pháp kháng thể huỳnh

quang gián tiếp còn được dùng trong nghiên cứu các dòng kháng nguyên và phát

hiện kháng thể (Vương Thị Lan Phương, 2004 [20]).

Trong phương pháp IFAT, huyết thanh dương chuẩn được lấy từ trâu, bò mắc bệnh tiên mao trùng, huyết thanh âm chuẩn được lấy từ trâu bò khoẻ mạnh, huyết thanh cần chẩn đoán là huyết thanh lấy từ gia súc nghi mắc bệnh

Cách tiến hành: Sử dụng huyết thanh dương chuẩn đã gắn với thuốc nhuộm huỳnh quang trộn với huyết thanh của động vật nghi mắc bệnh, rồi cố định trên slide Sau đó, rửa sạch slide để loại bỏ kháng thể huỳnh quang không gắn với kháng nguyên rồi đem soi dưới kính hiển vi huỳnh quang Nếu thấy kháng nguyên phát sáng dưới kính hiển vi huỳnh quang là phản ứng dương tính, nếu không phát sáng là

âm tính (Gary E K., 2012 [52])

- Phương pháp ELISA (Enzyme Linked Immunosorbent Assay)

Cách đây hơn 35 năm, Luckins A G và cs (1991) [72] đã ứng dụng phương pháp ELISA trong việc chẩn đoán bệnh tiên mao trùng Phương pháp ELISA hiện

đang được sử dụng rộng rãi trên thế giới để chẩn đoán bệnh tiên mao trùng

* Các phương pháp phát hiện kháng nguyên tiên mao trùng

- Phương pháp ELISA kháng nguyên (Ag - ELISA)

Đây là phương pháp sử dụng phản ứng ELISA kháng nguyên để phát hiện

kháng nguyên lưu động trong máu của gia súc nhiễm bệnh Phản ứng dựa trên kháng thể đơn dòng đặc hiệu với tiên mao trùng

- Phương pháp phát hiện ADN của tiên mao trùng bằng phản ứng PCR (Polymerase Chain Reaction)

PCR là phương pháp hiện đại nhất được đưa vào ứng dụng để chẩn đoán bệnh tiên mao trùng trong những năm gần đây Phương pháp này cho phép xác định loài tiên mao trùng gây bệnh trên gia súc (Fernández D và cs., 2009 [51])

Trang 28

1.1.5 Phòng trị bệnh tiên mao trùng

1.1.5.1 Phòng bệnh

Theo Tổ chức Dịch tễ học thế giới (OIE), hiện nay chưa có vắc xin phòng bệnh tiên mao trùng cho gia súc Tuy nhiên chúng ta vẫn có thể phòng bệnh tiên mao trùng bằng các phương pháp sau đây:

* Diệt tiên mao trùng trên cơ thể vật chủ:

- Phát hiện gia súc nhiễm tiên mao trùng ở vùng có bệnh và những vùng lân cận, nhốt riêng trong chuồng có lưới để ngăn côn trùng và điều trị triệt để cho gia súc bệnh

- Ở những vùng không có bệnh thì không nhập gia súc từ vùng có bệnh về Nếu thật cần thiết thì chỉ nhập những gia súc khoẻ (có kết quả kiểm tra âm tính với tiên mao trùng), song vẫn cần nhốt riêng để theo dõi Nếu không bị bệnh mới cho nhập đàn

* Diệt ruồi, mòng môi giới truyền bệnh:

- Phương pháp diệt ruồi, mòng hút máu không dùng chất hóa học:

Hiện nay có rất nhiều loại bẫy ruồi bằng cách kích thích thị giác và khứu giác (dioxid carbon, octenol, amoniac), dễ dàng cho việc bắt và tiêu diệt chúng (Hall M J.,

và Wall R., 2004) [57]

Phát quang cây cối, không để nước tù đọng, ủ phân chuồng, phân xanh để diệt trứng và ấu trùng ruồi, mòng, làm chuồng gia súc có lưới ngăn là các biện pháp hữu hiệu, tạo ra những điều kiện bất lợi cho đời sống của ruồi, mòng

- Diệt ruồi, mòng bằng thuốc hoá học:

Có thể dùng các hoá dược tiêu diệt ruồi, mòng môi giới của tiên mao trùng trên da hoặc tắm (phun) cho con vật ở các vùng của cơ thể như chân trước, chân sau, đầu và bụng, là những nơi ruồi, mòng tấn công gia súc nhiều nhất Những thuốc này không nên sử dụng thường xuyên cho gia súc vào mùa mưa ở những

vùng có nhiều ổ dịch Trypanosoma evansi, vì có khả năng các thuốc này có thể bị

rửa trôi, giảm tác dụng

Trang 29

* Phòng bệnh cho gia súc bằng hoá dược:

Hội nghị chuyên đề quốc tế về phòng bệnh Tiên mao trùng đã kết luận: Hiện nay, biện pháp sử dụng hoá dược để tiêm phòng cho gia súc ở những vùng dịch bệnh tiên mao trùng lưu hành cần phải được tiếp tục trong nhiều năm

Hiện nay, thuốc trypamidium, liều 0,5 mg/kg T.T được khuyến cáo dùng để

phòng bệnh tiên mao trùng cho trâu, bò

1.1.5.2 Điều trị bệnh

Hiện nay có rất nhiều biện pháp phòng chống bệnh nhưng bệnh tiên mao trùng

ở nước ta vẫn diễn biến hết sức phức tạp do sự phát triển mạnh mẽ của vật môi giới

truyền bệnh trong điều kiện thời tiết nóng ẩm, mưa nhiều

Một số loại hoá dược đã được dùng để điều trị bệnh Tiên mao trùng cho trâu,

bò, ngựa ở nước ta từ những năm 60 đến nay gồm:

- Naganin, liều 10 mg /kg TT Pha thuốc với dung dịch nước muối sinh lý hoặc nước cất thành dung dịch 10 %, tiêm tĩnh mạch

* Berenil (Hãng Intervet - Hà Lan):

Berenil là dung dịch tiêm, được hoàn nguyên từ dạng hạt, dùng điều trị bệnh

đơn bào ký sinh trong máu của gia súc

Thành phần: mỗi gam dạng hạt chứa 445 mg diminazene aceturate và 555 mg phenuldimethyl parazolone (antipyrin) Sau khi pha, 1 ml chứa 70 mg diminazene aceturate và 87,3 mg phenuldimethyl parazolone (antipyrin)

Trang 30

Chỉ định: thuốc dùng điều trị bệnh đơn bào đường máu cho gia súc như trâu,

bò, cừu, dê, ngựa

Liều áp dụng chung là 3,5 mg /kg TT Tùy thuộc vào thể trọng của gia súc mà liều áp dụng có thể đến 8 mg /kg TT, nhưng liều tối đa cho mỗi gia súc không vượt quá 4 gam /con

