NGUYỄN KHẮC ĐẠI NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ, ĐẶC TÍNH SINH VẬT HỌC CỦA VI KHUẨN PASTEURELLA MULTOCIDA GÂY BỆNH TỤ HUYẾT TRÙNG Ở TRÂU, BÒ TẠI MỘT SỐ HUYỆN, TỈNH QUẢNG NINH VÀ BIỆ
Trang 1NGUYỄN KHẮC ĐẠI
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ, ĐẶC TÍNH
SINH VẬT HỌC CỦA VI KHUẨN PASTEURELLA MULTOCIDA
GÂY BỆNH TỤ HUYẾT TRÙNG Ở TRÂU, BÒ TẠI MỘT SỐ HUYỆN, TỈNH QUẢNG NINH VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỊ
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng:
- Các kết quả nghiên cứu trong luận văn là do tôi trực tiếp nghiên cứu dưới
sự hướng dẫn của TS Đỗ Quốc Tuấn, sự giúp đỡ của cán bộ Trạm Chẩn đoán xét nghiệm bệnh động vật - Cơ quan Thú y vùng II Hải Phòng và Chi cục Thú y tỉnh Quảng Ninh
- Các số liệu và kết quả trình bày trong luận văn này là hoàn toàn trung thực, khách quan, được rút ra từ tình hình thực tế của tỉnh Quảng Ninh trong những năm qua và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
- Mọi sự giúp đỡ cho việc hoàn thành luận văn đã được cảm ơn và các thông tin tài liệu trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc
Thái Nguyên, tháng 12 năm 2015
Tác giả luận văn
Nguyễn Khắc Đại
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập và thực hiện luận văn, ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi đã luôn nhận được sự giúp đỡ quý báu, sự chỉ bảo tận tình của nhiều tập thể và
cá nhân, đến nay luận văn của tôi đã được hoàn thành Nhân dịp này, cho phép tôi
được tỏ lòng biết ơn và cảm ơn chân thành tới:
- Thầy giáo TS Đỗ Quốc Tuấn, người đã trực tiếp hướng dẫn tôi trong quá
trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn
- Ban Giám hiệu Trường Đại học Nông Lâm - Đại học Thái Nguyên, khoa Sau Đại học, khoa Chăn nuôi - Thú y, các thầy cô giáo đã giúp đỡ, tạo điều kiện để tôi học tập, tiếp thu kiến thức của chương trình học
- Các cán bộ Chi cục Thú y tỉnh Quảng Ninh, cán bộ các Trạm Thú y huyện Bình Liêu, Trạm Thú y thị xã Quảng Yên
- Cán bộ Trạm Chẩn đoán xét nghiệm bệnh động vật - Cơ quan Thú y vùng
II Hải Phòng
Nhân dịp hoàn thành luận văn, cho phép tôi được gửi lời cảm ơn sâu sắc tới gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã động viên giúp đỡ tôi vượt qua mọi khó khăn trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu, thực hiện đề tài
Thái Nguyên, tháng 12 năm 2015
Tác giả luận văn
Nguyễn Khắc Đại
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
DANH MỤC CÁC HÌNH ix
MỞ ĐẦU 1
1 Đặt vấn đề 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 4
1.1 Tình hình nghiên cứu bệnh tụ huyết trùng trong và ngoài nước 4
1.1.1 Trên thế giới 4
1.1.2 Ở Việt Nam 5
1.2 Đặc điểm dịch tễ học bệnh tụ huyết trùng 7
1.2.1 Nguồn bệnh và phương thức lây lan 7
1.2.3 Tuổi mắc bệnh 10
1.2.4 Mùa vụ phát bệnh 10
1.2.5 Vùng phát bệnh 12
1.2.6 Hiện tượng mang vi khuẩn Pasteurella multocida ở đường hô hấp trên gia súc khỏe 13
1.3 Đặc tính sinh học của mầm bệnh 14
1.3.1 Phân loại vi khuẩn 14
1.3.2 Hình thái và tính chất bắt màu 15
1.3.3 Đặc tính nuôi cấy 15
1.3.4 Đặc tính sinh hóa 18
1.3.5 Kháng nguyên của vi khuẩn 19
1.3.6 Độc lực của vi khuẩn Pasteurella multocida 23
Trang 51.3.7 Sức đề kháng 24
1.4 Cơ chế sinh bệnh 25
1.5 Đặc điểm bệnh tụ huyết trùng trâu, bò 25
1.5.1 Biểu hiện đặc trưng của trâu, bò mắc bệnh tụ huyết trùng 25
1.5.2 Chẩn đoán bệnh 27
1.5.3 Phòng và trị bệnh 28
Chương 2: NỘI DUNG, NGUYÊN LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 31
2.1 Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu 31
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 31
2.1.2 Thời gian và địa điểm 31
2.2 Nội dung nghiên cứu 31
2.2.1 Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh tụ huyết trùng trâu, bò tại tỉnh Quảng Ninh 31
2.2.2 Phân lập và xác định đặc tính sinh vật, hóa học của vi khuẩn Pasteurella multocida 31
2.2.3 Đề xuất biện pháp phòng trị bệnh tụ huyết trùng trâu, bò tại tỉnh Quảng Ninh 32
2.3 Nguyên liệu dùng cho nghiên cứu 32
2.3.1 Mẫu bệnh phẩm dùng phân lập vi khuẩn 32
2.3.2 Động vật thí nghiệm 32
2.3.3 Hóa chất và dụng cụ nghiên cứu 32
2.4 Phương pháp nghiên cứu 33
2.4.1 Phương pháp thiết kế lấy mẫu, số lượng, phân bố mẫu 33
2.4.2 Phương pháp nghiên cứu dịch tễ học 34
2.4.3 Phương pháp nuôi cấy, phân lập và xác định vi khuẩn Pasteurella multocida 36
2.4.4 Kiểm tra độc lực của vi khuẩn Pasteurella multocida phân lập được 38
2.4.5 Phương pháp xử lý số liệu 40
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 41
3.1 Đặc điểm dịch tễ học bệnh tụ huyết trùng gia súc tại Quảng Ninh 41
3.1.1 Tình hình bệnh tụ huyết trùng trâu, bò, lợn trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh từ năm 2011 - 2014 41
3.1.2 Kết quả điều tra trâu, bò ốm và chết do bệnh tụ huyết trùng 43
Trang 63.1.3 Tỷ lệ các huyện có dịch tụ huyết trùng trâu, bò tại Quảng Ninh từ năm 2011 - 2014 44
3.1.4 Kết quả điều tra trâu, bò ốm và chết do bệnh tụ huyết trùng theo mùa vụ tại Quảng Ninh 46
3.1.5 Kết quả điều tra trâu, bò mắc bệnh và chết do bệnh tụ huyết trùng trâu, bò theo lứa tuổi 49
3.2 Nghiên cứu các yếu tố tự nhiên ảnh hưởng đến bệnh tụ huyết trùng trâu, bò 51
3.2.1 Kết quả điều tra trâu, bò mắc bệnh và chết do bệnh tụ huyết trùng theo vùng địa lý 51
3.2.2 Ảnh hưởng của yếu tố khí hậu đối với trâu, bò mắc bệnh tụ huyết trùng 53
3.3 Triệu chứng, bệnh tích bệnh tụ huyết trùng trâu, bò trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh 56
3.3.1 Kết quả phân lập vi khuẩn Pasteurella multocida từ dịch ngoáy mũi trâu, bò khoẻ tại Quảng Ninh 57
3.3.2 Tỷ lệ mang trùng Pasteurella multocida ở trâu, bò khỏe theo lứa tuổi trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh 58
3.3.3 Kết quả phân lập vi khuẩn Pasteurella multocida từ bệnh phẩm trâu, bò nghi mắc bệnh tụ huyết trùng tại Quảng Ninh 59
3.3.4 Kết quả giám định một số đặc tính sinh vật – hoá học của các chủng vi khuẩn Pasteurella multocida phân lập được 60
3.3.5 Xác định serotype kháng nguyên của các chủng Pasteurella multocida phân lập được 62
3.3.6 Xác định độc lực của các chủng Pasteurella multocida phân lập được 63
3.3.7 Kết quả theo dõi hiệu quả của vắc xin tiêm phòng cho trâu, bò 64
3.3.8 Kết quả kiểm tra tính mẫn cảm của vi khuẩn Pasteurella multocida phân lập được với một số loại kháng sinh và hóa dược 65
3.3.9 Kết quả thử nghiệm một số phác đồ điều trị bệnh tụ huyết trùng trâu, bò 67
3.3.10 Đề xuất biện pháp phòng bệnh tụ huyết trùng trâu, bò tại Quảng Ninh 68
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 70
1 Kết luận 70
2 Đề nghị 70
TÀI LIỆU THAM KHẢO 72
Trang 7DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
BHI:
BL: Cs:
DNA:
FAO:
HSND:
MR:
OIE:
PCR: PRRSV:
PƯ: QY:
THT:
TSI:
TT:
TW:
VK:
VP:
YPC:
Brain Heart Infusion Bình Liêu
Cộng sự Deoxyribonucleic Acid Food and Agriculture Oganization
Hệ số năm dịch Methylen Red Office International Epizooties Tổ chức dịch tễ thế giới Polymerase Chain Reaction
Porcine Reproductive and Respiratory Syndrome Virus Phản ứng
Quảng Yên
Tụ huyết trùng Triple sugar iron agar
Thể trọng
Trung ương
Vi khuẩn Voges Proskauer Yeast extract Pepton-L-Cystin
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Tóm tắt danh pháp của Pasteurella multocida 14
Bảng 1.2 Phân biệt các loài Pasteurella 19
Bảng 1.3 Hệ thống phân loại serotype của Pasteurella multocida (theo De
Alwis, 1999) [63] 22Bảng 3.1 Kết quả điều tra tình hình bệnh tụ huyết trùng gia súc tại Quảng
Ninh từ năm 2011 - 2014 42Bảng 3.2 Tình hình mắc bệnh tụ huyết trùng của đàn trâu, bò tại Quảng Ninh
từ năm 2011 đến năm 2014 43Bảng 3.3 Tỷ lệ các huyện có dịch tụ huyết trùng trâu, bò tại Quảng Ninh 45Bảng 3.4 Tỷ lệ trâu, bò ốm và chết do bệnh tụ huyết trùng theo mùa vụ tại
Quảng Ninh 47Bảng 3.5 Kết quả xác định trâu, bò mắc bệnh tụ huyết trùng theo lứa tuổi tại
Quảng Ninh 50Bảng 3.6 Kết quả xác định tỷ lệ trâu, bò mắc bệnh, chết do bệnh tụ huyết
trùng theo vùng địa lý tại Quảng Ninh 52Bảng 3.7 Tương quan giữa các yếu tố khí hậu với trâu, bò mắc bệnh tụ huyết
trùng tại Quảng Ninh 54Bảng 3.8 Kết quả theo dõi triệu chứng, bệnh tích ở trâu, bò mắc bệnh tụ huyết