Đường tiêm: pha thuốc với nước cất, tiêm bắp thịt

Quy cách: gói lớn gồm 100 gói nhỏ (23,6 g /gói), mỗi gói nhỏ chứa 10,5 g hoạt chất

Chống chỉ định: không dùng cho chó và lạc đà

* Azidin (Công ty Hanvet): trong 1 lọ azidin 1,18 g có chứa 525 mg diminazene aceturate

- Tác dụng: chữa và phòng bệnh ký sinh trùng đường máu cho trâu, bò, ngựa

- Liều lượng và cách sử dụng: Pha 1 lọ azidin 1,18 g với 7 ml nước cất, lắc cho

đến khi tan hết, dùng cho 150 kg TT Tiêm sâu vào bắp thịt

Chú ý:

+ Nếu tiêm lượng thuốc lớn, nên tiêm 2 điểm khác nhau

+ Nếu cần thiết có thể tăng liều gấp đôi, song tổng liều không quá 7 lọ

+ Nếu thân nhiệt không giảm, tiêm nhắc lại sau 24 giờ

+ Dung dịch pha rồi có thể bảo quản ở nhiệt độ bình thường 5 ngày, trong tủ lạnh 4 - 8 0C bảo quản được 14 ngày

* Naganin (Tên khác: naganol)

Biệt dược: suramin, bayer 205, moranin, furno 309

Thuốc được hãng Bayer chế tạo, sau đó nhiều nước đã sản xuất để sử dụng

điều trị bệnh tiên mao trùng cho gia súc

- Tính chất: tên hóa học N - amino - benzoin - m - amino - pmetio - benzoin -

1 - naptilamin - 4 - 6 - 8 trisunfonat natri Là loại bột trắng mịn, màu hơi vàng chanh (naganol) hoặc hơi hồng (naganin), nhẹ, dễ hút ẩm, tan trong nước, không bị phá hủy trong nước đun sôi (100 0C) Khi pha, dung dịch trong, hơi ánh vàng chanh (naganol) hoặc hơi hồng, chuyển thành nâu nhạt (naganin)

Trang 31

- Tác dụng: có tác dụng mạnh trong điều trị bệnh tiên mao trùng ở gia súc Thuốc được đào thải qua thận nhưng tồn lưu lâu ở gan và cơ của động vật, vì vậy còn được dùng để phòng nhiễm tiên mao trùng

- Chỉ định: thuốc được chỉ định để điều trị các bệnh tiên mao trùng ở trâu, bò,

ngựa do Trypanosoma evansi, T brucei, T vivax, T congolense…

- Liều dùng: dùng cho trâu, bò, ngựa với liều dùng và liệu trình như sau:

+ Ngày thứ nhất: dùng liều 0,01 g /kg TT

+ Ngày thứ hai, thứ ba: cho súc vật nghỉ

+ Ngày thứ tư: dùng liều 0,01 g /kg TT

Thuốc pha với nước cất theo tỷ lệ 10 %, có thể tiêm bắp thịt hoặc tiêm tĩnh mạch Khi tiêm thuốc vào tĩnh mạch cần tiêm trước thuốc trợ tim (cafein hoặc long não nước)

1.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU BỆNH TIÊN MAO TRÙNG

1.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước

* Những nghiên cứu về dịch tễ bệnh tiên mao trùng

Lê Ngọc Mỹ và cs (1994) [19], đã điều tra tình hình nhiễm tiên mao trùng ở trâu bò Việt Nam Kết quả cho thấy, trâu bò nhiễm tiên mao trùng với tỷ lệ cao

(21,27%), trong đó trâu bò nuôi ở các tỉnh miền núi phía Bắc nhiễm T evansi cao

hơn ở đồng bằng

Theo Lê Đức Quyết (1995) [21], trâu ở một số tỉnh miền Nam và Tây Nguyên nhiễm tiên mao trùng với tỷ lệ là 22,12%

Nguyễn Quốc Doanh và Phạm Sỹ Lăng (2001) [3] đã kiểm tra 760 cá thể bò sát

(gồm 670 rắn và 90 ba ba), thấy tỷ lệ nhiễm T evansi trung bình là 7,89 % Tỷ lệ

nhiễm ở các loài bò sát không giống nhau do đặc tính sinh học của chúng khác nhau Phan Địch Lân (2004) [17] đã tổng hợp kết quả điều tra 3.172 trâu ở các tỉnh

đồng bằng và cho biết: trâu dưới 3 năm tuổi nhiễm thấp nhất (3,2 - 6,l %), trâu 3 - 5

năm tuổi nhiễm cao hơn (l0,6 - 12,7 %), trâu 6 - 8 năm tuổi nhiễm cao nhất (12,9 - 14,8 %), trâu trên 9 năm tuổi tỷ lệ nhiễm giảm thấp hơn trâu 3 - 8 năm tuổi

Trang 32

Theo Phan Văn Chinh (2006) [1], tỷ lệ nhiễm tiên mao trùng cao nhất ở trâu, bò 4-

8 năm tuổi (trâu: 12,71 %; bò: 5,77 %), thấp nhất ở trâu, bò dưới 3 năm tuổi (6,92 %

và 2,31 %) Bệnh thường lây lan trong các tháng nóng ẩm, mưa nhiều (từ tháng 4 đến tháng 9) Thời gian này điều kiện sinh thái thuận lợi cho các loài ruồi, mòng phát triển, hoạt động mạnh, hút máu súc vật và truyền tiên mao trùng

Nguyen Q D và cs (2013) [83] cho biết, trong 585 mẫu huyết thanh trâu thu thập tại Thái Nguyên và Cao Bằng có 131 mẫu dương tính với tiên mao trùng, chiếm tỷ lệ 22,4 % Trong đó, tỷ lệ nhiễm thấp nhất ở trâu nhỏ hơn 3 năm tuổi

* Những nghiên cứu về đặc điểm bệnh lý và lâm sàng bệnh tiên mao trùng

Theo Nguyễn Quốc Doanh (1998) [6], các triệu chứng lâm sàng chủ yếu ở thỏ

nhiễm T evansi gồm: thủy thũng tai, thủy thũng bẹn, thủy thũng mi mắt, mắt có

nhử, khó thở và phân nhão

Theo Nguyễn Quang Sức và cs (2002) [22], dê mắc bệnh tiên mao trùng thiếu máu, suy yếu kéo dài làm giảm khối lượng cơ thể và sản lượng sữa Nếu không