trùng tại Quảng Ninh 56
Bảng 3.9 Kết quả phân lập vi khuẩn Pasteurella multocida từ dịch ngoáy mũi
của trâu, bò khoẻ 57
Bảng 3.10 Tỷ lệ mang trùng Pasteurella multocida ở trâu, bò khỏe theo tuổi
trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh 59
Bảng 3.11 Kết quả phân lập Pasteurella multocida từ bệnh phẩm trâu, bò nghi
mắc bệnh tụ huyết trùng 60Bảng 3.12 Kết quả giám định một số đặc tính sinh vật, hoá học của vi khuẩn
Pasteurella multocida phân lập được 61
Bảng 3.13 Kết quả xác định serotype kháng nguyên của các chủng
Pasteurella multocida phân lập được 62
Trang 9Bảng 3.14 Kết quả thử độc lực của các chủng Pasteurella multocida phân lập được 63
Bảng 3.15 Kết quả theo dõi hiệu quả của vắc xin tiêm phòng cho trâu, bò 65Bảng 3.16 Kết quả thử tính mẫn cảm với kháng sinh của các chủng
Pasteurella multocida phân lập được 66
Bảng 3.17 Kết quả thử nghiệm một số phác đồ điều trị bệnh tụ huyết trùng trâu, bò 67
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2.1 Sơ đồ phân lập vi khuẩn Pasteurella multocida 39
Hình 3.1 Bản đồ dịch tễ bệnh tụ huyết trùng trâu, bò trên địa bàn tỉnh Quảng
Ninh năm 2011-2014 46
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề
Quảng Ninh là tỉnh nằm ở phía Đông Bắc Việt Nam, địa bàn kinh tế động lực trong vùng trọng điểm kinh tế Bắc Bộ Dân số 1.185,2 nghìn người (năm 2013) sinh sống tại 186 xã, phường, thị trấn thuộc 14 huyện, thị xã, thành phố Đây cũng là tỉnh duy nhất của cả nước có 4 thành phố (Uông Bí, Hạ Long, Cẩm Phả, Móng Cái) và 2 thị xã (Đông Triều, Quảng Yên) Đặc biệt Quảng Ninh còn có Vịnh Hạ Long là di sản, kỳ quan thiên nhiên của Thế giới, hàng năm đón trên 7 triệu lượt khách du lịch trong và ngoài nước Hiện nay, chuyển dịch kinh tế Quảng Ninh đang theo hướng từ
“nâu” sang “xanh” nhằm khai thác tối đa tiềm năng các khu kinh tế cửa khẩu, đặc khu kinh tế Quốc tế Vân Đồn để khai thác tiềm năng kinh tế biển, du lịch trong tương lai
Cùng với sự phát triển kinh tế, xã hội của tỉnh thì nhu cầu về thực phẩm sạch
và an toàn tại Quảng Ninh là rất lớn Hàng năm, chăn nuôi trong tỉnh mới đáp ứng khoảng 60% nhu cầu tiêu dùng của người dân và khách du lịch, phần thiếu hụt phải nhập từ nơi khác về Đây là điều kiện cho dịch bệnh trên gia súc, gia cầm xâm nhập, phát sinh và lây lan
Một trong những bệnh truyền nhiễm nguy hiểm mà chăn nuôi Quảng Ninh thường gặp phải đó là bệnh tụ huyết trùng trâu, bò
Bệnh tụ huyết trùng trâu, bò thể bại huyết (Hemorrhagic Septicemia) là một bệnh truyền nhiễm cấp tính xảy ra ở hầu hết các lứa tuổi trâu, bò Hàng năm trên địa bàn các tỉnh miền núi phía Bắc nước ta, bệnh tụ huyết trùng trâu, bò gây ra những thiệt hại kinh tế to lớn cho ngành chăn nuôi Theo kết quả nghiên cứu của Đặng Xuân Bình và cs (2010) [1] năm 2008: tại tỉnh Hà Giang đã có 276 con trâu, 157 con bò bị chết và tại tỉnh Cao Bằng có 455 con trâu, bò chết vì bệnh tụ huyết trùng Riêng tỉnh Cao Bằng năm 2009 có gần 400 con trâu, bò chết do bệnh tụ huyết trùng
Để khống chế bệnh, các nhà khoa học đã nghiên cứu, chế tạo và đưa vào sử
dụng một số loại vắc xin tụ huyết trùng trâu, bò để tiêm phòng nhưng bệnh vẫn liên
Trang 12tục xảy ra, đặc biệt là trên địa bàn các tỉnh miền núi phía Bắc Theo Đinh Duy
Kháng và cs (2000) [17]: Việc tiếp tục phân lập xác định vi khuẩn Pasteurella
multocida là cần thiết để làm rõ đặc điểm dịch tễ của bệnh, tìm ra quy luật lưu hành,
tính gây bệnh của vi khuẩn để sản xuất và ứng dụng vắc xin phù hợp trong từng vùng, hạn chế tiến tới thanh toán bệnh Vì vậy, ngoài áp dụng các biện pháp chăn nuôi an toàn sinh học thì việc nghiên cứu sự lưu hành của vi khuẩn gây bệnh, chọn vắc xin tiêm phòng và thuốc điều trị có hiệu quả là vấn đề cấp thiết để hạn chế thiệt hại
do dịch bệnh gây ra
Xuất phát từ yêu cầu của thực tiễn sản xuất chăn nuôi, trên cơ sở kế thừa kết quả nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước, căn cứ vào cơ sở vật chất, trang
thiết bị tại đơn vị thí nghiệm, chúng tôi tiến hành đề tài “Nghiên cứu một số đặc
điểm dịch tễ, đặc tính sinh vật học của vi khuẩn Pasteurella multocida gây bệnh
tụ huyết trùng ở trâu, bò tại một số huyện, tỉnh Quảng Ninh và biện pháp phòng trị”
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Xác định đặc điểm dịch tễ bệnh tụ huyết trùng trâu, bò trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh
- Khảo sát sự lưu hành vi khuẩn Pasteurella multocida ở trâu, bò khỏe và
trâu, bò nghi mắc bệnh tụ huyết trùng
- Giám định đặc tính sinh vật hóa học, yếu tố gây bệnh và serotype kháng
nguyên của vi khuẩn Pasteurella multocida phân lập được
- Đề xuất các biện pháp phòng và trị bệnh hiệu quả
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
* Ý nghĩa khoa học:
- Bổ sung tư liệu về đặc điểm dịch tễ bệnh tụ huyết trùng trâu, bò; sự lưu
hành của vi khuẩn Pasteurella multocida ở gia súc khỏe
- Bổ sung tư liệu về kết quả phân lập, giám định đặc tính sinh vật hóa học,
yếu tố độc lực và kết quả xác định serotype kháng nguyên của vi khuẩn Pasteurella
multocida phân lập được bằng kỹ thuật PCR (Polymerase Chain Reaction)
* Ý nghĩa thực tiễn:
- Cung cấp tư liệu thực tế về serotype kháng nguyên vi khuẩn Pasteurella
multocida trên thực địa tại Quảng Ninh
Trang 13- Là cơ sở thực tiễn để xác định biện pháp phòng, trị bệnh có hiệu quả
* Những điểm mới của đề tài
- Bổ sung một số đặc điểm dịch tễ về sự lưu hành của vi khuẩn Pasteurella
multocida ở trâu, bò khỏe;
- Xây dựng bản đồ dịch tễ bệnh tụ huyết trùng trâu, bò trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh
Trang 14Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Tình hình nghiên cứu bệnh tụ huyết trùng trong và ngoài nước
1.1.1 Trên thế giới
Bệnh tụ huyết trùng được Bollinger phát hiện lần đầu tiên trên bò năm 1878
ở Munich (Đức) Những năm tiếp theo bệnh được phát hiện ở nhiều nước trên thế
giới, trên nhiều loài gia súc, gia cầm Năm 1885, Kitt đã phân lập được vi khuẩn gây bệnh Khi nghiên cứu vi khuẩn tụ huyết trùng gây bệnh ở các loài gia súc, gia cầm, Hueppe phát hiện thấy sự giống nhau về tính chất gây bệnh, tương đồng kháng nguyên, nhưng khác nhau về tính gây bệnh cho các loài vật và gọi chung là vi khuẩn
gây nhiễm trùng huyết, xuất huyết, đặt tên là Bacillus septicaemia Để ghi nhớ công
lao của Louis Pasteur, người có nhiều đóng góp nghiên cứu phát hiện ra vi khuẩn gây bệnh tụ huyết trùng, năm 1887, Trevisan đã đề nghị đặt tên cho vi khuẩn gây bệnh
này là Pasteurella (De Alwis, 1992) [62] Do Pasteurella gây bệnh cho nhiều loài
gia súc nên người ta đặt tên vi khuẩn gây bệnh tụ huyết trùng cho động vật theo tên vật chủ mà chúng thích nghi và gây bệnh:
Pasteurella suiseptica gây bệnh ở lợn
Pasteurella boviseptica gây bệnh ở bò
Pasteurella oviseptica gây bệnh ở dê, cừu
Pasteurella aviseptica gây bệnh ở gà
Sau một vài lần thay đổi, đến năm 1939, Rosenbush và Merchant [85] đã đề
nghị đặt tên cho vi khuẩn này là Pasteurella multocida, để chỉ khả năng gây bệnh cho
nhiều loài vật của chúng, tên này đã được công nhận chính thức trên thế giới và sử dụng cho đến ngày nay
Từ năm 1887 đến nay, bệnh đã được phát hiện ở nhiều địa phương trên thế giới, bệnh gây thiệt hại nghiêm trọng về kinh tế cho nhiều nước, nhất là các nước nhiệt đới nóng ẩm thuộc Châu Á Bệnh xảy ra tại các nước Đông Dương, Ấn Độ, Indonesia, Malaysia Ở Nhật Bản bệnh được phát hiện vào năm 1923, song không
Trang 15gây thành dịch và không thể hiện dịch tễ Bệnh cũng được phát hiện ở bò rừng Vườn thú Quốc gia Mỹ vào các năm 1912, 1922, 1967 và chỉ thấy một báo cáo cho biết bệnh có ở bò sữa vào năm 1969 (Carter, 1982) [55] Năm 1984, tổ chức dịch tễ thế giới OIE chính thức công bố bệnh tụ huyết trùng trâu, bò trên thế giới (FAO, 1991) [64] Bệnh cũng đã xảy ra ở Châu Phi và gây thiệt hại nghiêm trọng cho đàn gia súc (De Alwis, 1992) [62]
Đến nay, sau hơn 100 năm kể từ khi phát hiện bệnh lần đầu, Pasteurella
multocida vẫn là nguyên nhân gây bệnh tụ huyết trùng cho nhiều loài gia súc, gia
cầm Tuy có tính thích nghi gây bệnh trên những loài vật khác nhau, nhưng
Pasteurella multocida đều có những đặc tính cơ bản giống nhau
1.1.2 Ở Việt Nam
Theo Phan Đình Đỗ và Trịnh Văn Thịnh (1958) [7] bệnh tụ huyết trùng ở Việt Nam được phát hiện đầu tiên vào cuối thế kỷ 19 Năm 1868 Cudamie cho biết về bệnh ở trâu thuộc tỉnh Bà Rịa và Long Thành, sau đó Gemain (1869) phát hiện bệnh
ở Gò Công, Yersin phát hiện bệnh ở các tỉnh miền Trung vào các năm 1889-1895
Năm 1901, Shein đã xác định ổ dịch ở trâu, bò xảy ra tại Tây Ninh bằng phương pháp
phân lập và tiêm truyền qua động vật thí nghiệm là do vi khuẩn Pasteurella
multocida Những năm sau này Nguyễn Vĩnh Phước (1978) [28] Đoàn Thị Băng
Tâm (1987) [33] cho biết: bệnh tụ huyết trùng trâu, bò ở Việt Nam thường xảy ra ở Nam Bộ, đặc biệt là miền Tây Nam Bộ vào những năm 1910, 1919, 1920, 1933, 1935 dịch xảy ra mạnh gây thiệt hại và lây lan nhiều hơn ở những vùng đất trũng, thấp, khí hậu ẩm ướt
Từ năm 1995 trở lại đây, đã có nhiều nghiên cứu về bệnh tụ huyết trùng như Dương Thế Long (1995) [22] nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ và vi khuẩn học của bệnh tụ huyết trùng trâu, bò tại tỉnh Sơn La để xác định biện pháp phòng trị thích hợp; Nguyễn Ngã (1996) [26] nghiên cứu tính kháng nguyên và độc lực của vi khuẩn tụ huyết trùng ở khu vực miền Trung Trong những năm 1970 của thế kỷ XX
có 80% số ổ dịch tụ huyết trùng và 84% số thiệt hại gia súc do bệnh tụ huyết trùng thuộc về các tỉnh phía Nam Đến những năm 1990 phân bố địa lý của bệnh nghiêng
Trang 16về các tỉnh phía Bắc, số địa phương có dịch tụ huyết trùng cũng tăng lên nhiều, hàng năm có 20-25 tỉnh thông báo có bệnh lưu hành Bùi Văn Dũng (2000) [5]
nghiên cứu tình hình bệnh tụ huyết trùng và vi khuẩn Pasteurella multocida phân
lập từ dịch ngoáy mũi trâu, bò khỏe ở tỉnh Lai Châu Phan Thanh Phượng (2000) [32] nghiên cứu về bệnh tụ huyết trùng ở gia súc, gia cầm và biện pháp phòng chống Cao Văn Hồng (2002) [14] nghiên cứu đặc điểm dịch tễ học bệnh tụ huyết trùng trâu, bò, lợn tại Đắk Lắk Hoàng Đăng Huyến (2004) [16] nghiên cứu đặc
điểm dịch tễ, các yếu tố ảnh hưởng đến bệnh tụ huyết trùng trâu, bò ở Bắc Giang
Nguyễn Văn Minh (2005) [25] nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh tụ huyết
trùng và xác định tỷ lệ mang trùng Pasteurella multocida ở đàn trâu, bò tỉnh Hà
Tây Trần Xuân Hạnh, Tô Thị Phấn và cs (2007) [13] nghiên cứu an toàn và hiệu lực vắc xin tụ huyết trùng trâu, bò nhũ hóa chủng P52 Đỗ Ngọc Thúy và cs (2007)
[37] đã ứng dụng kỹ thuật PCR để xác định Type các chủng vi khuẩn Pasteurella
multocida phân lập từ vật nuôi Đỗ Quốc Tuấn (2008) [41] nghiên cứu bệnh tụ
huyết trùng lợn ở một số tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam Nguyễn Thị Kim Dung
(2010) [4] xác định vi khuẩn Pasteurella multocida gây bệnh tụ huyết trùng ở trâu,
bò tại một số huyện có dịch trên địa bàn tỉnh Cao Bằng và bước đầu thử nghiệm Auto-Vaccine Nguyễn Thị Hà (2010) [10] nghiên cứu sự lưu hành của vi khuẩn
Pasteurella multocida trong bệnh tụ huyết trùng ở trâu, bò tại một số huyện có dịch
trên địa bàn tỉnh Hà Giang và biện pháp phòng trị Trương Quang Hải (2012) [12]
xác định một số đặc tính sinh học của vi khuẩn Pasteurella multocida,
Streptococcus suis gây viêm phổi ở lợn tại Bắc Giang và biện pháp phòng trị
Đặng Ngọc Lương (2012) [23] Xác định một số đặc tính sinh học của vi khuẩn
Pasteurella multocida gây bệnh tụ huyết trùng trâu, bò tại Cao Bằng và lựa chọn
vắc xin phòng bệnh Nguyễn Quang Tính và cs (2012) [39] xác định một số đặc
tính sinh học và thử kháng sinh đồ của các chủng vi khuẩn Pasteurella multocida
và Streptococcus suis phân lập được từ bệnh phẩm lợn mắc bệnh viêm phổi tại Bắc
Giang Đỗ Quốc Tuấn (2012) [42] nghiên cứu đặc tính sinh vật hóa học của vi khuẩn
Pasteurella multocida gây bệnh tụ huyết trùng dê ở tỉnh Thái Nguyên và biện pháp phòng trị
Trang 17Nguyễn Quang Tuyên và cs (2012) [44] kết quả phân lập và xác định một số đặc
tính sinh học của các chủng Pasteurella multocida ở lợn dương tính với PRRSV tại
Bắc Giang Lê Văn Dương (2013) [6] nghiên cứu một số đặc tính sinh học của vi
khuẩn Actinobacillus pleuropneumoniae, Pasteurella multocida, Streptococcus suis
gây viêm phổi trong hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở lợn tại Bắc Giang, biện pháp phòng trị Phạm Thị Phương Lan (2013) [18] nghiên cứu xác định một số yếu tố
gây bệnh của vi khuẩn Pasteurella multocida trong bệnh tụ huyết trùng trâu, bò tại Hà Giang,
Cao Bằng và lựa chọn vắc xin phòng bệnh Phạm Thị Phương Lan và Đặng Xuân Bình (2014) [19] diễn biến của bệnh THT ở trâu, bò theo mùa trong năm và ảnh hưởng của yếu tố khí hậu đến tỷ lệ mắc bệnh tại tỉnh Cao Bằng Cù Hữu Phú và cs (2014) [27] lựa chọn chủng vi khuẩn để chế tạo thử nghiệm vắc xin phòng bệnh do vi
khuẩn Actinobacillus pleuropneumoniae, Pasteurella multocida và Streptococcus
suis gây ra ở lợn
1.2 Đặc điểm dịch tễ học bệnh tụ huyết trùng
1.2.1 Nguồn bệnh và phương thức lây lan
Nguồn lây bệnh tụ huyết trùng chủ yếu là những trâu, bò, lợn và gia cầm bị bệnh và mang trùng Ngoài ra, các nguồn bệnh khác có thể là dê, cừu hay ngựa bị bệnh
Trong cơ thể gia súc khỏe mạnh, ở một điều kiện nhất định, vi khuẩn
Pasteurella multocida thường tồn tại ở đường hô hấp trên của vật chủ, đây không
phải là quan hệ cộng sinh Khi sức đề kháng của cơ thể giảm, vi khuẩn tăng về số lượng, độc lực và gây bệnh
Cho đến nay chưa rõ là vi khuẩn tồn tại bằng cách truyền lần lượt trong một
số dãy cá thể của một quần thể hay nó còn tồn tại lâu dài ở một số con Có nhiều cách lây bệnh khác nhau: Nhiễm qua đường hô hấp, đường tiêu hóa, qua vết xước trên da, bệnh có thể lây từ con ốm sang con khỏe qua tiếp xúc Bệnh lây lan do việc giết mổ gia súc ốm, chó, mèo và một số côn trùng hút máu như ruồi, mòng… cũng
có thể là vật môi giới truyền mầm bệnh đi xa (Nguyễn Vĩnh Phước, 1978) [28] Hiramune và De Alwis (1982) [69] cho rằng: có một tỷ lệ thấp trâu, bò mang khuẩn
Trang 18ở hầu, họng, mũi và tuyến hạnh nhân Ở những con này có hiệu giá kháng thể cao
hơn với con vật không mang trùng và vi khuẩn thông qua dịch tiết niêm mạc mũi bài xuất ra ngoài gây nhiễm cho gia súc khác Theo De Alwis (1982b) [59] kiểm tra
72 con trâu thấy 5 con có kháng thể (trong số 5 con này có 3 con mang vi khuẩn
Pasteurella multocida chủng 6:B), còn 67 con không có kháng thể thì không mang
vi khuẩn Nguyễn Vĩnh Phước và cs (1986a) [29], Gupta (1962) [65], thấy rằng con vật mang trùng là nguồn bệnh tiềm tàng có liên quan đến tần số xuất hiện dịch tụ huyết trùng trong vùng
Theo Saharee và cs, (1991) [86], gia súc mang trùng từ những vùng có dịch xâm nhập vào vùng chưa có dịch cũng là nguyên nhân quan trọng làm cho bệnh
phát ra Chung và cs (1992) [57] cho rằng Pasteurella multocida có sẵn trong cơ
thể, khi gặp điều kiện thuận lợi sẽ gây chứng viêm phổi Một số tác giả còn cho rằng nguồn tàng trữ mầm bệnh là động vật hoang dã (chồn, cáo, thỏ rừng, loài gặm nhấm và các loài côn trùng như bọ chó, ruồi trâu v v )
Tại các ổ dịch cũ, phần lớn những gia súc sống sót sau dịch thường trở thành những con vật mang trùng và thường xuyên bài thải mầm bệnh ra môi trường Bệnh chỉ phát ra ở những gia súc mới sinh ra sau dịch hay gia súc mới nhập chưa có miễn dịch (De Alwis, 1999) [63]
Sự xuất hiện của bệnh có liên quan đến các yếu tố stress do môi trường, quản
lý chăm sóc (nóng, lạnh, các kích động, chăn nuôi vệ sinh kém, thức ăn không tốt) kèm theo những vi khuẩn gây bệnh như nấm độc, vi khuẩn độc hoặc độc tố làm giảm sức đề kháng của cơ thể là nguyên nhân làm tăng tỷ lệ nhiễm trùng và phát sinh bệnh Gia súc bị nuôi nhốt quá chật trong những chuồng kém thông gió, ẩm
ướt, gia súc phải làm việc quá sức, trong những điều kiện không thuận lợi ảnh
hưởng đến sức khỏe, bệnh cũng dễ phát ra (Bolin và Eveleth, 1951) [48]
Vận chuyển đi xa trong những phương tiện thiếu vệ sinh, thiếu không khí, nhốt quá chật, thiếu nước uống, vận chuyển với tốc độ nhanh, đi dưới trời nắng
Trang 19nóng, không cho gia súc nghỉ, đó là những nguyên nhân làm cho bệnh tụ huyết trùng dễ dàng xảy ra và làm chết gia súc, gia cầm (Carter, 1982) [55]