được điều trị sớm thì khoảng 10 - 15 % số dê mắc bệnh sẽ chết

Phan Văn Chinh (2006) [1] cho biết, triệu chứng, bệnh tích bệnh tiên mao trùng

do gây nhiễm không khác biệt với bệnh tiên mao trùng tự nhiên ở thể cấp và mạn tính,

số lượng hồng cầu giảm, số lượng bạch cầu tăng ở trâu bệnh so với trâu khỏe

Theo Nguyễn Thị Kim Lan (2012) [10]: ở ngựa có 3 thể bệnh là cấp tính, á cấp tính và mạn tính Thời kỳ nung bệnh ở thể cấp tính và á cấp tính dài 1 - 1,5 tháng Thể mạn tính thì thời gian nung bệnh tới 4 - 6 tháng Ở ngựa thường có triệu chứng điển hình như: Sốt cao, thủy thũng (phù), xuất hiện triệu chứng thần kinh, thời kỳ cuối bốn chân bị tê liệt, con vật chết

* Những nghiên cứu về chẩn đoán bệnh tiên mao trùng

Vương Thị Lan Phương (2004) [20] đã tiến hành nghiên cứu kháng nguyên bề

mặt của T evansi phân lập từ trâu, bò ở 6 tỉnh phía Bắc Việt Nam để tinh chế kháng nguyên T evansi dùng trong phản ứng miễn dịch huỳnh quang gián tiếp chẩn đoán

bệnh tiên mao trùng ở trâu, bò, cho biết: đã thu được 6 mẫu tiên mao trùng từ 6 tỉnh, tiến hành phân dòng, phân VAT (Variable Antigenic Type) và thu được 26 VAT

Trang 33

thuộc 6 kho kháng nguyên khác nhau Bằng phản ứng dung giải miễn dịch và phương pháp thấm miễn dịch, tác giả đã xác định được sự thay đổi kháng nguyên bề

mặt của T evansi: đa số các VAT của các kho kháng nguyên khác nhau là khác

nhau, chỉ có 8/26 VAT có hiệu giá kháng thể đơn giá đặc hiệu, có phản ứng chéo với các VAT của các kho kháng nguyên khác Các VAT trội xuất hiện sớm trong 4 tuần lễ đầu nhiễm bệnh, có tính kháng nguyên mạnh, có thể nghiên cứu ứng dụng chế kháng nguyên chẩn đoán Từ đó, tác giả đã tinh chế kháng nguyên theo phương pháp tách tiên mao trùng để dùng trong phản ứng miễn dịch huỳnh quang gián tiếp,

ứng dụng chẩn đoán bệnh tiên mao trùng cho độ nhạy và độ đặc hiệu cao

Trần Đức Hạnh và cs (2009) [4] đã sử dụng phương pháp ELISA chẩn đoán bệnh tiên mao trùng ở trâu, bò tại huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên Kết quả cho thấy: trong số 239 mẫu huyết thanh trâu kiểm tra có 36 mẫu dương tính, chiếm 15,06

%; trong số 246 mẫu huyết thanh bò kiểm tra có 43 mẫu dương tính, chiếm 17,48 %

* Những nghiên cứu về loài ruồi, mòng truyền bệnh tiên mao trùng

Phạm Sỹ Lăng và Đào Trọng Đạt (1991) [12] cho biết, trong điều kiện nóng

ẩm của Việt Nam, ruồi hút máu mang mầm bệnh tiên mao trùng với tỷ lệ từ 5,61 -

19,34 % và mòng với tỷ lệ 3,84 - 24,9 %

Phan Địch Lân và cs (2002) [16] cho biết, bệnh được truyền đi do vật môi

giới gieo truyền là ruồi trâu (Stomoxys) và mòng (Tabanus) Tiên mao trùng không

có sự phát triển và sinh sản ở vật môi giới, nó chỉ được truyền đi một cách cơ giới

T evansi có thể duy trì sức sống ở vật môi giới trong khoảng 24 - 44 giờ, nếu

ruồi trâu và mòng chưa kịp mang căn bệnh đi truyền cho những súc vật khác thì căn bệnh sẽ chết trong vòi hút của chúng Vì vậy, mùa phát bệnh có liên quan chặt chẽ với mùa côn trùng hoạt động (tháng 5 - 9)

* Những nghiên cứu về biện pháp phòng trị bệnh tiên mao trùng

Phạm Sỹ Lăng và Lê Văn Tạo (2002) [13] đã đề xuất biện pháp phòng chống bệnh tiên mao trùng cho trâu, bò như sau:

- Hàng năm định kỳ kiểm tra máu để phát hiện tiên mao trùng ở trâu, bò và

điều trị vào thời kỳ trâu, bò nghỉ cày kéo (tháng 4 và tháng 8)

Trang 34

- Phòng chống côn trùng hút máu và truyền bệnh

- Chăm sóc, nuôi dưỡng và sử dụng hợp lư để tăng sức đề kháng cho trâu, bò Phan Địch Lân (2004) [17] đã thử nghiệm thuốc naganin và cho biết, thuốc có

tác dụng tốt trong điều trị bệnh do T evansi gây ra trên trâu, bò ở nước ta

Phan Văn Chinh (2006) [1] đã dùng berenil điều trị bệnh tiên mao trùng cho trâu, bò ở các tỉnh miền Trung và thu được kết quả: thuốc đạt hiệu lực 100 % với những trâu, bò bị bệnh

Nguyễn Thị Kim Lan (2012) [10] cho biết: để phòng bệnh tiên mao trùng, cần thực hiện các biện pháp tổng hợp sau:

- Ở những vùng có bệnh, vào mùa ruồi trâu và mòng hoạt động, cần kiểm tra máu cho toàn bộ gia súc Nếu có bệnh hoặc nghi có bệnh thì cần cách ly và điều trị kịp thời

- Khi có bệnh xảy ra, phải báo cáo chính quyền và các cơ quan thú y để công

bố dịch

- Tiêm phòng bằng thuốc: dùng thuốc trypamidium; liều 0,5 mg /kg TT, pha thành dung dịch 1 - 2 %, tiêm bắp thịt làm nhiều điểm để phòng bệnh tiên mao trùng (thuốc trypamidium thải trừ chậm, có thể tồn tại trong máu 1,5 - 2 tháng nên

có tác dụng phòng bệnh tốt hơn các thuốc khác)

1.2.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới

* Những nghiên cứu về dịch tễ bệnh tiên mao trùng

Vokaty S và cs (1993) [106] đã thu thập 161 mẫu huyết thanh cừu ở 22 trang trại thuộc Mahaica - Berbice - Guyana, bằng phương pháp chẩn đoán miễn dịch

huỳnh quang gián tiếp (IFAT) phát hiện được 103/161 mẫu dương tính với T vivax

và T evansi (chiếm 63,97 %)