Theo Phan Thanh Phượng, (1994) [31], trong giai đoạn đầu của bệnh, khi con vật còn đi lại được, vi khuẩn từ nước dãi, phân, nước tiểu được bài ra xung quanh Ổ dịch rộng hay hẹp tùy theo điều kiện tồn tại của vi khuẩn và sức miễn dịch của đàn
1.2.2 Loài mắc bệnh
Trong tự nhiên hầu hết các loài gia súc, gia cầm, loài có vú và loài chim đều mẫn cảm với bệnh Theo Lignieres (1900) [75] ít nhất có 6 dạng bệnh tụ huyết trùng khác nhau: Ở trâu, bò, lợn, cừu, gà, ngựa và chó, cả 6 dạng bệnh này đều thấy ở thỏ
Bệnh thấy ở trâu, bò, lợn, thỏ, chó, mèo, hươu, ngựa, chồn, khỉ, dê và cừu (Carter, 1959) [52] Theo De Alwis (1982a) [58] loài vật cảm nhiễm mạnh nhất đối với bệnh tụ huyết trùng là trâu, bò trong đó trâu mẫn cảm hơn bò Bệnh có thể lây sang lợn, ngựa, chó vv Bệnh còn thấy ở bò rừng, nai, sơn dương, lợn rừng, thỏ rừng, voi, lạc đà và báo tuyết ở Hymalaya (De Alwis, 1982a) [58] Nhiều tác giả
đã khẳng định: Nơi nào có bệnh tụ huyết trùng trâu, bò thì ở đó người ta cũng phát
hiện bệnh này ở động vật hoang dã
Ở Việt Nam, trâu dễ bị nhiễm và mắc bệnh nặng hơn bò Trâu, bò rừng
cũng mắc bệnh (Đoàn Thị Băng Tâm, 1987) [33] Trâu thường chết khi gặp thể quá cấp hoặc cấp tính
Theo tác giả Nguyễn Như Thanh và cs, (2001) [35], vi khuẩn Pasteurella
multocida có thể đóng vai trò tiên phát hoặc kế phát đối với nhiều bệnh ở nhiều
loài động vật và người Bệnh do Pasteurella multocida đóng vai trò gây bệnh tiên phát được gọi là Pasteurellosis như bệnh tụ huyết trùng trâu, bò, bệnh tụ huyết
trùng gia cầm, bệnh tụ huyết trùng lợn vv., trong những trường hợp này bệnh phát
sinh do chỉ nhiễm Pasteurella multocida Trong một số trường hợp như viêm vú,
viêm teo mũi ở lợn, viêm phổi bò có vai trò thứ phát của Pasteurella multocida
Trang 201.2.3 Tuổi mắc bệnh
Bệnh xảy ra ở hầu hết các lứa tuổi Những con đang bú mẹ ít mắc hơn những con trưởng thành Gia súc non dễ mắc hơn gia súc già Trâu, bò từ 1-3 tuổi dễ mắc hơn trâu, bò già và khi mắc bệnh thường có tỷ lệ chết cao hơn Theo De Alwis (1984) [60], mức độ cảm nhiễm của động vật non mạnh hơn động vật già, ở trâu và
bò tỷ lệ mắc bệnh ở lứa tuổi dưới 6 tháng là 3,5%, trong khi đó trâu, bò ở lứa tuổi từ
6 tháng đến 2 năm là 30-32% Trâu, bò trên 2 năm tuổi chỉ mắc bệnh 3-5% ở bò và 8-9% ở trâu Dương Thế Long (1995) [22] nghiên cứu bệnh tụ huyết trùng trâu, bò
ở Sơn La cho biết tuổi cảm nhiễm với bệnh nhất là dưới 36 tháng tuổi Đỗ Văn Được (1998) [8] cho biết bệnh tụ huyết trùng trâu, bò ở Lạng Sơn xảy ra ở mọi lứa
tuổi, gây thiệt hại không nhỏ về mặt kinh tế Thống kê trên 1.000 trường hợp cho thấy 75% trâu, bò mắc bệnh lứa tuổi 2-6 năm, các lứa tuổi khác chỉ chiếm 25% Trâu, bò càng béo, khỏe, trẻ càng dễ mắc bệnh và tỷ lệ chết cao Trong vùng có dịch, phần lớn gia súc trưởng thành có lượng kháng thể trong cơ thể cao hơn và kháng thể tự nhiên này sẽ được trâu, bò dưới 6 tháng tuổi hấp thu qua sữa mẹ Kháng thể có trong sữa đầu có thể tồn tại liên tục cho đến ngày thứ 28 và giảm dần cho đến ngày thứ 58 (De Alwis 1999) [63] Cao Văn Hồng (2002) [14] tại Đắk Lắk cũng cho thấy lứa tuổi cảm nhiễm với bệnh nhất là dưới 36 tháng tuổi Tại Bắc Giang trâu, bò nhỏ hơn 2 năm tuổi mẫn cảm với bệnh nhất (Hoàng Đăng Huyến, 2004) [16]
1.2.4 Mùa vụ phát bệnh
Bệnh tụ huyết trùng trâu, bò phụ thuộc rất lớn vào thời tiết, khí hậu Mustafa
và cs (1978) [76] nghiên cứu về ảnh hưởng của mùa vụ tới bệnh tụ huyết trùng đã nhận xét bệnh thường liên quan tới điều kiện khí hậu ẩm ướt
Mùa phát bệnh tụ huyết trùng ở các nước Châu Á tập trung vào các tháng và mùa khác nhau trong năm Carter và De Alwis (1989) [56] cho biết bệnh tụ huyết trùng xảy ra quanh năm song tập trung vào các tháng mưa, ẩm Ở Lào, bệnh phát ra
Trang 21từ tháng 5 đến tháng 8; Ở Pakistan bệnh xảy ra rải rác quanh năm song thường ở tháng 4 đến tháng 6 hàng năm (FAO, 1991) [64]; bệnh xảy ra các tháng 8, 9 ở Malaysia (Yeo và Mokhtar, 1992) [91]; Ở Campuchia bệnh xảy ra vào cuối mùa nóng (Kral và cs, 1992) [73] Từ những kết quả trên cho thấy tại từng địa phương, quốc gia khi nghiên cứu về dịch tễ học bệnh tụ huyết trùng trâu, bò phải quan tâm
đến điều kiện thời tiết, khí hậu và địa lý của từng vùng vì những yếu tố này ảnh
hưởng tới sự tồn tại, phát triển của mầm bệnh trong môi trường sinh sống của động vật cảm nhiễm
Ở nước ta bệnh xuất hiện ở khắp nơi, nhưng bắt đầu vào mùa mưa, khí hậu
nóng ẩm thì bệnh lây lan thành dịch (Nguyễn Vĩnh Phước, 1978) [28] Đặc biệt sau những trận mưa đầu mùa mang đến những thay đổi về sức khỏe do gia súc bị lạnh,
ở những vùng ngập lụt, sau khi nước rút đi, cỏ bị dính bùn và thối nên bệnh thường
phát sinh vào các tháng có mưa nhiều (Đoàn Thị Băng Tâm, 1987) [33] Dương Thế Long (1995) [22], Nguyễn Xuân Bình (1996) [2], Nguyễn Thiên Thu (1996) [36],
Võ Văn Hùng (1997) [15] đều cho rằng vào thời gian mưa, bệnh xảy ra nhiều hơn
Đỗ Văn Được (1998) [8] cho biết, ở Lạng Sơn bệnh xảy ra mạnh từ tháng 4 đến
tháng 8, 9; bệnh xảy ra nhiều đối với gia súc chưa tiêm phòng vắc xin Bùi Văn Dũng (2000) [5] ở Lai Châu bệnh tụ huyết trùng xảy ra quanh năm nhưng tập trung vào các tháng 3,4,7,8 hàng năm, vào cuối mùa khô, đầu mùa mưa Cao Văn Hồng (2002) [14] cho biết, mùa dịch tụ huyết trùng ở Đắk Lắk từ tháng 5 đến tháng 9, đây
là những tháng mưa nhiều Hoàng Đăng Huyến (2004) [16] bệnh tụ huyết trùng xảy
ra ở Bắc Giang từ tháng 4 đến tháng 9 hàng năm, thời gian này cũng đang là mùa mưa Theo Nguyễn Văn Minh (2005) [25] bệnh tụ huyết trùng xảy ra rải rác quanh năm nhưng tập trung từ tháng 3 đến tháng 8, vào các tháng đầu mùa mưa của vụ hè thu, cao nhất là tháng 5, 6 vì đây là các tháng nắng nóng, nhiệt độ cao, ẩm độ cao, mưa nhiều
Trang 221.2.5 Vùng phát bệnh
Các nghiên cứu về dịch tễ cho thấy bệnh tụ huyết trùng thường xảy ra ở những vùng đất trũng, khí hậu nóng và ẩm ướt Theo Phan Đình Đỗ và Trịnh Văn Thịnh (1958) [7], bệnh thường xảy ra ở những vùng ẩm thấp, khí hậu nóng ẩm, mưa nhiều, đặc biệt là vào đầu mùa mưa Điều kiện tự nhiên, khí hậu và phương thức chăn nuôi cũng ảnh hưởng đến quá trình phát sinh và lây lan bệnh Đặc biệt ở những vùng đất trũng, ẩm thấp, lầy lội, bị ngập lụt, có nhiều ruộng nước, nhiều kênh rạch, bệnh thường xảy ra và lây lan mạnh làm chết nhiều gia súc (Đoàn Thị Băng Tâm, 1987) [33] Carter và De Alwis (1989) [56] cũng xác định bệnh thường xảy ra ở những vùng sâu, hẻo lánh nên việc phòng chống gặp nhiều khó khăn Nguyễn Ngã (1996) [26] cho biết, bệnh phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội Theo Võ Văn Hùng (1997) [15] bệnh xảy ra ở vùng địa hình phức tạp như núi cao, đầm lầy, trình độ dân trí thấp, tập quán chăn nuôi lạc hậu.v.v Đỗ Văn Được (2003) [9] cho biết, ở Lạng Sơn vùng đất có độ dốc lớn, nhiệt độ thấp, ẩm độ cao, tập quán chăn nuôi còn lạc hậu, chăn thả tự do thì tỷ lệ nhiễm bệnh và chết cao Ở Bắc Giang vùng đồi núi thấp, tỷ lệ mắc bệnh và chết do tụ huyết trùng cao (Hoàng
Đăng Huyến, 2004) [16] Nguyễn Văn Minh (2005) [25], ở Hà Tây tỷ lệ trâu, bò
ốm, chết vì bệnh tụ huyết trùng ở vùng đồi, bán sơn địa cao hơn vùng chiêm trũng
và vùng đồng bằng Nguyễn Đình Trọng (2002) [40], ở Bắc Cạn bệnh tụ huyết trùng xảy ra chủ yếu ở vùng sâu, vùng xa, trình độ dân trí thấp có tập quán thả rông nên trâu, bò dễ tiếp xúc với mầm bệnh
Ở các tỉnh miền núi phía Bắc chăn nuôi trâu, bò chủ yếu theo phương thức
quảng canh, thả rông, điều kiện chăm sóc kém, có nơi không làm chuồng nuôi nhốt,
để gia súc nơi lầy lội, ngập nước, không đảm bảo vệ sinh, bệnh dễ xảy ra và có tỷ lệ
chết cao Ngoài ra, trình độ dân trí thấp, nhận thức của người dân về công tác phòng chống bệnh chưa cao, việc áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào việc phòng chống dịch bệnh còn nhiều khó khăn v v nên dịch bệnh thường xuyên xảy ra
Trang 231.2.6 Hiện tượng mang vi khuẩn Pasteurella multocida ở đường hô hấp trên gia súc khỏe
Hiện tượng mang vi khuẩn Pasteurella multocida ở động vật đã được nhiều
nhà khoa học nghiên cứu Mustafa và cs (1978) [76] đã tiến hành lấy dịch ngoáy
mũi trâu, bò để phân lập Pasteurella multocida và cho biết: thường ở nơi không có
dịch tụ huyết trùng trâu, bò thì tỷ lệ trâu, bò khỏe mang trùng là 3%, còn ở nơi có dịch tụ huyết trùng thì tỷ lệ mang trùng là 44,4%
Nghiên cứu bệnh tụ huyết trùng tại Ấn Độ, Gupta (1980) [66] phát hiện tỷ lệ mang trùng ở trâu, bò khỏe vùng không có dịch là 0%, ở vùng ít xảy ra dịch là 1,9%, còn ở vùng có dịch là 5-6% Ngay cả các vùng có dịch thì tỷ lệ mang trùng ở
đàn trâu, bò khỏe mạnh cũng giảm dần theo thời gian sau khi dịch kết thúc
Hiramune và De Alwis (1982) [69] cho rằng có một tỷ lệ thấp trâu, bò mang khuẩn ở hầu họng, mũi và tuyến hạch amiđan, ở những con vật này có hiệu giá kháng thể cao hơn so với con vật không mang vi khuẩn tụ huyết trùng
Vi khuẩn Pasteurella multocida có thể tìm thấy ở các hạch lympho của
đường hô hấp trên trâu, bò khỏe đóng vai trò mang trùng Những trâu, bò mang
trùng tiềm tàng không xuất hiện triệu chứng lâm sàng vì vậy được coi là không mắc bệnh nhưng chúng liên tục thải vi khuẩn qua đường mũi Ở các giai đoạn tiềm ẩn này chỉ có thể xác định được vi khuẩn bằng nuôi cấy các hạch lympho lấy từ lò mổ hoặc dịch tiết ở mũi, hầu (Singh, 1984 [88], Wijewantha và cs, 1992 [90])
Nguyễn Vĩnh Phước (1986a) [29] cho biết, tỷ lệ mang trùng ở đường hô hấp trên của trâu, bò khỏe các tỉnh phía Nam là 5,61% Ở miền Trung, Tây Nguyên là 1-
9,4%, tương tự như ở trâu, bò thì có 4,1% tỷ lệ lợn khỏe mang vi khuẩn Pasteurella
multocida
Tác giả Phan Thanh Phượng (1994) [31] cho biết khi gia súc mang vi khuẩn
Pasteurella multocida hoặc nó sẽ gây bệnh ngay cho vật chủ khi vật chủ chịu tác
động của các yếu tố stress làm cho sức đề kháng của cơ thể giảm hoặc nó sẽ tồn tại
ở đường hô hấp của vật chủ Cao Văn Hồng (2002) [14] khi điều tra ở Đắk Lắk cho
thấy tỷ lệ trâu, bò khỏe mang Pasteurella multocida ở đường hô hấp là 14,79%,
11,61% và sau 6 tháng có dịch thì tỷ lệ này lên tới 21,43%
Trang 241.3 Đặc tính sinh học của mầm bệnh
Giống Pasteurella có nhiều loài, căn cứ vào tính chất gây bệnh cho các loài
động vật, người ta chia loài gây bại huyết, xuất huyết cho gia súc, gia cầm là
Pasteurella multocida và với từng giống gia súc, gia cầm khác nhau bệnh tụ huyết
trùng lại do các serotype khác nhau gây ra
1.3.1 Phân loại vi khuẩn
Theo phân loại của Bergey (1974) [47], vi khuẩn Pasteurella multocida thuộc:
- Bộ (order) Eubacteriales;
- Họ (family) Parvobacteriaceae;
- Tộc (tribe) Pasteurellceae;
- Giống (genus) Pasteurella;
- Loài (species) Pasteurella multocida
Bảng 1.1 Tóm tắt danh pháp của Pasteurella multocida
Pasteurella aviseptica Pasteurella boviseptica Pasteurella suiseptica
Etc
Rosenbush và Merchant 1939 Pasteurella multocida
Trang 251.3.2 Hình thái và tính chất bắt màu
Vi khuẩn Pasteurella multocida có dạng cầu-trực khuẩn nhỏ, hình trứng hoặc
hình bầu dục, kích thước 0,25-0,4 × 0,4-1,5 µm Trong canh khuẩn già: Vi khuẩn có dạng trực khuẩn với chiều dài rất khác nhau và có sự thay đổi ở các ký chủ khác nhau: 0,5-1 x 1-2 µm (lợn), 0,2-0,4 x 0,6-2,5 µm (gia cầm)
Tác giả Carter (1967) [54] cho biết: có mối liên hệ về tính đa dạng của vi khuẩn khi phát triển trong điều kiện thiếu O2 Vi khuẩn thường đồng nhất trong máu
động vật Trong môi trường nhân tạo, vi khuẩn thường đa hình dạng, hình cầu, hình
trứng Khi nuôi cấy nhiều lần trong môi trường nhân tạo, chiều dài của vi khuẩn tăng lên
Vi khuẩn có thể đứng riêng lẻ, thành đôi hoặc thành chuỗi, có giáp mô, không sinh nha bào, không có lông, không di động (Nguyễn Như Thanh và cs, 2001) [35]
Pasteurella multocida là vi khuẩn Gram âm (-), dễ dàng bắt màu với thuốc
nhuộm Fuchsin hoặc xanh Methylen Khi nhuộm tiêu bản bệnh phẩm, Pasteurella
multocida bắt màu xẫm ở hai đầu, ở giữa không bắt màu hoặc bắt màu nhạt hơn nên
người ta gọi là vi khuẩn lưỡng cực Tính chất bắt màu lưỡng cực có thể thấy khi nhuộm bằng xanh Methylen, chỉ thấy ở những tiêu bản làm từ máu động vật hay vi khuẩn phân lập từ những bệnh phẩm con vật mới chết Vi khuẩn nuôi cấy trong môi trường nhân tạo ít thấy tính chất này, nguyên nhân là do trong quá trình phân bào nguyên sinh chất bắt màu lưỡng cực dồn về hai đầu (Nguyễn Như Thanh và cs, 2001) [35] Trương Quang Hải (2012) [12], Nguyễn Quang Tuyên và cs (2012)
[44] khẳng định tất cả các chủng Pasteurella multocida phân lập được đều bắt màu
Gram âm, dạng cầu trực khuẩn hoặc hình trứng
Bain (1954) [45] cho rằng cơ sở của giáp mô là axit hyaluronic trên đó gắn vào lớp polysaccarit
1.3.3 Đặc tính nuôi cấy
Pasteurella multocida là vi khuẩn hiếu khí và yếm khí tùy tiện, ưa kiềm nhẹ,
pH = 7,2-7,4, có thể nuôi cấy ở nhiệt độ từ 130C đến 380C, thích hợp nhất là 370C
Trang 26Vi khuẩn Pasteurella multocida có thể nuôi cấy ở nhiều loại môi trường: môi
trường nuôi cấy lỏng, đặc hoặc bán cố thể Trên môi trường nuôi cấy thông thường
vi khuẩn phát triển kém, vi khuẩn phát triển tốt hơn trên môi trường nuôi cấy có bổ sung 5-10% huyết thanh hoặc máu động vật Tùy theo mục đích nghiên cứu người
ta cho thêm vào môi trường các loại đường, axit amin và hóa chất khác nhau
Jablonski và cs, (1996) [72] cho biết, để vi khuẩn Pasteurella multocida phát
triển tốt trên môi trường nhân tạo cần bổ sung một số chất như: cystein, glutamic, leucine, methionine, muối vô cơ, nicotinamide, pantothenate, thiamine và đường Trong đó leucin có tác dụng kích thích tăng trưởng
Nếu nuôi cấy tĩnh Pasteurella multocida sẽ phát triển theo 4 pha: Pha phát
triển chậm (pha thích nghi) kéo dài từ khi nuôi cấy đến giờ thứ 8; pha phát triển (pha logarit) bắt đầu từ giờ thứ 8 đến giờ 14; pha cân bằng bắt đầu từ giờ thứ 14 đến giờ thứ 19; cuối cùng là pha suy tàn
Trên môi trường nước thịt: Sau khi cấy 24 giờ, ở nhiệt độ 37oC, vi khuẩn làm
đục môi trường, đáy ống có cặn nhầy, lắc có hiện tượng vẩn như sương mù rồi lại
mất, có khi sinh ra một màng mỏng trên mặt môi trường Môi trường có mùi tanh của nước dãi khô Carter (1952) [50] cho biết mùi tanh đặc trưng rõ nhất ở pha phát triển, để lâu mùi tanh giảm dần
Trên môi trường thạch thường: sau 24 giờ nuôi cấy ở 37oC vi khuẩn
Pasteurella multocida phát triển thành khuẩn lạc nhỏ trong suốt như hạt sương, mặt
khuẩn lạc vồng Nuôi lâu khuẩn lạc có màu trắng ngà dính vào môi trường
Theo Carter (1955) [51], Namioka và Murata (1961a, b) [77] [78] trên môi
trường thạch Pasteurella multocida tạo thành 3 dạng khuẩn lạc:
+ Khuẩn lạc dạng S (Smooth): Có rìa gọn, bóng láng, có dung quang mạnh
Trang 27Vi khuẩn Pasteurella multocida tạo khuẩn lạc dung quang sắc cầu vồng có
độc lực mạnh thường gây bệnh ở thể cấp tính Khi cấy chuyển nhiều lần qua môi
trường dinh dưỡng hoặc tiêm truyền động vật thí nghiệm, từ dạng S có thể chuyển sang dạng M hoặc dạng R và ngược lại
Trên môi trường thạch máu hay BHI có bổ sung máu: Vi khuẩn phát triển mạnh, không gây dung huyết, kích thước khuẩn lạc lớn hơn trên môi trường thạch thường, có màu tro xám, hình giọt sương và có mùi tanh giống mùi nước dãi khô rất
đặc trưng cho vi khuẩn tụ huyết trùng
Trên môi trường thạch huyết thanh và huyết cầu tố Đây là môi trường đặc
biệt dùng để phân lập, giám định và xác định độc lực của vi khuẩn Pasteurella Môi
trường được pha chế bằng cách: Thạch Martin 100 ml nấu chảy để nguội đến 45oC, rồi cho 1 ml huyết cầu tố 1/10 của dê hoặc cừu, 4 ml huyết thanh của bò, ngựa hoặc
dê Trên môi trường này vi khuẩn phát triển thành những khuẩn lạc đặc biệt, khi quan sát khuẩn lạc bằng kính hiển vi có hai thị kính với độ phóng đại thấp khoảng
20 lần và góc chiếu phản quang của ánh sáng đèn điện là 45o thấy có hiện tượng phát huỳnh quang (Fluoresent) Tùy theo độc lực của vi khuẩn mà màu sắc huỳnh quang của khuẩn lạc khác nhau:
+ Nếu vi khuẩn có độc lực cao: Khuẩn lạc có màu xanh lơ, xanh lá mạ chiếm 2/3 diện tích khuẩn lạc về phía đèn, còn 1/3 diện tích khuẩn lạc là màu vàng kim loại, khuẩn lạc này gọi là Fg (Greenish Fluorescent)
+ Nếu vi khuẩn có độc lực vừa: Khuẩn lạc của chúng quan sát thấy diện tích màu xanh lơ ít hơn diện tích màu vàng da cam, khuẩn lạc này gọi là Fo (Orange Fluorescent)
+ Nếu vi khuẩn có độc lực yếu: khuẩn lạc của chúng không có hiện tượng phát huỳnh quang, khuẩn lạc loại này gọi là Nf (Not Fluorescent) Khuẩn lạc nhỏ, tròn, trong