Reid S A và Copeman D B (2000) [88] đã báo cáo kết quả xét nghiệm các mẫu huyết thanh của 545 bò, lợn và chuột túi tại Papua New Guinea Bằng phương

pháp CATT, đã phát hiện 39 bò, 2 lợn và 3 chuột túi dương tính với T evansi

Hilali M và cs (2004) [59] đã sử dụng phương pháp CATT để kiểm tra 200 mẫu máu trâu thu thập từ các lò giết mổ, có 48 mẫu dương tính với tiên mao trùng

T evansi (chiếm 24 %)

Trang 35

Holland W G và cs (2005) [62] cho biết, kiểm tra 437 mẫu huyết thanh lợn

thu thập tại các nông hộ của Việt Nam, không có mẫu nào dương tính với T evansi Tại Thái Lan, có 2/77 mẫu huyết thanh thu thập tại 5 trang trại lợn nái dương tính với T evansi

Mandal M và cs (2008) [74] đã gây nhiễm T evansi cho chim bồ câu Bốn ngày sau gây nhiễm, thấy xuất hiện T evansi trong máu ngoại vi chim bồ câu non,

nhưng không thấy xuất hiện trong máu ngoại vi chim bồ câu trưởng thành

Berlin D và cs (2010) [30] đã kiểm tra máu của động vật nuôi tại một trang

trại ở Israel Kết quả cho thấy, hầu hết lạc đà ở trang trại (80 %) bị nhiễm T evansi,

trong khi tỷ lệ nhiễm thấp hơn ở lừa (46 %) và thấp nhất ở ngựa (43 %) Triệu chứng lâm sàng thể hiện rõ ở 4 con lạc đà và 1 con ngựa

Rodríguez N F và cs (2010) [92] đã kiểm tra 1.228 mẫu huyết thanh của gia súc tại đảo Canaria (Tây Ban Nha), kết quả có 61 mẫu huyết thanh dương tính với

T evansi, chiếm tỷ lệ 4,97%

Alves F M và cs (2011) [26] đã đánh giá mức độ nhiễm T evansi và T cruzi

ở khu vực Pantanal (Brazil) bằng phương pháp miễn dịch huỳnh quang và kỹ thuật

ly tâm microhematocrit (MHCT) Kết quả cho thấy, có 53,5 % số mẫu huyết thanh

dương tính với T cruzi và 42,0 % dương tính với T evansi

Amer S và cs (2011) [27] đã nghiên cứu tỷ lệ nhiễm T evansi ở lạc đà tại

một số lò mổ tại Cairo (Ai Cập) bằng phương pháp tiêm truyền chuột bạch Kết quả

cho thấy, có 4/84 lạc đà bị nhiễm T evansi (chiếm 4,7 %)

Nair A S và cs (2011) [80] đã sử dụng phương pháp PCR để xác định tỷ lệ

nhiễm Trypanosoma spp trong 150 mẫu máu bò ở Bắc Kerala (Ấn Độ) Kết quả cho thấy, tỷ lệ nhiễm tiên mao trùng T evansi là 34,6 % và T annulata là 16 % Tác giả cho rằng, tỷ lệ nhiễm T evansi cao hơn là do sự xuất hiện của nhiều mòng Tabanus tại địa phương

Tại Đức, Defontis M và cs (2012) [41] đã xác định được loài tiên mao trùng gây bệnh trên chó 9 tuổi bằng phương pháp soi tươi và các phương pháp sinh học

phân tử khác, đó là loài T evansi

Trang 36

Milocco C và cs (2012) [78] đã điều tra tỷ lệ nhiễm tiên mao trùng từ 1.664 mẫu máu các loài gặm nhấm hoang dã tại Cam-pu-chia, Lào và Thái Lan (từ tháng

11/2007 đến 6/2009) Kết quả cho thấy: có 15 mẫu dương tính với T lewisi và 6 mẫu dương tính với các Trypanosoma khác

Singh N K và cs (2012) [95] cho biết: trong tổng số 703 bò, kiểm tra bằng phương pháp huyết thanh học tại Punjab, Ấn Độ và phương pháp nhuộm tiêu bản giemsa, thấy có 22,9 % (161/703) bò bị nhiễm ký sinh trùng đường máu, trong đó

nhiễm Theileria annulata (14,65 %), Trypanosoma evansi (0,28 %), Babesia bigemina (1,56 %) và Anaplasma marginale (8,53 %)

Elshafie E I và cs (2013) [49] đã nghiên cứu tỷ lệ nhiễm tiên mao trùng T evansi trên đàn ngựa của Malaysia Trong 527 mẫu máu ngựa thu thập và kiểm tra

bằng phương pháp tập trung tiên mao trùng (haematocrit centrifugation technique), nhuộm giemsa (Giemsa-stained thin blood smear) và PCR (polymerase chain reaction), kết quả thu được lần lượt là 0,57% (3/527 mẫu) đối với hai phương pháp haematocrit và nhuộm giemsa; 1,14% (6/527 mẫu) đối với phương pháp PCR

Sumbria D và cs (2014) [96] tiến hành kiểm tra mẫu máu và huyết thanh của

169 ngựa bằng phương pháp ngưng kết trên phiến kính Kết quả cho thấy, có 16 ca dương tính, trong đó có 6,8% là gia súc ở vùng đồng bằng và 13,63 % từ vùng đông bắc của tỉnh Punjab, Ấn Độ

Kocher A và cs (2015) [65] đã có một cuộc khảo sát huyết thanh học cắt ngang

được thực hiện tại các vùng chăn nuôi trâu lớn của Thái Lan; 892 con trâu từ 8 tỉnh đã được lấy mẫu ở Bắc, Đông Bắc và miền Nam Thái Lan Mẫu huyết thanh dương tính

đã được tìm thấy trong tất cả 8 tỉnh,tỷ lệ nhiễm tiên mao trùng ở trâu là 12,2 %

* Những nghiên cứu về đặc điểm bệnh lý và lâm sàng bệnh tiên mao trùng Theo Damayanti R và cs (1994) [37], bệnh tích đại thể của trâu nhiễm T evansi

gồm: xuất huyết màng tim, viêm phổi, viêm gan, lách sưng phù, hạch bạch huyết sưng

to và tủy xương tăng sinh Bệnh tích vi thể thấy rõ ở tuần 1 - 7 sau gây nhiễm: viêm phổi kẽ, viêm cơ tim kẽ, hoại tử lách, viêm cơ và tăng sinh tủy xương