Hiện tượng phát huỳnh quang xem rõ khi nuôi cấy sau 24 giờ, để lâu sau 72 giờ thì hiện tượng phát huỳnh quang sẽ mất đi
Theo Rosenbush và Merchant (1939) [85], Heddleston và cs (1966) [67] hiện tượng phát quang của khuẩn lạc có liên quan đến tính chất của một số hợp chất có khả năng hấp thu những tia sáng nhất định Smith (1990) [89] cho biết đặc tính dung quang có quan hệ chặt chẽ với sự tạo vỏ của vi khuẩn tụ huyết trùng Dựa vào
Trang 28tính chất này, người ta có thể chọn những chủng tụ huyết trùng có tính kháng nguyên và miễn dịch cao
Theo Namioka và Murata (1961) [79] môi trường YPC (Yeast extract Pepton-L-Cystin) có thêm Sucrose và Sodium sulfite là môi trường nuôi cấy tốt
nhất cho vi khuẩn Pasteurella multocida, môi trường giúp cho sự tái tạo giáp mô
của vi khuẩn và cũng là môi trường phân lập, giữ giống và nhân giống
1.3.4 Đặc tính sinh hóa
Những năm đầu của thế kỷ XX, một số đặc tính sinh vật, hóa học của vi khuẩn tụ huyết trùng đã được Lignieres phát hiện Sau đó, nhiều công trình nghiên
cứu về đặc tính sinh hóa của vi khuẩn Pasteurella multocida được công bố Nhìn
chung, các tác giả đều thống nhất những đặc tính sinh hóa cơ bản của vi khuẩn tụ huyết trùng như sau:
- Dương tính trong các phản ứng Indole, khử Nitrat, Catalase, Oxydase
- Âm tính trong các phản ứng Urease, Homelyse, VP, MR
- Phân giải lên men các loại đường Glucose, Galactose, Saccarose, Mannose
và Levulose
- Không lên men đường Lactose, Maltose, Ducitol và Rafinose
Khi nghiên cứu 113 chủng tụ huyết trùng về các phản ứng phân giải Arabinose, Xylose và Ducitol Rosenbusch và Merchant (1939) [85] chia vi khuẩn thành 3 nhóm
- Nhóm 1: Gồm các vi khuẩn phân giải Arabinose và Ducitol, không phân giải Xylose Những chủng này phân lập từ gia cầm
- Nhóm 2: Gồm những chủng phân giải Xylose, không phân giải Arabinose
và Ducitol Những chủng này phân lập từ động vật có vú
- Nhóm 3: Gồm những chủng lên men phân giải Arabinose, Ducitol và Xylose Khi nuôi cấy lâu trong phòng thí nghiệm, tác giả còn thấy vi khuẩn mất khả năng phân giải Arabinose và Xylose Tất cả các chủng được nghiên cứu ở trên đều sinh Indol, không di động, không dung huyết và không phân hủy urea
Theo Carter (1955) [51], các chủng Pasteurella multocida type A phân giải
Arabinose, Ducitol và không phân giải Xylose
Trang 29Các chủng type B và C phân giải Xylose, nhưng không phân giải Arabinose, Ducitol Chúng còn phân giải Glucose, Inositol, Dextrin và tinh bột Một số chủng phân giải yếu Sorbitol và Fructose tạo thành axit
Heddleston và cs (1966) [67] căn cứ vào tính chất sinh hóa để phân biệt các
loài vi khuẩn thuộc giống Pasteurella và được trình bày tại bảng 1.2
Bảng 1.2 Phân biệt các loài Pasteurella
Loài
Phản ứng
Pasteurella multocida
1.3.5 Kháng nguyên của vi khuẩn
Kháng nguyên Pasteurella multocida rất phức tạp và cấu trúc từng loại kháng
nguyên cũng luôn thay đổi Những nghiên cứu về cấu trúc, số lượng và sự phân bố
kháng nguyên Pasteurella multocida rất quan trọng trong việc chế tạo vắc xin
Lignieres (1900) [75] khi nghiên cứu đặc tính kháng nguyên của vi khuẩn
Pasteurella multocida đã khẳng định các chủng Pasteurella multocida phân lập từ
các loài vật mắc bệnh khác nhau có đặc tính huyết thanh không đồng nhất
Cho đến nay, người ta đã xác định được kháng nguyên của Pasteurella
multocida có 3 loại là: Kháng nguyên vỏ K, kháng nguyên thân O, kháng nguyên
ngoại tế bào OMP (outer memmbrane protein)
Kháng nguyên vỏ (K): Chỉ có ở Pasteurella multocida tạo khuẩn lạc dạng S,
không gặp ở vi khuẩn tạo khuẩn lạc dạng M và R Kháng nguyên K bao bọc xung quanh thân vi khuẩn, che cho kháng nguyên O khỏi bị các phage tác động, đồng thời ngăn cản sự tiếp xúc giữa kháng nguyên O và kháng thể O Do đó, muốn phát
Trang 30hiện kháng nguyên O bị che lấp, người ta phải phá huỷ kháng nguyên K hoặc dùng phương pháp nuôi cấy không cho vi khuẩn hình thành giáp mô Kháng nguyên K thu được qua chiết xuất từ canh khuẩn non, phát hiện được dễ dàng qua phản ứng ngưng kết hồng cầu gián tiếp Thành phần và cấu trúc kháng nguyên K khá phức tạp Theo Prince G H và Smith (1966) [80] chúng gồm có 3 loại là α, β, γ Kháng nguyên có cấu tạo dạng phức giữa protein và polysaccaride
Robert (1947) [84] bằng phương pháp bảo hộ chéo trên chuột bạch đã xác
định Pasteurella multocida có 4 type kháng nguyên K đánh theo số la mã là I, II,
III, IV Carter (1955) [51] sử dụng phản ứng kết tủa và dùng phương pháp ngưng
kết gián tiếp hồng cầu cũng đã xác định Pasteurella multocida có 4 type nhóm
kháng nguyên K đánh theo chữ cái in hoa A, B, C, D trong đó type B của Carter tương đương type I của Robert Carter (1961) [53] bằng phản ứng ngưng kết gián tiếp hồng cầu đã xác định type mới, đặt tên là type E Đến năm 1963 Carter đã đề nghị bỏ type C
Kháng nguyên protein của vỏ (giáp mô) có khả năng gây miễn dịch mạnh Kháng nguyên K, đặc biệt là thành phần protein của kháng nguyên K đóng vai trò tích cực trong quá trình hình thành miễn dịch
Kháng nguyên thân (O): Vi khuẩn Pasteurella multocida có kháng nguyên
thân là phức hợp protein - lipid - polysaccaride chiết xuất được nhờ acid trichoaxetic, dung dịch phenol Phát hiện được bằng phản ứng kết tủa khuếch tán trong thạch
Prince G H và Smith (1966) [80] dùng phương pháp điện di miễn dịch trên máy lắc Mikle đã tách được 16 kháng nguyên O và kí hiệu từ 1 - 16 Sau khi nhuộm
đỏ Thiazine, xử lý nhiệt và enzyme, tác giả xác định được 6 trong 16 kháng nguyên
O là protein
Rosenbush và Merchant (1939) [85] bằng phản ứng ngưng kết chéo với huyết thanh miễn dịch đã chia 44 chủng vi khuẩn thành 3 nhóm khác nhau Namioka và Murata (1961a) [77] dùng phản ứng ngưng kết nhanh trên phiến kính cũng đã phân kháng nguyên giáp mô thành 4 type A, B, C, D và bằng phản ứng ngưng kết trong ống nghiệm với kháng nguyên được xử lý (đặc biệt bằng axit
Trang 31chlohydric để xác định kháng nguyên thân (somatic antigen) ghi nhận 11 type từ
1-11 Tác giả cho rằng kháng nguyên O bền nên sử dụng lâu hơn
Heddleston và cs (1972) [68] dùng kỹ thuật kết tủa khuếch tán trên thạch
(AGPT) đã chia kháng nguyên thân của Pasteurella multocida thành 16 type ký
hiệu từ 1-16
De Alwis (1987) [61] dùng phản ứng IHA của Carter (1955) [51], AGPT của Heddleston và cs (1972) [68], của Namioka và Murata (1961a) [77] để xác định các serotype của vi khuẩn tụ huyết trùng trâu, bò cho rằng những thành phần được cho
là kháng nguyên thân (somatic) trong hệ thống phân loại của người này, có những
điểm khác biệt so với người khác là do sự che phủ giữa kháng nguyên giáp mô và
kháng nguyên thân
Rimler và Rhoades (1987) [83] bằng phản ứng IHA đã bổ sung thêm một serotype giáp mô mới ký hiệu là F Sự phân loại này dựa trên sự khác biệt của Polysaccaride bề mặt vi khuẩn
Hiện nay, nhiều thực nghiệm xác nhận rằng: Kháng nguyên O đóng vai trò quan trọng trong quá trình hình thành miễn dịch bảo hộ gia súc chống bệnh (Phan Thanh Phượng, 1994 [31])
Kháng nguyên ngoại tế bào (Outer membrane proteins - OPM)
Thành phần của kháng nguyên protein ngoài màng tế bào rất phức tạp có tới hơn 40 loại protein đã được xác định Mối quan hệ giữa các band protein khi tiến hành điện di và các serotype đã được nghiên cứu song không tìm thấy bất kỳ một loại protein duy nhất nào đặc trưng cho tất cả các chủng gây tụ huyết trùng
Kháng nguyên ngoại tế bào gồm 3 protein chính là 27kDa, 34kDa và 36kDa
được tìm thấy ở hầu hết các chủng (không phụ thuộc vào type của chủng đó) Một
trong những protein độc tính quan trọng của protein ngoại tế bào này là protein gắn huyết cầu tố (hemoglobin-binding protein), protein này có một receptor đặc hiệu trên màng hemoglobin Đoạn gen mã hóa hemoglobin binding protein (hgbA) đã
được giải trình tự (Seleim, 2005 [87])
Ba loại protein ngoại tế bào đã được phát hiện ở các chủng gây viêm teo mũi
được đặt tên là OMP type I, OMP type II, và OMP type III Sự khác biệt này được
Trang 32phân loại dựa trên cấu trúc chuỗi nặng (H) và chuỗi nhẹ (W) của kháng nguyên này, khối lượng phân tử dao động trong khoảng giữa 28kDa và 40kDa Protein H của
Pasteurella multocida có các đặc điểm tương tự protein xuyên màng của vi khuẩn