Trang 37

Dargantes A P và cs (2005) [38] đã nghiên cứu về khả năng tăng trọng của

dê nhiễm T evansi Kết quả cho thấy: dê khỏe tăng khối lượng trung bình 22,8 g /ngày; trong khi dê bệnh giảm 21,4 - 45,0 g /ngày Số lượng T evansi trong máu thay đổi theo chu kỳ (khoảng 6 ngày không phát hiện thấy T evansi rồi lại thấy và

lặp lại) Triệu chứng lâm sàng có thể quan sát được là sốt, gầy yếu, thiếu máu, ho, sưng tinh hoàn và tiêu chảy

Gutierrez C và cs (2006) [53] cho biết, gia súc cái nhiễm T evansi bị thiếu

máu, số lượng bạch cầu lymphocyte và monocyte tăng, hạ đường huyết, hàm lượng ure huyết tăng, đồng thời hàm lượng sắt trong huyết thanh giảm Đây chính là

những lý do dẫn đến sảy thai ở gia súc cái nhiễm T evansi

Nurulaini R và cs (2007) [85] đã mô tả triệu chứng của hươu bị bệnh do T evansi gây ra tại một trang trại hươu ở Lenggong (Perak) Các triệu chứng thần

kinh, thiếu máu, biếng ăn, suy hô hấp và lười vận động (nằm một chỗ) xuất hiện ở hươu bệnh trước khi chết

Berlin D và cs (2009) [30] đã mô tả triệu chứng lâm sàng ở ngựa cái nhiễm

T evansi, bao gồm: sốt cao, viêm giác mạc mắt, các triệu chứng thần kinh (bại liệt

chân sau) Mổ khám bệnh tích thấy các ổ mủ ở não bộ, tủy sống; con vật có biểu hiện viêm cầu thận

Mijares A và cs (2010) [76] cho biết, ngựa bị bệnh tiên mao trùng do T evansi có các triệu chứng điển hình là sốt, thiếu máu và gầy yếu

Da Silva A S và cs (2011) [34] cho biết, các dấu hiệu lâm sàng về thần kinh

và vận động thường xuất hiện ở động vật bị nhiễm T evansi

Theo Da Silva C B và cs (2013) [35], T evansi gây ra tình trạng thiếu máu

và rối loạn quá trình trao đổi sắt ở chuột bệnh

Mekata H và cs (2013) [75] đã gây nhiễm các chủng T evansi phân lập từ

trâu ở Philippines cho chuột bạch Mổ khám chuột ở ngày thứ 8 sau gây nhiễm thấy, lách chuột bệnh sưng to, số lượng bạch cầu tăng đáng kể so với chuột đối chứng

Trang 38

* Những nghiên cứu về loài ruồi, mòng truyền bệnh tiên mao trùng

Mihok S và cs (1995) [77] đã nghiên cứu về khả năng truyền các loài T brucei, T vivax, T evansi, T congolense cho chuột bạch của mười loài ruồi thuộc

họ Stomoxydinae Kết quả cho thấy, T brucei là ký sinh trùng dễ truyền nhất, tỷ lệ thành công là 11,5 %; sau đó là T vivax (3,4 %); T evansi (0,9 %); việc truyền T congolense đã không thành công trong thí nghiệm này

Veer V và cs (1999) [105] đã chứng minh một số loài ruồi, mòng (Atylotus agrestis, T dorsilinea, T rubidus, T striatus) là môi giới truyền bệnh tiên mao

môi giới truyền bệnh tiên mao trùng

Desquesnes M và cs (2009) [43] cho biết, bệnh do Trypanosoma là bệnh

được truyền từ vật bệnh sang vật khỏe thông qua sự hút máu của côn trùng môi giới

Vì vậy, mầm bệnh có thể được truyền đi trong phạm vi không gian rộng lớn

Theo Muzari M O và cs (2010) [79], mòng Tabanus ở Úc là một trong những vật môi giới phổ biến truyền bệnh do Trypanosoma evansi ở động vật

Theo Baldacchino F và cs (2014) [29], mòng Tabanus hút máu gây ngứa và

đau cho gia súc Theo thống kê có gần 4400 loài mòng đã được phát hiện với sự

phân bố rộng khắp trên thế giới Mòng Tabanus là vector truyền bệnh do virus, vi

khuẩn và ký sinh trùng gây đường máu

* Những nghiên cứu về chẩn đoán bệnh tiên mao trùng

Ijaz M K và cs (1998) [63] cho biết, trong giai đoạn mới nhiễm bệnh,

phương pháp PCR phát hiện T evansi sớm hơn 3 ngày so với phương pháp soi tươi

Davison H C và cs (2000) [40] đã sử dụng phương pháp microhaematocrit

(MHCT) để xác định tỷ lệ nhiễm T evansi ở trâu thuộc Trung Java Trong số 2.387 trâu được xét nghiệm có 4 % trâu dương tính với T evansi

Trang 39

Holland W G và cs (2001) [61] đã so sánh khả năng phát hiện tiên mao trùng

T evansi của các phương pháp chẩn đoán, kết quả cho thấy: phương pháp PCR cho

tỷ lệ dương tính là 78,2 %; phương pháp tiêm truyền chuột là 74,0 % và phương pháp MHCT là 69,6 %

Ngaira J M và cs (2003) [82] đã sử dụng phương pháp CATT và Suratex

trong chẩn đoán bệnh tiên mao trùng do T evansi gây ra ở lạc đà tại Kenya Kết quả cho thấy, phương pháp CATT phát hiện 321/828 mẫu nhiễm T evansi (chiếm 38,8

%), phương pháp Suratex phát hiện 169/772 mẫu nhiễm (chiếm 21,9 %) Độ nhạy của phương pháp CATT là 68,6 % và Suratex là 58,8 %; độ đặc hiệu của cả 2 phương pháp đều đạt 100 %

Singh N và cs (2004) [94] cho biết: từ 7/2002 đến 5/2003, tác giả đã kiểm tra

tình hình nhiễm T evansi ở 217 lạc đà ở Tây Rajasthan (Ấn Độ) Các phương pháp

sử dụng trong chẩn đoán gồm phương pháp PCR, Ag - ELISA, TBS (stained thin

blood smear) và WBF (wet blood film) Kết quả về tỷ lệ nhiễm T evansi ở lạc đà

lần lượt là 17,05 %; 9,67 %; 4,60 % và 4,14 % Độ nhạy của phương pháp PCR là

100 %; Ag - ELISA là 56,75 %; TBS là 27,02 % và WBF là 24,32 %

Njiru Z K và cs (2004) [84] đã thu thập 549 mẫu máu lạc đà tại Kenya để

xác định tỷ lệ nhiễm T evansi Kết quả cho thấy: phương pháp MHCT phát hiện 5,3

% số mẫu dương tính; phương pháp PCR phát hiện 26,6 % số mẫu dương tính và

phương CATT phát hiện 45,9 % số mẫu dương tính với T evansi Các tác giả cũng

cho biết, tỷ lệ nhiễm ở lạc đà đực cao hơn 2,6 lần so với lạc đà cái, đồng thời tỷ lệ nhiễm ở lạc đà trưởng thành cao hơn gấp 2,2 lần so với lạc đà non