thuộc họ Enterobacteriaceae, giống các peptidoglycane, kháng trypsine, kháng
dung dịch SDS (sodium dodicyl sulphate) Hơn nữa protein H phức hợp với lipopolysaccharide khi gây đáp ứng miễn dịch Mặc dù không thể phát hiện ra mối quan hệ giữa độc tính của các chủng với protein ngoại tế bào, song OMP type I có
độc tính cao với lợn và gây ra viêm teo mũi truyền nhiễm Ngược lại OMP type II
và III ít độc tính hơn Seleim (2005) [87] cho biết các chủng Pasteurella multocida
khá tương đồng và ít có sự khác nhau về cấu trúc các protein ngoại bào
Tóm lại, kháng nguyên của Pasteurella multocida rất phức tạp, còn nhiều
vấn đề chưa được sáng tỏ, đặc biệt là kháng nguyên thân O Xét về quan hệ hoá học,
các kháng nguyên protein và lipopolysaccarid của Pasteurella multocida có vai trò
chính trong quá trình hình thành miễn dịch bảo hộ gia súc chống bệnh và kháng nguyên là polysaccaride đóng vai trò hỗ trợ
Bảng 1.3 Hệ thống phân loại serotype của Pasteurella multocida
(theo De Alwis, 1999) [63]
Phân loại theo giáp mô
Type A, B, C, D Type E
Bò Type C Type A, B, C, D Type F
Phân loại theo kháng nguyên thân
AGPT AGPT
Type 1-11 Type 1-16 Type 1-16 Type 1-16 IHA: Phản ứng ngưng kết gián tiếp hồng cầu
AGPT: Phản ứng kết tủa khuếch tán trên thạch
Trang 331.3.6 Độc lực của vi khuẩn Pasteurella multocida
Đầu thế kỷ XX, độc tố của canh trùng Pasteurella multocida được Baldrey
nhắc đến với ảnh hưởng của chất lọc canh trùng già trên thỏ và cho rằng vi khuẩn
có độc tính của lipopolysaccharide
Độc lực của Pasteurella multocida rất phức tạp và không ổn định, tuỳ thuộc
vào chủng vi khuẩn và loài vật ký sinh Giáp mô của Pasteurella multocida là yếu
tố độc lực quan trọng, ảnh hưởng đến khả năng xâm nhập và phát triển trong ký
chủ Đa phần những chủng Pasteurella multocida có giáp mô thì độc lực cao, những chủng Pasteurella multocida không có giáp mô thì độc lực yếu hoặc không có độc lực Khi nuôi cấy Pasteurella multocida trong môi trường nhân tạo sau 24h thì giáp
mô của vi khuẩn phát triển đầy đủ, rồi mất dần đi Một số tác giả cho rằng ở nhiều
chủng Pasteurella multocida, độc lực có thể phụ thuộc vào cấu trúc hoá học của
giáp mô hơn là sự có mặt của chúng
Nghiên cứu về độc lực của vi khuẩn Pasteurella multocida các tác giả cho biết: ở những gia súc, gia cầm chết do Pasteurella multocida gây ra người ta tìm thấy dấu hiệu hoạt động của độc tố Nội độc tố được sinh ra bởi các loài Pasteurella
multocida, kể cả chủng có độc lực và không có độc lực Heddleston và cs (1972)
[68] đã chứng minh nội độc tố được gắn kết lỏng lẻo và có thể rửa trôi khỏi tế bào
vi khuẩn Pasteurella multocida bằng dung dịch nước muối có formalin và được làm lạnh Nội độc tố của Pasteurella multocida có thể chiết xuất được bằng acid
trichloroacetic theo qui trình của Boivin
Phùng Duy Hồng Hà (1990) [11] thử nghiệm độc lực của 3 chủng
Pasteurella multocida phân lập được tại các tỉnh phía Nam trên chuột, gà và vịt, kết
quả cho thấy các chủng có dung quang màu vàng da cam có độc lực rất cao
Nghiên cứu của Ramdani và cs (1990) [82] cho thấy một trong những chủng
Pasteurella multocida phổ biến gây bệnh tụ huyết trùng trâu, bò là chủng M1404
thuộc serotype B rất độc với chuột bạch, chỉ cần tiêm 20 vi khuẩn/con thì sau 18 giờ chuột đã có triệu chứng nhiễm trùng huyết
Vi khuẩn Pasteurella multocida thuộc serotype D còn tạo ra dermanecrotic
toxin (DNT) là độc tố gây hoại tử biểu bì, độc tố này không bền với nhiệt Trọng
Trang 34lượng phân tử của dermanecrotic toxin khoảng 112 - 160kDa và có thể tách chiết
trong canh trùng nuôi cấy, gen toxA qui định tổng hợp dermanecrotic toxin có chiều dài 4,381 bp Nếu nuôi cấy vi khuẩn ở 30°C thì hoạt tính của gene toxA này bị giảm
nhiều và lượng độc tố DNT sinh ra cũng ít đi (Hunt và cs, 2000 [71])
Vi khuẩn Pasteurella multocida được nuôi cấy trên môi trường thạch tới 72 giờ
sẽ sinh nhiều độc tố hơn Theo Horadagoda và cs, (2001) [70], nội độc tố của vi khuẩn
Pasteurella multocida chỉ xuất hiện trong huyết thanh của những con vật bị bệnh nặng
từ 3 - 5 giờ trước khi chết với những triệu chứng như giảm nhiệt độ, run rẩy…
Những độc tố có bản chất từ protein không chịu nhiệt đã được tìm thấy ở một
số chủng Pasteurella multocida thuộc type huyết thanh A và D, đặc tính kháng
nguyên của những độc tố này tương đối giống nhau Các vi khuẩn thuộc serotype B hiếm khi có độc tố bản chất từ protein, chưa có thí nghiệm nào chứng minh độc tố
có bản chất protein của serotype E
1.3.7 Sức đề kháng
Pasteurella multocida dễ bị tiêu diệt bởi nhiệt độ, ánh sáng mặt trời và các
chất sát trùng thông thường Vi khuẩn bị diệt khi đun ở 58oC trong 20 phút, 80oC trong 10 phút, 100oC trong vài giây Trong các mô bào của cơ thể, ở nhiệt độ 80oC
vi khuẩn giữ được độc lực trong vòng 15-20 ngày, ánh sáng mặt trời diệt vi khuẩn trong 12 giờ Trong xác súc vật, vi khuẩn sống được từ 1-3 tháng Trong máu, mô bào, nước tiểu của súc vật chết, vi khuẩn giữ được độc lực trong vòng từ 5-9 ngày Trong tủy xương vi khuẩn giữ được độc lực trên 8 ngày sau khi con vật chết Vì vậy, người ta thường lấy bệnh phẩm là tủy xương để gửi đi chẩn đoán
Các chất sát trùng thông thường diệt vi khuẩn nhanh chóng như axit phenic 5% trong 1 phút, creolin 3%, crezyl 3%, nước vôi 1% trong 3-5 phút Vi khuẩn sống khá lâu và sinh sản trong đất có nhiều nitrat và thiếu ánh sáng Trong chuồng, trên
đồng cỏ, trong đất, vi khuẩn có thể sống hàng tháng có khi hàng năm Vi khuẩn
trong da đun sấy khô từ từ có thể giữ độc lực 15 - 25 ngày, trong tổ chức thối nát vi khuẩn sống tương đối lâu hơn, từ 1 - 3 tháng nếu nhiệt độ dưới 20oC
Trang 35Bình thường ở một số trâu, bò khỏe có mang vi khuẩn tụ huyết trùng trong hệ
hô hấp và tiêu hóa nhưng không gây bệnh, giữa vi khuẩn và súc vật có sự cân bằng sinh học
Khi gặp các yếu tố ngoại cảnh bất lợi: Thiếu thức ăn, làm việc nặng, thời tiết thay đổi đột ngột làm trâu, bò giảm sức đề kháng, thế cân bằng sinh học bị phá vỡ,
vi khuẩn trở lên cường độc, gây bệnh cho trâu, bò
Sau khi vào đường tiêu hóa, vi khuẩn qua niêm mạc nhờ các vết xây xát, xâm nhập vào máu, tiến đến hệ lâm ba ruột và hạch sau hầu, làm hạch sau hầu sưng rất to
Vi khuẩn đi vào hạch lâm ba trước vai, trước đùi làm hạch sưng to và thủy thũng
1.5 Đặc điểm bệnh tụ huyết trùng trâu, bò
1.5.1 Biểu hiện đặc trưng của trâu, bò mắc bệnh tụ huyết trùng
1.5.1.1 Triệu chứng của trâu, bò mắc bệnh tụ huyết trùng
Theo Nguyễn Vĩnh Phước (1978) [28], Phạm Sỹ Lăng và cs (2009) [21], trâu, bò thường mắc bệnh ở 3 thể: Thể ác tính (thể quá cấp tính), cấp tính (thường gặp) và thể mãn tính
- Thể quá cấp tính: Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2009) [21] thể này thường ít
gặp Trâu, bò thường phát bệnh rất nhanh, con vật đột nhiên lên cơn sốt cao (41 -
420C) và trở nên hung giữ, điên loạn, đập đầu vào tường và có thể chết trong 24 giờ Một số bê nghé từ 3 - 18 tháng tuổi có biểu hiện triệu chứng thần kinh như giãy giụa, ngã vật xuống rồi chết Có khi con vật đang ăn bỗng chạy lồng lên, điên loạn, run rẩy, ngã xuống và lịm đi
- Thể cấp tính: Theo Nguyễn Vĩnh Phước (1978) [28], Phạm Sỹ Lăng và cs (2009) [21], thể này xảy ra phổ biến ở trâu, bò; thời gian nung bệnh ngắn từ 1 - 3 ngày, con vật không nhai lại, mệt lả, bứt dứt, sốt cao đột ngột 40 - 420C Các niêm
Trang 36mạc mắt, mũi đỏ sẫm rồi tái xám Nước mắt, nước mũi chảy ra liên tục Các hạch lâm ba đều sưng, đặc biệt là hạch lâm ba dưới hầu sưng rất to, làm cho con vật lè lưỡi ra, thở khó khăn, người ta thường gọi là bệnh “trâu hai lưỡi” Hạch lâm ba trước vai, trước đùi sưng, thủy thũng làm cho con vật đi lại khó khăn
Ngoài triệu chứng chung, trâu, bò còn có những triệu chứng cục bộ do vi khuẩn xâm nhập vào một bộ phận của cơ thể:
+ Con vật thể hiện hội chứng hô hấp: ho, thở mạnh và khó khăn do viêm màng phổi, tràn dịch màng phổi, có tụ huyết và viêm phổi cấp
+ Một số trâu, bò bị thể bệnh đường ruột: lúc đầu phân táo sau đó đi ỉa chảy
dữ dội, phân có lẫn máu và niêm mạc ruột Bụng chướng to, viêm phúc mạc và có tương dịch trong xoang bụng