Thekisoe O M và cs (2005) [100] đã so sánh độ nhạy của một số phương

pháp phát hiện T evansi Kết quả cho thấy: phương pháp PCR, TBS (stained thin

blood smear) và MHCT có độ nhạy lần lượt là 33 %, 38 % và 24 % Tất cả các phương pháp đều có đặc hiệu đạt trên 60 %

Laha R và Sasmal N K (2008) [67] đã sử dụng phương pháp nhuộm giemsa

để chẩn đoán bệnh tiên mao trùng cho một trang trại ngựa tại khu vực phía Đông

Ấn Độ Kết quả cho thấy có 12,74 % số ngựa bị nhiễm T evansi

Trang 40

Theo Umezawa E S và cs (2009) [103], phương pháp TESA - blot có độ nhạy và độ đặc hiệu 100 %; phương pháp TESA - ELISA có độ nhạy 100 % và độ

đặc hiệu 94,1 %; trong khi đó phương pháp epi - ELISA có độ nhạy 100 % và độ đặc hiệu 49,4 %

Laha R và Sasmal N K (2009) [68] đã xác định tỷ lệ nhiễm T evansi trên

trâu, bò và ngựa ở khu vực phía Đông Ấn Độ Bằng phương pháp tiêm truyền động

vật thí nghiệm, phát hiện 18,4 % số bò; 15,6 % số trâu và 46,9 % số ngựa nhiễm T evansi Bằng phương pháp nhuộm giemsa, phát hiện 5,3 % số bò; 9,4 % số trâu và 40,6 % số ngựa dương tính với T evansi Bằng phương pháp ELISA, phát hiện 42,1% số bò; 43,8 % số trâu và 65,6 % số ngựa nhiễm T evansi

Hagos A và cs (2010) [56] đã tiến hành nghiên cứu tỷ lệ nhiễm tiên mao trùng ở ngựa vùng cao nguyên Bale của Ethiopia từ 9/2007 - 6/2008 Bằng phương

pháp LATEX, đã phát hiện 15,91 % số mẫu huyết thanh dương tính với T evansi

Bằng phương pháp CATT đã phát hiện 19,66 % số mẫu huyết thanh ngựa dương

tính với T evansi

Aquino L P và cs (2010) [28] đã điều tra sự hiện diện của kháng thể T evansi ở động vật từ các tiểu vùng của Nhecolandia (Pantanal) Kết quả cho thấy:

Bằng phương pháp miễn dịch huỳnh quang gián tiếp (IFAT) phát hiện 8/32 mẫu

huyết thanh cầy dương tính với T evansi (chiếm 25,0 %) Bằng phương pháp ELISA, không phát hiện mẫu huyết thanh nào của bò dương tính với T evansi;

trong khi có 16/55 mẫu huyết thanh chó dương tính (chiếm 29 %) và 23/98 mẫu huyết thanh ngựa dương tính (chiếm 23,4 %)

Haridy F M và cs (2011) [58] cho biết, phương pháp chẩn đoán ELISA có

độ nhạy và độ đặc hiệu cao hơn so với phương pháp nhuộm giemsa

Ramirez - Iglesias J R và cs (2011) [87] đã so sánh các kỹ thuật chẩn đoán bệnh tiên mao trùng trên thỏ thí nghiệm Từ đó, các tác giả khuyến cáo nên sử dụng phương pháp PCR trong các nghiên cứu dịch tễ học để có kết quả chính xác nhất Elshafie E I và cs (2012) [48] đã thu thập 527 mẫu máu ngựa từ tám bang ở

bán đảo Malaysia để xác định tỷ lệ nhiễm Trypanosoma spp Bằng phương pháp

CATT phát hiện 13,90 % số mẫu huyết thanh dương tính Trong đó, ngựa cái có nguy cơ nhiễm bệnh cao hơn ngựa đực

Ngày đăng: 31/10/2016, 09:16

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Phan Văn Chinh (2006), Bệnh tiên mao trùng do Trypanosoma evansi ở trâu, bò nuôi tại các tỉnh miền Trung và biện pháp phòng trị. Luận án Tiến sĩ nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh tiên mao trùng do Trypanosoma evansi ở trâu, bò nuôi tại các tỉnh miền Trung và biện pháp phòng trị
Tác giả: Phan Văn Chinh
Năm: 2006
2. Nguyễn Quốc Doanh (1998), Nghiên cứu một số đặc tính sinh học của trypanosoma evansi (Steel, 1885), bệnh học do Trypanosoma evansi gây nên - sử dụng kháng nguyên bảo quản trong chẩn đoán, Luận án tiến sỹ khoa học Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số đặc tính sinh học của trypanosoma evansi (Steel, 1885), bệnh học do Trypanosoma evansi gây nên - sử dụng kháng nguyên bảo quản trong chẩn đoán
Tác giả: Nguyễn Quốc Doanh
Năm: 1998
3. Nguyễn Quốc Doanh, Phạm Sỹ Lăng (2001), “Tình hình nhiễm Tiên mao trùng của một số loài bò sát và ếch nhái tại một số tỉnh đồng bằng sông Hồng”, Tạp chí Khoa học kỹ thuật Thú y, tập VIII, số 1, tr. 46 - 49 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình nhiễm Tiên mao trùng của một số loài bò sát và ếch nhái tại một số tỉnh đồng bằng sông Hồng”, "Tạp chí Khoa học kỹ thuật Thú y
Tác giả: Nguyễn Quốc Doanh, Phạm Sỹ Lăng
Năm: 2001
4. Trần Đức Hạnh, Nguyễn Quang Tuyên, Nguyễn Thị Giang Thanh (2009) “Kết quả ứng dụng kỹ thuật ELISA trong chẩn đoán bệnh Tiên mao trùng cho trâu bò tại huyện Phổ Yên - Thái Nguyên”, Tạp chí Khoa học kỹ thuật Thú y, Tập XVI, số 3, tr. 50 - 54 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả ứng dụng kỹ thuật ELISA trong chẩn đoán bệnh Tiên mao trùng cho trâu bò tại huyện Phổ Yên - Thái Nguyên”, "Tạp chí Khoa học kỹ thuật Thú y
5. Bùi Quý Huy (2006), Phòng chống các bệnh ký sinh trùng từ động vật lây sang người. Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, tr. 29 - 32 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phòng chống các bệnh ký sinh trùng từ động vật lây sang người
Tác giả: Bùi Quý Huy
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2006
6. Lương Văn Huấn, Lê Hữu Khương (1997), Giáo trình Ký sinh trùng Thú y, Trường đại học Nông lâm Thủ Đức Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Ký sinh trùng Thú y
Tác giả: Lương Văn Huấn, Lê Hữu Khương
Năm: 1997
7. P hạm Văn Khuê, Phan Lục, (1996), Ký sinh trùng thú y, Trường Đại Học Nông Nghiệp I. Nxb nông nghiệp Hà Nội, (4). Tr. 293 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ký sinh trùng thú y
Tác giả: P hạm Văn Khuê, Phan Lục
Nhà XB: Nxb nông nghiệp Hà Nội
Năm: 1996
8. Nguyễn Thị Kim Lan, Nguyễn Thị Lê, Phạm Sỹ Lăng, Nguyễn Văn Quang (2008), Ký sinh trùng học Thú y (Giáo trình dùng cho bậc Cao học), Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ký sinh trùng học Thú y
Tác giả: Nguyễn Thị Kim Lan, Nguyễn Thị Lê, Phạm Sỹ Lăng, Nguyễn Văn Quang
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2008
9. Nguyễn Thị Kim Lan (2011), Những bệnh ký sinh trùng phổ biến ở gia cầm, lợn và loài nhai lại Việt Nam, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, tr. 315 - 328 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những bệnh ký sinh trùng phổ biến ở gia cầm, lợn và loài nhai lại Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thị Kim Lan
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2011
10. Nguyễn Thị Kim Lan (2012), Ký sinh trùng và bệnh ký sinh trùng thú y (giáo trình dùng cho đào tạo bậc đại học chính quy), Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, tr. 246 - 251 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ký sinh trùng và bệnh ký sinh trùng thú y (giáo trình dùng cho đào tạo bậc đại học chính quy)
Tác giả: Nguyễn Thị Kim Lan
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2012
11. Phạm Sỹ Lăng (1982), “Mộ t số đặc điểm d ịch t ễ họ c bệ nh tiên mao trùng trâu, bò do Trypanosoma evansi ở các tỉnh phía Bắc Vi ệt Nam”, Luận án Phó tiến sỹ khoa họ c Thú y Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số đặc điểm dịch tễ học bệnh tiên mao trùng trâu, bò do Trypanosoma evansi ở các tỉnh phía Bắc Việt Nam”
Tác giả: Phạm Sỹ Lăng
Năm: 1982
12. Phạm Sỹ Lăng, Đào Trọng Đạt (1991) “Đưa tiến bộ kỹ thuật vào phòng chống bệnh Tiên mao trùng ở trâu, bò Việt Nam”. Công trình nghiên cứu KHKT 1990 - 1991, Viện Thú Y Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đưa tiến bộ kỹ thuật vào phòng chống bệnh Tiên mao trùng ở trâu, bò Việt Nam”
13. Phạm Sỹ Lăng, Lê Văn Tạo (2002), Hướng dẫn phòng trị bệnh ký sinh trùng, bệnh nội khoa và nhiễm độc ở bò sữa, Nxb Nông nghiệp Hà Nội, tr. 33 - 41 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn phòng trị bệnh ký sinh trùng, bệnh nội khoa và nhiễm độc ở bò sữa
Tác giả: Phạm Sỹ Lăng, Lê Văn Tạo
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 2002
14. Phạm Sỹ Lăng, Hoàng Văn Năm, Nguyễn Hữu Nam, Nguyễn Bá Hiên, Nguyễn Văn Diên (2008) “Một số bệnh quan trọng gây hại cho trâu bò”, Nxb Nông Nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Một số bệnh quan trọng gây hại cho trâu bò”
Nhà XB: Nxb Nông Nghiệp
15. Phan Địch Lân (1983), Ve bét và côn trùng ký sinh ở Việt Nam, tập II, Nxb Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ve bét và côn trùng ký sinh ở Việt Nam
Tác giả: Phan Địch Lân
Nhà XB: Nxb Khoa học và kỹ thuật
Năm: 1983
16. Phan Địch Lân, Nguyễn Thị Kim Lan, Nguyễn Văn Quang (2002), Bệnh ký sinh trùng ở đàn dê Việt Nam, Nxb Nông nghiệp Hà Nội, tr. 105 - 110 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh ký sinh trùng ở đàn dê Việt Nam
Tác giả: Phan Địch Lân, Nguyễn Thị Kim Lan, Nguyễn Văn Quang
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 2002
17. Phan Địch Lân (2004), Bệnh ngã nước trâu bò, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, 56 - 73 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh ngã nước trâu bò
Tác giả: Phan Địch Lân
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2004
18. Phan Lục, Nguyễn Văn Thọ (1995), “Đơn bào ký sinh ở trâu, bò tại một số điểm thuộc các tỉnh phía Bắc”, Kỷ yếu kết quả nghiên cứu Khoa học kỹ thuật Thú y, Viện Thú Y quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đơn bào ký sinh ở trâu, bò tại một số điểm thuộc các tỉnh phía Bắc”
Tác giả: Phan Lục, Nguyễn Văn Thọ
Năm: 1995
19. Lê Ngọc Mỹ, Lương Tố Thu, Vũ Đình Hưng (1994), " Một số đặc điểm dịch tễ học bệnh Tiên mao trùng (do T.evansi) những năm (1990 – 1994) dựa trên các phương pháp phát hiện kháng nguyên, kháng thể và ký sinh trùng học", Tạp chí Khoa học kỹ thuật Thú y, tập X, số 5, tr. 6 – 15 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số đặc điểm dịch tễ học bệnh Tiên mao trùng (do T.evansi) những năm (1990 – 1994) dựa trên các phương pháp phát hiện kháng nguyên, kháng thể và ký sinh trùng học
Tác giả: Lê Ngọc Mỹ, Lương Tố Thu, Vũ Đình Hưng
Năm: 1994
20. Vương Thị Lan Phương (2004), Nghiên cứu kháng nguyên bề mặt Trypanosoma evansi phân lập từ trâu, bò phía Bắc Việt Nam và tinh chế kháng nguyên dùng trong phản ứng miễn dịch huỳnh quang gián tiếp. Luận án Tiến sĩ Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu kháng nguyên bề mặt Trypanosoma evansi phân lập từ trâu, bò phía Bắc Việt Nam và tinh chế kháng nguyên dùng trong phản ứng miễn dịch huỳnh quang gián tiếp
Tác giả: Vương Thị Lan Phương
Năm: 2004