Lúc sắp chết, con vật kiệt sức, nằm liệt, đái ra máu, thở rất khó khăn, có nhiều chấm xuất huyết đỏ sẫm ở các niêm mạc Bệnh tiến triển từ 3-5 ngày Tỷ lệ chết 90-100% Nếu bệnh chuyển sang nhiễm trùng máu thì con vật sẽ chết trong thời gian 24-36 giờ
- Thể mãn tính: Con vật mắc bệnh ở thể cấp tính nếu không chết, bệnh sẽ
chuyển thành mãn tính, con vật biểu hiện viêm ruột mãn tính: lúc ỉa chảy, lúc táo bón, viêm khớp làm cho con vật đi lại khó khăn, viêm phế quản và viêm phổi mãn tính Bệnh tiến triển trong vài tuần Con vật có thể khỏi bệnh, các triệu chứng nhẹ dần, nhưng thường gầy rạc và chết do kiệt sức (Phạm Sỹ Lăng và cs, 2009) [21]
1.5.1.2 Bệnh tích
Theo Phạm Sỹ Lăng và Phan Địch Lân (2002) [20] bệnh tụ huyết trùng trâu,
bò có những biểu hiện bệnh tích như sau:
- Tụ huyết và xuất huyết ở các niêm mạc mắt, miệng, mũi Tổ chức dưới da
có tụ huyết màu đỏ sẫm và lấm tấm xuất huyết từng mảng
- Thịt màu tím hồng, thấm nhiều nước
- Hệ thống hạch lâm ba sưng to, thủy thũng và xuất huyết, rõ nhất là hạch lâm ba sau hầu, vai và trước đùi
Trang 37- Tim sưng to, trong bao tim, màng phổi, xoang ngực và xoang bụng đều có tương dịch
- Nếu con vật bị bệnh thể đường ruột thì thấy: chùm hạch ruột sưng to có xuất huyết, niêm mạc ruột tụ huyết, xuất huyết nặng và niêm mạc ruột bị tróc ra
Theo Nguyễn Vĩnh Phước (1978) [28], bệnh tích chủ yếu thường thấy là:
- Các hạch lâm ba bị tụ huyết, xuất huyết;
- Phổi sưng tụ máu, phế quản có bọt, xuất huyết cơ tim, ruột sưng, xuất huyết, túi mật sưng
1.5.2 Chẩn đoán bệnh
1.5.2.1 Chẩn đoán lâm sàng
Dựa vào triệu chứng, bệnh tích và đặc điểm dịch tễ của bệnh tụ huyết trùng trâu, bò để làm căn cứ và cơ sở chẩn đoán lâm sàng Tuy nhiên chẩn đoán phi lâm sàng đóng vai trò quyết định
1.5.2.2 Chẩn đoán vi khuẩn học
Theo Nguyễn Như Thanh và cs (2001) [35], chẩn đoán vi khuẩn học để xác
định Pasteurella multocida có thể tiến hành theo các bước sau:
- Lấy bệnh phẩm và kiểm tra tiêu bản nhuộm: Bệnh phẩm từ máu tim, gan, lách, hạch, tủy xương, phổi, dịch thủy thũng của động vật chết, nghi mắc bệnh tụ huyết trùng, bảo quản trong lạnh và chuyển về phòng thí nghiệm Nếu con vật chết lâu thì lấy bệnh phẩm là xương ống Do nhiễm trùng máu là giai đoạn đầu của quá trình sinh bệnh nên các mẫu máu lấy từ các gia súc nghi mắc bệnh, có triệu chứng lâm sàng của bệnh vẫn có thể cho kết quả âm tính
- Nuôi cấy phân lập: Máu tim hoặc tủy xương được hòa loãng trong 2-3 ml nước sinh lý, đem ria cấy trực tiếp lên thạch máu, nếu bệnh phẩm là xương ống thì trước khi cấy phải tiêu độc bên ngoài bằng cồn Trong trường hợp bệnh phẩm lấy từ
động vật đã chết lâu hoặc lấy không vô trùng thì các tạp khuẩn sẽ phát triển lấn át
và việc phân lập vi khuẩn tụ huyết trùng sẽ rất khó khăn
- Tiêm truyền động vật thí nghiệm: Lấy một lượng nhỏ máu hoặc tủy xương pha loãng (0,2 ml) tiêm cho chuột bằng đường tiêm xoang phúc mạc hoặc tiêm tĩnh mạch, nếu có vi khuẩn thì chuột sẽ chết trong vòng 24-36 giờ Có thể quan sát thấy
vi khuẩn Pasteurella multocida trên tiêu bản nhuộm máu tim và các khuẩn lạc
Trang 38Pasteurella multocida sẽ phát triển thuần khiết trên thạch máu, trên thạch máu ở
37oC sau 24 giờ nuôi cấy khuẩn lạc Pasteurella multocida có dạng láng bóng, màu
trắng xám, đường kính 1mm
Vi khuẩn phân lập được từ các mẫu bệnh phẩm được xác định bằng các đặc tính như kiểm tra hình thái, nuôi cấy vi khuẩn, kiểm tra các đặc tính sinh vật hóa học và huyết thanh học
- Các phản ứng sinh hóa:
+ Chuyển hóa đường: Pasteurella multocida có khả năng lên men nhưng không
sinh hơi đường glucose, saccarose, mannit Không lên men đường lactose, maltose
+ Các phản ứng sinh hóa khác như:
Indol: Indol dương tính
Voges Proskauer (VP): VP âm tính
Methylen Red (MR): MR âm tính
H2S: H2S sản sinh bất thường
Catalase: Catalase dương tính
1.5.2.3 Chẩn đoán huyết thanh học
Theo Nguyễn Như Thanh và cs, (2001) [35], xác định serotype Pasteurella
multocida phân lập bằng phản ứng ngưng kết nhanh trên phiến kính; phản ứng
ngăn trở ngưng kết hồng cầu cừu để xác định type kháng nguyên giáp mô và phản ứng kết tủa khuếch tán trong thạch để xác định kháng nguyên thân từ đó khẳng định chắc chắn vi khuẩn này
Có thể dùng phản ứng ngưng kết để chẩn đoán: Phương pháp này chẩn
đoán nhanh động vật nghi mắc bệnh tụ huyết trùng Dùng que cấy bạch kim lấy 1
khuẩn lạc riêng rẽ từ thạch máu, hòa loãng với 1 giọt nước sinh lý trên phiến kính sạch, thêm một giọt kháng huyết thanh Phản ứng dương tính khi thấy có
đám ngưng kết dạng bông xuất hiện trong vòng 30 giây
1.5.3 Phòng và trị bệnh
1.5.3.1 Phòng bệnh
Từ năm 1880 đã có nhiều công trình nghiên cứu chế tạo vắc xin phòng bệnh tụ huyết trùng và được đưa vào sử dụng như vắc xin vô hoạt bacterin không
Trang 39có bổ trợ, vắc xin vô hoạt có bổ trợ keo phèn, vắc xin sống giảm độc, vắc xin bổ trợ dầu Vắc xin được sử dụng rộng rãi là vắc xin bổ trợ keo phèn, được tiêm hai lần trong năm, tạo được hiệu lực phòng hộ cao, độ dài miễn dịch kéo dài đang
được sử dụng nhiều nước như Mã Lai, Indonexia, Ai Cập, I rắc và Srilanka (De
Alwis, 1984) [60]; FAO, (1991) [64]
Biện pháp tối ưu nhất được các nhà nghiên cứu nhắc đến trong phòng chống bệnh tụ huyết trùng là sử dụng vắc xin tiêm phòng Phạm Huy Thụy (2000) [38] cho biết khi kết quả tiêm phòng đạt trên 90% thì bệnh được ổn định
Ở Việt Nam, hiện đang có các loại vắc xin phòng bệnh tụ huyết trùng
cho trâu, bò như vắc xin tụ huyết trùng trâu, bò nhũ hóa với liều tiêm 2ml/con,
độ dài miễn dịch 12 tháng (Phan Thanh Phượng, 2000) [32] Vắc xin tụ huyết
trùng nhũ dầu chủng P52 do Công ty thuốc thú y TW nghiên cứu sản xuất với liều tiêm 2ml/con, độ dài miễn dịch 12 tháng (Phạm Quang Thái và cs, 2007) [34] Vắc xin tụ huyết trùng trâu, bò chủng Iran với liều dùng 1-2ml/con, độ dài miễn dịch 6 tháng
Theo De Alwis (1999) [63] để phòng bệnh tốt hơn, ngoài việc tiêm phòng bằng vắc xin, cần phải thực hiện các biện pháp sau:
- Xây dựng hệ thống chuyên môn, quản lý thông báo dịch tốt Điều này sẽ làm cho thông tin về những ổ dịch xảy ra được nhận biết nhanh nhất, từ đó có biện pháp phòng, chống nhanh, hiệu quả, tránh được lây lan bệnh
- Thúc đẩy nhận thức của người chăn nuôi về bệnh, hướng dẫn họ cách phát hiện bệnh và biện pháp phòng, chống Hướng dẫn chăm sóc, nuôi dưỡng, sử dụng trâu, bò hợp lý; tránh gây ra các stress
- Thực hiện nghiêm ngặt việc kiểm soát, kiểm dịch Ngăn chặn việc sát nhập, vận chuyển gia súc từ vùng có dịch vào hoặc đi qua các địa phương để tránh lây lan
1.5.3.2 Điều trị bệnh
Thông thường điều trị bệnh tụ huyết trùng trâu, bò bằng kháng sinh và hóa dược Tuy nhiên, một số tác giả còn sử dụng kháng huyết thanh để điều trị Chế
Trang 40tạo kháng huyết thanh tụ huyết trùng đa giá trên ngựa dùng điều trị bệnh tụ huyết trùng nhưng tác dụng thường ngắn Thời gian tác dụng tốt nhất chỉ trong vòng 16-24 giờ sau khi tiêm, giảm dần sau 48 giờ và biến mất sau 142 giờ (Bolin và Eveleth, 1951) [48]
Điều trị bệnh tụ huyết trùng chủ yếu bằng kháng sinh dựa theo kháng sinh
đồ và kèm theo thuốc trợ sức, trợ lực, chăm sóc, nuôi dưỡng tốt Kết quả điều trị
phụ thuộc vào sự phát hiện bệnh sớm hay muộn, loại kháng sinh điều trị Sự lựa chọn kháng sinh để điều trị cần xét đến các yếu tố như hoạt phổ kháng khuẩn, tác hại của thuốc lên cơ thể động vật, sự tồn dư kháng sinh trong cơ thể
Dương Thế Long (1995) [22] kiểm tra tính mẫn cảm kháng sinh của
Pasteurella multocida phân lập từ vật nuôi bị bệnh tụ huyết trùng ở Sơn La cho
thấy chlotetracyclin, neomycin, ampicillin mẫn cảm 100%, các loại kháng sinh như penicillin, streptomycin mẫn cảm thấp hơn 77,78%, đặc biệt sulfa tổng hợp chỉ còn mẫn cảm 55,56% số chủng thử
Cao Văn Hồng (2002) [14] đã sử dụng các loại thuốc ampicillin, chlotetracyclin, neomycin, gentamycin, streptomycin + penicillin thì thấy rằng kết quả điều trị ở trâu, bò dao động từ 86-96%, thuốc chlotetracyclin cho kết quả
điều trị cao nhất 96%, gentamycin cho kết quả điều trị thấp nhất 86% Nguyễn
Thị Hà (2010) [10] sử dụng ampicillin, kanamycin 10% điều trị bệnh tụ huyết trùng trâu, bò Kết quả dùng thuốc ampicillin tỷ lệ khỏi 95,24%; kanamycin 10%
tỷ lệ khỏi đạt 88,89%