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1. Cấu tạo của Trypanosoma evansi   (Nguồn: Desquesnes M., 2004) [41] - Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ, ứng dụng kit CATT chẩn đoán bệnh tiên mao trùng do trypanosoma evansi gây ra ở trâu tại huyện chi lăng, tỉnh lạng sơn và biện pháp phòng trị
Hình 1.1. Cấu tạo của Trypanosoma evansi (Nguồn: Desquesnes M., 2004) [41] (Trang 15)
Bảng 2.1. Cách xác định độ nhạy, độ đặc hiệu của Kit - Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ, ứng dụng kit CATT chẩn đoán bệnh tiên mao trùng do trypanosoma evansi gây ra ở trâu tại huyện chi lăng, tỉnh lạng sơn và biện pháp phòng trị
Bảng 2.1. Cách xác định độ nhạy, độ đặc hiệu của Kit (Trang 50)
Bảng 2.2. Thuốc và liều lượng dùng trong bố trí thí nghiệm - Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ, ứng dụng kit CATT chẩn đoán bệnh tiên mao trùng do trypanosoma evansi gây ra ở trâu tại huyện chi lăng, tỉnh lạng sơn và biện pháp phòng trị
Bảng 2.2. Thuốc và liều lượng dùng trong bố trí thí nghiệm (Trang 50)
Bảng 3.1. Kết quả định danh loài tiên mao trùng ở huyện Chi Lăng - Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ, ứng dụng kit CATT chẩn đoán bệnh tiên mao trùng do trypanosoma evansi gây ra ở trâu tại huyện chi lăng, tỉnh lạng sơn và biện pháp phòng trị
Bảng 3.1. Kết quả định danh loài tiên mao trùng ở huyện Chi Lăng (Trang 54)
Hình 3.1. Biểu đồ tỷ lệ nhiễm tiên mao trùng ở trâu tại huyện Chi Lăng - Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ, ứng dụng kit CATT chẩn đoán bệnh tiên mao trùng do trypanosoma evansi gây ra ở trâu tại huyện chi lăng, tỉnh lạng sơn và biện pháp phòng trị
Hình 3.1. Biểu đồ tỷ lệ nhiễm tiên mao trùng ở trâu tại huyện Chi Lăng (Trang 57)
Hình 3.2. Đồ thị tỷ lệ nhiễm tiên mao trùng theo lứa tuổi - Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ, ứng dụng kit CATT chẩn đoán bệnh tiên mao trùng do trypanosoma evansi gây ra ở trâu tại huyện chi lăng, tỉnh lạng sơn và biện pháp phòng trị
Hình 3.2. Đồ thị tỷ lệ nhiễm tiên mao trùng theo lứa tuổi (Trang 58)
Hình 3.3. Biểu đồ tỷ lệ nhiễm tiên mao trùng ở trâu theo mùa - Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ, ứng dụng kit CATT chẩn đoán bệnh tiên mao trùng do trypanosoma evansi gây ra ở trâu tại huyện chi lăng, tỉnh lạng sơn và biện pháp phòng trị
Hình 3.3. Biểu đồ tỷ lệ nhiễm tiên mao trùng ở trâu theo mùa (Trang 60)
Bảng 3.5. Tỷ lệ phát bệnh tiên mao trùng ở trâu theo mùa - Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ, ứng dụng kit CATT chẩn đoán bệnh tiên mao trùng do trypanosoma evansi gây ra ở trâu tại huyện chi lăng, tỉnh lạng sơn và biện pháp phòng trị
Bảng 3.5. Tỷ lệ phát bệnh tiên mao trùng ở trâu theo mùa (Trang 61)
Bảng 3.6. Tỷ lệ nhiễm tiên mao trùng ở trâu theo tính biệt - Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ, ứng dụng kit CATT chẩn đoán bệnh tiên mao trùng do trypanosoma evansi gây ra ở trâu tại huyện chi lăng, tỉnh lạng sơn và biện pháp phòng trị
Bảng 3.6. Tỷ lệ nhiễm tiên mao trùng ở trâu theo tính biệt (Trang 63)
Bảng 3.7. Kết quả định danh, sự phân bố và tần suất xuất hiện các loài ruồi, - Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ, ứng dụng kit CATT chẩn đoán bệnh tiên mao trùng do trypanosoma evansi gây ra ở trâu tại huyện chi lăng, tỉnh lạng sơn và biện pháp phòng trị
Bảng 3.7. Kết quả định danh, sự phân bố và tần suất xuất hiện các loài ruồi, (Trang 64)
Hình 3.6. Biểu đồ tỷ lệ loài ruồi, mòng ở các địa phương nghiên cứu - Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ, ứng dụng kit CATT chẩn đoán bệnh tiên mao trùng do trypanosoma evansi gây ra ở trâu tại huyện chi lăng, tỉnh lạng sơn và biện pháp phòng trị
Hình 3.6. Biểu đồ tỷ lệ loài ruồi, mòng ở các địa phương nghiên cứu (Trang 68)
Bảng 3.10. Quy luật hoạt động trong ngày của các loài ruồi, mòng hút máu - Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ, ứng dụng kit CATT chẩn đoán bệnh tiên mao trùng do trypanosoma evansi gây ra ở trâu tại huyện chi lăng, tỉnh lạng sơn và biện pháp phòng trị
Bảng 3.10. Quy luật hoạt động trong ngày của các loài ruồi, mòng hút máu (Trang 71)
Bảng 3.13. Tỷ lệ trâu nhiễm tiên mao trùng ở huyện Chi Lăng - Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ, ứng dụng kit CATT chẩn đoán bệnh tiên mao trùng do trypanosoma evansi gây ra ở trâu tại huyện chi lăng, tỉnh lạng sơn và biện pháp phòng trị
Bảng 3.13. Tỷ lệ trâu nhiễm tiên mao trùng ở huyện Chi Lăng (Trang 75)
Hình 3.7. Biểu đồ điều trị bệnh tiên mao trùng trên diện rộng - Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ, ứng dụng kit CATT chẩn đoán bệnh tiên mao trùng do trypanosoma evansi gây ra ở trâu tại huyện chi lăng, tỉnh lạng sơn và biện pháp phòng trị
Hình 3.7. Biểu đồ điều trị bệnh tiên mao trùng trên diện rộng (Trang 79)
Bảng tổng hợp mức độ tương đồng của gen RoTAT 1.2 của các chủng T.evansi - Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ, ứng dụng kit CATT chẩn đoán bệnh tiên mao trùng do trypanosoma evansi gây ra ở trâu tại huyện chi lăng, tỉnh lạng sơn và biện pháp phòng trị
Bảng t ổng hợp mức độ tương đồng của gen RoTAT 1.2 của các chủng T.evansi (Trang 99)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w